Đại hội lần thứ VII của Đảng đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền, quyền lợi quốc gia trên biển của nước ta đến năm 2000 là: “Từng bước khai th
Trang 1TIẾP CẬN CẠNH TRANH TRONG XÂY DỰNG QUY HOẠCH
VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM
TS Nguyễn Ngọc Hiếu Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn Tóm tắt: Bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng sâu sắc tới sự chọn lựa chiến lược phát
triển, bao gồm cả quy hoạch, đầu tư và tổ chức định cư của mỗi đô thị hay vùng định cư Bài vết này thảo luận về việc đối mặt với vấn đề cạnh tranh nhằm cung cấp một số gợi ý cho việc chuẩn bị xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển đô thị ở Điện Bàn
Từ khóa: Cạnh tranh đô thị và vùng, đô thị sống tốt, chiến lược và quy hoạch phát
triển địa phương, Điện Bàn, tiếp cận cạnh tranh và chiến lược
Abstract: Competitive context affects profoundly to the development options,
especially investment and settlement in each territory This article discusses about how to face this issue that may provide some options for the local authorities to prepare local development plans and strategies in Điện Bàn
Keywords: Urban and regional competitiveness, local development plan and
strategy, Điện Bàn, competitive and strategic approach
1 Giới thiệu
Huyện Điện Bàn là một đơn vị hành
chính lãnh thổ, một khu vực sản xuất và
tiêu thụ, và là một khu vực định cư đang
chuyển thành đô thị nằm trong vùng phát
triển kinh tế nhanh có tốc độ cao nằm
trong một khu vực động lực phát triển
với hai đầu là hai đô thị lớn là Đà Nẵng
và Hội An Nằm trong một khu vực có
sự cạnh tranh về địa điểm trong sự tương
đồng về văn hóa, về ưu đãi của thiên
nhiên của cả vùng định cư, sản xuất, và
sinh thái, việc lựa chọn cách thức để
vươn lên là một đô thị không đơn giản
khi đã có những thành công ở khu vực
lân cận Đây là những yếu tố phải tính
đến trong việc lập quy hoạch, kế hoạch,
và chiến lược phát triển địa phương xét
cả từ góc độ đô thị hay vùng định cư và sản xuất Bài viết nhấn mạnh việc xem xét các lựa chọn trên nền tảng phân tích cạnh tranh trong quá trình lập kế hoạch
và chiến lược phát triển cho đô thị và cả vùng lân cận
2 Bối cảnh cạnh tranh trong không gian vùng và đô thị 1
Điện Bàn phải cạnh tranh với các
đô thị đã phát triển trong vùng
1 Trong bài viết này, khái niệm vùng và đô thị đôi khi được dung có tính thay thế bởi các đô thị mới hình thành từ huyện như Điện bàn có hình thức giống như một vùng đô thị, mặc dù vẫn là một đô thị thuộc nhóm trung bình nhỏ
Trang 2Bối cảnh cạnh tranh có thể được hiểu
là bối cảnh mà mỗi sản phẩm hay dịch vụ
cung cấp đều có các lựa chọn thay thế,
có các đối thủ khác và tiềm tàng có thể
giành thị phần của mình, giá bán quy
định bởi mặt bằng các nhà cung cấp, và
không phải những gì đã đúng trong quá
khứ với mình sẽ tiếp tục đúng mãi 2 Bản
chất của nền kinh tế thị trường và cũng là
lợi ích của tự do cạnh tranh là giảm thiểu
độc quyền và lợi dụng vị thế độc quyền
để trục lợi, dẫn đến các doanh nghiệp
phải tối ưu hóa các hoạt động phân bổ và
sử dụng nguồn lực hữu hạn, làm hài lòng
và giữ được khách hàng
Trong lĩnh vực địa kinh tế, bối cảnh
cạnh tranh diễn ra không chỉ trong các
ngành hàng hay sản phẩm cụ thể mà còn
là cạnh tranh ở quy mô địa điểm phát
triển hay các vùng lãnh thổ và các đô thị
sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm Nói cách
khác, sự cạnh tranh diễn ra trên các địa
bàn khác nhau hay cách xa nhau hàng
ngàn cây số nhưng cùng cung cấp các
mặt hàng hay dịch vụ tương đồng hay
‘thú vị vì sự khác biệt’ cho những khách
hàng có sự lựa chọn giữa các địa điểm
khác nhau về mặt địa lý nói trên
Các đô thị hay vùng cạnh tranh nhau
bằng cách tối ưu hóa trên nhiều giác độ
để doanh nghiệp trên địa bàn đó có thể
sản xuất ra các sản phẩm rẻ hơn và khác
biệt về giá trị xứng đáng hơn Theo Giáo
2 Định nghĩa của tác giả
sư Michael Porter, chiến lược cạnh tranh cần được hiểu là chiến lược để làm cho lợi thế cạnh tranh của mình được phát huy hoặc sự khác biệt và vượt trội về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác được duy trì (Porter 2008) Điều này cũng có nghĩa là họ phải tạo điều kiện để
đô thị hay vùng đó khai thác được các lợi thế cạnh tranh của địa phương đó trước mắt những nhà đầu tư tiềm năng hay các chủ thể có quyền lựa chọn địa điểm để sinh sống và phát triển
Lợi thế cạnh tranh của mỗi vùng đất
có thể hiểu là sự khác biệt tự nhiên và nhân tạo Về tổng thể, mỗi vùng địa lý ở quy mô nhất định luôn có tính duy nhất của vị trí và điều kiện tự nhiên Bên cạnh đó, một số yếu tố khác không phải hình thành từ tự nhiên cũng thăng hoa theo địa bàn bởi các yếu tố văn hóa của vùng đã tối ưu hóa theo vùng đất Các điều kiện sản xuất (kể cả hạ tầng khung), thói quen và phong cách tiêu dùng, hay nhu cầu thị trường tại chỗ và sức mua cũng có thể được hình thành gắn với vùng đất cụ thể Các điều kiện nhân tạo bao gồm cách thức tổ chức lực lượng lao động, thể chế, cơ sở hạ tầng, điều kiện vận hành thị trường, và chất lượng môi trường Đây là những yếu tố có thể thay đổi rất lớn do lãnh đạo và cộng đồng dân
cư, doanh nghiệp tại vùng đó sau một thời gian
Tuy nhiên, việc khai thác tính duy nhất cũng như thay đổi để tạo ra lợi thế
Trang 3không phải đơn giản Việc đầu tiên là
phải tìm đúng lĩnh vực để khai thác và
phát huy thế mạnh của vùng/đô thị Điều
này giống như việc nhận diện đúng vị trí
(positioning) của địa phương mình trên
bản đồ các địa danh khác trong sản xuất
trên thị trường Đối với từng sản phẩm
riêng lẻ thì đây là việc của doanh nghiệp
nhưng việc định vị sản phẩm của vùng
thường đòi hỏi vai trò lãnh đạo và hỗ trợ
của các hiệp hội và đặc biệt là chính
quyền các cấp
Sau khi tìm được đúng lĩnh vực, cần
phải duy trì thế mạnh này bởi các hoạt
động dẫn đến ảnh hưởng lợi thế cạnh
tranh như xâm hại tài nguyên ảnh hưởng
thế mạnh của vùng, làm giả thương hiệu
vùng v.v diễn ra thường xuyên đỏi hỏi
chính quyền ra tay Ngoài ra, do các địa
phương khác cũng luôn vận động và sáng
tạo nên vị thế cạnh tranh cũng biến đổi
theo thời gian Điều này đòi hỏi sự sáng
tạo và thích ứng của lãnh đạo và các nhà
quản lý một cách liên tục Cách tiếp cận
liên tục thích ứng đối với các vấn đề bất
định nhưng mục tiêu kiên định để xác
định vị trí và chỗ đứng có thể hiểu là tiếp
cận chiến lược để cạnh tranh
Tất nhiên, có một vấn đề thực tiễn là
cạnh tranh luôn không hoàn hảo Luôn
có sự bất đối xứng về thông tin, về không
cân bằng trong quyền lực chính trị, về
nhận thức và khả năng hiện thực hóa mục
tiêu của từng địa phương, hay sự khác
biệt về văn hóa, về cơ hội phát triển Sự
không hoàn hảo của tính cạnh tranh thể hiện rất rõ sự khác biệt về địa kinh tế và địa chính trị của mỗi vùng đất Một khu vực đôi khi có lợi thế duy nhất đối với vùng hay đô thị lân cận và việc đầu tư hay phát triển lĩnh vực gì là tương đối xác định đối với nhiều doanh nghiệp hay chủ thể phát triển khác Vị trí đó trở thành độc quyền hoặc ngược lại, là vị trí bất lợi phải hứng chịu khó khăn và ít có những lựa chọn khác tương đương Môi trường không cạnh tranh hoàn hảo cũng
là một yếu tố phải tính đến trong lập các bài toán phát triển
Việc lựa chọn đúng lĩnh vực có tính cạnh tranh và duy trì nó là việc làm quy hoạch và chiến lược hành động cùng với quá trình giám sát Ưu điểm hay khó khăn cũng cần phải làm rõ để các kế hoạch đầu tư hạ tầng, ưu đãi chính sách
và thuế để có thể hiện thực hóa lợi thế sẵn có để thu hút doanh nghiệp Chúng
cơ sở và lao động thường được phân bổ
Trang 4xuôi chiều3 nhằm hiện thực hóa mục tiêu
GDP nói trên Cách làm trên mặc dù
không phải là tất cả nhưng khá đại diện
cho hầu hết các địa phương và các đô thị
hiện nay
Vấn đề của quy hoạch truyền thống
là quá trình lập kế hoạch ‘thường’ chỉ
chú ý tới vấn đề trong phạm vi một vùng
nghiên cứu, đánh giá các yếu tố phát
triển chủ yếu diễn ra bên trong đô
thị/vùng nghiên cứu mà ít xây dựng kịch
bản dựa trên triết lý cạnh tranh từ các chủ
thể phát triển ngoài nhà nước và đô thị
khác Có thể nhận thấy vấn đề này ở ba
khía cạnh:
Thứ nhất, quá trình lập quy hoạch ít
đầu tư phân tích xác định rõ các mặt
hàng của địa phương mình cạnh tranh với
ai Nếu thị trường tiêu thụ hoặc cấu phần
quan trọng của sản phẩm địa bàn tham
gia gia công không nằm trong địa bàn thì
phải làm rõ những chủ thể nào khác cũng
có thể làm ra sản phẩm tương tự hoặc
cũng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh
khi các nhà đầu tư lựa chọn;
Thứ hai, địa phương/đô thị có đánh
giá các đối thủ cạnh tranh (có thể là đô
thị hay địa bàn lân cận và tương tự) về
các điều kiện sản xuất tương đương tại
địa bàn của họ Việc đánh giá này chủ
yếu là lợi thế và điều kiện tự nhiên để tạo
ra sản phẩm Cũng có thể xét cả các yếu
3 Xuôi chiều có nghĩa là chủ yếu từ mục tiêu tăng
trưởng chi phối nhu cầu đầu tư và chuyển đổi đất đai,
ít khi là từ đất đai tính ngược về tăng trưởng GDP
tố con người như quyết tâm của lãnh đạo hay tiềm lực về vốn, lao động, hay công nghệ tại chỗ
Thứ ba, địa phương có lập kế hoạch
theo dạng chiến lược, tức là thường xuyên cập nhật để hoàn thiện mình không Do các đối thủ cạnh tranh cũng thường xuyên đổi mới, sáng tạo và điều chỉnh thường xuyên các cách thức vận hành và tổ chức để cạnh tranh Việc lập
kế hoạch không tính tới các nỗ lực và khả năng điều chỉnh thường xuyên của các đối thủ cạnh tranh khác trong lĩnh vực, trong khu vực, hay trong từng giai đoạn
cụ thể cũng là thiếu sự liên hệ với bối cảnh cạnh tranh
Muốn kế hoạch phát triển gần với thực tiễn hơn, các bản quy hoạch và kế hoạch hay chiến lược cần tiếp cận từ bản chất cạnh tranh của thực tiễn phát triển – khi các chủ thể phát triển không phải chỉ
có duy nhất một lựa chọn Tiếp cận này đòi hỏi các kịch bản tăng trưởng và dự báo phải làm giống phân tích cạnh tranh giống cách làm của doanh nghiệp Thiếu cách tiếp cận này, rất có thể điệp khúc nông dân được mùa rớt giá, sự hình thành của các đô thị ‘ma’ ven đô, và đầu
tư theo phong trào để bất động sản đóng băng sẽ tiếp diễn bởi các chủ thể phát triển đã thiếu cái nhìn so sánh với các đối thủ ở xa nhưng vẫn giành mất thị phần trong phạm vi ảnh hưởng của mình
Trang 54 Tính cạnh tranh của đô thị
trung bình
Điện Bàn sẽ cạnh tranh từ giác độ
một đô thị trung bình
Nếu nhấn mạnh khía cạnh kinh tế thì
cạnh tranh được hiểu là sự cạnh tranh về
sức mạnh kinh tế giữa các đô thị và vùng
đô thị hay thậm chí quốc gia trong kỷ
nguyên toàn cầu hóa (Harris 1997) Tuy
nhiên, đây chỉ là cuộc chơi của các vùng
đô thị lớn còn các đô thị trung bình
thường chỉ cạnh tranh ở một số mặt hàng
cụ thể và đặc biệt là cạnh tranh về chất
lượng môi trường sống
Nếu xét riêng trong vấn đề môi
trường sống, việc duy trì chất lượng môi
trường sống tốt (livable cities) đã phản
ánh đầy đủ ý nghĩa của cạnh tranh
Những nỗ lực cải thiện điều kiện cho
những ai đang ở trên địa bàn của mình
làm cho cư dân muốn chuyển đến sinh
sống, muốn phát triển lâu dài bởi sự đảm
bảo về tương lai Qua đó, người dân và
chính quyền đô thị có thu nhập và cạnh
tranh hơn (Robert J.Rogerson 1999)
Một trong những cách tiếp cận để
làm rõ tính cạnh tranh của một vùng đất
hay một đô thị là phương pháp xác định
giá trị tài sản (assets) Đối với đô thị, tài
sản có thể là công trình công cộng, cơ sở
hạ tầng, nhưng đặc biệt đó cũng là những
giá trị cảnh quan tự nhiên, sự trong sạch của môi trường, hệ sinh thái, hình ảnh đô thị, hay thậm chí nét đẹp văn hóa ứng xử bản địa Trong nhiều trường hợp, giá trị của các tài sản này có sự khác biệt lớn giữa các bên trong định giá Việc định giá đúng sẽ giúp đem lại đánh giá đúng thế mạnh của đô thị cũng như có thể tìm được phương án phát triển phù hợp với tập quán của địa phương
So với các đô thị lớn, đô thị nhỏ có lợi thế về các ‘tài sản’ liên quan đến du lịch cảnh quan, sinh thái, hay đảm bảo chất lượng cuộc sống như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, tắc nghẽn giao thông, an ninh trật tự, và chi phí đắt đỏ
về nhà ở và sinh hoạt Ngược lại, đô thị nhỏ thường bất lợi hơn về cơ hội việc làm và thu nhập cao và tiếp cận đến các dịch vụ cao cấp như giải trí, chữa bệnh Trên thực tế, chất lượng sống cao nhất không ở các siêu đô thị mà thường ở các
đô thị trung bình city quality (City mayors 2014)
Việc đo lường chất lượng sống và so sánh có nhiều cách khác nhau, xong tham khảo phương pháp đánh giá về chất
lượng cuộc sống (livable index) của công
ty Mercer thì các đô thị có thể được đánh giá trên 10 nhóm chỉ tiêu như sau mercer (Mercer Surveys 2014):
Trang 61 Môi trường chính trị và xã hội (ổn định chính trị, tội phạm và cưỡng chế pháp luật)
2 Môi trường kinh tế (các điều khoản quy định về tỉ giá ngoại hối, dịch vụ, và ngân hàng)
3 Môi trường văn hóa-xã hội (mức độ kiểm duyệt, hạn chế tự do cá nhân)
4 Sức khỏe và vệ sinh (dịch vụ y tế, bệnh truyền nhiễm, hệ thống thoát nước và quản
lý chất thải rắn)
5 Trường học và giáo dục (tiêu chuẩn và sự sẵn có của các trường quốc tế)
6 Chất lượng dịch vụ công và giao thông (điện, nước, giao thông công cộng, và tắc nghẽn giao thông)
7 Giải trí nghỉ ngơi (nhà hàng, rạp hát, chiếu bóng, thể thao, và giải trí)
8 Các hàng tiêu dùng (sẵn có của thực phẩm, các hàng hóa thông thường)
9 Nhà ở (nhà cửa, thiết bị gắn kèm, đồ nội thất, chất lượng bảo trì)
10 Chất lượng môi trường tự nhiên (khí hậu, thảm họa tự nhiên)
Căn cứ theo hệ thống tiêu chí này,
hàng trăm đô thị trên thế giới để xếp hạng
so sánh với thành phố New York Các đô
thị của Việt Nam có chỉ số khoảng 60/100
điểm, đứng thứ 140-150 so với các đô thị
tốt nhất trong những năm gần đây Nhìn
chung, đây các thành phố có chất lượng
sống tốt nhất đều thuộc nhóm các thành phố trung bình hoặc lớn (không phải các siêu đô thị), được hình thành từ lâu, được quản lý tốt, có sức thu hút về du lịch, sinh thái, thường có các công trình kiến trúc
cổ, các di sản độc đáo về văn hóa (Xem
2 Zurich Switzerland 2 Zurich Switzerland
3 Auckland New
Zealand
Zealand
5 Vancouver Canada 5 Vancouver Canada
6 Düsseldorf Germany 6 Düsseldorf Germany
7 Frankfurt Germany 7 Frankfurt Germany
8 Geneva Switzerland 8 Geneva Switzerland
9 Copenhagen Denmark 9 Copenhagen Denmark
10 Bern Switzerland 10 Sydney Australia
Nguồn: http://www.mercer.com/press-releases/quality-of-living-report-2014
Trang 7Với sự đánh giá toàn diện, để đảm
bảo chất lượng sống tốt và ổn định, chính
quyền các đô thị đều phải có hệ thống
đánh giá và đo lường nỗ lực quản lý của
mình Hệ thống này ở mỗi quốc gia có
thể khác nhau, xong nhìn chung chúng
luôn là cơ sở để khắc phục nhược điểm
và phát huy lợi thế Việc xây dựng
những hệ thống đánh giá này trên thế
giới đã được hình thành từ lâu do nhiều
tổ chức quốc tế và chính quyền địa
phương áp dụng hieu (Hieu 2012)
Gần đây, việc áp dụng hệ thống đánh
giá nỗ lực quản lý và đánh giá cạnh tranh
hiện nay cũng đang được phát triển ở Việt Nam (ACVN and UN-Habitat 2010;Hieu 2011) Nếu được đem vào áp dụng, kỳ vọng rằng hệ thống này sẽ cung cấp những cơ sở tin cậy hơn cho các nhà quản lý và quy hoạch khi đánh giá thế mạnh và lợi thế cạnh tranh cũng như có thể giúp lựa chọn các phương án quy hoạch và phát triển (xem ví dụ đánh giá ở hình dưới) Hệ thống này áp dụng ở diện rộng cũng cho phép đánh giá so sánh về mức độ cạnh tranh giữa các đô thị về chất lượng sống và nhiều mặt khác
Hình 2: Hồ sơ đô thị Sơn Tây – đánh giá tổng hợp một số chỉ tiêu cơ bản
về quản lý đô thị năm 2011
Nguồn: Đề tài Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng
quản lý đô thị, Học viện Hành chính, 2012
0 2 4 6 8 10
Mức độ hiệu quả của ban Thanh tra
nhân dân
Mức độ hiệu quả của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng Công khai ngân sách của chính quyền
địa phương
Công khai thông tin về thủ tục, quy trình giải quyết công việc của công dân, tổ chức
Mức độ các kiến nghị của tổ chức chính trị - xã hội được chính quyền đô thị tiếp thu, xử lý, thực hiện
Tỷ lệ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà được cấp đúng hạn
Tỉ lệ phủ kín đồ án quy hoạch phân
tỉ lệ thu gom chất thải rắn
tỉ lệ xử lý chất thải rắn (cho đô thị loại 1
trở lên)
Hồ sơ rút gọn đô thị Sơn Tây (số liệu 2006 & 2010)
Trang 8Tuy nhiên, dù cho còn có những
khiếm khuyết mặt này hay khác thì
không nên coi các tiêu chí trở thành chỉ
tiêu đạt tới như một hình tròn, phải tốt
đều mọi hướng Trên thực tế, rất khó có
thể đảm bảo các yếu tố tốt như nhau bởi
nguồn lực là có hạn Hơn nữa, mỗi đô
thị có bản sắc riêng và từng địa phương
sẽ luôn có những thứ mà họ tự hào và
làm cho du khách đáng nhớ
5 Kết luận
Một số vấn đề gợi ý trong tiếp cận
chiến lược đối với sự cạnh tranh trong
phát triển
Bối cảnh cạnh tranh là luật chơi của
thời đại mà các nhà quản lý không thể bỏ
qua trong kỷ nguyên thông tin, dân chủ,
tự do, và toàn cầu hóa như hiện nay Tùy
thuộc vào tầm cỡ, quy mô, trình độ kinh
tế, và đặc điểm riêng của từng đô thị mà
người tham gia cuộc chơi này sẽ khác
nhau Trước hết, việc quy hoạch, lập kế
hoạch cho Điện Bàn và vùng cần đảm bảo
phương pháp tiếp cận và tính toán chiến
lược đã tính đến các yếu tố cạnh tranh
Cách thức để cạnh tranh có nhiều,
xong quản lý đô thị để cạnh tranh chính
là tự hoàn thiện cách thức quản lý, huy
động và sử dụng nguồn lực; tìm ra sự
khác biệt và sáng tạo để phát huy tốt nhất
lợi thế sẵn có cũng như thu hút các nguồn
lực ‘động’ để có được khách hàng và vị
thế tốt hơn trên các ‘sân chơi’ trong nước
và quốc tế Sự hoàn thiện mình ở đây
không đơn chỉ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp hoạt động, mà là tạo điều kiện để
cư dân ở đây có cuộc sống tốt hơn, đáng sống hơn, bảo vệ và gia tăng giá trị ‘tài sản đô thị’, và giúp doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn Các đô thị và vùng định
cư phát triển sau có tính kết nối như Điện Bàn là đô thị mới, đi sau thì sự khác biệt
và sáng tạo có lợi thế về mặt ít bị ràng buộc bởi những giá trị cũ nhưng cũng là thách thức bởi không dễ tạo dựng những giá trị mới
Lợi thế cạnh tranh của Điện Bàn
cần làm rõ sự khác biệt không chỉ là tính độc quyền về vị trí Đối với các đô thị quy mô kinh tế không lớn, sự cạnh tranh đương nhiên là sự tương đồng về các điều kiện sống, nhưng vẫn cần có những
sự khác biệt Với vị trí đặc thù so với khu vực lân cận như Đà Nẵng – Hội An
và khu vực nhiều di sản và nằm giữa hai đầu có thể là sự khác biệt đặc thù, nhưng địa phương cần tìm được lợi thế cạnh tranh thực sự khi khai thác vị trí này thông qua sản phẩm cụ thể Đặc biệt là sản phẩm ít gắn với quy mô kinh tế Bên cạnh đó, Điện Bàn khó có thể cạnh tranh
về tính mới so với Đà Nẵng hay tính cổ kính của Hội An nên sự khác biệt, giá trị
‘tài sản’ và điểm nổi trội có những khó khăn nhất định Muốn tạo ra và giữ lợi thế cạnh tranh, Điện Bàn cần có các hệ thống theo dõi và đánh giá cập nhật, so
sánh với các đô thị khác bằng con số và
có độ tin cậy Đó chính là các chuẩn
Trang 9mực phản ánh kết quả quản lý và định
hướng sự hoàn thiện và cạnh tranh
Thẩm quyền để tạo sự khác biệt
cũng là điều đáng lưu ý Do UBND thị
xã Điện Bàn là tương đương cấp huyện
nên có thể chưa được trao đầy đủ thẩm
quyền hành chính trong quản lý quy
hoạch và chiến lược, chính sách, việc xây
dựng kế hoạch Trước khi cơ chế mới về
chính quyền đô thị hay Thị trưởng bầu
trực tiếp đi vào cuộc sống, chính quyền
cấp thị xã cần có sự liên kết và tranh thủ
sự ủng hộ của cấp trên và liên minh với
các đô thị lân cận một cách chủ động để
đảm bảo lợi thế từ sự khác biệt của địa
phương phát huy Đương nhiên, chính
quyền không trực tiếp cạnh tranh mà chỉ
tạo điều kiện để doanh nghiệp phát
huy khả năng cạnh tranh ở các sân
chơi tiềm năng Dù sao, thẩm quyền để
thực hiện các nhiệm vụ này cũng vẫn là
điểm lưu tâm trong câu chuyện chính
sách và thể chế hiện nay
Hà Nội, 4/3/2014
Tài liệu tham khảo
ACVN & UN-Habitat Ky yeu hoi thao xay dung chi so do thi, Ninh Binh City mayors Quality survey on livable city 2014
Ref Type: Online Source Harris, N 1997 Cities in a global economy: structural change and policy
reactions Urban Studies, 34, (10) 1693 Hieu, N N 2011, Building criteria for assessing urban management performance, Academy of Public Administration, Hanoi, Vietnam
Hieu, N.N 2012 Canh tranh do thi
Quy hoach do thi, 11, Hoi quy hoach va
phat trien do thi Vietnam
Mercer Surveys 2014, 2014-global quality-of-living report London
Porter, M Vietnam Competitiveness
Trang 10MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
TS Hoàng Sỹ Kim Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn
1 Ban hành chiến lược tổng thể
phát triển biển và hải đảo
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, biển có vai trò, vị trí rất quan
trọng, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi
trường Sau gần 30 năm thực hiện công
cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng,
tiềm lực kinh tế biển của đất nước ta đã
không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc
độ khá nhanh và đã có những đóng góp
quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng kinh
tế - xã hội của đất nước theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá Giai đoạn 1976
- 1986: đất nước ta đã định hình một
chính sách quốc gia về biển Đại hội
Đảng lần thứ IV năm 1976 đã đề cập đến
một nền kinh tế mới - kinh tế miền biển:
“tiến hành phân vùng quy hoạch sản xuất
để phát triển tất cả các vùng: đồng bằng,
trung du, miền núi và miền biển”
Nghị quyết của Đại hội VII của
Đảng không ngừng nhấn mạnh vị trí và
tầm quan trọng của biển Đại hội lần thứ
VII của Đảng đã thông qua phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế biển
và bảo vệ chủ quyền, quyền lợi quốc gia
trên biển của nước ta đến năm 2000 là:
“Từng bước khai thác toàn diện các tiềm năng to lớn của kinh tế biển, phát triển kinh tế ở hải đảo, làm chủ lãnh hải và thềm lục địa, thực hiện chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế”
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những quan điểm cơ bản của Chỉ thị này nhấn mạnh cùng với việc tiếp tục chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh
về biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước
Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-
NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó
nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương” Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo
về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020:
Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên
cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển,
Trang 11phát triển toàn diện các ngành, nghề biển
với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc
độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả
cao với tầm nhìn dài hạn
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc
phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo
vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển
vùng biển, ven biển, hải đảo với phát
triển vùng nội địa theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Ba là, khai thác mọi nguồn lực để
phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi
trường biển trên tinh thần chủ động, tích
cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu
quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ
hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn
lực bên ngoài theo nguyên tắc bình
đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
đất nước
Trên tinh thần đó, Đảng ta đã xác
định rõ mục tiêu của chiến lược biển Việt
Nam, trong đó nhấn mạnh: Mục tiêu tổng
quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa
nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,
làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ
quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên
biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
làm cho đất nước giàu mạnh Triển khai
2007 Phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển; Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 22/7/2009 Phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo; Quyết định số 373/QĐ-TTG ngày 23/3/2010 Phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ
và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam
Chiến lược biển Việt Nam ra đời hướng tới nội dung: Bảo đảm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước của các
Bộ, ngành và chính quyền các địa phương đồng thời nâng cao nhận thức chung về sự cần thiết phải đẩy mạnh quản lý việc khai thác, sử dụng một cách
có hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biển, vùng ven biển và hải đảo, phù hợp với các nội dung định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cả trước mắt và lâu dài, nhằm nâng cao ý thức vươn ra biển, làm giàu từ biển trong cộng đồng người Việt Nam; khẳng định việc
Trang 12thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán quốc gia của Việt Nam
trên các vùng biển, hải đảo trong khu vực
Biển Đông Tinh thần của Nghị quyết
nhấn mạnh thông qua nhận thức và hành
động chung của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong xã hội, từng bước khẳng định
vị thế Việt Nam là một quốc gia mạnh về
biển trong khu vực; Tuyên truyền về
quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững
biển, hải đảo Việt Nam phải kết hợp chặt
chẽ, đồng thời tranh thủ các nguồn lực và
sự ủng hộ từ quan hệ hợp tác quốc tế với
các nước bạn bè, các tổ chức quốc tế trên
các lĩnh vực: kinh tế, khoa học - công
nghệ, chống đói nghèo, phòng chống
thiên tai, bảo vệ môi trường biển; Huy
động mọi nguồn lực và phát huy sức
mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và
cộng đồng xã hội tham gia
Trên tinh thần của đó, Các cơ quan ở
Trung ương và địa phương đã chủ động
xây dựng kế hoạch, trực tiếp triển khai
chương trình hành động cùng với sự nỗ
lực của các cấp, các ngành, toàn dân và
đã đạt được những kết quả quan trọng:
Kinh tế biển, ven biển được quan tâm
đầu tư, phát triển theo hướng khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên biển kết hợp
phát triển lâm nghiệp; đẩy mạnh công
nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản gắn
phát triển nuôi trồng với nâng cao hiệu
quả khai thác, đánh bắt; tăng nhanh các
ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển
kinh tế biển bền vững với đảm bảo an
ninh quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ
sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển; xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; quy hoạch, triển khai xây dựng cụm công nghiệp ven biển; công tác quản lý Nhà nước về biển và công tác Cải cách hành chính phục vụ phát triển kinh tế cảng và
du lịch được quan tâm đẩy mạnh; thiết lập các dự án, công trình nâng cao chất lượng môi trường ven biển, cải thiện môi trường ven biển phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội mang tính bền vững
2 Ban hành các văn bản pháp luật
về biển và hải đảo
2.1 Yêu cầu xây dựng pháp luật về biển đảo
Việt Nam là một quốc gia ven biển,
có bờ biển dài trên 3.200 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Ngay sau khi Công ước Luật Biển 1982 được thông qua, ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia
ký Công ước Công ước Luật Biển 1982
ra đời đã đặt nền tảng cho sự thiết lập một trật tự pháp lý mới liên quan đến các vấn đề biển và đại dương Nội dung của Công ước 1982 đề cập toàn diện đến các lĩnh vực biển, có tính đến lợi ích của tất
cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay nước đang phát triển, dù là nước nhỏ hay nước lớn,
Trang 13dù là nước có biển hay không có biển
Công ước Luật Biển 1982 đã trở thành cơ
sở pháp lý quan trọng để điều phối các
vấn đề liên quan đến biển, một công cụ
pháp lý quan trọng để giải quyết, xử lý
các tranh chấp biển và được coi là “Hiến
pháp của đại dương.” Trong 30 năm tồn
tại, Công ước Luật Biển 1982 đã được
vận dụng khá hiệu quả để giải quyết nhiều
tranh chấp biển phức tạp kéo dài, tránh
được những nguy cơ xung đột tiềm tàng
Ngày 23/6/1994, Quốc hội đã ra
Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện
pháp lý quan trọng này Điểm 1 trong
Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn
Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Biển 1982, nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng
cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự
pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát
triển và hợp tác trên biển.” Nghị quyết
phê chuẩn khẳng định chủ quyền của
nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải,
quyền chủ quyền và quyền tài phán đối
với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
trên cơ sở các quy định của Công ước
Luật Biển 1982 và các nguyên tắc của
pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác
tôn trọng các quyền nói trên của Việt
Nam Vận dụng các quy định của Công
ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã từng
bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo
môi trường pháp lý cho công tác quản lý
biển và các hoạt động kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới
Trên thực tế, các nước ven biển đều
có các luật về biển, luật về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa… Trong khi đó Việt Nam mới chỉ có một số văn bản pháp luật đề cập đến một số khía cạnh cụ thể
có liên quan đến biển Mặt khác, để vận dụng hiệu quả những nguyên tắc, quy định trong Công ước của Liên hợp quốc
về Luật Biển năm 1982, chúng ta cần xây dựng hệ thống pháp luật về biển và hải đảo Mục đích của việc xây dựng và ban hành pháp luật biển và hải đảo là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta, tạo
cơ sở pháp lý để xác định các vùng biển Việt Nam và quy chế pháp lý của các vùng biển đó; góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán
và các lợi ích của Việt Nam Đây cũng trở thành nhu cầu tất yếu nhằm phục
vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Do đó, yêu cầu xây dựng pháp luật biển và hải đảo
có ý nghĩa quan trọng về cả đối nội và đối ngoại
Trang 142.2 Quá trình phát triển của pháp
luật biển và hải đảo Việt Nam
- Trước khi Luật Biển ra đời
Từ trước khi Công ước Luật Biển
1982 ra đời, Việt Nam đã tích cực vận
dụng các quy định liên quan của luật
pháp quốc tế để xây dựng các văn bản
pháp quy về biển và hải đảo Căn cứ vào
xu thế phát triển tiến bộ của luật biển
quốc tế, năm 1977 Việt Nam ban hành
“Tuyên bố của Chính phủ về các vùng
biển Việt Nam” xác lập vùng đặc quyền
kinh tế rộng 200 hải lý, cho phép mở
rộng quyền của Việt Nam ra biển, không
chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn
có các quyền chủ quyền và quyền tài
phán khác Bên cạnh đó, chúng ta đã có
một số văn bản pháp luật quy định về
một số khía cạnh liên quan đến biển như:
Tuyên bố của Chính phủ năm 1982 về
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải Việt Nam; Nghị định số 30/1980/ NĐ
- CP của Chính phủ năm 1980 về quy chế
cho các tàu thuyền nước ngoài hoạt động
trên các vùng biển Việt Nam; Nghị định
55/1996/ NĐ - CP ngày 1/10/1996 về
hoạt động của tàu quân sự nước ngoài
vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; Nghị định số
161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của
Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới
biển; Thông tư số 60/1980/TT - TTg
ngày 19/2/1980 của Thủ tướng Chính
phủ hướng dẫn việc thực hiện Nghị định
ban hành quy chế cho tàu thuyền nước
ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định: Việt Nam có chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn trong vùng nội thủy, lãnh hải; có quyền chủ quyền tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam Tuy nhiên, các quy định liên quan đến xác định biên giới trên biển, quản lý,
sử dụng biển chỉ nằm rải rác trong các luật liên quan như: Luật biên giới quốc gia năm 2003; Luật thủy sản năm 2003;
Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Dầu khí 1993, Luật Tài nguyên nước 1998, Luật Bảo vệ môi trường 1993, Luật Biên giới quốc gia 2003 và một số văn bản dưới luật… Pháp luật về biển và hải đảo trong giai đoạn này chưa có một văn bản pháp lý hoàn chỉnh và thống nhất mang tính hệ thống nào, điều đó cũng có nghĩa
là thiếu một văn bản mang tính là đạo luật gốc để quy định khung pháp lý cho quản lý biển, đảo ở mức độ vĩ mô Do vậy, rất khó để viện dẫn, áp dụng khi tranh chấp xảy ra, đặc biệt những vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài
- Sau khi Luật Biển ra đời
Luật Biển Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, chính thức công bố vào ngày 16/7/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 Việc thông qua Luật
Trang 15Biển Việt Nam là một hoạt động lập
pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn
khổ pháp lý liên quan đến biển, đảo nước
ta Lần đầu tiên nước ta có một văn bản
luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các
vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền
của Việt Nam theo đúng Công ước Luật
Biển năm 1982, làm cơ sở pháp lý quan
trọng cho việc quản lý, bảo vệ và phát
triển biển, đảo nước ta Luật Biển Việt
Nam ra đời là bước “nội luật hóa” Công
ước cùa Liên Hợp Quốc về Luật Biển
năm 1982 mà Việt Nam đã ký kết và
chính thức phê chuẩn Đồng thời nó cũng
thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong
việc triển khai, tổ chức, thực hiện Công
ước Luật Biển 1982 với tư cách quốc gia
thành viên Mục đích của việc xây dựng
và ban hành Luật biển Việt Nam là để
hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước
ta, tạo cơ sở pháp lý để xác định các
vùng biển Việt Nam và quy chế pháp lý
của các vùng biển đó; góp phần bảo vệ
chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài
phán và các lợi ích của Việt Nam
Bên cạnh một số nội dung là sự kế
thừa, tiếp nối các quy định đã có trước
đây, Luật Biển Việt Nam đã bổ sung, sửa
đổi nhiều nội dung cho phù hợp với luật
pháp và thực tiễn quốc tế, nhất là Công
ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982, cũng như yêu cầu phát triển của
đất nước So với các văn bản pháp luật có
nội dung liên quan đến biển nêu trên,
Luật Biển Việt Nam có một số điểm mới
Luật biển Việt Nam quy định rõ
về quyền tự do hàng hải, hàng không trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam
Luật biển Việt Nam quy định chi tiết về việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam Với quy định này của Luật biển Việt Nam, ta đã bỏ quy định trước đây yêu cầu tàu quân sự nước ngoài phải xin phép trước khi vào vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam
Luật biển Việt Nam quy định các nguyên tắc lớn về giải quyết tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước, hợp tác quốc tế về biển, quản lý và bảo
vệ biển, phát triển kinh tế biển, tuần tra kiểm soát trên biển
Các quy định này một mặt khẳng định lại chủ trương nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp về biển, đảo, đồng thời tạo khung pháp lý quan trọng để triển khai các công tác quản lý, bảo vệ biển và phát triển kinh tế biển, góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Với việc thông qua luật Biển Việt Nam, chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ mà Quốc hội khóa IX đề ra là bổ sung quy
Trang 16định của luật pháp quốc gia phù hợp với
Công ước Luật Biển năm 1982, bảo đảm
lợi ích của Việt Nam Cùng với việc
khẳng định chủ trương giải quyết các
tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp
hòa bình, Nhà nước ta một bước khẳng
định: Việt Nam là một thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn
trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, các
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên, trong đó có Công ước Luật Biển
năm 1982, quyết tâm phấn đấu vì hòa
bình, ổn định, hợp tác và phát triển của
khu vực và trên thế giới
3 Xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách biển và hải đảo
3.1 Chính sách đối với hoạt động
kinh tế biển
3.2 Chính sách dân cư
Biển Đông là nơi sinh kế trực tiếp
của hơn 300 triệu cư dân thuộc 11 quốc
gia và vùng lãnh thổ, là tuyến đường
hàng hải “trọng yếu”, là “khu căn cứ”
quân sự của các quốc gia, vì thế mà hầu
hết các quốc gia có biển trên thế giới đã
và đang đẩy mạnh khai thác mọi nguồn
lực của biển cho phát triển kinh tế
, tìm được sự cứu trợ khi cần thiết,
khi tàu bè gặp sự cố
3.3 Chính sách tài nguyên – môi
trường biển
Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 chỉ rõ, phải phấn đấu để nước ta trở
thành một quốc gia mạnh về biển, giàu
lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền,
quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc phòng,
an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước
3.4 Chính sách an ninh, an toàn trên biển
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996), xác định:
“Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng,
có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế – xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc”
4 Đầu tư các nguồn lực cho khai thác, bảo vệ và phát triển biển và hải đảo
5 Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước đối với biển, hải đảo
Từ năm 1998 trở về trước, bộ máy quản lý nhà nước chưa hình thành một cơ quan chuyên môn nào về biển Hoạt động này thường giao cho Chính phủ thống nhất quản lý; các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương (Bộ Nông nghiệp và
Trang 17Phát triển nông thôn, Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao
thông – Vận tải,…) trong phạm vi của
mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và
phối hợp với nhau theo sự phân cấp của
Chính phủ Còn ở địa phương, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, huyện cũng chưa
thành lập cơ quan chuyên môn để tham
mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
biển Vì thế, sự phối hợp của các bộ,
ngành ở Trung ương chỉ đạo đối với các
cấp chính quyền địa phương còn lúng
túng và chưa kịp thời, tạo nên những bất
cập nhất định, làm giảm hiệu lực, hiệu
quả quản lý về biển, chưa khai thác được
tiềm năng, thế mạnh của biển
Bảo vệ môi trường biển, hải đảo
ở địa phương theo thẩm quyền được
phân cấp
6 Hợp tác quốc tế trong quản lý
biển và hải đảo
6.1 Hợp tác quốc tế trong phân
định biển
Biển và hải đảo ngày càng trở thành
nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một
không gian sinh tồn mới, gắn bó mật
thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
bảo vệ môi trường của mỗi nước
- Phân định Vịnh Thái Lan giữa
Việt Nam – Thái Lan
Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh
Xiêm) là một biển nửa kín, với diện tích
khoảng 300.000 km2.Vịnh thông ra Biển
Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp bởi mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau chừng 400 km (215 hải lý) trong phân định biên giới trên biển
- Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc
Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, rộng khoảng 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý) Vịnh là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên về hải sản, có tiềm năng quan trọng Từ lâu, nhân dân hai quốc gia đã tiến hành sử dụng, khai thác vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ Căn cứ vào Công ước 1982, giữa hai bên phải vạch đường biên giới biển trong lãnh hải ở khu vực cửa sông Bắc Luân, vạch đường ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Nếu hai quốc gia đều định vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý thì do khoảng cách giữa bờ biển hai bên chưa đến 200 hải lý nên hầu hết Vịnh Bắc Bộ trở thành vùng chồng lấn, rất khó khăn cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ
- Phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam – Indonesia
Việt Nam và Indonesia có vùng biển
và thềm lục địa chồng lấn nằm ở phía Đông Nam Việt Nam và Tây Bắc đảo lớn Borneo của Indonesia Sau khi thống nhất đất nước, tháng 6/1978, Việt Nam
và Indonesia bắt đầu đàm phán về phân
Trang 18định thềm lục địa Đàm phán phân định
thềm lục địa và Indonesia là một quá
trình dài do điều kiện khác nhau khách
quan giữa một quốc gia lục địa và một
quốc gia quần đảo
6.2 Hợp tác quốc tế trong bảo vệ an
ninh, an toàn trên biển
Việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an
ninh và an toàn hàng hải ở biển Đông là
mối quan tâm chung của các nước trong
và ngoài khu vực Trên tinh thần đó, Việt
Nam luôn ý thức cùng với cộng đồng
quốc tế đóng góp xây dựng nhằm bảo vệ
an ninh, an toàn hàng hải và duy trì hòa
bình, ổn định ở khu vực biển Đông
Những hành vi vi phạm an toàn, an ninh,
trật tự trên biển rất đa dạng Từ những
hành vi nguy hiểm phức tạp có tính liên
quốc gia như gây phương hại hoặc đe
dọa phương hại đến chủ quyền và an
ninh quốc gia; Hành vi vận chuyển
người, hàng hóa, hành lý, vũ khí, chất
phóng xạ, chất phế thải độc hại, chất ma
túy trái với quy định của pháp luật đến
những hành vi đơn lẻ như: cố ý tạo
chướng ngại vật gây nguy hiểm hoặc làm
cản trở giao thông hàng hải; Sử dụng,
khai thác tàu biển không đăng ký, đăng
kiểm hoặc quá hạn đăng ký, đăng kiểm;
giả mạo đăng ký, đăng kiểm…
6.3 Hợp tác quốc tế trong bảo vệ
môi trường biển
Cho đến đầu thế kỷ XX, con người
vẫn tiếp nhận biển cả như một món quà
tặng của thiên nhiên mà không phải thực
hiện bất cứ một nghĩa vụ nào Con người cho rằng biển cả mênh mông có thể hấp thụ và chuyển hóa mọi chất thải mà con người đưa đến Vấn đề bảo vệ môi trường biển hoàn toàn không được đặt ra Khi nhận thức của con người về tầm quan trọng của biển cả và tác hại của các hoạt động do con người thực hiện lên môi trường biển được nâng lên, đó chính
là thời điểm con người ý thức được môi trường biển cần phải được kiểm soát và bảo vệ trước những nguy cơ gây hại
6.4 Hợp tác quốc tế trong giải quyết các tranh chấp biển và hải đảo
- Tình hình tranh chấp trên biển Đông
Biển Đông - một khu vực địa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển, đảo phức tạp và kéo dài trong lịch sử Các cuộc tranh chấp tại biển Đông về mặt pháp lý chủ yếu xoay quanh những vấn
đề về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các khu vực trên Biển Đông Từ thực tế đó, hiện tại trong Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ yếu:
Một là, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam
Hai là, tranh chấp trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển liền kề hay đối diện nhau ở xung quanh Biển Đông
Trang 19Danh mục tài liệu tham khảo
1 Công ước Luật Biển năm 1982
2 Chương trình Hành động 21
(Agenda 21)
3 Luật Biển Việt Nam 2012
4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
5 Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày
9/2/2007 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020”
ngày 23/3/2010 Phê duyệt Đề án đẩy
mạnh công tác tuyên truyền về quản lý,
bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải
đảo Việt Nam
8 Tuyên bố của Chính phủ về các
vùng biển Việt Nam năm 1977
9 Tuyên bố của Chính phủ về
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải Việt Nam năm 1982
10 Nghị định số 161/2003/NĐ-CP
ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy
chế khu vực biên giới biển
11 Thông tư
26/2010/TTLT-BTNMT-BNV của Bộ Tài nguyên – Môi
trường và Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và
biên chế của Chi cục Biển và Hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
12 Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan ký ngày 9/8/1997
13 Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ đã được ký kết ngày 25/12/2000
14 Hiệp định về phân định thềm lục địa giữa Việt Nam - Indonesia ký kết ngày 26/6/2003
15 Trần Công Trục, Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông, NXB Thông tin truyền thông, Hà Nội 2012
16 Nguyễn Bá Diến, Chính sách pháp luật của Việt Nam, NXB Tư pháp,
Hà Nội 2006
17 Lê Đức Tố – Hoàng Trọng Lập, Quản lý Biển, NXB ĐHQG, Hà Nội 2005
18 Phạm Văn Đạt, Tạ Quang Ngọc, Hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về biển ở nước ta hiện nay, Tạp chí cộng sản số ngày 22/11/2013
19 Ban Tuyên giáo trung ương, 100 Câu hỏi – đáp về biển đảo, NXB Thông tin – Truyền thông, Hà Nội, 2013
Trang 20QUẢN LÝ KHU ĐÔ THỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý BÀI HỌC
ThS Thiều Thị Thu Hương Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn Tóm tắt: Phát triển bền vững là xu hướng toàn cầu và cũng là đích đến của các
khu dân cư, các khu đô thị mới Hành trình đến đích có nhiều cáckhác nhau, kinh nghiệm của các nước phát triển sẽ là những tham khảo có giá trị cho Việt Nam trong bước đầu phát triển
Từ khóa: Khu đô thị mới, Phát triển bền vững, Neighbourhood, Sustainable
development
Ở Việt Nam, Khu đô thị mới
đượchiểu là khu dân cư xây dựng tập
trung theo quy hoạch được duyệt, có
hệ thống nhà ở, công trình hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội và các công trình
dịch vụ đồng bộ hoàn chỉnh, được xây
dựng mới trên khu đất chuyển đổi từ
các loại đất khác thành đấtxây dựng
đô thị
Xuất hiện vào những năm 1990, các
khu đô thị mới (ĐTM)của Việt Namđã
ảnh đô thị Bên cạnh đó các tiêu chuẩn về
nhà ở, mức độ tiện nghi và sự đa dạng
hóa của các dịch vụ hạ tầng đô thị được
cải thiện đáng kể so với thời kỳ trước
Tuy nhiên khi xem xét về chất lượng
sống thực sự của cư dân trong các khu
ĐTM này cho thấy còn nhiều vấn đềbất cập đang tồn tại, diễn ra rất phổ biến như mật độ xây dựng quá dày, thiếu các công trình tiện ích xã hội, chất lượng dịch vụ công ích chưa đảm bảo, ô nhiễm
môi trường đã làm cho cư dân bức xúc
Bước sang thế kỷ XXI, phát triển bền vững trở thành mục tiêu hàng đầu cho tất cả các quốc gia, các thành phố và mọi người dân Cùng với xu thế chung của thế giới, phát triển bền vững cũng là một mục tiêu mà các khu ĐTM đang nỗ lực hướng tới Các thế hệ cư dân của thế
kỷ XXI không chỉ cần đảm bảo chất lượng sống trên khía cạnh kinh tế mà còn phải được phát triển toàn diện về văn hóa, xã hội, môi trường, được tận hưởng những giá trị truyền thống, đảm bảo quyền tự do và dân chủ, vì vậy phát triển bền vững là một lựa chọn duy nhất để đạt được cùng một lúc tất cả các mục tiêu Trong bối cảnh đó, buộc chúng ta cần phải xem xét lại việc phát triển các khu ĐTM và cần xác định hướng phát triển
Trang 21của tương lai theo các mục tiêu PTBV
Tuy nhiên đó là một bài toán khó cần có
sự quản lý chuẩn xác, chặt chẽ ở nhiều
công đoạn, từ lựa chọn vị trí, phê duyệt
quy hoạch, giám sát triển khai thực hiện,
quản lý khai thác vận hành cung cấp dịch
vụ…Thực tế hiện tại tất cả các khâu đều
đang có vướng mắc, rào cản về nhận
thức, về thể chế, quy định trách nhiệm,
phối kết hợp trong thực hiện… Vì vậy
bài viết muốn giới thiệu một số các dự án
phát triển khu đô thị mới theo hướng bền
vững khá thành công và nổi tiếng trên thế
giới như những tham khảo có giá trị cho
các nhà quản lý khu đô thị mới của Việt
Nam trong hành trình đi tìm lời giải cho
bài toán này
1 Tiểu khu ChristieWalk - Úc
Christiewalk là một tiểu khu nằm
trong khu trung tâm buôn bán Adelaide
miền Nam nước Úc.Tiểu khu có diện tích
khoảng 2000 m2 với 27 căn hộ và các
khu công cộng Dự án xây dựng cải tạo
tiểu khu được khởi xướng vào năm 1999
bởi Tổ chức Sinh thái đô thị Australia
Nguồn vốn thực hiện dự án được huy
động hoàn toàn từ phía các cá nhân mà
không có sự hỗ trợ tài chính nào từ phía
chính quyền Ý tưởng về thiết kế, quy
hoạch và quản lý của cộng đồng được
xây dựng từ những phản hồi, đóng góp
của những cư dân tương lai và người
mua căn hộ Những người này là những
người mua nhà lần đầu hoặc những người
đã từng sở hữu một căn hộ, những nhà
đầu tư, thậm chí là người đứng tuổi mong
muốn khi về hưu được sống trong một cộng đồng năng động và đa dạng
Hình 1 Khu ở Christiewalk - Úc
Khu Christiewalk thực hiện theo mô hình đô thị sinh thái rất thành công, 30% diện tích của khu là vườn cộng đồng và không gian xanh, những không gian công cộng này có được là nhờ đóng góp nỗ lực của cộng đồng, người dân sẵn lòng đóng góp thời gian và công sức vì sự phát triển chung, họ tự trồng cây, lát hè phố hay tổ chức những buổi tiệc nướng thức ăn ngoài trời để mang mọi người lại gần nhau hơn Nhà ở được thiết kế tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng mặt trời, nhiều căn hộ được xây dựng với công nghệ và vật liệu mới như: từ công nghệ xây nhà rơm, bê tông khí…Hệ thống cung cấp nước nóng bằng năng lượng mặt trời phục vụ cho tất cả các tòa nhà
Sử dụng nước tiết kiệm, nước thoát từ
Trang 22mái nhà và vỉa hè được thu gom vào hai
bể chứa ngầm được sử dụng lại trong xả
toilet và tưới cây
2 Khu đô thị Vauban – CHLB Đức
Vauban là một khu đô thị mới, rộng
38 ha, nằm cách trung tâm thành phố
Freiburg (Tây Nam nước Đức) khoảng 3
km về phía nam Nơi đây vốn là khu căn
cứ quân sự của người Pháp từ thế chiến
thứ hai Từ giữa thập niên 90, hội đồng
thành phố Freiburg đã quyết định phát
triển Vauban thành một khu dân cư sinh
thái và đưa vào sử dụng từ năm 2010
Vauban được quy hoạch cho khoảng
5.500 người dân sinh sống trong 2.000
ngôi nhà Khu ở này đã nhanh chóng trở
nên nổi tiếng trên toàn thế giới vì sở hữu
một không gian sống đô thị chất lượng
cao: thân thiện môi trường với thực phẩm
sạch hữu cơ, tiết kiệm năng lượng tối ưu
bằng việc sử dụng năng lượng tái tạo và
xây dựng những ngôi nhà không có phát
thải carbon
Vauban có đầy đủ mọi thứ như các
khu đô thị khác như: những con đường
với hàng cây xanh, những căn nhà hoàn
hảo… trừ một điểm đặc biệt: ô tô
Vauban không hoàn toàn cấm xe ô tô mà
nó chỉ cố gắng làm giảm việc sử dụng ô
tô bằng cách tạo ra một môi trường sống
nói “không” với ô tô và bãi đỗ xe Ô tô
bắt buộc phải đỗ tại các bãi xe công cộng
với phí khá cao, khoảng 17.500
Euro/năm (vào năm 2006), vì vậy không
sử dụng xe ô tô sẽ giảm bớt chi phí cho
người dân Mặt khác, các con đường ở
đây được thiết kế và xây mới theo hướng thân thiện với người đi bộ và xe đạp, đường ngắn, cong, nhiều khúc cua để hạn chế tối đa việc lái xe ô tô (cũng vì những
lý do trên mà chỉ dưới 20% người dân ở đây sở hữu ô tô) Do đó tại Vauban, người dân chủ yếu đi bộ hoặc xe đạp còn để di chuyển các quãng đường xa hơn đã có hệ thống phương tiện giao thông công cộng rất tiện lợi bao gồm xe bus và tàu điện nối liền Vauban với trung tâm Freiburg Vauban là khu dân cư đầu tiên trên toàn thế giới tự sản xuất điện không những đủ cho nhu cầu tại chỗ của người dân mà còn thừa để bán lại cho lưới điện thành phố.Đó là nhờ vào các thiết kế nhà tận dụng được các nguồn năng lượng tái tạo và có mức tiêu hao năng lượng thấp
Hình 2 Khu Vauban – CHLB Đức
Trang 23Trước mỗi căn hộ đều có rất nhiều
cây xanh và tại không gian sinh hoạt cộng
đồng cũng xanh mướt màu xanh của cây
cối.Công viên, sân chơi cho trẻ em được
thiết kế thân thiện ngay liền kề khu dân cư
thực sự khiến Vauban là một nơi lý tưởng
cho các hộ gia đình có trẻ nhỏ
Hình 3 Không gian xanh
trong Khu Vauban – CHLB Đức
3 Khu đô thị Hammarby Sjostad,
Stockholm- Thụy Điển
Khu đô thị Hammarby Sjostad của
thành phố bên hồ Hammarby là khu đô
thị đã có rất nhiều sáng kiến đổi mới Mô
hình “Hammarby” đã trở thành một công
cụ áp dụng cho phát triển thành phố thân
thiện với môi trường trên toàn thế giới
Khu vực này trước đây là khu hải cảng
và khu công nghiệp, hiện đang được
chuyển thành khu đô thị theo mô hình
Thành phố Symbio Trong tương lai, sẽ
có khoảng 11.000 căn hộ cho khoảng
3.5000 người dân sống tại đây Theo quy hoạch mới, nguồn điện của thành phố được tạo ra từ chất thải, đáp ứng 50% nhu cầu điện năng của thành phố Khu đô thị này cũng có một hệ thống sinh thái độc đáo thông qua việc tích hợp năng lượng, chất thải rắn, nước và nước thải để tạo ra các nguồn năng lượng dùng cho các tòa nhà văn phòng, khu dân cư và công trình công cộng Đây thực sự là mô hình thành công về hợp tác đầu tư giữa nhà nước và doanh nghiệp, cụ thể là chính quyền thành phố Stốckhôm và 25 công ty đã cùng xây dựng khu đô thị mới Các công ty đã đóng góp 80% tổng vốn đầu tư xây dựng Vật liệu được lựa chọn kỹ càng dựa trên các tiêu chuẩn quy định về môi trường sao cho không gây tổn hại đến sức khỏe công nhân xây dựng
và các hộ gia đình sẽ đến sống tại đây
Hình 4 Khu đô thị Hammarby Sjostad, Stockholm- Thụy Điển
Trang 24* Hàm ý bài học:
-Nhà nước dường như không còn vai
trò tham gia trực tiếp vào sự phát triển
của các khu ở này mà chỉ gián tiếp tham
dự thông qua các định hướng quy hoạch,
các quy định và các tiêu chuẩn xây dựng
cho các khu ở Khuyến khích và hỗ trợ
các doanh nghiệp tham dự thông qua các
chính sách phù hợp
-Thực hiện xây dựng phát triển các
khu ở theo hướng bền vững bằng các dự
án độc lập sẽ mang lại cách thức hiệu quả
cho việc cân bằng lợi ích doanh nghiệp
Tài liệu tham khảo:
1.Đề tài NCKH cấp cơ sở : “ Quản
lý khu đô thị mới theo hướng phát triển bền vững”, năm 2013
Trang 25TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ ĐẤT Ở,
ĐẤT SẢN XUẤT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
(từ năm 2002 đến năm 2011)
ThS Trần Thị Thoa* Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn
1 Thực trạng giải quyết đất ở, đất
sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số
từ năm 2002 - 2011
Trước năm 1980, vùng dân tộc thiểu
số (DTTS), diện tích đất nông nghiệp,
diện tích đất rừng lớn, mật độ dân số thấp
nên các gia đình đồng bào DTTS đều có
đất ở, đất sản xuất Tuy nhiên do đặc
điểm cư trú là du canh du cư hoặc quá
trình tăng dân số, di dân tự do hoặc do
nhu cầu phát triển thủy điện, khai
khoáng,… dẫn đến tình trạng ngày càng
nhiều hộ đồng bào DTTS thiếu đất ở, đất
sản xuất Từ năm 2002 đến năm 2011, cả
nước có 558.485 hộ đồng bào DTTS
nghèo cần được hỗ trợ đất ở, đất sản
xuất1 Trước thực tế này, Chính phủ và
các Bộ ngành đã ban hành nhiều chính
sách, quy định về giải quyết đất ở, đất
sản xuất cho đồng bào DTTS; kết quả
sau 10 năm thực hiện các địa phương đã
hỗ trợ 231.264 hộ, đạt 41,5% so với tổng
số hộ theo kế hoạch được phê duyệt1;
nhiều gia đình đến nay đã có cuộc sống
tốt hơn và vươn lên thoát nghèo, một số
mô hình sản xuất bước đầu có hiệu quả,
một số khu tái định cư đã được quy
hoạch, đầu tư đồng bộ về hạ tầng và khu
sản xuất đảm bảo ổn định chính trị và trật
tự an toàn xã hội Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách
về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, đến nay vẫn còn nhiều bất cập xảy ra:
Một là, công tác tổng hợp số liệu, rà
soát, xác định đối tượng thụ hưởng thiếu chính xác gây khó khăn cho các cơ quan Trung ương khi phê duyệt kế hoạch và xác định nguồn lực, địa phương cũng khó lựa chọn giải pháp tổ chức thực hiện;
Hai là, hệ thống văn bản hướng dẫn,
triển khai thực hiện chậm, chồng chéo; công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện không kịp thời để giải quyết vướng mắc, nảy sinh Về giải quyết đất ở liên quan đến các Quyết định 134,
193, 160, 167, 33, 1460, về giải quyết đất sản xuất lại liên quan đến các Quyết định 134, 1592, 193, 1460, 74 Mỗi chính sách gắn với từng Bộ trực tiếp chủ trì, quản lý, chỉ đạo nên trong quá trình thực hiện còn nảy sinh các bất cập, chồng chéo khi triển khai thực hiện, mỗi chính sách có một định mức áp dụng khác gây ra thắc mắc ở ngay trong các đối tượng thụ hưởng;
Ba là, vấn đề thiếu nguồn lực, thiếu
đất sản xuất, thời gian thực hiện ngắn dẫn đến kết quả đạt được còn thấp Quyết
Trang 26định 132 ban hành năm 2002, kết thúc
năm 2003; Quyết định 134 ban hành năm
2004, kết thúc năm 2006; Quyết định 304
ban hành năm 2005, kết thúc năm 2006;
Quyết định 33 ban hành năm 2007, kết
thúc năm 2010; Quyết định 74 ban hành
năm 2008, kết thúc năm 2010;
Bốn là, việc quản lý đất đai còn
nhiều hạn chế, ở nhiều địa phương hiện
nay đang có nhiều doanh nghiệp, cá nhân
ở nơi khác đến mua, gom ruộng đất của
các hộ DTTS Người dân địa phương bán
đất rồi lại đi phá rừng tự nhiên, đốt
nương làm rẫy hoặc phải đi làm thuê gây
ra các vấn đề xã hội ngày càng phức tạp
cho xã hội nông thôn;
Năm là, mục tiêu thu hồi một phần
diện tích đất từ các nông, lâm trường sử
dụng chưa đúng mục đích, chưa hiệu quả
để tạo quỹ đất giao cho các hộ DTTS
nghèo (thiếu đất hoặc không có đất sản
xuất) đạt kết quả rất hạn chế
2 Một số giải pháp góp phần thực
hiện tốt chính sách về đất ở, đất sản
xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số
Một là, kiểm soát chặt chẽ việc
chuyển đổi, chuyển nhượng, đầu cơ đất
sản xuất các loại (kể cả đất ở trong vùng
dân tộc thiểu số, vùng biên giới) (đặc biệt
là đất thuộc diện thụ hưởng các chính
sách hỗ trợ của Nhà nước) theo Luật đất
đai sửa đổi, bổ sung năm 2013;
Hai là, chính quyền cơ sở và Cơ
quan có trách nhiệm quản lý về cư trú
phải kiểm soát chặt chẽ các đối tượng cư
trú và các biến động cư trú để hạn chế tối
đa tình trạng du canh, du cư và di dân tự
do ở địa phương mình Thực hiện nghiêm túc việc đăng ký thường trú và tạm trú cho công dân theo quy định của pháp luật hiện hành (Hiến pháp và Luật Cư trú);
Ba là, Chính phủ cần phải chỉ đạo
thống nhất và giải quyết dứt điểm việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất hoặc giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS nghèo không có đất sản xuất Chỉ đạo các địa phương nhanh chóng hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020;
Bốn là, các địa phương cần rà soát
lại các đối tượng bị mất đất ở, đất sản xuất (còn sót lại) do xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, khai khoáng, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu,… để tiếp tục thực hiện “tái định cư” sớm ổn định nơi ở, nơi sản xuất hoặc chuyển đổi nghề bền vững cho các đối tượng này;
Năm là, Tăng cường công tác tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện các chính sách phát luật về đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt cảnh báo người dân cảnh giác hiện tượng lừa đảo của các đối tượng đầu cơ, thu gom đất đai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bất hợp pháp ở các địa phương;
Sáu là, Tiếp tục tạo quỹ đất cho địa
phương bằng cách khai hoang, cải tạo đất, rà soát và thu hồi đất của các dự án
Trang 27không khả thi vùng dân tộc thiểu số để
giao cho người dân địa phương sản xuất;
Bảy là, Thực hiện nghiêm túc việc
bàn giao đất của các nông, lâm trường sử
dụng sai mục đích hoặc kém hiệu quả,
đất “phát canh thu tô”, giao khoán không
đúng đối tượng (đã qua kết luận của cơ
quan có thẩm quyền) cho địa phương để
giao cho hộ thiếu hoặc chưa có đất sản
xuất Bên cạnh đó, cũng cần thiết phải
gắn trách nhiệm của các nông, lâm
trường với việc hỗ trợ đào tạo nghề, thu
hút lao động là người DTTS vào làm
công nhân, góp cổ phần, cùng hưởng lợi
với các chủ đầu tư;
Tài liệu tham khảo
1 Báo cáo số 252/BC-UBTVQH13
ngày 03 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát
việc thực hiện chính sách, pháp luật về
đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc
thiểu số;
2 Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg
về việc giải quyết đất sản xuất và đất ở cho
đồng bào DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên;
3 Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg
về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn;
6 Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg
về việc một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho hộ đồng bào DTTS nghèo đời sống khó khăn vùng đồng bằng song Cửu Long giai đoạn 2008-2010;
7 Quyết định số 1592/2009/QĐ-TTg
về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho đồng bào DTTS (từ năm 2009-2010 do Ủy ban Dân tộc chủ trì)
Trang 28MÔI TRƯỜNG BIỂN VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ThS Đỗ Thị Hải Yến Tóm tắt: Phát triển kinh tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia, song nó cũng gây
nhiều tác động xấu tới môi trường, trong đó có môi trường biển Ô nhiễm môi trường biển 4 do nhiều nguyên nhân, làm suy giảm chất lượng nước, suy giảm các loài sinh vật và tác động xấu đối với cuộc sống con người Ô nhiễm môi trường biển là vấn đề lớn đặt ra đối với tất cả quốc gia, trong đó có Việt Nam Biển Việt Nam bị ô nhiễm ở nhiều nơi, ảnh hưởng tới sự phát huy tiềm năng của biển để phát triển kinh tế, nhất là phát triển du lịch, nghỉ dưỡng Giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển đang là mối quan tâm của các cấp, ngành, địa phương, đây cũng là một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030
Từ khóa: Ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường biển
4Biển Việt Nam có diện tích khoảng
1 triệu km2, trải dài từ Bắc xuống Nam
với đường bờ biển 3260 km Biển nước
ta giáp trực tiếp với biển của nhiều nước
trong khu vực như Trung Quốc,
Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia,
Singapore, Campuchia, Thái Lan Biển
có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội và an ninh
quốc phòng Biển không chỉ là nơi cung
cấp tài nguyên thiên nhiên (sinh vật và
phi sinh vật), nơi diễn ra các hoạt động
kinh tế (nổi bật là đánh bắt hải sản, khai
thác khoáng sản, giao thông vận tải), mà
biển còn có chức năng điều hòa khí hậu,
là nơi có nhiều bãi biển, danh thắng để
con người nghỉ ngơi, thư giãn, … Trong
4 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển theo công ước
Luật Biển 1982
qúa trình con người khai thác tài nguyên
và phát triển ở khu vực ven bờ đã thải ra biển nhiều thứ gây ô nhiễm môi trường Biển tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối và các chất thải từ các hoạt động trên biển như khai thác dầu khí, giao thông vận tải biển, du lịch biển Một số vùng biển sâu trên thế giới còn là nơi đổ các chất thải độc hại như bùn thải chất thải phóng xạ của một số quốc gia Các chất phóng xạ này trực tiếp thay đổi sự sống của sinh vật biển, xâm nhập vào cơ thể con người ảnh hưởng tới sức khỏe con người Ở nước ta nguồn ô nhiễm trực tiếp từ chất phóng xạ không có Tuy nhiên, cũng không loại trừ nguy cơ bị ô nhiễm hạt nhân do các quốc gia khác tiến hành chôn lấp dưới biển và các tàu quân sự và
Trang 29thương mại chạy bằng năng lượng
nguyên tử thải vào biển Các hoạt động
kinh tế trên biển hay vùng ven biển hiện
nay đã và đang làm suy giảm chất lượng
môi trường biển, gây mất cân bằng sinh
thái, giảm độ đa dạng sinh học, thậm chí
có những loài sinh vật bị biến mất do
không thích nghi được với những thay
đổi bất lợi này Trên cơ sở những số liệu
về thực trạng ô nhiễm môi trường biển,
tác giả tìm hiểu và phân tích các nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường và đề xuất
một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình
trạng này trên vùng biển nước ta
1 Nguồn gây ô nhiễm môi
trường biển
Tình trạng ô nhiễm môi trường biển
trên thế giới hiện đang diễn ra khá phức
tạp Các nguồn gây ô nhiễm biển xuất
phát từ rất nhiều hoạt động trong các điều
208, 209, 210, 211, 212 của công ước
Luật biển năm 1982 cũng đã chỉ ra các
nguồn gây ô nhiễm biển là: bắt nguồn từ
đất liền; các hoạt động liên quan đến đáy
biển thuộc quyền tài phán quốc gia (thăm
dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục
địa và đáy đại dương); do nhận chìm
(thải các chất độc hại ra biển); t-àu
thuyền gây ra (vận chuyển hàng hóa trên
biển); Ô nhiễm không khí Tuy nhiên để
phân tích đầy đủ và toàn diện những
nguồn gây ô nhiễm biển, người ta chia ra
thành 2 nhóm: Ô nhiễm nguồn lục địa,
loại này chiếm trên 80% lượng gây ô
nhiễm; Ô nhiễm nguồn biển là các hoạt
động trên biển hoặc tự do biển sinh ra,
…Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng khoảng 90% lượng tồn dư của các chất gây ô nhiễm nguồn biển cũng sẽ dạt vào vùng biển ven bờ dưới tác động của gió, sóng biển, dòng chảy của biển và thủy triều [1] Như vậy, vùng ven bờ, đặc biệt là vùng triều là nơi tập trung các chất gây ô nhiễm biển nhiều nhất Đối với môi trường biển nước ta hiện cũng đang chịu tác động
từ các nguyên nhân như trên
1.1 Ô nhiễm từ đất liền
Mặc dù chưa có nghiên cứu đầy đủ
về tình hình ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền,hực tế cho thấy những nguồn gây đe dọa lớn nhất đối với môi trường biển là nước thải, chất thải sản xuất trong đó các hóa chất, các chất hữu cơ khó phân hủy, các hợp chất clo hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật, bùn đất do xói lở, rác thải khó phân hủy, dầu mỡ, các chất chứa kim loại nặng, các chất thải của ngành lọc hóa dầu là những chất thải có hại Các nguồn này có thể thải trực tiếp vào môi trường biển hoặc thông qua các hệ thống sông ngòi với 122 cửa sông trải dài từ Bắc vào Nam của nước ta
Thứ nhất, nguồn ô nhiễm từ nước thải: Do đặc điểm nước ta trải dài từ Hà
Giang tới Cà Mau với hơn 3000 km, nhưng hẹp về chiều ngang, nơi hẹp nhất
50 km, rộng nhất 600 km, trong khi đó bình quân cứ 20 km bờ biển lại có một cửa sông Hàng năm hệ thống sông đã đưa ra biển khoảng 900 tỷ m3 nước,
Trang 30mang theo 200-250 triệu tấn phù sa, hàng
triệu tấn chất vô cơ, hữu cơ từ các nguồn
tự nhiên và nhân tạo [2] Nguồn nước
thải phát sinh chủ yếu là nước thải sinh
hoạt và nước thải công nghiệp Ngoài ra
còn có nước thải y tế và nước thải do sản
xuất nông nghiệp Hiện nay nước ta có
28 tỉnh, thành phố ven biển với dân số
khoảng 24 triệu người [3], dân số khu
vực này vẫn có xu hướng tăng trong
tương lai Trong khi đó hầu như chưa có
thành phố, thị xã, hay địa phương nào
trong cả nước có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung đảm bảo tiêu chuẩn Toàn bộ lượng nước thải này đều được đổ trực tiếp ra sông, hồ, ao và đổ
ra biển Đây là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển Theo ước tính của Viện Cơ học, tổng lượng thải các tỉnh ven biển thải vào môi trường biển năm 2009 là 11.800.000 m3/ngày Các chất ô nhiễm trong nguồn nước thải này cũng lớn, cụ thể trong bảng 1
Bảng 1: Các loại chất thải thải ra biển
Khoảng 79% các khu công nghiệp
của cả nước tập trung tại khu vực ven
biển Lượng nước thải xả ra từ các khu
này cũng là nguồn gây áp lực lên môi
trường biển Khu vực Đông Nam Bộ là
vùng phát sinh lượng nước thải công
nghiệp lớn nhất trong các vùng kinh tế
của cả nước (chiếm 50%) Báo cáo của
Bộ Tài nguyên và Môi trường về môi
trường khu công nghiệp Việt Nam năm
2009 cũng cho thấy, tổng lượng nước
thải phát sinh từ các khu công nghiệp của
57.700m3/ngày); Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 93.550m3/ngày; Bình Dương khoảng 45.900m3/ngày, Đồng Nai khoảng 179.066m3/ngày Các chỉ tiêu phản ánh ô nhiễm môi trường trong nước thải từ các khu công nghiệp hiện ở mức cao: TSS 39.395 kg/ngày, BOD5 24.532 kg/ngày, COD 57.122 kg/ngày [4] Hoạt động của một số ngành khác cũng ảnh
Trang 31hưởng đến môi trường như ngành khai
thác than, nước thải ở các mỏ than có
thể gây bồi lấp, làm mất nguồn thủy
sinh, hay suy giảm chất lượng nước
Lượng nước thải của các khu vực khai
thác than khoảng 25-30 triệu m3/năm với
độ axit cao (pH: 3,1-6,5) tập trung chủ
yếu ở tỉnh Quảng Ninh [1] Nguồn nước
thải này đã ảnh hưởng tới vịnh Hạ Long,
vịnh Bái Tử Long khiến nhiều bãi biển
không khai thác được Tình trạng xả
nước thải từ đất liền không qua xử lý
gây ô nhiễm môi trường biển vẫn đang
diễn ra ở các tỉnh thành trong cả nước,
thậm chí lượng nước thải ra năm sau còn
lớn hơn năm trước
Thứ hai, nguồn ô nhiễm từ rác
thải: Vấn đề xử lý rác thải của nước ta
hiện nay đang gặp nhiều khó khăn ở tất
các các vùng và các địa phương Lượng
chất thải rắn sinh hoạt của dân cư ở khu
vực ven biển khoảng 5.200-10.300
tấn/ngày (Viện Cơ học, 2009) Chỉ cần
1% tổng lượng rác thải này không được
xử lý đổ ra biển cũng đã ảnh hưởng nhiều
đến môi trường biển Ngoài ra, một
lượng chất thải nguy hại từ các hoạt
động công nghiệp, y tế, làng nghề và các
hoạt động khác chưa được xử lý triệt để
cũng đang đổ ra sông và ra biển Tổng
lượng chất thải nguy hại tại các làng
nghề toàn quốc khoảng 2.800 tấn/ngày,
trong đó miền Bắc phát sinh nhiều nhất,
đặc biệt các làng nghề tái chế kim loại,
đúc đồng [5] Thực tế con số này còn lớn
hơn nhiều do chưa có số liệu thống kê
đầy đủ, vì vậy những tấn rác thông
thường và nguy hại đang ngày đêm được
xả trực tiếp ra sông và rồi đổ ra biển, đang làm cho chất lượng và cảnh quan môi trường biển ngày càng xấu đi, đặc biệt khu vực ven bờ
Ngoài ra còn rất nhiều nguồn chất thải, nước thải đang ngày đêm đổ ra biển như nước chứa thuốc bảo vệ thực vật, hay hóa chất trong chất thải nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản; chất thải, nước thải từ hoạt động du lịch Các con số đưa ra cũng chưa nói hết được những nguy hiểm tiềm tàng mà các nguồn thải gây ra cho biển
1.2 Ô nhiễm từ các hoạt động trên biển
Thứ nhất, do hoạt động vận tải biển:
Biển Việt Nam có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, cũng như gần các tuyến hàng hải quốc tếkết nối rất nhiều lục địa
và vùng lãnh thổ Các nhà khoa học Mỹ
đã chứng minh được 70% trong số hai triệu tấn dầu rò rỉ ra biển là do sự cố tràn dầu và từ các tàu thuyền nhỏ trên biển phần còn lại là do các tàu lớn chở dầu[6] Hơn nữa do đặc tính dầu là dung dịch nhẹ hơn nước nổi trên mặt nước và có khả năng lan truyền rất nhanh ra xung quanh nên mức độ ảnh hưởng của nó rất lớn khi có sự cố xảy ra Theo thống kê từ năm 1992-2006, trên biển Việt Nam xảy
ra 35 vụ sự cố tràn dầu, đa số các sự cố tràn dầu là do đâm va của tàu dầu, trong
đó 56% số vụ của tàu dưới 700 tấn, còn lại là số vụ của tàu trên 700 tấn [6] Những năm gần đây số vụ tràn dầu có xu hướng tăng Nhưng do khả năng ứng phó, phòng chống và khắc phục các sự cố
Trang 32này được nâng cao nên mức độ ảnh
hưởng đã giảm nhiều
Ngoài các nguy cơ tiềm ẩn về tràn
dầu do tàu thuyền qua lại trên vùng biển
Việt Nam thì phải kể đến hoạt động xả
thải (nước thải và rác thải) từ các tàu
thuyền, phương tiện hàng hải, nhà máy
đóng mới và sửa chữa tàu biển, cảng
biển Những năm gần đây, tại cụm
cảng Hải Phòng – Quảng Ninh mỗi
tháng có khoảng 400 tàu xuất ngoại,
lượng nước giữ cho tàu thuyền thăng
bằng khi không có hàng cần thanh thải
ước tính 430.000-710.000 m3 Năm
2008, lượng nước thải lẫn dầu từ 394 tàu
biển đến cảng Hải Phòng là 4.578 tấn
trong đó có 2561 tấn dầu cặn [1] Nếu
toàn bộ lượng nước thải và dầu thải từ
các tàu này xả trực tiếp ra biển sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến môi trường
nước biển khu vực và xung quanh
Thứ hai, do hoạt động khai thác dầu
khí: Thềm lục địa của nước ta rộng lớn
và là nơi có triển vọng dầu khí lớn nên
vùng biển nước ta đã trở thành một trong
những vùng biển nhộn nhịp trong hoạt
động thăm dò và khai thác dầu khí Hiện
nay, có khoảng 340 giếng khoan thăm dò
và khai thác dầu khí, tập trung nhiều ở
vùng biển Tây Nam của nước ta [7]
Trong quá trình hoạt động khai thác dầu
khí ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối
lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động
này còn phát thải khoảng 5.600 tấn rác
thải dầu khí, trong đó có 20 – 30% là
chất thải rắn nguy hại [7] Ngoài ra, mỗi
năm ước tính có khoảng 2 triệu tấn dầu
mỏ tràn ra mặt biển do những sự cố ở các
dàn khoan dầu và các tầu chuyên trở qua vùng biển nước ta Các tàu chở dầu cũng làm thất thoát một lượng dầu mỏ khoảng 0,7% tải trọng của chúng trong quá trình vận chuyển thông thường[8]
Các nguồn gây ô nhiễm với môi trường biển của nước ta nhiều và khả năng xảy ra rất cao từ tất cả các hoạt động ở bất kỳ khu vực nào cả đất liền và trên biển Chính những nguy cơ tiềm tàng này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường biển
2 Hiện trạng môi trường biển Việt Nam
Ô nhiễm chất lượng nước biển: Với
một quốc gia có nhiều cửa sông và chiều ngang hẹp, hầu hết các thành phố tập trung ven biển nên nguồn nước ven bờ biển chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các hoạt động trên lục địa Kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: Vùng ven
bờ biển có hàm lượng các chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn như: rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu Oxy hóa (COD), Amoni, Xyanua và đặc biệt dầu mỡ khá cao Chất rắn lơ lửng trong nước biển khu vực ven biển Đồng bằng Sông Hồng và sông Cửu Long cao hơn so với các khu vực khác, một phần do khu vực có nhiều cửa sông lớn hàm lượng phù sa do sông vận chuyển nhiều Hàm lượng dầu trung bình trong nước biển ven
bờ dọc bờ biển nước ta cao hơn QCVN 10:2008/BTNMT đối với nước biển ven
bờ cho vùng nuôi trồng thủy sản, bảo vệ thủy sinh Đặc biệt khu vực cửa Lục (Quảng Ninh) hàm lượng dầu gấp 4-10 lần, khu vực phía Đông Nam Bộ gấp 2-3 lần quy chuẩn cho phép [1]
Trang 33Hình 1: Diễn biến hàm lượng dầu trung bình trong nước biển ven bờ
ở một số khu vực ven biển nước ta từ năm 2005-2009 [1]
Không chỉ khu vực ven bờ nguồn
nước biển có dấu hiệu ô nhiễm mà vùng
nước biển ngoài khơi cũng đang trong
tình trạng này Các chỉ tiêu như DO,
N-NH+ và dầu tại các vùng biển hầu hết đều
cao hơn sơ với tiêu chuẩn của ASEAN
Trong đó hàm lượng dầu cao nhất nếu
theo Tiêu chuẩn ASEAN56∗là 0,4 µg/l,
nhưng có những khu vực cao gấp 5-6 lần
như ở ngoài khơi Đông Nam Bộ, tại các
đảo Trường Sa, Côn Sơn cũng cao gấp 2
lần, đây là những khu vực khai thác dầu
Trang 34Suy giảm đa dạng sinh học: Môi
trường vùng nước ven bờ đã bị ô nhiễm
bởi dầu, và các chỉ tiêu khác cũng là một
phần nguyên nhân ảnh hưởng đến các hệ
sinh thái ven biển như: rừng ngập mặn,
các hệ sinh thái biển khơi và các loài bản
địa, đặc hữu của biển nước ta Nhiều loài
sinh vật biển hiện đang giảm về số lượng,
có loài đã tuyệt chủng cục bộ Có đến
236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở
cấp độ khác nhau, trong đó có hơn 70
loài sinh vật biển đã bị liệt kê trong sách
đỏ Việt Nam [9] Nhiều hệ sinh thái san
hô đang dần biến mất một phần do khai
thác, phần nguyên nhân khác cũng do
môi trường nước không đảm bảo do san
hô là loài sống trong điều kiện môi
trường nước tương đối sạch Năm 2002,
Viện Tài nguyên Thế giới đã cảnh báo
khoảng 80% rạn san hô ở vùng biển Việt
Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó
50% ở mức cao Nếu không có hành
động tích cực và hiệu quả thì chỉ đến hết
năm 2030, biển Việt Nam sẽ trở thành
“thủy mạc”, không còn rạn san hô Các
rạn san hô thường là môi trường sống của
khoảng 1/4 các loài cá, đồng thời còn là
nơi cư trú của các loài sinh vật biển khác
[9] Sự mất dần của các rạn san hô và sẽ
khiến lượng cá bị suy giảm nghiêm
trọng, thậm chí còn dẫn đến sự tuyệt
chủng của một số sinh vật biển do chúng
không còn nơi để cư trú và sinh sản Có
khoảng 90% các chất ô nhiễm ở biển sẽ
dạt vào bờ [10] vì vậy đới bờ cụ thể là
hệ sinh thái rừng ngập mặn chịu tác động lớn nhất nếu xảy ra ô nhiễm Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch rừng, sau 60 năm (1943-2003), rừng ngập mặn của nước ta đã mất gần 4/5 diện tích, số lượng các loài của hệ sinh thái này cũng
bị suy giảm, một phần nguyên nhân là do chất lượng môi trường biển ô nhiễm Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển t có nhiều nhưng phải kể đến nguyên nhân do chúng ta chưa có sự quan tâm và hành động đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường biển Chúng ta quá chú trọng vào phát triển kinh tế biển mà ít chú trọng tới hệ thống thiên nhiên và bảo vệ môi trường (BVMT) Trong khi đó người dân vẫn thiếu hiểu biết pháp luật về biển, nhất là pháp luật bảo vệ môi trường biển; đồng thời công tác quản lý biển cũng chưa tốt, góp phần làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường biển
Bên cạnh đó, các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam còn chung chung, chưa cụ thể và thiếu thực tế, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện Hoạt động hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực BVMT cũng như việc tham gia ký kết và thực thi các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển của chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự được quan tâm, chú trọng
Trang 353 Một số giải pháp giảm thiểu ô
nhiễm, cải thiện chất lượng môi
trường biển
Từ những phân tích ở trên, tác giả
xin đề xuất một số giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả trong công tác giảm thiểu
ô nhiễm và bảo vệ môi trường biển
Thứ nhất, kiểm soát các nguồn gây ô
nhiễm môi trường biển Các nguồn ô
nhiễm từ đất liền hay chính trên biển cần
phải được kiểm soát chặt chẽ Công tác
phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với
các hoạt động du lịch, hàng hải; khoan,
thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí;
khai thác khoáng sản; đánh bắt, nuôi
trồng thuỷ sản; thải đổ bùn nạo vét luồng
giao thông thủy, công trình biển… phải
được chú trọng Các nguồn thải có nguồn
gốc từ đất liền, đặc biệt các khu công
nghiệp, khu chế xuất, các cảng biển, cảng
sông, khu đóng tầu thuyền phải được
kiểm soát Tất cả các nguồn thải phải
được xử lý đạt quy chuẩn cho phép mới
được xả thải
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản
pháp lý một cách đồng bộ, kịp thời Hoàn
thiện sớm Luật tài nguyên, môi trường
biển và hải đảo, Luật bảo vệ môi trường
sửa đổi và các văn bản có liên quan để có
căn cứ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển Việc xây dựng và ban hành
các bộ luật, văn bản qui phạm pháp luật
về biển tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc,
đảm bảo cho việc thực hiện thành công
công tác quản lý tổng hợp, khai thác hợp
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển Đồng thời cần rà soát các văn bản của các bộ, ban, ngành để tránh trường hợp các văn bản chồng chéo, không thống nhất Ngoài ra cũng cần xây dựng các chế tài về kinh tế để xử lý các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường biển thông qua hệ thống thuế, phí, lệ phí, …
Thứ ba, tăng cường nguồn lực quản
lý môi trường đối với biển và hải đảo Hiện nay nguồn nhân lực tham gia quản
lý biển và hải đảo bao gồm cảnh sát biển, biên phòng, hải quân, lực lượng kiểm ngư, tổng cục biển và hải đảo và một số
bộ ngành khác đang thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn Nguyên nhân cũng
do một số đơn vị mới được thành lập, kinh nghiệm về lĩnh vực này chưa nhiều cũng như công tác đào tạo nhân lực cho biển mới được tiến hành rất hạn chế Vì thế, cần nhanh chóng có kế hoạch đào tạo nhân lực cho các hoạt động khai thác, quản lý biển Đồng thời, Chính phủ cần
bổ sung nguồn kinh phí phục vụ hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường biển, hải đảo Đầu tư tầu thuyền, trang thiết bị, máy móc để giám sát chất lượng môi trường nước biển thường xuyên liên tục, sớm phát hiện những khu vực bị ô nhiễm
và nguyên nhân để kịp thời khắc phục Ngoài ra, đầu tư xây dựng các công trình
kỹ thuật biển Mặt khác, Chính phủ cần
có quy định về việc xây dựng các công trình xử lý chất thải đối với tất cả các
Trang 36doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ xây
dựng mới
Thứ tư, đẩy mạnh điều tra, khảo sát,
quan trắc, nghiên cứu về tài nguyên, môi
trường biển để sử dụng bền vững tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển Các
số liệu điều tra cơ bản này sẽ cung cấp
những thông tin quan trọng, giúp công
tác họach định chính sách biển có hiệu
quả cao, đồng thời cung cấp cơ sở thông
tin khoa học để bố trí không gian và phát
triển các vùng biển phù hợp với sinh thái
của từng vùng Lập danh mục các khu
vực đa dạng sinh học biển, các vườn
quốc gia biển và có phương án bảo vệ
quản lý với từng khu vực
Thứ năm, chú trọng các giải pháp
bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng
dân cư ven biển Đa số dân cư ở vùng
ven biển thường nghèo và sống phụ
thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi biển Để
giảm thiểu áp lực đối với nguồn tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển, Nhà
nước cần có biện pháp để tăng cường áp
dụng các giải pháp chuyển đổi nghề
nghiệp, đảm bảo sinh kế bền vững cho
cộng đồng dân cư ven biển Đây cũng là
một trong những mô hình quản lý bảo vệ
môi trường dựa vào cộng đồng Mô hình
này đã được triển khai trong hoạt động
bảo vệ môi trường nói chung ở nhiều địa
phương và cho thấy hiệu quả, trên cơ sở
đó áp dụng đối với hoạt động bảo vệ môi
trường biển Đồng thời, nâng cao nhận
thức cộng đồng dân cư thông qua các
hoạt động tuyên truyền về chính sách, pháp luật liên quan đến khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển
Thứ sáu, hình thành Trung tâm thông
tin về biển phục vụ việc quản lý tổng hợp
và thống nhất đối với môi trường biển Đơn vị này cần thông qua áp dụng và thực thi các giải pháp và giải quyết các vấn đề mang tính liên ngành, liên cơ quan, liên vùng, liên kết với cộng đồng
và các bên liên quan một cách kịp thời Cần phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ đối với các đơn vị cùng tham gia bảo vệ môi trường biển, đồng thời cũng có cơ chế phối hợp giữa các đơn
vị khi thực hiện các vấn đề chung, tránh
trường hợp “khi cần thì không có, khi
có thì không cần”
Thứ bảy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế
về biển nói chung và về bảo vệ môi trường biển nói riêng Trước những tình hình phức tạp liên quan đến tài nguyên
và môi trường biển vượt qua khỏi phạm
vi quốc gia, hợp tác quốc tế không chỉ đơn thuần là một sự lựa chọn mà là một
sự cần thiết của các quốc gia Việt Nam
có thể học hỏi kinh nghiệm các quốc gia khác trong vấn đề bảo vệ môi trường biển thông qua hoạt động hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ
kỹ thuật, … Tình hình ô nhiễm môi trường biển hiện vẫn đang diễn ra với xu hướng ngày một nghiêm trọng Hơn bao giờ hết các
Trang 37giải pháp giảm thiểu tình trạng này cần
thiết phải thực hiện ngay và đồng bộ,
nhằm kịp thời ngăn chặn các nguồn gây
ô nhiễm, hạn chế các tác động của nó
đến môi trường biển, nhằm cải thiện,
phục hồi môi trường biển nói riêng và
chất lượng môi trường nói chung Đây
cũng là tiêu chí quan trọng để phát triển
bền vững
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Tài nguyên và môi trường,
Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010
[2] Đỗ Đức Dương, Môi trường biển
và quản lý vùng ven bờ biển Việt Nam,
INFOTERRA
[3] GS.TS Trần Thọ Đạt, Ths
VũThị Hoài Thu, “Biến đổi khí hậu
và sinh kế ven biển”, Nxb Giao thông
vận tải, 2012
[4] Bộ Tài nguyên và môi trường,
Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2012
về môi trường nước mặt
[5] Trung tâm nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường Đô thị - Nông thôn,
Bộ Xây dựng, số liệu năm 2008 [6]http://urencothanhhoa.com.vn/?/vn/News/38/Moi-Truong/117/O-nhiem-moi-truong-bien-o-Viet-Nam-ngay-cang-nghiem-trong.html
[7]http://www.thiennhien.net/2014/03/03/nhung-thach-thuc-doi-voi-cac-sinh-thai-vung-bo-bien/
[8] Nguyễn Hồng Thao, Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, 2004
[9]http://vea.gov.vn/vn/quanlymt/baotondadangsh/ThongtinDDSH/Pages/Nguy-c%C6%A1-suy-gi%E1%BA%A3m-t%C3%A0i-nguy%C3%AAn-sinh-v%E1%BA%ADt-bi%E1%BB%83n-
.aspx
%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-bien-va-dai-
[10]http://voer.edu.vn/c/tai-nguyen-duong/b6fa6be4/e49bb213#.U0z7jKIk7H0
Trang 38DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VIỆT NAM ỨNG PHÓ VỚI CÔNG CỤ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU
ThS Lê Hoàng Oanh Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu về khái niệm “bán phá giá”, một số vụ kiện của doanh
nghiệp thủy sản và một số giải pháp giúp doanh nghiệp thủy sản ứng phó với công cụ chống bán phá giá
Sau hơn 5 năm Việt Nam gia nhập
WTO, các doanh nghiệp xuất khẩu trong
nước thường xuyên bị luật thương mại
của các nước nhập khẩu áp thuế “chống
bán phá giá” Từ các mặt hàng thủy sản,
thép, thậm chí mặt hàng đơn giản nhất là
hộp quẹt gas cũng bị kiện Điều này
chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam vẫn
còn thiếu hiểu biết đối với những luật lệ
thương mại quốc tế Thực tế, Bán phá
giá là một khái niệm cơ bản của thương
mại quốc tế Các sản phẩm bán vào
một thị trường với giá bán ở mức dưới
giá thành sản xuất thì được xem là bán
phá giá và có thể phải chịu các cuộc điều
tra và bị trừng phạt Bách khoa toàn thư
Việt Nam lại đưa ra khái niệm "Bán phá
giá" là tổng hợp những biện pháp bán hạ
giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để
cạnh tranh nhưng có hiệu quả với những
bạn hàng khác trên thị trường thế giới
Mục tiêu là đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh
thị trường ngoài nước hoặc kiếm ngoại
đệ đơn khiếu nại đến chính quyền quốc gia, cáo buộc bán phá giá gây thiệt hại cho các doanh nghiệp của họ Nếu các cáo buộc bán phá giá được chứng minh
là đúng thì sẽ có một loại thuế được áp dụng vào các mặt hàng xuất khẩu, tương với giá chênh lệch bán phá giá, hoặc đủ
để có thể ngăn ngừa thiệt hại
Trong ngành thủy sản thì hai vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) nổi tiếng nhất
là vụ kiện CBPG cá tra, cá basa và tôm vào thị trường Mỹ.Vụ cá basa bị khởi kiện vào tháng 6-2002, kết thúc vào tháng 6-2003, bị áp mức thuế CBPG từ 36,84% tới 63,88% lên doanh nghiệp Việt Nam Vụ kiện tôm bắt đầu từ tháng 12-2003, kết thúc tháng 11-2004, với mức thuế từ 4,13% tới 25,76% lên doanh nghiệp Việt Nam
Theo phân tích của các chuyên gia, Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới và đã
Trang 39từng bước nâng cao năng lực CBPG Sở
dĩ vụ kiện tôm mang lại kết quả tốt hơn,
bị áp mức thuế thấp hơn là vì Hiệp hội
Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt
Nam (VASEP) đã dự đoán trước và có
thời gian chuẩn bị khoảng 2 năm (trong
khi vụ kiện cá basa chỉ có hơn 1 tháng
chuẩn bị) Hơn 10 cuộc tập huấn về
CBPG cho các DN xuất khẩu tôm được
tổ chức, do vậy việc trả lời các bảng câu
hỏi khá tốt Ngoài việc thuê luật sư giỏi
chuyên ngành, vụ kiện tôm còn tranh thủ
được sự ủng hộ của các tổ chức phi chính
phủ Việt Nam và nước ngoài như liên
đoàn hành động người tiêu dùng, hiệp hội
các nhà phân phối thủy sản Hoa Kỳ,
nhóm đặc trách tôm Các doanh nghiệp
Việt Nam còn phối hợp với các bị đơn
khác là Thái Lan để trao đổi thông tin
trong quá trình diễn ra vụ kiện Cần biết
sử dụng nhiều kênh để tiến hành vận động
hành lang, có chiến lược và kế hoạch rõ
ràng, chủ động và tích cực trong mọi giai
đoạn trước, trong và sau vụ kiện
Các hành động CBPG, mặc dù trên
lý thuyết có ý nghĩa giải quyết sự công
bằng trong thương mại, nhưng lại đang
được sử dụng như một rào cản chống lại
sự cạnh tranh công bằng, đặc biệt là
chống lại giá lao động hiệu quả tại các
nước đang phát triển Các biện pháp đó
mang tính phân biệt đối xử, làm suy yếu
các nguyên tắc lợi thế so sánh, và kết quả
là người tiêu dùng tại các nước nhập
khẩu phải trả nhiều tiền hơn cho mặt
hàng đó, cũng như làm giảm lợi nhuận của các nhà sản xuất và các doanh nghiệp xuất khẩu ở các nước đang phát triển Hầu hết các nhà kinh tế coi luật CBPG là một điều xấu Các loại thuế CBPG thông thường không chỉ dựa vào các cách tính toán có mục tiêu cứng nhắc mà còn đang
bị ảnh hưởng nhiều bởi các cách tiếp cận, phương pháp và các nguồn dữ liệu Điều này đồng nghĩa với việc chúng có thể dễ dàng bị ảnh hưởng bởi vận động hành lang và chính trị; tuy nhiên nó cũng có nghĩa chúng ta có thể phản ứng, chống lại các loại thuế này một cách mạnh mẽ tại nhiều thời điểm trong cả quá trình kiện Trong khi các vụ kiện CBPG đều
có nhiều thành kiến với các quốc gia như Việt Nam, khả năng các vụ kiện được rút lại là rất ít Đo đó, với những chiến lược can thiệp hiệu quả chúng ta vẫn có thể đạt được một thỏa thuận tốt hơn
Việt Nam đang ở một vị trí đặc biệt yếu do quy chế kinh tế phi thị trường (NEM) của mình, điều này được xác định khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 Tình trạng này cho phép các quốc gia hoặc các tập đoàn kinh tế như Mỹ và
EU ước tính giá trị thị trường bằng cách
sử dụng chi phí và giá cả tại các nước thứ 3 - các nước tương tự về tình hình phát triển nhưng đã được công nhận là nền kinh tế thị trường Điều này không mang lại hiệu quả cho ngành sản xuất của Việt Nam
Trang 40Trong giai đoạn suy thoái, các quốc
gia đều sẵn sàng bảo vệ các ngành sản
xuất trong nước khỏi cạnh tranh nước
ngoài Do đó, khi Việt Nam tiếp tục xuất
khẩu mặt hàng thuỷ sản sang thị trường
Mỹ và Liên minh châu Âu thì khả năng
sẽ có nhiều vụ kiện CBPG trong tương
lai Vì thế, ngay từ bây giờ các doanh
nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị
trước để ứng phó vơí tình huống đó
CBPG là một vấn đề đa chiều và cách
giải quyết hiệu quả vấn đề này phải yêu
cầu một sự hiểu biết về chính trị, kinh tế,
pháp luật, thể chế và truyền thông cùng
một hệ thống các giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần
nâng cao kiến thức về luật chống bán
phá giá của WTO cũng như luật chống
bán phá giá của Hoa kỳ
Doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phải
biết tìm hiểu nâng cao kiến thức về luật
CBPG của WTO và của Hoa Kỳ, nhanh
chóng bồi dưỡng nhiều chuyên gia thông
thạo các quy tắc mậu dịch quốc tế, mời
các chuyên gia giỏi, kể cả các chuyên gia
nước ngoài đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ
quản lý của doanh nghiệp và luật sư lành
nghề Trên cơ sở đó hình thành các tổ
chức chuyên phục vụ việc ứng phó với
các tranh chấp về ngoại thương, bao gồm
đội ngũ luật sư, kế toán, nhà kinh tế và
chuyên gia chuyên sâu, có năng lực làm
việc về vấn đề này, thì mới có đủ khả
năng tư vấn cho doanh nghiệp, hỗ trợ cho
chính phủ khi xảy ra vụ kiện chống bán phá giá để đối phó
Thứ hai, các doanh nghiệp cần tìm hiểu thị trường nhập khẩu một cách kỹ càng, từ dó tạo tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu mạnh và đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản phẩm
Đa số các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kiến thức về pháp lý cũng như các thông tin của thị trường nhập khẩu như nhu cầu, tình hình sản xuất Bài học đầu tiên từ vụ cá da trơn là khi ưu thế cạnh tranh của các nhà sản xuất nội địa giảm sút, thị phần của họ bị suy giảm, họ
có thể sử dụng mọi biện pháp có thể để ngăn cản hàng nhập khẩu CBPG chỉ là một trong các biện pháp mà người sản xuất nội địa có thể sử dụng Do đó, các nhà sản xuất nội địa của Hoa Kỳ có nhiều
cơ hội trong việc ngăn cản hàng ngoại nhập.Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhằm phân tán rủi ro; không nên tập trung xuất khẩu một vài mặt hàng với khối lượng lớn vào một nước vì đây có thể là cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá
Việc tiếp thị toàn cầu cho sản phẩm
cá tra, cá basa với tư cách là một nhãn hiệu quốc gia chưa được các nhà xuất khẩu Việt Nam chú trọng Các nhà chế biến và xuất khẩu cá tra, cá basa, mặc dù
đã có rất nhiều nỗ lực để mở rộng thị trường sang nhiều nước khác nhau trên