1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn giúp học sinh lớp hai học tốt phân môn chính tả

22 381 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 245 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh nhữngphẩm chất tốt đẹp đối với tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu

Trang 1

Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM TRƯỜNG:

Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ……….

………

Hiệu quả: ………

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng…… năm 2016 CT HĐ KHGD Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM PHÒNG GD - ĐT : Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ……….

………

Hiệu quả: ………

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng …… năm 2016 CT HĐ KHGD Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM SỞ GD - ĐT : Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ……….

………

Hiệu quả: ……….,

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng …… năm 2016

CT HĐ KHGD

Trang 2

3 Biện pháp giải quyết……… 6 - 17

4 Kết quả chuyển biến ……… 17 - 18

Trang 3

1 Đặt vấn đề:

a Cơ sở lí luận:

Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những trithức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữpháp, chính tả Trên cơ sở đó, rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ như: nghe, nói,đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong giao tiếp.Ngoài ra, môn Tiếng Việt bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính,lành mạnh và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của TiếngViệt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Vì vậy, Tiếng Việt là một môn học có vị trí không kém phần quan trọng trongchương trình ở nhà trường Tiểu học

Tiếng Việt được chia ra làm nhiều phân môn như Tập đọc, Chính tả, Tậpviết, Tập làm văn, Mỗi phân môn đều có đặc trưng riêng của nó nhưng lại

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giúp học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt

và các môn học khác; đồng thời tạo phương tiện cho học sinh tiếp tục học cáclớp trên

Phân môn Chính tả ở trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực

và thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt Do đó, phân môn Chính tả có vị tríquan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt Bởi vì, giai đoạn Tiểuhọc là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng viết chính tả chohọc sinh Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh nhữngphẩm chất tốt đẹp đối với tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc

sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu hiện cụ thể nhất là nói đúng

và viết đúng chuẩn Tiếng Việt

về vấn đề gì Bởi vì trong quá trình viết câu văn hoặc đoạn văn, các em phảithể hiện được năng lực và tình cảm của mình vào bài làm mà các em lại viếtsai nhiều lỗi chính tả nên câu văn hoặc ý đoạn văn diễn đạt chưa hay hoặckhông có ý nghĩa Điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em về

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trang 4

môn Tiếng Việt và các môn học khác, làm khả năng giao tiếp của các emgiảm Do đó, các em không tự tin trong học tập, các em sẽ trở nên rụt rè, nhútnhát Như vậy, người giáo viên giúp các em có kiến thức cơ bản và kĩ năngviết thành thạo, không sai lỗi chính tả đó là một vấn đề cần thiết.

Từ những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn

Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng

2 Mục đích đề tài:

Đề tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” nhằm mong

đạt những mục tiêu sau :

- Đề tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” góp phần đổi

mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy phân môn Chính tả của lớp Hai

ở các trường Tiểu học

- Thông qua đề tài này sẽ giúp cho học sinh nắm vững một số kiến thức

cơ bản về các luật chính tả và hình thành kĩ năng viết chính tả Nói cách khác,giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả

- Ngoài ra, đề tài còn giúp học sinh rèn luyện tính kỷ luật (vì phải viếtđúng chính tả), tính cẩn thận (vì phải viết nắn nót từng nét chữ), óc thẩm mĩ(vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đẹp đẽ) và lòng tôn trọng người khác

3 Lịch sử đề tài:

Kĩ năng viết đúng chính tả Tiếng Việt thật sự rất cần thiết đối với tất cả

mọi người chứ không chỉ đối với học sinh lớp Hai Do đó, năm học 2015 –

2016 tôi đã tìm hiểu thực tế giảng dạy ở lớp chủ nhiệm và quyết định chọn đề

tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” Sau khi nghiên cứu

đề tài, tôi đã hình thành đúc kết được một số kinh nghiệm giảng dạy nên tôixin giới thiệu các bạn đồng nghiệp tham khảo

Trang 5

1.Thực trạng đề tài:

Năm học 2015-2016, tơi được Ban giám hiệu nhà trường phân cơng chủnhiệm lớp 2B1 với tổng số học sinh của lớp là 39 Trong đĩ, lớp tơi cĩ 21 họcsinh nữ và 18 học sinh nam Qua những tuần đầu trực tiếp giảng dạy trên lớp,tơi phát hiện và thống kê kết quả học sinh thường đạt được trong giờ học phânmơn Chính tả như sau: 8 học sinh trình bày vở sạch đẹp, viết đúng chính tả;

25 học sinh viết sai từ 1 đến 5 lỗi chính tả; 6 học sinh viết sai từ 5 lỗi chính tảtrở lên Từ đĩ, tơi tìm hiểu và biết được một số học sinh lớp tơi học chưa tốtphân mơn Chính tả là do những nguyên nhân sau:

- Ở độ tuổi này các em cịn thích chơi, thích bắt chước và hiếu động

- Một số học sinh viết chậm, chưa nắm vững các vần khĩ, tiếp thu bàichậm, mau quên

- Cịn nhiều lỗi do thiếu cẩn thận khi viết như: viết thừa, thiếu nét; đơi lúcthừa thiếu chữ, sai sĩt phụ âm, sĩt dấu phụ, dấu thanh,…

- Chịu ảnh hưởng cách phát âm của địa phương (phát âm sai, kéo theocách viết sai)

- Vốn từ cịn ít, khơng hiểu nghĩa của từ nên dễ viết sai

- Tư thế ngồi cầm bút, ngồi viết chưa định hình, dễ mắc thĩi quen xấudẫn đến viết chữ xấu, khĩ đọc

- Một số học sinh nhút nhát khơng dám giơ tay phát biểu ý kiến để xâydựng bài

- Thái độ học tập một số em chưa đúng đắn như: khơng chuẩn bị bài,chưa tập trung nghe giảng, lười viết bài,…

- Một số bài chính tả học sinh chưa được luyện đọc qua phân mơn Tậpđọc nên các em khĩ hiểu nghĩa của từ, dẫn đến viết sai chính tả

- Hồn cảnh của gia đình các em khĩ khăn nên cha mẹ ít quan tâm đếnviệc học của con cái vì:

+ Vật chất thiếu thốn nên suốt ngày cha mẹ phải đi làm thuê

+ Cha mẹ đi làm xa nên các em phải ở nhà với ơng bà đã già yếu

2 Nội dung cần giải quyết:

Lớp tơi cĩ 39 học sinh và trình độ nhận thức của học sinh khơng đồng đều.

Vì tơi muốn việc dạy và học phân mơn Chính tả đạt kết quả cao nên tơi đề ramột số biện pháp giải quyết, trong đĩ cần chú trọng các nội dung như sau :

- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp Hai

- Giúp học sinh lớp Hai làm tốt một số dạng bài tập chính tả

3 Biện pháp giải quyết:

II.NỘI DUNG GIẢI QUYẾT

Trang 6

a Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp

Hai:

Mỗi giáo viên đều biết việc viết đúng chính tả có liên quan mật thiết đếnviệc phát âm của người viết Vì vậy ở từng vùng phương ngữ (miền Bắc, miềnTrung, miền Nam), ngoài những vấn đề về chính tả đặt ra chung cho cả nước,lại có những yêu cầu riêng về mặt chính tả do sự khắc phục các nhược điểm

về ngữ âm của vùng đó đặt ra Chính vì lý do đó nên khi soạn bài cũng nhưlúc hướng dẫn giảng dạy chính tả , tôi tự điều chỉnh và linh hoạt, sáng tạo cácvấn đề rèn luyện trong tiết Chính tả bằng những việc làm cụ thể như sau:

* Khâu chuẩn bị:

- Giáo viên: Nghiên cứu kĩ bài, thiết kế bài dạy, chọn những chữ khó viết

và bài tập phù hợp với lớp đang giảng dạy

* Khâu kiểm tra bài cũ:

- Bao giờ tôi cũng yêu cầu học sinh kiểm tra chéo với nhau và báo cáo kếtquả về việc chuẩn bị dụng cụ học tập cho tôi trước khi vào bài mới để tránhtình trạng học sinh phải tìm kiếm đồ dùng làm mất nhiều thời gian, phân tán

sự chú ý trong quá trình học tập

- Trong khâu kiểm tra bài cũ, tôi thường đọc lại những chữ mà học sinhmắc lỗi nhiều và các chữ học sinh làm sai ở phần bài tập của tiết Chính tảtrước Hình thức kiểm tra tôi có thể cho học sinh viết vào bảng con hoặc viết ởbảng lớp Tôi nhận xét và sửa chữa cụ thể sau mỗi lần kiểm tra để học sinh rútkinh nghiệm và khắc sâu kiến thức hơn Sau phần kiểm tra chữ ghi tiếng khó,tôi tiến hành kiểm tra vở chính tả của học sinh để xem các em có sửa lỗi chính

tả đã viết sai ở bài học trước chưa

* Khâu đọc mẫu:

- Trước khi đọc mẫu tôi không bao giờ quên nêu mục đích yêu cầu củatiết học cho học sinh nắm Điều quan trọng là làm sao để học sinh thấy mụcđích yêu cầu này không phải là do tôi áp đặt mà chính là những nhiệm vụ vàmục đích của bản thân học sinh đòi hỏi phải giải quyết Có thực hiện đượcđiều này, việc lĩnh hội, tiếp thu các quy tắc chính tả mới trở thành nhu cầu củabản thân học sinh và đó cũng là cơ sở để tạo hứng thú và duy trì sự chú ý chohọc sinh trong suốt giờ học phân môn Chính tả

- Tôi rất coi trọng khâu đọc mẫu cũng như đọc chính tả cho học sinh viếtvào vở Trong khâu này, lúc nào tôi cũng đọc chuẩn xác và đúng với chính

âm Đặc biệt là tôi tự khắc phục những lỗi phát âm của địa phương cũng như

Trang 7

tật phát âm của cá nhân tôi Từ đó, tôi thường xuyên luyện đọc, trước tiên làđọc đúng chính âm

* Khâu luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn:

Khi chọn những chữ ghi tiếng khó viết trong bài chính tả lớp Hai, tôithường chọn những chữ có liên quan đến bài tập chính tả âm, vần của mỗi giờhọc phân môn Chính tả trong tuần hoặc những chữ mà học sinh trong lớp tôithường xuyên viết sai Đặc biệt là ở khâu này tôi thường động viên các em tựtìm và nêu chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn trước lớp nhằm phát huy tính tíchcực của học sinh Lúc tôi viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn ở bảng lớp chohọc sinh quan sát thì tôi thường viết bằng phấn màu khác với màu phấn viếtnội dung của bài chính tả để gây sự chú ý cho học sinh Bao giờ viết bảng lớptôi cũng cố gắng viết đúng mẫu chữ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đàotạo để giúp học sinh phần nào viết chữ đẹp hơn Còn học sinh thì tôi yêu cầucác em luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn ở bảng con để tôi kịp thời sửasai và rèn chữ viết Để giúp học sinh viết đúng chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫntrong bài chính tả tôi thường sử dụng các biện pháp sau:

- Luyện phát âm:

+ Muốn học sinh viết đúng chính tả thì trong các môn học tôi đều hết sứcchú ý uốn nắn cách phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, âm đầu, âmchính và âm cuối Vì học sinh đọc đúng thì mới viết đúng chính tả

Ví dụ: va / da / gia

Tôi hướng dẫn học sinh cách phát âm như sau:

Những tiếng có phụ âm đầu v như tiếng va: khi đọc hàm răng

trên mím hờ trên môi dưới

Những tiếng có phụ âm đầu gi như tiếng gia: khi đọc lưỡi nhích

tới trước chạm giữa hai hàm răng, sau khi phát âm có luồng hơiphát ra

Những tiếng có phụ âm đầu d như tiếng da: đọc bình thường.

+ Riêng với những học sinh nói đớt hay nói lắp thì tôi yêu cầu học sinhcần lắng nghe tôi phát âm để viết cho đúng Chính vì thế tôi cố gắng phát âm

rõ ràng, chính xác, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chínhtả

- Phân tích, so sánh:

+ Những chữ ghi tiếng khó mà được cả lớp chọn lọc trong bài chính tảthì trước khi cho học sinh luyện viết tôi hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạotiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn hoặc nhấn mạnh những điểm khácnhau để học sinh ghi nhớ và viết không sai chính tả

+ Đối với đối tượng học sinh là người miền Bắc cần phân biệt một sốcặp phụ âm đầu và vần dễ lẫn lộn như: l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi và vần ưu/iu,ươu/iu,…

Ví dụ: sinh - xinh

sinh: học sinh, sinh viên, khai sinh,

xinh: xinh đẹp, xinh xắn, xinh xinh,

+ Đối với đối tượng học sinh là người miền Trung (nhất là vùngThanh

Trang 8

Hóa) cần phân biệt hai thanh điệu: thanh hỏi / thanh ngã.

- Giải nghĩa từ: việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện

từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn,… nhưng nó cũng rất cần thiết trong giờ họcphân môn Chính tả Khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âmhay phân tích cấu tạo và so sánh tiếng Tôi có thể giảng nghĩa của từ trong giờhọc phân môn Chính tả nhằm có thêm một căn cứ phân biệt chính tả Phầngiảng nghĩa này tôi giảng thật ngắn gọn, dễ hiểu, tránh lan man, lạc trọng tâm

Ví dụ: Có thể giải thích sự khác biệt về nghĩa của từ “tre” và “che” để

học sinh nắm nghĩa và định hình cách viết chính xác cho mình

tre: loại cây nhỏ, ruột rỗng có nhiều đốt

che: làm cho khuất, cho kín

Có nhiều cách giải nghĩa từ cho học sinh Tôi có thể cho học sinh đọc chúgiải có sẵn trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh đặt câu với từ cần giảinghĩa, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa; miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng mô hình,vật thật, tranh ảnh, Với từ nhiều nghĩa thì tôi đặt từ đó trong văn cảnh cụthể để giải nghĩa từ

- Ngoài ra, tôi còn phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi chính tả Đặc biệtnhất là việc xây dựng các quy tắc chính tả, các “mẹo” chính tả để giúp họcsinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát, có hệ thống Chẳng hạn là :

Đứng trước các nguyên âm (i, e, ê) bao giờ cũng là k, gh, ngh.

Đối với những tiếng (yến, ý, yếm, ) được viết bằng “y” vì không

có phụ âm đầu, chỉ trừ trường hợp như chữ “im” trong từ “im lặng” phải viết bằng “i ”.

Khi “i” đứng độc lập kết hợp với dấu thanh thành một tiếng thì viết bằng “y”.

Trang 9

Ví dụ: ý nghĩ, như ý,…

Khi “i” đứng sau âm đệm thì viết bằng “y”.

Ví dụ: câu chuyện, luyện tập,…

Một số trường hợp “i” là bán nguyên âm thì viết bằng “y”.

Ví dụ: nước xoáy, viết ngoáy,…

* Khâu chuẩn bị trước khi viết bài vào vở:

Tôi thường đọc thong thả và diễn cảm toàn bộ bài được chọn viết chính tảnhằm giúp học sinh có cái nhìn bao quát, có ấn tượng chung về nội dung bàiviết, làm cơ sở cho việc viết đúng chính tả của học sinh Sau đó, tôi nhắc nhởcác em :

+ Ngồi viết đúng tư thế, cách cầm bút, để vở phù hợp

+ Kĩ năng nghe đúng, viết đúng (độ cao, khoảng cách, kiểu chữ)

+ Kĩ năng viết rõ nét, viết nhanh

Ngoài ra, tôi còn yêu cầu học sinh nhắc lại tư thế ngồi viết :

+ Lưng thẳng, không tì ngực vào bàn;

+ Đầu hơi cúi;

+ Mắt cách vở khoảng 25 – 30 cm;

+ Tay phải cầm bút;

+ Tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ;

+ Hai chân để song song, thoải mái

* Khâu viết bài vào vở:

- Đối với Chính tả (nghe – viết):

+ Trước khi học sinh viết bài vào vở, tôi yêu cầu học sinh không đượcvừa nghe cô giáo đọc vừa viết bài vào vở Viết như vậy các em sẽ không ghikịp, không nắm hết được nội dung và thường không thể ghi hết được cụm từhoặc câu cần viết nên dễ gây mất trật tự trong lớp Các em chỉ được viết khi

đã nghe trọn vẹn một cụm từ hoặc câu ngắn

+ Khi học sinh viết bài vào vở, tôi đọc từng câu (mỗi câu tôi đọc khoảng

2, 3 lần) Nếu gặp câu dài, tôi có thể đọc từng cụm từ (cụm từ ấy phải diễn đạtmột ý nhỏ) Cả việc đọc (của giáo viên) và việc viết (của học sinh) đều khôngtheo từng từ riêng lẻ mà phải gắn với cả câu (hoặc cụm từ) trọn nghĩa Nhưvậy, học sinh viết chính tả trên cơ sở thông hiểu nội dung văn bản và sẽ tránhđược các lỗi do không hiểu những gì mình viết Sau khi học sinh viết xong, tôiđọc chậm từng câu của toàn bộ văn bản lần cuối để học sinh kiểm tra, rà soátlại bài viết của mình

* Khâu kiểm tra, nhận xét bài viết của học sinh:

Trang 10

- Đối với phân môn Chính tả:

Cuối mỗi tiết học, tôi thu một số bài của học sinh để kiểm tra và nhận xétmức độ tiếp thu bài của các em; đồng thời rút kinh nghiệm trực tiếp để họcsinh viết chính tả đúng hơn Ít nhất trong một tháng mỗi học sinh được ghi lờinhận xét một lần trong vở

- Đối với các môn học khác;

Bất kỳ môn học nào của học sinh khi kiểm tra bài làm tôi cũng cẩn thậnphát hiện và sửa sai chính tả kịp thời Tôi làm như vậy nhằm giúp học sinhkhắc phục và có thói quen viết đúng chính tả hơn

* Khâu chữa bài chính tả:

Sau khi thu bài, kiểm tra và nhận xét trong vở học sinh, tôi thường nhậnxét và nêu hướng khắc phục lỗi chính tả chung cho cả lớp bằng cách:

- Tôi phân tích lại cho các em hiểu nghĩa của từ và cấu tạo của tiếng Vềcác loại lỗi chính tả của học sinh, tôi có thể chia làm ba loại cơ bản sau:

+ Lỗi chính tả do không nắm vững chính âm Lỗi này thường gặp khiviết các phụ âm đầu: d/gi; tr/ch; ng/ngh ; s/x ; Để giúp học sinh sửa loạilỗi này, tôi thường cho học sinh nhắc lại các quy tắc chính tả, nhớ kĩ mặt chữtrong các phụ âm đầu dễ lẫn lộn

+ Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết Tiếng Việt Vì họcsinh không hiểu cấu trúc của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh thường viết thừa,viết sai (Ví dụ: qoanh co, khúc khủy, ngoằn ngèo,…) Để giúp học sinh sửaloại lỗi này, tôi cần cho học sinh hiểu vị trí của thành phần trong âm tiết.Chẳng hạn như cách viết âm đệm mà tôi đã hướng dẫn ở phần trên

+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm của địa phương Loại lỗi này mỗiđịa phương có cách viết sai khác nhau Có vùng viết “v” thành “d”, có vùngviết thanh hỏi thành thanh ngã,…Để giúp học sinh sửa loại lỗi này, tôi thườngghi lại chữ viết sai chính tả đó lên bảng rồi tôi chỉ cho các em thấy chữ đó viếtsai chỗ nào Sau đó, tôi sửa lại thành chữ viết đúng và xóa chữ viết sai Cuốicùng, tôi gọi học sinh phát âm đúng đọc cho cả lớp nghe và yêu cầu em viếtsai chính tả đọc lại nhiều lần

Ví dụ: Các em viết trong bài chính tả là “cá gô” Tôi viết chữ “cá gô” lênbảng lớp Sau đó, tôi phân tích và viết lại là “cá rô” rồi tôi xóa chữ “cá gô”.Cuối cùng tôi gọi một học sinh có giọng phát âm tốt đọc cho bạn nghe, sau đótôi yêu cầu học sinh viết sai lỗi chính tả đó đọc lại nhiều lần

- Sau khi học sinh nhận thấy được khuyết điểm của mình, tôi yêu cầu các

em sửa chữ sai thành chữ đúng ở cuối bài chính tả Đối với trường hợp sai quánhiều lỗi trong bài, các em có thể chép lại toàn bộ bài chính tả vào các tiết ôntập buổi chiều nhằm giúp các em tái hiện lại kiến thức vừa học và ghi nhớ lâu

* Tôi thường khen thưởng, động viên kịp thời trong các tiết học chính tảcũng như tiết sinh hoạt lớp khi các em có hướng sửa đổi hoặc tiến bộ nhằmkhuyến khích các em học tập được tiến bộ hơn

* Ngay từ đầu năm học, tôi còn yêu cầu mỗi em có một quyển vở dùng đểrèn chữ viết và luyện viết đúng chính tả Đối với quyển vở này, cuối mỗi tuần,tôi yêu cầu các em về nhà chép các bài chính tả chuẩn bị học trong tuần sau

Trang 11

vào ngày thứ bảy hoặc chủ nhật rồi đưa cho cha mẹ kiểm tra Sau đó, các emmang vào lớp cho tôi kiểm tra Tôi sử dụng biện pháp này nhằm giúp các em

có thói quen là phát hiện chữ khó viết trong bài chính tả, đồng thời luyện kĩnăng viết chữ đẹp và viết đúng chính tả

* Ngoài những biện pháp vừa nêu trên, tôi còn có thêm một vài biện phápdành riêng cho học sinh viết sai quá nhiều lỗi chính tả (viết sai từ 5 lỗi chính

tả trở lên) Biện pháp chung là tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh họcchưa tốt Từ đó, tôi có biện pháp cụ thể, thiết thực phù hợp với từng đối tượnghọc sinh

Trường hợp đối với học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên:

Sau khi thống kê được số lượng học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên củalớp, tôi lưu ý đối với đối tượng này và lập tức vạch ra kế hoạch để phụ đạoriêng cho các em này vào các tiết ôn tập của buổi chiều Cụ thể là:

- Tôi ưu tiên dành những dãy bàn đầu cho học sinh tiếp thu bài chậm,mau quên

- Trong bước kiểm tra bài cũ, tôi thường xuyên yêu cầu các em viết lạinhững chữ viết sai chính tả ở tiết trước liền kề

Ví dụ: Hôm nay, viết chính tả bài Ngôi trường mới (sách Tiếng Việt 2,

tập 1, trang 50 - đoạn cuối) Trong khâu kiểm tra bài cũ, tôi gọi khoảng 2 hoặc

3 em lên bảng Sau đó, tôi đọc những chữ các em viết sai chính tả ở tiết trướcnhư chữ sọt rác, nhặt, bỗng,…(tức là bài Mẩu giấy vụn, sách Tiếng Việt 2, tập

1, trang 49) Cả lớp viết vào bảng con cho tôi kiểm tra và nhận xét

- Trong bước luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn của phân mônChính tả, tôi làm các việc sau:

+ Cho học sinh ghi nhớ luật chính tả bằng cách là trong bài chính tả cónhững chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn mà liên quan đến luật chính tả nào thì tôicho các em nhắc lại luật chính tả đó nhằm ghi nhớ luật chính tả vừa được củngcố

Ví dụ: Bài Ngôi trường mới (sách Tiếng Việt 2, tập 1, trang 50 - đoạn

cuối) Tôi yêu cầu học sinh viết chữ “trang nghiêm” vào bảng con vì đây là

chữ ghi tiếng khó mà học sinh lớp tôi thường xuyên viết sai Trước khi viết tôi

yêu cầu các em nhắc lại luật chính tả với ng/ngh (đã học ở lớp 1) :

ngh đứng trước các nguyên âm i, e, ê.

ng đứng trước các nguyên âm còn lại (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư).

+ Tôi phân tích kĩ cách đọc và rèn cho học sinh đọc đúng những phụ âmđầu, vần, âm cuối, dấu thanh dễ lẫn (qua giờ học phân môn Tập đọc); đồngthời nhấn mạnh phụ âm đầu, vần, âm cuối, dấu thanh cần lưu ý và rèn kĩ năngviết (qua giờ học phân môn Chính tả) Tôi dùng biện pháp như vậy vì học sinh

có đọc đúng tiếng thì mới viết đúng chữ Chẳng hạn: Tôi đọc mẫu chữ ghitiếng khó trong bài chính tả đang học thì học sinh phải tập trung lắng nghe vàphân biệt cách phát âm Tiếp đó, tôi viết mẫu chữ vừa đọc lên bảng lớp; đồngthời tôi yêu cầu học sinh phân tích và tôi so sánh những điểm cần lưu ý (tức làtôi phân biệt sự khác nhau về âm đầu hoặc âm chính hay âm cuối, thanh hỏi,thanh ngã); sau đó, học sinh phát âm lại rồi viết vào bảng con Lúc này, tôi

Ngày đăng: 11/08/2016, 17:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w