Trong bối cảnh toàn ngành Giáo Dục vàĐào Tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học PPDH, đổi mới cách kiểmtra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực chủ động và phát triển năng lự
Trang 2PHẦN I LỜI NÓI ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1/ Lý luận:
Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển củakiến thức về Vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức Vật lí có giá trị lớntrong đời sống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và hiện nay đang ứng dụng rất nhiều trong việc khám phá vũ trụ
và việc sản xuất ra nguồn năng lượng sạch, thân thiện với môi trường
Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đềđược quan tâm hàng đầu trong xã hội Trong bối cảnh toàn ngành Giáo Dục vàĐào Tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đổi mới cách kiểmtra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực chủ động và phát triển năng lực củahọc sinh (HS) trong họat động học tập mà phương pháp dạy học là cách thức họatđộng của giáo viên (GV) trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động học tập nhằm giúp
HS chủ động đạt các mục tiêu dạy học và đặc biệt chú trọng sự phát triển toàn diện
ở HS
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII đã khẳng định “phải đổi mới phươngpháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tưduy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến vàphương tiện hiện đại của quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học,
tự nghiên cứu cho học sinh…”
Luật Giáo dục, điều 24.2 “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặcđiểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh”
Trong thực tế dạy học vật lí thì bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề được
Trang 3nghiệm dựa trên cơ sở các định luật các phương pháp vật lí Hiểu theo nghĩa rộngthì mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tậpđối với học sinh Sự tư duy một cách tích cực luôn luôn là việc vận dụng kiến thức
đã học để giải bài tập
Trong quá trình dạy học môn vật lí, các bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt.Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạy học theophương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh biết phân loại, nắmvững phương pháp và làm tốt các bài tập trong chương trình sách giáo khoa vàsách bài tập đã góp phần không nhỏ trong việc thực hiện thành công công tác dạyhọc theo phương pháp đổi mới
Yêu cầu đổi mới PPDH đối với môn Vật lí còn có một sắc thái riêng, phảihướng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, tự biết cách giảiquyết các bài tập đặt ra và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số
vấn đề Vật lý trong thực tế Vì vậy việc hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lí 9
(Điện học và Quang học) cũng không kém phần quan trọng trong việc đổi mới
PPDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS
Nhằm giúp cho việc từng bước đổi mới phương pháp và cách giáo dụchướng vào HS, nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo môn Vật lí nóichung và Vật lí ở trường THCS nói riêng, nhằm cung cấp cho học sinh những kiếnthức phổ thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện
Giúp cho HS hình thành những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng thực hành,
kỹ năng vận dụng các kiến thức Vật lí để giải thích những hiện tượng Vật lí đơngiản, những ứng dụng trong đời sống, kỹ năng quan sát và kĩ năng giải những bàitập về điện trong thực tiễn
2/ Lý do chủ quan :
Bản thân là giáo viên dạy môn Vật lí qua những năm giảng dạy tại trườngnhận ra được việc hướng dẫn HS làm bài tập nói chung và đặc biệt là bài tập Điệnhọc và Quang học là rất khó khăn, HS không làm được bài tập dần dần trở nênkhông thích làm bài tập và sẽ không thích học Vật lí nữa
Trang 4HS không biết bắt đầu từ đâu, làm gì và giải ra sao Từ đó khi HS khôngthích nữa thì GV dần sẽ dạy theo cách đối phó thi cử, HS mất căn bản và HS đi họccao thêm khó tiếp thu, khả năng kém và cuối cùng chất lượng lao động chúng takém trong khu vực và thế giới.
Cho nên việc hướng dẫn HS giải bài tập Vật lí là vấn đề cần thiết trongviệc học của HS nhằm để nâng cao khả năng vận dụng kiến thức và góp phần caochất lượng giáo dục và chất lượng lao động sau này
Qua việc nghiên cứu giảng dạy trên lớp cũng như những kinh nghiệm đãhọc hỏi từ những giáo viên khác và việc tìm hiểu qua Internet bản thân đưa ranhững phương pháp thích hợp trong việc hướng dẫn cho HS làm bài tập Vật lí 9
Như vậy, với những lý do nêu trên và từ tình hình thực tế của việc dạy vàhọc Vật lí ở trường THCS hiện nay Là giáo viên dạy môn Vật lí, tôi quyết định
nghiên cứu việc hướng dẫn HS làm bài tập Vật lí (Phần Điện học và Quang học)
để tìm hiểu và đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc nâng cao chất lượng giáodục và cũng nhằm rút kinh nghiệm cho bản thân để việc giảng dạy môn Vật lí đượctốt hơn trong việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông THCS
II Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tiến hướng dẫn HS làm bài tập Vật lí (Phần Điện học
và Quang học) nhằm giúp học sinh nắm được các bước cơ bản để giải một bài tập
về Điện học và Quang học, học sinh nắm chắc kiến thức hơn, nâng cao chất lượngdạy và học Xây dựng hệ thống kiến thức, qua đó làm nổi bật mối liên hệ giữa cáckiến thức với nhau, giúp học sinh vận dụng kiến thức nhiều lần để các em nhớ kỹ
và hiểu kiến thức vững chắc, sâu sắc hơn
Rèn được khả năng vận dụng kiến thức cho HS để HS có thể vận dụngkiến thức vào thực tế đối với những tình huống cơ bản
Giúp GV có thể nhẹ nhàng hơn trong tiết dạy Điện học và Quang học đặcbiệt những tiết vận dụng kiến thức để giải các bài tập và ngay cả thực hành về Điện
và Quang học
Trang 5Trong quá trình giảng dạy tôi có áp dụng vào khối 9 với kinh nghiệm của đồng nghiệp đồng thời bổ sung thêm một số kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình dạy và sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã thử nghiệm dạy HS khối 9 năm học
2014 – 2015 ở trường THCS Hưng Điền B – Tân Hưng – Long An
Bản thân hoàn thiện hơn đề tài nhằm giải quyết hầu hết các vấn đề hướng dẫn HS làm bài tập Vật lí (Phần Điện học và Quang học) cũng như giúp các HS
ở vùng khó khăn như Đồng Tháp Mười được nắm vững kiến thức và dễ dàng tiếpnhận kiến thức, giải quyết cơ bản được các bài tập ở chương trình THCS và trunghọc phổ thông cũng như không thua kém kiến thức so với những vùng khác trongtỉnh và cả nước
So với sáng kiến kinh nghiệm của một số thầy cô thì sáng kiến kinh nghiệmcủa tôi đưa ra rõ ràng các bước giải bài tập, áp dụng vào ví dụ, chủ yếu là khối 9 vàcác bước để giải bài tập do tích lũy kinh nghiệm bản thân, học hỏi đồng nghiệp vàđưa thêm phương pháp mới vừa học tập ở đầu năm 2015-2016 vào để khi đổi mới
có thể kịp thời áp dụng trong quá trình dạy mà hình thành đề tài
Đề tài sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với ngành nên khitham khảo rất dễ dàng tiếp thu và áp dụng
Trang 6IV Phạm vi đề tài
- Đề tài giúp HS và GV hiểu rõ hơn bản chất của các bài tập Điện học vàQuang học của chương trình Vật lí THCS, đồng thời giúp GV truyền đạt tốt hơnđến HS và giúp HS có thể giải được các bài tập về điện và quang của môn Vật lí 9cũng như bài tập ở cấp THCS
- Đề tài nghiên cứu tập trung vào lớp 9 vì ở cấp THCS chỉ có khối này bàitập là khó và nhiều nhất
- Đề tài có thể áp dụng rộng rãi ở phần điện học và quang học trong chươngtrình Vật lí bậc THCS
Trang 71 Thực trạng
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu :
Phương pháp dạy học là một bộ phận hợp thành của quá trình sư phạm nhằmđào tạo thế hệ trẻ có tri thức khoa học, về thế giới quan và nhân sinh quan, thóiquen và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố khác của quátrình dạy học Những phương pháp dạy học phải thống nhất biện chứng giữa việcgiảng dạy của giáo viên với việc học tập của học sinh Đồng thời góp phần có hiệuquả vào việc thực hiện tốt các khâu của quá trình dạy học Xác định kế hoạch giáodục, giáo dưỡng, phát triển bộ môn một cách nhịp nhàng, cụ thể hoá nhiệm vụ dạyhọc trên cơ sở đặc điểm của học sinh, điều chỉnh kế hoạch dạy học cho sát với diễnbiến thực tế, tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập ở trên lớp cũng như ở nhà phùhợp với dự định sư phạm
Đối với môn vật lí ở trường phổ thông, bài tập vật lí đóng một vai trò hết sứcquan trọng, việc hướng dẫn học sinh làm bài tập vật lí là một hoạt động dạy học, làmột công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên vật lítrong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế đòi hỏi người giáo viên
và cả học sinh phải học tập và lao động không ngừng Bài tập vật lí sẽ giúp họcsinh hiểu sâu hơn những qui luật vật lí, những hiện tượng vật lí Thông qua các bàitập ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiếnthức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì nhữngkiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học sinh.Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể do bài tập đề ra học sinhphải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh phân tích, tổng hợp khái quáthoá để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp giải quyết giúp phát triển tư duy và sángtạo, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy nghĩ, suy luận Nên bài tập vật lí gâyhứng thú học tập cho học sinh
1.2/ Cơ sở thực tiễn
Trang 82.1 Đặc điểm tình hình nhà trường:
- Trường THCS Hưng Điền B có cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy tươngđối tốt, phòng thực hành vật lí chưa có, có đồ dùng chỉ ở mức tương đối cho cáckhối lớp
- Học sinh trường THCS Hưng Điền B đa phần là các em ngoan chịu khó trong họctập, các em có đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập nhưng đa phần vẫn là HS nôngthôn gia đình khó khăn
- Đội ngũ giảng dạy môn vật lí ở trường có 2 giáo viên
2.2 Thực trạng của việc hướng dẫn học sinh làm bài tập vật lí tại trường THCS Hưng Điền B.
Trong chương I: Điện học vật lí lớp 9 yêu cầu đối với học sinh về kiến thứclà: nắm vững định luật Ôm, điện trở của một dây dẫn hoàn toàn xác định và đượctính bằng thương số giữa hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn và cường độ dòngđiện chạy qua nó Đặc điểm của cường độ dòng điện và hiệu điện thế đối với đoạnmạch mắc nối tiếp và đoạn mạch mắc song song, mối quan hệ giữa điện trở củadây dẫn với chiều dài tiết diện và vật liệu làm dây dẫn Biến trở và điện trở trong
kỹ thuật - ý nghĩa của các con số ghi trên các thiết bị tiêu thụ điện Viết công thứctính công suất điện và điện năng tiêu thụ điện của một đoạn mạch, xây dựng côngthức Q = I2Rt - phát biểu định luật Jun-Lenxơ…
Về kỹ năng học sinh biết tiến hành các thí nghiệm kiểm tra hay thí nghiệmnghiên cứu để rút ra kiến thức, vận dụng được các công thức để giải bài tập Giảithích được một số hiện tượng về đoản mạch và một số hiện tượng có liên quan đếnđịnh luật Jun-Lenxơ
Trong chương 3: Chương trình quang hình học Vật lí 9 ở phần TKHT,TKPK và một số vấn đề về quang học một số HS không vẽ được hình, nếu có vẽđược thì bị lúng túng ở phần xác định tam giác nào đồng dạng tam giác nào, khôngxác định được ảnh ảo hay thật rồi suy ra các cặp tỉ lệ đồng dạng lại càng khó
- Lý do đó làm GV mất rất nhiều thời gian để hướng dẫn HS vẽ hình rồi xác địnhnhững cặp tam giác đồng dạng rồi đi đến kết luận của bài toán
Trang 9Trong quá trình giảng dạy môn vật lí giáo viên thường sử dụng phương phápchia nhóm để học sinh thảo luận và tìm ra kết quả cho câu hỏi và giáo viên thườngkết luận đúng, sai việc giảng dạy vật lí nhất là bài tập vật lí như thế sẽ không đạtđược kết quả cao, vì trong lớp có các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu,kém nên khả năng tư duy của các em rất khác nhau, đối với học sinh yếu, kém haytrung bình không thể tư duy kịp và nhanh như học sinh khá, giỏi nên khi thảo luậncác em chưa thể kịp hiểu ra vấn đề và nhất là khi thảo luận nhóm, giáo viên lại hạnchế thời gian hoặc thi xem nhóm nào đưa ra kết quả nhanh nhất thì thường các kếtquả này là tư duy của các học sinh khá, giỏi trong nhóm Vì thế nếu giáo viênkhông chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí thìhọc sinh sẽ đoán mò không nắm vững được kiến thức trong chương.
Kết quả khảo sát: ( khảo sát bài tập điện học Vật lí 9 năm 2013 - 2014)
Trang 10Theo tôi, thực trạng nêu trên có thể do một số nguyên nhân sau:
+ Học sinh chưa có phương pháp tổng quan để giải một bài tập Vật lí
+ Học sinh chưa biết vận dụng các kiến thức, định luật Vật lí
+ Nội dung cấu trúc chương trình sách giáo khoa hầu như dành rất ítthời lượng cho việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hay luyện tập (đặc biệt làchương trình vật lí ở các lớp: 6, 7, 8), dẫn đến học sinh không có điều kiện bổsung, mở rộng và nâng cao kiến thức cũng như rèn kỹ năng giải bài tập Vật lí
2 Những nội dung cần giải quyết
Phần điện học của lớp 9 nằm ở chương 1 và phần điện học nằm ở chương 3,hai chương này là kiến thức rất quan trọng trong chương trình Vật lý bậc THCS.Mặc dù ở bậc THCS nhưng nó là kiến thức cơ bản nhưng để tìm ra nó nhớ nó và
giải quyết hết các bài tập về Điện và Quang của vật lí 9 không phải đơn giản việc
hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lí 9 (Điện học và Quang học) là rất quang
trọng Vấn đề này vừa giúp HS nhớ được lâu kiến thức, vừa rèn luyện được kỹ
năng giải quyết bài tập về điện và quang học nói riêng cũng như giải bài tập vật línói chung
Giải bài tập vật lí tạo ra được thuận lợi như thế nhưng để thành công thì đòihỏi bản thân giáo viên phải tổ chức như thế nào, các bước tiến hành ra sao vàhướng dẫn như thế nào là vấn đề tương đối khó đòi hỏi cần giải quyết và từ đó đề
ra được biện pháp gì mới để đáp ứng yêu cầu đổi mới
3 Giải pháp
Để khắc phục những nhược điểm đã nêu ở trên, tôi đã đưa ra một số giải pháp cầnthiết để bứơc đầu có một phương pháp cơ bản để hướng dẫn HS giải bài tập Vật líđược tốt hơn:
* Giải pháp cho chương 1: Điện học
3.1 Dạng bài tập định tính hay bài tập câu hỏi:
Trang 11Đó là những bài tập vật lý mà khi giải học sinh không cần tính toán hay chỉ làmnhững phép toán đơn giản có thể nhẩm được.
Bài tập định tính có tầm quan trọng đặc biệt vì nhiều bài tập tính toán có thể giảiđược phải thông qua những bài tập định tính Vì vậy việc luyện tập, đào sâu kiếnthức và mở rộng kiến thức của học sinh về một vấn đề nào đó cần được bắt đầu từbài tập định tính Đây là loại bài tập có khả năng trau dồi kiến thức và tạo hứng thúhọc tập của học sinh
Để giải quyết được bài tập định tính đòi hỏi học sinh phải phân tích được bản chấtcủa các hiện tượng vật lí Với các bài tập định tính ta có thể chia ra là hai loại: Loạibài tập định tính đơn giản và loại bài tập định tính phức tạp
3.1.1 Loại bài tập định tính đơn giản:
- Giải bài tập định tính đơn giản học sinh chỉ cần vận dụng một hai khái niệm hayđịnh luật đã học là có thể giải quyết được dạng bài tập này nên dùng để củng cố,khắc sâu khái niện hay định luật như các ví dụ sau :
Ví dụ 1: Định luật Jun-Lenxơ cho biết điện năng biến đổi thành :
A Cơ năng B Năng lượng ánh sáng
C Hoá năng D Nhiệt năng
Hãy chọn đáp án đúng ?
- Với bài tập này giáo viên nên đưa ngay sau khi học sinh học xong định luật Lenxơ
Jun-+ (Đáp án D là đúng )
Ví dụ 2: Có ba dây dẫn có chiều dài như nhau, tiết diện như nhau, ở cùng điều
kiện Dây thứ nhất bằng bạc có điện trở R1, dây thứ hai bằng đồng có điện trở R2,dây thứ ba bằng nhôm có điện trở R3 Khi so sánh các điện trở ta có : (Chọn đáp ánđúng)
A R1>R2>R3
B R1>R3>R2
C R2>R1>R3
D R3>R2>R1
Trang 12+ Đáp án đúng là D
Với bài này giúp học sinh nắm được cách so sánh điện trở của các dây dẫn khácnhau khi chúng ở cùng điều kiện và có chiều dài, tiết diện là như nhau
Ví dụ 3: Nếu hiệu điện thế U đặt vào hai đầu bóng đèn tăng liên tục, thì cường độ
dòng điện I qua bóng đèn đó cũng tăng liên tục, ta nói như vậy có hoàn toàn đúngkhông ?
+ Với câu hỏi này học sinh dễ nhầm lẫn khi vận dụng định luật Ôm là cường độdòng điện tỉ lệ thuận với hiệu điện thế, mà học sinh chú ý tới hiệu điện thế địnhmức của bóng đèn, cũng như cường độ định mức của bóng đèn- nếu vượt quá giớihạn định mức thì bóng có thể cháy và như thế thì cường độ dòng điện không tăngliên tục
3.1.2 Dạng bài tập định tính phức tạp :
Đối với các bài tập dạng định tính phức tạp thì việc giải các bài tập này là giảimột chuỗi các câu hỏi định tính Những câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải dựa vàoviệc vận dụng một định luật vật lí, một tính chất vật lí nào đó Khi giải các bài tậpđịnh tính phức tạp này ta thường phân tích ra ba giai đoạn :
+ Phân tích điều kiện câu hỏi
+ Phân tích các hiện tượng vật lí mô tả trong câu hỏi, trên cơ sở đó liên hệ với địnhluật vật lí, định nghĩa, một đại lượng vật lí hay một tính chất vật lí liên quan
+ Tổng hợp các điều kiện đã cho và kiến thức tương ứng để giải
Ví dụ 4: Có hai dây dẫn một bằng đồng, một bằng nhôm, cùng chiều dài và cùng
tiết diện ở cùng một điều kiện Hỏi nếu mắc hai dây đó nối tiếp vào mạch điện thìkhi có dòng điện đi qua, nhiệt lượng toả ra ở dây nào là lớn hơn?
+ Đây là một câu hỏi khó, đòi hỏi học sinh phải tư duy vận dụng các kiến thức đãhọc trong chương để giải quyết, nên giáo viên có thể đưa ra một số câu hỏi gợi ý đểhọc sinh suy nghĩ và giải quyết lần lượt :
+ Giáo viên có thể hướng bằng cách đưa ra một số câu hỏi sau :
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Trang 13- GV : Nhiệt lượng toả ra ở một dây dẫn
khi có dòng điện đi qua phụ thuộc yếu tố
nào ?
- GV : Ta có thể nói gì về thời gian dòng
điện chạy qua hai dây dẫn?
- GV : Ta có thể nói gì về cường độ dòng
điện qua hai dây dẫn
- GV : Điện trở của hai dây này như thế
nào ? Chúng phụ thuộc vào yếu tố nào?
- GV: So sánh chiều dài hai dây, tiết diện
của hai dây
- GV: Nhiệt độ hai dây trước khi mắc
- HS: Thời gian dòng điện chạy qua
hai dây dẫn là như nhau
- HS : Vì nối tiếp nên cường độ
dòng điện qua dây đồng và dâynhôm và bằng nhau
- HS: Điện trở hai dâynày tỉ lệ
thuận với chiều dài tỉ lệ nghịch vớitiết diện và phụ thuộc bản chất dâydẫn và nhiệt độ
GV: Dây nào có điện trở lớn hơn :
HS : Dây nhôm
GV : Dây nào có nhiệt độ toả ra lớn hơn khi có dòng điện chạy qua ?
HS: Dây nhôm vì cùng cường độ dòng điện, trong cùng một khoảng thời gian nên
nhiệt lượng toả ra nhiều hơn ở dây có điện trở nhiều hơn
+ Trên cơ sở đó ta có thể dần dần trang bị cho học sinh phương pháp suy nghĩlogic và lập luận có căn cứ
3.2 Dạng bài tập tính toán :
Trang 14Đó là dạng bài tập muốn giải đựơc phải thực hiện một loạt các phép tính :
Để làm tốt loại bài tập này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề, tìm hiểu
ý nghĩa thuật ngữ mới (nếu có), nắm vững các dữ kiện đâu là ẩn số phải tìm
- Phân tích nội dung bài tập, làm sáng tỏ bản chất vật lý của các hiện tượng mô tảtrong bài tập
- Xác định phương pháp giải và vạch ra kế hoạch giải bài tập
Đối với bài tập tính toán ta có thể phân làm hai loại: Bài tập tập dượt và bài tậptổng hợp
3.2.1 Bài tập tập dượt :
Là loại bài tập đơn giản sử dụng khi nghiên cứu khái niệm, định luật hay một quitắc vật lý nào đó Đây là loại bài tập tính toán cơ bản giúp học sinh nắm vững hiểuđầy đủ hơn, sâu sắc hơn một định lượng của các bài tập vật lý Dạng bài tập nàygiáo viên nên để hướng dẫn học sinh củng cố vận dụng sau bài học
Ví dụ 5 : Cho mạch điện như hình vẽ 1
+ Hướng dẫn học sinh ghi cho biết :
Cho biết Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-GV: Mạch điện đã cho có bao
nhiêu điện trở ? Chúng mắc nhưthế nào?
-GV: Bài toán cần tìm những
yếu tố nào?
-GV: Tính điện trở tương đương
của đoạn mạch mắc // như thếnào?
-HS: R1//R2
-HS: RMN=? A1=?,A2=? và A=?
-HS:
2 1
1 1 1
R R
R MN hay
RMN =
2 1
2 1
R R
R R
10 15
10 15
Trang 15và A=? - GV: Muốn tìm dòng điện qua
A1, A2 ta cần biết dữ kiện nào?
- GV : Hiệu điện thế U1,U2 đãbiết chưa?
Ví dụ 6: Cho mạch điện như hình vẽ 2 Trong
đó R1=5 Khi đóng khoá K vôn kế chỉ 6V,
Trang 163.2.2/ Bài tập tổng hợp :
Là những bài tập phức tạp mà muốn giải được chúng ta phải vận dụng nhiều kháiniệm, nhiều định luật hoặc qui tắc, công thức nằm ở nhiều bài nhiều mục Loại bàitập này có mục đích chủ yếu là ôn tập tài liệu giáo khoa, đào sâu mở rộng kiếnthức giúp các em học sinh thấy được mối quan hệ giữa những phần khác nhau Bàitập dạng này giáo viên cần hướng dẫn cặn kẽ để giúp các đối tượng học sinh tronglớp có thể nắm bắt kịp thời
Ví dụ 7: Cho một mạch điện như hình vẽ 3:
b Hiệu điện thế của mạch AB?
* Đối với loại bài nàycó thể đưa ra một số câu hỏi để gợi ý giúp các em nhận rõcác yếu tố cần tìm, tư duy logic để tìm ra lời giải nhanh chóng chính xác
Cho biết Hoạt động của giáo
N
M
Hình 3