Đối với tỉnh Bắc Giang cũng có một tác giả viết về địa lí KT-XH của tỉnh, trong đó có liên quan ít nhiều đến vấn đề tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh.. Trong “Báo cáo tổng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Mã số: 60.31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ NHƢ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo trong khoa Địa Lý - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã
dạy bảo tận tình trong quá trình tác giả học tập, nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với
thầy giáo hướng dẫn khoa học - TS Vũ Như Vân, người đã tận tình chỉ bảo,
động viên để tác giả hoàn thành bản luận văn này
Để thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ
quan: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Giang, Sở Tài nguyên và Môi
trường UBND tỉnh Bắc Giang, Ban quản lí các KCN tỉnh Bắc Giang Tác
giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và những người
thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận văn này
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3
3.1 Mục tiêu 3
3.2 Nhiệm vụ 3
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
5.1 Các quan điểm nghiên cứu 4
5.2 Các phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp chính của đề tài 5
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 7
1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế 8
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 9
1.1.4 Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế 12
1.1.4.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh 12
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.4.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber 13
1.1.4.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố 14
1.1.4.4 Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller 14
1.1.4.5 Lí thuyết cực phát triển 15
1.1.4.6 Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế……… 16
1.2.1 Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam 16
1.2.1.1 Hành lang kinh tế 16
1.2.1.2 Khu kinh tế 18
1.2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm 20
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 20
1.2.3 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 22
1.2.4 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 23
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ BẮC GIANG 27
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 27
2.1.1 Vị trí địa lí 27
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 29
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.1.4 Đánh giá chung 41
2.2 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 43
2.2.1 Khái quát chung sự phát triển kinh tế Bắc Giang 43
2.2.2 Tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang 45
Tiểu kết chương 2 79
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 80
3.1 Quan điểm và mục tiêu định hướng phát triển 80
3.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế 80
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 89
3.2.1 Thu hút vốn đầu tư và huy động vốn 89
3.2.2 Nâng cao trình độ người lao động và nguồn nhân lực 90
3.2.3 Thực hiện đổi mới cơ chế chính sách 91
3.2.4 Tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng hiện đại 91
3.2.5 Phát triển khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tích cực bảo vệ môi trường 92
3.2.6 Đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành phố trong cả nước 94
3.2.7 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH, đa dạng hóa 96
3.2.8 Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 97
3.3.9 Mô hình hành lang phát triển đột phá: Một trục + hai nhánh 98
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
Kết luận 103
Kiến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN : Công nghiệp
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
KCN : Khu công nghiệp
CCN : Cụm công nghiệp
KTXH : Kinh tế - xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
NXB : Nhà xuất bản
EU : Liên minh Châu Âu
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 17
Bảng 1.2 Các Khu kinh tế của Việt Nam 19
Bảng 1.3 Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 22
Bảng 2.1 Dự kiến khai thác khoáng sản 33
Bảng 2.2 Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2005 - 2010 34
Bảng 2 3 Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 40
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo giá thực tế phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 - 2010 47
Bảng 2.5 Đàn gia súc, gia cầm phân theo thành phố và các huyện năm 2010 48
Bảng 2.6 Tình hình hoạt động kinh tế hộ gia đình Bắc Giang 2003 - 2009 50
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu so sánh giữa hai tiểu vùng năm 2010 56
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công nghiệp phân theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 58
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp chính của Bắc Giang theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 60
Bảng 2.10 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994 phân theo huyện giai đoạn 2000 - 2010 61
Bảng 2.11 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 67
Bảng 2.12 Cơ cấu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 68
Bảng 2.13 Danh thu và cơ cấu doanh thu vận tải, bốc xếp phân theo thành phần kinh tế và theo ngành hoạt động 70
Bảng 2.14 Tổng hợp và so sánh một số chỉ tiêu tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tiểu vùng 75
Bảng 3.1 Tổng hợp dự kiến nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp thời kỳ 2011-2020 95
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả chỉ số PCI của Bắc Giang, 2007-2010 97
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010 28
Hình 2.2 Tăng trưởng kinh tế Bắc Giang qua các năm 43
Hình 2.3 GDP/người của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 44
Hinh 2.4 Cơ cấu GDP phân theo các ngành kinh tế 2000 - 2010 45
Hình 2.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành nông-lâm-ngư nghiệp của Bắc Giang (theo giá cố định 1994) 2000 - 2010 46
Hình 2.6 Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng của Bắc Giang (theo giá thực tế) giai đoạn 2000 - 2010 57
Hình 2.7 Bản đồ kinh tế chung tỉnh Bắc Giang năm 2010 65
Hình 3.1 Lược đồ lưu vực hệ thống sông Thái Bình 92
Hình 3.2 Kết quả 9 chỉ số thành phần PCI của Bắc Giang, 2009-2010 93
Hình 3.3 Mô hình hành lang phát triển đột phá: 1 trục + 2 nhánh của tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 100
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những khái niệm cơ bản của Địa
lí học, là gạch nối giữa nhận thức lý luận và hành động thực tiễn của khoa học này Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ Đây là vấn đề không mới đối với thế giới, nhưng đối với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ
và còn phải tiếp tục nghiên cứu Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ kinh tế đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng Hay nói cách khác, muốn phát triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế một cách hợp lí Bắc Giang là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, tuy nhiên hiện nay kinh tế phát triển chậm chưa tương xứng với tiềm năng, còn nghèo so với cả nước Do vậy, việc tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên, kinh tế và xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và
cấp thiết Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội (KT-XH) là vấn đề không mới trên thế giới, nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau đã dành nhiều công sức nghiên cứu vấn đề này, trong đó tiên phong là các nhà khoa học Địa
lí Từ việc nghiên cứu thực tiễn đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể được coi là những lí luận cổ điển về tổ chức lãnh thổ kinh tế quý báu để học
Trang 6tập và áp dụng, như W.Christaller với việc hình thành các trung tâm tạo vùng;
Francoi-Perroux với vấn đề phát triển các cực tăng trưởng; VonThunen với tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp theo các vành đai xung quanh các đô thị…
[7/13/14 /16/17/21]
Ở Việt Nam, tổ chức lãnh thổ kinh tế là đối tượng nghiên cứu quan trọng
của khoa học Địa lí từ giữa thế kỉ XX Đã có nhiều luận án, bài báo, giáo trình
về tổ chức lãnh thổ kinh tế được công bố Viện chiến lược phát triển thuộc Bộ
KH&ĐT đã nghiên cứu và công bố các quy hoạch phát triển cho cả nước cũng
như cho từng vùng lãnh thổ Tuy vậy, những công trình đó phạm vi nghiên cứu
có qui mô lớn, mặt khác các hình thức tổ chức sản xuất lãnh thổ cũng có nhiều
thay đổi do tác động của nền kinh tế thị trường [18/28/29]
Đối với tỉnh Bắc Giang cũng có một tác giả viết về địa lí KT-XH của
tỉnh, trong đó có liên quan ít nhiều đến vấn đề tổ chức lãnh thổ của các ngành
kinh tế của tỉnh Ví dụ: GS.TS Lê Thông đã giới thiệu tương đối cụ thể về tự
nhiên, kinh tế, xã hội của Bắc Giang trong cuốn “Địa lí các tỉnh và thành
phố Việt Nam” [16]
Năm 2000, trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự Bắc Giang đã
“Nghiên cứu và biên soạn giáo trình Địa lý Bắc Giang” dùng trong giảng dạy
và học tập Mặc dù, đã khái quát được toàn bộ các đặc điểm dân cư và
KT-XH của tỉnh, tuy nhiên đề tài vẫn chưa làm rõ được những tiềm năng cho phát
triển KT-XH của tỉnh và hướng phát triển KT-XH trong những năm tới
Năm 2002, Sở văn hóa thông tin Bắc Giang cùng với Trung tâm
UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam đã biên soạn cuốn
Địa chí Bắc Giang- Tập 1 Cuốn sách đã giới thiệu một cách khá cụ thể về địa
lý và kinh tế tỉnh Bắc Giang
Trong “Báo cáo tổng hợp qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Bắc Giang thời kì 2006-2020„của UBND tỉnh Bắc Giang hay các báo
cáo, thống kê khác của Tỉnh úy, UBND Bắc Giang, Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT Bắc Giang cũng nêu các vấn đề phát triển KT-XH của Bắc Giang,
và các vấn đề liên quan tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh [1/2/ 5/8/9 /23/25]
Luận văn thạc sĩ: “Địa lí nông nghiệp tỉnh Bắc Giang„ của Lê Thị Thu
Thủy cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của Bắc Giang
Luận văn thạc sĩ “kinh tế Bắc Giang thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa„
của Phan Đức Tráng đã giới thiệu về sự tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang với 2 vùng riêng biệt
Tuy nhiên đối với Bắc Giang, từ trước đến nay chưa có tài liệu, báo cáo, công trình nào viết riêng, nghiên cứu sâu về cả vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tể của tỉnh Vì thế đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang” của tác giả đã kế thừa một phần từ các công trình nghiên cứu trên, đồng thời
bổ xung, tổng hợp nhiều số liệu, chiến lược, báo cáo, mục tiêu, để có một cái nhìn tổng quát nhất về tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu tổng hợp những vấn đề cơ bản về lí luận
và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Giang để phát triển nhanh và bền vững thời kì 2010 - 2020
3.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh
Bắc Giang
- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất định hướng và kiến nghị những giải pháp chủ yếu tổ chức
lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang đến năm 2020
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Về nội dung: Tập trung nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KT Bắc Giang theo
các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, và các tiểu vùng KT của tỉnh
* Về lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Giang, gồm có
9 huyện và 1 thành phố (TP Bắc Giang), trong đó có 6 huyện trung du, miền
núi và 1 huyện vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn
* Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu có trong Niên giám thống kê của
Cục thống kê tỉnh Bắc Giang và các số liệu thu thập khác từ các cơ quan quản
lí nhà nước trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, định hướng đến 2020
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm lãnh thổ: Các sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát
triển trên một không gian lãnh thổ nhất định Vấn đề là phải tìm ra sự phân
hoá của các sự vật, hiện tượng và quy luật phân bố của chúng trong không
gian Nghiên cứu đề tài cần dựa trên quan điểm này để phân tích sự khác biệt
của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí, đồng thời vạch ra những mục
tiêu, phương hướng sử dụng phù hợp với điều kiện của lãnh thổ
- Quan điểm hệ thống: Quán triệt quan điểm này làm cho việc phân
tích, đánh giá một lãnh thổ được khách quan, khoa học và qua đó hiểu được
các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và
giữa các hệ thống với nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế
là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Qua đó có thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và
xu hướng phát triển trong tương lai
- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt quan điểm bền vững đòi
hỏi phải đảm bảo cả về ba mặt: kinh tế (KT); xã hội và môi trường Về mặt
KT, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền KT Dưới góc
độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Việc thu thập tài liệu phải từ
nhiều nguồn để có thể chọn lọc những tài liệu cần thiết đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiên cứu Việc thu thập tài liệu chủ yếu từ các Ban, Ngành, cơ quan chức năng trên địa bàn Bắc Giang và các nguồn tài liệu khác trên báo chí, giáo trình…
- Phương pháp phân tích hệ thống: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế
tỉnh Bắc Giang có thể thấy được qua phân tích các mối quan hệ không gian, thời gian của các ngành cũng như các lĩnh vực KT, các mối quan hệ giữa tự nhiên và KT-XH
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Đây là những phương pháp đặc trưng của
Địa lí, được sử dụng để làm rõ hiện trạng KT, sự phân bố, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, những mối liên hệ KT và những dự kiến phát triển KT
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện,
một số cơ sở sản xuất Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế
6 Những đóng góp chính của đề tài
Trang 8- Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc những vấn đề liên quan nhằm làm
sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận
dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc
Giang Xác định rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh
giữa tỉnh Bắc Giang với các địa phương khác
- Phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang, từ đó
đánh giá những thế mạnh và những hạn chế cần khắc phục
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát huy những thế
mạnh, đem lại hiệu quả cao trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được
trình bày trong ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế
Chương 2 Các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau
Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp cận vấn đề này với một cách gọi khác: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội” Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KT-XH giữa các ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng như đảm bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp có trật tự giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian KT-XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử dụng nhiều hơn cả
Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí
kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại
hiệu quả KT-XH cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền
vững của một lãnh thổ
1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.1 Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả
năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng
và đạt hiệu quả KT-XH cao
Khi tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố
sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất
các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh
vực Mặt khác tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tính tới nhu cầu của thị trường để
giảm thiểu chi phí, tối đa hiệu quả
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài
nguyên và yêu cầu của thị trường nhằm đem lại lợi ích KT-XH và môi trường
cho con người Thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn địa điểm
phân bố cơ sở sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và quyết định đến hiệu
quả và sự thành công của tổ chức lãnh thổ
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương
tác giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các lãnh thổ
Tương tác là sự kết hợp và trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực,
tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh
tổng hợp cho lãnh thổ; bổ sung giữa nơi thừa cho nơi thiếu về một mặt nào đó
trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều
kiện để bù đắp cái mình thiếu Đảm bảo được sự tương tác chính là điều kiện
cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ Trình độ của những người hoạch định chính sách, của những người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của địa phương phải được tính đến trong tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.2 Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước
và với những nội dung chủ yếu sau đây:
Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu
Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu
Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn phương án hiệu quả nhất
Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển - Bộ KH&ĐT): (1) Dự báo
về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu); (2) Luận chứng các phương án tổ chức KT-XH theo lãnh thổ cấp tỉnh/thành phố [28/29]
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ dự kiến được tổ chức hay tổ chức lại Sự tác động của các yếu tố đến tổ chức lãnh thổ kinh tế không giống nhau về không gian và thời gian Có những yếu tố tác động mạnh đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế trong thời gian này, nhưng lại giảm sút vai trò trong giai đoạn khác
Trang 101.1.3.1 Các yếu tố bên trong lãnh thổ
- Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên:
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Bởi vì, sự phát triển KT trên một không gian đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt
chẽ giữa sản xuất và điều kiện sản xuất, những điều kiện này được coi là đầu
vào của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Vị trí địa lí là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì yếu tố vị trí địa lí càng
được đánh giá cao khi lựa chọn địa bàn để phát triển các lãnh thổ trọng điểm,
các cực tăng trưởng và phát triển của mỗi lãnh thổ
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thường được coi là
yếu tố tiền đề để tổ chức lãnh thổ kinh tế Điều kiện tự nhiên, như khí hậu,
thời tiết… ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lãnh thổ và trực tiếp ảnh
hưởng đến việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Dân cư và nguồn nhân lực
Dân cư và mật độ dân cư có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh
tế Những nơi có mật độ dân cư đông đúc sẽ có nguồn lao động dồi dào và
ngược lại, những nơi dân cư thưa thớt nguồn lao động sẽ bị hạn chế
Dân cư với các phẩm chất, truyền thống sản xuất và tiêu dùng, truyền
thống văn hóa ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng của lãnh thổ
Khả năng sản xuất hàng hóa và ý thức mong muốn làm giàu chính đáng của
dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy
mô lớn và hiện đại
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát
triển cơ cấu KT nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như quyết
định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp điện, nước; các trung tâm KT, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại, ngân hàng…ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu KT lãnh thổ Do vậy, muốn chuyển đổi cơ cấu KT lãnh thổ hiệu quả và bền vững thì phải tạo ra những tiến bộ về chất đối với cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
- Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trình độ phát triển KT thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền KT;
cơ cấu KT; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh doanh…Đây là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền KT là nhân tố chứng tỏ khả năng
về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, cao hơn Mặt khác, nó là cơ sở, tiền đề và là điều kiện để tái
tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Môi trường chính sách
Chính sách kinh tế và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự tiến
bộ hay không tiến bộ của một lãnh thổ Hay nói cách khác, chính sách kinh tế
và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một lãnh thổ
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ
Trong cơ chế kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như
hiện nay, thì các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển hay việc tổ
chức kinh tế ở một lãnh thổ là rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các nhóm
yếu tố sau:
- Nhóm các yếu tố về chủ trương, đường lối phát triển của Nhà nước,
các chiến lược phát triển KT-XH quốc gia, các quy hoạch phát triển vùng,
ngành Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển
cơ cấu lãnh thổ Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của
mỗi vùng lãnh thổ
- Nhóm các yếu tố về thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng:
Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các
lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện
Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những
quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc,
những quan hệ nguyên liệu - sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ… mà tác động
đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:
Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày
càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó
đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế Sự
thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách
của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế
1.1.4 Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.4.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh
- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực
nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội
sinh Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
năng “cung” của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ Bên cạnh đó, thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng
“cầu” và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng
- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để phát triển vùng Theo thuyết này, tăng trưởng vùng chịu ảnh hưởng rất lớn
của mức cầu bên ngoài, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của vùng thì cần phải thu hút được các luồng tiền từ bên ngoài vào Để làm được điều đó thì hiệu quả nhất là gia tăng xuất khẩu
1.1.4.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber
Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp (CN) trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận Lí thuyết này ra đời đã giải thích CN tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí
do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các
xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực đã tập trung nhiều
Trang 12kiệm các nguồn nguyên liệu và năng lượng Bên cạnh đó, chi phí ngoại ứng
cũng có thể xuất hiện khi có sự quá tải của lãnh thổ và sự cạnh tranh, chèn ép
lẫn nhau dẫn đến hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp
Như vậy, có thể nhận thấy trong điều kiện của nước ta hiện nay, nhất là
đối với một tỉnh như Bắc Giang thì lí thuyết này có giá trị thực tiễn cao và có
thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển CN
1.1.4.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh
hưởng của thành phố
V.Thunen cho rằng, thành phố (TP) trung tâm có sức hấp dẫn đối với
hoạt động nông nghiệp (NN) ở xung quanh và địa tô chênh lệch là một nhân
tố then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử
dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh TP hạt nhân Ông đã phân tích
sự khác nhau về chi phí vận tải, tầm quan trọng của khoảng cách không gian
và trọng lượng sản phẩm của các hoạt động NN trong việc phân bố thành các
vành đai NN xung quanh TP
1.1.4.4 Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller
Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra
năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber
cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn
Theo quan điểm của W.Christaller, TP là một trung tâm cho tất cả các
điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung
tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư
có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng
của vị trí trung tâm A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của
W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là TP quan
trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư
Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị
mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị Theo nghiên cứu của các nhà
kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác
Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal, Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở nhấn mạnh vai trò to lớn của CN và dịch vụ (DV) đối với sự tăng trưởng và phát triển của vùng; chính sự tập trung CN và DV ở các đô thị (các cực) giữ vai trò hạt nhân phát triển
Theo Harry Richarson và Benjamin Higgins, một cực phát triển trước hết cần được hiểu đó là tập hợp các ngành CN có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền KT, có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ đầu vào - đầu ra xung quanh một ngành CN dẫn đầu hay CN mũi nhọn Nhờ có những ưu thế về công nghệ hiện đại, tốc độ đổi mới sản phẩm (cả về chất lượng, mẫu mã… theo nhu cầu thị trường) và có phạm vi thị trường tiêu thụ rộng lớn, nên ngành CN này ngày càng phát triển nhanh, kéo theo các ngành liên quan đến nó tăng trưởng nhanh hơn các bộ phận khác của nền KT, tạo ra tác động lan tỏa ảnh hưởng theo cấp số nhân đến các bộ phận khác của nền KT [12]
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.4.6 Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman
Lí thuyết điạ-kinh tế mới Nội dung mới trong thuyết Thương mại
mới-địa kinh tế mới của Paul Krugman, Giải thưởng Noben Kinh tế năm 2008
Theo đó, “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa
dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất Tại sao? Lí do chính là một
số CN có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô”
(economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá chi phí bình quân
càng thấp Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng
sản xuất là đủ Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và
quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn
các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ Rất nhiều loại hàng có tính “tiết
kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết
khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng Quan trọng là
cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt
bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại
“cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính
tiết kiệm do quy mô
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.2.1 Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế chủ yếu vận dụng vào thực tiễn ở
Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế
cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình
thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:
1.2.1.1 Hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế được hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông
huyết mạch và sự tập trung các cơ sở CN và DV dọc hai bên tuyến trục đó
Do có sự phát triển tập trung các cơ sở KT, lợi dụng triệt để việc vận chuyển
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thuận lợi nên các hoạt động KT đem lại hiệu quả cao hơn Hành lang kinh tế được coi là một hiện tượng KT-XH và đây là hình thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ đầy triển vọng
Ở nước ta, hành lang kinh tế đã được hình thành và ngày càng có ý nghĩa trong phát triển KT-XH theo lãnh thổ, tiêu biểu là 03 tuyến hành lang kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng; Huế - Đà Nẵng - Dung Quất và Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu Gần đây Việt Nam và Trung quốc
đã thỏa thuận phát triển “hai hành lang, một vành đai” (Hai hành lang kinh tế: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội
- Hải Phòng; một vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ) Hiện nay các hành lang kinh tế vẫn đang tiếp tục được hình thành và phát triển trên hầu hết các tuyến trục giao thông trọng yếu
Các hành lang kinh tế được coi như các trục KT động lực, với ý nghĩa
là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của một vùng rộng lớn Mỗi hành lang
KT hay vành đai KT kéo dài đến hàng trăm km, đi qua nhiều tỉnh, TP Các cơ
sở sản xuất và DV của mỗi tỉnh, TP là một mắt xích trong tổng thể KT của mỗi hành lang (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam
STT Hành lang kinh tế
(dự tính)
Dân số (nghìn người)
GDP (tỉ đồng)
Dân số (nghìn người)
GDP (tỉ đồng)
1 Hà Nội - Hải Phòng 3.770 109.500 6.670 1.500.000
2 Huế - Đà Nẵng -Dung Quất 1.562 23.400 2.400 95.000
3 Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu 6.100 215.000 9.500 3.400.000
Nguồn: Xử lí số liệu theo các DA quy hoạch vùng của Viện Chiến lược và Phát triển
Trang 141.2.1.2 Khu kinh tế
Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định, được hưởng ưu đãi đặc biệt để
phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Trong xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế và thực hiện các cam kết tự do thương mại trên phạm vi khu vực cũng
như trên quy mô toàn cầu, việc phát triển khu kinh tế cần phải được quan tâm
đúng mức
Ở Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 khóa VIII về việc
nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở
những địa bàn ven biển có đủ điều kiện, trên cơ sở tham khảo các mô hình
khu công nghiệp, đặc khu kinh tế; trong điều kiện quốc tế mới và xu hướng
chuyển đổi các đặc khu kinh tế sang hình thức các khu khai phát mới, các cơ
quan chức năng cùng các tỉnh đã tiến hành nghiên cứu về mô hình “khu kinh
tế phát triển”
Trong báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển các
khu kinh tế ven biển ở Việt Nam đến năm 2020, Bộ KH&ĐT cho rằng, khu
kinh tế là khu vực có địa lí thuận lợi cho giao thương với các khu vực khác;
nó là một bộ phận lãnh thổ của đất nước có quy mô đất đai đủ lớn để phát
triển tổng hợp KT, được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận
hành bởi khung pháp lí có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế; ở đó
có môi trường đầu tư kinh doanh, buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường,
được hưởng quy chế ưu đãi hơn các nơi khác; ở đó giao lưu KT với nước
ngoài thông thoáng, không bị hạn chế, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài; khi phát triển các khu kinh tế không gây ảnh hưởng xấu
đến an ninh quốc gia, không xâm hại đến các công trình văn hóa, di tích của
đất nước
Để có một định hướng phát triển các khu kinh tế ven biển trên phạm vi
cả nước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu
quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển đến năm 2020
Ngoài các khu kinh tế ven biển đã nêu trên, ở nước ta còn tồn tại hai loại khu kinh tế tổng hợp nhưng tính chất tổng hợp và mức độ phức tạp ít hơn
so với khu kinh tế ven biển Đó là khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế quốc phòng Khu kinh tế cửa khẩu hình thành và phát triển trên cơ sở có sự tồn tại của một cửa khẩu biên giới với một nước láng giềng và nhờ có sự phát triển của giao thương KT và khách du lịch Khu kinh tế quốc phòng do quân đội quản lí và làm nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng là chủ yếu, bộ đội cùng nhân dân phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các Khu kinh tế của Việt Nam (tính đến 2/2011)
thành lập
Diện tích (ha)
4 Chân Mây - Lăng Cô Thừa Thiên Huế 05/01/2006 27.108
5 Phú Quốc - Nam An Thới Kiên Giang 14/02/2006 56.100
17 Ven biển Thái Bình Thái Bình 9/2/2011 30.583
Nguồn: http://vi.wikipedia.org
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm
Vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát
triển và có ý nghĩa quyết định đối với nền KT của cả nước Nó được đặc trưng
bằng một số đặc điểm chủ yếu sau: (i) Bao gồm phạm vi của nhiều tỉnh, TP và
ranh giới có thể thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển
KT-XH của đất nước; (ii) Hội tụ đầy đủ các thế mạnh, tập trung tiềm lực kinh
tế và hấp dẫn các nhà đầu tư; (iii) Có tỉ trọng lớn trong tổng GDP của quốc
gia, tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước và có thể hỗ trợ cho các vùng
khác; (iv) Có khả năng thu hút các ngành mới về CN và DV để từ đó nhân
rộng ra toàn quốc
Cho đến nay, trên lãnh thổ nước ta đã hình thành 04 vùng kinh tế trọng
điểm: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (gồm Thành phố Hà Nội, Hưng Yên,
Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh); Vùng kinh tế
trọng điểm miền Trung (gồm: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam,
Quảng Ngãi và Bình Định); Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm TP Hồ
Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh,
Long An và Tiền Giang) và Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu
Long (gồm TP Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau)
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp được hiểu là: “Hệ thống các mối liên kết
không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng
hợp lí nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường”
Có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, phụ thuộc vào quan
niệm và quy mô lãnh thổ của mội quốc gia Trên cơ sở tổng quan các hình
thức của một số nước trên thế giới và gắn với thực tiễn của nước ta, nhất là
sau khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, các hình thức tổ chức lãnh thổ
công nghiệp của nước ta gồm có:
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Khu công nghiệp tập trung
Khu công nghiệp (KCN) tập trung là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các DV cho sản xuất CN, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Thực tế, ở Việt Nam trong những năm qua, KCN tập trung là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp phổ biến và mang lại hiệu quả
KT cao, là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước
* Khu công nghệ cao
Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các DV liên quan; có ranh giới xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Như vậy, có thể nói, khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung
Ở nước ta, việc hình thành khu công nghệ cao với mục đích là thu hút công nghệ cao của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ cao, đồng hóa, sáng tạo, kinh doanh và phát triển công nghệ cao Đây chính là bước đi tắt, nhằm tránh sự tụt hậu về công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng hai khu công nghệ cao, đó là: Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và Khu công nghệ cao Hòa Lạc
* Cụm công nghiệp
Cụm công nghiệp (CCN) là một lãnh thổ có ranh giới ước lệ, nhưng được xác định bởi văn bản pháp lí, với quy mô nhỏ hơn KCN và được bố trí tập trung một số cơ sở CN thuần túy CCN là một kết hợp sản xuất - lãnh thổ mang tính chất tổng hợp CCN thường gắn với lãnh thổ cấp huyện, là hạt nhân
để thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn ở cấp quận/huyện
Trang 16* Điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp là một lãnh thổ không lớn, có ranh giới ước lệ và
được xác định bởi một văn bản pháp lí, có quy mô nhỏ hơn CCN, trên đó có
một điểm dân cư với một xí nghiệp công nghiệp Nó cũng có thể là một nhóm
không lớn các xí nghiệp công nghiệp nằm trong phạm vi của một điểm dân
cư Nói cách khác, thực chất điểm công nghiệp là một hình thức đồng nhất
với điểm dân cư có xí nghiệp công nghiệp Ở nước ta, điểm công nghiệp
thường gắn với địa bàn xã hoặc liên xã
1.2.3 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Ở Việt Nam, hình thức tổ chức lãnh thổ trong NN hiện nay phổ biến là
khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hóa cây trồng gắn với
công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp)
* Khu nông nghiệp công nghệ cao
Khu nông nghiệp công nghệ cao là một lãnh thổ xác định, tuy không
qúa lớn về diện tích, nhưng áp dụng kĩ thuật canh tác hiện đại với công nghệ
cao Tuy nhiên, loại hình khu NN công nghệ cao ở nước ta hiện nay chưa phát
triển mạnh, nhưng đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở ven các TP lớn
Bảng 1.3 Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007
STT Khu NNCNC Địa điểm
Diện tích canh tác (ha)
Hướng chuyên môn hóa
1 TP Hồ Chí Minh H Củ Chi 100 Rau cao cấp
2 T Lâm Đồng H Đức Trọng 300 Rau, hoa xuất khẩu
4 TP Hải Phòng H Cát Hải 150 Rau, quả xuất khẩu
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Vùng trồng cây chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp)
Đây là hình thức tổ chức theo lãnh thổ trong sản xuất NN mà nước ta
đã và đang phát triển và đạt hiệu quả KT cao Việc hình thành nhiều khu vực cây trồng gắn với công nghiệp chế biến thành một thể tổ hợp nông - công nghiệp Trong lâm nghiệp ở nước ta hiện nay cũng có hình thức tổ chức lãnh thổ rất có hiệu quả giống như tổ hợp nông - công nghiệp mà chúng ta gọi là tổ hợp lâm - công nghiệp, tức là gắn vùng rừng nguyên liệu với xí nghiệp chế biến nhằm mang lại hiệu quả KT cao Tiêu biểu của hình thức này là tổ hợp lâm - công nghiệp chế tạo giấy, tổ hợp lâm - công nghiệp chế tạo gỗ…
1.2.4 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ
- Đối với ngành du lịch, các hình thức tổ chức lãnh thổ rất phong phú
và từ thấp đến cao là: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch
- Đối với hoạt động thương mại, thì hệ thống mạng lưới bán lẻ, mạng lưới chợ; hoạt động xuất nhập khẩu là những biểu hiện cụ thể
- Đối với lĩnh vực giao thông vận tải thì tổ chức lãnh thổ được thể hiện cụ thể qua mạng lưới đường giao thông và đầu mối giao thông
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố
Trong hệ thống phân vùng KT - hành chính Việt Nam hiện nay chấp nhận rộng rãi hệ thống các cấp kế hoạch và dự báo vĩ mô, gồm: Trung ương/tỉnh - TP/huyện - thị xã/xã - phường - thị trấn Trong đó cấp tỉnh/TP được coi là mắt xích quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển vùng
Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh được coi là cấp thực thi chính sách, đồng thời được quyền ban hành một số chính sách phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của địa phương Theo tinh thần đó, Viện Chiến lược phát
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
triển - Bộ KH&ĐT có hướng dẫn cụ thể bằng hàng loạt bảng biểu cũng như
chỉ dẫn cụ thể để triên khai việc lập qui hoach KT-XH dài hạn thời kì đến
năm 2015 và tầm nhìn 2020
Theo nội dung hướng dẫn nghiên cứu lập qui hoạch tổng thể phát triển
KT-XH tỉnh/TP trực thuộc trung ương (phục vụ công tác lập qui hoạch thể
phát triển KT-XH thời kì 2005 - 2020), cấp tỉnh/TP trực thuộc trung ương
(gọi chung là cấp tỉnh) phải đạt yêu cầu về nội dung gồm: Phân tích, dự báo
tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước và các yếu tố phát triển khác đối
với quá trình phát triển KT-XH của tỉnh; Phân tích, đánh giá thực trạng phát
triển KT-XH tỉnh; Nghiên cứu phương hướng phát triển KT-XH tỉnh đến năm
2010 bao gồm: xác định quan điểm, mục đích và mục tiêu phát triên; các giải
pháp chủ yếu về cơ cấu KT, phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực và
các sản phẩm chủ lực, phương hướng phát triển theo lãnh thổ, các chương
trình phát triển, các dự án (DA) đầu tư Đề xuất cơ chế chính sách phát triển
chủ yếu
Cùng với yêu cầu chung nói trên, các tỉnh/TP đều phải thực hiện đồng
bộ cách tính toán xử lí số liệu thống nhất theo hệ thống bảng biểu nghiên cứu
lập qui hoạch thống nhất (21 bảng biểu)
Theo hướng dẫn nói trên hầu hết 63 tỉnh/TP đã hoàn thành việc lập qui
hạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2010 Tiến xa hơn nữa, đại bộ phận
các huyện/thị xã cùng hoàn thành lập qui hoach tổng thể phát triển KT-XH
đến năm 2020
Triển khai các bản qui hoạch trong cuộc sống, bộ mặt KT-XH các
tỉnh/TP đã có bước tiến đáng kể Bộ mặt KT tỉnh/TP thể hiện rõ nét hơn hẳn
KT vùng Phải chăng vì vậy, mà có ý kiến cho rằng ở việt Nam có nền KT
tỉnh mà chưa có nền KT vùng Tuy nhiên, bước đầu đã xuất hiện một số bất
cập: cơ cấu KT các tỉnh đơn điệu, thiếu bản sắc, có biểu hiện phân tán, dẫn tới
đầu tư dàn trải, kém hiệu quả
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tình hình nói trên cũng đúng với tỉnh Bắc Giang Sở KH&ĐT Bắc Giang đã hoàn thành qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH thời kì đến năm
2020 Trong đó xác định cơ cấu kinh tế, đầu tư, qui hoạch hai vùng phát triển phía Đông và phía Tây lấy quốc lộ 1 (QL 1) với TP Bắc Giang là tuyến phát triển động lực
Tuy nhiên, bộc lộ một số mặt yếu kém rõ rệt về năng lực cạnh tranh kinh tế câp tỉnh (PCI), năng lực hội nhập quốc tế (PCII), vấn đề môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường lưu vực sông, không rõ nét về định hình không gian hành lanh phát triển động lực theo QL 1 cũng như hành lanh nhánh triển theo QL 37 và QL 31 Do đó cơ cấu kinh tế chậm chyển dịch nhiều chỉ số phát triển như PCI, HĐI chỉ quanh quẩn trung bình khá, chưa có những bước tiến bứt phá như mong đợi
Nói tóm lại việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh bắc Giang vẫn
là vấn đề mở cần quan tâm làm rõ về lí luận cũng như thực tiễn
Trang 18Tiểu kết chương 1
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu
của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và
được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh
vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau Ở
Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian
KT-XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử dụng nhiều
hơn cả
Trong tranh luận về vai trò cấp tỉnh trong tổ chức lãnh thổ kinh tế đất
nước cũng có ý kiến khác nhau Một số cho rằng, cấp tỉnh quan trọng hơn là
cấp vùng Vấn đề là trong thực tiễn, cấp tỉnh là cấp hành chính - kinh tế có bộ
máy quản lí điều hành trong hệ thống 4 cấp kinh tế - hành chính của nhà nước
ta: Trung ương ↔ Tỉnh/TP ↔ Huyện ↔ Xã/Phường
Về khái niệm, bản chất, nguyên tắc, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng
đến tổ chức lãnh thổ kinh tế trong đó cũng chú ý đến các bước tiếp cận tổ
chức lãnh thổ kinh tế của Việt Nam; khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh
thổ kinh tế quan trọng được vận dụng từ trước đến nay
Kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn được vận dụng các lí luận trên
vào tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh, cụ thể là Bắc Giang phù hợp nhất để đạt
được sự phát triển tối ưu cho từng khu vực lãnh thổ, từng ngành công nghiệp -
nông nghiệp - dịch vụ, xây dựng các định hướng, các giải pháp phát triển, chú
2.1.1 Vị trí địa lí
Bắc Giang nằm ở toạ độ địa lí từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ Bắc; từ
105053’ đến 107002’ kinh độ Đông; là tỉnh miền núi có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và TP
Hà Nội, diện tích tự nhiên 3.827,38 km2; phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh
và phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và TP Hà Nội Đến nay, tỉnh Bắc Giang
có 9 huyện và 1 TP (TP Bắc Giang), trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn
So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang có vị trí địa lí tương đối thuận lợi do có một số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ) quan trọng của Quốc gia chạy qua TP Bắc Giang cách TP Hà Nội 50km tính theo đường ô tô, nằm trên QL 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn lên cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, nơi giao lưu buôn bán sầm uất hiện nay, là điều kiện quan trọng khi hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn -
Hà Nội - Hải Phòng đi vào hoạt động để phát triển sản xuất hàng hoá và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế QL 31 từ TP Bắc Giang đi các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Đình Lập gặp QL 4A (Lạng Sơn) đi ra cảng Mũi Chùa, Tiên Yên và nối với cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) QL 279 từ Hạ Mi (Sơn Động) đến Tân Sơn (Lục Ngạn) nối với QL 1A QL 37 từ Lục Nam đi Hòn Suy sang thị trấn Sao Đỏ (Hải Dương) gặp QL 18 có thể về cảng Hải Phòng hay ra cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
28
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010
Nguồn: Tác giả biên vẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tuyến đường sắt Lưu Xá - Kép - Hạ Long nối Thái Nguyên với Quảng Ninh, đi qua các huyện Yên Thế, Lạng Giang và Lục Nam Đường sông (có sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam) với tổng chiều dài qua tỉnh là 347km, trong đó chiều dài đang khai thác là 189km, tàu thuyền có thể
đi lại được quanh năm, đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển KT Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn cuả “Tam giác kinh tế phát triển”: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước (với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu của Trung ương), nơi tập trung đầu mối kinh
tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn về nông sản hàng hoá và các hàng tiêu dùng khác (Hình 2.1)
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
300 - 400m, độ dốc trung bình từ 20 - 300 thuận lợi cho phát triển cây ăn quả, đặc biệt là trồng vải, cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc
2.1.2.2 Điều kiện thời tiết khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc Việt Nam, Bắc Giang một năm có 4 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm,
Trang 20mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hoà Nhiệt độ bình quân năm khoảng 23 -
240C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 15 - 160C, tháng nóng nhất là
tháng 7 có nhiệt độ khoảng 29 - 300C Độ ẩm không khí trung bình trên
80% Lượng mưa: 1000 - 1500 mm/năm Lượng mưa trung bình những
năm gần đây của Bắc Giang có xu thế giảm dần Biến động về số giờ nắng
trong các năm là không nhiều (1392,4 giờ - năm 2006; 1496,4 giờ - năm
2009; 1247 giờ năm 2010) Chế độ chiếu sáng tương đối thuận lợi cho cây
trồng phát triển Bắc Giang chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè
và gió mùa Đông Bắc về mùa đông Ngoài ra, Bắc Giang còn chịu ảnh
hưởng của gió Tây Nam khô nóng (không nhiều) về mùa hè và gió mùa
Đông Bắc khô lạnh có năm có sương muối về mùa đông
2.1.2.3 Tài nguyên đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ lập địa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có
các loại đất chính sau: Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200 ha,
chiếm 0,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở độ cao > 700m thuộc 2 dãy An Châu,
Yên Tử Đất Feralit mùn trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha, chiếm 7,5% diện
tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam
Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện tích 76.400 ha chiếm
20% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động Đất
Feralit vùng đồi phát triển trên đá phiến thạch sét Diện tích 83.910 ha, chiếm
22% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn,
Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang Đất phù sa cổ: Diện tích 8.880 ha, chiếm
2,3% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Lục Nam và các
huyện vùng trung du Đất thung lũng dốc tụ: Diện tích 8.170 ha, chiếm 2,1%
diện tích tự nhiên Phân bố ở ven các sông, suối chính trong tỉnh Đất Feralit
biến đổi do trồng lúa: Diện tích 176.110 ha, chiếm 46% diện tích tự nhiên
Phân bố tập trung ở các huyện Việt Yên, Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Dũng,
Lạng Giang Đây là đối tượng chủ yếu để canh tác nông nghiệp
Nhìn chung, đất đai của tỉnh được hình thành chủ yếu trên các loại đá
mẹ sa thạch, phiến thạch và phù sa cổ Có tầng đất trung bình, đất nghèo dinh dưỡng, nhiều nơi khô cằn, khả năng giữ nước kém
Tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông - lâm nghiệp là trên 40 ngàn ha và gần 10 ngàn ha vườn gia đình có thể cải tạo thành vườn có giá trị kinh tế Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, nhất là các huyện miền núi, có thể nâng hệ số sử dụng đất lên Năng suất cây trồng, vật nuôi cũng còn tiềm ẩn khá, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản xuất, chế độ canh tác hợp lí thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất
là 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay
2.1.2.4 Tài nguyên nước và thủy văn
Trên lãnh thổ Bắc Giang có mật độ sông ngòi tương đối dày đặc trong
đó có 3 con sông lớn chảy qua (sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam) với tổng chiều dài là 347 km, lưu lượng lớn (7,5 triệu m3/năm) và có nước quanh năm Với hệ thống ao, hồ, đầm rải đều trên địa bàn của tỉnh, tổng lượng dòng chảy 3 sông lớn chảy qua tỉnh là những bể chứa nước quan trọng cho nền kinh
tế và nước sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra, mạch nước ngầm có ở nhiều nơi, tuỳ theo địa hình ở từng khu vực mà có độ nông sâu khác nhau, với trữ lượng
dự báo trên 900 nghìn m3/ngày đêm trong đó trữ lượng tĩnh gần 300 nghìn
m3/ngày đêm, nước mưa là 1.200 - 1.700 mm/năm
Các hồ, sông chính đã tạo cho hệ thống thuỷ lợi, đáp ứng đủ nước tưới phát triển nông nghiệp và nước sinh hoạt Về thuỷ điện có hồ Cấm Sơn kết hợp cung cấp nước cho nông nghiệp và phát điện
2.1.2.5 Tài nguyên rừng
Đến nay Bắc Giang có khoảng hơn 130.000 ha đất lâm nghiệp đã có rừng và gần 30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp Rừng của Bắc Giang có vị trí quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, môi
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trường sinh thái và đời sống nhân dân Hiện tỉnh đã thành lập 2 khu bảo tồn rừng
nguyên sinh là Khe Rỗ và Tây Yên Tử Rừng Bắc Giang nằm ở đầu nguồn các
hồ chứa nước lớn, có khả năng thu hút khách du lịch như hồ Cấm Sơn, Khuôn
Thần, Suối Mỡ… và là đầu nguồn của sông Thương, sông Lục Nam
2.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản tương đối đa dạng và phong phú gồm nhiều loại như:
Khoáng sản nhiên liệu phát hiện 18 mỏ - trong đó có 8 mỏ đã tính trữ lượng
đó là trữ lượng các loại than khoảng: 114 triệu tấn, bao gồm các loại than:
antraxit (Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam lớn nhất là mỏ than Đồng Rì-Sơn
Động), than gầy (Yên Thế), than bùn (Lục Nam, Việt Yên) Khoáng sản vật
liệu xây dựng phát hiện 24 mỏ gồm: Sét - gạch ngói 360 triệu m3 (Việt Yên,
Lạng Giang, Lục Nam, Yên Thế, Hiệp Hòa, Yên Dũng); cát - cuội - sỏi tiềm
năng không lớn (cát: 4.550.000 m3
, cuội-sỏi: 91.200.000 m3); ngoài ra có 1 số
mỏ sứ gốm, sét gốm, Khoáng chất công nghiệp: Đã phát hiện 5 mỏ: gồm 4
mỏ barit với trữ lượng khoảng 616 nghìn tấn, chất lượng tương đối tốt sử
dụng: sản xuất thuỷ tinh, hoá chất, dung dịch khoan; Ngoài ra, tỉnh đã phát
hiện được 1 điểm mỏ fenspat (huyện Hiệp Hoà) Khoáng sản kim loại phát
hiện có 16 mỏ và điểm quặng, trong đó có 6 mỏ được tính trữ lượng: Quặng
sắt (Yên Thế) khoảng 503 nghìn tấn; quặng đồng đã phát hiện được nhiều
điểm khoáng với trữ lượng dự báo khoảng 5,2 triệu tấn; 1 số điểm quặng chì -
kẽm, thuỷ ngân, vàng có 4 mỏ và điểm quặng chủ yếu ở huyện Lục Ngạn,
Yên Thế dự báo khoảng 734 kg (Bảng 2.1)
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.1 Dự kiến khai thác khoáng sản
Loại khoáng sản
Tổng sản lƣợng sản xuất
Khối lƣợng khoáng sản huy động vào khai thác
5 Than Bố Hạ 50.000 tấn/năm 4,0 triệu tấn Phát triển công
nghiệp địa phương
6 Than bùn 10.000 tấn/năm 0,6 triệu tấn
Phục vụ sản xuất phân vi sinh địa phương
7 Quặng sắt 50.000 tấn/năm 0,5 triệu tấn Phát triển công
nghiệp địa phương
8 Quặng đồng 20.000 tấn/năm 5,0 triệu tấn
Phát triển công nghiệp địa phương
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
2.1.2.7 Tài nguyên du lịch sinh thái - nhân văn
Tài nguyên du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Bắc Giang không nhiều,
hồ Cấm Sơn và một vài khu như Khuôn Thần (Lục Ngạn), Suối Mỡ (Lục Nam)
Trang 22Các khu di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám (Yên Thế), chùa La (Yên Dũng),
chùa Bổ Đà (Việt Yên), khu di tích đình chùa và cây Dã Hương ngàn năm
tuổi Tiên Lục Lạng Giang Ngoài ra, Bắc Giang còn có trên 500 lễ hội khác
nhau các lễ hội truyền thống, văn hoá dân gian, có thể khai thác để phát triển
du lịch
Tài nguyên du lịch tự nhiên kết hợp với nhân văn sẽ tạo ra nguồn lực
đáng kể để phát triển du lịch trong mối quan hệ liên doanh, liên kết với các
trung tâm du lịch lớn của Đồng bằng sông Hồng và cả nước
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Dân cư, nguồn lao động
* Qui mô dân số: Bắc Giang là tỉnh có diện tích trung bình so với cả
nước (1,16%) nhưng lại là một tỉnh có dân số khá đông, năm 2010 là
1.567.557 người, chiếm 2,14% dân số cả nước Mặc dù gia tăng tự nhiên hiện
nay đang giảm nhưng dân số của tỉnh vẫn tăng lên, điều đó cũng gây ra một
số khó khăn trong quá trình phát triển KT của tỉnh (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2005 - 2010
Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Giang 2010
Hiện nay gia tăng tự nhiên của tỉnh ở mức thấp so với cả nước,
nhưng theo như dự báo thì dân số Bắc Giang sẽ có sự gia tăng nhanh hơn
trong những năm tới: cụ thể tới năm 2020 sẽ là 1.846.800 người
* Cơ cấu dân số, chất lƣợng dân cƣ và nguồn lao động
Kết quả dự báo cho thấy trong giai đoạn từ năm 2006 - 2020 dân số
Bắc Giang bước vào “thời kỳ dân số vàng” với cơ cấu dân số là: Trong tuổi
lao động (nam 15 - 60, nữ từ 15 - 55 tuổi) chiếm tới 62,5% năm 2010 và 63,3% vào năm 2020 Dân số dưới tuổi lao động (từ 0 - 14 tuổi) giảm mạnh, từ 28,4% vào năm 2005 xuống còn khoảng 26,5% vào năm 2010 và 23,7% vào năm 2020 Dân số trên tuổi lao động (nam trên 60 tuổi, nữ trên
55 tuổi) có xu hướng tăng mạnh, năm 2010 khoảng 11,0% và năm 2020 vào khoảng 13,0%
“Thời kỳ dân số vàng” sẽ đưa đến cho Bắc Giang một thách thức lớn về tạo công ăn việc làm cho dân số trong độ tuổi lao động, tuy nhiên đây là một
cơ hội thuận lợi cho tỉnh về nguồn lao động mà nếu phát huy tốt sẽ là một nguồn lực quan trọng đối với tỉnh Bắc Giang trong thời kỳ CNH - HĐH Chất lượng nguồn lao động của tỉnh nhìn chung còn thấp Vì vậy công tác đào tạo, dạy nghề đã được các cấp, các ngành quan tâm Các trường, lớp, các trung tâm dạy nghề phát triển dưới nhiều hình thức, các lớp dạy nghề ngắn hạn phát triển mạnh Số lao động được đào tạo nghề bình quân hàng năm từ 10.000 - 12.000 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 15% năm 2000 đến 33% năm 2010 trong tổng số lao động toàn tỉnh (trong đó
đào tạo nghề chiếm phân nửa)
* Phân bố dân cƣ
Dân số tỉnh Bắc Giang phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các huyện Hiệp Hoà (13,6%), huyện Lục Nam (13,1%), huyện Lục Ngạn (12,9%) và tập trung ít hơn cả là các huyện Sơn Động (4,5%), huyện Yên Thế (5,9%), TP Bắc Giang (6,6%) so với dân số toàn tỉnh Điều đó ảnh hưởng tới việc sử dụng nguồn lao động tại chỗ của mỗi địa phương trong việc phát triển
KT và ảnh hưởng tới việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của mỗi địa phương nói riêng và của cả tỉnh nói chung Giữa thành thị và nông thôn cũng có sự phân bố rất không đồng đều Tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn năm 2010 còn rất lớn là 90,37% tổng số dân Điều đó nói lên Bắc Giang có tỷ
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
lệ đô thị hóa thấp, ngành kinh tế chính vẫn là nông nghiệp, nông thôn, quá
trình chuyển dịch cơ cấu KT chậm
2.1.3.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng
* Mạng lưới giao thông vận tải
a Mạng lưới đường bộ: Gồm hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh,
đường huyện, đường đô thị, đường xã và đường thôn xóm với tổng chiều dài
8.222,4 km, trong đó: Quốc lộ: gồm 5 tuyến dài 277,5km (QL 1A cũ và QL
1A mới, QL 31, QL 37, QL 279) Tỉnh lộ: gồm 18 tuyến với tổng chiều dài
390km Huyện lộ: có 54 tuyến với tổng chiều dài 562,4km Đường đô thị: có
tổng chiều dài đường nội thành là 32,5km, toàn bộ đã được đầu tư trải nhựa
hoàn chỉnh, với mật độ bình quân 1,75km/km2 Đường liên xã có tổng chiều
dài 2.190,8km
Nhìn chung, về mạng lưới đường bộ trong tỉnh phân bố khá đều với
mật độ cao là 0,3 km/km2 trên cả 3 vùng đồng bằng, trung du, miền núi Mạng
lưới giao thông này đã tạo thuận lợi cho tỉnh trong việc giao lưu với các tỉnh
xung quanh, nối liền trung tâm của tỉnh với trung tâm các huyện và trung tâm
các xã Về chất lượng đường sá, nhìn chung còn thấp, còn nhiều tuyến chưa
được nâng cấp trải nhựa, đặc biệt là những tuyến nằm ở miền núi, trung du và
các tuyến liên huyện, liên xã
b Mạng lưới đường sông: Trên địa bàn tỉnh có 3 dòng sông chảy qua:
Sông Thương, Sông Cầu, Sông Lục Nam với tổng chiều dài 347km (hiện đang
khai thác vận tải 187km): Sông Thương: Đoạn chảy qua Bắc Giang dài 87km,
trong đó đoạn khai thác vận tải dài 63km Sông Lục Nam: Đoạn chảy qua Bắc
Giang dài 150km, trong đó đoạn khai thác vận tải dài 30km Sông Cầu: Đoạn
chảy qua Bắc Giang 110km, trong đó đoạn khai thác vận tải dài 85km
Hiện tại, Bắc Giang có 3 hệ thống cảng là cảng Trung ương, cảng
chuyên dùng và cảng địa phương Thuộc diện cảng trung ương quản lí có
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cảng Á Lữ: Nằm trên địa bàn TP Bắc Giang, diện tích 2 ha, có 1 kho với diện tích 4.440m2, một bãi chứa than, năng lực bốc xếp 150.000 tấn đến 200.000 tấn Cảng chuyên dùng có cảng của Cty Đạm và Hoá chất Hà Bắc, năng lực bốc xếp 70.000 tấn - 100.000 tấn và cảng xăng dầu của Tổng công ty xăng dầu quản lí sử dụng Cảng địa phương: Là các bến bãi tự nhiên để phục vụ xếp dỡ hàng hoá bao gồm cảng: Lục Nam, Đình Kim, Bến Tuần, Bến Nhãn, Đông Xuyên đây là cảng tự nhiên, không có phương tiện bốc xếp, năng lực thông qua nhỏ từ 3.000 tấn - 5.000 tấn
c Mạng lưới đường sắt: Có 3 tuyến đường sắt chạy qua với tổng chiều
dài 87km, gồm: Tuyến Hà Nội - Đồng Đăng: Đoạn qua Bắc Giang dài 36km,
có 4 ga và đây là tuyến đường sắt liên vận Quốc tế Tuyến Kép - Hạ Long: Đoạn qua Bắc Giang dài 28km bao gồm 5 ga, kể cả ga Kép Tuyến Kép - Lưu Xá: Đoạn qua Bắc Giang dài 23km và có 2 ga
* Mạng lưới điện
Bắc Giang là tỉnh có hệ thống lưới điện đang trên đà phát triển gắn với
sự phát triển của hệ thống lưới điện toàn quốc Tổng điện năng thương phẩm năm 2010 đạt 1.101 triệu kwh (dự kiến 2015 là 1.967 triệu kwh), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,1% năm Nguồn điện cung cấp cho tỉnh Bắc Giang hiện nay được lấy từ lưới điện quốc gia thông qua các đường dây tải điện 220KV và 110KV là tuyến Phả Lại - Bắc Giang và tuyến Đông Anh - Bắc Giang, bên cạnh đó còn được bổ sung thêm từ Nhà máy Đạm Hà Bắc và thuỷ điện Cấm Sơn, tuy nhiên công suất không đáng kể
2.1.3.3 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
* Trong ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành KT quan trọng của tỉnh, với số lao động làm việc lớn và cũng làm ra khối lượng của cải vật chất lớn Cả tỉnh
có 708 công trình tưới với tổng công suất tưới cho 98.296 ha, thực tế tưới
Trang 24được 61.145 ha; 215 công trình thuỷ nông với công suất tưới thiết kế là 5.808
ha, thực tế tưới được 4.868 ha; có 43 công trình trạm bơm tiêu các loại; hệ
thống đê chống lũ thường xuyên được nâng cấp
Bên cạnh đó tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích
người dân mua máy nông cụ phục vụ cơ giới hoá ngành NN nên toàn tỉnh đã
có tới hàng nghìn máy các loại Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm,
chuyển giao công nghệ, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất NN
được tiến hành nhanh chóng và có hiệu quả cao
* Trong ngành công nghiệp
Công nghiệp là ngành mà tỉnh đang tập trung đầu tư phát triển để đạt
được các mục tiêu về KT-XH đã đề ra và để sớm trở thành một tỉnh CN vào
năm 2020 Năm 2010 toàn tỉnh có 16.832 cơ sở sản xuất CN, trong đó thuộc
thành phần KT trong nước có 16.784 cơ sở, còn lại là của khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài Lĩnh vực KT cá thể có số cơ sở sản xuất CN lớn nhất lên tới
16.398 cơ sở, còn lại của Nhà nước quản lí là ít nhất, chỉ có 6 cơ sở chia ra 2
do địa phương quản lí và 4 do trung ương quản lí
Năm 2010, tỉnh đã hình thành được 8 KCN, nhiều cụm CN tập trung
với quy mô 1.226,8 ha, một số dự án CN lớn đã đi vào hoạt động KCN
Đình Trám, Song Khê - Nội Hoàng và các nhà máy trong các khu, CCN có
đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự tăng trưởng CN của tỉnh với giá trị sản
xuất ước đạt trên 1.000 tỷ đồng Các huyện, TP đã hình thành được trên 30
CCN, nhiều điểm CN, với tổng diện tích 351,8 ha
Trong các khu, cụm, điểm CN đã được xây dựng, đã đưa các dây
truyền sản xuất với CN tiên tiến, hiện đại vào sản xuất…Tỉnh đang cố gắng
kiện toàn hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành để thu hút ngày càng
nhiều hơn đầu tư từ bên ngoài
* Trong ngành dịch vụ
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong ngành DV bao gồm có: thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, tài chính tín dụng… đang được đầu tư hiện đại nâng cao năng lực phục vụ của mỗi ngành Năm 2010 cả tỉnh có 6 khách sạn 2 sao, trên 4000 nhà hàng, khách sạn
cơ sở ăn uống từ bình dân đến cao cấp; trong ngành vận tải có trên 2.000 ô tô chở hàng và trên 1.500 ô tô chở khách; trong ngành bưu chính viễn thông có 2 bưu cục trung tâm, trên 60 tổng đài điện thoại; trong hoạt động thương mại đã xây dựng được một số siêu thị và trung tâm mua sắm lớn, nâng cấp và xây mới thêm nhiều chợ trung tâm…nên ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân
2.1.3.4 Nhân tố thị trường tiêu thụ
Trong nước: Việt Nam là nước có dân số đông, nền KT đang trên đà
phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Đây là một thị trường tiêu thụ rộng lớn và quan trọng cho các nhà sản xuất của Bắc Giang Đặc biệt hiện nay nước ta đã là thành viên của WTO, AFTA và thành viên của nhiều tổ chức khác nên thị trường trong nước ngày càng rộng mở hơn và tạo cơ hội nhiều hơn cho các nhà sản xuất
Quốc tế và khu vực: Nền kinh tế thế giới hiện nay đang được phát
triển theo xu thế toàn cầu hoá vì vậy thị trường hàng hoá ngày nay không còn
bị hạn chế nhiều về ranh giới lãnh thổ, chính trị, tôn giáo, văn hoá… giữa các nước mà hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động ngoại giao, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm đưa vào lưu thông Các sản phẩm đưa vào lưu thông trong thị trường có tính cạnh tranh cao là những sản phẩm độc đáo, có lợi thế so sánh về nguồn gốc và kỹ thuật, có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lí
và cách chăm sóc, phục vụ khách hàng của nhà cung cấp tốt
Hàng hoá tiêu thụ trên thị trường thế giới hiện nay không còn đơn thuần là các sản phẩm vật chất mà nó đã đa dạng hơn, bao gồm: các sản phẩm
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phi vật chất, các loại dịch vụ như chất xám, thông tin, lao động và các sản
phẩm này ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong các hoạt động giao dịch đem lại giá
trị lợi nhuận cao cho mỗi quốc gia Vì vậy, để xâm nhập được vào thị trường
thế giới rộng lớn đòi hỏi các nhà sản xuất và các nhà lãnh đạo của tỉnh phải
thích nghi, linh hoạt và có các chiến lược trong sản xuất, kinh doanh cũng như
trong hoạt động ngoại giao, hợp tác làm ăn
2.1.3.5 Vốn đầu tư
Năm 2010 tỉnh nhận được số vốn đầu tư là: 8.829.151 triệu đồng Khu
vực KT ngoài Nhà nước nhận được số vốn đầu tư lớn nhất là 5.472.000 triệu
đồng năm 2010 chiếm 62% tổng vốn đầu tư vào các khu vực KT của tỉnh
Khu vực KT Nhà nước nhận được số vốn đầu tư năm 2010 là 2.154.351 triệu
đồng chiếm 24,4%, đứng thứ hai trong tổng vốn đầu tư Đặc biệt, khu vực đầu
tư trực tiếp nước ngoài nhận được số vốn đầu tư lên tới 1.202.800 triệu đồng
năm 2010 chiếm 13,6% tổng số vốn đầu tư (Bảng 2.3)
Bảng 2 3 Vốn đầu tƣ thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang, 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Các nguồn vốn này đã góp phần làm cải thiện, thay đổi bộ mặt KT của nhiều địa phương, làm cho các địa phương này có điều kiện phát huy được hết các nguồn lực sẵn có để phát triển KT-XH và cải thiện đời sống người dân
2.1.4 Đánh giá chung 2.1.4.1 Thuận lợi
Bắc Giang có vị trí địa lí thuận lợi, là cơ sở để Bắc Giang sử dụng được hết những nguồn lực của mình trong phát triển KT để đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH
Địa hình, khí hậu và đất thuận lợi để trồng cây ăn quả và phát triển lâm nghiệp giá trị KT, đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của thị trường Đặc biệt tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng
có khả năng sản xuất nông, lâm nghiệp là trên 40 nghìn ha, và gần 10 nghìn
ha vườn gia đình có thể cải tạo thành vườn có giá trị KT Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, nhất là các huyện miền núi, có thể nâng hệ số sử dụng đất lên, năng suất cây trồng vật nuôi cũng còn tiềm ẩn khá, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản xuất, chế độ canh tác hợp lí thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất từ 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay
Nguồn nước, hiện có đủ khả năng cung cấp cho các ngành KT cũng như nước sinh hoạt thường xuyên cho nhân dân trong tỉnh một cách chủ động
Về khoáng sản, có tới 63 mỏ và điểm mỏ đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh là cơ sở để phát triển các ngành CN, điểm CN, CCN, KCN, Bắc Giang có lợi thế lớn về tài nguyên du lịch nhân văn với 1.316 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 265 di tích được xếp hạng, rất hấp dẫn khách
du lịch đến thăm quan, nghiên cứu Và có tới trên 500 lễ hội khác nhau, gồm các lễ hội truyền thống, lễ hội văn hoá dân gian các dân tộc đều có thể khai thác để phát triển du lịch
Bắc Giang là tỉnh có dân số đông và hiện nay được đánh giá là “thời kỳ dân số vàng” với cơ cấu dân số theo nhóm tuổi đang có sự thay đổi tích cực,
Trang 26đó là điều kiện thuận lợi để tỉnh sử dụng nguồn lao động đông đảo, đang có
trình độ ngày càng cao này vào việc khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế
Nó cũng là thị trường rộng, tiêu thụ ngay chính những sản phẩm được làm ra
trong tỉnh, góp phần thúc đẩy sản xuất trong tỉnh
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng ngày càng được chú ý đầu tư,
nâng cấp hiện đại Hiện nay đang đủ sức đáp ứng được những yêu cầu phát
triển của nền KT hiện tại của tỉnh và cũng đang góp phần thu hút được thêm
nhiều đầu tư từ bên ngoài để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển KT
Bắc Giang đã và đang đưa ra những chính sách phát triển kinh tế thích
hợp với mục đích đặt ra là đưa Bắc Giang ngày càng phát triển nhanh hơn,
mạnh hơn trong thời kỳ CNH - HĐH
2.1.4.2 Khó khăn
Bắc Giang có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng chịu ảnh hưởng của
gió Tây khô nóng và gió mùa Đông Bắc khô lạnh, có năm còn kèm theo
sương muối, sương giá nên ảnh hưởng tới việc tăng năng suất cây trồng vật
nuôi Tại một số huyện miền núi Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn đôi khi xẩy
ra hiện tượng lốc cục bộ và mưa đá vào mùa hè nên gây thiệt hại lớn cho sản
xuất NN, cho sinh hoạt cũng như tính mạng của người dân
Đất có độ dày trung bình, nghèo dinh dưỡng, nhiều nơi khô cằn, khả năng
giữ nước kém gây khó khăn trong canh tác, trong việc tăng năng suất cây trồng
Số lượng các mỏ khoáng sản đã được thăm dò không đáng kể, chỉ là 12
mỏ, còn lại mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát, tìm kiếm Số lượng các mỏ
lớn không đáng kể chỉ là 10 mỏ, khoáng sản chủ yếu là vật liệu xây dựng (cát,
sỏi, sét gạch ngói), khoáng sản nhiên liệu Điều đó gây khó khăn tới việc phát
triển một ngành CN hiện đại, đa dạng về cơ cấu ngành và có quy mô lớn
Các địa điểm du lịch của tỉnh nằm rải rác, độc lập, cách xa nhau và lại
không có sự kết hợp với các hoạt động khác như giao thông, như mua sắm,
như nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi giải trí…nên không tạo được sự phát triển
tổng hợp gồm du lịch và các dịch vụ du lịch
Dân số đông đã gây ra một sức ép lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cần giải quyết như việc làm, chất lượng cuộc sống, môi trường… làm chậm phát triển KTXH của tỉnh Hiện nay, đa số người dân trong tỉnh có trình độ tay nghề còn thấp và làm việc trong ngành NN là chủ yếu nên gây khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu ngành KT, trong cơ cấu lao động và trong thời kỳ thực hiện CNH - HĐH
Bắc Giang có quy mô nền KT nhỏ chưa tạo ra được nguồn lực mạnh để
có bước đột phá đi lên Xét một cách tổng thể, mặc dù có rất nhiều nỗ lực, nhưng đến nay điểm xuất phát của nền KT Bắc Giang vẫn còn khá thấp so với mặt bằng chung của cả nước (năm 2010 đóng góp được 0,95% trong cơ cấu GDP của cả nước, CN chiếm 0,08%), nền KT phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh
2.2 HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG 2.2.1 Khái quát chung sự phát triển kinh tế Bắc Giang
2.2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh giai đoạn 2000 - 2010
Quy mô nền KT ngày càng được mở rộng với quy mô của năm sau luôn lớn hơn năm trước (Hình 2.2)
5.536 7.565 8.861 10.549 13.496 15.451
2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010
0,0 2,0 4,0 6,0 8,0 10,0 12,0
GDP (tỉ đồng) Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
Hình 2.2 Tăng trưởng kinh tế Bắc Giang qua các năm
Nguồn: Biên vẽ từ niên giám thông kê tỉnh Bắc Giang 2010
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bắc Giang có tốc độ phát triển KT nhanh và cao hơn trung bình cả
nước, năm 2000 là 6,9% trong khi cả nước là 6,8% và đến năm 2010 có tốc
độ đạt tới 9,3%, (thậm chí năm 2007 lên tới 10,2%) còn trung bình cả nước
chỉ đạt 6,2% Điều đó góp phần quan trọng vào việc gia tăng và mở rộng
quy mô nền KT Bắc Giang
2.2.1.2 Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh có nguồn lao động đông nhưng tỷ lệ lao động làm
trong ngành NN lại lớn nên năng suất lao động không cao, cộng với tỉnh có
dân số đông, điều đó đã làm cho thu nhập bình quân đầu người của tỉnh không
cao mặc dù có tốc độ tăng trưởng GDP cao (Hình 2.3)
2,3
6,5 7,6 9,9 12,1
Hình 2.3 GDP/người của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010
Nguồn: Xử lí số liệu từ niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
GDP/người của Bắc Giang đang tăng dần lên với tốc độ nhanh qua các
năm Năm 2000 mỗi lao động chỉ có thu nhập là 2,3 triệu đồng và đến năm
2010 là 12,1 triệu đồng tăng gấp 5,3 lần nhưng so với trung bình cả nước vẫn
thấp hơn nhiều (năm 2010 chỉ bằng khoảng 1/2)
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2.1.3 Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu các ngành KT của Bắc Giang đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng của ngành nông, lâm, ngư nghiệp; tăng tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có tỷ trọng khá cao nhưng chưa ổn định Năm 2010: Nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 32,5%, công nghiệp-xây dựng 33,5%, dịch vụ là 34%.(Hình 2.4)
33,5 14,7
34 35,5
0%
50%
100%
Nông-lâm-ngư nghiệp Công nghiêp-xây dựng Dịch vụ
Hinh 2.4 Cơ cấu GDP phân theo các ngành kinh tế 2000 - 2010
Nguồn: Biên vẽ từ niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
2.2.2 Tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang
2.2.2.1 Tổ chức lãnh thổ nông - lâm - ngư nghiệp
a Khái quát về ngành nông - lâm - nghiệp
* Quy mô và tốc độ tăng trưởng: Nông - lâm - ngư nghiệp là ngành
kinh tế quan trọng của tỉnh, tạo công ăn việc làm cho 72,7% dân số và đóng góp 32,5% trong cơ cấu GDP toàn tỉnh năm 2010, là ngành có số lao động lớn nhất và đóng góp cao nhất trong nền kinh tế
Trang 28Hình 2.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành nông-lâm-ngư nghiệp của
Bắc Giang (theo giá cố định 1994) 2000 - 2010
Nguồn: Biên vẽ từ niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
Về giá trị sản xuất của ngành có sự tăng lên liên tục Trong đó ngành
mỗi ngành KT lại có sự tăng giảm và có sự thay đổi tỷ trọng trong cơ cấu
GDP là khác nhau:
Trong ngành nông nghiệp: Ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng cao
nhất mặc dù đang có xu hướng giảm dần từ 65,2% năm 2000 xuống còn 48%
năm 2010; ngành chăn nuôi đứng ở vị trí thứ hai và đang có xu hướng tăng
dần lên từ 31,0% năm 2000 lên 48,8% năm 2010; chiếm tỷ trọng nhỏ nhất là
ngành dịch vụ chỉ có 3,8% năm 2000 đến năm 2010 là 3,2%
Ngành trồng trọt: Điều kiện tự nhiên của tỉnh cho phép trồng được
nhiều loại cây gồm cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm, cây ăn quả và đem lại hiệu quả KT khá cao Tổng diện tích các loại cây
trồng vẫn đang có xu hướng tăng lên từ 213.358 ha năm 2000 lên tới 228.047
ha năm 2010, tăng thêm 14.689 ha và giá trị sản xuất cũng tăng từ 1.585.319 triệu đồng lên tới 5.531.000 triệu đồng, tăng thêm được 3.945.681 triệu đồng
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo giá thực tế phân
theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 - 2010
Đơn vị: Triệu đồng
Trong đó Lương
Cây CN hàng năm
Cây CN lâu năm
Cây ăn quả
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
Ngành chăn nuôi: Có những bước phát triển vượt bậc và đang chiếm
một vai trò quan trọng trong ngành NN cũng như trong nền KT của tỉnh Năm
2000 ngành có giá trị sản xuất là 752.862 triệu đồng đóng góp 32,4% trong cơ cấu ngành NN, từ đó giá trị sản xuất cũng liên tục được tăng lên và đến năm
2010 làm ra 5.621 tỷ đồng đóng góp 48,8% trong cơ cấu NN Vật nuôi được tỉnh tập trung vào là trâu, bò, lợn và các loại gia cầm (ngoài ra tỉnh cũng nuôi
dê, ngựa); nhìn chung số lượng các loại vật nuôi đều tăng qua các năm
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.5 Đàn gia súc, gia cầm phân theo thành phố và các huyện năm 2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2010
Ngành lâm nghiệp: Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, diện tích đất có
rừng có thể đạt tới 149,5 nghìn ha, trong đó rừng phòng hộ 45,1 nghìn ha,
rừng đặc dụng ổn định 15,4 nghìn ha, và rừng sản xuất khoảng 89 nghìn ha
Rừng sản xuất có thể tăng thêm nếu như đầu ra của rừng thuận lợi, điều kiện
để tăng thêm diện tích rừng sản xuất là chuyển một số diện tích rừng đặc dụng
và phòng hộ, vườn tạp, vườn cây ăn quả trên đất lâm nghiệp hiệu quả thấp
sang trồng rừng sản xuất
Hiện nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao quyền sử dụng là
146.741 ha, chiếm 89% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Trong đó các lâm
trường, Ban quản lý dự án phòng hộ hồ Cấm Sơn, Ban quản lý dự án bảo tồn
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thiên nhiên Tây Yên Tử quản lý 73.300 ha còn lại nhân dân và các tổ chức khác quản lý 73.441 ha Diện tích đất lâm nghiệp đã giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trên 50 nghìn hộ với diện tích 55.645 ha Số còn lại gần 19 nghìn ha đã giao cho trên 2.000 hộ nhưng chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đã khoán bảo vệ rừng được 44.335 ha rừng cho 7.708 hộ
Từ kết quả trên, Bắc Giang được đánh giá là địa phương triển khai, tổ chức thực hiện công tác giao đất, khoán rừng và khai thác tiềm năng đất trống đồi núi trọc khá và có hiệu quả so với cả nước
Ngành ngƣ nghiệp: Với khoảng trên 13 nghìn ha diện tích mặt nước
có thể nuôi trồng thuỷ sản được, bao gồm diện tích ao hồ nhỏ 3.103 ha, diện tích mặt nước lớn 4.973 ha, diện tích ruộng trũng có khả năng nuôi cá 5.041
ha, Bắc Giang là tỉnh miền núi nhưng lại có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản khá lớn
Trong những năm qua phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh
cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở giá trị sản xuất năm 2000 đạt được 68.617 triệu đồng nhưng đến năm 2010 đã là 442.826 triệu đồng, tăng gấp 3,4 lần Năm 2010 sản lượng đạt 22.178 tấn, tăng 16.128 tấn so với năm 2000 (6050 tấn)
Hiện nay hoạt động nuôi trồng đang được đầu tư phát triển mạnh, tỉnh
đã có chính sách chuyển những diện tích đất sản xuất nông nghiệp không hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản, tiến hành nuôi trong các lồng, bè trên sông suối,
hồ lớn Hình thức nuôi cũng được chuyển từ nuôi thả sang nuôi bán CN và nuôi CN, đối tượng vật nuôi chủ yếu là cá và tôm Những địa phương có sản lượng thuỷ sản lớn là huyện Yên Dũng 2.654 tấn, Việt Yên 2.312 tấn, Lục Nam 2.200 tấn và Tân Yên là 2909 tấn
Trang 30b Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
* Kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn xã hội,
phát triển KT nông nghiệp, nông thôn là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn
tại và thúc đẩy nông thôn quá độ tiến lên một trình độ cao hơn: Nông thôn sản
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang 2009
Trong nông thôn, hộ nông dân được chia làm 8 loại hộ chính (đó là hộ
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, CN - TTCN, xây dựng, thương nghiệp,
vận tải, DV) Theo số liệu của Cục thống kê Bắc Giang năm 2006, tổng số hộ
ở khu vực nông thôn, NN là 349.793 hộ tăng 4,32% so với năm 2001 Năm
2009 có 370.548 hộ gia đình chiếm trên 90% tổng số hộ
Trung bình 1 hộ làm nông nghiệp thuần nông, cây lúa là chủ yếu, diện
tích cấy 2 vụ là 14 sào thì lợi nhuận thu được của cả năm là
900.000-1.100.000 đồng Nhờ có sự khuyến khích của tỉnh ủy, UBND kinh tế hộ phát
triển, nhờ vậy mà hàng vạn hộ nông dân đã thay đổi lại cơ cấu cây trồng, vật
nuôi đem lại hiệu quả KT cao Hàng năm có hơn 100 nghìn hộ nông dân sản
xuất kinh doanh giỏi, nhiều hộ thu nhập 200-500 triệu đồng/năm Nhờ đó, tỷ
lệ hộ nghèo (theo tiêu chí cũ) đã giảm mạnh, năm 2001 là 18,3%, đến năm
2005 chỉ còn 6,8% Theo tiêu chí mới, tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 là 30,6% thì
năm 2010 còn 9,78%
Tuy nhiên, bên cạnh đó vấn đề phát triển kinh tế hộ vẫn còn gặp phải một số khó khăn Diện tích đất nông nghiệp bình quân/lao động nông nghiệp thấp (2400 m2/lao động); đất sản xuất NN còn phân tán, sau dồn điền đổi thửa, tổng số thửa trên toàn tỉnh đã giảm được 1,9 lần nhưng vẫn còn 5 - 6 thửa/hộ Đây là cản trở lớn cho việc sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh cơ giới hóa cũng như đưa thành tựu khoa học vào sản xuất
Vùng sản xuất hàng hóa còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có khối lượng hàng hóa tập trung (trừ vải thiều) Sức cạnh tranh sản phẩm NN hàng hóa thấp, một số sản phẩm hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ, tình trạng được mùa mất giá ở một số sản phẩm NN (điển hình với quả vải) thường xảy ra Hiện nay đã xây dựng được một số mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh
tế cao (mô hình xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, mô hình hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm), song việc tổ chức phát triển nhân rộng các mô hình còn chậm và chưa phát triển rộng khắp
* Kinh tế trang trại
Năm 2010 toàn tỉnh hiện có: 2.369 trang trại (trong đó trang trại cây ăn quả 973 - chiếm 41,1%, trang trại chăn nuôi 635 - chiếm 26,8%, trang trại thuỷ sản 145 - chiếm 6,1%, trang trại trồng cây hàng năm 1 - 0,04%, còn lại là trang trại lâm nghiệp và hỗn hợp) Qua điều tra các vùng cho thấy chỉ có 20%
số trang trại xây dựng phương án sản xuất đều là trang trại chăn nuôi, thuỷ sản; Trang trại có 3 chức danh (quản lí, kỹ thuật, kế toán) có 6%; 2 chức danh (quản lí, kỹ thuật) có 24%
Việc sử dụng lao động trong trang trại còn chưa thoả đáng như chưa có
hợp đồng lao động, mức thù lao thấp, nên lao động làm thuê trong trang trại chủ yếu là lao động phổ thông (Thu nhập bình quân của lao động làm thuê thường xuyên trong trang trại từ 800000 - 1200000 đồng, ngoài ra không có
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chế độ gì khác; lao động thời vụ tính theo ngày làm việc trả từ 40 - 60 nghìn
đồng/công lao động)
Về tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm của trang trại sản xuất ra ngày càng
lớn và đa dạng song việc tiêu thụ chủ yếu ở dạng thô chưa qua chế biến; chủ
trang trại tự tìm đầu ra cho sản phẩm; trang trại chưa liên kết được với doanh
nghiệp trên địa bàn Theo số liệu điều tra của Chi cục Phát triển nông thôn,
đối tác tiêu thụ sản phẩm của trang trại chủ yếu qua người thu gom (94%),
qua đại lí là 4%, trực tiếp cho người tiêu dùng là 4%, qua nhà máy chỉ có 2%
* Kinh tế hợp tác xã
Tính đến 15/6/2009 toàn tỉnh có 215 hợp tác xã (tăng 37 hợp tác xã so
với năm 2005), số lượng hợp tác xã tăng bình quân hàng năm đạt 6,0% Hiện
có 78.915 xã viên trên tổng số 215 hợp tác xã, trong đó xã viên là người lao
động 1.124 xã viên chiếm 1,42%, xã viên là hộ gia đình 77.791 hộ chiếm
98,58% (số xã viên tăng 2.104 xã viên so với 2005)
Tuy nhiên, hạn chế của các hợp tác xã là chưa tìm kiếm được thị trường
đầu ra ổn định, hợp đồng kinh tế đối với các tư thương, nhà máy tiêu thụ sản
phẩm còn lỏng lẻo, thiếu chắc chắn do đó các hoạt động chỉ mang tính thời
vụ, chưa thực sự tạo sự tin tưởng cho xã viên yên tâm sản xuất
* Doanh nghiệp nông nghiệp
Theo số liệu thống kê của Sở KH&ĐT Bắc Giang, hiện nay trên địa
bàn tỉnh có 5 doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực NN với số vốn
đầu tư lên tới 240 tỷ đồng và thu nhập bình quân của người lao động đạt trên
1,5 triệu đồng/tháng Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp còn có tư tưởng trông
chờ, ỷ lại, việc cung ứng vật tư nhiều lúc còn chưa đúng lúc, việc thăm dò thị
trường và tìm đầu ra cho sản phẩm còn chưa kịp thời nên gây ra nhiều tổn thất
cho người nông dân
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguyên nhân chủ yếu do đặc điểm sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực
NN chịu nhiều rủi ro, nhất là phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thị trường
Vì thế, đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn thấp so với các lĩnh vực khác (tổng vốn đầu tư của 138 doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới đạt 17 tỷ đồng, trung bình khoảng 120 triệu đồng/doanh nghiệp) Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác: do quay vòng vốn chậm, theo chu kỳ cây trồng, vật nuôi nên hiệu suất sử dụng vốn không cao; trình độ quản lí chuyên môn còn yếu kém Hơn nữa hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, yêu cầu phải sử dụng nhiều diện tích đất đai, trong khi đất đai tại các địa phương đã được giao cho các hộ dân sử dân sử dụng ổn định lâu dài, nên doanh nghiệp không có diện tích đất
để phát triển và mở rộng quy mô sản xuất
c Sự phân hóa theo các tiểu vùng nông nghiệp sinh thái
Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH đã dẫn đến sự phân hóa lãnh thổ trong sản xuất NN trên địa bàn tỉnh, hình thành nên các tiểu vùng trong NN Dựa vào tiềm năng và lợi thế riêng, mỗi vùng hình thành nên
cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất
* Tiểu vùng phía Đông: Tiểu vùng này bao gồm các huyện: Sơn Động,
Lục Nam, Lục Ngạn Đây là những huyện miền núi và vùng cao của tỉnh Tiểu vùng này chiếm tới 64,1% về diện tích và 30,4% về dân số toàn tỉnh Mật độ dân số đạt 194 người/km2 (chỉ bằng gần 1/2 mật độ dân số toàn tỉnh) Đây là vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, là phần lãnh thổ Bắc Giang tiếp giáp với dãy núi cao Yên Tử (Quảng Ninh) và Lạng Sơn Độ cao trung bình khoảng 300 - 400 m, cao nhất là đỉnh Yên Tử (1086 m), độ dốc phần lớn trên 250 Đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng, đất có thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp, tầng đất dày từ 1,5 - 2,0 m Do địa hình dốc nên đất dễ bị xói mòn nếu thảm thực vật bị phá hủy Đặc điểm của vùng này là khí hậu