Các nội dung nghiên cứu chính được thực hiện bao gồm: học tập kinh nghiệm thành công đối với việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh của một số nước trên thế giới; tìm hiểu hiện trạng c
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRUNG TÂM HỖ TRỢ ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH VÀ TIÊU CHÍ
ĐÁNH GIÁ LỰA CHỌN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NHÓM
NGHIÊN CỨU MẠNH Ở VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Xuân Thảo
7951
Hà Nội, 2009
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA VÀ CỘNG TÁC Các thành viên thực hiện chính:
1 TS Phạm Xuân Thảo – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
2 CN Nguyễn Thị Thu Oanh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
3 TS Tạ Doãn Trịnh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
4 CN Đỗ Thị Thùy Dương – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
Các cộng tác viên chính:
1 PGS TS Hoàng Nam Nhật – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia
Hà Nội
2 Ths Phạm Quỳnh Anh – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
3 CN Nguyễn Thị Hải Yến – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
4 Ths Vũ Hồng Diệp – Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
5 TS Stefan Arnold – Tình nguyện viên CHLB Đức tại Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
6 CN Trần Văn Hưng - Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ
7 Ths Phan Hồng Sơn – Giám đốc Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia
8 CN Bùi Thị Chiêm – Nguyên cán bộ Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài "Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam" đã được hoàn thành với sự tài trợ
của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với sự trợ giúp, hợp tác của nhiều đơn vị và cá
nhân
Nhóm thực hiện đề tài xin cảm ơn tới các nghiên cứu viên, kế toán và nhân viên
hành chính của Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ đã tham gia đóng
góp ý kiến, hỗ trợ mọi hoạt động liên quan trong khi chúng tôi thực hiện đề tài Chúng
tôi đặc biệt biết ơn TS Stefan Arnold – Chuyên gia tình nguyện CHLB Đức tại Trung
tâm và PGS TS Hoàng Nam Nhật - Trường Đại học Công nghệ, ĐHQG Hà Nội đã
luôn theo sát và đóng góp ý kiến bổ ích cho các hoạt động và kết quả nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học của một số viện nghiên cứu, trường
đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh đã cổ vũ và cung cấp dữ liệu để cuộc
khảo sát về “thực trạng của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt
Nam” thành công, đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu của đề tài
Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến một số nhà khoa học (của các trường thành
viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, một số Viện
nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và của một số đơn vị nghiên
cứu khác) đã nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đánh giá, tư vấn và đóng góp ý
kiến bình luận quí báu và bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt các nội dung của đề tài
Nhóm thực hiện đề tài cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đồng chí
Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đã trực tiếp chỉ đạo và hỗ trợ chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Sự cần thiết và bối cảnh xây dựng đề tài 10
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 11
3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 14
4 Các khái niệm 14
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Chương 1 Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 21
1 Sự phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới 21
2 Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới 25
Chương 2 Thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam 28
1 Cách thức xác định thực trạng các nhóm nghiên cứu 28
1.1 Khảo sát về hiện trạng các nhóm nghiên cứu 28
1.2 Đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu 30
2 Nhận định về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam 33
2.1 Thực trạng về các nhóm nghiên cứu 33
2.2 Các vấn đề tồn tại 36
Chương 3 Sự cần thiết của việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam và giải pháp 38
1 Sự cần thiết phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam 38
2 Các giải pháp để phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam 39
Chương 4 Phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá các nhiệm vụ nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam 46
1 Phương pháp và quy trình đánh giá 46
1.1 Phương pháp đánh giá 46
1.2 Quy trình đánh giá 46
2 Tiêu chí đánh giá 48
2.1 Tiêu chí đánh giá tuyển chọn 48
Trang 32.2 Tiêu chí đánh giá giữa kỳ 60
2.3 Tiêu chí đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư (1 project) 64
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC ……… 74
A Các phụ lục liên quan đến việc khảo sát hiện trạng các nhóm nghiên cứu và đánh giá thử một số nhóm 74
Phụ lục 1a Danh sách các nhóm nghiên cứu được khảo sát 74
Phụ lục 1b Kết quả khảo sát hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam 84
Phụ lục 2a Tiêu chí và các chỉ số đánh giá (hiện trạng) nhóm nghiên cứu các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN: 103
Phụ lục 2b Danh sách các nhóm nghiên cứu được đánh giá thử và kết quả đánh giá (được nêu ở mục 1.2, chương 1) 108
Phụ lục 2c Kết quả đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu 109
B Các phụ lục liên quan đến việc đánh giá tuyển chọn các nhiệm vụ nghiên cứu nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 111
Phụ lục 3a Phiếu nhận xét đánh giá tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh bước 1 - Lựa chọn ý tưởng khoa học và trưởng nhóm nghiên cứu các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 111
Phụ lục 3b Phiếu tổng hợp đánh giá tuyển chọn bước 1 – Lựa chọn ý tưởng khoa học và trưởng nhóm nghiên cứu 126
Phụ lục 3c Mẫu đề cương đề xuất ý tưởng nghiên cứu và thông tin về trưởng nhóm nghiên cứu/chủ nhiệm đề tài (bao gồm: đơn đăng ký tuyển chọn; bản khai thành tích nghiên cứu của trưởng nhóm; và thuyết minh sơ bộ về nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất) 128
Phụ lục 4a Phiếu đánh giá tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh bước 2 – đánh giá kế hoạch nghiên cứu chi tiết và năng lực của nhóm nghiên cứu 137
Phụ lục 4b Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá tuyển chọn bước 2 - Đánh giá kế hoạch nghiên cứu và năng lực của nhóm nghiên cứu 155
Phụ lục 4c Mẫu đề cương chi tiết kế hoạch nghiên cứu – tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 157
Phụ lục 5 Phiếu đánh giá hiện trường – tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh 191
C Các phụ lục dùng trong đánh giá giữa kỳ một chu trình đầu tư nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 193
Phụ lục 6a Phiếu nhận xét đánh giá giữa kỳ một chu trình đầu tư cho nhóm nghiên cứu mạnh các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 193
Phụ lục 6b Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá giữa kỳ một chu trình đầu tư nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 209
Phụ lục 6c Mẫu báo cáo kết quả nghiên cứu giai đoạn đầu – báo cáo giữa kỳ 211
Phụ lục 6d Mẫu báo cáo tự đánh giá giữa chu trình đầu tư 217
Phụ lục 6e Mẫu đề cương kế hoạch nghiên cứu giai đoạn sau – Đệ trình vào giữa kỳ 221
D Các phụ lục dùng trong đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh 232
Phụ lục 7a Phiếu nhận xét đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN 232
Phụ lục 7b Phiếu tổng hợp kết quả đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh 246
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam” đã được thực hiện với mục tiêu là đề
xuất được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh ở Việt Nam Trên cơ sở đó, áp dụng triển khai thực hiện nội dung
“hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức tổ chức nghiên
cứu và giải quyết những hoạt động khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia ở trình
độ quốc tế” trong quyết định số 67/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Từ
nghiên cứu này, chúng tôi cũng đề xuất được một số nội dung phục vụ triển khai đề án
“trọng dụng nhân tài khoa học và công nghệ”
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách kết hợp cả phương pháp định tính và
định lượng, sử dụng các kỹ thuật tổng hợp phân tích thông tin, dữ liệu và lấy ý kiến
chuyên gia Các nội dung nghiên cứu chính được thực hiện bao gồm: học tập kinh
nghiệm thành công đối với việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh của một số nước
trên thế giới; tìm hiểu hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
nước ta; và đề xuất phương pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển
các nhóm nghiên cứu mạnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với
quốc tế
Để tìm hiểu về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
Việt Nam, chúng tôi đã thực hiện khảo sát 124 nhóm nghiên cứu trong gần 40 tổ chức
bao gồm trường đại học và viện nghiên cứu ở cả Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Đà
Nẵng với sự tham gia của hơn 700 nhà khoa học Việc đánh giá một số nhóm nghiên
cứu cũng đã được thực hiện làm minh chứng cho những nhận định về thực trạng hoạt
động của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu Tiêu chí đánh giá các
nhóm nghiên cứu này bao gồm: (1) xem xét mục tiêu và nội dung của các nghiên cứu
mà nhóm đã và đang theo đuổi; (2) năng lực của trưởng nhóm; (3) cơ cấu và phương
thức tổ chức, hoạt động của nhóm; (4) kết quả hoạt động của nhóm trong 5 năm gần
nhất; và (5) xem xét điều kiện và môi trường làm việc của nhóm Cuối cùng, những
nhận định cơ bản về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở
Việt Nam được đưa ra như sau:
- Việc thành lập và lựa chọn hướng nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu rất manh mún, nhỏ lẻ và tự phát Cơ cấu và phương thức tổ chức hoạt động của các nhóm nghiên cứu hiện tại chưa đồng đều và chưa chuyên nghiệp
- Các nhóm nghiên cứu đều đã và đang hướng tới kết quả tốt để đóng góp cho khoa học, đào tạo và đổi mới Các nhóm thuộc lĩnh vực KHXH&NV ít có lợi thế hơn trong việc hợp tác nghiên cứu với quốc tế so với các nhóm ở lĩnh vực nghiên cứu khác Việc hợp tác của các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN trong các trường đại học và viện nghiên cứu với khối doanh nghiệp chưa thể hiện đúng vai trò chuyển giao kết quả nghiên cứu cho phát triển sản xuất
- Kinh phí hoạt động của các nhóm nghiên cứu chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước và chưa thực sự gắn kết với quả nghiên cứu, việc giành được tài trợ từ các nguồn khác là rất ít
- Mức độ đáp ứng về điều kiện và môi trường làm việc, nhất là về cơ sở vật chất, trang thiết bị và thông tin phục vụ nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu hầu hết
là ở mức thấp và thậm chí là rất thấp đối với các tổ chức nghiên cứu ở Đà Nẵng Các phòng thí nghiệm được trang bị các trang thiết bị hiện đại và đắt tiền gần như không có “tính mở” để các nhóm nghiên cứu bên ngoài tiếp cận
Qua nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của một số nước trong việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, (hay còn gọi là các trung tâm xuất sắc) chúng ta
có thể thấy rõ muốn phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh thành công thì cần đảm bảo các điều kiện cơ bản sau: quản lý hiệu quả; đội ngũ cán bộ phù hợp; cam kết hỗ trợ của các tổ chức; phân bổ hợp lý; sử dụng kinh phí hiệu quả; xác định chiến lược rõ ràng
Và đồng thời, chúng ta cũng nhận thức rõ nhu cầu bức thiết của việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam là để đáp ứng: (1) việc nâng cao năng lực về KH&CN, theo kịp chuẩn mực quốc tế, góp phần phát triển kinh tế, xã hội; (2) tạo môi trường thuận lợi để thu hút và nuôi dưỡng những tài năng KH&CN; và (3) tạo nhân tố tốt tham gia vào việc cung cấp các định hướng KH&CN, lập kế hoạch và đánh giá nghiên cứu và phát triển của quốc gia
Cũng từ những kinh nghiệm học được từ các nước trong việc lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, kết hợp với yêu cầu thực tiễn, chúng tôi đã đề xuất
Trang 5được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh phù hợp với Việt Nam
Phương pháp đánh giá chủ yếu được sử dụng là phương pháp đánh giá bằng
chuyên gia cùng ngành/đồng cấp (Peer Review) với kỹ thuật sử dụng là tổ chức hội
đồng chuyên gia, họp tổ tư vấn chuyên gia và chuyên gia độc lập đánh giá qua thư
Quy trình đánh giá bao gồm 3 giai đoạn: Đánh giá tuyển chọn, đánh giá giữa kỳ
và đánh giá kết thúc
Tiêu chí đánh giá cho mỗi giai đoạn như sau:
• Đánh giá tuyển chọn: được tuân thủ nghiêm ngặt qua 2 - 3 bước sau:
- Bước 1: Lựa chọn ý tưởng nghiên cứu và trưởng nhóm nghiên cứu/chủ nhiệm
đề tài tốt, với các tiêu chí: (1) sự cần thiết của vấn đề/công nghệ được đề xuất
nghiên cứu; (2) chất lượng của vấn đề/công nghệ được đề xuất nghiên cứu; (3)
khả năng thương mại hoá của công nghệ được đề xuất nghiên cứu - đối với lĩnh
vực KHKT-CN; và (4) năng lực của trưởng nhóm nghiên cứu/PI
- Bước 2: Lựa chọn kế hoạch nghiên cứu chi tiết cùng với nhóm nghiên cứu tốt
với các tiêu chí: (1) tính hợp lý và khả thi của kế hoạch nghiên cứu; (2) lợi ích
mong đợi của nghiên cứu; (3) sự phù hợp của dự toán kinh phí nghiên cứu; và
(4) sự xuất sắc của nhóm nghiên cứu
- Bước 3 (nếu cần): thẩm định hiện trường với các tiêu chí: (1) sự hỗ trợ của cơ
quan chủ quản; (2) tính chủ động của nhóm nghiên cứu; và (3) tính phù hợp
thực tế của kế hoạch và kinh phí nghiên cứu
• Đánh giá giữa kỳ (sau khi thực hiên một nửa chu trình đầu tư/project) để xem
xét việc tiếp tục đầu tư hay dừng lại Các tiêu chí đánh giá giữa kỳ bao gồm: (1)
mức độ đạt mục tiêu giữa kỳ và tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu; (2)
chất lượng của các kết quả đã đạt được; và (3) sự phù hợp của kế hoạch nghiên
cứu giai đoạn 2
• Đánh giá kết thúc: được thực hiện khi hoàn thành đề tài với các tiêu chí sau: (1)
mức độ đạt mục tiêu và tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu; (2) kết quả
nghiên cứu; và (3) kế hoạch sử dụng kết quả nghiên cứu và sự phát triển của
nhóm Kết quả đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư, trong một số trường hợp được sử dụng để xét xem nhóm nghiên cứu có tiếp tục được tài trợ ở chu trình tiếp theo hay không
Từ kinh nghiệm thực tế khi thực hiện đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu, chúng tôi đặc biệt lưu ý Quy tắc M/5 được đề xuất khi thực hiện các đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh rất thuận tiện Quy tắc M/5 sử dụng
cách thức đánh giá dựa trên trọng số (điểm tối đa) kết hợp với thang điểm 5 để lượng hoá từng tiêu chí (điểm 1: kém ; điểm 2: yếu ; điểm 3: trung bình ; điểm 4: khá ; điểm
5: tốt) Quy tắc M/5 đảm bảo việc chấm điểm đánh giá rất có căn cứ, dễ dàng cho
người đánh giá thể hiện quan điểm đánh giá của mình và góp phần đảm bảo tính công bằng
Trang 6PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết và bối cảnh xây dựng đề tài
Vài thế kỷ qua, xã hội loài người đã chuyển từ các nghiên cứu, khám phá đáp ứng
sự đam mê mang tính cá nhân sang các nghiên cứu liên ngành và đa ngành với các
điều kiện nghiên cứu cao cấp, các trang thiết bị hiện đại nhằm mục đích phục vụ tối đa
cho phát triển kinh tế - xã hội Với sứ mệnh đó, khoa học và công nghệ được kỳ vọng
ngày càng cao về vai trò động lực cho tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội
Theo đánh giá chung của nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách trong và
ngoài nước thì Việt Nam là nước đang phát triển với tiềm lực khoa học và công nghệ
còn rất yếu Vì vậy, câu hỏi thường trực đối với các nhà khoa học và quản lý hiện nay
là làm thế nào để vừa nhanh chóng xây dựng năng lực nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ vừa tăng nhanh sự đóng góp của hoạt động này đối với phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước?
Từ việc phân tích mối liên hệ sự thành công của một số cá nhân nhà khoa học đạt
giải quốc tế lớn trong nghiên cứu khoa học và sự phát triển vững chắc của một số
nhóm/tập thể nghiên cứu trên thế giới, GS TSKH Trương Quang Học, nguyên Giám
đốc Trung tâm CRES, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: Nhóm/tập thể nghiên cứu
khoa học là yếu tố quyết định chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học1
Trí tuệ, kiến thức, lòng say mê với sự nghiệp khoa học đã mang lại giải thưởng lớn
cho các nhà khoa học, nhưng bên cạnh họ, không thể thiếu một tập thể khoa học đồng
tâm nhất trí, với các thế hệ nối tiếp nhau để bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu
xác định mà chính các nhà khoa học này đã tổ chức để thực hiện một mục tiêu đề ra
Trong thời đại hiện nay, khi tính chất liên ngành, xuyên ngành được quán triệt không
chỉ trong hoạt động KH&CN, mà trong tất cả các hoạt động xã hội đều phải làm việc
trong sự hợp tác: làm việc theo nhóm, xây dựng nhóm làm việc và văn hoá làm việc
nhóm Triết lý làm việc theo nhóm là hiệu ứng số đông, là hệ quả của sự kế thừa và
luỹ tiến, như ông cha ta từng nói "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên
hòn núi cao" Nếu một nhóm người hợp tác để làm việc cùng nhau thì hiệu quả chung
sẽ tăng lên rất nhiều so với làm việc theo mục tiêu của từng cá nhân và sẽ được luỹ
tiến theo thời gian Vì khi đó, thế mạnh của từng người sẽ được phát huy tối đa theo sự
cộng hưởng lẫn nhau, còn điểm yếu thì lại được bù đắp
Rất nhiều nhà khoa học khẳng định rằng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, hạt nhân để hình thành các sản phẩm khoa học có chất lượng cao chính là các nhóm nghiên cứu mạnh Vì thế, bài toán nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt trình độ cao là sự ưu tiên hàng đầu Với ý chí và quyết tâm cao, trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã nêu rõ mục tiêu "Hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức tổ chức nghiên cứu và giải quyết những hoạt động khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia ở trình độ quốc tế "2 Điều này được khẳng định một lần nữa trong chuyến
thăm và làm việc của đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh với Bộ Khoa học và
Công nghệ (ngày 27-6-2008), một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm mà Tổng Bí Thư nhấn
mạnh ngành khoa học và công nghệ nước ta cần phải tập trung giải quyết là " quan tâm đến chế độ đào tạo chuyên gia đầu ngành, hình thành tập thể khoa học mạnh "
Để có cơ sở hình thành và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm phát hiện và nuôi dưỡng các tập thể khoa học mạnh, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ đã phối hợp với một số đơn vị trong, ngoài Bộ tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, khảo sát thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và đề xuất phương pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá các nhiệm vụ nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh Hy vọng, kết quả của đề tài sẽ góp một phần phục vụ triển khai đề án "trọng dụng nhân tài KH&CN" mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang trình Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, đồng đóng cho việc xây dựng cơ chế chính sách đối với cán bộ KH&CN
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Đã có một số nghiên cứu đưa ra thực trạng và các kiến nghị để nâng cao chất lượng nghiên cứu tại Việt Nam, ví dụ nhóm các giáo sư Mỹ kết hợp với các chuyên gia trong nước đã đề xuất Sáng kiến Khoa học Thiên niên kỷ cho Việt Nam (Vietnam Millennium Science Initiative)8, trong đó, kiến nghị thiết lập mạng lưới các nhóm nghiên cứu mạnh Giữa năm 2007, các chuyên gia của Viện Lập kế hoạch và Đánh giá khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KISTEP)3 - trong khuôn khổ đề tài hợp tác theo nghị định thư giữa Việt Nam và Hàn Quốc do Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và
Trang 7công nghệ thực hiện - cũng đã đưa ra kiến nghị cho Bộ Khoa học và Công nghệ về
việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ Các nhóm nghiên cứu mạnh
này thực hiện sứ mạng nâng cao năng lực cạnh tranh về KH&CN của Việt Nam và tạo
ra các công nghệ chủ chốt ở trình độ quốc tế và hỗ trợ cho các doanh nghiệp Một số
nghiên cứu4-7 trong Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã tìm hiểu về cách thức xây
dựng và hoạt động của các nhóm nghiên cứu nhằm mục tiêu phát triển nghiên cứu
trình độ quốc tế Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu này đều mới chỉ đưa ra những kiến
nghị cho việc xây dựng chính sách chung hướng tới mục tiêu đó mà chưa đưa ra được
những nội dung cụ thể đối với việc thực hiện, đặc biệt là các nội dung chi tiết về
phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá để đầu tư, phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh này
Để đạt được các thành tựu KH&CN làm tiền đề cho phát triển bền vững, nhiều
quốc gia đã thực hiện những nghiên cứu lớn liên quan đến phương thức lựa chọn và
nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu gắn
với các định hướng nghiên cứu rõ ràng Từ những nghiên cứu đó, rất nhiều nước đã
thực hiện rất thành công các chương trình phát triển những nhóm nghiên cứu mạnh về
nghiên cứu và phát triển (R&D) Các nhóm nghiên cứu này thực sự có khả năng trong
R&D, có một tiềm lực về nguồn nhân lực chất lượng cao trải khắp các khối trường đại
học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Một mặt, hệ thống nhóm nghiên cứu mạnh này
phát triển năng lực của các nhà nghiên cứu, có ghi nhận đáng kể trong việc nâng cao
năng lực KH&CN, mặt khác, các nhóm nghiên cứu mạnh như là nhân tố gắn kết chặt
chẽ trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, từ đó sản phẩm R&D được
thương mại hoá, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia, sự phát triển xã hội,
phong phú văn hoá Hơn nữa các nhóm nghiên cứu mạnh đáp ứng được các tiêu
chuẩn quốc tế về trình độ nghiên cứu, về cơ sở hạ tầng và về chất lượng sản phẩm đủ
điều kiện hội nhập vào thị trường quốc tế, một số tài liệu đã tổng kết những kinh
nghiệm thực hiện việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh như thế của một số
nước9-12 Ví dụ, ở Hàn Quốc bắt đầu chương trình Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc
gia – NRL (1999 – 2006) ; ở Malaysia, năm 2001, trung tâm xuất sắc (COE) ra đời và
COE thử đầu tiên là về công nghệ sinh học ; từ năm 1997, Chương trình các Mạng
lưới Trung tâm xuất sắc - NCE (Networks of Center of Excellence) đã được triển khai
thực hiện rất thành công ở Canada ; Thụy Sĩ cũng đã thiết lập Chương trình các
"Trung tâm Năng lực nghiên cứu Quốc gia - NCCR (National Centres of Competence
in Research)" vào năm 2005 Các NRL, COE, NCE hay NCCR đều có bản chất là
những nhóm nghiên cứu mạnh bắt nguồn từ định hướng KH&CN ưu tiên của chính phủ các nước Đối với mỗi quốc gia, tùy vào bối cảnh cụ thể, mục tiêu cụ thể mà áp dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh phù hợp để hướng tới mục đích chung là mang lại nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, cho ra những kết quả khoa học ở trình độ quốc tế và những công nghệ thiết thực, có sức cạnh tranh cao phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế -
xã hội
Qua tìm hiểu các nghiên cứu cũng như thực tế từ các nước, chúng tôi nhận thấy: mặc dù có sự khác nhau về quy mô, cách thức tổ chức thực hiện nhưng tất cả các chương trình nhằm nuôi dưỡng và phát triển các COE đều có những điểm chung như sau:
- Mục tiêu và mục đích của các chương trình này là nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở tầm quốc tế; là nơi nuôi dưỡng tài năng, chuyển giao công nghệ, tri thức và hợp tác quốc tế;
- Các COE được lựa chọn theo quy trình và tiêu chí đánh giá nghiêm ngặt; Trong mỗi chu trình đầu tư (4, 5 hoặc 6 năm), sau một giai đoạn (2 hoặc 3 năm) đều thực hiện đánh giá giữa kỳ để điều chỉnh kế hoạch nghiên cứu và xem xét việc tiếp tục
hỗ trợ;
- Các COE được đầu tư kinh phí tương đối lớn với một số chu trình đầu tư để tạo ra môi trường thích hợp (thiết bị, lương, nhà xưởng, thông tin…) nhằm thu hút các cán bộ khoa học tốt nhất đến làm việc trong điều kiện minh bạch và hiệu quả;
- Các điều kiện cơ bản để các COE đạt được sự thành công là: Quản lý hiệu quả; Đội ngũ cán bộ phù hợp; Cam kết hỗ trợ của các tổ chức; Phân bổ hợp lý; Sử dụng kinh phí hiệu quả; Xác định chiến lược rõ ràng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, bối cảnh của Việt Nam kết hợp với nghiên cứu các kinh nghiệm của các nước để đề xuất phương
Trang 8thức thực hiện và phương pháp luận đánh giá các nhiệm vụ nhằm phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
3 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đề xuất được phương pháp, quy trình và tiêu
chí đánh giá các nhiệm vụ R&D nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh (nói cách
khác là đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh) trong các tổ chức
nghiên cứu tại Việt Nam ở các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN Để đạt
được mục tiêu này, chúng tôi đã tìm hiểu được thực trạng các nhóm nghiên cứu trong
các tổ chức nghiên cứu ở nước ta kết hợp với việc học tập những kinh nghiệm thành
công đối với việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh của một số nước trên thế giới
Chúng tôi đã sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận định tính và định lượng khi
đề xuất phương pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với quốc tế Cụ
thể là:
(1) sử dụng phương pháp điều tra khảo sát điểm (case study) để phác thảo thực
trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam;
(2) sử dụng phương pháp chuyên gia trong việc đánh giá thử một số nhóm nghiên
cứu làm luận chứng thực tế về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ
chức nghiên cứu của Việt Nam Hơn nữa, chúng tôi còn lấy ý kiến phản biện,
đóng góp của các chuyên gia KH&CN cho các nội dung đề xuất về phương
pháp, quy trình, tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh ở Việt Nam và cho các nội dung khác liên quan được đề xuất trong đề
tài; và
(3) áp dụng phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin, dữ liệu, tài liệu trong và
ngoài nước để đưa ra những lưu ý thành công đối với việc phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh của một số nước để áp dụng cho Việt Nam
4 Các khái niệm
a) Nhóm nghiên cứu
Một khái niệm về nhóm nghiên cứu, hay nhóm nghiên cứu khoa học (Scientific Research Group) được nhiều nhà khoa học tin dùng do Joseph S Fruton13 định nghĩa: Nhóm nghiên cứu khoa học là một tập thể nghiên cứu định hướng trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu, được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín khoa học đủ để có thể tiến hành một chương trình nghiên cứu độc lập Thông qua tương tác với lãnh đạo chuyên môn của nhóm (trưởng nhóm) và với các thành viên khác, các thành viên trong nhóm có cơ hội học hỏi các kỹ thuật thực nghiệm, nắm bắt kiến thức lý thuyết và tham gia tích cực vào chương trình nghiên cứu của nhóm để tạo ra những thành tựu khoa học mới, những ý tưởng mới, những sản phẩm khoa học công nghệ mới
Khái niệm về nhóm nghiên cứu mở rộng – các nhóm nghiên cứu là tập hợp của nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ và có thể rất nhiều thành viên - được Valerie I Sessa14đưa ra là tập hợp các nhà khoa học hay các trung tâm, phòng thí nghiệm liên kết với nhau trên một hay một số lĩnh vực nhằm nghiên cứu và phát triển những hoạt động khoa học và công nghệ ở trình độ cao trong những lĩnh vực khoa học khác nhau Các nhóm nghiên cứu sẽ đóng vai trò trung gian trong hệ thống tổ chức trung tâm, viện, trường Các nhóm sẽ liên kết các cá nhân lại với nhau trong khoảng thời gian cố định
và liên kết với nhau dưới dạng hệ thống hoàn chỉnh Nói cách khác, các nhóm nghiên cứu đóng vai trò là tổ chức nhỏ tập hợp các cá nhân hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các trung tâm, viện, trường là nơi tổ chức tập hợp các nhóm nghiên cứu lại theo hướng tương hỗ hoặc song song với nhau
Từ các định nghĩa nêu trên và qua tìm hiểu thực tế nhiều nhóm nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, ở nhiều nước thuộc các vùng địa lý khác nhau, chúng tôi có thể diễn đạt lại khái niệm về nhóm nghiên cứu như sau:
"Nhóm nghiên cứu là một tập thể những người làm công tác nghiên cứu được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín và năng lực đủ để có thể tiến hành một hướng nghiên cứu trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu nhằm tạo ra những sản phẩm khoa học công nghệ mới"
- Quy mô của nhóm nghiên cứu có 5 mô hìnhphổ biến sau:
Trang 91 Nhóm nghiên cứu nhỏ (dưới 10 người) thường xuất phát từ các ý tưởng của
các cá nhân hoặc nhu cầu hợp tác của một số cá nhân hoặc các nhóm nghiên cứu nhỏ
hơn từ các chuyên ngành khác nhau Chức năng chính là nghiên cứu và tham gia đào
tạo Cấu trúc quản lý đơn giản, linh động Bản thân các thành viên cũng có các nhiệm
vụ nghiên cứu đơn ngành, riêng biệt
2 Trung tâm nghiên cứu lớn hình thành theo nhu cầu của cơ sở hoặc theo mô
hình các vườn ươm công nghệ, có chức năng nghiên cứu và đào tạo Được tổ chức và
quản lý bởi một Ban lãnh đạo mà Giám đốc là người trực tiếp điều hành và chịu trách
nhiệm báo cáo cấp trên Trung tâm có thể có nhân sự, cơ sở vật chất, địa điểm cố định
hoặc chia sẻ với các đơn vị
3 Phòng thí nghiệm quốc gia được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ, nghiên
cứu theo các nhiệm vụ được đề xuất từ dưới lên, có tính kế hoạch cao và có tổ chức
với cấu trúc chặt chẽ Cán bộ nghiên cứu có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm
nghiên cứu tham gia
4 Mô hình công nghiệp hình thành do nhu cầu của có sở, định hướng nghiên cứu
theo sản phẩm, mang tính kế hoạch cao và không tham gia đào tạo Cán bộ nghiên cứu
cũng có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm nghiên cứu tham gia
5 Mô hình liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – khối công nghiệp thường
được khởi tạo với các dự án đầu tư nghiên cứu lớn, có thể có hội đồng tư vấn, thực
hiện các nghiên cứu theo nhu cầu kinh tế - xã hội và có chức năng nghiên cứu và đào
tạo
Trong nghiên cứu này, các nhóm nghiên cứu được hướng tới là mô hình thứ nhất,
các nhóm nghiên cứu nhỏ
b) Nhóm nghiên cứu mạnh
Cụm từ "Nhóm nghiên cứu mạnh" (hay là nhóm /trung tâm xuất sắc ) được dịch
từ cụm từ "Excellent Research Group/Center" Hiện chưa có định nghĩa chính xác về
nhóm nghiên cứu mạnh Tuy nhiên, trong một công bố của mình, Thomas L
Greenbaun15 đã thể hiện một cách khái quát về các nhóm nghiên cứu có những ưu
điểm nổi trội có thể coi như các nhóm nghiên cứu mạnh và được cộng đồng nghiên
cứu ghi nhận Theo ông, các nhóm nghiên cứu này là một tập thể những người làm công tác nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao, do một nhà khoa học có uy tín (hoặc
có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp) đứng đầu, tổ chức và điều phối hoạt động Nhóm có hoạt động hợp tác tích cực, năng động và hiệu quả Nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng các phương tiện và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm giải quyết một cách tập trung, hoàn chỉnh một hay một số vấn đề hoặc chương trình, đề tài/dự án quan trọng có qui mô đủ lớn trong một thời gian đủ dài theo định hướng nghiên cứu xác định Những kết quả nghiên cứu của nhóm là quan trọng, đột phá và nhất quán trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển thực nghiệm nhằm tạo nên những phát triển khoa học và công nghệ
Ở một số nước, tùy thuộc vào mục tiêu, điều kiện tài trợ cụ thể, "Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc - Excellent Research Group/Center" được định nghĩa như sau:
- Theo định nghĩa của Phần Lan16 “Trung tâm xuất sắc là các đơn vị nghiên cứu
và đào tạo cán bộ nghiên cứu chất lượng cao, có tiềm năng trở thành tổ chức dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu của mình Nó có thể là một hoặc một số nhóm nghiên cứu ở trình độ quốc tế cao và có chung mục đích Những đơn vị và các cán bộ nghiên cứu hàng đầu có thể cùng nhau làm việc trong cùng đề tài hoặc vấn đề nghiên cứu, và thực hiện dưới sự chỉ đạo của một tổ chức, được gọi là trung tâm xuất sắc hỗn hợp”
- Theo định nghĩa của Liên minh châu Âu17 “Trung tâm xuất sắc là một đơn vị
mà ở đó nghiên cứu và phát triển công nghệ được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm khoa học và/hoặc đổi mới công nghệ (bao gồm cả đào tạo) phải đo lường được” Sự xuất sắc được đo lường qua các chỉ số: Các công bố khoa học; Các sáng
chế; Các chức vụ được đề bạt sau tiến sỹ; Số lượng cán bộ nghiên cứu và các nhà khoa học; Số lượng và quy mô của các hợp đồng thương mại; Số lượng các công ty khởi nghiệp (spin-off); Sự tham gia vào Hệ thống đào tạo của các nước trong Liên minh Châu Âu
- Theo định nghĩa của Quỹ Nghiên cứu quốc gia Nam Phi18, 19 “Trung tâm xuất sắc là những trung tâm nghiên cứu hữu hình (nhóm, khoa, trường, viện) hoặc vô hình
Trang 10(các mạng lưới), nơi tập trung nguồn lực và khả năng hiện có để giúp các cán bộ
nghiên cứu hợp tác với nhau thông qua các dự án dài hạn phù hợp với địa phương và
có khả năng cạnh tranh quốc tế để thúc đẩy sự theo đuổi và phát triển năng lực
nghiên cứu xuất sắc ”
Từ những định nghĩa trên, có thể diễn đạt lại khái niệm về "nhóm nghiên cứu
mạnh" như sau : "Nhóm nghiên cứu mạnh là một tập thể những người làm công tác
nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao, do một nhà khoa học xuất sắc, có uy tín đứng
đầu, thực hiện nghiên cứu theo tiêu chuẩn quốc tế Các sản phẩm khoa học và công
nghệ do nhóm tạo ra là quan trọng, đột phá và đạt trình độ quốc tế"
Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa "nhóm nghiên cứu" và "nhóm nghiên cứu
mạnh" qua các định nghĩa trên như sau :
2 Nghiên cứu KH, phát triển
CN và đào tạo cán bộ
theo định hướng rõ ràng, bền vững
theo định hướng và ở trình
độ quốc tế
3 Có môi trường hoạt động phù hợp, thuận lợi phù hợp, thuận lợi, tự chủ
cao và được ưu tiên
4 Được đầu tư nguồn lực đảm bảo duy trì hoạt
động
thích đáng, tới ngưỡng và trong một khoảng thời gian
ít nhất là 5 năm
5 Kết quả hoạt động được cộng đồng
KH&CN trong nước công nhận
tạo ra các sản phẩm KH &
CN quan trọng, đột phá và đạt trình độ quốc tế
Nhiều nước khác cũng có những triết lý rất cụ thể về các nhóm nghiên cứu mạnh/ trung tâm xuất sắc Mặc dù được định nghĩa khác nhau, nhưng các nhóm nghiên cứu mạnh/trung tâm xuất sắc đều có nhiệm vụ sau:
(1) Nghiên cứu: Nhiệm vụ chính của nhóm nghiên cứu mạnh/trung tâm xuất
sắc là nghiên cứu Các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu tập trung vào việc tạo ra và phát triển các tri thức và công nghệ mới
(2) Giáo dục và đào tạo: Phát triển nguồn nhân lực được thực hiện qua các
chương trình đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ, hỗ trợ sau tiến sỹ, các chương trình thực tập,
hỗ trợ sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài, hợp tác đào tạo sinh viên
(3) Trung chuyển thông tin: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc là nơi
cung cấp các nguồn tri thức từ các kho tri thức phát triển trình độ cao, duy trì các cơ sở
dữ liệu, hỗ trợ việc chia sẻ và chuyển giao tri thức
(4) Kết nối: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc được kỳ vọng là sẽ hợp
tác tích cực với các cá nhân, nhóm và các tổ chức có danh tiếng
(5) Dịch vụ: Nhóm nghiên cứu mạnh/Trung tâm xuất sắc cung cấp thông tin,
các phân tích chính sách và các dịch vụ khác, bao gồm cả các tư vấn tin cậy cho chính phủ, doanh nghiệp và xã hội dân sự
Trong đề tài này, chúng tôi cụ thể hoá và sử dụng khái niệm « nhóm nghiên cứu mạnh » với những đặc điểm sau:
1 - Có trưởng nhóm nghiên cứu là một nhà khoa học có năng lực, uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu mà nhóm theo đuổi, có nhiều công trình khoa học có giá trị và có ảnh hưởng lớn (ví dụ: có các bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có hệ số ảnh hưởng cao, có chỉ số trích dẫn cao)
2 - Có định hướng nghiên cứu rõ ràng, được lựa chọn một cách kỹ lưỡng nhằm đảm bảo phát huy tối đa chuyên môn và trình độ của trưởng nhóm và các thành viên nghiên cứu chính Ngoài ra, hướng nghiên cứu cũng cần linh động để đảm bảo tính thời sự của vấn đề nghiên cứu và tăng khả năng thu hút đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau (chính phủ, công nghiệp, nước ngoài)
Trang 113 - Có khả năng thu hút các cán bộ nghiên cứu có trình độ cao, cán bộ nghiên cứu
sau tiến sỹ (postdoc), các tiến sỹ tốt nghiệp ở nước ngoài về, có nhiều nghiên cứu sinh
và có nhiều học viên cao học tham gia nghiên cứu, học tập trong nhóm
4 - Có (hoặc có khả năng khai thác tốt) cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện
phục vụ nghiên cứu và các điều kiện khác đảm bảo thực hiện thành công các nghiên
cứu mang lại kết quả tốt nhất
5 - Có thành tích nghiên cứu tốt (thu hút tài trợ, công bố, sở hữu trí tuệ, ), ví dụ:
đã có các công trình công bố trên các tạp chí quốc tế ISI hoặc SCI - đối với những
nhóm đã từng hoạt động trước khi được lựa chọn
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nuôi dưỡng và
phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh
1 Sự phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới
Trong kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, khi lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ không còn là thế mạnh, điều kiện tiên quyết để có thể cạnh tranh về kinh tế cũng như phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia là phải xây dựng được tiềm lực mạnh về nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ Thông qua việc tiến hành nghiên cứu theo những lĩnh vực mũi nhọn để tạo ra các kết quả đổi mới, các
tổ chức nghiên cứu trở thành nhân tố quan trọng trong việc phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của mỗi nước Chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học, viện nghiên cứu chính là chìa khóa để nâng vị thế của quốc gia trong cộng đồng quốc tế Các nước tiên tiến và cả những nước đang phát triển đều xác định rõ sự cần thiết phải hình thành các trung tâm xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh hay dưới một tên gọi nào đó như là những sáng kiến xuất sắc trong khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng nghiên cứu trong các viện nghiên cứu, trường đại học Xây dựng chính sách để phát triển môi trường nghiên cứu sáng tạo cho các trung tâm xuất sắc là một trong những ưu tiên khi xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của nhiều quốc gia9, 15-19
Đối với nhiều nước thuộc Châu Âu, việc đầu tư thực hiện các sáng kiến xuất sắc diễn ra khá sớm Từ những năm đầu thập niên 1990, Đan Mạch, Phần Lan và Áo đã thiết lập các chương trình nghiên cứu đặc biệt để nuôi dưỡng và phát triển các trung tâm xuất sắc trong các tổ chức nghiên cứu với mức đầu tư vượt trội Từ năm 1996, Anh đầu tư cho các nghiên cứu xuất sắc kết hợp với việc chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, do đó các trường đại học là đối tượng ưu tiên Sau một thời gian dài nghiên cứu và chuẩn bị, năm 2006, Chính phủ CHLB Đức đã chính thức tài trợ cho
“Chương trình sáng kiến xuất sắc” với việc hỗ trợ các nhà khoa học trẻ trong các trung tâm xuất sắc đa ngành có sự hợp tác viện - trường – doanh nghiệp Việc phát triển các
Trang 12trung tâm xuất sắc của các nước này nhằm mục đích chính là để phát triển mạnh và
nâng vị thế khoa học & công nghệ của quốc gia Ở châu Âu, trong tất cả các lĩnh vực
và chuyên ngành đều có các trung tâm xuất sắc thuộc khu vực công hoặc tư để thực
hiện các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở trình độ cao, ở đẳng cấp thế
giới Các trung tâm xuất sắc được đánh giá cao vì đã tập hợp và thu hút được nhiều
cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ xuất sắc, giành được danh tiếng
bằng việc đóng góp đáng kế về nguồn lực cho sự tiến bộ về khoa học và công nghệ
cũng như đổi mới
Ở Châu Á, các nước có lợi thế về công nghiệp như Nhật Bản và Hàn Quốc, thì
mục tiêu mà sáng kiến xuất sắc hướng tới là các nhóm nghiên cứu mạnh thực hiện sứ
mạng liên kết trường đại học - viện nghiên cứu – doanh nghiệp để phát triển công nghệ
nền tảng hỗ trợ phát triển công nghiệp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc và
Nhật Bản đều đã khởi động việc đầu tư cho mục đích này từ đầu thập niên 1990
Trong bối cảnh cần nâng cao năng lực KH&CN, cũng ngay trong thập niên 1990,
Trung Quốc và Đài Loan chọn cách đầu tư vượt trội cho các trung tâm nghiên cứu
xuất sắc, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với mục tiêu chính là phát triển nhân
lực trình độ cao, đẳng cấp quốc tế
Điển hình ở Châu Mỹ, từ năm 1997, Canada dành sự ưu tiên cho chương trình
“mạng lưới các trung tâm xuất sắc” nhằm thúc đẩy sự hợp tác mạnh mẽ giữa chính phủ,
các đại học và khối doanh nghiệp để phát triển bền vững kinh tế Canada Trong thời
gian đó, với mục tiêu tương tự, Chi – lê cũng bắt đầu phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh cho chương trình “Sáng kiến khoa học thiên niên kỷ”
Ở Châu Phi, theo sáng kiến của những người đứng đầu thuộc 5 quốc gia (Angiêri,
Ai cập, Nigiêria, Sênêgan, Nam Phi), gần đây, chương trình khung về phát triển kinh
tế-xã hội tổng thể cho châu Phi đã được hình thành với tên gọi là “Đối tác mới cho
phát triển ở châu Phi – The New Partnship for Africa’s Development”, viết tắt là
NEPAD Nhận thức được tầm quan trọng của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ trong việc xây dựng năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững cho
quốc gia, NEPAD đã mong muốn xây dựng mạng lưới các trung tâm xuất sắc để lôi
kéo các nguồn lực khoa học và kỹ thuật của các nước châu Phi hướng vào các thách
thức chung về R&D trong vùng cũng như các lĩnh vực ưu tiên có liên quan Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm về việc xây dựng các trung tâm xuất sắc từ các nước thuộc khối OECD và các nước thuộc Liên minh châu Âu, bên cạnh việc xây dựng chương trình hỗ trợ để cấu trúc lại các tổ chức giáo dục đại học cho các quốc gia ở châu Phi, NEPAD đã phát triển các trung tâm xuất sắc trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, bao gồm các viện công nghệ của châu Phi
Bảng tổng hợp các sáng kiến “xuất sắc” trên thế giới
Quốc gia Số lượng các tổ chức mục tiêu
và tiêu chí thích hợp
Nguồn lực được phân bổ
Chu trình đầu tư
Chương trình Sáng kiến xuất sắc của Đức, năm 2006
40 trường đào tạo sau đại học,
30 nhóm xuất sắc thuộc các trường đại học và khối tư nhân
10 trường đại học đứng đầu về nghiên cứu
Tổng số 2,3 tỷ USD Tài trợ trong 5
năm Hai đợt: 2006 và
2007
Chương trình Trí tuệ thế kỷ 21 của Hàn Quốc
- Lĩnh vực KH&CN: 11 trường đại học
- Lĩnh vực KHXH&NV: 11 trường đại học
- Các trường đại học dẫn đầu
ở các vùng: 38 trường đại học
- Các trường chuyên đào tạo sau đại học nằm trong 11 trường đại học
Tổng số 1,17 tỷ USD 7 năm
2 đợt năm 1999
Quỹ Khoa học và
Kỹ thuật Hàn Quốc (KOSEF)
1) Các Trung tâm Nghiên cứu Khoa học (SRC)/ Các Trung tâm Nghiên cứu Kỹ thuật (ERC): 65 Trung tâm 2) Các Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật y học (MRC): 18 Trung tâm 3) Trung tâm Nghiên cứu cơ bản Quốc gia (NCRC): 6 Trung tâm được tài trợ năm
2006
1) 64,2 triệu USD/năm
2) 7 triệu USD/năm
3)10,8 triệu USD/năm
1) 9 năm 2) 9 năm 3) 7 năm
Cả 3 Chương trình đều bắt đầu khởi động vào năm 2002 hoặc năm 2003
Trang 13150 triệu USD/năm (Tổng số: 37,8 tỷ JPY)
Tài trợ 5 năm Bắt đầu năm 2002
50-500 triệu JPY/
Trung tâm/năm (~ 400.000 USD – 4 triệu USD)
5 năm Bắt đầu năm 2007
Uỷ ban Châu Âu,
Chương trình
Khung số 7 (FP7)
TBD - được xác định từ cơ cấu của các đề cương nghiên cứu (REPs)
Dựa vào số các đề cương nghiên cứu có cấu trúc như 1 “trung tâm xuất sắc”
Kinh phí cả Chương trình FP7 là 50,5 tỷ EUR cho giai đoạn 2007-2013
la Canada trong khoảng 1988-1998
Bắt đầu năm 1988
Chương trình vĩnh cửu từ 1997
Tài trợ của Anh Các trường đại học đạt điểm Đã chi hết 8,63 tỷ 5 năm cho các
cho các Đơn vị Xuất sắc
cao sau khi thực hiện đánh giá nghiên cứu (RAE)
USD sau RAE năm
2001
Trung tâm được tài trợ bởi Uỷ Ban Nghiên cứu
2 đợt:1996 và
2001
Chương trình Sáng kiến Khoa học Thiên niên kỷ của Chilê
Các nhóm nghiên cứu 3 Viện nghiên cứu
khoa học: 1 triệu USD mỗi năm, kéo dài 10 năm 5-12 Trung tâm Khoa học: 250 ngàn USD mỗi năm Tổng số 25 triệu USD trong giai đoạn 2000-
2004
Tài trợ trong vòng
5 năm đối với các Trung tâm Khoa học và 10 năm đối với Viện nghiên cứu
Đan Mạch (Chương trình Tài trợ Toàn cầu hoá)
Tài trợ được phân bổ cho các tổ chức nghiên cứu trong các trường đại học trên cơ sở cạnh
tranh
1,9 tỷ USD trong khoảng từ 2007 và
1) 500 triệu USD mỗi năm, cho khoảng hơn
10 năm 2) Tối đa 3 tỷ USD cho hơn 10 năm
Đài Loan
Kế hoạch phát triển trường đại học xuất sắc trong nghiên cứu
Lựa chọn và cấp kinh phí cho các lĩnh vực dẫn đầu trên trường quốc tế
400 triệu USD 4 năm
2 Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới
Mặc dù, bối cảnh ra đời các sáng kiến xuất sắc ở các nước trong các Châu lục có những điểm khác nhau, nhưng việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh hay các trung tâm xuất sắc có những đặc điểm chung sau đây cần ghi nhận và học tập:
Trang 14- Mục tiêu: Ở các quốc gia, việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh có thể có một hoặc một số mục tiêu sau:
¾ Đạt sự xuất sắc trong nghiên cứu, đặc biệt là ở trình độ thế giới
¾ Thực hiện nhiệm vụ ưu tiên chiến lược
¾ Liên kết đa ngành và kết hợp phát triển đào tạo
¾ Tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao chất lượng và năng suất nghiên cứu
¾ Khích lệ các nhà khoa học trẻ, khuyến khích nghiên cứu sáng tạo nổi bật
¾ Đưa ra công nghệ được thương mại hoá
¾ Nắm vững công nghệ cốt lõi
¾ Cơ cấu lại khối nghiên cứu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế
- Về quy mô: Có thể là các nhóm nghiên cứu đa ngành hoặc các cá nhân từ các
tổ chức khác nhau được hình thành một cách chính thức hoặc phi chính thức;
Mạng lưới các tổ chức đang tồn tại, những tổ chức liên kết với nhau về cơ sở
vật chất, chuyên môn và cơ cấu để thực hiện các chương trình cụ thể; Các trung
tâm đơn lẻ như các khoa, các bộ môn hoặc các viện
- Lĩnh vực hoạt động: Tuỳ theo chiến lược phát triển của từng nước, việc phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh có thể tập trung vào 1 hay 1 số lĩnh vực hoạt
động, chẳng hạn, một số nước ở Châu Âu thì tập trung vào mọi lĩnh vực nghiên
cứu, kể cả KHXH&NV, trong khi một số nước Châu Á lại tập trung vào các
lĩnh vực Công nghệ
- Tài trợ và đầu tư: Nhóm nghiên cứu mạnh thường được tài trợ thông qua
một chương trình cụ thể, dưới dạng các nhiệm vụ nghiên cứu (projects), có thể
gọi là các chu trình đầu tư, mỗi chu trình đầu tư kéo dài từ 4 đến 10 năm Số tiền
đầu tư mỗi chu trình cho mỗi nhóm thường lớn hơn ở các chương trình nghiên
cứu khác nhằm thu hút các cán bộ khoa học tốt nhất đến làm việc trong điều kiện
độc lập, minh bạch và hiệu quả Trong quá trình nhận tài trợ, nhóm được đánh giá
theo giai đoạn (2 hoặc 3 giai đoạn) rất chặt chẽ để điều chỉnh kế hoạch nghiên
cứu và xem xét việc tiếp tục hỗ trợ
- Tiêu chí lựa chọn các nhóm nghiên cứu mạnh: Các nhóm nghiên cứu mạnh
được lựa chọn theo các tiêu chí sau:
¾ Tính xuất sắc của đề xuất nghiên cứu và tính khả thi
¾ Tầm quan trọng đối với quốc gia và quốc tế
¾ Sự xuất sắc của trưởng nhóm
¾ Môi trường nghiên cứu tốt
¾ Có liên kết với các cơ quan sử dụng kết quả hay có sự đóng góp cho cộng đồng và xã hội có nhu cầu
¾ Có cơ quan chủ trì cam kết hỗ trợ
¾ Có tiềm năng đào tạo cán bộ và hợp tác quốc tế
- Điều kiện cơ bản để thành công: Để việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh
thành công, các điều kiện cơ bản cần đảm bảo là: quản lý hiệu quả; đội ngũ cán
bộ phù hợp; cam kết hỗ trợ của các tổ chức; phân bổ hợp lý; sử dụng kinh phí hiệu quả; xác định chiến lược rõ ràng
Trang 15Chương 2 Thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức
nghiên cứu của Việt Nam
1 Cách thức xác định thực trạng các nhóm nghiên cứu
Để xác định thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt
Nam, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu trong
các trường đại học, viện nghiên cứu ở lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN ở
cả 3 miền Sau đây là những thông tin và kết quả cơ bản về việc khảo sát và đánh giá
thử
1.1 Khảo sát về hiện trạng các nhóm nghiên cứu
Mục tiêu của việc khảo sát là để thu thập được các thông tin về hiện trạng hoạt
động của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam
Phương pháp: Việc thu thập dữ liệu được tiến hành theo 3 phương pháp: (1) gửi
phiếu hỏi phỏng vấn đến các đối tượng khác nhau (trưởng nhóm nghiên cứu, các thành
viên nghiên cứu chính của nhóm); (2) phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan
(nhà quản lý tại cơ sở nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên sau đại học);
và (3) quan sát hiện trường (cơ sở vật chất và các điều kiện nghiên cứu khác) cùng với
khai thác tư liệu
Dữ liệu thu thập được bằng phương pháp gửi phiếu hỏi thể hiện ở bảng 1.1 Từ
bảng tổng hợp này, chúng tôi nhận thấy dữ liệu thu thập được có thể đại diện cho các
trường đại học và các viện nghiên cứu thuộc các lĩnh vực KHTN, KHKT-CN trên cả
ba miền (Bắc, Trung và Nam và cũng có thể đại diện cho các nhóm nghiên cứu thuộc
lĩnh vực KHXH&NV trong các trường đại học ở miền Trung và miền Nam
Bảng 1.1 Các nhóm nghiên cứu được khảo sát phân theo vùng/miền, khối đơn vị và lĩnh vực nghiên cứu
Vùng/miền Khối đơn vị
KHXH&NV
(Số nhóm trả lời/số nhóm nhận bảng câu hỏi)
KHTN + KHKT-CN
(Số nhóm trả lời/số nhóm nhận bảng câu hỏi)
Tổng
(Số nhóm trả lời/số nhóm nhận bảng câu hỏi)
Số người trả lời phiếu hỏi dành cho nhà NC
Dữ liệu sơ bộ về việc khảo sát hiện trường các nhóm nghiên cứu và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan đến hoạt động của các nhóm nghiên cứu tại các tổ chức được thể hiện trong bảng 1.2 Trong đó, 44 nhóm nghiên cứu của 24 tổ chức được khảo sát hiện trường (nằm trong số 124 nhóm nghiên cứu đã cung cấp thông tin qua việc trả các phiếu hỏi ở trên – phụ lục 1a) Trong 200 người trả lời phỏng vấn trực tiếp, có khoảng 1/3 số đó là các nhà khoa học tham gia công tác quản lý các cấp tại đơn vị và số còn lại là các nhà khoa học đang tham gia hoạt động nghiên cứu tại các
Trang 16nhóm (bao gồm cả người đã trả lời và chưa trả lời bảng câu hỏi dành cho nhà nghiên
cứu)
Bảng 1.2 Số lượng các tổ chức, nhóm nghiên cứu được khảo sát hiện trường và số
người được phỏng vấn trực tiếp
Trường đại học Viện nghiên cứu
Số trường Số nhóm Số người Số viện Số nhóm Số người
11 24 110 13 20 90
Tổng - Số nhóm nghiên cứu được khảo sát hiện trường: 44 nhóm/24 tổ chức
- Số người được phỏng vấn trực tiếp: 200 cán bộ
Dữ liệu khảo sát đã được phân tích theo các nhóm tiêu chí sau: (1) Trưởng nhóm
nghiên cứu; (2) Cơ cấu và phương pháp tổ chức hoạt động của nhóm nghiên cứu; (3)
Kết quả nghiên cứu của nhóm trong 5 năm gần nhất (2004-2008); (4) Điều kiện và môi
trường làm việc của nhóm nghiên cứu Các phân tích chi tiết này được đưa ra ở phụ
lục 1
1.2 Đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu
Mục tiêu: Đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu là để làm bằng chứng thực tế
cho những nhận định về thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu
hiện nay Ngoài ra, quá trình đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu là cơ hội để chúng
tôi điều chỉnh, hoàn thiện phương pháp, quy trình và các tiêu chí cùng cách thức đánh
giá (hiện trạng/hoạt động) một nhóm nghiên cứu Từ đó, chúng tôi có những kinh
nghiệm thực tế để làm cơ sở cho việc đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí cùng với cách thức đánh giá các nhóm nghiên cứu mạnh
Phương pháp đánh giá: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá bằng
chuyên gia cùng ngành/đồng cấp (Peer Review) kết hợp với việc nghiên cứu, phân tích tài liệu Việc đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành được thực hiện như sau:
• Đánh giá thông qua Hội đồng chuyên gia: một nhóm các chuyên gia được lựa chọn để thành lập hội đồng đánh giá Hội đồng thảo luận và đánh giá căn cứ vào hồ sơ của các nhóm nghiên cứu theo các tiêu chí do nhóm thực hiện đề tài xây dựng
• Đánh giá qua thư: với hình thức này, không cần thành lập hội đồng chuyên gia cũng như tổ tư vấn chuyên gia, thông tin cần đánh giá được gửi cho các chuyên gia và ý kiến phản hồi của chuyên gia được gửi trả thông qua trao đổi thư từ
Quy trình đánh giá: chúng tôi tóm tắt các bước đã thực hiện như sau:
Bước 1 - Lập hồ sơ đánh giá: bước này do Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học
và công nghệ thực hiện các công việc từ điều tra thu thập dữ liệu đến việc chọn lọc thông tin đưa vào hồ sơ đánh giá
Bước 2 – Lựa chọn chuyên gia đánh giá: bước này do Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN thực hiện cùng với sự tư vấn của một số nhà khoa học cùng ngành với các nhóm nghiên cứu được đánh giá Mỗi nhóm nghiên cứu được đánh giá bởi 5 đến 7 chuyên gia cùng ngành dưới hình thức hội đồng hoặc qua thư
Bước 3 – Tổ chức đánh giá: bước này do các chuyên gia thực hiện dưới sự trợ giúp về mặt hành chính của Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN, bao gồm các công việc sau: (1) các chuyên gia nhận hồ sơ đánh giá (trước 1 tuần) để tìm hiểu và nhận xét, đánh giá; (2) họp hội đồng đánh giá, chấm điểm (với hình thức hội đồng) và thống nhất các nhận định về nhóm nghiên cứu được đánh giá
Bước 4 - Tổng hợp, phân tích, viết báo cáo đánh giá: kết quả đánh giá từ các chuyên gia, hội đồng chuyên gia sẽ được tổng hợp, phân tích và trình bày dưới dạng báo cáo đánh giá do Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN thực hiện
Tiêu chí đánh giá:
Trang 17Đánh giá (hiện trạng) một nhóm nghiên cứu cần xét tới 5 tiêu chí cơ bản sau: (1)
mục tiêu và nội dung các nghiên cứu mà nhóm theo đuổi có rõ ràng và phù hợp với
mục tiêu phát triển của cơ quan chủ quản/ngành/quốc gia hay không; (2) năng lực
nghiên cứu, năng lực quản lý nhóm của người trưởng nhóm ra sao; (3) cơ cấu và
phương thức tổ chức, hoạt động của nhóm có hợp lý, chuyên nghiệp ở mức độ nào; (4)
kết quả hoạt động (đóng góp cho khoa học, công nghệ, đào tạo, hợp tác, …) của nhóm
trong 5 năm gần nhất ra sao; và (5) điều kiện, môi trường làm việc (sự hỗ trợ của cơ
quan chủ quản, trang thiết bị, phương tiện, thông tin, … phục vụ hoạt động) của nhóm
như thế nào? Các tiêu chí này bao gồm các tiêu chí nhỏ hay các chỉ số bên trong
Phương thức đánh giá: Mỗi tiêu chí sẽ được các chuyên gia đánh giá cho điểm tối
đa là 10 (từ 0 đến 10) và là tổng điểm của các chỉ số trong tiêu chí đó Các điểm số sẽ
được nhân thêm với trọng số thích hợp của tiêu chí đó để tính tổng điểm Điểm số cuối
cùng cho nhóm nghiên cứu là tổng điểm của tất cả các tiêu chí Cách thức đánh giá cho
điểm này được đưa ra trong bảng 1.5 dưới đây:
Bảng 1.5 Tiêu chí và cách thức đánh giá (hiện trạng) nhóm nghiên cứu
W(%)
Điểm Đ(0-10)
Tổng điểm (W x Đ)
1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 20
2 Năng lực của trưởng nhóm 20
3 Cơ cấu và phương thức tổ chức, hoạt
động
10
4 Kết quả hoạt động trong 5 năm gần nhất 35
5 Điều kiện và môi trường làm việc của
Trên đây là các tiêu chí và cách thức đánh giá chung cho các nhóm nghiên cứu ở
cả ba lĩnh vực KHTN, KHKT-CN và KHXH&NV Tuy nhiên, đối với các nhóm
nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau, một số chỉ số trong mỗi tiêu chí có thể khác nhau
và điểm số tối đa cho các chỉ số cũng sẽ khác nhau tuỳ theo đặc điểm của mỗi lĩnh vực
nghiên cứu Điểm tối đa cho mỗi chỉ số/tiêu chí nhỏ được xác định trên cơ sở đặc điểm (đầu ra) lĩnh vực nghiên cứu và cân đối giữa các lĩnh vực để có thể so sánh các nhóm một cách tương đối Các chỉ số, cách thức chấm điểm đánh giá mỗi tiêu chí được đưa
ra ở phụ lục 2a
Thông tin chung về các mẫu được chọn để đánh giá:
Có 12 nhóm nghiên cứu được chọn cho đánh giá thử Trong đó, có 6 nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN, 3 nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV và 3 nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN Trong 12 nhóm nghiên cứu này thì có 5 nhóm thuộc viện nghiên cứu và 7 nhóm thuộc trường đại học Các nhóm nghiên cứu đã thành lập trên 5 năm và có đầy đủ các thông tin để đáp ứng yêu cầu đánh giá, bao gồm: Phiếu thông tin về nhòm nghiên cứu; Lý lịch khoa học của trưởng nhóm và của các thành viên; Hồ sơ của các kết quả nghiên cứu nổi bật của nhóm; Bản trả lời câu hỏi dành cho nhà nghiên cứu; Có phiếu kiểm chứng trang thiết bị và điều kiện làm việc Danh sách các nhóm nghiên cứu được đánh giá thử và kết quả đánh giá được đưa ra trong phụ lục 2b và 2c
2 Nhận định về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam
Kết hợp kết quả phân tích dữ liệu khảo sát với kết quả đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu như đã nêu ở trên, chúng tôi đưa ra những nhận định chung về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam theo các khía cạnh sau: mục tiêu, nội dung chủ yếu của các nghiên cứu mà nhóm hướng tới; trưởng nhóm nghiên cứu; cơ cấu tổ chức, hoạt động; kết quả hoạt động; và điều kiện, môi trường hoạt động của các nhóm nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đưa ra những vấn đề tồn tại cần phải xem xét để có thể phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh đạt trình độ quốc tế
2.1 Thực trạng về các nhóm nghiên cứu
Về mục tiêu và nội dung chủ yếu của các nghiên cứu mà nhóm hướng tới:
Nhiều nhóm nghiên cứu đã xác định mục tiêu, nội dung chủ yếu của các nghiên cứu
mà nhóm hướng tới và thậm chí có một số nhóm nghiên cứu còn đề ra cả phương
Trang 18hướng phát triển nhóm khá rõ ràng Tuy nhiên, còn một số nhóm vẫn chưa xác định cụ
thể hướng đi nhắm tới sự phát triển nhóm một cách bền vững
Về trưởng nhóm nghiên cứu: Trưởng nhóm của các nhóm nghiên cứu phân bố ở
mọi lứa tuổi và hầu hết trong số họ có trình độ tiến sỹ trở lên Các trưởng nhóm nghiên
cứu trẻ có thành tích về công bố quốc tế trong khi kinh nghiệm quản lý thì chỉ có ở các
trưởng nhóm nghiên cứu có nhiều năm công tác Tỷ lệ các trưởng nhóm ở độ tuổi với
15-24 năm công tác có cả kinh nghiệm quản lý và thành tích công bố quốc tế là thấp
nhất Việc các tiến sỹ trẻ ít kinh nghiệm quản lý nhưng có số công trình công bố trên
các tạp chí chuyên ngành quốc tế trong 5 năm (2004-2008) cao, có thể bắt nguồn từ
một thực tế là các công trình thường được công bố trong quá trình nghiên cứu, học tập
tại nước ngoài Do vậy, khi đề xuất tiêu chí đánh giá trưởng nhóm nghiên cứu trong
chương trình nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh có thể sẽ phải lưu ý
đến (1) khả năng duy trì những công trình nghiên cứu độc lập trong thời gian công tác
và làm việc tại Việt Nam; (2) là tác giả chính của các công trình công bố trên các tạp
chí chuyên ngành có uy tín trên thế giới; (3) có kinh nghiệm tổ chức nhóm nghiên cứu
thể hiện qua tập thể tác giả của các công trình mà có trưởng nhóm đứng tên
"correspondent" (chủ sở hữu công trình); (4) là người đại diện pháp lý trong các hợp
đồng phát triển, chuyển giao công nghệ, chủ sở hữu bằng sáng chế, chứng nhận giải
pháp hữu ích
Về cơ cấu tổ chức hoạt động của các nhóm nghiên cứu: Việc thành lập, lựa
chọn và phân công công việc cho các thành viên của các nhóm rất lỏng lẻo và trên
thực tế có thể có một số đã không tồn tại Đây là yếu điểm trong công tác quản lý các
nhóm nghiên cứu dựa trên tổ chức hành chính sẵn có, những nhóm nghiên cứu loại
này khá phổ biến Chính vì lý do đó mà khi so sánh các nhóm nghiên cứu với nhau đã
gặp cản trở, ví dụ: quy mô của các nhóm nghiên cứu khá đa dạng (sự cách biệt lớn,
nhỏ khá nhiều) và trình độ chuyên môn của các thành viên giữa các nhóm cũng khác
nhau rất lớn Tóm lại, cơ cấu và phương thức tổ chức hoạt động của các nhóm nghiên
cứu hiện tại rất đa dạng, chưa có sự thống nhất và chưa chuyên nghiệp
Về các kết quả mà các nhóm nghiên cứu đạt được trong 5 năm (2004-2008):
- Đóng góp cho khoa học, đào tạo và đổi mới: Các nhóm nghiên cứu đều đã và
đang hướng tới kết quả để đóng góp cho khoa học, đào tạo và đổi mới Hầu hết các nhóm nghiên cứu đã có kết quả công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và tham gia các hội thảo trong nước và quốc tế Rất nhiều nhóm (70% số nhóm được khảo sát) thuộc lĩnh vực KHTN và KHKT-CN có công trình công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế, trong khi các nhóm thuộc lĩnh vực KHXH&NV hầu như không
có Tuy vậy, tất cả các nhóm nghiên cứu đều đã và đang coi trọng việc đào tạo sau đại học Kết quả nghiên cứu của một số nhóm thuộc lĩnh vực KHKT-CN đã có gắn kết và bước đầu đóng góp cho công nghiệp
- Thu hút tài trợ: Tiền tài trợ mà mỗi nhóm nghiên cứu nhận được từ nguồn ngân
sách nhà nước (NSNN) có chiều hướng tăng lên theo từng năm Hầu như nguồn kinh phí hoạt động của các nhóm nghiên cứu là từ ngân sách nhà nước, kể cả đối với các nhóm lĩnh vực KHKT-CN, với sứ mạng là tạo ra các công nghệ để đáp ứng yêu cầu cho sản xuất từ khu vực doanh nghiệp Và có một thực tế được khẳng định từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp là việc thu hút nguồn vốn NSNN được chi phối bởi quan hệ của người trưởng nhóm, rất ít ảnh hưởng từ kết quả nghiên cứu, khả năng ứng dụng kết quả chưa cao vì chất lượng nghiên cứu chưa theo các chuẩn mực quốc tế
- Hợp tác, liên kết: Hợp tác trong nghiên cứu, nhất là hợp tác quốc tế phản ánh
tính cập nhật nghiên cứu Các nhóm nghiên cứu đều có những hoạt động cố gắng liên kết hợp tác trong và ngoài nước Tuy nhiên, số nhóm có liên kết, hợp tác lâu dài với các đối tác nước ngoài là không nhiều và phần lớn là các nhóm thuộc lĩnh vực KHTN Các nhóm nghiên cứu chủ yếu hợp tác với các đối tác trong các trường đại học, viện nghiên cứu mà hầu như không có hợp tác nghiên cứu và phát triển công nghệ với các đối tác là doanh nghiệp
Về điều kiện và môi trường hoạt động của các nhóm nghiên cứu: Căn cứ vào
kết quả khảo sát và đánh giá thử, chúng tôi nhận thấy mức độ đáp ứng về điều kiện và môi trường làm việc, nhất là về cơ sở vật chất, trang thiết bị và thông tin phục vụ nghiên cứu của các nhóm hầu hết là ở mức thấp và thậm chí là rất thấp đối với các tổ chức nghiên cứu ở Đà Nẵng
Trang 19Hầu hết cơ quan chủ quản của các nhóm nghiên cứu đều hỗ trợ cho hoạt động của
các nhóm, nhưng chưa xây dựng chiến lược, kế hoạch để duy trì và phát triển các
nhóm nghiên cứu một cách bền vững
2.2 Các vấn đề tồn tại
Qua phân tích, đánh giá về thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức
nghiên cứu ở Việt Nam, phát hiện một số vấn đề tồn tại sau:
- Quan điểm thế nào là "tính mới" trong nghiên cứu khoa học còn chưa thống
nhất trong chính giới tham gia nghiên cứu;
- Quan niệm thế nào là "sản phẩm nghiên cứu khoa học" còn chưa thống nhất và
tiêu chí đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu cũng rất đa dạng Một số người
cho rằng chế tạo thành công sản phẩm nào đó có giá thành rẻ hơn so với nhập khẩu là
kết quả tốt, một số không đồng ý vì theo họ đấy chỉ là kết quả tốt cho hoạt động triển
khai Đối với nhóm ngành KHXN&NV hệ thống các tiêu chí còn phức tạp hơn vì các
ngành này thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của chính trị, hoặc đề tài nghiên cứu do cơ
quan chủ quản yêu cầu làm theo chủ ý trước;
- Tình trạng nhóm nghiên cứu không có công bố quốc tế, không có công trình
được cấp bằng sở hữu trí tuệ nhưng vẫn tự đánh giá là đạt trình độ quốc tế, là "nhóm
nghiên cứu mạnh" khá phổ biến, vì thế nào là nhóm nghiên cứu mạnh là một quan
điểm chưa được thống nhất ở Việt Nam;
- Các nhà nghiên cứu chưa phân biệt rõ về đầu ra của nghiên cứu, chẳng hạn như
không phân định rõ các kết quả nghiên cứu của mình thuộc về khoa học hay thuộc về
công nghệ là khá phổ biến;
- Số lượng đề tài, đầu tư từ ngân sách cho các nhóm có công bố quốc tế trong thời
gian 5 năm gần nhất (2004-2008) không cho thấy có tỉ lệ thuận với kết quả đạt được
Có thể nói khả năng công bố quốc tế không phụ thuộc vào nguồn kinh phí nhà nước
cung cấp, mà chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố hợp tác nước ngoài của cá nhân các nhà
khoa học và khả năng của cá nhân họ Chúng tôi cho rằng nền tảng để phát triển các
nhóm nghiên cứu mạnh là phải dựa vào các cá nhân có năng lực nghiên cứu thực sự và
có kết quả nghiên cứu tốt trong cả quá khứ và hiện tại
- Quy mô nhóm, trình độ chuyên môn của các thành viên trong các nhóm nghiên cứu không đồng đều, sự phân công nhiệm vụ cho từng thành viên không rõ ràng và logic Có những nhóm nghiên cứu là phòng, bộ môn hay trung tâm theo chức năng quản lý hành chính, có những nhóm là tự phát theo yêu cầu các nhiệm vụ nghiên cứu được tài trợ tức thời Chưa thực sự tồn tại các nhóm nghiên cứu gắn kết và bền vững Tuy vậy, trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có các nhóm nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu có chất lượng tốt công bố trên các tạp chí quốc tế xếp hạng trong ISI Nhiều nhóm trong số này có sự tham gia của các cán bộ trẻ, mặc dù, số cán
bộ trẻ tham gia quản lý và nghiên cứu độc lập ở Việt Nam có phần hạn chế
- Độ tuổi của cán bộ nghiên cứu có công bố quốc tế và có kinh nghiệm quản lý tỉ
lệ nghịch với nhau Số công trình công bố trên các tạp chí quốc tế giảm theo sự tăng của tuổi tác, trong khi ở nước ngoài, số công trình của một giáo sư thường tăng theo tuổi của họ Do vậy, yếu tố căn bản đánh giá năng lực khoa học của các nhóm có công
bố quốc tế không chỉ có số lượng công trình mà còn phải có khả năng định hướng, độc lập chủ trì và triển khai các nghiên cứu tại Việt Nam
- Nguồn lực nghiên cứu (nhân lực và vật lực) không đồng đều và có sự chênh lệch giữa các vùng miền và giữa các viện nghiên cứu và các trường đại học
Trên đây là những nhận định cơ bản về đặc thù các nhóm nghiên cứu hiện tại trong các tổ chức nghiên cứu (trường đại học và viện nghiên cứu) của Việt Nam Từ những đặc thù này, chúng ta phần nào hiểu được một trong những vấn đề thuộc về cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh KH&CN của Việt Nam chính là xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu đạt trình độ quốc tế Trong đó, sứ mệnh của các nhóm nghiên cứu là tạo ra tri thức mới qua các nghiên cứu khoa học có chất lượng cao được cộng đồng các nhà khoa học cùng ngành quốc tế ghi nhận hay tạo ra những công nghệ
có thể được chuyển giao sớm cho công nghiệp và đào tạo các nhà khoa học trẻ
Trang 20Chương 3 Sự cần thiết của việc phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh ở Việt Nam và giải pháp
Xuyên suốt nghiên cứu này, tinh thần chủ đạo là xem xét từ thực tiễn nước ta,
tiếp thu các kinh nghiệm thành công của nước ngoài, từ đó đề xuất các nội dung liên
quan đảm bảo tính phù hợp để nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở
Việt Nam Nội dung của chương 1 đã trình bày rõ kinh nghiệm của một số nước trên
thế giới trong việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, Chương 2 đã
phác họa được bức tranh về hiện trạng của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức
nghiên cứu của Việt Nam Ở chương 3, chúng tôi luận giải sự cần thiết, các yêu
cầu/giải pháp đối với việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt
Nam
1 Sự cần thiết phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
Khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới, khả năng cạnh tranh là
yếu tố quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội Trình độ khoa học và công
nghệ là một trong những nhân tố đóng vai trò then chốt nhằm tăng khả năng cạnh
tranh của đất nước.Theo kết quả của các nghiên cứu gần đây, trình độ khoa học và
công nghệ của Việt Nam là thấp ngay cả so với các nước trong khu vực Một trong
những nguyên nhân làm cho trình độ khoa học và công nghệ của chúng ta thấp là vì
chưa tạo dựng môi trường thuận lợi nhằm thu hút và nuôi dưỡng các cán bộ nghiên
cứu tài năng Nhận định này đã được kiểm chứng qua kết quả khảo sát và đánh giá
thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu như đã đề cập ở trên
Mặc dù Bộ Khoa học và Công nghệ và một số Bộ ngành khác đã đề xuất và triển
khai thực hiện một số chương trình nhằm nâng cao trình độ khoa học và công nghệ,
tuy nhiên chưa có sáng kiến nào về việc xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu
mạnh/trung tâm xuất sắc giống các nước trên thế giới Để có thể thực hiện nội dung
“hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao, đủ sức tổ chức nghiên
cứu và giải quyết những hoạt động khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia ở trình
độ quốc tế” trong quyết định số 67/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, và góp
phần nâng cao trình độ khoa học và công nghệ nhằm tạo động lực cho phát triển kinh
tế, cần xây dựng các chương trình để nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh Các nhóm nghiên cứu mạnh sẽ là những hạt nhân, dẫn đầu trong việc tạo ra các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế, là mạng lưới gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất, và cũng là nơi cung cấp thông tin, tư vấn cho chính phủ và khu vực tư nhân Việc lựa chọn và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh sẽ góp phần giải quyết một trong những nội dung của đề án "Trọng dụng nhân tài KH&CN" mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
2 Các giải pháp để phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
Để có được những nhóm nghiên cứu mạnh mang sứ mệnh sáng tạo ra tri thức mới qua các nghiên cứu khoa học có chất lượng cao được cộng đồng các nhà khoa học cùng ngành quốc tế ghi nhận hay tạo ra những công nghệ có khả năng cạnh tranh, được chuyển giao sớm cho công nghiệp và đào tạo các nhà khoa học trẻ, xin kiến nghị một số nội dung sau:
(1) Hình thành các chương trình nghiên cứu và phát triển nhằm mục đích
nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh với sứ mệnh như trên Các nhóm nghiên cứu tiếp nhận kinh phí đầu tư từ chương trình này không có nghĩa là chấm dứt mọi hoạt động nghiên cứu thuộc các chương trình, dự án khác Ngược lại, một yêu cầu đặt ra là nhóm phải có sự tăng trưởng về số lượng các đăng ký thành công các đề tài,
dự án từ các nguồn kinh phí khác, nhất là các nguồn phi NSNN khác Một nhóm nghiên cứu mạnh không thể chỉ dùng kinh phí được cấp để làm kinh phí nghiên cứu chính mà còn được dùng như kinh phí để phát triển và thu hút các nguồn đầu tư khác
Triển khai thí điểm chương trình nhằm nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên
cứu mạnh trong thời gian sớm nhất có thể Trước mắt, triển khai đầu tư chọn lọc cho một số nhóm nghiên cứu hiện đang có các kết quả nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế Theo ý kiến chúng tôi để có thể tham gia chương trình thí điểm này, các trưởng nhóm
và nhóm đăng ký cần đáp ứng tốt nhất các tiêu chí sau:
(a) Nhóm đã định hình hoạt động, có hướng nghiên cứu riêng, và có thành tích trong 5 năm gần đây trong hướng nghiên cứu của mình, được xác định bằng:
Trang 21- Số các công bố quốc tế, ví dụ 5 công trình / 5 năm đối với nhóm thuộc lĩnh
vực KHTN
- Trường hợp nhóm thuộc lĩnh vực KHXN & NV không có công bố quốc tế thì
có thể thay số công trình bằng số lượng ấn bản phẩm, sách, công trình KHXH
mà nhóm đã xuất bản trong nước (ví dụ 50.000 ấn bản / 5 năm)
- Với nhóm ngành KHKT-CN thì có thể thay số công trình bằng các bằng sáng
chế, hoặc chứng nhận giải pháp hữu ích, và các hợp đồng phát triển công nghệ
(b) Nhóm phải có một số lượng cán bộ/ cơ cấu cán bộ, ví dụ:
- Tổng số thành viên nhóm nghiên cứu (thành viên lab): khoảng 7 người
- Có 01 thư ký/kế toán chuyên trách
- Có phó trưởng nhóm là TS trở lên
- Có ít nhất 01 - 02 TS hoặc nghiên cứu sinh
- Có khoảng 04 cán bộ nghiên cứu chính
- Số cộng tác viên tự hạch toán lương: ít nhất 02 người
- Giới hạn tuổi: không quá 55 đối với trưởng nhóm, không quá 45 đối với phó
trưởng nhóm hoặc người sẽ kế cận phát triển nhóm sau này
(c) Trưởng nhóm đã từng chủ trì một số đề tài nghiên cứu sử dụng các nguồn
vốn (kể cả NSNN và phi ngân sách) được quản lý tại CQCQ (Cơ quan chủ quản) Việt
Nam, ví dụ có thể tối thiểu là: 01 tỉ VNĐ / 5 năm gần đây Con số này cần phải cân
nhắc kỹ sao cho hợp lý, phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu, vì nó có tính loại trừ mạnh
(d) Nhóm cần có đề cương nghiên cứu rõ ràng, đề cương cần được viết và được
phản biện độc lập như một công trình khoa học, trong đó cần nêu rõ ý tưởng, mục tiêu,
phương pháp tiếp cận, dự trù kết quả đạt được Về học thuật nó phải là một công trình
"review" (tổng quan) về lĩnh vực nghiên cứu của nhóm Nó phải có nội dung bao quát
và cập nhật với mức độ phát triển trên thế giới Có thể cần ưu tiên các đề cương có bản
chính được viết trực tiếp bằng tiếng Anh cho các nhóm ngành KHTN và KHKT-CN
Có thể ưu tiên các nhóm đăng ký có website riêng, có công bố công khai chương trình
nghiên cứu, định hướng nghiên cứu của họ và lý lịch khoa học của trưởng nhóm và các thành viên
(2) Đặt ra mục tiêu cụ thể mà các nhóm nghiên cứu mạnh cần đạt được khi triển khai chương trình thí điểm này Chúng tôi kiến nghị mỗi chu trình đầu tư cho
nhóm nghiên cứu mạnh cần được triển khai theo 2 giai đoạn, thời gian mỗi giai đoạn là
02 - 03 năm, tức là mỗi chu trình đầu tư là khoảng 04 – 06 năm Trong một chu trình đầu tư, cần tổ chức đánh giá giữa kỳ để quyết định đầu tư tiếp giai đoạn sau hay dừng Liên kết việc kết thúc chu trình đầu tư trước với chu trình đầu tư tiếp theo bằng kết quả đánh giá kết thúc
Cần đặt mục tiêu tối thiểu phải đạt được trong từng giai đoạn, ví dụ:
- KHTN hay KHXH&NV: đạt gấp đôi số công trình công bố trung bình trong giai đoạn 5 năm trước khi tiếp nhận đầu tư từ chương trình nhóm nghiên cứu mạnh (khoảng 02 công trình / 1 năm) …
- KHKT-CN: đạt gấp đôi số bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, hợp đồng phát triển công nghệ, so với con số trung bình trong giai đoạn 5 năm trước khi tiếp nhận đầu tư (khoảng 02 công trình / 1 năm) …
Mục tiêu tổng thể mà nhóm nghiên cứu mạnh cần đạt được sau một thời gian đầu
tư (có thể là sau 1hoặc 2 chu trình đầu tư):
- Nhóm cần có sự gia tăng đáng kể số lượng thành viên, các nghiên cứu sinh sau tiến sỹ (post-doc), nghiên cứu viên, học viên nước ngoài, cộng tác viên không ăn lương ngân sách Ví dụ: nhóm cần tăng ít nhất 10% số thành viên sau một chu trình đầu tư 4-6 năm
- Các thành viên chủ chốt của nhóm phải chứng tỏ sự tiến bộ trong năng lực nghiên cứu độc lập của mình bằng cách (a) bảo vệ luận án Thạc sỹ, Tiến sỹ; (b) tự đăng ký chủ trì các đề tài nhỏ các cấp của viện, trường, bộ ; (c) tự thiết lập các mối quan hệ nghiên cứu với đối tác nước ngoài (cùng tham gia trong các bài báo, công trình, dự án ); (d) tự tham gia đào tạo sau đại học, hỗ trợ đào tạo sau đại học; (e) phấn đấu trở thành GS, PGS; (f) thăng tiến trong chuyên môn Có thể đánh giá từng thành viên bằng các công trình mà họ đứng tên đầu, chủ trì, đại diện, ký hợp đồng v.v
Trang 22- Số lượng công trình/kết quả đạt được cần chứng tỏ sự gia tăng theo thời gian
và kinh phí được cấp, cũng như số lượng nghiên cứu viên tham gia nhóm Ví dụ:
+ Đối với các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN, nếu giai đoạn đầu nhóm chỉ
cần 02 công trình/năm thì trong giai đoạn thứ 2 cần 04 công trình SCI / năm Yêu cầu
này bắt nguồn từ việc tham khảo chất lượng công bố tạp chí của các nhóm nghiên cứu
trên thế giới, 1 nhóm nghiên cứu có qui mô khoảng 7 thành viên có thể đăng được 6 -
7 bài báo / năm
+ Nếu là nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV thì số lượng bài báo hay sách
cũng phải gia tăng đáng kể trong quá trình phát triển nhóm Cần nghiên cứu thêm để
có thể đưa ra chỉ tiêu cụ thể
+ Tương tự với các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN, nếu số lượng tối
thiểu các giải pháp hữu ích, bằng sáng chế, giải thưởng KH&CN, hợp đồng phát triển
công nghệ, nguồn thu ngoài ngân sách được cấp từ các hoạt động triển khai KH&CN
không thỏa đáng thì cũng nên dừng đầu tư
(3) Dự kiến kinh phí cho một chu trình đầu tư ngay từ khi kêu gọi các nhóm
nghiên cứu nộp đề xuất tham gia chương trình này
- Nên được đầu tư với kinh phí trung bình hàng năm của mỗi nhóm nghiên cứu
hơn hẳn các chương trình khác để thu hút nhân tài (ví dụ khoảng 2 tỉ đồng/năm) và
việc cung cấp kinh phí nên theo tỉ lệ lũy tiến theo từng năm Trong đó các khoản
khoán chi có thể đạt 70-90% Các thành viên trong nhóm nên được phép quyết toán
lương/phụ cấp theo hệ số
-Việc cấp kinh phí sẽ phụ thuộc không chỉ vào việc hoàn thành nhiệm vụ/mục
tiêu được giao về số lượng công trình mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng thực tế của
số cán bộ nhóm nghiên cứu, số đề tài nhóm phụ trách
(4) Cho phép/bắt buộc các nhóm nghiên cứu phải thiết lập trang web của
nhóm trên đường link của website chương trình, để bất kỳ ai quan tâm cũng có thể
kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chương trình Điều này cũng giúp tạo dựng uy
tín cho những nhóm nghiên cứu làm việc nghiêm túc, trung thực và có kết quả tốt
Kinh phí duy trì thông tin là cần thiết và có thể trích từ kinh phí đầu tư cho nhóm
(5) Yêu cầu về phương thức quản lý nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
Về phương thức phát triển và quản lý các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng cần phải đầu tư hơn một chu trình (mỗi chu trình kéo dài 4-6 năm)
để các nhóm nghiên cứu có năng lực thực sự khẳng định được tên tuổi của mình trong giới nghiên cứu trong và ngoài nước Đối với mỗi chu trình đầu tư, đánh giá giữa kỳ/giữa chu trình (sau 2-3 năm thực hiện nghiên cứu) cần phải loại một số nhóm có điểm đánh giá thấp hơn, không cho thực hiện tiếp giai đoạn sau để tạo áp lực cạnh tranh Đánh giá kết thúc chu trình đầu tư, cần phải loại một số lượng nhất định các nhóm có kết quả đánh giá thấp hơn, không được tham gia tuyển chọn ở chu trình đầu
tư tiếp theo Hơn nữa, cần kết nối kết quả đánh giá kết thúc chu trình đầu tư trước với việc tuyển chọn cho chu trình đầu tư tiếp theo để thúc đẩy phát triển Các nhóm nghiên cứu đạt kết quả đánh giá cao sau chu trình đầu tư trước sẽ được ưu tiên ở vòng tuyển chọn cho chu trình đầu tư tiếp theo
Trang 23Sơ đồ sau đây là quy trình thực hiện và quản lý việc nuôi dưỡng và phát triển các
nhóm nghiên cứu mạnh (đối với một chu trình đầu tư 4 năm):
Đánh giá giữa kỳ (kết thúc giai đoạn đầu)
Giám sát hàng năm
Đánh giá kết thúc
Loại một số nhất định các nhóm có kết quả đánh giá thấp Hợp đồng thực hiện giai đoạn sau
Loại một số nhất định các nhóm có kết quả đánh giá thấp Tham gia tuyển chọn chu trình đầu
tư tiếp theo
Hình 3.1 Quy trình thực hiện và quản lý việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm
nghiên cứu mạnh
Thay lời kết cho chương này, chúng tôi kiến nghị thêm một số điều kiện để việc
nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh được thành công dựa trên bối
cảnh KH&CN của Việt Nam hiện nay và hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ
chức nghiên cứu được đưa ra ở chương 2 như sau:
- Các nhóm nghiên cứu tham gia trước hết phải được thực hiện tuyển chọn rất nghiêm ngặt Vì vậy, phải có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với các cán bộ nghiên cứu tham gia
- Quy mô kinh phí cho đề tài phải lớn hơn so với các đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu và phát triển khác trong nước Bên cạnh đó cơ quan chủ trì phải sẵn sàng hỗ trợ cho các nhóm nghiên cứu những điều kiện như là không gian nghiên cứu, giảm bớt gánh nặng của các công việc khác (việc giảng dạy chẳng hạn) cho chủ nhiệm
đề tài/trưởng nhóm nghiên cứu
- Đối với nhóm nghiên cứu đã được tuyển chọn nhưng chưa có đủ thiết bị nghiên cứu thì cần có những hỗ trợ để họ được sử dụng các thiết bị của các đơn vị khác và của
17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hiện có và hỗ trợ việc điều phối sử dụng trang thiết bị của những phòng thí nghiệm khác Nếu sau một chu kỳ đầu tư, nhóm nghiên cứu đó đạt những kết quả xuất sắc, Bộ Khoa học và Công nghệ có thể xem xét đầu tư, cung cấp những trang thiết bị theo kiến nghị của Chủ nhiệm đề tài
- Cần dựa vào cơ sở dữ liệu chuyên gia “giàu có” để lựa chọn chuyên gia cho các Hội đồng đánh giá
Trang 24
Chương 4 Phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá các nhiệm
vụ nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
Từ việc học tập kinh nghiệm nước ngoài (chương 1) đến việc xem xét kỹ hiện
trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam (như đã trình bày
ở chương 2) và nêu ra các yêu cầu cơ bản đối với việc thực hiện nuôi dưỡng và phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam (chương 3) đều là những lý luận cốt lõi
cho những đề xuất về phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát
triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam Nói cách khác, nội dung của chương 1
và chương 2 là những luận cứ cho các nội dung của chương 3 và chương 3 là tiền đề
cho các nội dung đề xuất ở chương 4 Nội dung của chương 4 bao gồm: phương pháp,
quy trình và các tiêu chí đánh giá tuyển chọn, đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc
đối với mỗi chu trình đầu tư nhằm phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam
1 Phương pháp và quy trình đánh giá
1.1 Phương pháp đánh giá
Chúng tôi đề xuất sử dụng phương pháp đánh giá bằng chuyên gia cùng
ngành/đồng cấp (Peer Review) – bản chất của phương pháp đánh giá này đã được trình
bày trong mục 1.2 – (mục đánh giá thử một số nhóm nghiên cứu), chương 1
Kỹ thuật khi dùng phương pháp đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành nên là: tổ
chức hội đồng chuyên gia, họp tổ tư vấn chuyên gia và chuyên gia độc lập đánh giá
qua thư Chi tiết về các kỹ thuật đánh giá này đã trình bày trong mục 1.2, chương 1
Về hình thức đánh giá, chúng tôi đề xuất các đánh giá ở đây là trên hồ sơ và
khảo sát, kiểm tra hiện trường Đánh giá trên hồ sơ là việc các chuyên gia đánh giá đọc
hồ sơ thông tin về nhóm nghiên cứu và đánh giá dựa trên các thông tin đó Đánh giá
hiện trường là việc các chuyên gia đánh giá đến hiện trường nhóm nghiên cứu để khảo
sát, nắm bắt được các thông tin về cơ sở vật chất, nhân lực, sự hỗ trợ của cơ quan chủ
quản, và mọi thông tin liên quan cần thiết phải chứng minh, bổ sung
1.2 Quy trình đánh giá
Quy trình đánh giá được xác định dựa trên mục tiêu của đánh giá Nhằm mục
đích nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam, chúng tôi đề
xuất lựa chọn dựa trên nhiệm vụ nghiên cứu Quy trình thực hiện và quản lý việc nuôi dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh được đề xuất trên sơ đồ hình 2.1 Đánh giá tuyển chọn sẽ được thực hiện với quy trình 3 bước (3 vòng đánh giá) trên sơ đồ hình 4.1 Có thể tuyên bố ngay từ trước khi việc tuyển chọn bắt đầu là sẽ loại một số lượng nhất định các nhóm nghiên cứu có kết quả đánh giá thấp hơn Bước đánh giá hiện trường (bước 3) chỉ thực hiện với những nhóm có điểm đánh giá thấp hơn để cân nhắc xem có quyết định đầu tư hay không
Công bố tuyển chọn/kêu gọi nộp đề xuất
3 bước đánh giá tuyển chọn
Bước 1 Đánh giá ý tưởng nghiên cứu và năng lực của người trưởng nhóm nghiên cứu
Đề cương đánh giá bước này được trưởng nhóm nghiên cứu đệ trình
→
Bước 2 Đánh giá đề cương nghiên cứu chi tiết
Đề cương đánh giá bước này được trưởng nhóm nghiên cứu đệ trình
→
Bước 3 Đánh giá, thẩm định hiện trường/tại chỗ
Nội dung của bước đánh giá này được trình bày trong mục 2.1.3 chương III Hình 4.1 Quy trình tuyển chọn nhóm nghiên cứu mạnh
Đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc 1 chu trình đầu tư đều thực hiện với quy trình 2 bước (2 vòng đánh giá) như hình 4.2 Ở các đánh giá này, chắc chắn sẽ phải loại một số lượng nhất định các nhóm nghiên cứu xếp hạng thấp hơn Chúng tôi khuyến nghị nên thông báo số lượng nhóm sẽ bị loại ở các đánh giá này trước khi tài trợ để tạo sức ép cạnh tranh, các nhóm sẽ phải nỗ lực đạt kết quả tốt nhất Bước đánh
Trang 25giá hiện trường ở đây cũng có thể chỉ phải thực hiện với một số lượng nhất định các
nhóm nghiên cứu có kết quả đánh giá thấp hơn
Tự đánh giá
Đánh giá bởi hội đồng các chuyên gia cùng ngành
Đánh giá hiện trường/tại chỗ
Chủ nhiệm đề tài/trưởng nhóm nghiên cứu
đệ trình:
- Kết quả nghiên cứu và kế hoạch nghiên
cứu giai đoạn sau - đối với đánh giá giữa
kỳ
- Kết quả nghiên cứu và bản tự đánh giá -
đối với đánh giá kết thúc
→
Các chuyên gia cùng ngành đánh giá dựa vào
hồ sơ thông tin
→
Nhóm chuyên gia cùng ngành đánh giá hiện trường
Hình 4.2 Quy trình đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc
2 Tiêu chí đánh giá
2.1 Tiêu chí đánh giá tuyển chọn
2.1.1 Đánh giá bước 1 - Đánh giá ý tưởng nghiên cứu và năng lực của người trưởng
nhóm nghiên cứu
Đối với các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN và KHXH&NV, tiêu chí đánh giá
ý tưởng nghiên cứu tương tự nhau, bao gồm sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu và chất
lượng của nghiên cứu được đề xuất Đối với các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN,
với mong muốn có được những kỹ thuật có thể được ứng dụng và các công nghệ có
thể thương mại hoá được, ngoài các tiêu chí đánh giá về sự cần thiết và chất lượng của
kỹ thuật – công nghệ được đề xuất, chúng tôi nhận thấy còn phải nhấn mạnh ở khả
năng được ứng dụng/thương mại hoá của các kỹ thuật – công nghệ này Ở đây, chúng
tôi đề xuất tiêu chí, các chỉ số trong các tiêu chí và cách thức đánh giá ý tưởng nghiên
cứu và năng lực trưởng nhóm của các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN, KHXH&NV
và KHKT-CN
Về cách thức đánh giá: Mỗi tiêu chí sẽ được các chuyên gia đánh giá và cho điểm
tối đa là 10 (từ 0 đến 10) và là tổng điểm của các chỉ số trong tiêu chí đó Các điểm số
sẽ được nhân thêm với trọng số thích hợp của tiêu chí đó để tính tổng điểm Điểm số cuối cùng cho nhóm nghiên cứu là tổng điểm của tất cả các tiêu chí Cách thức đánh giá cho điểm này được thể hiện ở bảng 4.1a và 4.1b sau đây:
Bảng 4.1a Cách thức đưa ra kết quả đánh giá đối với tuyển chọn bước 1 cho các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN và KHXH&NV:
TT
Điểm
(Tổng điểm của từng tiêu chí)
Tổng
(= Điểm x Trọng số)
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 30%
2 Chất lượng của nghiên cứu được đề xuất 30%
3 Sự xuất sắc của Trưởng nhóm nghiên cứu 40%
Tổng 100%
Ghi chú: Các trọng số ứng với mỗi tiêu chí ở bảng trên chỉ là ví dụ
Trang 26Bảng 4.1b Cách thức đưa ra kết quả đánh giá đối với tuyển chọn bước 1 cho các
Tổng
(= Điểm x Trọng số)
1 Sự cần thiết của công nghệ được đề xuất
3 Khả năng thương mại hoá của công nghệ
được đề xuất nghiên cứu
20%
4 Sự xuất sắc của Trưởng nhóm nghiên cứu 40%
Tổng 100%
Ghi chú: Các trọng số ứng với mỗi tiêu chí ở bảng trên chỉ là ví dụ
Trong đó, các trọng số đối với các tiêu chí đưa ra ở bảng có thể được điều chỉnh
dưới sự thống nhất của các nhà quản lý và các chuyên gia tư vấn, đánh giá Ý kiến
đánh giá tổng hợp có thể để nguyên điểm chấm trung bình để so sánh, xếp hạng hoặc
điểm trung bình cuối cùng sẽ được làm tròn và xếp loại như sau: 9-10: Xuất sắc ;
7-8: Tốt ; 5-6: Trung bình ; 1-4: Dưới chuẩn
Các chỉ số cho mỗi tiêu chí đánh giá tuyển chọn bước 1 (vòng 1) đối với các
nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN và KHXH&NV được đưa ra ở bảng 3.2a và bảng
4.2b đối với các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN Điểm tối đa cho các chỉ số
đánh giá dưới đây chỉ là ví dụ, khi áp dụng cần được điều chỉnh cho phù hợp với
mục đích nhà quản lý hướng tới, đồng thời phù hợp với bối cảnh KH&CN tại thời
điểm thực hiện tuyển chọn (tham khảo tư vấn của các chuyên gia đánh giá)
Bảng 4.2a Các chỉ số và tiêu chí đánh giá tuyển chọn bước 1 nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHTN và KHXH&NV:
Điểm tối đa
TT Tiêu chí và các chỉ số đánh giá
KHTN KHXH& NV
1 Tiêu chí 1: Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 10 10
1.1 Mức độ đóng góp của nghiên cứu cho khoa học 5 3 1.2 Mức độ đóng góp trong việc giải quyết các vấn đề
2 Tiêu chí 2: Chất lượng của đề xuất nghiên cứu 10 10
2.1 Mức độ cập nhật của nghiên cứu được đề xuất ở trong nước
Trang 27- Thành tích nghiên cứu (dựa vào số lượng bài báo
công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế và trong
nước; )
3 2
- Thành tích về đào tạo cán bộ nghiên cứu 2 1
- Các kết quả được ứng dụng nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội
- 1
3.3 Năng lực quản lý nhóm nghiên cứu 2 2
Ghi chú:
a) Cách tính điểm các tiêu chí 1, 2, 3.1 và 3.3: theo “Quy tắc M/5” sau đây:
Quy tắc M/5: Điểm đánh giá được xác định dựa trên 5 cấp độ đánh giá (Tốt;
Khá; Trung bình; Yếu; Kém) tương ứng với điểm số như sau:
Tốt = Điểm tối đa = M
- Thành tích thu hút tài trợ - thực hiện các nhiệm vụ KH&CN: chỉ tính
điểm đối với các nhiệm vụ chủ trì với mức tài trợ 100 triệu đồng trở lên
(con số này có thể được quyết định bởi hội đồng chuyên gia): 0,5 điểm/1
đề tài
- Thành tích nghiên cứu:
+ Bài báo quốc tế: 0,5 điểm/1 bài
+ Bài báo trong nước: 0,2 điểm/1 bài
- Trường hợp tống số điểm của các kết quả trên vượt quả điểm tối đa thì chỉ được tính bằng điểm tối đa
Bảng 4.2b Các chỉ số và chỉ tiêu đối với mỗi tiêu chí đánh giá tuyển chọn bước 1 nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHKT-CN:
KHKT-CN
1 Tiêu chí 1: Sự cần thiết của công nghệ được đề xuất 10
1.1 Mức độ cần thiết phát triển công nghệ được đề xuất 5 1.2 Quy mô, phạm vi ứng dụng của công nghệ 5
2 Tiêu chí 2: Trình độ của công nghệ được đề xuất 10
2.1 Trình độ của công nghệ được đề xuất ở mức độ nào so với công nghệ tương tự trong nước
5
2.2 Trình độ của công nghệ được đề xuất ở mức độ nào so với công nghệ tương tự được nghiên cứu và phát triển các nước tiên tiến
5
3 Tiêu chí 3: Khả năng thương mại hoá của công nghệ được
đề xuất
10
3.2 Khả năng công nghệ được đề xuất có thể cạnh tranh trên trường quốc tế
3
3.3 Triển vọng ứng dụng trong tương lai 4
Trang 284 Tiêu chí 4: Sự xuất sắc của trưởng nhóm nghiên cứu 10
4.1 Mức độ phù hợp chuyên môn với lĩnh vực công nghệ mà
nhóm đề xuất nghiên cứu
2
Năng lực nghiên cứu: 6
- Thành tích thu hút tài trợ - thực hiện các nhiệm vụ KH&CN 2
- Thành tích nghiên cứu (dựa vào số lượng bài báo công bố
trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế và trong nước; sáng
chế; giải pháp hữu ích; chuyển giao công nghệ; thương mại
hoá )
3 4.2
- Thành tích về đào tạo cán bộ nghiên cứu 1
Ghi chú:
a) Cách tính điểm các tiêu chí 1, 2, 3, 4.1 và 4.3: theo “Quy tắc M/5”
b) Cách tính điểm tiêu chí 4.2:
- Thành tích thu hút tài trợ - thực hiện các nhiệm vụ KH&CN: chỉ tính
điểm đối với các nhiệm vụ chủ trì với mức tài trợ 100 triệu đồng trở lên
(con số này có thể được quyết định bởi hội đồng chuyên gia): 0,5 điểm/1
đề tài
- Thành tích nghiên cứu:
+ Sáng chế: 1 điểm/1 bằng
+ Giải pháp hữu ích: 0,5 điểm/chứng chỉ
+ Bài báo quốc tế: 0,2 điểm/1 bài
+ Bài báo trong nước: 0,1 điểm/1 bài
+ Chuyển giao công nghệ; thương mại hoá: 0,5 điểm/công trình
Mẫu đề cương đề xuất ý tưởng nghiên cứu và thông tin về trưởng nhóm nghiên cứu/chủ nhiệm đề tài phục vụ đánh giá tuyển chọn bước 1 được đưa ra ở phụ lục 3c
2.1.2 Đánh giá bước 2 – Đánh giá đề cương nghiên cứu chi tiết
Tương tự đối với đánh giá tuyển chọn bước 1, ở bước đánh giá thứ 2 cũng tuân theo cách thức đánh giá chấm điểm như trên và được thể hiện ở bảng 4.3 Các tiêu chí đánh giá là chung cho tất cả các nhóm nghiên cứu mọi lĩnh vực, nhưng các chỉ số đánh giá có thể khác nhau, điểm tối đa cho các chỉ số cũng khác nhau phụ thuộc vào đặc trưng riêng của từng lĩnh vực nghiên cứu Các tiêu chí, chỉ số và ví dụ cho điểm đánh
giá tối đa được thể hiện trên hình 4.4 Trọng số đối với mỗi tiêu chí, các điểm tối đa cho các chỉ số đánh giá dưới đây chỉ là ví dụ, khi áp dụng cần được điều chỉnh cho
phù hợp với ý đồ nhà quản lý, phù hợp với bối cảnh KH&CN tại thời điểm thực hiện tuyển chọn
Bảng 4.3 Cách thức đưa ra kết quả đánh giá đối với tuyển chọn bước 2
Điểm
(Tổng điểm của từng tiêu chí)
Tổng
(= Điểm
x Trọng số)
1 Tính hợp lý và khả thi của kế hoạch nghiên cứu
25
2 Lợi ích mong đợi của nghiên cứu 25
3 Sự phù hợp của dự toán kinh phí nghiên cứu
20
4 Sự xuất sắc của nhóm nghiên cứu 30
Tổng 100%
Trang 29Ghi chú: Các trọng số ứng với mỗi tiêu chí ở bảng trên chỉ là ví dụ
Ý kiến đánh giá tổng hợp tương tự như ở đánh giá bước 1
Bảng 4.4 Các chỉ số và chỉ tiêu đối với mỗi tiêu chí đánh giá tuyển chọn bước 2
Điểm tối đa
TT Tiêu chí và các chỉ số đánh giá KHTN KHXH
&NV
KHKT-CN
1 Tiêu chí 1: Tính hợp lý và khả thi của kế
hoạch nghiên cứu
10 10 10
- Sự logíc của việc tổ chức triển khai các nội
- Mức độ rõ ràng của kế hoạch thực hiện để đạt
được mục tiêu từng năm
2 2 2
1.2 Phương pháp nghiên cứu và hệ thống triển
khai
4 4 4
- Mức độ phù hợp của phương pháp nghiên cứu 2 2 2
- Mức độ hợp lý của việc hợp tác trong nước và
2.4 Đóng góp cho việc đào tạo cán bộ nghiên cứu 3 2 2
2.5 Lợi ích về việc liên kết hợp tác và phát triển
nhóm
3 2 2
3 Tiêu chí 3: Sự hợp lý của kinh phí dự toán 10 10 10
3.1 Mức độ phù hợp của việc phân chia dự toán kinh phí năm thứ 1 và năm thứ 2 so với nội dung nghiên cứu
- Sự xuất sắc của từng thành viên trong nhóm nghiên cứu: dựa trên kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ và chất lượng nghiên cứu của từng thành viên
1 1 1
4.2 Thành tích đại diện của nhóm trong 5 năm lại đây liên quan tới nghiên cứu được đề xuất
1 1 1
- Các kết quả (liên quan đến chính sách, các hoạt động văn hoá – xã hội - thể thao, ) đã được ứng dụng
- 1 -
- Các kết quả được ứng dụng, thương mại hoá - - 1
4.3 Điều kiện và môi trường làm việc của nhóm 3 3 3
- Mức độ hỗ trợ của cơ quan chủ quản về mọi mặt
1 1 1
Trang 30- Mức độ đảm bảo của trang thiết bị, phương
tiện, thông tin, … sẽ được huy động để thực
hiện nghiên cứu
2 2 2
Ghi chú:
a) Cách tính điểm đánh giá các tiêu chí 1, 2, 3, 4.1 và 4.3: theo “Quy tắc M/5”
b) Cách tính điểm đánh giá tiêu chí 4.2:
- Thành tích thu hút tài trợ - thực hiện các nhiệm vụ KH&CN: chỉ tính
điểm đối với các nhiệm vụ chủ trì với mức tài trợ 100 triệu đồng trở lên
(con số này có thể được quyết định bởi hội đồng chuyên gia): 0,5 điểm/1
đề tài
- Sáng chế: 1 điểm/1 bằng
- Giải pháp hữu ích: 0,5 điểm/chứng chỉ
- Bài báo quốc tế: 0,2 điểm/1 bài
- Bài báo trong nước: 0,1 điểm/1 bài
- Kết quả ứng dụng: 0,2 điểm/công trình
- Trường hợp tống số điểm của các kết quả trên vượt quả điểm tối đa thì
chỉ được tính bằng điểm tối đa
Các biểu mẫu đánh giá tuyển chọn bước 2 bao gồm: mẫu phiếu nhận xét đánh giá
của các chuyên gia đánh giá và phiếu tổng hợp kết quả đánh giá lần lượt được đưa ra ở
phụ lục 4a và 4b
Để phục vụ đánh giá tuyển chọn bước 2, các nhóm nghiên cứu phải đệ trình bản
đề cương nghiên cứu chi tiết với đầy đủ các thông tin theo mẫu đưa ra ở phụ lục 4c
2.1.3 Đánh giá bước 3 – Đánh giá/khảo sát hiện trường
Chúng tôi khuyến nghị bước đánh giá này chỉ thực hiện đối với các nhóm có
điểm đánh giá ở bước 2 đạt mức thấp hơn, sát điểm đạt tài trợ Tiêu chí đánh giá bước
này, nói đúng hơn là các nội dung đánh giá là sự hỗ trợ đối với nhóm nghiên cứu và hệ
thống quản lý nghiên cứu của cơ quan chủ quản và đánh giá môi trường làm việc, cơ
sở hạ tầng của nhóm nghiên cứu Bảng 4.5 dưới đây thể hiện các nội dung đánh giá và cách thức đánh giá hiện trường khi cần thực hiện hỗ trợ quyết định tuyển chọn
Bảng 4.5 Các tiêu chí/nội dung và cách thức đánh giá hiện trường:
TT Tiêu chí đánh giá/kiểm tra và các chỉ tiêu/chỉ số Ghi chú
1 Tiêu chí 1- Cơ quan chủ quản
1.1 Mức độ hỗ trợ đối với nhóm nghiên cứu 1.2 Hệ thống quản lý nghiên cứu khoa học và phát triển
Chuyên gia nêu nhận xét và đánh giá một cách cụ thể
2.1 Nhóm nghiên cứu có phải là một đơn vị độc lập trong tổ chức nghiên cứu chủ quản hay không?
2.2 Nhóm có trưởng nhóm riêng và một hệ thống thống nhất không?
2.3 Có chắc chắn rằng các nhà nghiên cứu được đánh giá sẽ tham gia nghiên cứu trong giai đoạn 2 không?
2.4 Chủ nhiệm đề tài/dự án có phải là cán bộ cố định của tổ chức nghiên cứu chủ quản không?
2.5 Nhóm có cơ sở hạ tầng: trang thiết bị, phương tiện, thông tin nghiên cứu và nguồn nhân lực tương ứng
để trở thành nhóm nghiên cứu mạnh không?
Chuyên gia đánh giá nhận định: Có hoặc không đối với từng chỉ tiêu và nêu nhận xét chung đối với toàn bộ tiêu chí 2
Nhận xét về sự phù hợp của dự toán kinh phí nghiên cứu (Chi phí nhân công và chi phí mua sắm trang thiết bị, dụng cụ, )
Chuyên gia nêu nhận xét và đánh giá một cách cụ thể
Trang 31Ý kiến đánh giá tổng hợp:
Chuyên gia đánh giá nhận định: phù hợp hoặc không phù hợp và nêu nhận xét
Phiếu đánh giá hiện trường dành cho các chuyên gia đánh giá được đưa ra ở phụ
lục 5
Yêu cầu về thông tin phục vụ đánh giá/khảo sát hiện trường như sau:
- Cơ quan chủ quản phải báo cáo các nội dung sau: Các nội dung hỗ trợ cho
nhóm nghiên cứu (bao gồm cả cách thức hỗ trợ để đảm bảo môi trường nghiên cứu tốt
cho nhóm nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ); Cách hỗ trợ đối với nhà nghiên cứu (thủ
tục hành chính, quyền tự chủ của trưởng nhóm nghiên cứu); Quản lý kinh phí; và các
hỗ trợ về mặt hành chính khác
- Nhóm nghiên cứu cần đề trình các tài liệu sau: Cơ cấu của nhóm nghiên cứu;
Lý lịch khoa học của các nhà nghiên cứu học vị TS trở lên (không quá 1 trang A4, bao
gồm thông tin cá nhân, đào tạo, kinh nghiệm nghiên cứu và các thành tích nghiên cứu
chính kèm theo bản copy trang bìa/trang thông tin hành chính của các công trình); và
danh sách trang thiết bị và phương tiện cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu của
nhóm
Đối tượng tham gia việc đánh giá hiện trường gồm có: Trưởng nhóm nghiên cứu
- Chủ nhiệm đề tài; Thành viên nghiên cứu của nhóm có học vị TS trở lên (người vắng
mặt phải giải trình lý do vì sao không tham gia); và Thủ trưởng cơ quan chủ quản
2.2 Tiêu chí đánh giá giữa kỳ
Mục đích của việc đánh giá giữa kỳ là nhận định khả năng đảm bảo chất lượng
hoạt động nghiên cứu của các nhóm nghiên cứu trong một chu trình đầu tư để có quyết
định đầu tư tiếp cho đúng đắn Vì vậy, đánh giá giữa kỳ chủ yếu tập trung để trả lời
các câu hỏi: liệu nhóm đã đạt mục tiêu giữa kỳ theo kế hoạch? phương pháp nghiên
cứu đã sử dụng có phải là tối ưu nhất? chất lượng của các kết quả ra sao? liệu nhóm có
đảm bảo đạt được kết quả cuối cùng như mong đợi? Đó cũng chính là các tiêu chí cần
sử dụng để đánh giá Cách thức đưa ra kết luận đánh giá cũng tương tự như đánh giá
tuyển chọn và được thể hiện ở bảng 4.6 Các chỉ số ứng với các tiêu chí đánh giá và ví
dụ cho điểm tối đa đối với chúng được thể hiện ở bảng 4.7 dưới đây
Bảng 4.6 Cách thức đưa ra kết quả đánh giá đối với đánh giá giữa kỳ:
TT
Tiêu chí Trọng số (%)
Điểm
(Tổng điểm của từng tiêu chí)
Tổng
(= Điểm x Trọng số)
1 Mức độ đạt mục tiêu giữa kỳ và tính hợp
lý của phương pháp nghiên cứu 40
2 Chất lượng của các kết quả đã đạt được 40
3 Sự phù hợp của kế hoạch nghiên cứu
Tổng 100%
Ghi chú: Các trọng số ứng với mỗi tiêu chí ở bảng trên chỉ là ví dụ
Bảng 4.7 Các chỉ số và chỉ tiêu đối với mỗi tiêu chí đánh giá giữa kỳ
Điểm tối đa
- Mức độ hoàn thành các mục tiêu/nội dung 1
- Mức độ hoàn thành các mục tiêu/nội dung 2
- Mức độ hoàn thành các mục tiêu/nội dung 3
Hội đồng đánh giá sẽ thảo luận và quyết định điểm tối đa đối với từng nội dung
- Tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu, phương pháp tính toán, kỹ thuật đã sử dụng và tính xác thực của việc thực hiện các quy trình nghiên cứu, thí nghiệm, tính đại diện của mẫu
2 2 2
Trang 32thí nghiệm,
2 Tiêu chí 2 - Chất lượng của các kết quả đã đạt
được ở giai đoạn đầu
- Tình hình trao đổi học thuật (hội thảo, hội nghị
quốc tế và trong nước) liên quan đến các nội
dung và kết quả nghiên cứu
2 2 2
- Khả năng ứng dụng của các kết quả khoa học ở
giai đoạn đầu
2 2 -
- Khả năng có được công nghệ và đóng góp vào
sự phát triển kinh tế - kỹ thuật
- - 3
- Tình hình đào tạo: căn cứ vào số lượng các học
viên cao học và các nghiên cứu sinh tham gia
đề tài giai đoạn đầu
2 2 1
- Sự hợp lý của việc hợp tác, liên kết với tổ
chức/đơn vị khác trong và ngoài nước khi thực
hiện các nội dung nghiên cứu giai đoạn 1 để
để tiến đến mục tiêu cuối cùng
- Sự phù hợp của phương pháp thực hiện nghiên cứu
a) Cách chấm điểm đánh giá một số chỉ số trong tiêu chí 2:
- Tình hình đăng ký sở hữu trí tuệ: (Chọn một cột thích hợp)
Tình hình
Loại
Chưa có (điểm)
Đã gửi đăng ký (điểm/1 công trình)
Đã được chứng nhận (điểm/1 công trình) Sáng chế 0 0,5 2 Giải pháp hữu
Đã được công
bố
Trang 33Loại (điểm/1 bài)
Tạp chí trong
nước
0 0,1 0,2
- Tình hình trao đổi học thuật:
+ Hội thảo, hội nghị quốc tế: 0,5 điểm/1 báo cáo
+ Hội thảo, hội nghị trong nước: 0,2 điểm/1 báo cáo
- Tình hình đào tạo theo đề tài:
+ Học viên cao học: 0,2 điểm/1 học viên
+ Nghiên cứu sinh: 1 điểm/1 nghiên cứu sinh
- Trường hợp tống số điểm của các kết quả trên vượt quả điểm tối đa thì
chỉ được tính bằng điểm tối đa
b) Các tiêu chí còn lại: được tính điểm đánh giá theo “Quy tắc M/5”
Các biểu mẫu đánh giá giữa kỳ bao gồm: mẫu phiếu nhận xét đánh giá của các
chuyên gia đánh giá và phiếu tổng hợp kết quả đánh giá lần lượt được đưa ra ở phụ lục
6a và 6b
Mẫu báo cáo nghiên cứu giai đoạn đầu, báo cáo tự đánh giá kết quả nghiên cứu
giai đoạn đầu và kế hoạch nghiên cứu giai đoạn sau để phục vụ đánh giá giữa kỳ lần
lượt được đưa ra ở phụ lục 6c, 6d và 6e
2.3 Tiêu chí đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư (1 project)
Mục đích của việc đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư là nhận định chất lượng
hoạt động của các nhóm nghiên cứu ở chu trình đầu tư đó, đồng thời nhận định về sự
phát triển của nhóm nghiên cứu và có thể quyết định đầu tư tiếp cho mục đích nuôi
dưỡng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh có chất lượng tốt nhất Vì vậy, đánh giá
giữa kỳ chủ yếu tập trung để trả lời các câu hỏi: mức độ đạt mục tiêu cuối cùng so với
kế hoạch ra sao? phương pháp nghiên cứu đã sử dụng có phải là tối ưu nhất? chất
lượng của các kết quả ra sao? liệu nhóm có thể theo đuổi hướng nghiên cứu của mình
lâu dài để đạt trình độ cao nhất trong nghiên cứu ở trong nước và có những thành tích được giới khoa học quốc tế ghi nhận? Các tiêu chí đánh giá kết thúc một chu trình đầu
tư sẽ hướng tới việc trả lời được các câu hỏi này Tương tự như đánh giá giữa kỳ, cách
thức đưa ra kết luận đánh giá được thể hiện ở bảng 4.8 và các chỉ số và ví dụ về điểm tối đa ứng với các chỉ số, tiêu chí đánh giá được thể hiện ở bảng 4.9 dưới đây
Bảng 4.8 Cách thức đưa ra kết quả đánh giá đối với đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư:
TT
Tiêu chí Trọng số (%)
Điểm
(Tổng điểm của từng tiêu chí)
Tổng
(= Điểm
x Trọng số)
Ghi chú: Các trọng số ứng với mỗi tiêu chí ở bảng trên chỉ là ví dụ
Bảng 3.9 Các chỉ số và chỉ tiêu đối với mỗi tiêu chí đánh giá kết thúc một chu trình đầu tư:
Điểm tối đa
NV
KHKT -CN
Hội đồng đánh giá sẽ thảo luận
và quyết định điểm tối đa đối với từng mục tiêu/nội dung
Trang 34-
- Tính hợp lý của phương pháp nghiên cứu,
phương pháp tính toán, kỹ thuật đã sử dụng
và tính xác thực của việc thực hiện các quy
trình nghiên cứu, thí nghiệm, tính đại diện của
mẫu thí nghiệm,
2
- Tình hình đăng ký sở hữu trí tuệ: Sáng chế và
giải pháp hữu ích
- Tình hình chuyển giao công nghệ: mức độ
hoàn thiện của công nghệ và triển vọng ứng
dụng
- -
2
- Số lượng bài báo công bố trên các tạp chí
- Báo cáo tại các hội thảo, hội nghị quốc tế và trong nước 2 2 2
- Đóng góp vào việc đào tạo tiến sỹ và thạc sỹ 2 2 1
-
Đóng góp vào các thành tựu khoa học nổi bật
trình độ quốc tế và có giá trị khoa học xuất
sắc trong nước
2 2 1
-
Giá trị thực tiễn của nghiên cứu (cung cấp các
luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường
lối, chính sách; góp phần giải quyết các vấn
đề của thực tiễn, )
- Vị thế của nhà khoa học (những cá nhân tham
gia đề tài) trong giới khoa học quốc tế - thông
qua những công việc tư vấn, đánh giá, được
mời tham gia
2 1 1
3 Tiêu chí 3 - Kế hoạch sử dụng kết quả
nghiên cứu và sự phát triển của nhóm
10
- Mức độ khả thi của kế hoạch sử dụng kết quả
- Mức độ hợp lý của việc tổ chức, quản lý của
- Hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế và khả
Ghi chú:
a) Cách chấm điểm đánh giá một số tiêu chí/chỉ số trong tiêu chí 2:
- Tình hình đăng ký sở hữu trí tuệ: (Chọn một cột thích hợp)
Tình hình
Loại
Chưa có (điểm)
Đã gửi đăng ký (điểm/1 công trình)
Đã được chứng nhận (điểm/1 công trình) Sáng chế 0 0,5 1 Giải pháp hữu
Đã gửi đăng ký (điểm/1 bài)
Đã được công
bố (điểm/1 bài)
Tạp chí trong
- Tình hình trao đổi học thuật:
+ Hội thảo, hội nghị quốc tế: 0,2 điểm/1 báo cáo + Hội thảo, hội nghị trong nước: 0,1 điểm/1 báo cáo
- Tình hình đào tạo theo đề tài:
+ Học viên cao học: 0,1 điểm/1 học viên + Nghiên cứu sinh: 0,5 điểm/1 nghiên cứu sinh
- Trường hợp tống số điểm của các kết quả trên vượt quả điểm tối đa thì chỉ được tính bằng điểm tối đa
Trang 35b) Các tiêu chí còn lại: được tính điểm đánh giá theo “Quy tắc M/5”
Các biểu mẫu đánh giá kết thúc bao gồm: mẫu phiếu nhận xét đánh giá của các
chuyên gia đánh giá và phiếu tổng hợp kết quả đánh giá lần lượt được đưa ra ở phụ lục
7a và 7b Mẫu báo cáo kết quả nghiên cứu – kết thúc một chu trình đầu tư được đưa ra
ở phụ lục 7c
Như vậy, ở chương này, chúng tôi đã nêu đề xuất về phương pháp, quy trình và
các tiêu chí đánh giá đối với mỗi chu trình đầu tư nhằm nuôi dưỡng và phát triển các
nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam Khi xây dựng các tiêu chí, các chỉ số (tiêu chí
con) cho các tiêu chí đánh giá và cách thức đánh giá ở đây, ngoài việc tham khảo các
tiêu chí đánh giá đối với các nhóm nghiên cứu mạnh/các sáng kiến xuất sắc của nhiều
nước9-12,16-22, chúng tôi còn tham khảo khung chất lượng nghiên cứu (RQF) của một số
nước tiên tiến, ví dụ như là RQF của Úc23, 24 được rất nhiều nhà tạo lập chính sách
KH&CN nước ngoài trích dẫn Ngoài ra, việc nghiên cứu, kế thừa các văn bản về đánh
giá tuyển chọn, nghiệm thu các đề tài/dự án KH&CN trong nước đã giúp chúng tôi
đưa ra được quy tắc M/5 giúp hoàn thiện cách thức chấm điểm đánh giá Mặc dù vậy,
chúng tôi khẳng định rằng trên đây là các tiêu chí cùng với các chỉ số cơ bản để đánh
giá ứng với các trọng số/điểm tối đa có thể cần điều chỉnh cho thích hợp trong bối
cảnh KH&CN và thích hợp với mục tiêu, yêu cầu tại thời điểm áp dụng
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Đề tài "Nghiên cứu đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam" đã được thực hiện trong 21 tháng liên tục cho đến khi hoàn thiện, kể từ tháng 4 năm 2008 Dưới sự chủ trì của Ban Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ, chủ nhiệm đề tài cùng với nhóm cán bộ thực hiện nghiên cứu đã nỗ lực để đạt được những mục tiêu đã đề ra Cụ thể là
đã đề xuất được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam,
Kết quả đầu tiên của đề tài là những nhận định về thực trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam Kết quả này thu được nhờ việc khảo sát các nhóm nghiên cứu các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN trong trường
đại học và viện nghiên cứu đại diện ở cả Hà Nội, Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh Tuy việc khảo sát này đã đạt được kết quả khá tốt, đáp ứng được việc phục vụ cho các nội dung của đề tài, nhưng chúng tôi rất mong muốn có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về thực trạng nghiên cứu cũng như hoạt động của các nhóm nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV
và của các nhóm nghiên cứu trong khối doanh nghiệp phục vụ nhiều hơn cho công tác quản lý Đối với nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy việc nuôi dưỡng và phát triển
các nhóm nghiên cứu mạnh chỉ nên tập trung vào các viện nghiên cứu và trường đại học như nhiều nước khác đã thực hiện và có kết quả tốt
Để các nhận định về hiện trạng các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam trên đây được thuyết phục, chúng tôi đã thực hành đánh giá thử một
số nhóm nghiên cứu như là những trường hợp điển hình (case study) để làm bằng chứng thực tế Thực hiện nội dung này, đề tài có thêm một kết quả là đã đề xuất được phương pháp, quy trình và các tiêu chí đánh giá (hiện trạng) các nhóm nghiên cứu các lĩnh vực KHTN, KHXH&NV và KHKT-CN
Từ việc phân tích thực trạng và nhận định các vấn đề tồn tại liên quan đến hoạt động của các nhóm nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam ở trên, chúng tôi đã luận giải được sự cần thiết phải phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt
Trang 36Nam Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã đưa ra những kiến nghị về nội dung nên nuôi
dưỡng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh như thế nào, phương thức quản lý ra
sao cho hiệu quả và phù hợp với hoàn cảnh nước ta Trên cơ sở những nội dung kiến
nghị đó, chúng tôi đã đề xuất được phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá lựa
chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam Cụ thể là đánh giá các
nhiệm vụ (đánh giá tuyển chọn, đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc) nhằm nuôi
dưỡng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh Với kết quả này, chúng tôi đặc biệt lưu ý
rằng Quy tắc M/5 mà chúng tôi đề xuất rất thuận tiện cho việc chấm điểm đánh giá
đối với các tiêu chí Quy tắc M/5 có thể nói là điểm tháo gỡ một số vấn đề vướng
mắc trong việc đánh giá vì Quy tắc M/5 sử dụng cách thức đánh giá dựa trên trọng số
(điểm tối đa) kết hợp với thang điểm 5 để lượng hoá từng tiêu chí (điểm 1: kém ; điểm
2: yếu ; điểm 3: trung bình ; điểm 4: khá ; điểm 5: tốt) kết hợp với cách tính điểm theo
trọng số/điểm tối đa rất hợp lý Từ thực tế trong việc đánh giá thử một số nhóm nghiên
cứu trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi nhận thấy Quy tắc M/5 rất thuận tiện cho
việc xác định trọng số đối với các tiêu chí/chỉ số đánh giá và dễ dàng cho các chuyên
gia đánh giá khi đưa ra ý kiến đánh giá có căn cứ
Ngoài các kết quả chính trên đây, nhóm thực hiện đề tài còn tổng quan được kinh
nghiệm của một số nước trong việc xây dựng phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh
giá lựa chọn và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm xuất sắc thành
công Hơn nữa, ở nghiên cứu này, chúng tôi còn đề xuất được một số nội dung phục
vụ triển khai đề án "trọng dụng nhân tài KH&CN"
2 Kiến nghị
Nhóm thực hiện đề tài mong muốn các kết quả nghiên cứu trên đây sớm được
đưa vào ứng dụng, cụ thể là hình thành một chương trình nuôi dưỡng và phát triển các
nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam Đó chính là cái nôi để sớm nâng cao năng lực
KH&CN cho quốc gia và sớm đạt được sự gắn kết giới học viện và doanh nghiệp cho
mục đích tăng trưởng kinh tế trên nền tảng vững chắc là KH&CN Để chương trình đạt
được mục tiêu và kết quả tốt, cần áp dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí đã được
xây dựng trong phần kết quả của đề tài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS TSKH Trương Quang Học, “Nhóm nghiên cứu - yếu tố quyết định chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số
KH&CN, Bộ khoa học và Công nghệ
7 Dự thảo đề án “Trọng dụng nhân tài khoa học và công nghệ”, Vụ Tổ chức Cán bộ,
Trang 3710 "National Centres of Competence in Research NCCR", Programme Call 2003,
Swiss National Science Foundation, October 2003
11 Dannis Rank, “Final Report: Evaluation of the Network of Centers of Exellence in
Canada”, June 26, 2002
12 Networks of Centers of Excellence, “Letter of Intent Guide 2005 Competition for
New NCE Networks
13 Joseph S Fruton, “Constrasts in Scientific Style: Research Groups in the Chemical
and Biochemocal Researches”, Diana Pubishes, 1990
14 Valerie I Sessa, Manuel London, Taylor & Francis Group, Handbook: Work
Group Learning, 2008
15 Thomas L Greenbaun, “Moderating ficus groups: A practical guide for group
facilitation” Sage Publication, 2000, Pages 5-7
16 Reijo Vihko and et Al “National Strategy for Centres of Excellence in Research”,
Publication of The Academy of Finland, ISSN 0358-9153, Helsinki 2000
17 Action for “Centres of excellence” with a European dimension,
http://ec.europa.eu/research/era/pdf/centres.pdf
18 Dr John Mugabe of NEPAD, “Centres of Excellence in Science and Technology
for Africa’s Sustainable development” for the African Ministerial Conference on
Science and Technology for Development,
http://www.nepadst.org/doclibrary/pdfs/doc08_112003a.pdf
19 Criteria and Guidelines for Establishing African Networks of Centres of Excellence
in Science and Technology, New Partnship for Africa’s Development Secretariat,
Extraordinary Conference of the African Ministers of Council on Science and
Technology (AMCOST), 20 – 24 November 2006, Cairo, EGYPT
20 Các tài liệu khác từ internet: Development Plan for World Class Universities and
Research Centres of Excellence in Taiwan; Funds and Programs created by the
National Commission for Scientific and Technological Research of Chile; Korea
Science and Engineering Foundation; Japan Global Centres of Excellence
Program; China 211 Project and China 985 Project và Networks of Centres of Excellence in Canada; v.v…
21 European Commission, “Guidelines for Evaluators – participating in the evaluation
of proposals of the IST programme”, 8th IST call 16 November 2001, FP5
22 DFG – German Research Foundation, “General Information on Proposals for Clusters of Excellence and Sample Proposal for the Establishment of Clusters of Excellence – 2006; General Information on the Proposals Process for Graduate Schools and Sample Proposal for the Establishment of Graduate Schools – 2006; Sample Proposal for the Establishment of Collaborative Research Centres – 2008; Guidelines – Research Fellowships, Research Units, For the Use of Funds, … - 2007”
23 “Research Quality Framework - Australian code for the responsible conduct research”, REVISION OF THE JOINT HMRC/AVCC STATEMENT AND GUIDELINES
ON RESEARCH PRA, Australian Research Council, Australian Government 2007, ISBN
print 1864964324 or ISBN online 1864964383
24 “Research Quality Framework - Assessing the quality and impact of research”, RQF Submission Specifications, Department of Education, Science and Training, Australian Government, Commonwealth of Australia 2007, ISBN 0642776784 (Electronic version)
Trang 38PHỤ LỤC
A Các phụ lục liên quan đến việc khảo sát hiện trạng các nhóm nghiên cứu và
đánh giá thử một số nhóm
Phụ lục 1a Danh sách các nhóm nghiên cứu được khảo sát
1 Thiết kế hệ thống nhúng TS Văn Ngọc An Khoa Công nghệ thông
tin, Đại học Bách Khoa
Hà Nội
2 Công nghệ xử lý dữ liệu và tri
thức
PGS TS Nguyễn Thanh Thủy
Khoa Công nghệ thông tin, Đại học Bách Khoa
Hà Nội
3 Nhóm nghiên cứu công nghệ
vât liệu thủy tinh và gốm thủy
tinh
PGS.TSKH Nguyễn Anh Dũng
Khoa Công nghệ Hoá Học, ĐH Bách Khoa
5 Vật liệu xúc tác nano, vật liệu
mao quản và ứng dụng xử lý ô
nhiễm môi trường
TS Nguyễn Kim Ngà Khoa Công nghệ Hóa
học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
6 Green-Tech Lab - Phòng thí
nghiệm Công nghệ Vật liệu
Xanh
TS Phan Trung Nghĩa
Khoa Công nghệ Hóa học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
7 Công nghệ Mạ điện và Xử lý
bề mặt
TS Mai Thanh Tùng Khoa Công nghệ Hóa
học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
8 Công nghệ Pin và Ắc quy TS Mai Thanh Tùng Khoa Công nghệ Hóa
học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
9 Nghiên cứu xử lý môi trường
các ngành dệt, nhuộm, in
TS Đỗ Khánh Vân Khoa Công nghệ Hóa
học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
10 Chuyển hóa nguyên liệu rắn( sinh khối, phế thải nông nghiệp, than, phần nặng của dầu mỏ ) thành nhiên liệu và các sản phẩm hữu dụng
TS Văn Đình Sơn Thọ
Khoa Công nghệ Hóa học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
11 Công nghệ hóa học nguyên liệu thực vật
PGS.TS Doãn Thái Hòa
Khoa Công nghệ Hóa học, Đại học Bách Khoa Hà Nội
12 Nhóm nghiên cứu Multimedia
và mạng
TS Nguyễn Chấn Hùng
Khoa Điện tử Viễn thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội
13 Nhóm nghiên cứu và phát triển kỹ thuật anten và siêu cao tần
TS Đào Ngọc Chiến Khoa Điện tử Viễn
thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội
16 Hệ thống nhúng và điện tử ứng dụng
TS Phạm Ngọc Nam Khoa Điện tử Viễn
thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội
17 Phát triển ứng dụng dựa trên
xử lý tín hiệu và thông tin
TS Nguyễn Tiến Dũng
Khoa Điện tử Viễn thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội
18 Nhóm nghiên cứu điện tử ứng dụng
TS Nguyễn Hữu Trung
Khoa Điện tử Viễn thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội
19 Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy đo 3 tọa độ và máy đo sai lệch độ tròn
TS Vũ Toàn Thắng Khoa Cơ khí, Đại học
Bách Khoa Hà Nội
20 Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ hàn tiên tiến
ThS Vũ Đình Toại Khoa Cơ khí, Đại học
Bách Khoa Hà Nội
21 Công nghệ CAD/CAM-CNC
và tạo mẫu nhanh TS Nguyễn Huy Ninh Khoa Cơ khí, Đại học Bách Khoa Hà Nội
22 Cơ học biến dạng và tạo hình vật liệu
TS Đinh Văn Hải Khoa Cơ khí, Đại học
Bách Khoa Hà Nội
Trang 3923 Nâng cao chất lượng các hệ
truyền động điện và điều
26 Nhóm nghiên cứu kỹ thuật và
sản phẩm may tiên tiến
TS Ngô Chí Trung Khoa Công nghệ Dệt
may và Thời trang, Đại học Bách Khoa Hà Nội
27 Các vấn đề hiện đại của Giải
tích Toán học và Ứng dụng
của nó vào Công nghệ
GS.TSKH Lê Hùng Sơn
Khoa Toán tin ứng dụng, Đại học Bách Khoa Hà Nội
Viện Công nghệ Sinh học và Công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội
29 Phòng thí nghiệm kiểm tra
không phá hủy vật liệu (NDT)
TS Vương Bình Dương
Viện Vật lý kỹ thuật, Đại học Bách Khoa Hà Nội
30 Vật liệu quang và polyme bán
dẫn PGS TS Dương Ngọc Huyền Viện Vật lý kỹ thuật, Đại học Bách Khoa Hà
Nội
31 Vật lý spin & Công nghệ Vật
liệu và Linh kiện Spintronics
TS Nguyễn Anh Tuấn
Viện ITIMS, Đại học Bách Khoa Hà Nội
32 Công nghệ bề mặt PGS.TS Nguyễn Văn
Tư
Khoa Khoa học và Công nghệ vật liệu, Đại học Bách Khoa Hà Nội
33 Vật liệu điện tử và ứng dụng TS Nguyễn Văn
35 PTN Phân tích và đô lường
vật lý
TS Nguyễn Ngọc Trung
Viện Vật lý kỹ thuật, Đại học Bách Khoa Hà Nội
36 Nhóm nghiên cứu khai phá dữ liệu và công nghệ tri thức
PGS.TS Hà Quang Thụy
PTN Công nghệ Tri thức và An toàn Dữ liệu, ĐH Công nghệ, ĐHQG Hà Nội
37 Vật liệu và linh kiện nano đa chức năng cho kỹ thuật điện tử-spin
micro-GS.TSKH Nguyễn Hữu Đức
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia
Hà Nội
38 Vật liệu và linh kiện lai cấu trúc nanô
GS.TS Nguyễn Năng Định
Khoa Vật lý kỹ thuật
và công nghệ Nanô, Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG HN
39 Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ Tự động hoá -
Cơ điện tử
TS Phạm Mạnh Thắng Khoa Vật lý kỹ thuật và công nghệ Nanô,
Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG HN
40 Công nghệ sản xuất kháng sinh và nghiên cứu các vi sinh vật có hoạt tính sinh học
PGS TS Lê Gia Hy Viện Công nghệ sinh
học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
41 Nghiên cứu các vi sinh vật quang dưỡng ở Việt Nam để ứng dụng vào nông nghiệp, thuỷ sản, công nghệ, môi trường và sản xuất năng lượng sinh học
PGS TSKH Trần Văn Nhị Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam
42 Công nghệ sinh học Tảo TS Đặng Diễm Hồng Viện Công nghệ sinh
học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
43 Kỹ thuật di truyền: sử dụng kỹ thuật di truyền để nghiên cứu sản xuất các peptide, protein ứng dụng trong y, dược và nông nghiệp
PGS TS Trương Nam Hải
Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
44 Nhóm nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu polyme ưa nước
PGS TS Nguyễn Văn Khôi
Viện Hoá học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
45 Tập thể Khoa học Tổng hợp hữu cơ
GS TSKH Trần Văn Sung
Viện Hoá học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
46 Tập thể Hoá học vô cơ - Vật liệu vô cơ tiên tiến
TS Đào Quốc Hương Viện Hoá học, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 4047 Hoá dược TS Nguyễn Văn
Tuyến
Viện Hoá Học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
48 Nhóm Hoá học Cây thuốc TS Nguyễn Mạnh
Cường
Viện Hoá học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
49 Hoá-công nghệ sinh học vi
sinh steroid và alkaloid dược
phẩm
PGS TS Lưu Đức Huy
PhòngHóa học Steroid
& Alkaloid Viện Hóa học
50 Các phương pháp toán học
trong Công nghệ Thông tin
PGS TS Đặng Quang Á
Viện Công nghệ Thông tin, Viện KH&CN Việt nam
51 Nghiên cứu và ứng dụng công
nghệ cao trong sinh thái và tài
nguyên sinh vật
PGS TS Lê Xuân Cảnh
Phòng Sinh thái Viễn thái, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
52 Nghiên cứu phân loại học và
hệ thống học côn trùng PGS TS Tạ Huy Thịnh Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
53 Sinh thái môi trường đất và đa
dạng động vật đất
ThS Nguyễn Đức Anh
Sinh thái môi trường đất, F23, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
54 Thực nghiệm, nhân nuôi và sử
dụng tài nguyên côn trùng
TS Trương Xuân Lam
Phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
55 Nghiên cứu sự đa dạng, tính
đặc hữu và giá trị bảo tồn của
các loài ong cánh màng ở Việt
Nam
PGS TS Khuất Đăng Long Sinh thái - Côn trùng, Viện Sinh thái & Tài
nguyên sinh vật
56 Nghiên cứu cấu trúc các hạt
nhân lạ và phản ứng hạt nhân
gây bởi chùm phóng xạ trên
máy gia tốc của RIKEN và
Thế giới
PGS TS Lê Hồng Khiêm Viện Vật lý, Viện KH&CN Việt Nam
57 Nghiên cứu cơ chế phản ứng
hạt nhân và số liệu hạt nhân
trên máy gia tốc electron có
giải năng lượng rộng,
MeV-GeV
GS TS Nguyễn Văn
Đỗ
Viện Vật lý, Viện KH&CN Việt Nam
58 Nghiên cứu cấu trúc và phản ứng hạt nhân gây bởi các loại hạt khác nhau trên máy gia tốc
GS TS Trần Đức Thiệp
Viện Vật lý, Viện KH&CN Việt Nam
59 Cơ bản của cơ bản (Lý thuyết lượng tử)
PGS TS Nguyễn Vinh Quang
Viện Vật lý, Viện KH&CN Việt Nam
60 Vật lý polymer sinh học TS Trịnh Xuân
Hoàng Viện Vật lý, Viện KH&CN Việt Nam
61 Trung tâm Ứng dụng CNTT
và Truyền thông (DATIC)
TS.Võ Trung Hùng Khoa công nghệ thông
TS.Trần Đình Khôi Quốc Khoa Kỹ sư chất lượng cao, Trường Đại học
Bách Khoa - ĐHĐN
63 MeCal-Trung tâm ứng dụng tính toán trong cơ học
GSTS.Nguyễn Thế Hùng
Khoa xây dựng thủy lợi
- thủy điện, Trường Đại học Bách Khoa - ĐHĐN
64 Trung tâm tính toán mô phỏng vật liệu cỡ nano, hóa học và sinh học
Tên tiếng Anh: Center for Computational Nanoscale Materials, Chemistry anh Biochemistry (CCNMCB))
TS.Phạm Cẩm Nam Trường Đại học Bách
Khoa, ĐH ĐN
65 Nhóm tin học ứng dụng trong xây dựng và giảng dạy
Th.S Nguyễn Tiến Dũng
Khoa Kỹ thuật xây dựng - Trường Cao đẳng Công nghệ
66 Nhóm Dana HFB- CDCN ThS.Huỳnh Minh
Sơn
Khoa Kỹ thuật xây dựng, Trường Cao đẳng Công nghệ - ĐHĐN
67 Nhóm lý thuyết phân tích kết cấu công trình cầu , công nghệ xây dựng công trình cầu
ThS.Bạch Quốc Sĩ Khoa kỹ thuật xây
dựng, Trường Cao đẳng Công nghệ - ĐHĐN