1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Nghị luận phân tích về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

3 7,3K 150

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 14,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ là quan niệm về lẽ sống “nhàn” của nhà thơ, qua đó ta thấy được nhân cách thanh cao của nhà thơ.. “Nhàn” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với những vần thơ giản

Trang 1

NHÀN

- Nguyễn Bỉnh

Khiêm-Những nhà tho xưa có cách sống rất lỗi lạc Ở thời vua hiền, đất nước hưng thịnh thì đem hết sức mình ra cống hiến Ở thời thế loạn lạc, vua chúa xa hoa, quan lại hoành hành, những vị quan chính trực cáo quan về ở ẩn dể giữ trọn vẻ đẹp cho nhân cách của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm là người học cao hiểu rộng, đỗ trạng nguyên, học vị cao.Thấy xã hội rối rem, ông cáo quan về quê nhà mở lớp dạy học, được môn sinh tôn là Tuyết Giang phu

tử Tại đây, ông đã viết nhiều bài thơ Nôm nổi tiếng, trong đó có tác phẩm “ Nhàn” Bài thơ là quan niệm về lẽ sống “nhàn” của nhà thơ, qua đó ta thấy được nhân cách thanh cao của nhà thơ

“Nhàn” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với những vần thơ giản

dị nhưng mang rất nhiều ý nghĩa rất sâu đậm:

“ Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhiền xem phú quí tựa chiêm bao.”

Thông qua bài thơ, Nguyễn Bình Khiêm nói lên lối sống “nhàn” của mình “Nhàn" là quan niệm sống tránh xa vòng danh lợi giả tạo, cuộc sống phú quí, vinh hoa để giữ phẩm chất của mình được trong sạch “Nhàn” là một cuộc sống nhàn nhã, êm đềm, không ganh đua, tranh chấp, một cuộc sống lao động bình dị, độc lập, không bị ràng buộc và lệ thuộc vào thế lực nào

“ Một mai, một cuốc, một cân câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Mai, cuốc là hai loại nông cụ gắn liền với cuộc sống lao động của người bình dân Từ việc lao động chân chính để mưu sinh, nhà thơ tự tạo ra được cuộc sống vật chất cho mình, không lệ thuộc, cần gì có đó.Cuộc sống tinh thần của nhà thơ giản dị với hình ảnh cần câu.Những dụng cụ này gợi lên một cuộc sống đủ để tự cấp, tự túc, tự tại Sử dụng số từ một chỉ số lượng rất ít, chỉ có một mà thôi Thế nhưng với nhịp thơ 2/2/3, câu thơ gợi tả phong thái khoan thai, an nhan, thong thả, không hề buồn rầu, mặc cảm về cuộc sống it ỏi

về vật chất Mọi thứ đều tối thiểu nhưng lại đem đến giá trị tối đa Ai là đại từ để chỉ người đời, riêng nhà thơ, miệng lưỡi người đời không thể tác động vào ông Dù ai sung túc, ai cao sang, vui thú chốn nào thì cũng mặc, nhà thơ cứ ung dung, thẩn thơ với cuộc sống hiện có của mình Đó là cách sống chân chính, một cuộc sống nhàn tâm cao quí thật đáng cho cuộc sống Với lối sống nhàn tâm của Nguyễn Bình Khiêm, ta có thể so sánh với cuộc sống của Nguyễn Trãi trong bài thơ “ Cảnh ngày hè” Nguyễn Trãi ngắm cảnh hè vào lúc rỗi nhưng tâm lại không nhàn, còn Nguyễn Bình Khiêm lại sống trong cuộc lao động vất vả, không hề rảnh rỗi nhưng lại rất nhàn về tâm hồn

Trang 2

Quan niệm sống “nhàn” của nhà thơ không chỉ dừng lại ở cách sống ung dung, tự tại Quan niệm ấy còn gắn chặt với quan niệm “ dại – khôn” được thể hiện cụ thể trong hai câu thực:

“ Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Nhà thơ đưa ra hai lẽ sống giữa hai loại người dại và khôn Ông tự nhận mình dại, tự tìm đến những “ nơi vắng vẻ” , không có lợi lộc, sống với thiên nhiên,đồng quê, tránh xa xã hội ồn ào, lộn xộn Với động từ tìm, ông thể hiện thái độ chủ động, rất bằng lòng với sự lựa chọn “dại” của mình, ngầm tự hào, vui mừng vì mình “dại”, kiêu hãnh về tài trí của mình Từ đó, ông chủ động nhường lại cho người khôn “ chốn lao xao”, chốn cung đình nhiều bổng lộc hậu hĩnh.Trong câu thơ, ta còn thấy cụ Trạng Trình đang mỉm cười châm biếm , phê phán những kẻ nịnh thần suốt đời chạy theo danh lợi, tiền tài.Có câu : đại trí nhược ngu” nhìn qua có vẻ nhà thơ rất “ngu” khi có tài cao vậy mà lại sống đạm bạc Thế nhưng vốn dĩ cuộc sống có qua có lại, được cái này thì mất cái kia Nhà thơ mất đi cuộc sống vật chất nhưng lại có được cuộc sống tinh thần

“Nhàn” là cuộc sống nhàn tâm tức là sống thuận theo lẽ tự nhiên Hai câu luận đã nói lên điều đó, về một cuộc sống bình dị, thuận theo lẽ tự nhiên của nhà thơ

“ Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Câu thơ thể hiện cuộc sống ổn định, nề nếp, mùa nào thức nấy của nhà thơ Măng trúc và giá là những món ăn đạm bạc, giản dị Hồ sen và ao là những hình ảnh rất dân dã Mọi thứ đều sẵn có trong tự nhiên, đồng thời lối sống đó làm cho con người trở nên thanh sạch, giây phút trở về với những gì nguyên sơ nhất, trong lành nhất Lối sống “nhàn” của nhà thơ rất thanh đạm nhưng thật thanh cao

Từ cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày, nhà thơ đưa ra triết lý sống của mình được trình bày trong hai câu kết

“ Rượu, đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Như đã nói, quan niệm nhàn của nhà thơ dựa trên cơ sở sống thuận theo lẽ tự nhiền tức không ép buộc cũng không né tránh, chuyện gì tới thì tới, ta đón nhận hết Ông tự sống

“nhàn”, chứ không ép buộc mình sống “nhàn” Vì thế ông cũng không ép mình uống hay cấm uống rượu Ông cũng muốn thấy cái phú quý, tò mò về nó qua từ “nhìn xem” Nhìn rõ

để biết, để hiểu chứ không khát khao, theo đuổi nó Xem cho kĩ để nhận ra cái sai cái đúng, từ đó biết nên học hỏi hay né tránh.Đồng thời cũng là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh mọi người Rượu là biểu tượng cho tác động làm con người mất tỉnh táo, lí trí, dễ bị rơi vào vòng cám dỗ Cái “bã” danh lợi rất lớn,con người ta khó cưỡng lại được, một khi khi “ăn” phải thì khó lòng “nhả” ra Thế nhưng, nhà thơ đối diện với cám dỗ một cách thẳng thắn , thậm chí “ đến cội cây” ,đến tận gốc rễ của nó Vì với ông, phú quí chỉ là chuyện chiêm bao,mộng về thứ hão huyền, giấc mơ ấy hoàn toàn trái ngược với thực tại Một chén rượu với ông chỉ để cho cuộc sống tốt đẹp hơn, vui vẻ hơn

“ Nhàn” là một trong những bài thơ Nôm xuất xắc nhất của nguyễn Bỉnh Khiêm Với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu ung dung, tự tại thể hiện rõ tâm thế thanh cao, nhàn nhã, khí tiết, khí phách thanh bạch, tỉnh táo vượt qua cám dỗ vòng danh lợi Đồng thời, bài thơ còn cho ta thấy rõ bộ mặt xấu xa của xã hội phong kiến Việt Nam ở thế kỉ XVI: Vua ăn

Trang 3

chơi xa hoa, không chăm lo cho dân, quan lại ức hiếm, tàn nhẫn cướp bóc người dân làm cho cuộc sống dân ngày càng cơ cực, nghèo đói, bệnh tật Những tác phẩm cũa Nguyễn Bỉnh Khiêm là đóng góp to lớn, thúc đẩy sự phát triển văn học của dân tộc,có sức ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân đến tận bây giờ./

Ngày đăng: 11/08/2016, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w