Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.Lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- --- NGUYỄN THỊ THU TRANG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
CỦA CÂY DẺ GAI ẤN ĐỘ (CASTANOPSIS INDICA A.D.C)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - VĨNH PHÚC
CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGÔ QUANG ĐÊ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 10 năm 2009
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 2Lời nói đầu
Trong nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững của các
Vườn Quốc gia, việc bảo tồn các thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị đe doạ giữ
một vị trí quan trọng đặc biệt không chỉ về mặt khoa học mà còn liên quan toàn
diện, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của các Vườn quốc gia
Để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật Vườn quốc gia Tam Đảo có
hiệu quả, nhất là nguồn gen quý hiếm và có nguy cơ đe doạ, tôi chọn đề tài luận
văn thạc sĩ “ Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Dẻ gai Ấn
Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS TS Ngô Quang Đê
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, cùng với sự giúp đỡ của PGS TS Đặng
Kim Vui và các thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, TS Hà Huy Thịnh Viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam và cán bộ
công nhân viên Vườn Quốc gia Tam Đảo Nhân dịp này tôi chân thành cảm ơn
GS TS Ngô Quang Đê, PGS TS Đặng Kim Vui, GS TS Lê Đình Khả, TS hà
Huy Thịnh, khoa sau đại học trường Đại học Nông Lâm, Ban giám đốc và các
đồng nghiệp Vườn Quốc gia Tam Đảo Cảm ơn bạn bè và người thân đã động
viên giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Do năng lực, thời gian và điều kiện phương tiện nghiên cứu còn thiếu nên
kết quả đạt được của đề tài không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và những người
quan tâm về vấn đề này
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thu Trang
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
Chương 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
2.2 Ở Việt Nam……… 8
Chương 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu……… 15
2.1.1 Về mặt lý luận……… 15
2.1.2 Về mặt thực tiễn……… 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu……… 15
2.3 Nội dung nghiên cứu……… 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Quan điểm về phương pháp luận……… 16
2.4.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu 17
2.4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 18
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.1 Vị trí địa lý, đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố 30
3.1.2 Khí hậu, thủy văn 31
3.1.3 Đặc điểm về tài nguyên thực vật rừng 32
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 34
3.2.1 Dân cư và lao động……… 34
3.2.2 Đời sống kinh tế 36
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất……… 36
3.2.4 Hiện trạng sản xuất lâm nghiệp……… 37
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Dẻ gai Ấn Độ……… 38
4.1.1 Đặc điểm hình thái cây……… 38
4.1.2 Đặc điểm vật hậu……… 39
4.2 Đặc điểm sinh thái nơi loài Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố……… 41
4.2.1 Đặc điểm khí hậu nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố……… 41
4.2.2 Đặc điểm đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố……… 42
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng ảnh hưởng đến tái sinh 43
4.3.1 Một số đặc điểm cấu trúc của rừng có Dẻ gai Ấn Độ phân bố……… 43
4.3.2 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao 44
4.3.3 Cấu trúc tầng thứ 49
4.3.4 Cấu trúc mật độ tầng cây cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ 51
4.3.5 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn Độ 52
4.3.6 Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính của lâm phần 55
4.3.7 Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao 59
4.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ ở 2 khu vực 60
4.4.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 60
4.4.2 Mật độ cây tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ 64
4.4.3 Số lượng cây tái sinh 65
4.4.4 Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi với tái sinh tự nhiên 69
4.4.5 Phân bố tần suất cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ 72
4.4.6 Chất lượng cây tái sinh của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ 73
4.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai Ấn Độ ở các trạng thái rừng IIIA2 và IIIA3 74
4.5.1 Điều kiện gây trồng cây Dẻ gai Ấn Độ 74
4.5.2 Một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai Ấn Độ 75
Chương 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ TỒN TẠI 76
5.1 Kết luận 76
5.2 Tồn tại 77
5.3 Kiến nghị……… 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ BIỂU……
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.Lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC BẢNG Trang Chương III: Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu Bảng 3.1 Các nhóm giá trị sử dụng 33 Bảng 3.2 Cơ cấu các loại đất vùng đệm VQG Tam Đảo 36
Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bảng 4.7 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn độ trạng thái IIIA2 53 Bảng 4.8 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn độ trạng thái IIIA3 54 Bảng 4.9 Phân bố số cây theo đường kính của lâm phần ở 2 khu vực nghiên cứu 56
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của độ tàn che đến mật độ và tỷ lệ cây tái sinh 60 Bảng 4.13 Tổ thành cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ trạng thái rừng IIIA2 61 Bảng 4.14 Tổ thành cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ trạng thái rừng IIIA3 63 Bảng 4.15 Mật độ cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ ở cả hai trạng thái rừng 65 Bảng 4.16 Số lượng cây tái sinh của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ phân
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến TSTN theo các trạng thái rừng 70
Bảng 4.21 Phân bố tần suất xuất hiện Dẻ gai Ấn Độ tái sinh xung quanh
Trang 4DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ ẢNH Trang
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bộ NN&PTNT
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN
(Về việc thực tập cuối khoá) Kính gửi: Ban giám đốc Đại học Thái Nguyên
Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm
Khoa đào tạo sau đại học
Vườn Quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc xác nhận học viên Nguyễn Thị
Thu Trang, lớp CH14 Lâm học, Trường Đại học Nông Lâm đã hoàn thành đợt
thực tập cuối khóa tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, thời gian thực tập từ ngày
1/1/2008 đến ngày 01/1/2009
Trong thời gian thực tập, học viên Nguyễn Thị Thu Trang đã:
- Chấp hành tốt nội quy, quy chế làm việc của cơ quan có tính kỷ luật cao
- Quan hệ tốt với cán bộ và nhân dân tại địa điểm nghiên cứu
- Thực hiện quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp nghiêm túc
- Hoàn thành đúng tiến độ đề ra của đợt thực tập
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái
Nó bảo đảm cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được qui luật tái sinh, chúng sẽ điều khiển qui luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng
Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất lượng Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43% Đến năm 1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che phủ tương ứng là 33,2% Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện pháp và nhiệm vụ quan trọng
Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập theo quyết định 194/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) với tổng diện tích là 36.883 ha Tam Đảo là phần cuối của dãy núi cánh cung thượng nguồn sông Chảy Tam Đảo như bức bình phong chắn gió mùa đông bắc cho vùng đồng bằng, gồm trên 20 mươi đỉnh núi với độ cao trên 1000m Cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1592m), vùng trung tâm có 3 đỉnh: Thiên Thị (1375m), Thạch Bàn (1388m) và Phù Nghĩa (1300m), sườn núi dốc, địa hình chia cắt mạnh Sự phức tạp của địa hình, hướng phơi, độ cao, khí tượng thủy văn, mức độ tác động của con người khác nhau…cùng với đặc tính sinh vật học của từng loài cây đã tạo cho Tam Đảo có
Trang 6một hệ thực vật hết sức phong phú và đa dạng Theo số liệu thống kê cho thấy
đã phát hiện ở đây 1288 loài thực vật bậc cao thuôc 179 họ, 660 chi nằm trong 3
ngành Dương Xỉ, Hạt trần và Hạt kín trong đó có nhiều loài được thu thập mẫu
và lần đầu tiên được mô tả ở Tam Đảo, 38 loài mang nguồn gien quý hiếm nguy
cấp cần ưu tiên bảo tồn [6] Điều này đã nói lên tính đa dạng về số loài, số chi,
số họ và tầm quan trọng của hệ thực vật Tam Đảo
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài,
tính đa dạng thực vật tại Tam Đảo diễn ra tương đối mạnh mẽ Tuy nhiên, các
công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc
điểm tái sinh, thành phần loài, sự phân bố và giá trị của từng họ từng loài
Dẻ Gai Ấn Độ (Castanopsis indica A.D.C) thuộc Họ Dẻ (Fagaceae) là
một họ lớn gồm rất nhiều loài Ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài, hầu hết là
cây thân gỗ Họ Dẻ nói chung và loài Dẻ Gai Ấn Độ nói riêng không những có
vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng mà còn có ý nghĩa quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân Sự có mặt của loài Dẻ Gai Ấn Độ góp phần làm phong
phú đa dạng về thành phần loài, giúp cho các quá trình chuyển hóa vật chất và
năng lượng trong hệ sinh thái rừng được ổn định, phát huy tốt chức năng bảo vệ
môi trường Đối với nền kinh tế quốc dân, loài cây này có khả năng cung cấp gỗ
cho xây dựng nhà cửa, đóng đồ đạc [3] …
Ở Vườn Quốc gia Tam Đảo loài Dẻ Gai Ấn Độ được phân bố hầu như
khắp các trạng thái rừng, các đai khí hậu, nên khả năng tái sinh tương đối tốt Đó
là lý do tại sao tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên
của cây Dẻ Gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
- Vĩnh Phúc”
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Các chuyên gia sinh thái học đã khảng định rừng là một sinh thái hoàn chỉnh nhất Thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi Rừng cây và con người hệ mật thiết với nhau Chính lẽ đó, cây rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ thủa xa xưa Một trong khía cạnh con người nghiên cứu để phục hồi lại rừng là tái sinh rừng Nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hang trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới, vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây
Đầu thế kỷ 19 khi công nghiệp phát triển mạnh, nhu cầu gỗ đòi hòi quá lớn, con người phải tập trung khai thác rừng tự nhiên và tiến hành tái sinh nhân tạo Nhưng từ những thất bại tái sinh rừng nhân tạo ở Đức nhiều nhà khoa học
ủng hộ và đồng nhất quan điểm “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên”
Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, Van steenis.J (1956)[59]
đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng Ngoài ra theo nhận xét của A Obrevin (1938) khi nghiên cứu các khu rừng nhiệt đới ở Châu Phi, còn đưa ra lý luận bức khảm hay lý luận tái sinh tuần hoàn
Đặc điểm tái sinh rừng được nhiều nhà lâm sinh quan tâm đến là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống hay khác biệt với lớp cây mẹ, Richards,P,W (1965)[57]
Ở rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn, nên kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả mong muốn Trong thực tiễn lâm sinh, người ta chỉ khảo sát những loài cây có giá trị kinh tế
và đáp ứng nhu cầu thị trường
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập những nguyên nhân ảnh hưởng tới tái sinh tự nhiên và có thể chia thành hai nhóm tác động chính:
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
a Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có sự
can thiệp con người
Nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu là sự thiếu hụt
ánh sáng của cây con dưới tán rừng Nếu ở trong rừng, cây con chết vì thiếu
nước thì cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng Trong rừng mưa nhiệt đới,
sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển cây con, còn đối với sự
nảy mầm và phát triển mầm non thường không rõ (Baur G, N 1962)[2]
Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên (TSTN) của rừng, các tác giả nhận định
tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh các loài cây gỗ Ở quần thụ
kín tán, tuy thảm cỏ phát triểm kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng
của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần đã qua khai thác,
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ trở ngại lớn cho tái sinh rừng Ngoài
ra Ghent, A.W (1969)[60] còn nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt, tầng đất
mặt quan hệ với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ Hiển nhiên, trong những
trường hợp cụ thể ảnh hưởng của động vật và lửa rừng có thể gây những tác hại
đến TSTN ở mức độ khác nhau
Cấu trúc của quần thụ ảnh hưởng tới tái sinh đã được Andel S (1981)[58]
chứng minh độ dầy tối ưu cho sự phát triển bình thường cây gỗ là 0,6-0,7m Độ
khép tán của quần thụ có quan hệ với mật độ và sức sống của cây con Trong sự
cạnh tranh giữa thực vật về dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, ẩm độ tùy thuộc vào
đặc tính sinh vật học, tuổi của mỗi loài và điều kiện sinh thái của quần thể thực
vật
Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần
thụ V.G Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về
dinh dưỡng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất thuần nhất của quan hệ qua lại
giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của
quần thể thực vật Năm 1973 I.N.Nakhteenko cho rằng sự trùng hợp cao của sự
hấp thụ dinh dưỡng giữa 2 loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trưởng và
làm tăng áp lực cạnh tranh giữa 2 loài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Trong đa số các nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, người ta đều nhận thấy rằng cỏ và cây bụi, qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, thảm cỏ phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ non không đáng kể Ngược lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng Bannikov, 1967; Vipper 1973
Cây rừng ra hoa mang tính định kỳ rõ rệt, cây rừng ra hoa quả nhiều hay ít
bị ảnh hưởng sâu sắc của thời tiết Nhiều nhà lâm học cho rằng biến động mùa hoa quả cây rừng cần nghiên cứu theo các vùng địa lý khác nhau và các khía cạnh cấu trúc, độ dày, độ khép tán, tuổi lâm phần
b Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con người:
Đó là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tác động có mục đích vào các lâm phần rừng tự nhiên Từ các xử lý lâm sinh tác động vào các loài cây tái sinh mục đích, các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh điển hình như: Công trình của Kennedy (1935), Taylor (1954), Rosevear (1974) ở Nigiêria và Gana (1960) ở Xurinam với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán lá, Brooks (1941), Ayolife (1952) với phương thức chặt dần nhiệt đới ở Trinidat, Wayatt Smith (1961, 1963)[62] với phương thức chặt rừng đều tuổi ở Malaysia, Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Zava
Catinot (1974) một chuyên gia hàng đầu về lâm sinh nhiệt đới với nhiều thập kỷ kinh nghiệm ở rừng nhiệt đới Châu Phi, khi áp dụng các biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên, ông rất quan tâm đến lớp cây tái sinh phía dưới tán rừng Ông cho rằng các nhà lâm sinh nhiệt đới sẽ không hoàn thành trách nhiệm của mình nếu họ chỉ thay thế rừng tự nhiên bằng các khu rừng trồng Thông và Bạch Đàn, ông cũng cho rằng bắt buộc phải làm, tuyệt đối cần thiết là tìm ra phương
Trang 8pháp cho phép sử dụng các hệ sinh thái nguyên sinh vốn có của nhiệt đới một
cách có hiệu quả mà không phá vỡ nó
Theo quan điểm như vậy, Rovet (1984) đã đưa ra những yêu cầu tối thiếu,
bắt buộc các giấy phép khai thác rừng phải thể hiện được cụ thể là: muộn nhất là
2 năm trước khai thác phải tiến hành điều tra kết hợp với chặt bỏ dây leo cây
bụi; chỉ được khai thác những lâm phần có ít nhất 10 - 15 cây thuộc loại giá trị
kinh tế có D1.3 ≥ 60cm và phải có tái sinh đạt yêu cầu; phải để lại ít nhất 5 - 7
cây mẹ gieo trồng có kích thước lớn, phân bố đều trên diện tích; trong trường
hợp cần thiết các lỗ trống hình thành do khai thác phải được mở rộng thêm để
thúc đẩy xúc tiến tái sinh tự nhiên Quá trình sinh trưởng, phát triển cây tái sinh,
trên các lỗ trống phải được kiểm soát và cần thiết phải chăm sóc ít nhất 10 năm
sau khai thác
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên cũng đã có rất nhiều công
trình đề cập đến, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P W
(1965)[57], tác giả cuốn rừng mưa nhiệt đới, Bernard Roller (1974) tổng kết các
công trình nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các
ô tiêu chuẩn kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng
phân bố cụm, một số ít có phân bố poisson Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu
thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong
rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược
lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên nhiệt đới Châu Á như: Bava
(1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới
nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp
lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng
Về phương pháp điều tra tái sinh nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô
vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạng bản
thông thường từ 1 - 4m2 Bên cạnh đó cũng có nhiều tác giả đề nghị sử dụng
phương pháp điều tra theo dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến động từ 10
- 100m2 Phương pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác định được quy luật
phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên mặt đất rừng Để giảm sai số trong khi thống kê Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chẩn đoán”, theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Phương pháp này được áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng rừng cụ thể
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới M Loeschau (1977)[43] đã đưa ra một số đề nghị như: để đánh giá một khu bằng cách rút mẫu ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn Các số liệu này sẽ là cơ sở cho các quyết định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể, đặc biệt
là xét lâm phần có xứng đáng được chăm sóc hay không? việc chăm sóc cấp bách đến mức độ nào? cường độ chăm sóc phải ra sao? Tác giả cũng đề nghị những chỉ tiêu cần phải điều tra gồm có mật độ, chất lượng cây tái sinh cũng như đường kính ngang ngực của những cây có giá trị kinh tế lớn trong khoảng từ
1 cm (cây tái sinh đã đảm bảo) đến 12,6 cm (giới hạn dưới của kích thước sản phẩm)
Từ những tính toán về mặt sai số cũng như về mặt tổ chức thực hiện thì các ô được chọn là những hình vuông có diện tích là 25 m2
dễ dàng xác lập bằng gậy tre Tất cả những cây tái sinh của những loài có giá trị kinh tế (đường kính gốc = 1 ÷ 2,5 cm) có nguồn gốc hạt và thân thẳng đẹp sẽ được đếm và đo hay ước lượng đường kính theo hai cấp 1 - 5cm và 5 - 12,5cm Các ô đo đếm được xác lập theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô, bố trí liên tiếp theo kiểu phân bố hệ thống không đồng đều Như vậy các ô vừa đại diện được đầy đủ toàn bộ khu vực điều tra, mặt khác những nhân tố điều tra vừa có dạng gần với phân bố chuẩn Nhìn chung những kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên đã làm sáng
tỏ phần nào các đặc điểm tái sinh, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh và những nguyên lý chung để xây dựng phương thức xúc tiến tái sinh rừng Tuy nhiên những nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới nói chung vẫn chưa thật đầy đủ hệ thống cho từng loại rừng cụ thể
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những
năm 1960 Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm
thực vật rừng Việt Nam”, Ông đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinh thái
khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và
thứ sinh §ång thêi theo ông, có một nhóm nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu
đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng,
đó là nhân tố ánh sáng Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng,
nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh
không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong
không gian và thời gian như A.Ôbrêvin đã nhận định và diễn thế theo phương
thức tái sinh không có quy luật “nhân quả” giữa sinh vật và hoàn cảnh Vì lẽ
trên P.W Risa đã nói rất có lý: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng dụng rộng rãi
được đến mức độ nào, vấn đề này hiện nay phải tạm gác lại chưa giải quyết
được”
Từ năm 1962 - 1969, Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã có điều tra tình
hình tái sinh tự nhiên cho các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam
như: Yên Bái (1965), Quỳ Châu sông Hiếu Nghệ An (1962 - 1964), Quảng Bình
(1969), Lạng Sơn (1969)
Nguyễn Hữu Hiến (1970)[20] đã đưa ra phương pháp đánh giá tố thành
rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình thì nhiều, trên
diện tích một ha có khi có tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết
được Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong
các tầng quan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế) tác giả đã
đưa ra công thức tính tổ thành là X ≥ N/a với X là trị số bình quân cá thể của
một loài, N là số cây điều tra và a là số loài điều tra Một loài được gọi là thành
phần chính của một loại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn X Đây
là một cách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài,
diễn thế và sự phân bố các quần lạc thực vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Vũ Đình Huề (1975)[29] kết luận: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đều trên mặt đất rừng Từ những kết quả trên tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta Phùng Ngọc Lan (1984)[36] đã nghiên cứu về bảo đảm tái sinh trong khai thác rừng, tác giả cho biết do cây mẹ có tính chịu bóng, cho nên một số lượng lớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số loài cây ưa sáng cực đoan, tổ thành loài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại giống tổ thành tầng cây cao của quần thể Kết quả điều tra khu rừng chưa khai thác ở Tam Tấu, Lâm trường Bắc Sơn - Lạng Sơn cho thấy có gần 30 loài tái sinh với
số lượng từ 14.000 - 16.000 cây/ha Điều đó chứng tỏ tiềm năng phong phú của tái sinh rừng ở nước ta, tác giả cũng đã nhận xét phương thức khai thác có ảnh hưởng quyết định đến tái sinh rừng và thực tiễn đã cho thấy: Thông qua việc xác định tổ thành loài cây giữ lại gieo giống, điều tiết độ khép tán hợp lý không chỉ
có tác dụng điều khiển số lượng, chất lượng tái sinh mà còn điều khiển được tổ thành loài cây tái sinh phù hợp với ý muốn và tác giả cũng đã đưa ra đề nghị Nếu số lượng và chất lượng cây mục đích tái sinh hiện có không đủ thì cần tiến hành trồng dặm để đảm bảo trữ lượng cho các luân kỳ khai thác tiếp theo và phương án tối ưu là lựa chọn những loài cây mục đích phù hợp với loài cây ưu thế của quần thể vì nguồn giống có nhiều và đã thích hợp với hoàn cảnh sinh thái
Nguyễn Hồng Quân (1984)[45] đã nghiên cứu kết hợp chặt chẽ khai thác với tái sinh và nuôi dưỡng rừng, đối với rừng không đồng tuổi cần thực hiện cả
4 nội dung chủ yếu là: Thu hoạch cây thành thục, chặt tái sinh, chặt nuôi dưỡng
và chuẩn hóa cấu trúc rừng về trạng thái mong muốn Đối chiếu 4 nội dung nói trên vào thực tế kinh doanh rừng ở nước ta thì cách khai thác của ta chỉ đạt được một nội dung duy nhất là thu hoạch sản phẩm còn 3 nội dung kia hầu như bị bỏ rơi nên đã thể hiện rất nhiều nhược điểm như chủng loại cây phi mục đích
Trang 10ngày càng tăng, kích thước cây tái sinh ngày càng giảm và từ đó tác giả cũng đã
đưa ra những biện pháp trước mắt khắc phục tình trạng trên để khai thác vẫn bảo
đảm được tái sinh và nuôi dưỡng rừng
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh
(1991)[24] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý
nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng Tác giả đã sử dụng
phương pháp chặt hết cây gỗ D1.3 ≥ 8cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm phần
sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên sau khai thác kiệt và một ô thuộc trạng thái
rừng IIIA3 Kết quả nghiên cứu tác giả cho biết: Với đối tượng rừng Sau sau
phục hồi phân bố số cây theo đường kính và theo tuổi đều là dạng phân bố giảm
Điều đó, chứng tỏ mặc dù là loài cây ưa sáng mạnh, loài Sau sau vẫn có đặc
điểm tái sinh liên tục qua nhiều thế hệ, càng về sau tốc độ tái sinh càng mạnh
Đối với rừng tự nhiên thứ sinh hỗn giao thì phân bố số cây theo tuổi của cây cao
và cây tái sinh đều có dạng phân bố giảm và nhìn chung toàn lâm phần tự nhiên
cây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổi nhỏ số cây càng tăng Tác giả còn cho
biết hệ số tổ thành tính theo phần trăm của tầng cây cao và tầng cây tái sinh có
sự liên hệ chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì
hệ số tổ thành tầng cây tái sinh cũng vậy và chúng có quan hệ đường thẳng theo
phương trình: n% = a + b.N% (với n% và N% lần lượt là hệ số tổ thành tính theo
phần trăm số cây của tầng tái sinh, tầng cây tự nhiên và tác giả có đưa ra đề
nghị: Do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh nên có thể sử dụng quan hệ giữa
hệ số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái
sinh
Nguyễn Duy Chuyên (1995)[10] đã nghiên cứu quy luật phân bố cây tái
sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu - Nghệ An: Kết
quả nghiên cứu về phân bố cây tái sinh theo chiều cao, nguồn gốc và chất lượng,
tác giả cho biết trong tổng số 13.657 ô đo đếm có 8.444 ô có ít nhất một cây tái
sinh Thống kê tập hợp số lượng cây này theo chiều cao, nguồn gốc và chất
lượng tác giả cho thấy 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2m trở lên, 80% cây tái
sinh có nguồn gốc hạt, 20% cây chồi, 47% cây tái sinh chất lượng tốt, 37%
cây tái sinh có chất lượng trung bình và 16% cây chất lượng xấu Phân bố tổ thành cây tái sinh tác giả cho thấy cây tái sinh tự nhiên trong khu vực gồm 46 loài thuộc 22 họ Trong đó có 24 loài cây có giá trị kinh tế và 22 loài cây có giá trị kinh tế thấp, Ràng ràng và Máu chó là 2 loài có tần số xuất hiện thực tế lớn nhất trên 20% Về phân bố số lượng cây tái sinh tác giả cho thấy ở rừng giàu, có chất lượng tốt (rừng loại IV và IIIB) có số cây tái sinh lớn nhất (3.200 - 4.000 cây/ha) Ở rừng nghèo số cây tái sinh chỉ có 1.500 cây/ha (rừng IIIA1), trong rừng thuần tre nứa số cây lá rộng tái sinh tự nhiên thấp nhất 527 cây/ha Trong toàn lâm phần phân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm
Nguyễn Văn Trương (1993)[55] đã đề cập đến cơ sở sinh thái rừng trong tái sinh rừng, tác giả cho rằng muốn phát huy tái sinh tự nhiên và nhân tạo thì phải hiểu biết hoàn cảnh sinh thái của các loài cây mục đích mà chúng ta cần tái sinh Khi khai thác cây đủ kích thước cho phép đã gây nên một sự thay đổi đột ngột nguy hại cho cây tái sinh, chỗ trống mở ra làm cho đất nóng và khô, không cho phép hạt nảy mầm, những hạt nảy mầm thì bị nắng đốt; đất khô mà chết rụi hết, ngược lại chỗ có ít cây lớn thì lại quá rậm rạp, cây thảm tươi, dây leo, cây bụi chằng chịt, hạt nảy mầm được thì cây con lại không có khoảng sống Tác giả cho rằng ta vẫn đánh giá đúng ý nghĩa kinh tế và sinh thái của tái sinh tự nhiên nhưng trong hành động thực tiễn thì chính chúng ta lại vi phạm quy luật sinh thái chi phối chặt chẽ sự tái sinh và tăng trưởng cây rừng vốn lâu đời thích nghi với hoàn cảnh sinh thái rừng Vì thế, tác giả đã nhấn mạnh cần hiểu biết đầy đủ
về hoàn cảnh sinh thái để phát huy tái sinh tự nhiên được tốt nhất
Trần Xuân Thiệp (1996) [51] đã tiếp tục nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc Kết quả nghiên cứu của tác giả đã cho biết: Ở vùng Tây Bắc, dù ở vùng thấp hay vùng cao đều có khả năng tái sinh
tự nhiên khá tốt về số lượng cây từ 500 - 8.000 cây/ha Rừng Tây Bắc thể hiện
rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh: Nghèo về trữ lượng, diễn thế rừng
ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng, chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại
do thiếu lớp cây mẹ Vùng trung tâm tác giả nhận xét sự nghèo kiệt nhanh chóng
của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên vào loại thấp, số
lượng cây tái sinh thấp hơn nhiều so với khu vực Tây Bắc nhưng khác với Tây
Bắc vùng này môi trường rừng còn giữ được tốt hơn nên ít thể hiện chiều hướng
cây ưa sáng chịu hạn xuất hiện trong tái sinh Vùng Đông Bắc, tác giả cho thấy
số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 - 12.000
cây/ha lớn hơn các vùng khác, về chất lượng: có một tập đoàn cây thứ sinh kích
thước trung bình chiếm tổ thành ưu thế trong các địa phương như: Chẹo, Giẻ,
Trám, Sồi phảng, Sau sau, Lõi thọ,…phát triển thành cây tái sinh có triển vọng
(H ≥ 1,5m) So với các vùng khác, vùng Đông Bắc có khả năng tái sinh tự nhiên
tốt Đối với các vùng Bắc Trung Bộ tác giả nhận xét tái sinh tự nhiên ở vùng này
khá thuận lợi và đây là vùng có tái sinh tự nhiên tốt nhất ở miền Bắc nước ta Số
lượng cây tái sinh từ 7.000 ÷ 10.000 cây/ha, trong đó 25% là số cây có triển
vọng trở thành gỗ lớn, rừng IIIA1 nghèo tái sinh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình cũng đạt được đến 4.000 ÷ 5.000 cây/ha với số cây triển vọng từ
1.000 ÷ 1.200 cây/ha, về chất lượng tỷ lệ cây gỗ tái sinh xuất hiện với tần suất
cao
Lâm Công Định (1987)[18] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái
sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng Tác giả kết luận hiệu
quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng tới đạt được 3
yêu cầu mấu chốt sau đây: 1- Giữ vững được vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại
trong đó: Địa bàn, diện tích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học,
sản lượng, phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh 2 - Đảm bảo được sản lượng
khai thác hàng năm theo chu kỳ ổn định 3 - Nâng thêm được giá trị vốn rừng
chủ yếu về 3 mặt: Thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản
lượng thu hoạch Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào
khả năng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh Nghĩa là cuối cùng tùy
thuộc vào đặc tính sinh học của từng loài cây, quy luật lâm học của rừng, hiệu
lực tác động của các biện pháp kinh tế và ảnh hưởng tốt xấu của từng cách thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
khai thác cùng với từng loại dụng cụ máy móc thi công, không có đầy đủ hiểu biết trên để làm cơ sở lựa chọn con đường tái sinh khai thác tối ưu chắc chắn không thể đảm bảo được tái sinh
Ngô Văn Trai (1999)[54] đã nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên sau khai thác chọn làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kinh tế xúc tiến tái sinh
tự nhiên cho kinh doanh gỗ lớn ở Lâm trường Trạm Lập huyện K’ Bang – Gia Lai Tác giả đã có một số kết luận: Cấu trúc cấu thành loài cây gỗ lớn ở rừng IIIB và IVB trước và sau khai thác không có sự thay đổi lớn Tổ thành cây mẹ sau khai thác có quan hệ chặt chẽ với tổ thành loài cây tái sinh Mật độ cây tái sinh sau khai thác ở trạng thái IIIB và IVB ở các rừng độ khai thác khác nhau biến động từ 6.500 - 16.480 cây/ha Đặc biệt có một số loài cây tái sinh lớn có tái sinh cao đạt trên 500 cây/ha như: Ràng ràng mít, Re bầu, Giổi xanh, Thông nàng,…về chất lượng thì tỷ lệ cây tốt ở 2 trạng thái trên chiếm trên 62,46%, cây cao nhất ở rừng IVB đạt 79%, tỷ lệ cây tái sinh xấu đều dưới 15% Các loài cây tái sinh gỗ lớn xuất hiện lớn hơn 50% ở trạng thái IIIB (cường độ khai thác 26%) là 6 loài và cường độ khai thác là 45% là 6 loài còn trạng thái IVB với cường độ khai thác là 30% là 8 loài và cường độ khai thác 39% là 7 loài thấp nhất là ở cường độ khai thác 51% chỉ có 5 loài từ đó tác giả cũng đưa ra một số
đề nghị về các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên để kinh doanh gỗ lớn ở Lâm trường Trạm Lập
Các nghiên cứu có liên quan đến khu vực Vườn Quốc gia Tam Đảo:
Đinh Việt Phương (1998) đã nghiên cứu, điều tra thành phần loài, phân bố các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô tả đặc điểm hình thái, đánh giá được sự phân bố của 13 loài Dẻ có ở đây Theo tác giả số lượng 13 loài Dẻ nơi diện tích rộng lớn, địa hình phức tạp như Tam Đảo chưa phản ánh được đầy đủ thành phần loài trong họ Dẻ ở VQG Tam Đảo
Lê Anh Công (2003) đã nghiên cứu, điều tra phát hiện thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình tái sinh các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô
tả, điều tra đánh giá phân bố của 17 loài Dẻ có trong khu vực VQG Tam Đảo
Trang 12Họ Dẻ tuy đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu Song do địa hình,
tiểu khí hậu từng vùng đã tạo nên khu phân bố riêng Tình hình sinh trưởng và
phát triển của mỗi vùng đã tạo nên các tài liệu đó chỉ có ý nghĩa tham khảo, đặc
biệt là các tài liệu nghiên cứu tái sinh về từng loài trong họ Dẻ là chưa có Ở
Vườn Quốc Gia Tam Đảo từ báo cáo của Đinh Việt Phương, danh mục thực vật
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vườn Quốc gia Tam Đảo như đã nói
trên các thông tin đại chúng về loài Dẻ còn nhiều hạn chế cần được nghiên cứu
sâu hơn
Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của Việt Nam
nói chung và khu vực Tam Đảo nói riêng còn ít Đặc biệt là các công trình
nghiên cứu riêng về loài Dẻ Gai Ấn Độ chưa có, phần lớn các tác giả mới chỉ
nghiên cứu về đặc điểm lâm học Vì vậy, để bổ xung thêm cho các nghiên cứu
trên, luận văn này tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của
cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
-Vĩnh Phúc
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Là cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) thuộc phân khu phục hồi
sinh thái VQG Tam Đảo - huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc
2.3 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, nội dung của đề tài được xác định như sau:
2.3.1 Một số đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Dẻ gai Ấn Độ 2.3.2 Một số đặc điểm sinh thái nơi loài Dẻ gai Ấn Độ phân bố
2.3.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng ảnh hưởng đến TSTN của cây Dẻ gai Ấn Độ ở các trạng thái IIIA2 và IIIA3:
- Một số đặc điểm cấu trúc của rừng
- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
- Cấu trúc tầng thứ
- Mật độ tầng cây cao
- Thành phần loài cây đi kèm
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Đặc điểm phân bố số cây n/D1.3, n/Hvn của Dẻ gai Ấn Độ
- Cấu trúc độ tàn che tầng câu cao
2.3.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ ở trạng thái rừng
IIIA2 và IIIA3
- Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh
- Mật độ cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và theo nguồn gốc
- Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi
- Phân bố tần suất cây tái sinh
- Chất lượng cây tái sinh
2.3.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai
Ấn Độ ở các trạng thái rừng IIIA 2 và IIIA 3
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm về phương pháp luận
- Về quan niệm tái sinh rừng: Rừng là một hệ sinh thái, tái sinh rừng là tái
sinh của một hệ sinh thái Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản
của rừng, biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây
con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, lỗ trống trong rừng,
rừng sau khai thác, trên đất rừng sau nương rẫy….Phùng Ngọc Lan (1986) [35]
tái sinh rừng thúc đẩy quá trình hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm
bảo cho rừng tồn tại liên tục và sử dụng tài nguyên rừng bền vững
- Khái niệm về cây tái sinh được quan niệm trong đề tài này bao gồm
những cây con của loài Dẻ gai Ấn Độ sống dưới tán rừng, chiều cao thấp hơn
tán rừng chính
- Tái sinh rừng có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
Tái sinh hạt trải qua 3 giai đoạn : Ra hoa kết quả và phân tán hạt giống, giai
đoạn hạt giống nảy mầm, giai đoạn sinh trưởng cây tái sinh Giai đoạn sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 26 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
trưởng cây tái sinh gồm có 2 thời kỳ: Cây mạ và cây con Thời kỳ cây mạ là giai đoạn cây tái sinh có hình thái chưa ổn định, dễ bị thảm tươi cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng, độ ẩm và ánh sáng Thời kỳ cây con là giai đoạn cây tái sinh có tính chịu bóng giảm, tính ổn định cao vượt khỏi tầng thảm tươi Sử dụng đồng hoá tổng hợp chất hữu cơ từ môi trường để nuôi cấy đến khi cây rừng đạt chiều cao tham gia vào tán rừng thì kết thúc giai đoạn tái sinh
- Về chất lượng tái sinh: Căn cứ vào hình thái chia thành 3 cấp [54]: + Cây tốt (A) là những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn, xanh biếc,
- Tiểu hoàn cảnh rừng như tiểu điều kiện khí hậu luôn là những nhân tố
có ảnh hưởng quyết định đến số lượng và chất lượng của quá trình tái sinh rừng Trong đó tầng cây cao và cây bụi thảm tươi là nhân tố chi phối tiểu hoàn cảnh rừng Các biện pháp bảo vệ tái sinh rừng nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các tầng cây của quần xã thực vật khác nhau Vì vậy, việc tìm ra các nhân
tố ảnh hưởng của tầng cây cao và cây bụi thảm tươi đến cây tái sinh là việc làm hết sức cần thiết
- Tái sinh rừng tự nhiên là quá trình tạo thành thế hệ rừng mới bằng con đường tự nhiên, về cơ bản không có sự tác động của con người Kết quả của tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào qui luật khách quan của tự nhiên Quá trình tái sinh
tự nhiên thì ít đạt được kết quả mong muốn Chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm của tái sinh tự nhiên, nhằm lợi dụng được năng lực gieo giống và tiểu hoàn cảnh rừng sẵn có đồng thời kết hợp với các biện pháp bảo vệ tái sinh
tự nhiên Muốn giải quyết vấn đề trên thì cần phải nắm được các đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Dẻ gai Ấn Độ trong từng trạng thái rừng cụ thể
Trang 142.4.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu :
Căn cứ vào thảm thực vật và địa hình đề tài nghiên cứu chia làm 2 khu:
- Khu vực 1: Trạng thái IIIA2 thuộc xã Đại Đình huyện Tam Đảo tỉnh
Thu thập tài liệu cơ bản về khu vực nghiên cứu có liên quan đến đề tài
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế trong khu vực nghiên
cứu
+ Các loại bản đồ chuyên dùng của khu vực nghiên cứu
+ Các tài liệu tham khảo về lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước
+ Các công trình nghiên cứu của các tác giả khác liên quan đến khu vực
và vấn đề nghiên cứu
2.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
2.4.3.2.1 Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và dung lượng mẫu:
a Lập OTC điển hình để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng có Dẻ gai
Ấn Độ tái sinh phân bố:
- Ô tiêu chuẩn phải bố trí tại các vị trí có tính đại diện cao ở 2 khu vực
nghiên cứu Địa hình trong ô phải tương đối đồng đều, các loài cây phân bố
tương đối đều, cây sinh trưởng bình thường, ô tiểu chẩn không đi qua các khe,
qua đỉnh hoặc có đường mòn hay ô tô chạy qua
- Phương pháp lập OTC: Sử dụng địa bàn, thước dây để đo đạc
- Tổng số OTC là 12 ô, trong đó khu vực 1 là 6 ô, khu vực 2 là 6 ô Diện
tích mỗi OTC là 1.000m (20m x 50m)
Để thuận lợi cho việc đo đếm đề tài tiến hành lập OTC với chiều dài cùng với đường đồng mức, chiều rộng vuông góc với đường đồng mức
b Điều tra cây tái sinh:
- Phương pháp lập ô dạng bản (ODB): Trong OTC lập 5 ODB để điều tra cây tái sinh theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Cụ thể như hình
vẽ sau:
- Lập ODB để điều tra cây tái sinh Diện tích mỗi ODB là 16 m2 (4m x 4m) Số ODB ở khu vực 1 là 6 x 5 = 30 ô và số ô ở khu vực 2 là 6 x 5 = 30 ô Tổng số ODB ở cả 2 khu vực là 60 ô
- Lập ODB để điều tra cây Dẻ gai Ấn Độ tái sinh xung quanh gốc cây mẹ Chọn các cây mẹ có sinh trưởng bình thường, không sâu bệnh, không cụt ngọn làm tâm, từ tâm lập 4 tuyến điều tra theo 4 hướng Đ - T - N - B, trên tuyến lập các ODB với diện tích là 16 m2 (4m x 4m), 4 ô ở trong tán, 4 ô ở mép tán, 4 ô ở ngoài tán cây mẹ
Do đề tài chỉ nghiên cứu tái sinh xung quanh gốc cây mẹ ở khu vực 1, 2
là trạng thái IIIA2 và IIIA3 Mỗi khu vực điều tra tái sinh xung quanh 4 gốc cây
mẹ với số ODB là 4 x 3 x 8 = 96 ODB
2.4.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp:
Nội dung thu thập số liệu cho từng nội dung, cụ thể như sau:
a Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của cây Dẻ gai Ấn Độ
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 29 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát thực địa, lấy mẫu về đo đếm đồng
thời thu thập các thong tin từ cán bộ lâm nghiệp có kinh nghiệm trong vùng
nghiên cứu nhằm xác định được các nội dung sau:
- Đặc điểm hình thái: Thân cây, tán cây, vỏ cây, cành cây, lá cây, rễ và
hoa quả của cây Dẻ gai Ấn Độ…
- Đặc điểm vật hậu: Mùa ra lá, mùa ra hoa kết quả,…
b Điều tra một số nhân tố sinh thái nơi cây Dẻ gai Ấn Độ tái sinh tự
nhiên (TSTN)
- Đặc điểm nhân tố khí hậu: Tiến hành thu thập tài liệu khí tượng của
trạm khí tượng thủy văn của VQG Tam Đảo Kết quả được ghi vào bảng 2.1
- Điều tra nhân tố đất đai: Tiến hành đào 2 phẫu diện điển hình cho 2 khu vực
nghiên cứu và lấy mẫu về phân tích các chỉ tiêu như P205, Ca2+, kết hợp tham khảo tài
liệu nghiên cứu về đất của Vườn quốc gia Tam Đảo Kết quả được ghi vào bảng 2.2
Chất dễ tiêu (ppm)
Cation trao đổi (me/100g)
Độ chua trao đổi (me/100g)
P205 K20 Ca2+ Mg2+ H+ Al3+
c Điều tra đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Dẻ gai Ấn Độ
* Điều tra đặc điểm tái sinh của lâm phần:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 30 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Cây tái sinh được điều tra trong các ODB, gồm các cây có đường kính
< 6 cm Các chỉ tiêu xác định là:
- Xác định tên loài cây theo tên phổ thông và tên khoa học, loài không biết lấy tiêu bản để giám định, chiều cao vút ngọn, tình trạng sinh trưởng, nguồn gốc tái sinh (theo hạt hay theo chồi)
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào, lấy đến cm
- Xác định phẩm chất cây tái sinh với từng cá thể và phân chia làm 3 cấp chất lượng là: Tốt, trung bình và xấu
Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức:
N % =
N
n
x 100 (2.1) Trong đó: N% là tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu
n là tổng số cây tốt, trung bình, xấu
N là tổng số cây tái sinh
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Được xác định theo tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi
- Xác định tần xuất cây tái sinh loài Dẻ gai Ấn Độ được tình theo công thức:
Trong đó: Lx là tần suất xuất hiện của loài Dẻ gai Ấn Độ Nếu: Lx > 70% cây tái sinh có phân bố đều
Lx < 70% cây tái sinh có phân bố không đều
Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.3 sau
Số ODB có loài Dẻ gai Ấn Độ XH Tổng số ODB đo đếm
Trang 16* Điều tra sinh trưởng của cõy mẹ (Dẻ gai Ấn Độ):
Chọn 8 cõy mẹ cú đủ tiờu chuẩn DT ≥ 8m, cõy sinh trưởng bỡnh thường,
khụng sõu bệnh, khụng cụt ngọn làm tõm Xỏc định: Hvn, D1.3, Hdc, DT, phẩm
chất Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.4:
Bảng 2.4: Bảng điều tra sinh trưởng của cõy mẹ (Dẻ gai ấn Độ)
Chất lượng sinh trưởng
* Điều tra đặc điểm tỏi sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ xung quanh gốc cõy mẹ:
Cõy tỏi sinh được điều tra trong cỏc ụ dạng bản xung quanh gốc cõy mẹ
gồm cỏc cõy cú đường kớnh < 6cm Cỏc chỉ tiờu xỏc định là: Chiều cao vỳt
ngọn, tỡnh trạng sinh trưởng, nguồn gốc cõy tỏi sinh (theo hạt hay theo chồi),
phẩm chất cõy tỏi sinh Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.5:
Bảng 2.5: Bảng điều tra cõy Dẻ gai ấn Độ tỏi sinh
tự nhiờn xung quanh gốc cõy mẹ Khu vực: OTC số:
* Điều tra tầng cõy cao:
Theo quan điểm lõm học, cõy tầng cao là những cõy cú tỏn tham gia vào tầng chớnh (tầng A) và D1.3 ≥ 6cm
Xỏc định tờn cõy: Tên cây đ-ợc ghi theo tên phổ thông và tên khoa học, loài ch-a biết tên đ-ợc lấy tiêu bản giám định
Đo Hvn, D1.3, Hdc phẩm chất cõy Cụng cụ đo đường kớnh là thước kẹp kớnh, đo chiều cao vỳt ngọn và chiều cao dưới cành là thước Blumeleiss kết hợp với sào đo cao Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.6 như sau:
Bảng 2.6: Bảng điều tra tổ thành loài cõy cao Khu vực: OTC số:
* Điều tra độ tàn che rừng:
Độ tàn che được xỏc định theo hệ thống xấp xỉ 200 điểm điều tra và bằng phương phỏp mục trắc tại 5 điểm, một điểm ở tõm cõy Dẻ gai Ấn Độ tỏi sinh, 4 điểm ở 4 gúc vuụng cỏch cõy tỏi sinh 2m
Tại khu vực 1 đề tài xỏc định 3 tuyến điều tra, khu vực 2 xỏc định 4 tuyến điều tra Cỏc tuyến được bố trớ song song với đường đồng mức, mỗi
Trang 17Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn 33 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
tuyến điều tra cú bề rộng là 1m Dọc theo tuyến vị trớ của mỗi cõy Dẻ gai ấn
Độ, được xỏc định là 1 điểm điều tra
Tại mỗi điểm điều tra độ tàn che, dựng thước ngắm lờn theo phương
thẳng đứng Cỏc điểm phõn bố đều, trong tỏn là 1 điểm, mộp tỏn là 0,5 và ngoài
tỏn là 0 điểm Độ tàn che tầng cõy cao chớnh là tỷ lệ số điểm mà giỏ trị tàn che
là 1 trờn tổng số điểm điều tra
* Điều tra cõy bụi:
- Cõy bụi là cõy thõn gỗ thuộc tầng thấp Chỉ tiờu xỏc định là: Tờn loài
cõy, số lượng, phẩm chất, Hvn được đo bằng thước một, độ che phủ bỡnh quõn
chung cỏc loài được tớnh theo tỷ lệ phần trăm bằng phương phỏp ước lượng
- Lập ODB: Trờn ODB, tụi tiến hành đo đếm tất cả cỏc tầng cõy bụi và
được ghi vào bảng 2.7 d-ới đây:
Bảng 2.7: Bảng điều tra tầng cõy bụi Khu vực: OTC số:
Chất lượng sinh trưởng
* Điều tra thảm tươi:
- Thảm tươi là lớp cõy cỏ phủ trờn bề mặt đất rừng Chỉ tiờu điều tra: Tờn
loài cõy, chiều cao trung bỡnh, độ che phủ của loài, độ che phủ chung được xỏc
định bằng phương phỏp ước lượng
- Lập ODB: Tương tự với phương phỏp điều tra tầng cõy bụi, tụi cũng
tiến hành xỏc định tờn loài cõy được kết quả ghi vào bảng 2.8, loài nào không
biết tên đ-ợc lấy tiêu bản về giám định
Bảng 2.8: Bảng điều tra thảm tươi
Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn 34 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Khu vực: OTC số: ODB số:
Độ che phủ (%)
Độ nhiều (%)
Chất lượng sinh trưởng
a Kiểm tra sự thuần nhất của cỏc giỏ trị quan sỏt:
Tiờu chuẩn phi tham số 2của Kruskal Wallis để kiểm tra sự thuần nhất:
H =
) 1 (
Trang 18so sánh tần số quan sát rơi vào các mẫu
( 2.4) Trong đó:
fthuyet là tần số lý thuyết
fthuyet =
TS xT
tra bảng với bậc tự do K = (a-1)(b-1), thì các mẫu thuần nhất
b Xác định tổ thành theo số cá thể của mỗi loài:
Để xác định công thức tổ thành loài theo số cá thể, tôi áp dụng công thức sau:
Ki =
N
m i
*10 (2.6) Trong đó: Ki là tỷ lệ tổ thành của loài thứ i
mi là số cây của loài thứ i
N là tổng số cây điều tra
Sau đó sử dụng dãy các giá tri Ki để viết công thức tổ thành theo quy định
của giáo trình Lâm học Trường Đại học Lâm nghiệp:
c Xác định hệ số chờm lợp:
Hệ số chờm lợp tán cây được tính theo công thức:
K =
Th LL S
DTTB là đường kính tán trung bình 1 cây
d Xác định phân bố n/D1.3, n/Hvn của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ Xác định phân bố n/D1.3, n/Hvn của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ để biết lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ này tốt hay xấu, xây dựng mô hình cấu trúc tần số theo một số phân bố lý thuyết thường gặp trong lâm nghiệp
* Phân bố khoảng cách:
P(x) = với x = 0 (2.11) P(x) = ( 1-) (1 - ) x 1 với x 1 (2.12) Với và là tham số
=
n f0 (2.13)
f i x i
f n
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 37 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- xi =
k d
d i 1 (2.15)
(2.16) Hàm phân bố:
F(x) = 1- x a
e
(2.17) Trong đó:
và là 2 tham số của phân bố Weibull
Tham số đặc trưng cho độ nhọn phân bố
Tham số đặc trưng cho độ lệch của phân bố
Nếu: = 1 phân bố có dạng giảm theo hàm mũ
= 3 phân bố có dạng đối xứng
> 3 phân bố có dạng lệch phải
< 3 phân bố có dạng lệch trái
* Phân bố mũ (hàm Meyer):
Vận dụng phân bố giảm hàm Meyer để mô hình hóa các phân bố thực
nghiệm của một số nhân tố điều tra
Hàm meyer có dạng:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 38 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
y = .e (2.18) Trong đó:
Y là tần số quan sát
x là đại lượng quan sát
và là 2 tham số của hàm
* Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:
Để kiểm tra mức độ phù hợp giữa phân bố lý thuyết là hàm Meyer với phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính thực nghiệm có thể dùng tiêu chuẩn phù hợp2
f (2.19) Trong đó:
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Trang 203.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố:
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
và Tuyên Quang Dãy núi Tam Đảo chạy dài 80 km chạy theo hướng Tây Bắc –
Đông Nam huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến huyện Mê Linh (Hà Nội)
Vườn Quốc gia Tam Đảo có tọa độ địa lý
Từ 210
21’ đến 21042’ vĩ độ Bắc
Từ 105023’ đến 105044’ kinh độ Đông
Phía Đông Bắc Vườn Quốc gia Tam Đảo được giới hạn bởi Quốc lộ 13A,
từ ranh giới huyện Phổ Yên qua Đại Từ (Thái Nguyên) đến Đèo Khế (Tuyên
Quang)
Phía Tây Nam là đường ô tô kéo dài từ đường 13A (giáp Đèo Khế) chạy
dọc chân Tam Đảo đến xã Mỹ Khê ranh giới giữa huyện Bình Xuyên (Vĩnh
Phúc) và huyện Mê Linh (Hà Nội)
Trung tâm vườn cách Hà Nội 75km về phía Tây Bắc, cách thành phố
Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc
Tổng diện tích tự nhiên: 36.883 ha chia làm 3 phân khu:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 17.295 ha ở độ cao > 400m
- Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích là 17.286 ha ở độ cao từ 100m – 400m
- Phân khu nghỉ mát, du lịch có diện tích là 2.302 ha
Ngoài ra vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo có ranh giới phía ngoài là
ranh giới của các xã tiếp giáp với Vườn Quốc gia Tam Đảo Cho đến nay vùng
đệm Tam Đảo gồm 23 xã thị trấn với diện tích 35.717 ha
Huyện Tam Đảo: Diện tích đất của huyện năm 2003 là 23.573,07 ha Địa
giới hành chính của huyện có 9 đơn vị cấp xã nằm chọn trong vùng chính và
vùng đệm phía Tây Nam Vườn Quốc gia Tam Đảo Cụ thể như sau:
Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và tỉnh Thái Nguyên
Phía Tây giáp huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch
Phía Nam giáp huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang
3.1.1.2 Đặc điểm đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố:
Huyện Tam Đảo gồm 7 xã: Đạo Trù, Đại Đình, Tam Quan, Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang và thị trấn Tam Đảo Hiện trạng sử dụng đất là:
+ Hiện trạng đất đai phân theo đơn vị hành chính: Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 10.612,9 ha; trong đó diện tích đất có rừng là 7.858,49 ha, diện tích đất không có rừng là 2.252,77 ha, còn lại là diện tích các loại đất khác + Hiện trạng đất đai phân theo các khu chức năng: Tại phân khu phục hồi sinh thái VQG Tam Đảo có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.398 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 7.537,17 ha, diện tích đất không có rừng là 6.329,5 ha, còn lại là diện tích các loại đất khác
3.1.2 Khí hậu, thủy văn:
3.1.2.1 Khí hậu:
Tam Đảo nằm trong vành đai khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa vùng núi Lượng mưa bình quân hàng năm ở vùng thấp là 1.603 mm Lượng mưa ở đai cao của núi Tam Đảo khá lớn 2.600 mm vì ở đây có thêm lượng mưa địa hình Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Mưa tập trung vào các tháng 6,7,8,9 Cao nhất là tháng 8 Số ngày mưa khá nhiều từ 142-190 ngày/năm
Do ảnh hưởng của điều kiện địa hình, địa mạo nên nhiệt độ bình quân năm vùng dưới thấp là 23,70c trong đó tháng nóng nhất ở vùng thấp trên 280
C (tháng 7), tháng lạnh nhất > 150C (tháng 1) Vùng đỉnh có nền nhiệt độ thấp hơn, bình quân là
180C, tháng nóng nhất là 230C (tháng 7) và vùng lạnh nhất là 10,80
C (tháng 1)
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 41 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Độ ẩm bình quân dưới thấp >80%, trên cao 87% Mùa mưa nhất là khi có
mưa phùn độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng đến mùa khô hanh độ ẩm chỉ còn 70
-75%, cá biệt có ngày chỉ còn 60% (vùng núi cao)
3.1.2.2 Thủy văn:
Trong khu vực có 2 hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây và
sông Công ở phía Đông Đường phân thủy của 2 hệ thống sông trên chính là
dãy núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ Khê (Bình Xuyên)
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống 2 sông chính như
chân rết khá dày và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi,
lưu lượng nước lớn Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theo các
chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng
Chế độ thủy văn chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Lũ lớn
thường xảy ra vào tháng 8, lũ tập trung nhanh và cũng rút nhanh, sự phân phối
dòng chảy rất khác nhau giữa 2 mùa
Chính vì vậy sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy,
chỉ có khả năng làm thủy điện nhỏ Việc đắp đập tạo hồ có thể thực hiện được ở
nhiều nơi quanh chân núi để phục vụ sản xuất
3.1.3 Đặc điểm về tài nguyên thực vật rừng:
Nhìn chung hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú và phân bố trên nhiều
sinh cảnh khác nhau từ trảng cỏ, cây bụi đến các loài cây gỗ trên núi đất, núi đá
Theo GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn (Đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc
gia Hà Nội) thì VQG Tam Đảo có khoảng 2000 loài thực vật Đến nay tổng hợp
số liệu điều tra của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật (Trung tâm khoa học tự
nhiên và công nghệ quốc gia); Đại học khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà
Nội); Đại học Lâm nghiệp, Viện điều tra qui hoạch rừng và một số cơ quan, tổ
chức khác cho thấy đã thống kê được 904 cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi,
213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, hạt trần và hạt kín Các loài cây này được xếp
Trong các loài thực vật trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ như: Hoàng thảo Tam Đảo (Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum petelotii), chuỳ hoa leo (Molas tamdaoensis), trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)
Vùng đệm VQG Tam Đảo diện tích có rừng che phủ chiếm 35,24%, trong
đó diện tích có rừng tự nhiên chiếm 18,02% tổng diện tích tự nhiên, rừng trồng chiếm 17,21% tổng diện tích đất tự nhiên, các loài cây chủ yếu là: Bạch đàn trắng, Keo tai tượng, Keo lá tràm và một số loài cây bản địa Ngoài ra còn một
số thảm thực vật tự nhiên khác như trảng cỏ, cây bụi và cây gỗ xen kẽ, đặc biệt
là tại các xã vùng đệm diện tích cây ăn quả ngày càng được tăng lên đáng kể
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 3.2.1 Dân cƣ và lao động:
3.2.1.1 Cơ cấu dân cư:
Theo kết quả thống kê năm 1999, tổng dân số vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo là 148.704 người, thuộc 29.598 hộ, trong đó nam chiếm 44%, nữ chiếm 56%, gồm 8 dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, Sán Dìu, Sán Chỉ,
Trang 22Dao,Tày, Nùng, Cao Lan và người Hoa, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao
nhất là 63%, Sán Dìu 24,93%, các dân tộc còn lại chiếm 12,07% Họ thường
sống tập trung thành làng bản ở các khu vực địa hình thấp, bằng phẳng và gần
nguồn nước, ven chân núi hoặc dọc theo các trục đường giao thông Từ đó trong
quan niệm của người dân từ xa xưa đã hình thành tập tục như: Lệ làng (hương
ước) và các nghi lễ mang bản sắc dân tộc của mỗi khu vực và mỗi tộc người cư
trú ở đây Cho đến năm 2004 - 2005 số nhân khẩu của toàn vùng đệm đã tăng từ
150.000 người (2001) đến 192.627 người của 41.951 hộ gia đình
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình toàn vùng đệm là 1,66%, cao nhất
là 2,08% Dân số tập trung ở khu vực nông thôn chiếm 93,81% Mật độ dân cư
toàn vùng là 204 người/km2, phân bố không đều
(Nguån: V-ên Quèc Gia Tam §¶o)
3.2.1.2 Cơ cấu lao động theo các ngành:
Lực lương lao động trong độ tuổi từ 18-60 là 89.460 lao động, chiếm 60,1% tổng số khẩu trong toàn vùng
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 45 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Lao động phân bố giữa các ngành trong vùng đệm chưa đều, theo số liệu
thống kê năm 1999, số lao động trong ngành nông nghiệp là 84.678 người
chiếm 94,65% tổng số lao động, ngành lâm nghiệp là 4.782 người chiếm 5,35%
tổng số lao động
3.2.2 Đời sống kinh tế:
Vùng đệm VQG Tam Đảo là vùng bán sơn địa, nhiều soi bãi đồi trọc, đất
nông nghiệp chiếm 4,38% trong tổng diện tích đất tự nhiên Cây lúa nước là
cây lương thực chính, diện tích đất canh tác bình quân cho một nhân khẩu là
776 m2, quá thấp so với yêu cầu tối thiểu của bộ phận dân cư nông nghiệp còn
ở trình độ sản xuất thấp Mặc dù trong những năm gần đây, một bộ phận dân cư
đã cố gắng thâm canh từ 1 vụ lúa/năm lên 2 vụ lúa + 1 vụ màu/năm, thậm trí có
nơi đưa 3 vụ lúa/năm, nhưng năng suất chỉ đạt 35- 40 tạ/năm không đủ cung
cấp cho nhiều hộ gia đình, họ phải dựa vào nguồn thu nhập khác từ việc trồng
màu, trồng chè, chăn nuôi gia súc, gia cầm, một số gia đình sống dựa vào việc
khai thác trộm gỗ, củi,măng trong rừng để bán
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất:
Diện tích vùng đệm VQG Tam Đảo là 35.717,73 ha với cơ cấu được thể
hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 3.2: Bảng cơ cấu các loại đất vùng đệm VQG Tam Đảo
Đối với đất lâm nghiệp, đất có rừng tự nhiên 6.439,37 ha chiếm 38,9%,
phân bố ở 21 xã, thị trấn thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo, rừng trồng 6.148,02
ha chiếm 37,15%, còn lại là đất trống cần trồng rừng là 3.965,19 ha chiếm
29,95%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 46 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3.2.4 Hiện trạng sản xuất lâm nghiệp:
Trên địa bàn vùng đệm VQG Tam Đảo hiện có 5 đơn vị quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, đó là:
Lâm trường Sơn Dương trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang quản lý 8.909,9 ha trên địa bàn huyện Sơn Dương
Trung tâm khoa học và dịch vụ lâm nghiệp Đông Bắc bộ trực thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, quản lý 886,4 ha trên địa bàn huyện Mê Linh Trung tâm Lâm nghiệp Tam Đảo trực thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Phúc quản lý 1.040 ha trên địa bàn huyện Tam Đảo
Lâm trường Lập Thạch trực thuộc công ty nguyên liệu giấy Bãi Bằng, thuộc công ty giấy Việt Nam, quản lý 1.235 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn 19
Trang 24Ch-¬ng 4 KÕt qu¶ nghiªn cøu vµ th¶o luËn
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Dẻ gai Ấn Độ
4.1.1 Đặc điểm hình thái cây:
4.1.1.1 Hình thái thân cây:
Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) thuộc họ Dẻ (Fagaceae), là
cây gỗ lớn cao khoảng 15 - 20m; vỏ xám nâu nứt dọc, dày, khía thành rãnh Đây
là loài cây thường xanh, thịt vỏ có nhiều xơ sợi, màu nâu vàng Cành non có
lông hung đỏ màu gỉ sắt, thân thường có tán rộng, phân cành thấp
Hình 4.1: Hình thái thân Dẻ gai Ấn Độ
4.1.1.2 Hình thái lá Dẻ gai Ấn Độ:
Lá đơn mọc cách, dày, có phiến tròn dài, mép có răng cưa nhọn đều, to
khoảng 10 - 15 x 3 - 6,5cm Mặt trên lá bóng màu xanh đậm, mặt dưới xám, có
lông thưa, gân phụ 14 cặp Cuống lá ngắn khoảng 0,4cm, có lông
từ gốc, phủ gần kín đấu Khi quả chín tách không đều
Quả kiên đơn lẻ, hình trứng cao 0,6 - 1,3cm, màu nâu bóng, có lớp lông tơ bao phủ, đầu có mũi nhọn