Qua nhiều năm giảng dạy, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm là khitrả bài viết tập làm văn chúng ta nên giảng giải lại kĩ hơn về yêu cầu của đềtập làm văn và nêu ra được các ưu điểm
Trang 1PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
a Cơ sở lý luận.
Nếu như ở các bộ môn khác mà học sinh được học trong chương trình đãcung cấp cho các em những tri thức hiểu biết về nguồn cội con người, vềkiến thức khoa học của nhân loại, về cuộc sống sinh thái… thì bộ môn Ngữvăn cũng góp một phần rất lớn và quan trọng trong sự phát triển toàn diệncủa các em Bộ môn này sẽ giúp các em rất nhiều trong giao tiếp, biết tạo lậpđược các loại văn bản, các em sẽ thấu hiểu, thông thạo và giàu ngôn ngữ dântộc Đặc biệt là sự phân biệt và cảm thụ cái hay, cái đẹp tinh hoa văn hóanghệ thuật.Và nhất là bộ môn này trực tiếp giúp các em hình thành ý thức,đạo đức, phẩm chất, nhân cách của con người
Là người giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn Ngữ văn Trunghọc cơ sở Mỗi lần lên lớp, bản thân tôi luôn băn khoăn trước việc học củahọc sinh mình Môn Ngữ văn cũng là một bộ môn quan trọng trong chươngtrình giáo dục nhưng tại sao các em lại ít đạt điểm khá giỏi Nguyên nhân là
do đâu? Do giáo viên dạy chưa nhiệt tình hay là các em còn chưa tự tin,chưa có hứng thú học bộ môn này?
Để học tốt môn Ngữ văn nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng thìtrước hết ta phải nắm chắc phương pháp viết bài văn theo trình tự nào Bêncạnh đó cần suy nghĩ tìm tòi, huy động những kiến thức đã học liên quanđến nội dung đề Hơn thế nữa, suy nghĩ sáng tạo của cá nhân là quan trọngnhất Không nên lệ thuộc vào bài văn mẫu một cách rập khuôn, máy móc.Bởi vì quá trình tiếp nhận văn học là tiếp nhận những tri thức, cái hay, cáiđẹp của tác phẩm
Mặc khác thì vai trò của người giáo viên cũng không kém phần quan
Trang 2học) Nó là một dàn ý chi tiết đã được người thầy chuẩn bị trước một cáchcông phu, kĩ lưỡng, trù tính trước ý đồ tổ chức quá trình dạy - học cho từngbài dạy cụ thể trên lớp, nhằm giúp các đối tượng học sinh học tập đạt hiệuquả cao nhất
Tuy nhiên, ta vẫn còn nghe đâu đó câu nói cửa miệng từ giáo viên: “Giáo
án chỉ là một hình thức đối phó!” Mới thoáng nghe, chúng ta đều thấy cũng
có lí, nhưng suy nghĩ cho kĩ càng, thấu đáo và nghiêm túc thì đó là điềukhông thể chấp nhận được
Chúng ta phải luôn luôn lắng nghe tâm tư và nguyện vọng của các em vềnhững khó khăn và vướng mắt khi học môn Ngữ văn, để từ đó chúng ta cócách giảng dạy đạt hiệu quả hơn
b Cơ sở thực tiễn.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn được các cấp quản lígiáo dục và giáo viên đã và đang tổ chức thực hiện bước đầu cũng đã đạtđược một số kết quả nhất định Tuy nhiên thực tế cho thấy các em còn nhiềuhạn chế trong bài viết của mình: thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng vàmáy móc… Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đềcương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạchcảm xúc ( không chân thật, còn gượng ép… ) Rất ít học sinh chịu tìm tòi,khám phá ra các ý mới, ý riêng, sâu sắc, ý hay do chính bản thân các emcảm nhận
Thực tiễn đã cho thấy khi diễn đạt thì ngoài yếu tố câu cú, ngữ pháp lờivăn trong sáng còn phải thể hiện tình cảm của người viết Chúng ta cần phảitrân trọng và đánh giá cao vai trò sáng tạo trong tiếp nhận của học sinh Cóthể là những ý kiến, những suy nghĩ và những cảm nhận riêng của cá nhânhọc sinh chưa hay và cũng có thể là chưa đúng nhưng các em đã mạnh dạnbày tỏ thì người giáo viên phải dựa trên những cơ sở đó mà định hướng cho
Trang 3học sinh Lần lần các em sẽ viết văn tốt, tự tin và đến với môn Ngữ văn mộtcách nhẹ nhàng, thoải mái, thú vị hơn.
Mặc khác, trong quá trình dạy học cho thấy nếu lên lớp không có giáo án(thiết kế dạy – học), tức là không trù tính trước ý đồ tổ chức tiến trình dạy -học thì không thể hướng dẫn học sinh học tập đạt hiệu quả như mục tiêu đề
ra Đặc biệt, đối với những tiết dạy trả bài viết tập làm văn lại càng ít đượcgiáo viên chú trọng Hầu hết họ đều soạn giảng tiết này thường rất sơ sài,mang tính chiếu lệ Đó là những bài soạn được thiết kế bằng những gạchngang đầu dòng như một đề cương thuyết trình mà không thể hiện rõ đúngtính chất của một tiết “Trả bài viết tập làm văn” thực thụ
Những vấn đề ấy khiến tôi quan tâm, trăn trở và tìm cách tháo gỡ, để chia
sẻ kinh nghiệm, nhằm góp phần khắc phục tình trạng nói trên, tôi xin trao
đổi và đề xuất kinh nghiệm: Một số điểm cần lưu ý khi soạn giảng tiết trả bài viết tập làm văn cấp THCS.
Đề xuất khung sườn cách soạn giáo án tiết trả bài viết tập làm văn phùhợp nhất, khả thi nhất
Tình trạng viết câu sai ngữ pháp, không phân đoạn hay tách đoạn tùy tiện
sẽ giảm đáng kể Bên cạnh đó còn tránh được lối diễn đạt rườm rà, không rõràng Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đưa
ra những đề xuất về một số phương pháp có tính khoa học để góp phần tạonên chất lượng bài viết của học sinh được nâng cao rõ rệt Giúp cho các em
Trang 4học sinh viết tập làm văn hay, tự tin và đến với môn Ngữ văn một cách nhẹnhàng, thoải mái.
3 Lịch sử đề tài:
Từ những bài viết tập làm văn trên lớp của học sinh ở các năm học:
2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 và giáo án bài soạn tiết trả bài viết tập làm văncủa một số giáo viên Ngữ văn trong và ngoài nhà trường
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm là khitrả bài viết tập làm văn chúng ta nên giảng giải lại kĩ hơn về yêu cầu của đềtập làm văn và nêu ra được các ưu điểm để các em hứng thú học tập Bêncạnh đó cũng cần nêu ra một số hạn chế mà các em đã mắc phải để các emsửa chữa sai sót góp phần cho việc hoàn thiện hơn về cách hành văn củamình
Tiết trả bài viết tập làm văn là tiết mà không có sách biên soạn cụ thể vàcũng không có hướng dẫn về cách thực hiện nên mỗi giáo viên sẽ có cáchsoạn bài viết tập làm văn theo cách riêng của mình Giáo viên chưa thật sựchú trọng đến tiết trả bài viết tập làm văn, vì thế dẫn đến sự sai sót của họcsinh chưa thể khắc phục được
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn bậc THCS tôi mạnh
dạn tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: Một số điểm cần lưu ý khi soạn giảng
tiết trả bài viết tập làm văn cấp THCS , nhằm làm tốt hơn nữa nhiệm vụ
dạy học của mình
4 Phạm vi đề tài:
Phương pháp học tốt phân môn tập làm văn thì có rất nhiều phương phápnhư tham khảo các bài văn mẫu của một số sách có giấy phép lưu hành;nghiên cứu đọc nhiều sách báo để nâng cao khả năng hiểu biết hay về cáchhành văn của một số tác giả; một số điểm cần lưu ý khi soạn giảng tiết trảbài viết tập làm văn cấp THCS ;…
Trang 5Trong tất cả các phương pháp học tốt phân môn tập làm văn đó tôi đã tiếnhành nghiên cứu và rút ra được kinh nghiệm cho phương pháp : Một số điểmcần lưu ý khi soạn giảng tiết trả bài viết tập làm văn cấp THCS Và phươngpháp này có khả năng áp dụng cho tất cả các khối 6, 7, 8, 9 cấp THCS.
Tôi đã tham khảo giáo án của đồng nghiệp trong trường và nghiên cứutham khảo một số giáo án của đồng nghiệp trường bạn trong và ngoài huyện;tìm hiểu và phân tích những bài viết tập làm văn của học sinh khối 9 trườngTHCS Hưng Điền - Huyện Tân Hưng - Tỉnh Long An
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP
1 Thực trạng
a Cơ sở lí luận.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm theo dõi quá trìnhhọc tập của học sinh, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương phápdạy của thầy, phương pháp học của trò, giúp học sinh tiến bộ và đạt mục tiêugiáo dục
Mục tiêu cao nhất của bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn tập làmvăn nói riêng là giúp học sinh rèn luyện và thực hành kĩ năng tạo lập văn bản(nói – viết) Vì vậy, trong cấu trúc nội dung, chương trình, các bài viết tậplàm văn đóng một vai trò quan trọng Ở bậc THCS, học sinh được học vàthực hành tạo lập 06 kiểu văn bản như đã nói ở trên Chúng ta có thể thống
kê lại số bài tập làm văn học sinh viết theo kiểm tra định kì (không kể thihọc kì) như sau:
Lớp
Kiểu văn bản thực hành tạo lập
Tự sự Miêu tả Biểu cảm Lập luận
(nghị luận)
Thuyếtminh
Điềuhành
6 03 bài 03 bài
Các văn bản nói trên không chỉ được thực hành, luyện tập ở trường, lớp
mà còn ngay cả trong cuộc sống hằng ngày Để có thể tạo lập được một vănbản dù đơn giản hay phức tạp thì đòi hỏi người nói (viết) phải có kĩ năng vậndụng tốt kiến thức tiếng việt (chính tả, ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữnghĩa, …), kiến thức thể loại (truyện, thơ, kịch, …), hay nói cách khác là
Trang 7người học phải biết vận dụng tổng hợp kiến thức của cả ba phân môn trongmôn Ngữ văn, nhằm thuyết phục người đọc (nghe) về một vấn đề nào đó
Vì thế, bài viết tập làm văn là bài kiểm tra tổng hợp, toàn diện; là bướckiểm định, tiêu chí đáng tin cậy và thuyết phục nhất để giáo viên vừa kiểmtra, đánh giá, nhận xét khả năng vận dụng và thực hành tạo lập văn bản củahọc sinh (khả năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý; cách dùng từ, đặt câu, lốihành văn diễn đạt …), vừa có cái nhìn thẩm định khách quan nhất để rútkinh nghiệm và điều chỉnh gia công thiết kế cũng như phương pháp dạy học
phân môn tập làm văn chiếm tỉ lệ cao nên tôi quyết định tìm hiểu đề tài: Một
số điểm cần lưu ý khi soạn giảng tiết trả bài viết tập làm văn cấp THCS.
* Chất lượng trước khi thực hiện đề tài: ( Năm học 2014-2015 )
Trang 82, mặc dù có sự chuyển biến là số học sinh đạt từ 8 đến 10 điểm tăng được 2
em, số học sinh đạt từ 6,5 đến 7,5 tăng được 3 em, số học sinh đạt từ 5 đến 6điểm giảm 7 em nhưng số học sinh dưới 5 điểm lại tăng 2 em Qua đây cho
ta thấy tình hình học tập của hai lớp 9 chưa có sự tiến bộ về chất lượng giảngdạy, là do khi làm bài các em chưa nắm chi tiết, thậm chí khái quát yêu cầukhi tạo lập văn bản nghị luận cho cả hai loại nghị luận về tác phẩm truyện vànghị luận về đoạn thơ, bài thơ Do đó khi tạo lập văn bản các em thườngmắc các khuyết điểm sau: Phân tích đề chưa đúng, tìm không ra ý để viếtnên phải kể lòng vòng câu chuyện hoặc diễn xuôi bài thơ, đoạn thơ; thựchiện nhiệm vụ từng phần trong bố cục ba phần của văn nghị luận chưa đầy
đủ Chính vì những hạn chế của học sinh nên tôi quyết định tìm hiểu đề tài:
“Một số điểm cần lưu ý khi soạn giảng tiết trả bài viết tập làm văn cấp THCS” Đề tài có tác dụng giúp giáo viên Ngữ văn đối chiếu giữa lý luậnvới thực tế chất lượng bộ môn mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng của
Trang 9học sinh lớp mình phụ trách, vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng caochất lượng, giải quyết một phần tình hình học sinh học yếu kém bộ môn Ngữvăn như hiện nay Mặc khác giúp cho các em học sinh khắc phục được saisót và có thể viết được một bài văn hay, các em sẽ cảm thấy tự tin hơn khihọc bộ môn Ngữ văn.
2 Nội dung cần giải quyết.
Ở đây, tôi đã chọn đề tài: Một số điểm cần lưu ý khi soạn giảng tiết trả
bài viết tập làm văn cấp THCS Như đã nói ở trên, phần này tùy vào thực
trạng bài viết của học sinh mà giáo viên linh hoạt, sáng tạo để đặt ra mục
tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ, làm sao cho phù hợp với từng đối
tượng, từng bài dạy tiết trả bài, từng kiểu bài
Chẳng hạn, nếu bài viết của học sinh mắc lỗi tìm hiểu đề, lỗi tìm ý, lỗichính tả hoặc lỗi xây dựng đoạn văn, lỗi liên kết câu và đoạn văn, … thìmục tiêu trong bài thiết kế là hướng trọng tâm vào những điểm hạn chế đó
để giúp học sinh nhận thức được nguyên nhân và hình thành kĩ năng khắcphục, sửa chữa được các lỗi đó, giáo dục các em có ý thức tự giác, chủ động
tự rèn luyện
3 Giải pháp.
Đây là phần cụ thể hóa cho phần mục tiêu cần đạt Khi thực hiện phầnnày, tôi thường tiến hành làm rõ các nội dung theo trình tự bảy bước: tìmhiểu đề, tìm ý; lập dàn bài; nhận xét thống kê chất lượng chung; sửa chữacác lỗi mắc phải; đọc và bình; hướng dẫn viết đoạn văn tham khảo; yêu cầuhọc sinh trao đổi bài và tự sửa chữa lẫn nhau
3.1 Tìm hiểu đề, tìm ý:
3.1.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cấu trúc của đề bài:
Trang 10Ví dụ: Em hãy làm rõ hình ảnh con người trong kháng chiến chống Pháp
và trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới qua hai tác phẩm: “Làng” (KimLân) và “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long)
- Cách thực hiện: Giáo viên gợi dẫn học sinh (bằng hệ thống câu hỏi) lầnlượt xác định:
+ Kiểu bài: Nghị luận về tác phẩm văn học
+ Yêu cầu: Làm rõ hình ảnh con người trong cuộc kháng chiến chốngPháp và trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới
+ Phạm vi tư liệu: Hai tác phẩm “Làng” của Kim Lân và “Lặng lẽ Sa Pa”của Nguyễn Thành Long
- Tác dụng: Giúp học sinh rèn kĩ năng tìm hiểu đề để xác định đúng yêucầu đề bài, tránh lạc đề, xa đề; nắm được kiểu bài, đối tượng, phạm vi, phéplập luận
3.1.2 Hướng dẫn học sinh tìm ý:
- Cách thực hiện: Tùy theo từng kiểu bài mà giáo viên linh hoạt hướngdẫn học sinh đặt hệ thống câu hỏi theo một số quy tắc từ khóa: Ai? Cái gì?Mặt nào? Ở đâu? Như thế nào? Tại sao? Suy nghĩ gì?
* Ví dụ: Phân tích truyện ngắn “Lão Hạc” để làm nổi bật cách nhìn người
nông dân của Nam Cao
Ở đây đề bài yêu cầu làm nổi bật cách nhìn người nông dân của NamCao, do đó sự phân tích tác phẩm được định hướng theo vấn đề cách nhìnngười nông dân
+ Nam Cao đã nhìn người nông dân như thế nào? (Thấy rõ sự đau khổ, bếtắc của người nông dân; cảm thông với những khổ đau của họ, cố tìm màhiểu những nét tốt đẹp của họ; luôn trân trọng họ; tin tưởng vững chắc vàophẩm giá, nhân cách của họ)
Trang 11+ Cách nhìn người nông dân của Nam Cao nổi bật ở những điểm nào?(Đó là cách nhìn chân thực, đúng đắn Có những người khinh bỉ nông dân,
có những nhà văn thi vị hóa cuộc sống nông thôn Nam Cao nhìn ngườinông dân và cuộc sống nông dân chân thực; Đó là cách nhìn riêng, khônggiống với các nhà văn khác Nguyễn Công Hoan thấy người nông dân khổcực nhưng khờ dại Ngô Tất Tố thấy người phụ nữ nông dân thông minh,xinh đẹp, có bãn lĩnh, có tư cách tốt đẹp Nam Cao phát hiện những điều tốtđẹp, những phẩm chất cao quý trong hình thức thường xấu xí, trong tínhcách có vẻ gàn dở)
* Ví dụ: Em sẽ nói gì với các bạn về yêu cầu học nói trong câu tục ngữ:
“Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Ở đây đề yêu cầu đề cập đến việc học cách nói, sự khéo léo trong cáchnói năng ứng xử cho có văn hóa
+ Tại sao “ăn, nói, gói, mở” trông dễ thế ai cũng làm được, mà lại cònphải học? (Đấy là những cử chỉ hành động dễ thực hiện nhưng thực hiện chokhéo thì không dễ -> Do đó ta cần phải học)
+ Có phải sinh ra người ta ai cũng biết ăn, biết nói, biết gói, biết mở? (Đó
là những hành động đơn giản ai cũng thực hiện được)
+ Có phải ăn, nói, gói, mở dù như thế nào thì cũng thành người có vănhóa hay không? (Không phải ăn, nói, gói, mở như thế nào cũng được vàkhông phải ăn, nói, gói, mở như thế nào cũng trở thành người có văn hóa) + Riêng yêu cầu tập nói có những điều gì cần suy nghĩ? (Phải lựa lời nóithế nào cho có văn hóa, tế nhị)
+ Em nghĩ gì về lời khuyên đó? (Đó là lời khuyên quý báu xuất phát từkinh nghiệm người xưa là phải học cách giao tiếp Theo ông cha ta bên cạnhhọc hỏi chữ “thánh hiền” thì trong cách đối nhân xử thế hằng ngày cũng cần
Trang 12phải học tập, sử dụng lời ăn tiếng nói “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” đểgiữ gìn mối quan hệ tốt đẹp từ gia đình đến ngoài xã hội.)
+ Đối với học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường việc học nói cần thiếtnhư thế nào? Em sẽ nói gì với các bạn ? (Việc học nói rất cần thiết ……)
- Tác dụng: Giúp học sinh có thói quen đặt câu hỏi và thuần thục kĩ năngtìm ý để có được những gợi ý cần thiết theo đúng yêu cầu và làm nổi bậttrọng tâm của bài viết Biết cách mở rộng vấn đề Có thói quen và thuần thục
kĩ năng lập dàn ý theo bố cục ba phần một cách cân đối, chặt chẽ, mạch lạc,thuyết phục
3.2 Lập dàn bài.
- Từ những dữ kiện vừa gợi dẫn học sinh tìm hiểu trên, người thầy tiếptục gợi dẫn học sinh đi đến việc sắp xếp bố cục, các ý theo một trình tự chặtchẽ, logic
Dàn bài chi tiết :
* Ví dụ: Em hãy miêu tả loài cây mà em yêu thích.
+ Mở bài:
- Giới thiệu được loài cây mà em yêu thích
- Nêu được vì sao mà em yêu thích loài cây đó
+ Thân bài:
- Nêu được hình dáng loài cây mà em yêu
- Nêu tác dụng của loài cây đó (tác dụng về vật chất và tác dụng về tinhthần)
- Tình cảm của em đối với loài cây đó như thế nào?
- Tình cảm biểu hiện chân thật (xuất phát từ tình cảm chân thật, sự tự giáccủa bản thân)
+ Kết bài:
- Cảm nghĩ của em về loài cây mà em yêu
Trang 13- Rừng giúp cho việc điều hòa khí hậu, ngăn chặn lũ lụt.
- Trong rừng có những thắng cảnh như : suối, thác, thung lũng, cây cốiđể con người đi tham quan và nghỉ ngơi
b Chứng minh :
- Nhiều người vẫn thường tìm đến những nơi có cây xanh, khí hậu
trong lành để tham quan, du lịch , nghĩ ngơi để tĩnh dưỡng
=> Điều đó cho thấy rừng có lợi cho sức khỏe của con người Vậykhông còn rừng sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Trang 14- Trong thời gian gần đây những trận lũ lụt hay tràn về vùng đồngbằng với sức tàn phá dữ dội, gây thiệt hại cho nhân dân về tiền của, vậtchất lẫn sinh mạng,
=> Khi con người phá hoại rừng thì không thể ngăn chặn được lũ lụt đãtràn về nhanh hơn và sức tàn phá dữ dội hơn
- Ở Tánh Linh tỉnh Bình Thuận đàn voi dữ nhiều lần tràn về giầy xénương rẫy, phá hoại hoa màu làm thiệt hại nhiều cư dân trong vùng
=> Điều đó cho thấy khi con người chặt phá rừng thì nơi sinh sống củaloài thú đã bị thu hẹp Vì thế chúng phải đi tìm nguồn thức ăn ở nhữngvùng lân cận và gây nguy hiểm cho con người
- Hiện nay, trái đất đang ngày càng nóng dần lên Ngoài nguyênnhân là do khí thải khiến cho tầng Ozôn bị thủng thì còn một nguyênnhân khác đó là con người đã tàn phá rừng, khiến cho lá phổi của loàingười bị ảnh hưởng
=> Rừng bị thu hẹp nên đã giảm chức năng điều tiết khí hậu tác độngxấu đến môi trường sinh thái
=> Vậy bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta
+ Kết bài :
- Nêu tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng
- Liên hệ bản thân
3.3 Nhận xét, thống kê chất lượng chung.
- Cách thực hiện:
+ Nhận xét khái quát những ưu điểm, hạn chế từ bài viết của học sinh + Giáo viên thống kê điểm giỏi, khá, trung bình, yếu, kém từ các bài viếtcủa học sinh (cĩ thể so sánh với các lớp khác cùng khối)
Trang 15+ Giáo viên khéo léo tuyên dương, động viên, khích lệ ý thức học tập, ýchí, tinh thần vượt khó vươn lên trong rèn luyện của học sinh.
- Tác dụng:
+ Giúp học sinh thấy được những ưu điểm và hạn chế mắc phải
+ Tạo không khí thi đua giành điểm tốt trong các bài viết sau
+ Kích thích, tạo niềm tin trong việc tự học, rèn luyện kĩ năng thực hànhtạo lập văn bản
3.4 Chữa lỗi
- Cách thực hiện: Giáo viên căn cứ vào các bước ở trên và nhất là chất
lượng bài viết của học sinh để nhận xét cụ thể và sửa chữa những lỗi thôngdụng mà các em thường mắc phải (nếu có) trong quá trình hành văn như: tìmhiểu đề, tìm ý, lập dàn bài; dùng từ đặt câu; xây dựng bố cục, trình bày…
- Tác dụng:
+ Giúp học sinh nhận thấy và tìm ra được nguyên nhân mắc phải các lỗi
về nội dung, lỗi về hình thức
+ Giúp học sinh rút kinh nghiệm và biết cách tự rèn luyện, khắc phục,sửa chữa các lỗi mắc phải trong các bài viết sau
* Ví dụ: Chữa lỗi cho học sinh trong bài viết của đề “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây”
- Viết tắt, viết số, dùng kí hiệu tùy tiện:
+“Câu TN” Sửa: Câu tục ngữ;
+ “…là 1 bài học về cách làm người” Sửa: … là một cách làmngười;
+“ câu tục ngữ khuyên chúng ta …” Sửa: Như vậy câu tục ngữkhuyên chúng ta …
+ …vv
- Sử dụng dấu câu chưa chính xác, chưa hợp lí:
Trang 16+ “cha ông ta” đúc rút kinh nghiệm …” Sửa: cha ông ta đúc rút kinhnghiệm …
+“Câu tục ngữ ăn quả nhớ kẻ trồng cây là lời dạy bổ ích khiến chochúng ta phải suy nghỉ…” Sửa: Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” làlời dạy bổ ích khiến cho chúng ta phải suy nghĩ…;
+ …vv
- Viết câu chưa đúng:
+ “Qua câu tục ngữ nhắc nhở mọi người …” Sửa: Qua câu tục ngữ,cha ông ta nhắc nhở mọi người …
+ “Trong cuộc sống của con người Chúng ta nên ghi nhớ và thựchiện tốt lời dạy…” Sửa: Trong cuộc sống, chúng ta nên ghi nhớ và thực hiệntốt lời dạy…
+ …vv
- Dùng từ còn thô và chưa chuẩn xác:
+ “Một số thanh niên ngày nay không những đua đòi không lo lắng họctập lao động Họ còn mất dạy với cha mẹ đẻ…” Sửa: Một số thanh niênngày nay không những đua đòi, không lo lắng học tập, lao động, mà còn cómột số hành động đi ngược lại đạo hiếu đối với cha mẹ…
+ Câu tục ngữ có một ý nghĩa rất là hay … Sửa: Câu tục ngữ có một ýnghĩa sâu sắc …
Trang 17* Ví dụ: Em sẽ nói gì với các bạn về yêu cầu học nói trong câu tục ngữ:
“Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Thông qua phần bình luận của mình, Giáo viên hướng dẫn học sinh chọnlựa một trong những cách mở bài sau để rèn kĩ năng xây dựng đoạn:
+ Mở bài khẳng định:
Nhân dân ta từ xưa đã dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”… Hoặc:Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có nhiều lời dạy quý báu Một trongnhững lời dạy đó là: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Lời dạy trên rất bổích giúp ta thành người có văn hóa, giao tiếp ứng xử hay trong cuộc sống => Ở đây chúng ta đã khẳng định ngay vấn đề trong phần mở đầu đểhướng tới người đọc một lời khuyên thật quý báu và thực hiện lời khuyênđó
+ Mở bài nêu câu hỏi:
Ai có thể bảo ăn, nói, gói, mở là không cần phải học? … Hoặc: Ai bảohọc nói là dễ? Con người sinh ra người ta ai cũng biết ăn, biết nói, biết gói,biết mở nhưng ăn, nói, gói, mở như thế nào thì mới trở thành người có vănhóa? Vậy chúng ta hãy bàn bạc nêu ý kiến, bàn luận để làm sáng tỏ câu tụcngữ: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”
=> Để cho người đọc đưa vấn đề ngay phần mở đầu, cùng nhau bàn bạc ýkiến, dùng lí lẽ, dẫn chứng phải chăng lời khuyên “Học ăn, học nói, học gói,học mở” cần phải học không?
+ Mở bài bằng phân tích:
Ăn, nói, gói, mở xem ra là những việc dễ làm nhưng thật ra không dễ bởitrong đó chứa đựng những quy ước về văn hóa, văn minh, lịch sự của conngười Với cách ăn nói, ứng xử khéo léo sẽ gây được thiện cảm của mọingười xung quanh, giúp chúng ta thành công trong cuộc sống Vì thế, câu
Trang 18tục ngữ: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” chính là lời khuyên bổ ích và có
ý nghĩa
=> Đưa vấn đề ngay phần mở đầu, sau đó dùng lí lẽ, dẫn chứng và cuốicùng đưa ra nhận xét về lời khuyên
3.6 Hướng dẫn viết đoạn văn tham khảo.
- Cách thực hiện: Giáo viên cần chuẩn bị trước ở nhà một số đoạn vănmẫu để lên lớp phân tích, củng cố cách xây dựng đoạn văn phần mở bài,thân bài, kết bài cho học sinh
* Ví dụ: viết phần mở bài, thân bài và kết bài cho đề bài: Phân tích nhân
vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
+ Đoạn mở bài:
(1) Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao là một trong những tác
phẩm xuất sắc nhất của văn học hiện thực Việt Nam (1932 -1945) (2) Nhân
vật lão Hạc trong truyện là tiêu biểu cho cuộc đời người nông dân Việt Namtrước cách mạng: nghèo đói, bất hạnh nhưng trong sáng về tinh thần, giàutình cảm
(Trình tự lập luận, xây dựng đoạn: Câu (1) nêu xuất xứ của vấn đề: tác giả,tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác à Câu (2) nêu vấn đề cần nghị luận: giới thiệutên nhân vật, báo trước đặc điểm nhân vật (khái quát) cần làm rõ ở phần thânbài)
+ Đoạn thân bài:
(1) Cảm động và đáng khâm phục hơn cả, tuy lão Hạc không được
học hành, không có kiến thức nhưng lão có ý thức rất cao về lòng tự trọng
(2) Trước khi tìm cho mình một “lối thoát”, lão đã gửi tiền cho ông giáo để nói với hàng xóm giúp khi hậu sự và để cho lão ra đi thanh thản (3) Lão
không nhờ vả và khước từ mọi sự giúp đỡ của ông giáo, “lão từ chối một
Trang 19cách dường như hách dịch”, lão thà thiếu đói chứ không làm việc xấu xa ăncắp, ăn trộm như Binh Tư…
(Trình tự lập luận, xây dựng đoạn: Câu (1) chuyển đoạn và nêu luận điểm(tính cách nhân vật lão Hạc) à Câu (2,3) nêu dẫn chứng và lí lẽ.)
+ Đoạn kết bài:
(1) Lão Hạc là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp củangười nông dân Việt Nam: nhân hậu, lương thiện, thương yêu con và cólòng tự trọng cao (2) Ngày nay không còn những cuộc đời như lão Hạc,nhưng đó mãi là tấm gương sáng về tâm hồn, nhân cách để cho ta học tập
(3) Đối với bản thân em, em sẽ luôn cố gắng học tập trở thành người có ích
và luôn tôn trọng, yêu thương mọi người
(Trình tự lập luận, xây dựng đoạn: Câu (1) tóm tắt các tính cách nhân vật đãphân tích à Câu (2) rút ra bài học à Câu (3) liên hệ bản thân, thực hiện tốtvấn đề.)
- Tác dụng: Khắc sâu, củng cố cách xây dựng đoạn văn phần mở bài, thânbài, kết bài cho học sinh
3.7 Trao đổi bài và tự sửa chữa lẫn nhau.
- Cách thực hiện:
+ Phát bài viết cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc lại và sửa chữa nhữnglỗi đơn giản nhất mà bài viết mình còn mắc phải trên cơ sở lời phê, hướngdẫn sửa chữa của giáo viên
+ Tổ chức thành từng cặp cho học sinh trao đổi bài lẫn nhau cùng kiểmtra, sửa chữa, góp ý về bài viết của nhau
- Tác dụng: Ý thức tự học, khả năng giao lưu, hợp tác; thúc đẩy sự tự tintrong việc tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và nhận xét về ngườikhác từ đó mà có kế hoạch phấn đấu rèn luyện bản thân
Trang 20*Ví dụ: Chữa về lỗi chính tả ( đôi bạn học tập sửa chữa lẫn nhau).
“sã rác” chữa lại là “xả rác”
“võ chuối” chữa lại là “vỏ chuối”
“võ chai” chữa lại là “vỏ chai”
“dục rác” chữa lại là “vứt rác”
“chất thảy” chữa lại là “chất thải”
“trích tụ” chữa lại là “tích tụ”
…
Trang 21* GIÁO ÁN MINH HỌA TIẾT TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN
Tiết………… Ngày dạy: …………
TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN
(Văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí)
2 Kĩ năng
- Tiếp tục rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận về một vấn đề
tư tưởng, đạo lí; kĩ năng tự sửa chữa và rút kinh nghiệm cho các bài viết sau
3 Thái độ
- Có ý thức học hỏi và phấn đấu, thi đua lành mạnh trong học tập
II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:
- GV: Chấm bài, tổng hợp chất lượng bài viết; soạn giảng
- HS: Xem lại phần lí thuyết văn bản nghị luận về một vấn đề tư tưởng,đạo lí
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC:
1 Ổn định lớp:
(Lớp trưởng báo cáo sĩ số và tình hình chuẩn bị bài ở nhà của các bạn)
2 Giới thiệu bài mới:
* GV giới thiệu mục đích yêu cầu của tiết trả bài