Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đang quan tâm, bởi “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” Để ngày mai có những người chủ xứng đáng, xã hội có những người công dân tốt là nhờ có một phần không nhỏ của ngành giáo dục, nhất là trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền giáo dục đào tạo cần phải đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực có sức khoẻ, có kiến thức khoa học kỹ thuật phục vụ cho đất nước Nguồn nhân lực đó chính là con người Nghị quyết Đại hội Đảng VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “ Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” Trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt Nam nói chung và việc giảng dạy ở tiểu học nói riêng là vấn đề được xã hội rất quan tâm, bởi bậc học Tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh, trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở Trung học Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống
Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh Ở lớp 3, các em được học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm kết thúc của giai đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải nắm được chắc tất
cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kĩ năng khác nói chung Đặc biệt, ở lớp 3 sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp cơ
Trang 2dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế hàng ngày Sau khi dạy giải toán ở lớp 3 tôi thấy các em nắm được kĩ năng giải toán của giáo viên truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, còn học sinh có ứng dụng vào thực tế như thế nào đó thì chưa cần biết Đó là điều băn khoăn, suy nghĩ cho chúng ta Có những bài toán các em làm xong, không cần thử lại, không cần xem thực tế áp dụng như thế nào, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai Đó là những tác hại lớn khi học toán Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh
như vậy, tôi đã bắt tay vào việc nghiên cứu đề tài “Giúp học sinh lớp 3 học tốt
môn Toán dạng rút về đơn vị” Mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần
nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng Để các em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó ở các lớp trên
II MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:
Dựa trên thực trạng dạy và học môn Toán ở lớp 3 nói chung, dạy học sinh giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng, tôi muốn đưa ra một số ý kiến đổi mới để nhằm giúp các em nắm chắc được cách giải dạng toán này một cách sâu sắc, tránh bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài và yêu thích môn Toán hơn Từ
đó, các em có vốn kĩ năng tính toán chính xác ở những lúc cần thiết trong cuộc sống, tránh được những sai sót có thể xảy ra Tạo cho các em có tác phong học tập
và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó, cẩn thận, kiên trì, tự tin
III LỊCH SỬ ĐỀ TÀI:
Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học là sự vận dụng các phương pháp dạy học Toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học Toán, giáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, thực hành, gợi mở, vấn đáp, giảng giải,… tùy theo mức độ ở từng lớp vào dạy các dạng toán ở các khối lớp
Từ trước cho tới nay có không ít giáo viên đã từng nghiên cứu về việc vận dụng các phương pháp này Tôi cũng vậy, sau khi được đảm nhận khối 3 tôi bắt đầu tìm hiểu
và nghiên cứu tất cả các dạng toán ở lớp 3 Song, giờ đây tôi muốn nghiên cứu tiếp với vấn đề “Một số biện pháp giải toán có lời văn lớp 3 dạng toán rút về đơn vị”
Trang 3Khi dạy dạng toán này, về cơ bản thì ai cũng có thể cho rằng các em dễ tiếp thu, dễ làm bài, dễ nhớ, ít sai Nhưng đi sâu hơn nữa, theo cái nhìn chủ quan của tôi, với dạng toán này các em cũng có những nhầm lẫn đáng tiếc nếu như các em không nắm chắc đặc điểm cơ bản, phương pháp giải cơ bản của hai kiểu bài trong dạng toán này Nếu hướng dẫn học sinh từng kiểu bài một trong một tiết thì các em làm bài gần như theo khuôn mẫu, ít sai sót Nếu hướng dẫn học sinh luyện tập song song
cả hai kiểu bài hoặc học xong cả hai kiểu bài rồi, các em mà không nắm vững sẽ sai nhầm dễ dàng Điều này sẽ xảy ra với các em học sinh chậm tiến Cho nên việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp giúp các em giải tốt dạng toán này ở lớp 3 sẽ phải dần từng bước được khắc phục, đổi mới, kích thích học theo nhận thức chủ đạo của học sinh thì chất lượng mới cao, phát huy tính tư duy, độc lập, sáng tạo ở tất cả học sinh
IV PHẠM VI ĐỀ TÀI:
- Học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Hiệp Hòa
-Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 3
-Một số tài liệu tham khảo
-Đề tài: “ Một số biện pháp giải toán có lời văn lớp 3 dạng toán rút về đơn vị” đã đưa ra một số kinh nghiệm để áp dụng trong quá trình dạy học toán ở bậc tiểu học
và có thể áp dụng trong phạm vi của các trường trong tỉnh
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP
I THỰC TRẠNG CỦA DẠY VÀ HỌC
Ở Tiểu học các bài toán giải có vị trí rất quan trọng, kết quả học toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, biết giả thành thạo các dạng toán cũng là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ học toán của mỗi học sinh Nhưng thực tế khi gặp các bài toán có lời văn, học sinh thường lúng túng, không biết định hướng, tìm tòi phương pháp giải mặc dù các em nắm rất vững các kiến thức về cộng, trừ, nhân, chia… Khi giải toán có lời văn hầu hết các em chưa nắm rõ dữ kiện và yêu cầu đề toán, chưa biết lựa chọn phép tính và lời giải phù hợp, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra mối liên hệ giữa các dữ liệu trong bài toán để giải được bài toán Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy, GV cần dạy học linh hoạt theo hướng tự chủ, phương pháp phù hợp với đối tượng HS Tổ chức dạy học nhẹ nhàng sẽ mang lại hiệu quả, không gò bó áp đặt luôn gây hứng thú cho các em học tập để đạt chuẩn kiến thức kĩ năng
Trong nhiều năm theo dõi học sinh học Toán, đặc biệt là năm nay, tôi trực tiếp theo dõi các em học sinh lớp 3 giải toán nói riêng, tôi thấy các em có một thói quen không tốt cho lắm đó là: đọc đầu bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay, làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, cho nên, khi trả bài các em mới biết là mình sai Đối với dạng toán rút về đơn vị, khi giáo viên hướng dẫn xong kiểu bài 1, các em làm bài khá tốt, ít nhầm lẫn, nhưng còn sai nhiều trong tính toán, đến khi dạy xong kiểu bài 2, các em làm bài có phần nhầm lẫn nhiều hơn, nhiều em thực hiện ở các bước 2 đáng lẽ là phép chia thì các em lại làm phép nhân ( giống ở kiểu bài 1)
Cụ thể ở hai dạng bài như sau:
*Bài toán 1
Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa được 36 kg gạo Hỏi 4 bao gạo như thế có thể chứa được bao nhiêu ki lô gam gạo?
* Bài toán 2:
Có 42 lít dầu đựng vào 6 can Hỏi có 84 lít dầu thì cần có bao nhiêu can như thế để đựng?
* Nguyên nhân các em làm sai ở dạng toán này là do phần lớn các em còn chủ
quan khi làm bài, chưa nhớ kĩ các phương pháp giải dạng toán này Mặt khác, cũng
có thể là các em chưa được củng cố rõ nét về hai kiểu bài trong dạng toán này nên
sự sai đó không tránh khỏi Còn nữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực tế mà các
em quên mất phương pháp thử lại nên kết quả đưa ra rất đáng tiếc
* Xuất phát từ tình hình thực tế, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy
dạng toán này Mục đích chính giúp các em có phương pháp giải toán nói chung, phương pháp giải dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị nói riêng Làm cho các
em biết chủ động thực hiện giải toán không rập khuôn, máy móc mà phải dựa vào
tư duy phân tích tổng hợp từ bản thân
Trang 5II/ NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT:
Xuất phát từ tình hình thực tế, để các em nắm vững được phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi lần lượt nghiên cứu phương pháp dạy giải dạng toán này theo các kiểu bài với từng bước sau:
Bước 1: Giúp các em nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan
đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân
Bước 3: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan
đến rút về đơn vị bằng phép tính chia
Bước 4: Luyện tập, so sánh cách giải và củng cố kiến thức cho học sinh.
Để giải quyết được nhiệm vụ trên, tôi càng bám sát vào các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học toán ở Tiểu học nói chung, của lớp 3 nói riêng sao cho phù hợp và nhận thức của học sinh, các em có hứng thú tốt khi học tốt, tạo không khí lớp sôi nổi, chất lượng cao
III/ CÁC GIẢI PHÁP:
Muốn cho học sinh giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, trước tiên
chúng ta phải hướng dẫn các em nắm chắc được những bước cần thực hiện khi giải một bài toán nói chung
1/Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán:
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó Cho nên, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
- Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
Yêu cầu học sinh đọc đề bài nhiều lần trước khi làm bài, từ đó các em hình thành thói quen đọc kỹ đề bài trước khi giải
- Bước 2: Tóm tắt đề toán:
Trong quá trình giải, chữa bài tập toán ở nhà, vở bài tập in, khi giải toán đố, tôi thường xuyên cho học sinh tóm tắt Trước khi tóm tắt thường hướng dẫn cho các em
có cách tóm tắt bài bằng hệ thống các câu hỏi gợi mở, giúp học sinh nhận biết dạng toán Từ đó học sinh có hướng tóm tắt bài toán cho đúng với yêu cầu của từng bài
- Bước 3: Phân tích bài toán.
Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp gợi mở cho học sinh đi ngược từ câu hỏi của bài toán trở lại điều kiện của đầu bài đã cho
- Bước 4: Giải bài toán
Từ ba bước trên, giúp học sinh hiểu kỹ đầu bài, từ đó học sinh định hướng, tư duy và tìm ra cách giải bài toán đó
- Bước 5: Thử lại kết quả.
Sau khi giải xong, cho các em thử lại kết quả Bước này giúp học sinh có cơ sở
lý luận, tin tưởng vào cách làm bài của mình
Trang 6Để hình thành cho học sinh có kỹ năng, kỹ xảo “giải toán có lời văn” theo năm buớc trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên, liên tục
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
a/ Đọc kĩ đề toán:
Học sinh đọc ít nhất 3 lần, mục đích để giúp các em nắm được ba yếu tố cơ bản: Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay
b/ Tóm tắt đề toán:
Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm thể hiện rõ hơn Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt ấy mà nhắc lại được đề toán
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ giải toán giỏi Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tới học sinh:
* Cách 1: Tóm tắt bằng chữ.
* Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
* Cách 3: Tóm tắt bằng hình tượng trưng.
* Cách 4: Tóm tắt bằng kẻ ô.
Tuy nhiên tôi luôn luôn hướng các em chọn cách nào cho dễ hiểu nhất, rõ nhất, điều đó còn phụ thuộc vào nội dung từng bài
c/ Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích
đề bài để tìm ra cách giải bài toán (Đối với những em chậm tiến, tôi còn hướng dẫn các em đánh số vào mỗi câu hỏi) Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo
sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
- Bài toán cho biết gì?
- Bài toán hỏi gì?
- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
- Cái này biết chưa?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Trang 7Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán
d/ Giải bài toán:
Dựa vào tóm tắt bài toán, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp
e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải trở thành thói quen đối với học sinh Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua các bước:
- Đọc lại lời giải để kiểm tra xem giữa lời giải và phép tính đã phù hợp chưa, hợp lí chưa?
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh
2/ Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân ( kiểu bài 1):
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đều vào 7 can Hỏi
mỗi can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài
- Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán
+ Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can)
+ Bài toán hỏi gì? ( 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong)
+ Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng:
7 can: 35 l
1 can:… l ?
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phương pháp giải bài toán
Bài giải Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l) Đáp số: 5 l mật ong.
Trang 8- Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? ( phép tính chia)
- Giáo viên giới thiệu: Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can, để tìm được số lít mật ong trong 1 can, chúng ta thực hiện phép chia Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của một phần trong các phần
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp dụng, củng cố như:
Bài 1: Có 300 kg gạo chia đều vào 5 bao Hỏi mỗi bao gạo như thế đựng được
bao nhiêu ki – lô – gam gạo?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán và nêu miệng phần tóm tắt và giải:
1 bao :…… kg?
Bài giải
Số ki-lô-gam gạo chứa trong mỗi bao là:
300 : 5 = 60 (kg) Đáp số: 60 kg gạo
Bài 2: Có 15 kg đậu chia đều vào 3 túi Hỏi mỗi bao như thế đựng được bao
nhiêu ki-lô-gam đậu?
- Thực hiện tương tự bài 1
3 túi : 15 kg
1 túi : … kg?
Bài giải
Số ki-lô-gam gạo đựng trong mỗi túi là:
15 : 3 = 5 ( kg) Đáp số : 5 kg
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can
Hỏi 2 can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán
7 can : 35 lít
2 can : … lít?
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán:
+ Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? ( 1 can chứa được bao nhiêu lít mật ong)
+Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít mật ong của 7 can chia cho 7)
+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: … l?
+ Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can
Trang 9(Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2).
- Giải bài toán
Bài giải Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số lít mật ong có trong 2 can là:
5 x 2 = 10 (l) Đáp số:10l mật ong.
- Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: Bước tìm số lít mật ong trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị
- Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán – kiểu bài 1:
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
+Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị (giá trị một phần trong các phần bằng nhau)
Thực hiện phép chia
+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần bằng
nhau) Thực hiện phép nhân
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng.
- Giáo viên nêu miệng bài toán, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thích cách làm
Bài 1: Có 45 kg ngô chia đều trong 3 túi Hỏi với 8 túi như thế đựng được bao nhiêu ki-lô-gam ngô?
3 túi : 45 kg
8 túi : …kg?
Bài giải
Số ki-lô-gam có trong mỗi túi là:
45 : 3 = 15 ( kg)
Số ki-lô-gam có trong 8 túi là:
15 x 8 = 120 ( kg) Đáp số: 120 kg Bài 2: Có 20 gói bánh dựng trong 4 thùng Hỏi 12 thùng như thế đựng được bao nhiêu gói bánh?
4 thùng : 20 gói
12 thùng :….gói?
Bài giải
Số gói bánh đựng trong 1 thùng là
20 : 4 = 5 ( gói)
Số gói bánh đựng trong 12 thùng là:
5 x 12 = 60 ( gói) Đáp số: 60 gói bánh
Trang 10Sau khi HS được làm bài tập áp dụng GV củng cố lại cách làm của dạng bài này và yêu cầu HS nhắc lại để nắm chắc kiểu bài 1
Bước 1: ( Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị ( Giá trị 1 phần) ( phép
chia)
Bước 2: Tìm nhiều đơn vị ( từ 2 trở lên) ( phép nhân).
+ Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị (nhiều phần)
- Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2
3/ Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến
rút về đơn vị giải bằng 2 phép tính chia: ( Kiểu bài 2)
Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can Nếu có 10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế?
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán :
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán
35 lít: 7 can
10 lít: ….can?
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán:
+ Muốn tính được 10 lít mật ong đựng trong bao nhiêu can ta phải biết gì? ( 1 can chứa được bao nhiêu lít mật ong)
+Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít mật ong của 7 can chia cho 7)
+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: …l?
+ Vậy muốn biết 10 lít đựng được bao nhiêu can khi đã biết số lít đựng trong 1 can?
(Lấy 10 lít mật ong chia cho số lít mật ong có trong 1 can )
- Giải bài toán
Bài giải Số lít mật ong trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số can cần có để đựng 10 lít là:
10 : 5 = 2 ( can) Đáp số: 2 can
- Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: Bước tìm số lít mật ong trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị
- Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán – kiểu bài 2:
+ Bước 1:: Tìm giá trị 1 đơn vị ( giá trị 1 phần) ( đây là bước rút về đơn vị)
( phép chia)
+ Bước 2: Tìm số phần (số đơn vị) ( phép chia).
Sau mỗi bài tập, chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc phương pháp hơn Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách giải ở