Phần nội dung 1 1. Những vấn đề chung về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 1 1.1. Khái niệm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 1 1.2. Đăc điểm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 2 1.3. Phân loại quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh 3 2. Quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 5 2.1. Quảng cáo so sánh 2 2.2. Quảng cáo bắt chước 6 2.3. Quảng cáo gây nhầm lẫn 7 3. Thực tiễn thực hiện quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và những vấn đề đặt ra dưới góc đô pháp luật cạnh tranh 9 3.1. Thực tiễn hoạt động quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh 9 3.2. Ví dụ thực tế điển hình 10 3.3. Phương hướng hoàn thiện 12 Phần kết luận 16 Tài liệu tham khảo 17
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
1 Nguyễn Thị Thảo Sương Mssv: 33131023066
2 Lê Anh Phương Mssv: 33121025090
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 09/2015
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
ĐIỂM
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là nền tảng của sự vận hành cơ chế thị trường, thúc đẩy và hợp lí hóasản xuất, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội và là động lực cho sự phát triển chungcho toàn bộ nền kinh tế
Tuy nhiên để cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thực sự đem lại những lợi íchnhư vậy, bản thân quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo phải diễn ra trongkhuôn khổ và trật tự nhất định Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã sử dụngnhiều công cụ, chính sách khác nhau để cạnh tranh Trong số đó, pháp luật cạnh tranhđược coi là công cụ quan trọng nhất và là trung tâm cơ chế điều tiết cạnh tranh của mộtnước Pháp luật cạnh tranh trở thành một bộ phận cấu thành khung pháp luật kinh tếđiều chỉnh nền kinh tế thị trường, phối hợp đồng bộ và hài hòa với các qui định về nềntự do và binh đẳng trong kinh doanh của hiến pháp, địa vị pháp lí của doanh nghiệp, cácđiều kiện gia nhập và rút khỏi thị trường trong pháp luật đầu tư trong khuôn khổ củahoạt động thị trường trong giao dịch dân sự và thương mại
Một trong các lĩnh vực hoat động mà luật cạnh tranh điều chỉnh là hoạt độngquảng cáo, trong đó chủ yếu là hoạt động quảng cáo thương mại Cùng với sự phát triểncủa xã hội, nhận thức và sự hiểu biết của ngươi dân ngày một nâng cao, đòi hỏi hoạtđộng quảng cáo thương mại ngày một phát triển về hình thức lẫn nội dung Do đó, hoạtđộng quảng cáo ngày nay diễn ra “khốc liệt” hơn giữa các doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng lĩnh vực Và bên cạnh những hoạt động quảng cáo “chính thống”, thực hiệntrong khuôn khổ điều chỉnh của pháp luật thì vẫn có những hoạt động quảng cáo viphạm nghiệm trọng luật cạnh tranh, điều này đa gây tổn thất cho các Doanh nghiệp vàgây nhầm lẫn, thiệt hại cho người tiêu dùng qua các sự việc quảng cáo đã diễn ra trongthời gian vừa qua
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, sẽ tập trung làm rõ các hình thức quảng cáocạnh tranh không lành mạnh và các xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 4MỤC LỤC
Phần nội dung 1
1 Những vấn đề chung về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 1
1.1 Khái niệm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 1
1.2 Đăc điểm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 2
1.3 Phân loại quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh 3
2 Quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 5
2.1 Quảng cáo so sánh 2
2.2 Quảng cáo bắt chước 6
2.3 Quảng cáo gây nhầm lẫn 7
3 Thực tiễn thực hiện quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và những vấn đề đặt ra dưới góc đô pháp luật cạnh tranh 9
3.1 Thực tiễn hoạt động quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh 9
3.2 Ví dụ thực tế điển hình 10
3.3 Phương hướng hoàn thiện 12
Phần kết luận 16
Tài liệu tham khảo 17
Trang 51 Những vấn đề chung về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
1.1 Khái niệm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là một vấn đề cần quan tâm trong nềnkinh tế thị trường ngày càng phát triển, hành vi quảng cáo không chỉ đơn giản là hành viquảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp mà còn là sự cạnh tranh giữa các doanhnghiệp, tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh
Quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là một hành vi trong số các hành vi cạnhtranh không lành mạnh, hiện nay khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận
tại Khoản 4 Điều 3 luật cạnh tranh 2004 “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành
vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Nhìn chung định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận trong luật
cạnh tranh 2004 tương tự như Điều 10bis Công ước Paris và pháp luật các nước có nềnkinh tế thị trường trên thế giới, đây được đánh giá là khái niệm mở Các nhà lập phápnước ta có sự học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm từ các nước có nền kinh tế phát triển vànền kinh tế có sự phát triển tương đồng với nước ta
Theo quan điểm một số nước trên thế giới như Hiệp hội Hoa Kỳ (AMA) đưa ra
khái niệm quảng cáo “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin trong đó nói rõ ý đồ
của quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của quảng cáo trên cơ sở thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người tiêu dùng” Khái niệm này được đưa ra dựa
trên sự phát triển thực tại của nền kinh tế và hoạt động quảng cáo tại nơi đó Còn ở ViệtNam đưa ra khái niệm quảng cáo tại Điều 4 Pháp lệnh 39/2001/PL-UBTVQH10
quy định: “ Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm có dịch vụ sinh lời và dịch vụ không mục đích sinh lời” Như vậy
hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thóiquen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thôngđiệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán nhằm thuđược lợi nhuận một cách hiệu quả nhất Mặt hàng của hoạt động quảng cáo phong phúvà đa dạng gồm hàng hóa và dịch vụ
Trang 6Theo quy định luật cạnh tranh 2004 không có quy định nào định nghĩa cụ thểquảng cáo cạnh tranh không lành mạnh nhưng tại Điều 45 có liệt kê danh sách những
hành vi bị cấm nhằm hạn chế hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh “1 So
sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; 2 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; 3 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng” Các nhà lập pháp
vẫn hay đưa ra một danh sách liệt kê thay cho khái niệm cụ thể, việc liệt kê này cụ thểhóa những hành vi bị coi là quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh Tạo cơ sở pháp lývững chắc cho việc thực hiện và kiểm tra hoạt quảng cáo của doanh nghiệp
1.2 Đặc điểm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là một trong các hành vi của cạnh tranhkhông lành mạnh, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có đặc điểmchung giống với hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cũng có đặc điểm riêng biệt:
Thứ nhất, hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là một hành vi cạnh
tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận.Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh nghiệp cũng chính làhành vi cạnh tranh trong tương quan với doanh nghiệp khác Để thu được lợi nhuậndoanh nghiệp buộc phải cạnh tranh với đối thủ hoạt động trong cùng lĩnh vực nhằm thuhút khách hàng về phía mình Chủ thể thực hiện hành vi quảng cáo cạnh tranh khônglành mạnh là các doanh nghiệp thực hiện tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trườngbao gồm: mọi tổ chức hay cá nhân tham gia tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên,chuyên nghiệp
Thứ hai, hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính chất đối
lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là cácquy tắc xư sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanhtrên thị trường Các quy định về quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh được hìnhthành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội Để có thể phán địnhmột hành vi có đi ngược lại những quy tắc xư sự chung trong kinh doanh, đòi hỏi cơquan xử lý hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh cần hiểu biết và đánh giá sâusắc về thực tiễn thị trường
Trang 7Thứ ba, hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh cần được ngăn chặn khi
nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho đối tượng khác Hành vi quảng cáocạnh tranh không lành mạnh là hành vi gây thiệt hại nhất định dù thiệt hại này đã xảy rahay chưa và hành vi này cần được ngăn chặn Những thiệt hại cũng gắn liền với tráchnhiệm bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên Đặc điểm này mang ýnghĩa về tố tụng và gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại
Trên đây là đặc điểm chung của cạnh tranh không lành mạnh và quảng cáo nhằmcạnh tranh không lành mạnh, những đặc điểm riêng của quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh xuất hiện cụ thể trong từng hình thức quảng cáo riêng biệt
1.3 Phân loại quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được chia ra làm 3 loại tùy thuộcvào hành vi quảng cáo cụ thể, bao gồm: quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước, quảngcáo gây nhầm lẫn
Quảng cáo so sánh:
Theo Đại từ điển Black’s Law, quảng cáo so sánh được định nghĩa như sau:
“Quảng cáo so sánh là quảng cáo mà so sánh một cách đặc biệt nhãn hiệu hàng hóa này với nhãn hiệu hàng hóa khác của cùng một loại sản phẩm” Hiện nay, ở Việt Nam
chưa xây dựng khái niệm quảng cáo so sánh để hiểu một cách chung nhất: Quảng cáo
so sánh là quảng cáo trong đó có nội dung so sánh giữa hàng hóa, dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp (người quảng cáo) với đối tượng cùng loại của một hay một số doanh nghiệp cạnh tranh khác Đây là hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh phổ biến nhất, vì lợi ích của mình và nhằm cạnh tranh không lànhmạnh với đối thủ mà bên đưa ra quảng cáo sẽ tìm cách so sánh hàng hóa, dịch vụ củamình với bên đối thủ để hạ thấp hàng hóa, dịch vụ của đối thủ và thu hút khách hàng,lợi nhuận về phía mình Theo đó, hành vi quảng cáo này phải thỏa mãn ba dấu hiệu sau:
- Thứ nhất: so sánh trực tiếp tức là các thông tin sử dụng trong quảng cáo
đủ để người tiếp nhận thông tin quảng cáo có thể nhận thức được hàng hóa, dịch vụbị so sánh là hàng hóa, dịch vụ nào Với dấu hiệu này có nhiều khả năng sẽ xảy tratrong việc so sánh như: doanh nghiệp vi phạm điểm mặt, chỉ tên sản phẩm và doanhnghiệp cụ thể muốn so sánh hay những thông tin đưa ra làm cho người tiếp nhận
Trang 8thông tin có khả năng xác định được loại sản phẩm, nhóm doanh nghiệp bị so sánhmà không cần gọi tên các doanh nghiệp cụ thể;
- Thứ hai: các hàng hóa, dịch vụ này phải cùng loại, tức chúng là các hàng
hóa, dịch vụ có chức năng, công dụng có thể thay thế cho nhau trên cùng một thịtrường nhất định;
- Thứ ba: hàng hóa, dịch vụ bị so sánh là của doanh nghiệp khác.
Lý luận cạnh tranh phân chia hành vi quảng cáo so sánh thành nhiều mức độ khácnhau: so sánh bằng, so sánh hơn và so sánh nhất Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh 2004 cấmmọi hành vi quảng cáo so sánh mà không phân biệt hình thức so sánh bằng, so sánh hơnhay so sánh nhất
Quảng cáo bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Loại quảng cáo này bị cấm nếu thỏa mãn hai điều kiện sau: thứ nhất, về hành vi, phải làhành vi bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác, tức là sao chép một phần đáng kểhoặc toàn bộ các yếu tố cấu thành sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp, thường là cácđối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; thứ hai, về mục đích là nhằm gây nhầm lẫncho khách hàng về doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Quảng cáo gây nhầm lẫn:
Quảng cáo gây nhầm lẫn chia ra làm hai loại quảng cáo gian dối và quảng cáo gâynhầm lẫn
- Quảng cáo gian dối có thể hiểu là đưa ra thông tin sai những nội dung sai
lệch so với thực tế khách quan, từ đó lừa dối người tiêu dùng Khi doanh nghiệpmuốn nhận được lợi nhuận cao nhất họ có thể đưa ra nhiều thông tin về sản phẩmmà những thông tin đó có thể không có thật, không đúng về sản phẩm
- Quảng cáo gây nhầm lẫn không đưa ra thông tin sai nhưng nội dung
không đầy đủ không rõ ràng hoặc bỏ sót từ đó tạo ra sự hiểu lầm cho người tiêudùng Khi doanh nghiệp muốn người tiêu dùng chú ý đến mặt hàng của mình thì họcó thể đưa thông tin không đầy đủ, không cụ thể nhằm gây hiểu lầm nhất định vềmặt hàng và hiểu lầm đó có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm
Trang 9Ngoài ra, tại Điều 109 Luật Thương mại 2005 còn quy định các quảng cáo thươngmại khác bị cấm như quảng cáo làm tiếc lộ bí mật Nhà nước, phương hại đến độc lập,chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; Quảng cáo có sử dụng sản phẩmquảng cáo, phương tiện quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuầnphong mỹ tục Việt Nam và trái với quy định của pháp luật; Quảng cáo hàng hoá, dịchvụ mà Nhà nước cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc cấm quảng cáo; Quảng cáothuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên và các sản phẩm, hàng hoá chưa được phép lưuthông, dịch vụ chưa được phép cung ứng trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảngcáo;
2 Quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
2.1 Quảng cáo so sánh
Quảng cáo so sánh là nội dung truyền thống của pháp luật cạnh tranh không lànhmạnh, quá trình phát triển và hoàn thiện các quy định về quảng cáo so sánh phản ánhnhững đặc thù của quá trình phát triển pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
Theo ghi nhận tại Khoản 1 Điều 45 luật cạnh tranh 2004 thì cấm hành vi quảngcáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ Hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp thể hiệnqua những nội dung quảng cáo về một loạt hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoặc đối thủcạnh tranh đã cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó Nội dung đó có thể là lời nói, chữ viết,hình ảnh, âm thanh…khiến người tiếp nhận quảng cáo (khách hàng, người tiêu dùng)nhận thức về hàng hóa,dịch vụ và đối thủ cạnh tranh Những trường hợp ám chỉ, suydiễn sẽ không được coi là thuộc phạm vi so sánh trực tiếp (Điều 2c Chỉ thị2006/114/EC)
Về bản chất hành vi quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thểđược xem xét dưới góc độ lợi dụng uy tín hoặc công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh.Quảng cáo so sánh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khi thu hút khách hàng về phíamình thông qua hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về nội dung, quảng cáo so sánh bao gồm nhiều nội dung nhưng chủ yếu so sánhvề giá và quảng cáo so sánh về đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ như tính năng, côngdụng, chất lượng…đây là những nội dung mà khách hàng quan tâm khi lựa chọn hànghóa, dịch vụ
Trang 10Về hình thức, quảng cáo so sánh bao gồm so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối.Có rất nhiều quan điểm khác nhau về quảng cáo so sánh tương đối và tuyệt đối nhưngcó thể thấy rõ nhất cấp độ so sánh của hai loại hình quảng cáo này hoàn toàn khác nhau.Khi quảng cáo so sánh tuyệt đối đi kèm sự kiểm chứng, xác nhận của một bên thứ bađộc lập, khách quan (hiệp hội ngành nghề, tổ chức tiêu dùng, cơ quan truyền thông…)thì đây là cơ sở kiểm chứng thông tin và đồng thời là cơ sở để xử lý vi phạm nếu có.Trường hợp ngoại lệ của quảng cáo so sánh theo pháp luật Việt Nam ghi nhận trongNghị định số 37/2006/NĐ-CP cho phép thương nhân có thể thực hiện so sánh hàng hóacủa mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáothương mại sau khi có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sửdụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để so sánh.
Như vậy tính chất không lành mạnh của hành vi quảng cáo so sánh được đánh giátheo hai hướng: lợi dụng tên tuổi, uy tín, lợi thế cạnh tranh của người khác hoặc côngkích, hạ thấp uy tín đối thủ cạnh tranh Khi thông tin quảng cáo chính xác những lợi thếcó thật của người này so với đối thủ cạnh tranh thì sẽ làm giảm chi phí, thời gian vàcông sức tìm hiểu thông tin của người tiêu dùng, góp phần minh bạch hóa thị trường.Mặt khác khi doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh chính đáng so với đối thủ, sẽkhông hợp lý khi ngăn cản người đó công bố chúng, nếu ngăn cản có thể gây ảnh hưởngtiêu cực với cạnh tranh Trong mối quan hệ đối lập về lợi ích giữa các doanh nghiệptham gia thị trường, quảng cáo so sánh luôn có nguy cơ lệch hướng trở thành cạnh tranhkhông lành mạnh, ảnh hưởng tới người tiêu dùng, làm mất uy tín doanh nghiệp Nênpháp luật cạnh tranh không lành mạnh cần đặt hành vi này trong sự giám sát chặt chẽ đểchống lại việc lạm dụng
2.2 Quảng cáo bắt chước
Quảng cáo bắt chước được quy định tại Khoản 2 Điều 45 luật cạnh tranh 2004
“Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng” Tính
chất không lành mạnh của quảng cáo bắt chước thể hiện ở việc lợi dụng thành quả đầu
tư lợi thế cạnh tranh của người khác gây hậu quả tạo sự nhầm lẫn không đáng có chokhách hàng (người tiêu dùng) Nhầm lẫn có thể chia ra nhiều loại khác nhau như nhầmlẫn về nguồn gốc, nhầm lẫn về liên hệ…
Trang 11Nhầm lẫn về nguồn gốc: khi khách hàng tiếp nhận những quảng cáo giồng nhaugây nên sự ngộ nhận rằng hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùng mộtchủ sản xuất Nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa chính là thương hiệu của sản phẩm, điềutạo nên lòng tin cho người tiêu dùng, khi người tiêu dùng có nhầm lẫn về nguồn gốc củahai loại hàng hóa dẫn tới nhu cầu tiêu dùng của họ bị tác động và gây hậu quả nhất địnhđối với hàng hóa, dịch vụ bị nhầm lẫn.
Nhầm lẫn về liên hệ: khi hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùngmột nguồn gốc, người tiếp nhận quảng cáo vẫn có thể cho rằng giữa hai nhà sản xuất cómối liên quan, liên hệ, cùng thuộc một tập đoàn, có quan hệ đối tác hay ủy thác, nhượngquyền Hành vi này tạo dựng niềm tin không có thật cho người tiêu dùng nhằm thu hútlợi nhuận cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động quảng cáo
Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh còn xem xét quảng cáo bắt chước ở trườnghợp đặc biệt là bắt chước mù quáng: tính không trung thực, tính không thiện chí thểhiện ở chỗ người bắt chước không có sự nghiên cứu, đầu tư, sáng tạo, mà chỉ biết saochép một cách đơn giản thành quả của người khác, bất chấp thực tế rằng có nhữngphương thức cạnh tranh hiệu quả khác Đây là hành vi lợi dụng đặc biệt, sản phẩm saochép không chỉ lặp lại các điểm cơ bản, quan trọng của sản phẩm mẫu, mà còn sao chépcả chi tiết mỹ thuật… mà những chi tiết này hoàn toàn có thể biến đổi, thay thế được.Có thể do hiệu quả mà quảng cáo trước đó đạt được nên doanh nghiệp khác khi muốnquảng cáo hàng hóa, dịch vụ đã chấp nhận bắt chước y hệt mẫu quảng cáo có sẵn, hành
vi có thể gây nên tác dụng xấu cho doanh nghiệp quảng cáo bắt chước khi gặp phải sựphản ừng từ phía người tiêu dùng và doanh nghiệp quảng cáo trước đó
2.3.Quảng cáo gây nhầm lẫn
Quảng cáo gây nhầm lẫn là loại hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lànhmạnh phổ biến nhất và thường gặp trong thực tiễn cuộc sống nhất Quy định quảng cáo
gây nhầm lẫn tại Khoản 3 Điều 45 luật cạnh tranh 2004 “Đưa thông tin gian dối hoặc
gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây: a) Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; b) Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; c) Các thông tin gian dối hoặc