Có hai mô hình tiêu biểu trong cách tổ chức giảng dạy đại học: - Mô hình châu Âu cổ điển với các lớp học theo một chương trình chung nhất loạt cho mọi người và, - Mô hình Bắc Mỹ với ch
Trang 1NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
VỀ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN THỨ I: NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO 1
THƯ NGỎ CỦA HIỆU TRƯỞNG 2
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ TRƯỜNG 3
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 4
SỨ MẠNG 4
CHÍNH SÁCH CHẤT LƯỢNG 4
CƠ SỞ VẬT CHẤT 5
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TP.HCM 8
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 9
CÁC CẤP - NGÀNH NGHỀ ĐÀO TẠO 9
CÁC PHẦN THƯỞNG CAO U CỦA NHÀ TRƯỜNG 11
PHẦN THỨ II: KẾ HOẠCH VÀ CÁC QUY CHẾ ĐÀO TẠO 12
LỊCH ĐÀO TẠO NĂM H C 20 – 20 HỆ CHÍNH U 13
TỔNG UAN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ 15
U ĐỊNH:Đào tạo cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉtại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh 24
CHƯƠNG I: NHỮNG U ĐỊNH CHUNG 24
CHƯƠNG II:TỔ CHỨC ĐÀO TẠO 26
CHƯƠNG III:KIỂM TRA VÀ THI H C PHẦN 33
CHƯƠNG IV:XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP 36
CHƯƠNG V:XỬ L VI PHẠM 38
U ĐỊNH:Công tác Cố vấn học tập 39
Chương I:NHỮNG U ĐỊNH CHUNG 39
Chương II: TIÊU CHUẨN VÀ U TRÌNH BỔ NHIỆM CỐ VẤN H C TẬP 40
Chương III: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ U ỀN HẠN CỦA CỐ VẤN H C TẬP 41 Chương IV: HOẠT ĐỘNG CỦA CỐ VẤN H C TẬP 42
Chương V: KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT 45
Chương VI: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH 45
HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN H C CHẾ TÍN CHỈ 46
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU TRONG U CHẾ H C TẬP 49
MỐI UAN HỆ GIỮA SINH VIÊN VỚI CỐ VẤN H C TẬP 51
LỊCH TỔNG UÁT H C KỲ I NĂM H C 20 – 2014 52
PHẦN THỨ III: CHƯƠNG TRÌNH VÀ TIẾN TRÌNH ĐÀO TẠO CAO ĐẲNG KHOÁ 2013 – 2016 53
Tên chương trình: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT ÔTÔ 55
Tên chương trình: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH XÂ DỰNG 68
Tên chương trình: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT XÂ DỰNG 81
Tên chương trình: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT ĐIỆN – ĐIỆN TỬ 94
Tên chương trình: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN VÀ TỰ ĐỘNG HOÁ 106
Tên chương trình: TIN H C ỨNG DỤNG 121
Tên chương trình : KẾ TOÁN 131
Tên chương trình: UẢN TRỊ KINH DOANH 142
Tên chương trình: KHAI THÁC VẬN TẢI 154
PHẦN THỨ IV: ANH ÁCH CÁN QU N VÀ GI NG VI N 168
Trang 3PHẦN THỨ I NHỮNG THÔNG TIN CHUNG
VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
Trang 4THƯ NGỎ CỦA HIỆU TRƯỞNG
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh là trường công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Trải qua n â d ng và phát tri n hà trường
đ đào t o tr n 0.000 kỹ thuật vi n cao đẳng trung c p và công nhân kỹ thuật phục vụ
đ c l c công cuộc công nghiệp h a hiện đ i h a đ t nư c u ô và lo i h nh đào t o không ng ng đư c rộng đội ng giảng vi n giáo vi n đông đảo thường u n đư c
ồi dư ng h c tập nâng cao v tr nh độ chu n ôn, nghiệp vụ C vật ch t, trang thi t đư c đ u tư khá ti n ti n ngà càng đáp ng nhu c u và đ i h i c a nghiệp phát tri n giáo dục-đào t o Tru n thống v vang là công c đ ng g p c a l p l p các th hệ th cô giáo và H hà trường
Bư c ang giai đo n 2013 – ục ti u đư c ác đ nh là M rộng h n n a
ối quan hệ h p tác v i các c đ i h c trong nư c và quốc t đ t ng cường li n k t đào t o Th c hiện c hiệu quả ch trư ng đào t o đa c p đa ngành đa l nh v c ti p tục rộng qu ô ngành ngh đào t o T ng cường h n n a các iện pháp nh không ng ng nâng cao ch t lư ng đào t o gi v ng ch tín và ni tin c a toàn hội khẳng đ nh thư ng hiệu đào t o đ t ch t lư ng tốt c a hà trường trong thời k hội nhập Ti p tục th c hiện qu ho ch đào t o và ồi dư ng nâng cao tr nh độ đội ng giảng vi n giáo vi n v i t nh đáp ng u c u trư c t và lâu dài Tích c c
đ u tư c vật ch t ua th trang thi t hiện đ i c công nghệ ti n ti n phục
vụ quá tr nh đào t o nh h n n a công tác nghi n c u khoa h c đ ngà càng c nhi u đ tài nghi n c u khoa h c c p c và c p tr n c hông ng ng nâng cao đời ống cán ộ giảng vi n công nhân vi n Gi v ng khối đoàn k t trong toàn th cán
Trang 5LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh, tiền thân là trường Công nhân lái xe được thành lập năm 977 trên cơ sở trường dạy lái xe trước ngày 30-04-
1975
Năm 98 theo uyết định số 279/ Đ-TC ngày 8-3-1981 của Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh sát nhập trường Công nhân kỹ thuật và trường Công nhân lái
xe thành trường Công nhân kỹ thuật
Năm 98 theo uyết định số / Đ-TC ngày 09-4- 98 của Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh sát nhập trường Công nhân kỹ thuật và trường Nghiệp vụ thành trường Công nhân kỹ thuật nghiệp vụ
Năm 985 tách trường Công nhân kỹ thuật nghiệp vụ thành hai trường trực thuộc Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh: Trường Công nhân kỹ thuật đường thủy theo uyết định số 26/ Đ-UB ngày 0-6- 985 và trường Công nhân kỹ thuật đường bộ theo uyết định số 27/ Đ-UB ngày 0-6- 985 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Năm 99 trường Công nhân kỹ thuật đường thủy được đổi tên trường theo uyết định số 7/ Đ-UB ngày 21-02- 99 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành trường Kỹ thuật đường thủy
Năm 995 theo uyết định số 268/ Đ-UB-NCVX ngày 27-02- 995 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hợp nhất trường Kỹ thuật đường thủy và trường Công nhân kỹ thuật đường bộ thành trường Kỹ thuật nghiệp vụ Giao thông công chánh
Năm 998 theo uyết định số 9 6/ Đ-UB- LĐT ngày 2 -9- 998 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập trường Trung học Giao thông công chánh trên cơ sở nâng cấp trường Kỹ thuật nghiệp vụ Giao thông công chánh
Năm 2005 trường Trung học Giao thông công chánh được đổi tên trường theo uyết định số 5 / Đ-UB ngày 7-5-2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành trường Trung học Giao thông công chính
Năm 2008 theo uyết định số 69 9/ Đ-BGDĐT ngày 5-10-2008 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo thành lập trường Cao đẳng Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh trên cơ
sở trường Trung học Giao thông công chính
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo công lập, chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, và được Ủy ban ủy quyền cho Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh quản lý trực tiếp, Sở Giáo dục
và Đào tạo quản lý chuyên môn Trường đảm nhận chức năng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội cho thành phố Hồ Chí Minh, nhất là trong lĩnh vực giao thông vận tải Tính đến năm 20 trường có tất cả 7 khoa, với 9 ngành học hệ cao đẳng, 2 ngành học hệ trung cấp chuyên nghiệp, 7 ngành hệ cao đẳng nghề và hàng chục nghề sơ cấp
Trang 6TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là một trường
cao đẳng tiên tiến, có đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên và cơ sở vật chất kỹ thuật đạt chuẩn quốc gia; các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nhất là trong lĩnh vực giao thông vận tải
SỨ MẠNG
Sứ mạng của trường được tuyên bố như sau: “Xâ d ng thành công ột
trường đào t o đa ngành đa c p đe l i cho th hệ tr ki n th c khoa h c c n
ản và kỹ n ng ngh nghiệp v ng vàng nâng cao giá tr ản thân đ c ột tư ng lai tư i áng d a tr n nh ng ph ch t trung thành trung th c t tin chu n nghiệp đoàn k t và quan tâ đ n cộng đồng; hỗ tr ong uốn c a chính qu n thành phố trong việc phát tri n ngành giao thông vận tải”
4 - Liên tục cải tiến chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của xã hội
5 - Duy trì hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng đào tạo hiện tại, hướng đến áp dụng hệ thống quản lý chất lượng toàn diện do Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan kiểm định công nhận chất lượng đào tạo
TRI THỨC - YẾU TỐ QUAN TRỌNG NHẤT CỦA SẢN XUẤT
ÁNG TẠO - Đ NG ỰC CHỦ YẾU CỦA Ự PHÁT TRIỂN
Trang 8– Cơ sở : Số 256 Dương Đình Hội, phường Tăng Nhơn Phú, quận 9, có diện tích đất là 21.101 m2
; + Phòng ngoại ngữ: 0 ; diện tích sử dụng: 56 m2
; + Thư viện: 0 phòng; diện tích sử dụng: 60 m2
; + Phòng thí nghiệm: 05 phòng, diện tích sử dụng: 60 m2
; + Xưởng thực tập, thực hành: 9 phòng, diện tích sử dụng: 588 m2
; + Ký túc xá, nhà ăn sinh viên: số sinh viên ở trong ký túc xá: 00; số phòng: 0; diện tích sử dụng: 550 m2; diện tích nhà ăn: 02 m2
; + Nhà đa năng, khu thể dục thể thao: diện tích sử dụng 2.988 m2
; + Và các công trình khác
Trang 93 Bến huấn luyện
Trường có một bến tàu thủy nội địa trên sông Sài Gòn, đặt tại phường 26, uận Bình Thạnh, TP.HCM với 0 tàu thực tập, trong đó có 0 tàu 00 tấn
4 Trang thiết bị trường học
– Thiết bị máy tính, số thiết bị đào tạo: máy tính
– Thí nghiệm: số thiết bị thí nghiệm chuyên dùng: 07 thiết bị
– Thư viện: số đầu sách, giáo trình cho giáo dục đại cương và chuyên nghiệp
là hơn 9.000 cuốn;
– Thực hành, thực tập: số thiết bị thực hành, thực tập chuyên dùng: 5 thiết bị
Trang 10SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TP.HCM
BAN GIÁM HIỆU
ĐẢNG ỦY
ĐOÀN TN
Phòng Quản trị vật tư
Phòng Công tác HS-SV
Phòng
Đào
tạo
Phòng Tài chính
Kế toán
Phòng Khảo thí và Kiểm định Chất lượng GD
Phòng
Tổ chức hành chính
Khoa Đại cương
Khoa Kinh tế
Khoa
Kỹ thuật Ôtô
Khoa
Kỹ thuật Điện - Điện tử
Khoa
Kỹ thuật Xây dựng
Khoa Công nghệ thông tin
Khoa Giao thông thủy
TT
ĐT ngắn hạn và giới thiệu việc làm
TT Đào tạo lái xe
TT Đào tạo và Sát hạch lái xe
Phòng Thí nghiệm xây dựng dấu las
Phòng Quản
lý cơ sở 3
Trang 11ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
- Nhà trường hiện nay có 89 giảng viên, giáo viên, trong đó có Thầy Cô có trình độ Tiến Sỹ; 7 Thầy Cô có trình độ Thạc Sỹ;
- Trường có 0 thầy cô giáo đạt danh hiệu giáo viên dạy gi i toàn quốc; 2 thầy
cô đạt danh hiệu cấp thành
- Hàng năm có khoảng 5 Thầy Cô giáo đạt danh hiệu giáo viên dạy gi i cấp cơ sở;
CÁC CẤP - NGÀNH NGHỀ ĐÀO TẠO
1 Các cấp đào tạo
- Có cấp trình độ: cao đẳng, cao đẳng nghề; trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề
- Hình thức liên thông: Trung cấp chuyên nghiệp – Cao đẳng
Sơ đồ hệ thống đào tạo Trường Cao đẳng GTVT
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 122 Công nghệ Kỹ
thuật Công trình
Xây dựng
Xây dựng cầu đường Xây dựng cầu đường bộ Vận hành cần cẩu
3 Kế toán doanh
nghiệp
Kế toán doanh nghiệp
Kế toán doanh nghiệp
Vận hành máy cuốc, xúc
4 Công nghệ kỹ
thuật Điện Điện công nghiệp và dân
dụng
Điện công nghiệp Vận hành máy đóng, ép cọc
5 Tin học ứng
dụng
Lập trình/phân tích hệ thống
Công nghệ thông tin ứng dụng phần mềm
Vận hành máy san, ủi
6 uản trị kinh
doanh
Kinh doanh vận tải đường bộ
uản trị doanh nghiệp vừa và nh
Vận hành thiết
bị xe nâng
7 Khai thác vận tải Khai thác vận tải
thủy nội địa
Kỹ thuật xây dựng
Vận hành xe lu, đầm
8 Công nghệ kỹ
thuật Điều khiển
và Tự động hoá
Kỹ thuật lắp ráp, sửa chữa máy tính
Điều khiển phương tiện thuỷ nội địa
9 Công nghệ kỹ
thuật Xây dựng
Xây dựng dân dụng và công nghiệp
Vận hành máy phương tiện thủy nội địa
Trang 13CÁC PHẦN THƯỞNG CAO QU CỦA NHÀ TRƯỜNG
A Các thành tích đ đạt được Năm Cấp khen thưởng
B Các khen thưởng khác Số lượng
6 Và nhiều loại khen thưởng khác
Trang 14PHẦN THỨ II
KẾ HOẠCH VÀ CÁC QUY CHẾ ĐÀO TẠO
Trang 15LỊCH ĐÀO TẠO NĂM HỌC 2013 – 2014(HỆ CHÍNH QUY)
1 Bắt đầu học kỳ của năm học mới 20 - 2014 1 26/08/2013
26/08/2013
÷ 31/08/2013
6 Sinh hoạt đầu khóa dành cho HS-SV tuyển mới 5, 6
23/09/2013
÷ 04/10/2013
24
27/01/2014
÷ 08/02/2014
16 Nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương mồng 0 tháng ÂL 33 09/04/2014
30/04/2014
÷ 01/05/2014
18 Thi kết thúc học kỳ 2 Dành cho HS-SV chuẩn bị tốt nghiệp 38
12/05/2014
÷ 17/05/2014
19 Bắt đầu thực tập tốt nghiêp Dành cho HS-SV chuẩn bị tốt
20 - Thi kết thúc học kỳ 2 Dành cho HS-SV đang theo học
- Thi lại học kỳ 2 Dành cho HS-SV chuẩn bị tốt nghiệp
44,
45
23/06/2014
÷ 05/07/2014
21 Học giáo dục quốc phòng Dành cho HS-SV tuyển mới 46
49
07/07/2014
÷ 02/08/2014
Trang 1616/08/2014
18/08/2014
÷ 23/08/2014
24 Thi lại cho học kỳ 2 Dành cho HS-SV đang theo học
Tuần đầu năm học mới
25/08/2014
÷ 30/08/2014
Trang 17TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
I Kinh nghiệm thế giới về việc áp dụng hệ tín chỉ.
1 Vài nét lịch sử
Có hai mô hình tiêu biểu trong cách tổ chức giảng dạy đại học:
- Mô hình châu Âu cổ điển với các lớp học theo một chương trình chung nhất loạt cho mọi người và,
- Mô hình Bắc Mỹ với chương trình được cấu trúc theo các môđun đa dạng, từng sinh viên có thể lựa chọn chương trình học riêng phù hợp với khả năng và điều kiện của mình
Hệ tín chỉ là cái lõi của tổ chức đào tạo theo mô hình thứ hai
Học chế này ra đời vào giữa thế kỷ 9, bắt đầu ở Đại học Harvard Hoa kỳ Xuất phát từ quan niệm xem sinh viên là trung tâm của quá trình đào tạo và đòi h i việc tổ chức giảng dạy phải sao cho mỗi sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, cũng như tư tưởng cho rằng đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở những tư tưởng triết học đó, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo cứng gắn với các lớp học cố định bằng hệ thống chương trình mềm dẻo, cấu thành bởi các mođun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh hệ tín chỉ Đến đầu thế kỷ 20 hệ tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt
áp dụng hệ tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận các trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philipin, Đài Loan, Hàn uốc, Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ, Indonesia, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun Tại Trung uốc từ cuối thập kỷ 80 đến nay hệ tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Nét đặc biệt hệ tín chỉ được các quốc gia đang phát triển tiếp nhận sớm hơn so với các quốc gia phát triển.
2 Những đặc điểm cơ bản của hệ tín chỉ
Hệ tín chỉ ra đời ban đầu tại Viện Đại học Harvard Hoa Kỳ nhưng khi đi vào từng trường đại học thì bản thân nó đã có sự điều chỉnh cho phù hợp Bởi vậy, không
có một quy chế đào tạo tín chỉ nào được soạn thảo chung cho tất cả các trường Khi phân tích quy trình đào tạo ở các trường áp dụng hệ tín chỉ, có thể xem những đặc điểm sau là nét chung của một hệ tín chỉ lý tưởng, nhưng các trường không nhất thiết phải thoả mãn đầy đủ các đặc điểm đó thì mới được xem là đã đi vào hệ thống này
Trang 18Hệ tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, gọi là tín chỉ (credit)
Tín chỉ có 2 ý nghĩa:
- Thứ nhất, nó là đơn vị để đo khối lượng của các học phần
- Thứ hai, nó xác định khối lượng lao động học tập của người học
2 Hệ tín chỉ đòi h i nội dung của chương trình phải được cấu trúc thành các mô đun, được gọi là học phần Phần lớn học phần phải được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ
Để đạt bằng cử nhân bachelor sinh viên thường phải tích luỹ đủ 20- 6 tín chỉ Mỹ ; 20- 5 tín chỉ Nhật ; 20- 50 tín chỉ Thái Lan) Ngoài ra, năm học của người học được tính qua khối lượng tín chỉ tích luỹ
4 Chương trình đào tạo phải có tính mềm dẻo cả về nội dung và cấu trúc để người học dễ lựa chọn Theo đó, cùng với các học phần bắt buộc phải có cho mỗi chương trình còn phải có các học phần tự chọn
5 Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ tín chỉ dùng cách đánh giá thường xuyên
và dựa vào sự đánh giá đó đối với các học phần tích luỹ để cấp bằng
6 Hệ tín chỉ thường sử dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm Phương pháp này đòi h i người học phải chủ động tự nghiên cứu bài học dưới sự hướng dẫn của thầy hơn là việc tiếp thu thụ động các kiến thức được người thầy truyền thụ cho ở trên lớp Do đó thời gian trên lớp số giờ tiếp xúc sẽ bị rút bớt và thay vào
đó là sự gia tăng của thời gian tự học
7 Đơn vị học vụ trong hệ tín chỉ là học kỳ Do đó kết quả học tập sau mỗi học kỳ
là cơ sở quyết định hướng học tập tiếp theo của người học
8 Khi tổ chức giảng dạy theo hệ tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các học phần thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một ngành chuyên môn chính major nào đó Sự lựa chọn các học phần rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tên học các học phần liên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các học phần chuyên môn của mình mà còn cần học các học phần khác lĩnh vực, chẳng hạn sinh viên các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phải học một ít học phần khoa học xã hội, nhân văn
và ngược lại Cách tổ chức giảng dạy mềm dẻo như vậy dẫn tới một hệ quả là lớp học không thể tổ chức đồng loạt theo khoá tuyển sinh mà bắt buộc phải tổ chức theo từng học phần mà sinh viên đăng ký học
Trang 199 Để hỗ trợ cho sinh viên trong việc lựa chọn kế hoạch học tập phù hợp trong hệ tín chỉ nhất thiết phải xây dựng hệ thống cố vấn học tập, là người tư vấn cách đăng ký các học phần phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của SV
10 Hệ tín chỉ đối với các chương trình đại học và cao đẳng không đòi h i phải có
kỳ thi tốt nghiệp và không tổ chức lễ bảo vệ khoá luận tốt nghiệp; điều đó làm cho quy trình đào tạo trở nên mềm dẻo hơn
11 Hệ tín chỉ cho phép triển khai các hoạt động giảng dạy trong nhà trường suốt ngày, từ sáng tới tối, nên sẽ không còn phân biệt sinh viên các lớp học ban ngày và ban đêm Do vậy chỉ có một loại văn bằng chính quy cấp cho mọi sinh viên
3 Những ưu điểm của hệ thống tín chỉ
Hệ tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rất rộng rãi nhờ có nhiều ưu điểm Có thể tóm tắt các ưu điểm chính của nó như sau:
a Hiệu quả đào tạo cao:
Hệ tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng, nó cho phép sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợp nhất, ngắn hạn cũng như dài hạn, đối với riêng bản thân họ
Hệ tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và kỹ năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích việc học chủ động của sinh viên, tạo cơ hội cho các sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này có thể nói hệ tín chỉ là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa elitist thành nền đại học mang tính đại chúng mass
b Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao:
Với hệ tín chỉ sinh viên có thể chủ động ghi tên học theo các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức
Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu
Hệ tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước
c Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo:
Với hệ tín chỉ kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc h ng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo hệ tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo chương trình cứng niên
Trang 20Nếu triển khai hệ tín chỉ trong một trường học nhiều lĩnh vực thì có thể tổ chức những học phần chung cho sinh viên nhiều khoa, tránh các học phần trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những học phần lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên gi i nhất và phương tiện tốt nhất cho từng học phần
Kết hợp với hệ tín chỉ, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹ được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một số tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học Ở Mỹ trên một nghìn trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích luỹ được trong cuộc sống
II Vài nét lịch sử và hiện trạng của việc tổ chức đào tạo theo hướng chuyển đổi qua hệ tín chỉ ở Việt Nam
1 Thời kỳ 1987 đến 2005
Nhằm đổi mới phương thức tổ chức đào tạo ở đại học trong điều kiện Việt Nam phải chuyển đổi nhanh nền kinh tế sang cơ chế thị trường, hội nghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè 987 đã đưa ra chủ trương triển khai quy trình đào tạo 2 giai đoạn và mô đun hoá kiến thức đào tạo theo học phần trong các trường đại học
Sau nhiều Hội nghị khắc phục những thiếu sót, Bộ Giáo dục-Đào tạo đã ban hành cho phù hợp với khung chương trình mới của GDĐH
uy trình đào tạo mới đã được triển khai cho loại hình đào tạo chính quy tập trung ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng lúc đó có những đặc điểm sau:
(1) Để thích hợp với việc nền kinh tế đất nước đang chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết từ phía Nhà nước, phần lớn người học ở cấp đại học đều cần được đào tạo theo diện rộng Đào tạo theo diện rộng cũng phải đi kèm với việc tăng khối lượng các kiến thức đại cương và cơ sở chuyên môn cho người học để người học có tiềm lực lớn, dễ thích nghi với sự biến động của thị trường lao động và bước tiến nhanh chóng của khoa học-kỹ thuật Với ý nghĩa như vậy, đào tạo theo diện rộng đòi h i phải rút gọn số ngành đào tạo và làm lại danh mục các ngành đào tạo
(2) Đối với phần lớn ngành đào tạo ở trình độ đại học, quá trình đào tạo được chia thành 2 giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu thường là 2 năm Ở giai đoạn , sinh viên được cung cấp các kiến thức về khoa học cơ bản và một phần kiến thức cơ sở của nhóm ngành hoặc ngành; ở giai đoạn 2, sinh viên được cung cấp chủ yếu các kiến thức
Trang 21về chuyên môn Giữa hai giai đoạn sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển chọn mang tính quốc gia Việc chia giai đoạn đào tạo như vậy trên thực tế tạo ra các tiền đề:
- Cho phép người học dễ điều chỉnh ngành nghề khi phát hiện thấy bản thân không có khả năng theo học ngành đã chọn hoặc khi nhu cầu ngành nghề của xã hội thay đổi
- Thực hiện sự liên thông chuyển đổi sinh viên giữa các trường đại học trong nước Nhờ thế có thể mở rộng đầu vào ở giai đoạn bằng cách mở rộng mạng lưới các trường cao đẳng ở các địa phương, hạn chế việc tập trung sớm sinh viên vào các trung tâm đại học tại các thành phố lớn
- Thực hiện việc liên kết giữa các trường đại học để tập trung lực lượng và kinh phí vào việc biên soạn các tài liệu học tập có chất lượng cao, huy động được đội ngũ cán bộ giảng dạy gi i và cơ sở vật chất tốt, tiết kiệm ngân sách đào tạo Đi xa hơn, việc liên kết này sẽ dẫn tới sự hình thành các đại học đa ngành lớn, thực sự tương xứng
về quy mô với các viện đại học trong khu vực và thế giới
(3) Áp dụng một học chế cho phép người học tích luỹ dần kiến thức qua từng học phần thuộc loại: bắt buộc, tự chọn theo hướng dẫn của trường và tự chọn tuỳ ý Với học chế này, người học được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập tương đối thích hợp với khả năng, sở trường
và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau (4) Sử dụng một kiểu đánh giá định lượng tổng hợp dựa vào việc lấy điểm bình quân gia quyền tính theo số đơn vị học trình làm điểm trung bình chung Điểm trung bình chung tính theo cách này khách quan hơn và có tính ổn định cao nhờ luật số lớn,
do đó đánh giá đúng hơn trình độ của người học
Trong đặc điểm nêu trên, các đặc điểm và thể hiện các thuộc tính của hệ tín chỉ Để cụ thể hoá những đặc điểm này, trong cả quy chế mà Bộ đã ban hành đều đưa
ra định nghĩa về học phần: học phần là khái niệm quy định một khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, được sử dụng để tạo thuận lợi cho người học tích luỹ dần kiến thức trong quá trình học tập Với việc đưa vào khái niệm đơn vị học trình ĐVHT để đo khối lượng của học phần, trên thực tế đã tách thuộc tính đo lường kiến thức ra kh i học phần và đảm bảo cho việc xây dựng các học phần trở nên dễ dàng hơn, được các trường chấp nhận Về hình thức, đơn vị học trình đồng nhất với khái niệm tín chỉ nhưng về định lượng thì không hoàn toàn như nhau Mặc dù trong định nghĩa ĐVHT
Trang 22trường đại học nước ta, với thời khoá biểu quy định 0 tiết/tuần thì sinh viên chỉ có thể dành ít hơn giờ cho chuẩn bị tiết ở lớp Như vậy, theo định nghĩa hiện tại, thì ĐVHT của chúng ta bằng cỡ 2/ tín chỉ của các nước khác Do đó khối lượng kiến thức tối thiểu quy định cho bằng cử nhân năm của nước ta hiện nay là 2 0 ĐVHT Tuy nhiên, nếu bằng cách cải tiến phương pháp giảng dạy và đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sinh viên học tập sao cho có thể rút bớt thời gian lên lớp xuống còn cỡ 2/3 từ 0 tiết/tuần xuống 20 tiết/tuần mà vẫn đảm bảo đủ khối lượng và chất lượng yêu cầu thì ĐVHT của ta sẽ tương đương với tín chỉ của các nước về mặt định lượng Nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy các quy chế học tập đã nói tới ở trên mới chỉ thể hiện một học chế mềm dẻo, kết hợp niên chế với tín chỉ, mà chưa thể hiện một học chế tín chỉ triệt để như ở hệ tín chỉ đang áp dụng ở các nước Học chế kết hợp này trên thực tế trong cách tổ chức quá trình học tập vẫn có khuynh hướng thiên lệch
về phía "niên chế" Do lớp học vẫn được tổ chức theo khoá tuyển sinh, việc các sinh viên muốn được đăng ký học tập theo kế hoạch cá nhân là điều khó thực hiện Cách tổ chức học tập như vậy cũng gây ra một số điểm bất hợp lý thể hiện trong quy chế Bởi vậy học chế trên chỉ có thể xem như một bước đệm trong quá trình chuyển từ học chế niên chế sang hệ chế tín chỉ Song việc triển khai bước đệm này trong những năm đó là cần thiết bởi vì:
- Vì nhiều lý do, cho tới trước năm 2005 hệ tín chỉ không được phép triển khai đại trà trong các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam
- Điều kiện học tập và giảng dạy của các trường còn quá nhiều thiếu thốn, chưa
có đủ những điều kiện tối thiểu để sinh viên học tập sách giáo khoa, thư viện, phòng thí nghiệm…
- Tổ chức các trường đại học chưa thích hợp để thực hiện học chế tín chỉ các trường chuyên ngành hẹp với quy mô quá bé và đội ngũ giáo chức quá m ng không tổ chức giảng dạy được nhiều học phần khác nhau để sinh viên tự chọn
- Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo ở nước ta ở cả cấp Bộ và cấp trường phần lớn không được đào tạo ở các trường đại học có áp dụng hệ tín chỉ và cũng chưa có cơ hội để làm quen với nó
2 Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là trường đầu tiên ở nước ta quyết tâm cải tiến một cách cơ bản việc quản lý đào tạo theo hệ tín chỉ và Bộ
đã chọn trường làm trọng điểm chỉ đạo thực hiện việc này từ năm học 1993-9 Với quyết tâm và sự nhất trí cao, với sự chuẩn bị tương đối đầy đủ, trường đã triển khai và thu được một số kết quả đáng khích lệ Sau một năm thực hiện, vào tháng 7/ 99 Bộ
đã tổ chức một hội nghị rút kinh nghiệm tại trường Ở hội nghị này đại biểu của nhiều
Trang 23trường đã được cung cấp những thông tin về cơ sở lý luận của hệ tín chỉ, về quy trình
kỹ thuật cần thực hiện để áp dụng nó, đã trao đổi và học h i những kinh nghiệm sinh động của Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh Sau hội nghị, nhiều trường đã quyết tâm triển khai cải tiến triệt để việc quản lý đào tạo theo hệ tín chỉ như các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Xây dựng, Đại học Nha Trang, Đại học Thăng Long, Đại học Mở TP HCM,…
Nhằm giúp các trường hình dung ra rõ ràng hơn quy trình đào tạo theo hệ tín chỉ trong năm 99 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cung cấp nhiều tư liệu về kinh nghiệm triển khai hệ tín chỉ ở các nước trong khu vực và trên thế giới cho một số trường tự nguyện thực hiện thí điểm Tại hội nghị đại học về chuyên đề "Nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" họp tháng / 99 Vụ Đại học đã có tham luận quan trọng về cải tiến quản lý đào tạo đại học theo học chế tín chỉ và công bố Dự thảo " uy chế học tập trên cơ sở tích luỹ kiến thức theo các học phần áp dụng cho hình thức đào tạo tập trung trong các trường đại học và cao đẳng” Đây thực sự là quy chế đầu tiên về tổ chức đào tạo theo hệ tín chỉ trong điều kiện chưa thay đổi phương thức dạy học nên vẫn dùng đơn vị học trình thay cho tín chỉ uy chế /2007/ Đ-BGDĐT ban hành sau này vào 8/2007 trên thực tế đã được soạn thảo chủ yếu dựa trên quy chế dự thảo này
So sánh với các quy chế học tập kết hợp niên chế với học phần hiện hành, quy chế học tập trên cơ sở tích luỹ kiến thức theo các học phần có những đặc điểm khác biệt như sau:
(1) Theo quy chế đơn vị học vụ được chọn là học kỳ, không phải là năm học như trước đây
(2) Việc tổ chức đăng ký khối lượng học tập của sinh viên vào đầu mỗi học kỳ kéo theo sự thay đổi hình thức tổ chức lớp học: lớp học không tổ chức theo khoá tuyển sinh như trước đây mà được tổ chức theo từng học phần được sinh viên đăng ký, đồng thời cũng kéo theo việc thay thế hệ thống giáo viên chủ nhiệm trước đây bằng hệ thống
cố vấn học tập
(3) Hình thức học tập theo chương trình cá nhân cho phép sinh viên học với các tiến độ khác nhau, do đó phải tổ chức 2 kỳ công nhận tốt nghiệp trong mỗi năm học (4) Có sử dụng thêm một loại thang điểm phi tuyến để đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trong khi cán bộ giảng dạy vẫn sử dụng thang điểm tuyến tính 0 bậc
để cho điểm thì điểm tổng hợp do phòng đào tạo tính trên máy vi tính có sử dụng cả thang điểm phi tuyến bậc để dễ đối chiếu với hệ thống điểm ở các nước áp dụng hệ
Trang 24thống tín chỉ Kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi học phần được đánh giá theo quá trình
2 Thời kỳ 2005 tới nay
2 Từ năm 2005 đến nay một loại văn bản ở cấp Nhà nước đã được ban hành khẳng định chính thức chủ trương triển khai đại trà hệ tín chỉ trong hệ thống trường đại học và cao đẳng của Việt Nam Trong số đó, hai văn bản có tính pháp lý cao là:
a uyết định số 7 /2005/ Đ-TTG ngày 6/ /2005 của Thủ tướng chính phủ về Chương trình hành động 2005-20 0 của Chính phủ thực hiện Nghị uyết số 7/200 / H khoá XI kỳ họp thứ 6 của uốc hội về giáo dục:
… i u chỉnh ổ ung hoàn thiện c ch chính ách qu ch đào t o tu n inh theo hư ng rộng áp dụng h c ch tín chỉ trong đào t o đ i h c cao đẳng trung
li n thông chu n ti p t i các c p h c ti p theo trong nư c và nư c ngoài
Từ hai văn bản pháp lý trên ta có thể hiểu về định hướng triển khai hệ tín chỉ của Nhà nước đối với các trường đại học và cao đẳng như sau:
- Để đi tới một hệ tín chỉ hoàn hảo các trường cần chủ động xây dựng cho mình một lộ trình chuyển đổi phù hợp với hạn mốc thời gian có thể kéo dài tới năm 2020
- Trước mắt các trường cần thực hiện bước đi ban đầu là học chế tín chỉ
Theo tinh thần trên, trong các năm 2006 và 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hai quy chế: uy chế 25/2006/ Đ-BGD&ĐT 26/6/2006 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy và uy chế /2007/ Đ-BGD&ĐT 5/8/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Đến năm 20 2 Bộ sửa đổi quy chế bằng uy chế 57/20 2/ Đ-BGD&ĐT 27/ 2/20 2
2.2 uy chế 25 là quy chế sửa đổi của uy chế 0 nhằm giảm bớt "tính niên chế"
và gia tăng “tính tín chỉ” nhưng trên thực tế vẫn tuân theo học chế mềm dẻo kết hợp niên chế với tín chỉ
2.3 uy chế được ban hành giống như một quy chế mẫu để giúp các trường đại học và cao đẳng hình dung ra cách thức tổ chức đào tạo theo hệ tín chỉ, đồng thời cũng là cái đích để các trường phấn đấu đi tới
2.4 uy chế 57 là quy chế sửa đổi của quy chế cho phép các trường tự tổ chức đào tạo học chế tín chỉ theo lộ trình phù hợp với điều kiện riêng của từng trường
Trang 25III Áp dụng quy chế 57 giảng dạy tại Trường Cao đẳng GTVT TP.HCM
Trường Cao đẳng Giao thông vận tải TP.Hồ chí minh bắt đầu đào tạo trình độ cao đẳng vào năm 2009, đến nay 20 đã có 2 khóa cao đẳng ra trường Các khóa học này đào tạo theo niên chế Các khóa tuyển sinh năm 20 và 20 2 vẫn tiếp tục đào tạo theo niên chế
Bắt đầu từ khóa tuyển sinh năm 20 , trường tổ chức đào tạo trình độ cao đẳng theo học chế tín chỉ Nội dung cốt lõi của quy chế đào tạo này là: lấy người học làm trung tâm, tổ chức kế hoạch đào tạo mềm dẻo theo năng lực tiếp thu kiến thức của sinh viên
Để tránh xáo trộn cho công tác tổ chức đào tạo, một số thuật ngữ vẫn sử dụng như các quy chế cũ như: đơn vị học trình đvht là đơn vị đo lường thời gian học thay vì dùng đơn vị tín chỉ; thang điểm vẫn sử dụng thang điểm 0 thay vì là thang điểm ABCD… Nhưng trọng tâm chủ yếu chính là áp dụng đào tạo tín chỉ: người học đăng
ký các học phần trong mỗi học kỳ theo khả năng tiếp thu kiến thức và điều kiện riêng của mình dưới sự tư vấn của các cố vấn học tập Vì vậy, trên cơ sở quy chế 57 của Bộ Giáo dục và đào tạo Trường đã xây dựng quy chế 6/ Đ-TCĐGTVT 06/09/20
để áp dụng hệ thống tín chỉ tại Trường vào năm học 20 -2014
Đây là năm đầu tiên trường áp dụng theo học chế này Trên cơ sở kinh nghiệm rút tỉa được, Trường sẽ điều chỉnh các nội dung của quy chế cũng như chương trình đào tạo cho phù hợp với các thay đổi trên thực tế, nhằm đảm bảo mục tiêu người học được lợi ích nhiều nhất và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
TM.BAN CHUYỂN ĐỔI PHÓ HIỆU TRƯỞNG Th.S Huỳnh văn Tuấn
Trang 26QUY ĐỊNH Đào tạo cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
uy định này quy định đào tạo cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh, bao gồm các nội dung về: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp
2 uy định này áp dụng đối với sinh viên hệ chính quy trình độ cao đẳng tại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh từ khoá tuyển sinh 20
Điều 2 Chương trình đào tạo cao đẳng
Chương trình đào tạo cao đẳng sau đây gọi tắt là chương trình thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học
2 Chương trình được các khoa của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh xây dựng trên cơ sở các chuẩn chương trình chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Mỗi chương trình gắn với một ngành kiểu đơn ngành hoặc với một vài ngành kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn bằng
Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp
Hiệu trưởng trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh ký ban hành các chương trình để triển khai thực hiện trong trường
Điều 3 Học phần và Đơn vị học trình
1 Học phần là khối lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ đến 5 đơn vị học trình, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần
Trang 27được ký hiệu bằng một mã số riêng của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh
2 Có ba loại học phần: học phần bắt buộc, học phần cốt lõi và học phần tự chọn a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;
b) Học phần cốt lõi là học phần bắt buộc có ý nghĩa tiên quyết đối với các học phần thuộc ngành đào tạo chính trong một chương trình Các học phần cốt lõi được bố trí chủ yếu trong 5 học kỳ đầu của chương trình cao đẳng năm
c) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được lựa chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình
3 Đơn vị học trình được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một đơn vị
học trình được quy định bằng 5 tiết học lý thuyết; 0 tiết thực hành, thí nghiệm, phụ đạo
hoặc thảo luận; 5 giờ thực tập tại cơ sở; 0 giờ làm tiểu luận, hoặc khoá luận tốt nghiệp
Đối với những học phần lý thuyết, ngoài số tiết học trên lớp sinh viên còn cần được giao thêm công việc để bảo đảm sao cho mỗi đơn vị học trình phải tương ứng với ít nhất 0 tiết hoặc giờ làm việc
Số tiết, số giờ đối với từng học phần cụ thể phải được ghi trong Chương trình, Đề cương chi tiết học phần và trong Sổ tay sinh viên
Một tiết học được tính bằng 5 phút
Điều 4 Thời gian hoạt động giảng dạy
Thời gian hoạt động giảng dạy của trường cho hệ chính quy được tính từ 7 giờ đến 7 giờ 5 hàng ngày, từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần Trưởng phòng đào tạo sắp xếp thời khoá biểu cho toàn trường căn cứ vào số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường
Điều 5 Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:
1 Tổng số đơn vị học trình của các học phần mà sinh viên đăng ký học cho mỗi học
kỳ gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký
2 Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số đơn vị học trình tương ứng của từng học phần
3 Tổng số đơn vị học trình của những học phần bị điểm dưới 5 tính từ đầu khóa học
Trang 284 Điểm trung bình chung của các học phần tính từ đầu khóa học là điểm trung bình có trọng số của các học phần tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ
Điều 6 Hệ thống cố vấn học tập
Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hệ thống cố vấn học tập của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh để bảo đảm công tác quản lý và tư vấn cho tất cả sinh viên trong trường
CHƯƠNG II
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 7 Thời gian và kế hoạch đào tạo
Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ
a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể Tuỳ thuộc chương trình, khoá học tại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh được thiết kế như sau: Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; một năm rưỡi đối với người
có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo
b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ có 5 tuần thực học và tuần thi Tùy điều kiện cụ thể trường có thể tổ chức thêm kỳ học hè để tạo điều kiện cho sinh viên được học lại, học bù hoặc học vượt Kỳ học hè có 5 tuần thực học và tuần thi
2 Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Trưởng phòng đào tạo dự kiến phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ
Thời gian tối đa hoàn thành chương trình là thời gian thiết kế cho khóa học cộng với thời gian tạm ngừng tiến độ học tối đa được quy định tại điểm a khoản của Điều và khoản 2 của Điều 5 của uy định này
Điều 8 Đăng ký nhập học
Khi vào học hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường sinh viên phải nộp cho nhà trường các giấy tờ theo quy định tại uy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành Tất cả giấy tờ trên phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do nhà trường quản lý
2 Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, phòng đào tạo trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường và cấp cho họ:
a) Thẻ sinh viên;
b) Phiếu đăng ký học tập;
Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại
uy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành
Trang 29Sinh viên nhập học được trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và dự kiến kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên
Điều 9 Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo
Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh xác định điểm trúng tuyển theo chương trình hoặc theo ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh
2 Căn cứ vào số học phần cốt lõi có trong mỗi chương trình, phòng đào tạo sắp xếp sinh viên trúng tuyển vào các lớp học ổn định và cấp cho họ phiếu nhận cố vấn học tập
Điều 10 Tổ chức lớp học
Lớp học của sinh viên được tổ chức dưới hai hình thức:
- Lớp học ổn định được tổ chức theo nhóm các học phần cốt lõi của từng chương trình
Điều 11 Đăng ký khối lượng học tập
Đầu mỗi năm học, trường thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần cốt lõi, bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết các học phần, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần
2 Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ ít nhất hai tuần trường công bố sổ tay sinh viên, trong
đó quy định thời khoá biểu của các lớp học ổn định theo nhóm học phần cốt lõi và các lớp học độc lập theo từng học phần riêng biệt, thời gian biểu đăng ký học và lịch trình thi kết thúc học phần
Trừ một số trường hợp ngoại lệ được Hiệu trưởng cho phép, sinh viên bắt buộc phải tham dự đầy đủ các học phần ở lớp học ổn định của mình Ngoài ra, căn cứ vào sổ tay sinh viên từng sinh viên nếu muốn học theo đúng tiến độ còn phải đăng ký học bổ sung các học phần không phải cốt lõi, cũng như các học phần cốt lõi khác học sớm hoặc học lại với phòng đào tạo của trường để bảo đảm khối lượng học tập tối thiểu như quy định tại khoản của điều này
Có 2 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký bình thường và
Trang 30a) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;
b) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong ngày đầu của kỳ học hè cho những sinh viên cần phải đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp
Khối lượng học tập mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ để bảo đảm duy trì đúng tiến độ của khóa học tối thiểu là 20 đơn vị học trình tối đa là đơn vị học trình, trừ học kỳ cuối khóa học
Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và tiến trình học tập của mỗi chương trình cụ thể
5 Phòng đào tạo của trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong phiếu đăng ký học tập Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ được ghi vào biểu đăng ký học do phòng đào tạo của trường lưu giữ
Điều 12 Đăng ký học lại hoặc học đổi khi có kết quả kém
Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm dưới 5 phải đăng ký học lại học phần đó tại các lớp học ổn định khác cũng như tại các lớp học độc lập ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm từ 5 trở lên Ưu tiên cho sinh viên sớm đăng ký học lại các học phần cốt lõi
2 Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm dưới 5 phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác
Ngoài các trường hợp quy định tại khoản và khoản 2 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký thi lại nếu chưa tham dự kỳ thi phụ , đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác nếu đã hết quyền được thi lại đối với các học phần bị điểm 5 để cải thiện điểm trung bình chung tốt nghiệp
Điểm của học phần cũ bị hủy khi đã có điểm học phần mới thay thế
5 Thủ tục đăng ký học, số lần đánh giá bộ phận và thi kết thúc học phần đối với học phần học lại cũng giống như đối với một học phần mới
Điều 13 Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi cố vấn học tập, trưởng khoa, phòng CTHS và BGH trong vòng hai tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế trường, hoặc y tế địa phương, hoặc của bệnh viện
Điều 14 Điều kiện để sinh viên được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, được tạm
ngừng tiến độ học, bị cảnh báo kết quả học tập hoặc bị buộc thôi học
Trang 31Trước khi vào học kỳ mới, nhà trường căn cứ vào số học phần đã học, điểm trung bình chung học tập của học kỳ đã qua và điểm trung bình chung tất cả các học phần đã học tính từ đầu khóa học để xét việc học tiếp, việc nghỉ học tạm thời, việc tạm ngừng tiến độ học hoặc bị buộc thôi học của sinh viên Kết quả học tập của sinh viên ở kỳ học hè nếu có được tính chung vào kết quả học tập của học kỳ chính kề trước
1 Sinh viên được học tiếp lên học kỳ sau nếu có đủ các điều kiện dưới đây:
a Có điểm trung bình chung học tập của học kỳ từ 5,00 trở lên;
b Có khối lượng các học phần bị điểm dưới 5 tính từ đầu khóa học không quá 25 đơn
vị học trình;
2 Sinh viên được quyền gửi đơn tới Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau đây:
a Được động viên vào lực lượng vũ trang;
b Bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị thời gian dài có giấy xác nhận của cơ quan y tế;
c Vì nhu cầu cá nhân Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở trường
và phải đạt điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học không dưới 5,00 Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức tại trường như quy định tại khoản Điều 7 của uy định này
Sinh viên nghỉ học tạm thời khi muốn trở lại học tiếp tại trường phải gửi đơn tới Hiệu trưởng ít nhất tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới hay năm học mới
Sinh viên không thuộc đối tượng quy định tại khoản , khoản và khoản 5 của Điều này được quyền tạm ngừng tiến độ học để có thời gian củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập
a Sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo được quyền tạm ngừng tiến độ học tối đa không quá 2 học kỳ cho toàn khóa học đối với các chương trình có thời gian đào tạo dưới năm; không quá học kỳ cho toàn khóa học đối với các chương trình có thời gian đào tạo năm
b Trong thời gian tạm ngừng tiến độ học, sinh viên có thể được phòng đào tạo bố trí chuyển qua một lớp học ổn định thích hợp khác và phải ưu tiên đăng ký học lại các học phần chưa đạt nếu là học phần bắt buộc; đăng ký học lại hoặc có thể đăng ký học chuyển qua học phần mới nếu là học phần tự chọn Trưởng phòng đào tạo xem xét bố trí cho các sinh viên này được học trước một số học phần của năm học tiếp theo nếu họ đề nghị
Trang 324 Sinh viên bị Phòng Đào tạo cảnh báo kết quả học tập nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a Có điểm trung bình chung học tập của học kỳ dưới ,00, trừ học kỳ cuối khóa học;
b Có điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khóa học dưới ,50 sau 2 học kỳ; dưới ,00 sau học kỳ; dưới ,25 sau học kỳ; dưới ,50 sau 5 học kỳ và dưới ,75 sau từ 6 học kỳ trở lên;
Sinh viên thuộc diện bị cảnh báo kết quả học tập cũng được xử lý như với trường hợp bị tạm ngừng tiến độ học tập
5 Sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a Bị cảnh báo kết quả học tập lần thứ hai;
b Đã hết thời gian tối đa được phép học tại trường theo quy định tại khoản Điều 7 của
uy định này;
c Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản
2 của Điều 27 của uy định này;
Chậm nhất là một tháng sinh viên có quyết định buộc thôi học phải được trường thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú Trường hợp tại trường có các chương trình ở các trình độ thấp hơn hoặc có các chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng thì những sinh viên thuộc các diện quy định tại các điểm a và b khoản 5 của Điều này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới Hiệu trưởng quyết định kết quả học tập được bảo lưu cho từng trường hợp cụ thể
Điều 15 Ưu tiên trong đào tạo
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại uy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy được hưởng chế độ ưu tiên trong đào tạo
2 Sinh viên cao đẳng thuộc các đối tượng ưu tiên được tạm ngừng tiến độ học để củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập Thời gian tạm ngừng học tối đa không quá học kỳ cho toàn khóa học đối với các chương trình có thời gian đào tạo dưới năm; không quá 6 học kỳ cho toàn khóa học đối với các chương trình có thời gian đào tạo năm
Trong thời gian tạm ngừng tiến độ học, sinh viên thuộc đối tượng ưu tiên vẫn được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước
Điều 16 Học theo tiến độ khác với tiến độ học chung của nhà trường và học cùng lúc hai chương trình
Trang 331 Học theo tiến độ chậm:
a) Sinh viên học theo tiến độ chậm là sinh viên có nhu cầu học chậm so với tiến độ chung của khóa học cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình
b Các quy định học theo tiến độ chậm:
- Khối lượng học phần tạm rút trong mỗi học kỳ so với khối lượng học tập tối thiểu quy định tại khoản Điều không được vượt quá 6 đơn vị học trình và chủ yếu thuộc vào nhóm học phần không cốt lõi;
- Điều kiện để được học tiếp, ngừng tiến độ học, cảnh báo kết quả học tập hoặc thôi học đối với các sinh viên học theo tiến độ chậm được thực hiện theo quy định tại các khoản , ,
và 5 Điều của uy định này;
- Thời gian cho toàn khóa học đối với các sinh viên học theo tiến độ chậm không được vượt quá thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học theo tiến độ bình thường quy định tại khoản Điều 7 của uy định này;
- Trừ các đối tượng được ưu tiên theo quy định, những sinh viên học theo tiến độ chậm ở học kỳ nào thì không được hưởng chính sách học bổng ở học kỳ đó
2 Học theo tiến độ nhanh:
a Sinh viên học theo tiến độ nhanh là sinh viên có nhu cầu học nhanh hơn so với tiến độ chung của khóa học để hoàn thành sớm khóa học
b Các quy định học theo tiến độ nhanh:
- Chỉ được thực hiện đối với những sinh viên đã học xong học kỳ thứ nhất;
- Sinh viên không thuộc diện tạm ngừng học, không học theo tiến độ chậm và có điểm trung bình chung học tập tính từ đầu khóa học từ 6,50
- Sinh viên đang được phép học vượt, nhưng nếu có điểm trung bình chung học tập của học kỳ đạt dưới 6,00 thì phải dừng học vượt ở học kỳ tiếp theo
- Sinh viên học vượt được rút ngắn thời gian học ở trường so với thời gian quy định cho toàn khóa học nhưng không được quá một học kỳ đối với chương trình cao đẳng năm;
3 Học cùng lúc hai chương trình:
a Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một
số học phần của một chương trình thứ hai ở mỗi học kỳ tại trường đang học để khi tốt nghiệp
Trang 34b Các quy định học cùng lúc hai chương trình:
- Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác với ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất
- Sinh viên không thuộc diện tạm ngừng tiến độ học và có điểm trung bình chung học tập học kỳ đạt 6,5 trở lên
- Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai nếu có điểm trung bình chung học tập của học kỳ đó chung cho cả hai chương trình đạt dưới 6,00 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo
- Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên đăng ký học đồng thời hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất quy định tại khoản Điều 7 của
uy định này Khi học chương trình thứ hai sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần
có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất
- Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất
Đối với sinh viên học vượt với thời gian học ngắn hơn, hoặc học đồng thời hai chương trình với thời gian học dài hơn, chế độ học bổng, học phí được thực hiện cho đến khi sinh viên hoàn thành chương trình
Điều 17 Tiếp nhận sinh viên chuyển trường
Sinh viên của các cơ sở giáo dục đại học khác được xét chuyển vào trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh nếu thoả mãn các điều kiện sau đây:
a Cùng trình độ hoặc cao hơn và cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo tại trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh;
b Được Hiệu trưởng trường xin chuyển đi chấp nhận;
c Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này
2 Sinh viên không được phép chuyển đến trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh trong các trường hợp sau:
a Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh hoặc có kết quả thấp hơn điểm trúng tuyển của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh
b Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;
c Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên
Thủ tục chuyển trường:
a Sinh viên chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP.Hồ Chí Minh
Trang 35b Trưởng Phòng đào tạo giúp Hiệu trưởng trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và chương trình hiện tại của trường Cao đẳng Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh
CHƯƠNG III KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN
Điều 18 Đánh giá học phần
1 Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần sau đây gọi tắt là điểm học phần được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận; điểm đánh giá công việc thực hiện tại nhà; và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%
Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do trưởng bộ môn đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và được quy định trong đề cương chi tiết của học phần
2 Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành Trung bình cộng của các điểm thực hành trong học kỳ, được làm tròn đến phần nguyên, là điểm của học phần thực hành
3 Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần
Điều 19 Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
Cuối học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần
Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có điểm học phần
dưới 5 sau kỳ thi chính và được tổ chức sau kỳ thi chính hai tuần
Lịch trình thi kết thúc học phần được công bố trong Sổ tay sinh viên biên soạn cho từng học kỳ
Điều 20 Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần
Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình và đề cương chi tiết của học phần Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng
2 Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết trắc nghiệm hoặc tự luận , vấn đáp, viết tiểu luận, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên Trưởng khoa đề xuất hình thức thi thích
Trang 36Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm
Việc bảo quản các bài thi, quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi sau thi được Hiệu trưởng quy định tại một văn bản riêng Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận
Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định
Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành ba bản: một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn phòng khoa và một bản gửi về phòng đào tạo của trường,
chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần
5 Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính Những sinh viên này khi được trưởng phòng đào tạo cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó
6 Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được trưởng phòng đào tạo cho phép, được dự thi một lần ở kỳ thi phụ, điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu Những sinh viên này sẽ không còn cơ hội để thi lại nếu thi không đạt trong kỳ thi phụ
Điều 21 Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần
1 Điểm đánh giá bộ phận, kể cả điểm của từng bài thực hành, và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 0 từ 0 đến 0 , làm tròn đến một chữ số thập phân
2 Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng Điểm học phần cũng tính theo thang điểm 0 nhưng làm tròn đến phần nguyên:
b Loại không đạt: Dưới 5 Kém
c Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu sau:
Trang 37I Chưa đủ dữ liệu đánh giá
X Chưa nhận được kết quả thi
Việc xếp loại các mức điểm số từ 0 đến 0 được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
a Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp b học, b kiểm tra hoặc b thi không có lý do phải nhận điểm 0;
b Chuyển đổi từ điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;
c Chuyển đổi từ các trường hợp điểm X qua
Việc xếp loại ở mức điểm 0 ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm 0
5 Việc xếp loại ở điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
a Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng phòng đào tạo và trưởng khoa cho phép;
b Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng phòng đào tạo và trưởng khoa chấp thuận
Trừ trường hợp a, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển thành điểm số Nếu không hoàn thành sinh viên phải nhận điểm 0 đối với các điểm đánh giá bộ phận còn thiếu
6 Việc xếp loại theo điểm X được áp dụng đối với những học phần mà phòng đào tạo của trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên Điểm này cần phải được chuyển thành điểm số trước khi bắt đầu học kỳ mới
Điều 22 Cách tính điểm trung bình chung
Điểm trung bình chung học kỳ, điểm trung bình chung của các học phần tính từ đầu khóa học và điểm trung bình chung toàn khóa học được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:
n
i
i i
n
n a A
1 1
Trong đó:
A là điểm trung bình chung học kỳ, điểm trung bình chung của các học phần tính từ
đầu khóa học hoặc điểm trung bình chung khóa học
a i là điểm của học phần thứ i
Trang 38CHƯƠNG IV XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP
Điều 23 Làm khoá luận tốt nghiệp
Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:
a) Làm khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên đạt mức yêu cầu do từng khoa đề nghị Khoá luận tốt nghiệp được xem là học phần có khối lượng không quá 7 đơn vị học trình
b) Học và thi một số học phần chuyên môn: sinh viên không được giao làm khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa học đủ số đơn vị học trình quy định cho chương trình
2 Hiệu trưởng sẽ quy định cụ thể trong một văn bản riêng về:
a Các điều kiện để sinh viên được đăng ký làm khoá luận tốt nghiệp;
b Hình thức và thời gian làm khoá luận tốt nghiệp;
c Hình thức chấm khoá luận tốt nghiệp;
d Nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn; trách nhiệm của bộ môn và khoa đối với sinh viên trong thời gian làm khoá luận tốt nghiệp
Điều 24 Chấm khoá luận tốt nghiệp
Hiệu trưởng quyết định danh sách giảng viên chấm khoá luận tốt nghiệp do các khoa đề nghị, phòng đào tạo tổng hợp Việc chấm mỗi khóa luận tốt nghiệp phải do 2 giảng viên đảm nhiệm, trong đó có một người là giảng viên hướng dẫn
2 Điểm của khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm 0 làm tròn đến phần nguyên theo quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 2 của uy định này Kết quả chấm khóa luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là tuần, kể từ ngày nộp khóa luận tốt nghiệp
Trang 39Điểm khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung của toàn khoá học Sinh viên có khoá luận tốt nghiệp bị điểm dưới 5 không được đăng ký làm lại khóa luận tốt nghiệp mà phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số đơn vị học trình của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số đơn vị học trình của khóa luận tốt nghiệp
Điều 25 Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được viết đơn gửi phòng đào tạo đề nghị trường xét và công nhận tốt nghiệp:
a Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;
b Học đủ số học phần quy định cho các chương trình đào tạo, không có học phần bị điểm dưới 5;
c Có các chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất
2 Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp
Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, trưởng phòng đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các trưởng khoa chuyên môn, trưởng phòng công tác sinh viên
Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp
Điều 26 Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo
Bằng tốt nghiệp cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung của toàn khoá học, như sau:
a Loại xuất sắc: Điểm trung bình chung từ 9,00 đến 0,00;
b Loại gi i: Điểm trung bình chung từ 8,00 đến 8,99;
c Loại khá: Điểm trung bình chung từ 7,00 đến 7,99;
d Loại trung bình khá: Điểm trung bình chung từ 6,00 đến 6,99
đ Loại trung bình Điểm trung bình chung từ 5,00 đến 5,99;
2 Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và
gi i sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a Có khối lượng của các học phần phải học lại hoặc học đổi vượt quá 5% so với tổng
số đơn vị học trình quy định cho toàn chương trình;
b Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học
Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần
Trang 40Nếu kết quả học tập của sinh viên th a mãn những quy định tại khoản Điều 25 của
uy định này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo chính khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó
5 Sinh viên còn nợ các chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp
6 Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận của trường về các học phần
đã học trong chương trình Những sinh viên này có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin
chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản Điều của uy định này
CHƯƠNG V
XỬ L VI PHẠM
Điều 27 Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra
Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy định, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm
2 Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi
phạm lần thứ hai
Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung
xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của uy chế tuyển
sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành
HIỆU TRƯỞNG
ThS Hoàng Hoài Nam