Lời mở đầu 3 I. Các khái niệm: 4 1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 4 2. Khái niệm, vai trò của chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 4 3. Thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh: 4 4. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại: 4 5. Lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh: 5 II. Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 5 1. Chế tài hành chính Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam: 5 2. Chế tài hình sự: 5 3. Chế tài dân sự : 6 4. Mối quan hệ giữa các hình thức chế tài: 6 III. Thực trạng về chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam 7 1. Nguồn của pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 7 2. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: 7 3. Bộ luật Dân sự: 7 4. Bộ luật Hình sự: 7 5. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: 8 IV. KẾT LUẬN 9
Trang 1Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM
Khoa: Luật Kinh Doanh
Mô học: Luật Cạnh Tranh
Tiểu Luận
Đề tài :
Các biện pháp chế tài trong pháp luật cạnh tranh 2004
GVHD: TS Trần Thăng Long
Nhóm thự hiện:
2 Nguyễn Kim Long 33131023952
3 Trần Thị Vân Huyền 33131021545
4 Nguyễn Thị Ngọc Hân 33141020972
Hồ Chí Minh – Tháng 9/2015
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 4
I Các khái niệm: 5
II Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 6
III Thực trạng về chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam 8
IV KẾT LUẬN 10
Tài liệu tham khảo 12
Trang 3Lời mở đầu
Một trong những quy luật kinh tế khách quan tác động mạnh mẽ lên sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp là quy luật cạnh tranh Đó cũng là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác và sử dụng tiềm năng, nội lực của mình cùng với các yếu tố của thị trường một cách có hiệu quả Cạnh tranh trong kinh doanh là quyền cơ bản của các chủ thể kinh doanh trên thị trường và được pháp luật bảo hộ Ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2005 Với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại bỏ các biểu hiện không lành mạnh trên thị trường, điều chỉnh mặt trái của cạnh tranh, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sự lành mạnh và khả năng phát triển của nền kinh tế trong nước, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử, khuyến khích các chủ thể kinh doanh cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, hiệu quả Luật Cạnh tranh đã pháp điển hoá các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
đã có những quy định xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự đa dạng hoá của các thành phần kinh tế cùng với việc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã phát sinh
mà chưa có biện pháp đấu tranh có hiệu quả Chế tài xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh vẫn nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, kể cả các văn bản dưới Luật Thực tế
đó đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh vẫn biểu hiện ở khía cạnh này, khía cạnh khác, dưới dạng này, dạng khác, đã gây ra nhiều tranh chấp trong giới kinh doanh và ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước Vì thế, việc nghiên cứu và luận giải các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cùng với các quy định về chế tài xử lý vi phạm là rất cần thiết, qua đó có cài nhìn tổng quan Đó cũng là lý do mà nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài " Các biện pháp chế tài trong pháp luật cạnh tranh 2004" để nghiên cứu
Trang 4I Các khái niệm:
1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng (Khoản 4, Điều 3) Đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh: - Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ thể kinh doanh trên thương trường - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc
có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng
2 Khái niệm, vai trò của chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hình thức trách nhiệm pháp lý được Nhà nước áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh, buộc các chủ thể đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh và các chủ thể khác Vai trò của các chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp đối thủ - Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (khách hàng) - Là công cụ góp phần tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, công bằng
3 Thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh:
Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Việc xác định thiệt hại (vật chất hoặc tinh thần) là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại có căn cứ đòi bồi thường
và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
4 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại:
Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp, nội tại, không phải
là sự suy diễn chủ quan Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau Bên thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ
Trang 5phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây ra thiệt hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh của mình
5 Lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh:
Lỗi được xác định là trạng thái tâm lý của người có hành vi vi phạm, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Việc xác định lỗi trong 5 cạnh tranh thường phải dựa vào các tập quán nghề nghiệp Hành vi cạnh tranh bị coi là có lỗi và không lành mạnh là hành vi vi phạm các tập quán nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ bình đẳng, công bằng trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường
II Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
1 Chế tài hành chính Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam:
Các hình thức chế tài xử lý vi phạm về cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính, được quy định trong các quy phạm pháp luật mang tính xử phạt và khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra (Điều 117) Các hình thức xử lý đó đã được Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết, bao gồm: - Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền đến 100 triệu đồng - Các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Tịch thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm Ngoài các hình thức xử phạt đó, đối tượng vi phạm còn có thể bị
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cải chính công khai
2 Chế tài hình sự:
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Chương XVI "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế" của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009, biểu hiện dưới các tội danh như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); tội lừa dối khách hàng (Điều 162); tội quảng cáo gian dối (Điều 168); tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171); tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán (Điều 181a); tội
sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 181b); tội thao túng giá chứng khoán (Điều 181c) Hình phạt áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt tiền, cải tạo không giam
Trang 6giữ hoặc tù có thời hạn Một số trường hợp bị áp dụng hình phạt rất nặng như tù chung thân hoặc tử hình Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
3 Chế tài dân sự :
Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên mang quyền phải gánh chịu do hành
vi vi phạm các quy tắc trong kinh doanh của bên kia gây ra Vì vậy, pháp luật cạnh tranh của nước nào cũng quy định chế tài này Theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì phải dẫn chiếu đến pháp luật dân sự Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng theo các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Chương XXI của Bộ luật Dân sự năm 2005
và pháp luật có liên quan Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh Vì vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với các chế tài khác
4 Mối quan hệ giữa các hình thức chế tài:
Các chế tài có bản chất, nội dung, hậu quả trái ngược nhau thì không thể áp dụng đồng thời Các chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có tính độc lập nhất định, trừ một số biện pháp bổ sung, khắc phục hậu quả trong các chế tài hành chính Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không có sự chuyển hóa giữa vi phạm hành chính với tội phạm theo lý thuyết thông thường Hậu quả không phải là căn cứ tiên quyết để xác định áp dụng chế tài hành chính hay chế tài hình sự, vì thiệt hại luôn là dấu hiệu bắt buộc trong việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tính chất nguy hiểm của hành vi không căn cứ vào sự phân tích tầm quan trọng của quan hệ xã hội mà hành vi xâm hại, mà căn cứ vào những viện dẫn của Điều luật Những chế tài mang tính trách nhiệm vật chất thường có thể áp dụng đồng thời với các chế tài khác Vì vậy, khi doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra thiệt hại cho chủ thể khác thì tất yếu phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự Nghĩa là chế tài bồi thường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự
Trang 7III Thực trạng về chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam
1 Nguồn của pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Luật Cạnh tranh Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực ngày 01/7/2005, là nguồn mang tính nguyên tắc chung, điều chỉnh quan hệ cạnh tranh và quy định thủ tục xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Việc điều tra, xử lý vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm phải tuân theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền mà Luật Cạnh tranh quy định Trong trường hợp có xung đột giữa Luật Cạnh tranh và các lĩnh vực pháp luật khác thì ưu tiên áp dụng Luật Cạnh tranh
2 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính:
Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định cơ bản tại Luật Cạnh tranh, ngoài ra Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cũng có những quy định liên quan Đó là các quy định cụ thể về hình thức xử phạt, mức phạt tiền đối với các vi phạm thuộc các lĩnh vực khác nhau, các biện pháp khắc phục hậu quả cũng như thủ tục áp dụng các chế tài cho đối tượng vi phạm Pháp lệnh còn quy định trong những trường hợp cụ thể, nếu hành vi cạnh tranh không lành mạnh có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan chức năng phải chuyển hồ sơ vụ việc để truy cứu trách nhiệm hình sự Các hình thức xử lý vi phạm về cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định chi tiết tại Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ, bao gồm các chế tài phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả
3 Bộ luật Dân sự:
Với tư cách là một trong những nguồn của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, chế định bồi thường thiệt hại được quy định trong Bộ luật Dân sự đã góp phần điều chỉnh các hành vi vi phạm về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể bị xâm hại
4 Bộ luật Hình sự:
Nếu hành vi cạnh tranh không lành mạnh có dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự thì sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự Các cơ quan có thẩm quyền căn cứ 7 vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà định tội danh và áp dụng chế tài hình sự thích hợp
Trang 8Hiện tại, Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của Việt Nam đã có quy định về việc áp dụng chế tài hình sự đối với một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể tại các điều: 156, 157, 158, 162, 168, 171, 181a, 181b, 181c 2.1.5 Các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể có quy định chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng, Pháp lệnh giá, Pháp lệnh quảng cáo…) Do phạm
vi điều chỉnh rộng, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong nhiều trường hợp được sử dụng với tính chất bổ trợ cho các lĩnh vực pháp luật khác điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế thị trường Do đó, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có quan hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, như pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; pháp luật về quản lý giá và các lĩnh cực pháp luật chuyên ngành khác như: bảo hiểm, viễn thông, ngân hàng, hàng không…
5 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005:
Khi xác định hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không lành mạnh, cần sử dụng phối hợp các quy phạm pháp luật định nghĩa trong Luật Sở hữu trí tuệ Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp biểu hiện rất đa dạng và xuất hiện nhiều trong thời gian gần đây Những hành vi vi phạm về sở hữu trí tuệ được xử lý theo các chế tài hành chính, hình
sự và dân sự quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Bên cạnh đó, tại Khoản 3, Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ lại có sự dẫn chiếu đến pháp luật cạnh tranh, với quy định: "Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh" Chỉ dẫn thương mại (tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa, chỉ dẫn địa lý) là đối tượng thường được các đối thủ cạnh tranh quan tâm và cũng là đối tượng được bảo vệ bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Đến nay, nhiều đơn vị tổ chức bán hàng đa cấp nhưng chưa được cấp phép, hoạt động lén lút nên rất khó phát hiện Bên cạnh đó, các đơn vị tuy được cấp phép cũng không tránh khỏi
vi phạm, như ép buộc khách hàng mua sản phẩm thì mới được trở thành phân phối viên rồi trốn tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho các phân phối viên tự ép buộc nhau Thực tiễn xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta trong thời gian gần đây Qua thực tế, có thể thấy rằng vấn đề cạnh tranh trên thị trường còn hết sức phức tạp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra phổ biến, nhưng các vụ vi phạm đã được xử lý không nhiều Đặc biệt là những
Trang 9hành vi quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng; tổ chức khuyến mại nhưng gian dối về giải thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm các dạng hành vi đó vẫn chưa nhiều, chủ yếu vẫn là các hành vi bán hàng đa cấp bất chính Do đó, quyền lợi của người tiêu dùng cần thiết phải có sự bảo vệ của các chế tài hình sự, nhằm tránh sự xâm hại của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
IV KẾT LUẬN
Nghiên cứu chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật diễn ra trong môi trường kinh doanh, hoàn thiện pháp luật nhằm đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nắm bắt thực tiễn cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường và công tác xử
lý vi phạm ở nước ta Để công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh phát huy hiệu quả trong thực tế, cần nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói chung và hiệu lực thực thi nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh tranh nói riêng Theo quy định của Luật Cạnh tranh hiện hành, có thể thấy vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh là trung tâm, quan trọng nhất, quyết định hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh Cơ quan quản lý cạnh tranh không chỉ có nhiệm vụ điều tra mà còn xử lý và áp dụng các chế tài đối với các chủ thể có hành vi vi phạm Do đó, chất lượng hoạt động của cơ quan này có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bên cạnh chất lượng của các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh và phương thức tổ chức thực hiện thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định Nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh, cần thiết phải nâng cao hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh, trong đó chú trọng chất lượng đội ngũ Chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong cộng đồng dân cư để nâng cao khả năng
tự bảo vệ của các đối tượng có liên quan; đảm bảo cho pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có hiệu lực thực tế Hiểu biết pháp luật là nhu cầu của các đối tượng tham gia vào các quan hệ xã hội có sự điều chỉnh của pháp luật Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của các cơ quan nhà nước, vì đó là cầu nối giữa pháp luật với đời sống xã hội Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh cần thiết
Trang 10phải đến được với các chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng Bởi lẽ, nếu các chủ thể đó có những kiến thức pháp luật cơ bản thì họ sẽ có khả năng tự bảo vệ, hình thành thói quen, xây dựng đạo đức kinh doanh Qua đó, các vụ vi phạm sẽ giảm bớt và sớm được xử lý, pháp luật sẽ phát huy được hiệu lực, tạo điều kiện xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và bình đẳng