1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHẢN ỨNG XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

169 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

R với “Class and class conflict in industrial society” 1929 [“Giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công nghiệp”] và Park R.E and Burgess E.W với “Competition, Conflict, accomomd

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

- *** -

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Mã số: B.11 - 26

NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

PHẢN ỨNG XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đỗ Đình Hãng

Thư ký đề tài: Th.S Giang Thị Huyền

9120

HÀ NỘI, 2011

LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Th.S Trịnh Vương Cường Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

2 TS Vũ Trường Giang Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

3 Th.S Bùi Thanh Hà Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

4 Th.S Nguyễn Thanh Hà Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

5 PGS.TS Đỗ Đình Hãng Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

6 Th.S Hà Thị Thu Hằng Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

7 Th.S Đỗ Thanh Hiền Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

8 CN Hoàng Minh Hiến UBND huyện Chương Mỹ - Hà Nội

9 Th.S Lưu Khương Hoa Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

10 Th.S Giang Thị Huyền Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

11 NCS Trần Thị Lan Học viện Báo chí & Tuyên truyền

12 Th.S Tạ Khánh Trường Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I

Trang 2

4

MỤC LỤC

Mở đầu ……… ………… ……… 6

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phản ứng xã hội…… 16

1.1 Những khái niệm cơ bản… ……… 16

1.1.1 Khái niệm phản ứng…… ……… 16

1.1.2 Khái niệm phản ứng xã hội……… 20

1.1.3 Khái niệm xung đột xã hội……… 21

1.2 Phân loại các hình thức phản ứng xã hội……… 24

1.2.1 Phân loại phản ứng xã hội theo hình thức biểu hiện……… 25

1.2.2 Phân loại phản ứng xã hội theo lĩnh vực (nội dung)……… 26

1.3 Chức năng của phản ứng xã hội……… 27

1.3.1 Chức năng tích cực của phản ứng xã hội……… 28

1.3.2 Chức năng tiêu cực của phản ứng xã hội……… 29

Chương 2: Thực trạng phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay 31 2.1 Nhận diện các hình thức phản ứng - xung đột xã hội………… 31

2.1.1 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích……… 31

2.1.2 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột văn hóa……… 51

2.1.3 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tôn giáo……… 59

2.1.4 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tộc người……… 67

2.2 Nguyên nhân của phản ứng xã hội……… 75

2.2.1 Những nguyên nhân từ lợi ích……… 75

2.2.2 Những nguyên nhân từ văn hóa lối sống……… 76

2.2.3 Những nguyên nhân do bất bình đẳng dân tộc và do địch lợi dụng, kích động 77 2.2.4 Những nguyên nhân nảy sinh từ chính quá trình đổi mới, phát triển nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng 78 2.2.5 Những nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách……… 80

2.2.6 Những nguyên nhân từ phía hệ thống chính trị ở nông thôn…… 83

2.2.7 Những nguyên nhân từ phía cán bộ và đội ngũ cán bộ………… 86

2.2.8 Những nguyên nhân từ phía quần chúng nhân dân……… 90

2.3 Tác động của phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời gian qua 92 2.3.1 Phản ứng - xung đột đã gây ra nhiều hệ quả tiêu cực đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội 92 2.3.2 Khía cạnh tích cực từ thực tiễn phản ứng - xung đột xã hội…… 95

Chương 3: Tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay 97 3.1 Dự báo xu hướng và hình thức phản ứng - xung đột xã hội ở nước ta thời gian tới 97 3.1.1 Các xu hướng chính tác động đến phản ứng - xung đột xã hội…… 97

5 3.1.2 Dự báo các hình thức phản ứng - xung đột xã hội……… 99

3.2 Quan điểm định hướng ……… 102

3.2.1 Tôn trọng quyền con người và luật pháp trong giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo 102 3.2.2 Phản ứng - xung đột xã hội đòi hỏi xã hội một sự phát triển mới với các chính sách hợp lý 103 3.2.3 Trách nhiệm trong giải quyết phản ứng - xung đột xã hội…… 104

3.3 Hệ tiêu chí nhận diện, đánh giá phản ứng xã hội - xung đột xã hội 105 3.3.1 Mặt biểu hiện của phản ứng - xung đột xã hội 107 3.3.2 Hình thức (loại hình) phản ứng - xung đột xã hội……… 108

3.3.3 Các chủ thể tham gia phản ứng - xung đột xã hội……… 112

3.3.4 Hoàn cảnh và phạm vi diễn ra phản ứng - xung đột xã hội…… 113

3.3.5 Tiêu chí về tính động cơ và nguyên nhân diễn ra phản ứng - xung đột xã hội 114 3.3.6 Tiêu chí về diễn biến của phản ứng - xung đột xã hội………… 117

3.3.7 Tiêu chí về quy mô, mức độ, thời gian diễn ra phản ứng -xung đột xã hội 120 3.3.8 Tiêu chí về hậu quả phản ứng - xung đột xã hội……… 121

Kết luận……… 123

Tài liệu tham khảo……… 125

Trang 3

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 VỀ MẶT LÝ LUẬN

Phản ứng xã hội là một hiện tượng bình thường trong quá trình phát

triển, khi con người đứng trước các tác động của tự nhiên hay xã hội Phản ứng

xã hội khác với các phản ứng của các sinh thể tự nhiên ở dạng thức, cấu trúc,

chức năng và không chỉ rất khó nhận dạng, mà cả nắm bắt, quản trị chúng

một cách có hiệu quả, tránh gây nên các tác động tiêu cực đối với bản thân

từng con người cũng như cả xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ nền kinh tế

chuyển đổi, ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới và chịu nhiều tác động

bất lợi do biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội Do vậy, phản ứng xã hội

của các nhóm dân cư diễn biến rất phức tạp Đối diện với những biến đổi của

nền kinh tế, của môi trường tự nhiên và xã hội, bản thân tâm lý, tính cách,

hành vi, lối sống con người cũng có những biến đổi so với thời kỳ bao cấp,

khép kín Diễn biến của phản ứng xã hội có khi theo cá nhân hoặc nhóm xã

hội, biểu hiện dưới nhiều hình thức Xuất phát từ những nhận thức trên cho

thấy nghiên cứu phản ứng xã hội dưới góc độ học thuật nhằm cung cấp các

khái niệm công cụ, nhận diện loại hình, các hình thức biểu hiện của chúng là

điều cấp thiết của nhiều bộ môn khoa học từ chính trị học, khoa học lãnh đạo

- quản lý, xã hội học, tâm lý học, văn hoá học đến các ngành khoa học phát

triển khác

1.2 VỀ MẶT THỰC TIỄN

Phản ứng xã hội ở nước ta hiện nay đang diễn biến có phần phức tạp và

nhiều khi khó nhận dạng Nhiều hình thức phản ứng xã hội mới nảy sinh trong

cơ chế thị trường, toàn cầu hoá mà nguồn gốc của nó chưa được cắt nghĩa một

cách thấu đáo Phản ứng xã hội từ nhóm lẻ có khả năng lan truyền thành mạng

xã hội khi được sự hỗ trợ bởi mạng truyền thông phi thể chế, điện thoại di

động, internet Những hình thức phản ứng xã hội dưới hình thức vô ngôn,

biểu hiện của thái độ bàng quan chính trị, thờ ơ và vô cảm trước mọi phong

trào xã hội, trước cổ động của bộ máy tuyên truyền là những dấu hiệu không

thể xem thường

Vì vậy, nhận diện các hình thức phản ứng xã hội, phân loại các hình thức phản ứng xã hội, xây dựng hệ tiêu chí đánh giá phản ứng xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1 NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

Có thể thống kê thành 3 nhóm sau đây của các nhà nghiên cứu nước ngoài về phản ứng xã hội:

Thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết về phản ứng xã hội được thể hiện

trong các công trình của Russell Huebsch (2003): Social Reaction Theory [“Lý

thuyết phản ứng xã hội”], của Jarn R (2008): Social Reaction or Labeling

Theory [“Lý thuyết nhận diện phản ứng xã hội”], của Wellford, C (1975): Labeling Theory and Criminology An Assessment - Social Problems [“ Lý

thuyết nhận diện và đánh giá tội phạm học - Những vấn đề xã hội”] Các nghiên cứu này đã đưa ra quan niệm về phản ứng xã hội, phân lọai phản ứng xã hội, bước đầu chỉ ra chức năng ( cả phản chức năng) của phản ứng xã hội , tác động của nó đối với quản lý phát triển xã hội

Thứ hai, các nghiên cứu phân tích hình thức và cơ chế biểu hiện của

phản ứng xã hội, bản chất của nó trong giải quyết các quan hệ xã hội mang tính cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng Đáng chú ý là nghiên cứu của Sanna Eronen (2006): Social Reaction Styles, Interpersonal Behaviours and Person Perception: A Multi-Informant Approach [“Các hình thức phản ứng xã hội,

nhận thức con người và cách hành xử cá nhân với nhau: một sự tiếp cận nhiều nguồn tin”] Hình thức của phản ứng xã hội được đề cập ở các nghiên cứu này rất đa dạng bao gồm cả cá nhân và tập thể, theo kiểu lan truyền đám đông Cơ

chế phản ứng xã hội có khi thông qua ngôn luận hoặc hành động cụ thể mà

Trang 4

8

hậu quả của nó rất khó định lượng Phản ứng xã hội do xung đột về giá trị,

đức tin tôn giáo được đề cập trong nghiên cứu của Frederic Harrison (1913):

The positive evolution of religion: its moral and social reaction [“Sự tiến triển

tích cực của tôn giáo: luân lý và phản ứng xã hội”

Thứ ba, các nghiên cứu về phản ứng xã hội biểu hiện thành xung đột

xã hội Đây là loại công trình được nghiên cứu rất phổ biến ở phương Tây

Tiêu biểu là các nghiên cứu của Collins R (1974), “The basic of conflict

theory, Conflict sociology [“Vấn đề cơ bản của xung đột xã hội, xã hội học

xung đột”], của Coser L (1956): The Funcions of social conflict” [“Các chức

năng của xung đột xã hội”], Dahrendorf R với “Class and class conflict in

industrial society” (1929) [“Giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công

nghiệp”] và Park R.E and Burgess E.W với “Competition, Conflict,

accomomdation and Assimilation” (1977) [“Cạnh tranh, xung đột, thích nghi

và đồng hoá”]… Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng phản ứng xã

hội tồn tại một cách khách quan nhưng có khả năng chuyển hoá thành xung

đột xã hội hay không lại chịu sự tác động của nhiều tác nhân khác nhau Phản

ứng xã hội nếu không được nhận diện, xử lý và hoá giải thấu đáo thường tích

tụ, dồn nén, biến thái thành các xung đột xã hội trên phạm vi rộng lớn hơn

2.2 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Các nghiên cứu về phản ứng xã hội ở Việt Nam tuy có muộn hơn so

với nước ngoài, nhưng các chiều cạnh của phản ứng xã hội cũng được đề cập

khá phong phú

Thứ nhất, các bài viết đề cập đến các dạng thức phản ứng xã hội bột

phát gây bức xúc trong xã hội, thường bộc lộ một cách nhanh chóng, sôi

động, có ảnh hưởng lan toả trong xã hội Đó là các bài viết đề cập đến các

phản ứng xã hội biểu hiện bằng hành động xã hội của Lê Xuân Thanh:

“Những vấn đề đình công và giải quyết đình công” [2010], của Điền Bắc -

Nguyễn Duy: “Vụ TP Vinh khốn đốn vì rác: Hàng trăm người lập chốt chặn

xe rác” [2001], của Công Bính: “Dân chặn xe vì quá bụi, gần 100 xe chở đất

9

“tê liệt” [2011], của Phong Cầm - Hữu Cẩm: “Gần 2.000 công nhân đình

công” [2011] Nhiều bài viết chỉ rõ, trong thời gian qua, phản ứng xã hội

diễn ra trên nhiều mặt của đời sống khi đụng chạm đến lợi ích của một nhóm

xã hội cụ thể, trong đó đình công của công nhân, phản ứng có tính đám đông của nông dân ở vùng thu hồi đất phục vụ xây dựng khu công nghiệp là những vấn đề thường nổi bật, thu hút sự quan tâm của dư luận và các nhà quản lý Cũng có những phản ứng xã hội xuất hiện trước một tình huống cụ thể thể hiện qua bài viết … Nó cho thấy tính phong phú, đa dạng của phản ứng xã hội trong muôn mặt của đời sống con người mà các nhà quản trị phát triển xã hội luôn phải trù liệu đầy đủ

Thứ hai, Các nghiên cứu đề cập đến phản ứng xã hội dưới hình thức

ngôn luận, đặc biệt thông qua phản biện xã hội của giới tinh hoa Đây có thể được xem là phản ứng xã hội đặc thù của một bộ phận nhỏ trong xã hội thu hút

được sự quan tâm của cả phía người dân lẫn các nhà hoạch định chính sách Có

thể kể các công trình nghiên cứu của Kiên Định: “Phản biện xã hội - nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội” [2007], Nguyễn Trần Bạt: “Phản biện xã hội” [2009], Chính Tâm: “Phản biện xã hội và sự phát triển của Việt Nam” [2007], Trịnh Duy Luân: “Một số vấn đề về tham gia xã hội và phản biện xã hội” [2009]… đã chỉ ra một số hình thức đặc thù của phản ứng xã hội mà nếu các nhà quản lý biết cách lắng nghe, xử lý sẽ cung cấp các thông tin đầu vào

có chất lượng cho các quyết định quản lý

Thứ ba, Các nghiên cứu đề cập đến môi trường, công cụ, không gian,

điều kiện, cơ chế cho bộc lộ phản ứng - xung đột xã hội Công cụ, phương

tiện giúp bày tỏ phản ứng xã hội được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm là

báo chí, truyền thông, đặc biệt qua nghiên cứu của Phan Văn Tú: “Truyền

thông và dư luận xã hội” [2006], của Đỗ Chí Nghĩa :"Vai trò báo chí trong định

hướng dư luận xã hội" [2009], của Minh Đăng: “ Báo chí khẳng định vai trò diễn đàn phản biện xã hội” [2011] Các nghiên cứu này cho rằng, báo chí giúp bộc lộ phản ứng xã hội một cách gián tiếp, nhưng rất thụ động, tạo ra dư luận

Trang 5

nhanh chóng, nhưng cũng dễ sai sót Vì vậy, để phản ứng xã hội thông qua

báo chí có tác dụng định hướng dư luận đòi hỏi phải phát huy trách nhiệm xã

hội của báo chí, của nhà báo và từng tờ báo Phản ứng xã hội còn có thể bộc lộ

ở nhiều môi trường phong phú khác nhau, nhất là những nơi tụ tập đông người,

được thể hiện qua nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh, Trịnh Ngọc Hà: “Không

gian bán công và sự hình thành dư luận xã hội: Nghiên cứu trường hợp quán

cà phê ở Hà Nội” [2009] Tất nhiên, từ phản ứng xã hội đến dư luận xã hội là

hai khoảng cách khác nhau về tính chất của phản hồi xã hội

Thứ tư, Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phản ứng xã hội với

xung đột xã hội Đáng chú ý trong nhóm nghiên cứu này là công trình cura

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của chính phủ:

“Tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo về đất đai” [2009], của Phan Tân: “Xung đột xã hội về đất đai ở nông

thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ)” [2009], của Thế Cường:

“Góp phần tìm hiểu biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay” [2010], của Nguyễn

Đình Tấn (chủ biên): “Xu hướng phân tầng xã hội trong quá trình phát triển

kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [2010], của Hồ Bá Thâm - Nguyễn

Trần Dương: “Kinh tế thị trường và mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa nhóm

trục lợi và nhóm thiệt hại hiện nay” [2010], của Thanh tra chính phủ: “Khiếu

nại, tố cáo đông người - Đất đai vẫn là điểm nóng” [2010], của Trần Văn

Long: “Bàn về xung đột lợi ích” [2011]… Các nghiên cứu trên đề cập đến các

dạng thức phản ứng xã hội chuyển hóa thành xung đột xã hội cần được quan

tâm đặc biệt Trong đó, đáng chú ý là những nỗ lực truy tìm cơ sở kinh tế - xã

hội của các phản ứng xã hội, đặc biệt là lợi ích của các nhóm xã hội, từ đó

khuyến nghị giải pháp phải bắt đầu từ hài hòa hóa quan hệ lợi ích Một hướng

nghiên cứu khác lại truy tìm nguồn gốc phản ứng xã hội từ yếu tố tâm lý như

các công trình của Nguyễn Văn Hiện: “Giải tỏa xung đột trong khiếu kiện của

công dân dưới góc độ tâm lý học” [2009], của Vũ Trung Quý: “Bàn về khái

niệm “đám đông gây rối an ninh trật tự” [2007] Các nghiên cứu trên đã đề cập

đến phản ứng xã hội biến thành đám đông, mang tính xã hội rộng lớn mà bất

cứ hệ thống quản lý nào cũng không thể xem thường Cơ chế tâm lý gây nên

phản ứng xã hội được bàn sâu hơn trong bài viết của Lưu Song Hà: “Tâm trạng của người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp liên quan đến việc làm” [2008], của Lê Văn Hảo: “Hành vi xã hội trong một số tình huống (trường hợp một xã ven đô” [2009], của Phan Thị Mai Hương:

“Tâm trạng của các nhóm dân cư Đà Nẵng trước những biến đổi về xã hội do tác động của đô thị hóa” [2009]… Đây thường là những phân tích trường

hợp, được lưu ý tới là các nhóm cư dân đô thị bị mất đất, với các biểu hiện tâm lý bất thường có thể gây nên các phản ứng xã hội mà giải quyết chúng phải bằng các chính sách hợp lý về đền bù đất đai đồng thời tránh bị kích động tâm lý tạo nên đám đông

Thứ năm, Các nghiên cứu về quản trị phản ứng xã hội có ý nghĩa đặc

biệt quan trọng đối với quá trình triển khai đề tài này Công trình nghiên cứu

của Bùi Thị Xuân Mai: “Lắng nghe - một kỹ năng tham vấn cơ bản của cán

bộ xã hội” [2007] đã chỉ ra một cách thức quan trọng để thâu nhận các phản

ứng xã hội là lắng nghe ý kiến của người dân, quan sát các động thái ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, phân tích các tác nhân với người dân khi xuất hiện các phản ứng Điều này rất cần thiết với mọi cán bộ lãnh đạo - quản

lý chứ không chỉ riêng cán bộ làm công tác xã hội Tính pháp lý khi nhìn nhận, đánh giá, phân tích một trường hợp cụ thể của phản ứng xã hội được

phân tích trong nghiên cứu của Vũ Quỳnh: “Không dễ đình công đúng luật” [2010], của Ngọc Hùng: “Chuyện đình công - đôi điều suy nghĩ” [2010], của Bảo Chân: “Đình công bất hợp pháp có dấu hiệu gia tăng Vai trò của công đoàn ở đâu?” [2010]… Các bài viết cũng đề xuất cần xây dựng hệ thống

pháp luật đồng bộ đảm bảo quyền phản ứng xã hội và phòng ngừa các xung đột xã hội có khả năng gây bất ổn xã hội, đe dọa đến an ninh quốc gia, trật tự

an toàn xã hội Đặc biệt, một số nghiên cứu trên bình diện rộng lớn hơn của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã đề xuất hướng quản trị phản

Trang 6

12

ứng xã hội từ thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các nguyên nhân kinh tế

- xã hội phát sinh phản ứng xã hội như bài viết của Phạm Quốc Anh (chủ

biên): “Một số tình hình và giải pháp phòng ngừa, giải quyết “điểm nóng” ở

cơ sở nông thôn nước ta” [2000], của Châu Thanh: “Giá trị của sự đồng

thuận” [2007], của Nguyễn Thị Kim Ngân: “Triển khai đồng bộ các giải pháp

thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng ta về các vấn đề xã hội” [2008], của

Nguyễn Thị Mai Anh: "Điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng

sông Hồng - Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm" [2008], của

Nguyễn Ngọc Điện: “Giải quyết xung đột lợi ích” [2009], của Võ Khánh Vinh

(chủ nhiệm): “Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội trong quá trình phát

triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: cơ sở lý luận và thực tiễn” [2009],

của Hoàng Chí Bảo (chủ biên): “Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới” [2010], của Trần Đức

Cường (chủ biên): “Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý

phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam” [2010], của Đinh Xuân

Lý (chủ biên): “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời

kỳ đổi mới: Mô hình, thực tiễn và kinh nghiệm” [2010], của Lưu Văn Sùng:

“Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền

núi trong những năm gần đây hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm

trong xử lý tình huống” [2010], của Nguyễn Vũ Tiến: “Lý thuyết chung về

quản lý xã hội” [2010], của Võ Khánh Vinh (chủ biên): “Xung đột xã hội một

số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” [2010]… Nhìn chung, các nghiên

cứu đều xem phản ứng xã hội phải được giải quyết bằng nhiều biện pháp cả

kinh tế - xã hội thông qua hài hòa hóa lợi ích, đảm bảo phúc lợi con người lẫn

tác động đến hành vi thông qua tôn trọng các giá trị, xử lý các yếu tố thuộc về

tâm lý ở những thời điểm cụ thể

Các nhóm nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng cho nghiên

cứu đề tài này, gồm cả cung cấp tư liệu và cách tiếp cận Tuy vậy, các nghiên

cứu trên mới chỉ là các nghiên cứu ở một vài trường hợp đơn lẻ của phản ứng

13

xã hội, nhất là chưa phân loại rõ các loại hình phản ứng xã hội, chưa nghiên cứu sâu về các tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quá trính quản lý phát triển xã hội ở nước ta

III MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Nhận diện, phân loại các hình thức phản ứng xã hội

- Đề xuất hệ tiêu chí cơ bản để đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

- Tiếp cận hệ thống:

Với cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu phản ứng xã hội được đặt trong tổng thể các vấn đề xã hội của đất nước và thế giới; giữa nghiên cứu phản ứng xã hội với phản biện xã hội, xung đột xã hội và rộng hơn là quản lý và phát triển xã hội Cách tiếp cận này cho phép định vị phản ứng xã hội trong các vấn đề xã hội

và các mối quan hệ tương tác của các bộ phận cấu thành của phát triển xã hội

- Tiếp cận lịch sử - cụ thể:

Tiếp cận lịch sử - cụ thể đòi hỏi nhận diện và phân tích phản ứng xã hội gắn với bối cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước, của thời cuộc, của từng thời điểm, từng địa bàn nhất định Phải trên quan điểm lịch sử - cụ thể mới cắt nghĩa được các chiều cạnh của thực trạng, đề xuất tiêu chí đánh giá phản ứng

xã hội - xung đột xã hội sát với thực tiễn đất nước, đặc điểm từng hình thức phản ứng xã hội, đặc biệt là những dấu hiệu mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế thị trường, toàn cầu hóa Tiếp cận lịch sử - cụ thể còn phải xem xét phản ứng xã hội trong điều kiện nền chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền để theo đó có tiêu chí đánh giá thích ứng trong thâu nhận, xử lý và đo đạc các phản ứng xã hội

- Tiếp cận chức năng:

Tiếp cận chức năng cho phép làm rõ chức năng của phản ứng xã hội

đối với bản thân chủ thể phát sinh phản ứng đó cũng như với cộng đồng xã

Trang 7

hội; phản chức năng của phản ứng xã hội nếu không được định hướng hành vi

và kiểm soát hợp lý; loạn chức năng nếu bị các tác nhân bên ngoài lợi dụng,

tác động ngoài khả năng kiểm soát của bản thân từng chủ thể và hệ thống

quản lý

4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ

- Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Phương pháp phân tích được sử dụng trong phân tích tài liệu, văn bản,

công trình nghiên cứu liên quan

- Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp chuyên gia nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia về

xã hội học hành vi, xã hội học xung đột, tâm lý học, văn hóa học

- Phương pháp phỏng vấn:

Đưa ra các câu hỏi cho người đối thoại để thu thập thông tin Chọn

người đối thoại theo mức độ am hiểu vấn đề (rất am hiểu, am hiểu ít, hoàn

toàn không hiểu), thông qua các phỏng vấn khác nhau (có chuẩn bị trước,

không chuẩn bị trước; trao đổi trực tiếp; trao đổi qua điện thoại; phỏng vấn

để biết và phỏng vấn sâu)

Mặc dù không có điều kiện để thực hiện đề tài qua phương pháp điều

tra xã hội học, nhưng các thành viên tham gia đề tài hầu hết là giảng viên

của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có điều kiện

thực tế và giảng dạy tại nhiều địa phương nên thuận lợi trong nghiên cứu

thực tế và tiến hành phương pháp phỏng vấn khá hiệu quả, thiết thực cho đề

tài với nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chung và cụ

thể còn có sự kết hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra

V GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu phản ứng xã hội có phạm vi nghiên cứu rất rộng cần có

sự phối hợp của nhiều nghành và thời gian nghiên cứu phù hợp

Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu quản trị phản ứng xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay, phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc chỉ đề cập đến một loại phản ứng xã hội được xem là bức xúc, nhạy cảm hiện nay, đó là phản ứng - xung đột xã hội, một trong những phản ứng cấp độ cao

Những vụ việc thực tế được dẫn làm minh chứng cho sự phân tích có liên quan đến phản ứng - xung đột xã hội ở khoảng thời gian hai thập niên gần đây

VI Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

6.1 Ý NGHĨA VỀ PHƯƠNG DIỆN LÝ LUẬN Góp phần xây dựng tiêu chí đánh giá phản ứng xã hội - xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tình hình hiện nay 6.2 Ý NGHĨA VỀ PHƯƠNG DIỆN THỰC TIỄN

Góp phần vào việc quản trị các phản ứng xã hội, nhất là quản trị xung đột xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

VII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về phản ứng xã hội Chương 2 Thực trạng phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý phát

triển xã hội ở nước ta hiện nay

Chương 3 Tiêu chí đánh giá phản ứng - xung đột xã hội trong quản lý

phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 8

16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ PHẢN ỨNG XÃ HỘI

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Phản ứng xã hội liên quan trực tiếp đến vấn đề ổn định xã hội, quản

lý phát triển xã hội Phản ứng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội

loài người Khi nhân loại bước vào toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường,

hội nhập sâu về kinh tế, văn hóa, xã hội chúng ta càng dễ nhận thấy một vấn

đề hình như có tính quy luật: ở nước nào có sự phát triển kinh tế nhanh,

chuyển biến xã hội chưa theo kịp với chuyển biến kinh tế thì càng dẫn đến

biến động nhanh về kết cấu xã hội, điều chỉnh bố cục lợi ích và thay đổi trong

quan niệm tư tưởng dẫn đến nhiều lợi ích, mục đích, giá trị bất tương đồng,

đôi khi còn loại trừ nhau và tương ứng với nó càng có nhiều mâu thuẫn, nhiều

nguồn phản ứng xã hội tiềm ẩn

Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, ở nước ta, phản ứng xã hội

biểu hiện ở cấp độ cao - xung đột xã hội có chiều hướng gia tăng trên nhiều

lĩnh vực của đời sống xã hội Tình hình trên đang đặt ra cho công tác quản lý

xã hội, quản lý phát triển xã hội những nhiệm vụ mới, phức tạp, nặng nề và

khó khăn hơn Chỉ giới hạn trong lĩnh vực quản lý xung đột xã hội không thôi

cũng cho thấy nếu thiếu sự hiểu biết khoa học về phản ứng xã hội, nhận diện,

đánh giá phản ứng xã hội thiếu chính xác, thiếu sự sáng tạo trong quản lý

không thể có hiệu quả cao khi giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn

để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

1.1.1 Khái niệm phản ứng:

Khi khái quát và làm rõ cơ sở lý luận của phản ứng xã hội và dạng

biểu hiện rõ nhất của nó là phản ứng - xung đột xã hội chúng tôi dựa vào nội

hàm và đặc tính của phản ánh tâm lý có ý thức của con người

17

Thuật ngữ phản ứng theo La tinh bao gồm: re - đáp lại, chống lại kết hợp với từ actio - có nghĩa là hành động Kết hợp nghĩa của hai từ trên có thể hiểu phản ứng là hành động đáp lại khi có tác động

Trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Minh Tân, Thanh Nghi và Xuân

Lãm, khái niệm phản ứng được thể hiện ở hai nghĩa:

- Ở nghĩa thứ hai bao gồm:

+ Có phản ứng trước một tác động, một sự việc nào đó

+ Có phản ứng trước những kích thích nào đó đối với cơ thể

+ Tham gia vào một phản ứng hóa học1

Trong "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" của Nguyễn Lân, khái niệm phản

ứng được hiểu theo các nghĩa sau đây:

+ Chống đối lại một sự việc, một hành động

+ Sự chống lại một việc làm mà mình không tán thành

+ Hiện tượng sinh lý xảy ra sau khi cơ thể bị kích thích

+ Hiện tượng hóa học xảy ra khiến những hóa chất tiếp xúc với nhau

và có tác động qua lại2 Như vậy theo nhận thức chung, hàm nghĩa của khái niệm phản ứng ngoài việc ám chỉ sự đáp lại trước kích thích bên ngoài hay bên trong còn bao gồm các loại hình và mức độ phản ứng (phản ứng hóa học, phản ứng sinh học)

1 Từ điển tiếng Việt, (1998), Nxb Thanh Hóa, tr 914

2 NguyÔn L©n,(2000) Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1422

Trang 9

- Phản ứng hóa học là sự chuyển hóa chất này thành chất khác mà nó

có thành phần tính chất khác với chất ban đầu

- Phản ứng sinh học: Phản ứng thích nghi của động vật và của con

người bị quy định bởi sự kích thích các bộ phận tiếp nhận và bởi hoạt động

của hệ thần kinh trung tâm ở những mức độ khác nhau Ở động vật và người

các phản ứng được thể hiện ở hai loại phản xạ: Phản xạ không điều kiện và

phản xạ có điều kiện Hiện tượng hành động tâm lý có bản chất phản xạ đã

được chứng minh bởi các nhà sinh lý học nổi tiếng Xê-trô-nốp và I.Ráp-lốp

+ Phản xạ không điều kiện là những phản ứng đáp lại có tính chất bẩm

sinh của cơ thể giống nhau ở các cơ thể riêng biệt thuộc cùng một loài

Những phức thể phức tạp và những chuỗi phản xạ không điều kiện

được gọi là những bản năng và chúng có được do cơ chế di truyền

+ Phản xạ có điều kiện là những phản ứng mà cơ thể có được trong

đời sống đểđáp ứngsự kích thích các bộ phận tiếp nhận; ở sinh vật bậc cao

và ở người các phản xạ có điều kiện được hình thành bằng cách tạo nên

những dây liên hệ thần kinh tạm thời trong vỏ não và dùng làm cơ chế để

thích nghi với những điều kiện thay đổi phức tạp của môi trường bên ngoài1

Khái niệm phản ứng được sử dụng trong đề tài này chính là những

phản xạ có điều kiện của các cá nhân, các nhóm xã hội nhằm đáp lại sự tác

động từ môi trường tự nhiên và xã hội có liên quan đến sự thỏa mãn hay

không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân hay của nhóm xã hội đó

Trong cuộc sống cá nhân hay nhóm xã hội trước tác động của hiện

thực đều có sự phản ứng đáp trả lại mà nó được biểu hiện chủ yếu dưới dạng

thái độ (attitude)

Như vậy, trên thực tế việc nghiên cứu phản ứng của con người trước

tác động của hiện thực được quy thành nghiên cứu thái độ mà tập trung chủ

hệ thống chỉ bắt đầu vào những năm 50 của thế kỷ XX dưới góc độ tâm lý học

xã hội Trong các nghiên cứu của M Rokeach (1968), M.P Zanna và J R.Rempell (1988), W.J.Me Guire (1969, 1985) đã đưa ra những quan niệm, làm rõ cấu trúc và chức năng của thái độ.1 Một số lý thuyết khác như " Thuyết bất đồng nhận thức", "Thuyết tự thể hiện", "Thuyết tự tin " cũng đã tập trung nghiên cứu sự hình thành, thay đổi thái độ, các thang độ thái độ2

Những nghiên cứu về thái độ được chú trọng ở Đức, đặc biệt là ở Liên

Xô cũ như: Thuyết định vị của V.A Iadov, Thuyết thái độ nhân cách của V.N.Miaxisev, Thuyết thái độ chủ quan của B.Ph.Lomov và nhất là Thuyết tâm thế của D.N Uzatze3

Trong lý thuyết tâm thế D.N Uzatze đã làm rõ :

- Về khái niệm: Tâm thế là một trạng thái tâm lý hoàn thiện, là tâm trạng của cá nhân trong một hành động nhất định

- Muốn có tâm thế thực hiện hành động thì người đó phải có nhu cầu

về hành động đó và phải ở trong một tình huống tương ứng

- Khi tâm thế xuất hiện ở con người thì những đặc điểm của nhận thức, sự đánh giá và hành vi của người đó đều do tâm thế xác định

- Các nhân tố làm kích thích tâm thế bao gồm:

+ Các nhu cầu của con người + Sự nhận thức về bản thân + Hiện thực vật chất

1 Guire MC, W.J.(1985) Attitudes and Action Change, Handbook of Social Psychology, vol 2, New York

2 Festinger, L.A, (1957), Theory of Conitive Dissonance, Evansnton, III: Row Peterson

3 Xem: S.A.Naddivasnili: Tâm lý học tuyên truyền, Nxb Thông tin lý luận, H, 1984 Bản dịch tiếng Việt

Trang 10

20

+ Những yêu cầu xã hội: môi trường văn hóa và xã hội, các nhóm xã

hội riêng biệt, các nhóm chuẩn nhỏ mà cá nhân đang sống

- Chức năng của tâm thế là lựa chọn từ môi trường xung quanh con

người và từ nhận thức, cảm xúc, kinh nghiệm của những khách thể cần thiết

cho việc thực hiện hành vi

- Tâm thế có tính hai mặt - con người có thái độ khẳng định hay phủ

định đối với những khách thể Thái độ này có tính chất tình huống, thời điểm

song nó cũng có thể định hình và ổn định

- Các thành phần của tâm thế gồm: nhận thức, xúc cảm - tình cảm và

hành vi Trong ba thành phần trên, hành vi là hình thức biểu hiện cụ thể nhất

của thái độ

- Khái niệm tâm thế được hiểu đồng nghĩa với khái niệm thái độ (attitude)

Từ những điều đã phân tích và khái quát ở trên có thể đi đến lựa chọn

quan niệm về phản ứng như sau:

Phản ứng là thái độ (attitude) hay tâm thế của cá nhân mà biểu hiện

cụ thể nhất của nó là hành vi đáp trả lại tác động của hiện thực dưới hình

thức khẳng định hay phủ định khi những tác động đó có liên quan đến việc

thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân đó

1.1.2 Khái niệm phản ứng xã hội:

Từ việc khái quát và làm rõ khái niệm phản ứng có thể hiểu khái niệm

phản ứng xã hội như sau:

Phản ứng xã hội là sự đáp trả lại của các cá nhân trong mỗi nhóm xã

hội, giữa các nhóm xã hội và xã hội nói chung dưới dạng cụ thể, nhất là hành

vi trước tác động nào đó của hiện thực dưới hình thức khẳng định hay phủ

định những tác động đó có liên quan tới việc thỏa mãn hay không thỏa mãn

nhu cầu của họ

Phản ứng xã hội dưới dạng hành vi xã hội - hành vi của nhiều người

thông thường là hành vi có mục đích, có ý thức Khuynh hướng, tính chất,

21

mức độ của các phản ứng xã hội dưới dạng hành vi xã hội phụ thuộc vào mức

độ nhận thức, cảm xúc của các chủ thể và tình huống hiện thực

Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học như M.Smith - người Mỹ, năm 1942, Fishbein và Ajzen (1975), Rokeach (1968), Đ.N Uznatze (1950), S.A.Nadirasvili (1980) đã chỉ ra rằng hành vi của các cá nhân hay hành vi của nhóm diễn ra như thế nào trước tiên phụ thuộc vào sự nhận thức (quan điểm),

sự hiểu biết về đối tượng gây ra phản ứng và xúc cảm, tình cảm (sự hài lòng hay bực tức, đồng tình hay phản đối, quan tâm hay thờ ơ ) của các chủ thể hành vi Nhận thức, cảm xúc, hành vi của các chủ thể hành động hay ở mỗi cá nhân có mối liên hệ, tác động lẫn nhau Thí dụ: một người có hành vi đạo đức đúng đắn thì thường người đó có nhận thức, tình cảm đạo đức đúng về đối tượng đó Tuy nhiên, trong cuộc sống của con người mối quan hệ giữa ba mặt trên không phải lúc nào cũng như vậy Có người có hành vi đạo đức đúng đắn song chính người đó chưa chắc đã có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đối tượng hay ngược lại

1.1.3 Khái niệm xung đột xã hội:

Xung đột xã hội xuất hiện rất sớm trong xã hội loài người Từ xã hội nguyên thủy, trong quá trình hoạt động chung của nhóm, xung đột đã xuất hiện ở mức độ khác nhau Đến khi xã hội có giai cấp, có nhà nước, xung đột

xã hội đã phát triển đa dạng về hình thức và chủng loại trở thành vấn đề trọng tâm trong quản lý xã hội Như vậy về mặt khách quan, xung đột xã hội là hiện tượng bình thường trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào, nó là điều kiện tất yếu của

sự phát triển xã hội

Cho đến nay xung đột xã hội đã được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu như: xã hội học, tâm lý học xã hội và đôi khi còn cả ở bình diện triết học, kinh tế - chính trị học Có thể khái quát một số quan điểm về xung đột như sau:

- Thời cổ đại, các nhà triết học mà tiêu biểu là Heerraclit dựa trên hệ thống những quan niệm chung về thế giới quan cho rằng các cuộc chiến tranh

Trang 11

và xung đột là quy luật thống trị trên hành tinh, là thuộc tính quan trọng và tất

yếu của đời sống xã hội

- Thời cận đại, các nhà tư tưởng như J.J.Russo, I Kant cũng đã chú

trọng đến xung đột xã hội và cho rằng sự đồng thuận giữa mọi người giữ vai

trò quyết định đối với sự phát triển xã hội; các ông phê phán chiến tranh và

những hiện tượng nổi loạn ở thời kỳ đó Heghen cũng nói đến vai trò của

chiến tranh đối với sự phát triển xã hội

- Những nghiên cứu về xung đột xã hội ở phương Tây từ giữa thế kỷ

XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX trên phương hướng có tính phương

pháp luận của chủ nghĩa Darwin về xã hội và sự phát triển của các khoa học

như xã hội học, chính trị học, luật học đã rút ra những luận điểm hiện đại về

xung đột xã hội như:

+ Xung đột xã hội là hiện tượng xã hội bình thường bởi vì trong bản

chất con người luôn chứa đựng những yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội làm nảy

sinh xung đột xã hội

+ Xung đột xã hội có vai trò tích cực đối với quá trình phát triển xã hội

+ Sự mâu thuẫn giữa số ít những người thống trị với số nhiều những

người bị thống trị làm phát sinh các va chạm, mâu thuẫn và xung đột xã hội

+ Có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa sự thay đổi trên các lĩnh

vực kinh tế, chính trị, xã hội với các tình huống xung đột

+ Những xung đột xã hội nếu được nhận diện đúng, giải quyết tốt sẽ

tạo ra sự cân bằng nhất định về mặt xã hội

Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xung đột xã hội

đã được quan tâm nghiên cứu không chỉ ở phương Tây, mà còn ở nhiều nước

trên thế giới từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cơ bản nhất vẫn là cách

tiếp cận xã hội học Các lý thuyết về xung đột xã hội của xã hội học và tâm lý

học xã hội như: lý thuyết vai trò, lý thuyết tiếp biến văn hóa, lý thuyết trung

tâm - ngoại vi, lý thuyết xã hội nhiều thể chế1, có thể khái quát như sau:

1

Vũ Quang Hà: Xã hội học đại cương, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002, tr 122 - 123

- Xung đột xã hội là sự mâu thuẫn xã hội căng thẳng nhất thể hiện sự xung khắc giữa các cộng đồng xã hội khác nhau - các giai cấp, các chủng tộc, các quốc gia, các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội do sự đối lập hoặc sự khác biệt đáng

kể về lợi ích, mục đích, khuynh hướng phát triển của chúng quyết định

- Xung đột xã hội là sự đụng độ trực tiếp hay gián tiếp của lực lượng

xã hội trên cơ sở phản kháng hay ủng hộ trật tự xã hội hiện tại, là hình thức đặc biệt về mặt lịch sử của sự thống nhất mới về mặt xã hội

- Xung đột xã hội là tình huống khi hai bên tác động lẫn nhau, theo đuổi những mục đích nào đó của mình và những mục đích đó độc lập hoặc loại trừ nhau1

- Xung đột xã hội được hiểu là tình huống hoặc quá trình xã hội mà trong đó tồn tại các mâu thuẫn về lợi ích giữa các cá nhân trong mỗi nhóm xã hội, giữa các nhóm xã hội và xã hội nói chung, thể hiện bằng sự đối lập, sự bất đồng, sự tranh chấp do khác nhau về nhận thức, thái độ, cảm xúc, nhu cầu, giá trị, mối quan tâm về nguồn lực tài nguyên - xã hội và đôi lúc được thể hiện bằng cả hành vi đụng độ, thù địch2

Từ các quan niệm dẫn ra ở trên cho thấy quan điểm tiếp cận chung về xung đột xã hội là định nghĩa nó thông qua mâu thuẫn với tư cách một khái niệm chung và trước hết là thông qua mâu thuẫn xã hội Song cần phải chú ý rằng mâu thuẫn xã hội và xung đột xã hội không phải là hai khái niệm đồng nghĩa Sự mâu thuẫn, sự đối lập là điều kiện cần nhưng chưa phải là đủ của xung đột Mâu thuẫn xã hội chỉ chuyển thành xung đột xã hội khi những lực lượng đại diện cho chúng bắt đầu tác động đến nhau

Tóm lại, có thể hiểu xung đột xã hội là sự biểu hiện đối đầu công khai

của những mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập

1 Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2010) Xung đột xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam , Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr 31 - 32

2 Phan Tân: Xung đột xã hội và đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới ( trường hợp tỉnh Hà Tây cũ), Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 21

Trang 12

24

giữa các chủ thể và những người tham gia vào tương tác xã hội mà nguyên

nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích và giá trị

Từ những luận giải trên và yêu cầu quản lý phát triển xã hội trong tình

hình thực tế nước ta hiện nay, đề tài lựa chọn quan điểm nghiên cứu như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về phản ứng xã hội

- Nhận diện ( qua phân loại) các hình thức phản ứng xã hội

- Từ thực trạng phản ứng - xung đột xã hội đề xuất hệ tiêu chí đánh

giá phản ứng - xung đột xã hội, kiến nghị một số vấn đề về quản trị phản ứng

- xung đột xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

1.2 P HÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC PHẢN ỨNG XÃ HỘI

Phản ứng xã hội là một dạng phản ứng của con người trước tác động

trái chiều ảnh hưởng đến lợi ích, nhu cầu xã hội về nguồn lực; trước sự đe dọa

có thể thay đổi nhận thức giá trị, niềm tin xã hội đang tuân thủ

Cơ sở để phân loại các hình thức phản ứng xã hội xuất phát từ những

quan niệm cơ bản sau:

- Phản ứng xã hội là hiện tượng xã hội khách quan, giải quyết quan

hệ xã hội trung tâm là lợi ích, hợp thành bản chất của mọi xã hội, chứ không

phải là một hiện tượng " lệch chuẩn xã hội" hay "hiện tượng bệnh lý"

- Phản ứng xã hội là biểu hiện mối quan hệ giữa các chủ thể khi giải

quyết quan hệ lợi ích mâu thuẫn nhau

- Khi phản ứng xã hội trở thành tiêu điểm, gây căng thẳng cho xã hội

thì nó sẽ trở thành vấn đề xã hội và được các cơ quan công quyền, người dân

quan tâm

- Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành hoạt động mang tính xã

hội của các cá nhân, nhóm Trong phản ứng xã hội, hành động xã hội là để giải

quyết các mâu thuẫn xã hội, các vấn đề nảy sinh của cá nhân, nhóm xã hội

- Nếu mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối

lập của xã hội thì phản ứng xã hội là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập của xã

25

hội; và ở mặt nào đó, phản ứng xã hội là một phương thức giải quyết mâu thuẫn xã hội

Về cơ bản, có 2 cách phân loại các hình thức phản ứng xã hội:

1.2.1 Phân loại phản ứng xã hội theo hình thức biểu hiện:

Phản ứng xã hội được biểu hiện ở hai cấp độ: Cấp độ thấp và cấp độ cao

- Ở cấp độ thấp người ta thường sử dụng cách thức trao đổi, thương

lượng, thảo luận, thỏa thuận để tránh những phản ứng không đáng có hoặc phản ứng ở dạng bất cần hoặc sợ hãi

Ở cấp độ thấp, phản ứng xã hội chúng ta có thể thường thấy đó là sự e ngại của người dân trước một hiện tượng xã hội như: thực phẩm nhiễm bệnh thì họ sẽ phản ứng bằng cách ngờ vực, sợ hãi và tẩy chay Trước người có hành vi xấu thì họ không quan hệ, bất hợp tác hoặc bất cần Có những loại phản ứng phụ thuộc vào hoàn cảnh nhất định như, một người uống rượu vào buổi tối trước khi đi ngủ được cộng đồng cho là bình thường, nhưng anh ta uống đều các buổi sáng, buổi trưa thì cộng đồng có thể cho là anh ta " nghiện rượu", " nát rượu" Cao hơn một chút, đứng trước một chính sách được ban ra không phù hợp thì nhiều người phản ứng bằng cách " lách luật", lợi dụng sự

sơ hở nào đó để không chịu ảnh hưởng

- Ở cấp độ cao phản ứng xã hội thể hiện ở các dạng thức như sau:

khiếu nại, tố cáo, đình công, biểu tình, phản đối, ngăn cản, phá hoại, lật đổ Phản ứng ở cấp độ cao, có thể xem xét theo mối liên hệ đan cài nhau: biểu tình - phản biện - phản đối - xung đột

Biểu tình và phản biện là hai cấp độ phản ứng xã hội đối với chính

sách Biểu tình là phản ứng trực tiếp của người dân, phản biện là phản ứng của bộ phận điều tra chuyên nghiệp về các "cơn đau" của xã hội đối với các tác động khác nhau của chính sách trên báo chí hoặc dưới hình thức tuyên truyền nào đó về một vấn đề xã hội Hoạt động phản biện được thực hiện để

có được cái nhìn nhiều chiều, cái nhìn đối trọng với mong muốn vấn đề xã hội

sẽ tốt hơn lên, khoa học, công khai, minh bạch hơn Nếu không có phản biện

Trang 13

có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không cần đếm xỉa đến sự xác

nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó

Phản đối và phản biện xã hội là hai cách thể hiện những trạng thái

chính trị khác nhau của xã hội đối với nhà nước Phản biện là hoạt động thân

thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ

của hệ thống chính trị để tạo ra tính chính xác, tính đúng đắn của các quyết

định chính trị Còn phản đối là các phản ứng cực đoan ở những cấp độ khác

nhau, cùng phát triển với sự sai lầm của các quyết định chính trị

Phản đối là loại phản ứng xã hội bao gồm: biểu tình, xung đột và nếu

đạt đến mức cao nhất là cách mạng xã hội, thay đổi chế độ

Biểu tình và xung đột ở mức độ thấp có chức năng điều chỉnh xã hội

nhưng khi sự uất ức tồn tại dồn nén bên trong lòng xã hội đạt đến cao trào, đi

quá giới hạn chịu đựng của nó thì dễ xảy ra cách mạng xã hội, lúc này, chính

các tác nhân, các nhà chính trị khai thác và tổ chức sẽ trở thành các cuộc cách

mạng chính trị

Với mục đích ổn định xã hội và quản lý xã hội, trong các nghiên cứu

xã hội học thì chú trọng cấp độ cao của phản ứng xã hội Các dạng thức của

phản ứng xã hội ở cấp độ cao được quy định thành các xung đột xã hội Đây

cũng là lý do vì sao trong xã hội học người ta chỉ tập trung nghiên cứu những

vấn đề lý luận và thực tiễn của xung đột xã hội chứ ít chú ý nghiên cứu phản

ứng xã hội dưới góc độ xã hội học

1.2.2 Phân loại phản ứng xã hội theo lĩnh vực (nội dung):

Có thể kể 3 cách phân loại sau đây:

1.2.2.1 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào cách tiếp cận hệ thống:

Xã hội tồn tại với tư cách là một hệ thống, song điểu đó không có

nghĩa hệ thống đó có tính cố định, bất biến mà luôn có sự thay đổi thành phần

hay toàn bộ hệ thống Vì thế có thể phân loại phản ứng xã hội thành:

- Phản ứng xã hội về cấu trúc

- Phản ứng xã hội về chức năng

- Phản ứng xã hội bên trong hệ thống

- Phản ứng xã hội bên ngoài hệ thống

1.2.2.2 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào lĩnh vực thể hiện phản ứng:

Xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Vì thế có thể phân loại phản ứng xã hội thành:

- Phản ứng xã hội về vấn đề kinh tế

- Phản ứng xã hội về vấn đề chính trị

- Phản ứng xã hội về vấn đề văn hóa

- Phản ứng xã hội về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

- Phản ứng xã hội về vấn đề môi trường

1.2.2.3 Phân loại phản ứng xã hội dựa vào các tiêu chí khác:

- Theo số lượng và thành viên tham gia

- Theo mức độ phản ứng

- Theo động cơ phản ứng

- Theo độ dài thời gian diễn ra phản ứng

- Theo nguồn phản ứng (vật chất, tinh thần)

- Theo chủ đề

- Theo mức độ đối kháng

Trong đề tài, việc nghiên cứu để nhận diện phản ứng xã hội ở cấp độ ( hình thức)phản ứng - xung đột xã hội và theo lĩnh vực thể hiện (lợi ích, tôn giáo tín ngưỡng, tộc người, văn hoá)

1.3 CHỨC NĂNG CỦA PHẢN ỨNG XÃ HỘI Phải thừa nhận rằng, trong bất cứ tổ chức nào đều có một vài sự mâu thuẫn - xung đột, bởi đấu tranh vốn dĩ là vì sự sống còn của tổ chức Mọi tổ chức đều tồn tại trong một môi trường mà đòi hỏi cá nhân, nhóm phải cạnh tranh vì nguồn lực có hạn Thậm chí, trong những nhóm thân cận, vốn có truyền thống hợp tác phát triển, đến một lúc nào đó nguồn lực cũng hạn chế, khan hiếm thì phản ứng - xung đột có thể xảy ra ở một mức độ nào đó, bất chấp việc các thành viên cố gắng hợp tác để phân phối nguồn lực như thế nào

Trang 14

28

Hơn nữa, không phải tất cả phản ứng - xung đột đều là xấu bởi vì một vài tình

huống phản ứng - xung đột còn tạo ra những kết quả tích cực mà một bên chủ

thể đã theo đuổi

Phản ứng - xung đột xã hội là khách quan, là điều kiện tất yếu của sự

phát triển xã hội Chính vì thế phản ứng - xung đột xã hội có hai chức năng cơ

bản là tích cực và tiêu cực Thực tế cho thấy tác động tích cực hay tiêu cực

của phản ứng - xung đột xã hội phần nhiều xuất phát từ chế độ xã hội và hiệu

quả quản lý phản ứng - xung đột

1.3.1 Chức năng tích cực của phản ứng xã hội:

Trong một xã hội dân chủ, công bằng, công khai với cấu trúc cởi mở

phản ứng xã hội có một số chức năng tích cực sau1:

- Phản ứng xã hội làm bộc lộ và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh

trong quan hệ con người và nhờ đó góp phần phát triển xã hội

- Trong xã hội cởi mở, phản ứng xã hội thực hiện các chức năng làm

ổn định và liên kết các quan hệ trong nội bộ tập đoàn và giữa các tập đoàn,

làm giảm sự căng thẳng xã hội

- Phản ứng xã hội làm tăng cường lực của các mối giao kết và quan

hệ, kích thích các quá trình xã hội, đem lại cho xã hội tính năng động, khuyến

khích sáng tạo và đổi mới, góp phần cho tiến bộ xã hội

- Khi ở trạng thái xung đột mỗi cá nhân ý thức rõ hơn về lợi ích của

mình cũng như lợi ích đối lập với họ; nhận biết đầy đủ hơn sự tồn tại những

vấn đề khách quan và các mâu thuẫn của sự phát triển xã hội

- Phản ứng xã hội góp phần tiếp nhận những thông tin về môi trường

xã hội xung quanh, về mối quan hệ qua lại giữa các tiềm năng lớn mạnh của

cạnh tranh thông tin

- Phản ứng xã hội - nhất là phản ứng xã hội ở cấp độ cao - xung đột:

xung đột nội bộ (trong tổ chức, xã hội) sẽ góp phần hình thành và duy trì thế

cân bằng lực lượng; giám sát xã hội việc tuân thủ các quy phạm, quy tắc, giá

Chức năng tích cực (có nhà nghiên cứu gọi là tính chức năng) của

phản ứng xã hội thể hiện qua mục đích thiết lập sự thống nhất hoặc tái lập thống nhất nội bộ nhóm ( kỷ cương, trật tự) vốn đã bị đe dọa bởi những mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại giữa các thành viên Bên cạnh thiết lập sự thống nhất

và tái thống nhất của nhóm, phản ứng xã hội điều chỉnh lại những quan hệ quyền lực và chuẩn mực đã được thỏa thuận giữa các cá nhân trong nhóm hoặc giữa các nhóm, đồng thời tăng cường tính đoàn kết nhóm trên cơ sở các khuôn mẫu( chuẩn mực) đã được điều chỉnh hoặc khuôn mẫu mới vừa được tạo ra Phản ứng xã hội là cơ chế cho sự điều chỉnh những khuôn mẫu thích

hợp với điều kiện mới - các chính sách xã hội thay đổi kịp thời, hợp lý hơn

Các phản ứng - xung đột nhỏ, nhanh kết thúc còn liệu pháp tâm lý giúp người

ta giải tỏa, xua đi lực nén, và như vậy, tránh được việc tạo nên tình trạng căng thẳng cao hơn, cho ta một lời cảnh báo: đừng để những sự việc nhỏ tích tụ, thành sự việc lớn làm cho việc khắc phục mất nhiều công sức và hậu quả tiêu cực của phản ứng - xung đột khó dứt trong một thời gian ngắn

1.3.2 Chức năng tiêu cực của phản ứng xã hội:

Phản ứng xã hội, nhất là xung đột xã hội dễ dẫn đến tình trạng lộn xộn

và mất ổn định xã hội khi:

- Tranh chấp được tiến hành bằng phương pháp bạo lực

- Hậu quả xung đột gây ra tổn thất lớn về vật chất, tinh thần

- Xuất hiện mối đe dọa đến đời sống và sức khỏe con người

- Có sự khích động, can thiệp của các thế lực thù địch

Việc nhìn nhận mặt tiêu cực của phản ứng xã hội( có nhà nghiên cứu

gọi là tính phản chức năng) cần khách quan, khoa học, tránh tình trạng cứ

xem phản ứng - xung đột là tiêu cực, là xấu dẫn đến khi giải quyết phản ứng - xung đột bằng phương pháp đàn áp, cứng rắn, cực đoan để " ổn định xã hội",

Trang 15

điều chỉnh khuôn mẫu, chuẩn mực, bóp chết " cảnh báo tích cực" sẽ là nguy

hiểm khó lường

Tác động của phản ứng xã hội trong quản lý xã hội nói chung, quản lý

phát triển xã hội nói riêng cũng được thể hiện do 2 chức năng nói trên của

phản ứng xã hội

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHẢN ỨNG - XUNG ĐỘT XÃ HỘI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 NHẬN DIỆN CÁC HÌNH THỨC PHẢN ỨNG - XUNG ĐỘT XÃ HỘI

2.1.1 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích:

Trong xã hội loài người, lợi ích là cái mà mỗi cá thể đều hướng tới trong tất cả các quan hệ Lợi ích thúc đẩy các hoạt động khác, và mỗi cá thể đều thể hiện tính lợi ích của mình thông qua mục đích và ý chí hành động Albion Woodbury Small, nhà xã hội học Hoa Kỳ, đã đưa ra lý luận về quá trình xã hội, lấy “lợi ích” làm khái niệm cơ bản Theo đó lợi ích vừa là nhu cầu, vừa là ước muốn của con người Toàn bộ đời sống của cá nhân, đời sống xã hội là quá trình phát triển, thích ứng và thoả mãn các lợi ích

Nguồn gốc của xung đột, suy cho cùng là vì lợi ích (lợi ích chính trị, kinh tế…) Xung đột lợi ích là trường hợp hai hay nhiều nhóm lợi ích trái ngược cạnh tranh để tồn tại1

Trong đề tài, phạm vi nghiên cứu tập trung vào các phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích kinh tế

Mọi chủ thể trong các quan hệ kinh tế, xã hội đều mang những tư lợi nhất định, có thể là lợi ích vật chất hoặc một dạng lợi ích khác như thăng tiến trong công việc, khả năng có mối hàng, khả năng có một vị trí lãnh đạo… Theo đuổi tư lợi là một điều hoàn toàn bình thường, nếu không có sự đối lập với yếu tố thứ hai, đó là trách nhiệm được uỷ thác Khi đó sẽ xuất hiện xung đột lợi ích Đây là một sự mẫu thuẫn mang tính đối kháng, một trong hai yếu

tố sẽ phải điều chỉnh để yếu tố còn lại tồn tại, phát triển hoặc cả hai phải dung hoà, biến đổi sang một trạng thái khác để cùng tồn tại Sự điều chỉnh của hai

1 Xem thêm Trần Văn Long: “Bàn về xung đột lợi ích”, trên trang http://www.giri.ac.vn

Trang 16

32

yếu tố trong quan hệ xung đột lợi ích sẽ ảnh hưởng tới việc thực thi trách

nhiệm được uỷ thác Việc điều chỉnh này mang tính bắt buộc và hệ quả là

trách nhiệm uỷ thác được thực thi theo hướng tiêu cực hay đúng đắn, khách

quan

Môi trường phát sinh các xung đột lợi ích rất đa dạng, không chỉ nảy

sinh giữa các cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp… với các quan hệ bên ngoài mà

còn mang tính nội tại, trong bản thân mỗi cá nhân, tổ chức

Trong thực tế, khi có xung đột lợi ích thì những người hoặc nhóm

những người thiệt thòi về lợi ích có thể có phản ứng như bất mãn, âm thầm

chịu đựng, mất dần niềm tin, phản ứng một cách tự phát và phản ứng bằng các

hình thức ở cấp độ cao - xung đột, ví dụ như các hình thức phản ứng (mà đề

tài tập trung nghiên cứu) sau đây:

Thứ nhất, khiếu nại và khiếu kiện của dân xuất phát từ xung đột lợi

ích về đất đai

Thứ hai, đình công, bãi công của công nhân trong các doanh nghiệp,

các khu công nghiệp đòi cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương, công bằng

và các lợi ích hợp pháp với các doanh nghiệp, chủ đầu tư sản xuất

Thứ ba, phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích về vấn đề môi

trường

2.1.1.1 Khiếu nại và khiếu kiện của dân xuất phát từ xung đột lợi ích

về đất đai:

Đất đai và các giá trị đất đai chưa được xem trọng trong xã hội bao

cấp, kinh tế tập thể - hợp tác xã, thì khi bước sang kinh tế thị trường, đất đai

được đưa về đúng giá trị thực của nó Đất đai đưa lại cho người ta sản phẩm,

tiền bạc (nếu mua bán, chuyển nhượng) giá trị đất đai thay đổi, nó trở thành

đối tượng, mục tiêu của cạnh tranh, xung đột Các xung đột liên quan đến đất

đai có nguyên do: từ diện tích đất để hoang hoá trong chiến tranh, đất hưu

canh, đất xáo trộn chuyển đổi trong quá trình gia nhập vào hợp tác xã, tập

đoàn sản xuất; do tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay

33

thì nguồn vốn từ đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng đã phải sử dụng một diện tích rất lớn đất sản xuất nông nghiệp, vì vậy cùng với mục đích đòi đền bù, đòi hỗ trợ kinh tế qua thu hồi đất là các mục đích đòi công bằng trong phân chia quyền lợi cho tập thể, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp; một phần còn do chính sách của Nhà nước và việc thực hiện chính sách của Nhà nước trong nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo báo cáo của cơ quan quản lý, tổng số vụ khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, xung đột ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xảy ra từ năm 1988-2005 là 198.632 vụ1 Số vụ xung đột liên quan đến đất đai chiếm 62,7%, các xung đột

có tính chất dân tộc, tôn giáo chiếm 0,9% và 2,3%; xung đột vì vi phạm chính sách, tham nhũng 6,1%; ngoài ra là các xung đột khác liên quan đến các bản

án dân sự, hình sự, các xung đột vì tư thù cá nhân, xung đột giá trị văn hoá, lối sống

Trong năm 2010, cả nước phát sinh 112.063 vụ khiếu nại, tố cáo, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó 70% vụ việc xảy ra trong lĩnh vực đất đai, gần 5% vụ việc liên quan nhà ở, đòi nhà cho thuê mượn, nhà thuộc diện cải tạo, còn nữa là các vụ việc liên quan đến hoạt động tư pháp, khiếu nại, tố cáo khác2

Kết quả khảo sát tại các thành phố Lạng Sơn, Nam Định, Huế và Thủ Dầu Một của Viện Konrad Adenauer và Hiệp hội Các đô thị Việt Nam cho thấy hai điểm mấu chốt trong xung đột giữa chính quyền và người dân về vấn

đề giải phóng mặt bằng là: khác biệt trong quan điểm về giá trị trên thị trường của tài sản đang được bàn đến và các vấn đề về tái định cư Người dân có quyền được đền bù nhà/tài sản có giá trị tương đương hoặc cao hơn nhưng hiếm khi có những tài sản như vậy tại thời điểm giải phóng mặt bằng

1 Phan Tân, Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà tây cũ), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 110

2 Báo cáo của Chính phủ về công tác dân nguyện và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2010,

tại Phiên họp thứ 35 UBTVQH khóa XII

Trang 17

Những khó khăn, vướng mắc liên quan đến các vấn đề trên biểu hiện ở

việc xác định diện tích, vị trí và phân loại đất (đất ở/đất vườn/đất nông

nghiệp; đất hợp pháp và không hợp pháp; đất trong và ngoài đô thị ); việc

xác định giá trị tài sản trên đất và di chuyển mồ mả; xác định giá đền bù; bố

trí chỗ ở mới Trong đó, giá đất đền bù thấp (so với giá thị trường) được đề

cập đến nhiều nhất1 Những tỉnh, thành phố có khiếu nại về đất đai chiếm số

lượng rất lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà

Tây, Thái Bình, Cần Thơ, Hải Dương, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng

Tàu, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng

Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của công dân trong lĩnh vực

đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước,

nhiều nơi đã trở thành điểm nóngg Số lượng đơn thư vượt cấp gửi đến các cơ

quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp

nhận với cách giải quyết của chính quyền địa phương Số lượng công dân đến

khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan ở

Trung ương hàng năm cao Nhiều vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, đi xe,

căng cờ, biểu ngữ kéo đến các cơ quan chính quyền, Đảng,… nhằm gây áp

lực đòi được giải quyết quyền lợi theo yêu cầu Số lượng công dân tập trung

đông chủ yếu ở các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Quốc hội, Đại hội Đảng, có

nơi huy động thương binh, phụ nữ, người già, trẻ em bao vây trụ sở chính

quyền xã, huyện, tỉnh, doanh nghiệp gây mất trật tự, an toàn xã hội

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường:

- Hàng năm, Bộ nhận được gần 10.000 lượt đơn tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường của công dân 63/63 tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương, trong đó đơn thuộc lĩnh vực đất đai chiếm 98,6%

tổng số đơn Các địa phương có nhiều đơn gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi

- Tổng số đơn Bộ nhận được từ 63 tỉnh, thành phố trong 5 2008) là 47.652 lượt (bình quân gần 8.000 lượt/năm và riêng năm 2008 là 7.005)

Các vụ việc thuộc thẩm quyền của Bộ tập trung nhiều vào các năm

2003 và 2004 với tổng số 682 vụ (chiếm 69,2%)

- 6 tháng đầu năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nhận được 3.470 lượt đơn thư khiếu nại về đất đai, trong đó có 1.723 đơn thư có liên quan đến những vấn đề như: Tranh chấp đất giữa cá nhân và cá nhân (280 đơn, chiếm 16,25%); Khiếu nại về giá bồi thường khi thu hồi đất (508 đơn, chiếm 29,48%); Khiếu nại cấp, thu hồi Giấy chứng nhận (214 đơn, chiếm 12,42%)

Nhìn chung, trong năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009, số lượng đơn thư Bộ nhận được giảm khá nhiều so với cùng kỳ, tuy nhiên:

* Tình trạng đơn thư tập thể, khiếu nại đông người, khiếu kiện vượt cấp vẫn còn nhiều, gây khó khăn phức tạp cho việc giải quyết và mất nhiều thời gian cho công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Trong 84 đơn khiếu nại tập thể các tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều

vụ việc nhất (chiếm 85,6%) Một số địa phương phía Nam có đơn thư tập thể là: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ, Long An, Đồng Nai, Cà Mau, An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang Một số vụ việc khiếu nại điển hình là: Các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số Khmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (tỉnh An Giang) đòi lại đất trước đây của các hộ do chiến tranh biên giới nên phải di dời nay người khác

sử dụng; các hộ dân ở thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại việc thu hồi đất và sử dụng đất tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm; khiếu nại của các hộ dân ở thành phố Cần Thơ liên quan đến quy hoạch tại khu vực Cồn Cái Khế; Các số

Trang 18

36

hộ dân đòi lại đất hiện do Công ty Cao su Tân Biên, Nhà máy đường Nước

Trong (tỉnh Tây Ninh) đang sử dụng; Các hộ dân tại xã An Tây, huyện Bến

Cát, tỉnh Bình Dương khiếu nại việc thu hồi đất trồng cao su; Công dân ở

phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ khiếu nại việc thu hồi

đất để xây dựng trung tâm điện lực Ô Môn; Các hộ dân khiếu nại việc thu hồi

đất để xây dựng khu công nghiệp Tân Phú Trung, thành phố Hồ Chí Minh;

Khiếu nại của các hộ dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến việc

thu hồi đất để thực hiện dự án Khu công nghệ cao; khiếu nại của 684 hộ dân

liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án mở rộng Quốc lộ 1A, dự án

đuờng cao tốc Trung Lương, dự án khu công nghiệp Tân Hương và dự án

đường dây 500 KV Nhà Bè - Ô Môn (tỉnh Tiền Giang)

* Nội dung và mức độ của những phản ứng dưới hình thức khiếu nại,

tố cáo

Tập trung vào việc bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư,

đòi lại đất cũ và tranh chấp quyền sử dụng đất, giá đất Nhiều vụ việc khiếu

nại, khiếu kiện thành các đoàn đông người, có sự liên kết với người ở các địa

phương khác, đưa đơn thư vượt cấp, tụ tập trước cửa các cơ quan trung ương,

nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Trung ương gây sức ép đòi được

giải quyết quyền lợi Thậm chí còn có tình trạng chống đối, không thực hiện

các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đập phá phương tiện và

chống người thi hành công vụ v.v Có trường hợp khiếu kiện đã được các

cấp, ngành ở địa phương, Trung ương giải quyết phù hợp với quy định của

pháp luật, có lý, có tình nhưng công dân vẫn cố tình khiếu kiện kéo dài tới vài

ba năm

* Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo còn có nội dung tố cáo cán bộ thực

hiện sai quy định của Nhà nước về đất đai như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để trục lợi trong việc thu hồi đất, giao đất, đấu giá quyền sử dụng đất để đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà ở; lợi dụng thu hồi đất của nông

dân để chia cho cán bộ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất,

37

lập trang trại; khai tăng diện tích, sai vị trí đất để tham ô Tố cáo chính quyền địa phương (chủ yếu là cấp xã) giao đất trái thẩm quyền, giao đất không đúng diện tích được phê duyệt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giao sai vị trí, diện tích, không đúng quy hoạch, thu tiền đất vượt nhiều lần so với quy định của Nhà nước, sử dụng tiền thu từ đất không đúng chế độ tài chính Tố cáo chính quyền địa phương quản lý, sử dụng quỹ đất công ích (5%) sai mục đích, sai quy định của pháp luật, cho thuê, đấu thầu lâu năm thu tiền chi tiêu riêng, để diện tích đất công ích vượt quá 5% Có nhiều đơn tố cáo cán bộ nhũng nhiễu, đòi hối lộ trong việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

* Một số vụ khiếu nại, khiếu kiện về đất đai bị một số phần tử xấu kích động làm cho tình hình phức tạp thêm

Dưới đây là một số vụ việc và việc giải quyết các vụ việc phản ứng liên quan đến vấn đề đất đai:

1 An Cư là xã ĐBKK thuộc huyện biên giới Tịnh Biên, tỉnh An Giang, có 2.324

hộ/12.218 khẩu, trong đó 85% là người Khmer Mấy năm vừa qua, một số người do không đủ năng lực giữ đất sản xuất, lại bị kẻ xấu kích động nên đã có đơn khiếu kiện vượt cấp đòi lại đất đã bán trao tay, cầm cố, cho mướn, cho thuê, tạo “điểm nóng” an ninh nông thôn ở vùng biên giới

Nhận thấy khiếu kiện đất đai là vấn đề phức tạp, Đảng bộ, chính quyền An Cư đã đề ra phương châm: Giải quyết đồng bộ, kết hợp tuyên truyền vận động ổn định tình hình với thực hiện tốt chính sách dân tộc Xã tiến hành ba bước: Bước một: điều tra, khảo sát thực trạng đất đai của số có đơn khiếu kiện, làm cơ sở phân loại đúng- sai; Bước hai: điều chỉnh, bố trí hợp lý đất đai với từng hộ, đảm bảo không để các hộ nông dân không có đất sản xuất; Bước ba: vận động cán bộ, đảng viên, những quần chúng tốt trả lại đất đã cầm

cố, mướn, thuê, đồng thời hỗ trợ một phần kinh phí để các hộ nghèo có điều kiện chuộc lại đất đai đã trao quyền sử dụng Đây là bước rất quan trọng, cần có sự tham gia tích cực

của quần chúng tiêu biểu Xã An Cư có 136 sư sãi, 49 à cha là những người tiêu biểu, có

vai trò quyết định các công việc trong cộng đồng Căn cứ nội dung chính sách dân tộc của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai, An Cư đã bồi dưỡng, hướng dẫn phương pháp để các sư sãi, à cha tuyên truyền vận động mọi người trong các phum, sóc hiểu tác hại của việc mua, bán, cầm cố, sang tên, đổi chủ đất nông nghiệp; nói rõ việc khiếu kiện vượt cấp là biểu hiện tiêu cực, lợi dụng khiếu kiện để vụ lợi là vi phạm pháp luật, tạo kẽ

hở cho kẻ địch chia rẽ đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Công tác tuyên truyền đã làm chuyển biến nhận thức của quần chúng nhân dân, đồng bào Khmer đồng tình với các giải pháp của chính quyền xã, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phấn khởi tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở

Trang 19

khu dân cư” (http://cema.gov.vn)

2 Dọc theo tuyến đường từ bản Pá Pháy đến ngã ba cầu Nậm Thanh thuộc địa bàn xã

Thanh Yên, huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên), hiện có 43 hộ dân tự ý san ủi mặt bằng

chuyển đổi trái phép gần 200 ha đất sản xuất nông nghiệp sang làm nhà ở, tạo thành

"điểm nóng" về tranh chấp đất đai kéo dài Nhưng đến thời điểm này, nơi đây vẫn không

được tỉnh quan tâm giải quyết dứt điểm, trong khi nhiều hộ dân ở đây là đồng bào dân

tộc lại đang thiếu đất sản xuất

Khảo sát hai bên tuyến đường dài gần 1 km nêu trên cho thấy: trong tổng số 42 hộ dân

chuyển đổi sai mục đích sử dụng đất, lấn chiếm đất công, có 38 hộ đã làm nhà cấp 4, một

số hộ ít nhân khẩu, nhưng vẫn dựng lên 2 căn nhà khá rộng, chưa kể các công trình phụ

trợ khác Ông Hoàng Công Bình, Bí thư Đảng uỷ xã Thanh Yên cho biết: an ninh trật tự

tại khu vực này khá phức tạp, trộm cắp diễn ra liên tiếp trong gần 10 tháng của năm

2006, một số trường hợp đã bị công an xã, công an huyện Điện Biên bắt vì tội tổ chức

đánh bạc, buôn bán trái phép chất ma tuý, nhưng hiện tại vẫn còn nhiều đối tượng khác

đang lén lút hoạt động Bên cạnh đó, một số hộ dân từ các xã Thanh Xương, Sam Mứn,

Noong Hẹt, Noong Luống, Thanh An, từ nhiều năm nay nhận khoán đất sản xuất của

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) cây công nghiệp Điện Biên tại địa bàn Thanh Yên

quản lý, còn "phớt lờ" không đăng ký tạm trú, tạm vắng làm cho an ninh trật tự trong xã

càng thêm phức tạp hơn, nhất là vào những tháng cuối năm 2006 (http://vov.vn)

3 Xung quanh việc thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai mà Quốc hội đưa ra bàn bạc

thảo luận, cử tri Hưng Yên đã đưa ra nhiều ý kiến trên cơ sở phản ánh những vấn đề bức

xúc tại địa phương

Cử tri Hoàng Văn Suối, cựu chiến binh xã Hồng Nam (thị xã Hưng Yên) khẳng định:

Việc chuyển đổi, qui hoạch sử dụng đất đai hiện đang xảy ra quá nhiều vi phạm Luật đất

đai đưa ra qui định đúng đắn nhưng cán bộ cơ sở không những buông lỏng quản lý mà

còn cố ý làm sai, lợi dụng đất công để vơ vét tham nhũng Điển hình là ở xã Hồng Nam,

một trong những điểm nóng ở Hưng Yên về sai phạm trong sử dụng đất Tại đây từ năm

2005 đã xảy ra tình trạng lập danh sách khống để biến hơn 20 nghìn m2 đất giãn dân

thành "giãn quan", để kiếm lời nhiều tỉ đồng, dẫn đến gần 20 cán bộ chủ chốt bị cảnh

cáo, buộc thôi việc và cách chức Song đến nay, những vi phạm ở Hồng Nam vẫn chưa

được giải quyết dứt điểm đang gây bức xúc trong dân Tuy vậy, đoàn cán bộ của Bộ tài

nguyên môi trường dù đã về kiểm tra nhưng tình hình vẫn chưa có tiến triển Theo ông

Suối, mọi vi phạm trong quản lý đất đai ở các địa phương, các cấp các ngành đều biết

nhưng vẫn làm ngơ, việc kiểm tra thực tế chỉ mang tính hình thức nên giải quyết chưa

thấu đáo, làm mất lòng tin trong nhân dân và càng phát sinh thêm tiêu cực, tham nhũng

trong cán bộ Nhất trí với những điều trong Luật đất đai mà các đại biểu Quốc hội đưa ra

thảo luận, ông Suối cho rằng việc qui hoạch, phân vùng trong quản lý sử dụng đất phải

có định hướng rõ ràng, các địa phương khi triển khai thực hiện phải đưa ra bàn bạc dân

chủ công khai trước dân Điều quan trọng hơn là phải chấn chỉnh, củng cố đội ngũ cán

bộ quản lý từ cấp cơ sở đến tỉnh, huyện; xử lý triệt để những sai phạm và biểu hiện tham

nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ

Cử tri Nguyễn Văn Hà, nông dân xã Dị Sử (huyện Mĩ Hào) cho rằng: các nhà làm luật

đất đai chưa thực sự đi sát thực tế Thực trạng quản lý đất đai hiện nay đang quá bị

buông lỏng, nhiều cán bộ xã đã tự do bán đất mà không qua cấp nào thẩm định Đây là

một tệ nạn đang phá nát bộ máy chính quyền cơ sở Bức xúc hơn là tại các khu công

nghiệp ở Hưng Yên hiện tại có tới hàng chục dự án "ma", nhiều doanh nghiệp sau khi được bàn giao đất quá thời hạn đã 2 - 3 năm nhưng vẫn để cỏ mọc hoang Trong khi đó, nông dân vừa mất đất sản xuất lại vừa không có việc làm Theo ông Hà, Quốc hội lần này nên bàn bạc và đưa ra những biện pháp mạnh hơn nữa để Luật đất đai được thực hiện nghiêm minh và thực sự đi vào cuộc sống (http://www.monre.gov.vn)

4 Theo báo cáo của các tỉnh, TP, tình hình khiếu nại, tố cáo (KN,TC) đông người đang

xảy ra ở tất cả các địa phương có tính chất gay gắt, phức tạp hơn trước Phần lớn các vụ khiếu kiện đông người phát sinh nhiều ở những địa phương có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khu, cụm công nghiệp, đô thị như: Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bình Phước, Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau

Tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội, trong 5 năm (2005 - 2009) đã tiếp 1.904 lượt đoàn đông người đến từ 58 tỉnh, TP Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước ở TP Hồ Chí Minh, trong 04 năm (2006 - 2009) tiếp 583 lượt đoàn đông người đến từ 24 tỉnh, TP (chủ yếu là các tỉnh phía Nam và một

số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên)

Đa số các đoàn đông người đến Trụ sở có từ 5 - 30 người tham gia, nhiều đoàn có hàng trăm người như: vụ công dân xã Lai Vu (huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) khiếu kiện

về thu hồi, đền bù đất xây dựng Cụm công nghiệp tàu thủy của tập đoàn Vinashin; vụ khiếu kiện của các hộ dân ở quận Thanh Xuân (Hà Nội) về việc thu hồi, đền bù để xây dựng đường Vành đai 3, nút giao thông Thanh Xuân

Đặc biệt, gần đây là vụ hàng trăm công dân ở 03 xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên liên tục đến Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc đền bù, hỗ trợ trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị - thương mại Văn Giang

Các đoàn đông người chủ yếu khiếu nại các vấn đề về việc thực hiện chính sách đền bù,

hỗ trợ, công tác tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng (hơn 50% số

vụ việc); còn lại là việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực hiện chính sách đất đai trước đây, chính sách xã hội

Nội dung tố cáo liên quan đến việc cán bộ mất dân chủ, lợi dụng chức quyền để tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất đai, tài chính ngân sách Nhà nước; trù dập người khiếu kiện, bao che cho cán bộ dưới quyền; cố ý làm sai lệch hồ sơ, áp dụng pháp luật không đúng dẫn đến xét xử oan sai, gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (http://www.dangcongsan.vn)

2.1.1.2 Đình công, bãi công của công nhân trong các doanh nghiệp, khu công nghiệp đòi cải thiện điều kiện làm việc, tăng lương, công bằng và các lợi ích hợp pháp với các doanh nghiệp, chủ đầu tư sản xuất:

Trong những năm gần đây các vụ đình công tự phát của công nhân, đặc biệt là công nhân ở các khu công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều Có nhiều nguyên do của việc đình công như:

Trang 20

40

Ở nhiều doanh nghiệp, đời sống của người lao động vẫn còn rất khó

khăn Thông thường, một gian nhà trọ khoảng 20 m2 có 7 - 10 công nhân

thuê, với giá thuê từ 50.000 - 70.000 đ/người, chưa kể chi phí điện, nước Như

vậy, bình quân mỗi người lao động chỉ có khoảng 2 m2 để ăn, ngủ, sinh hoạt

Có tới 65,8% số công nhân có nhu cầu thuê nhà ở tại doanh nghiệp, nhưng

doanh nghiệp chỉ mới đáp ứng được khoảng 3% nhu cầu, số công nhân còn lại

phải ở trọ xung quanh khu công nghiệp, điều kiện sống hết sức tạm bợ Chưa

địa phương nào định hướng rõ và ban hành được cơ chế, chính sách đầu tư

xây dựng nhà ở cho công nhân Điều kiện sống tạm bợ, mất vệ sinh; thiếu

không khí, ánh sáng, điện, nước và không đảm bảo an ninh… ở tại các nhà trọ

tự phát trong dân, đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc lâu dài của

người lao động

Lương công nhân ở nhiều doanh nghiệp còn thấp, chậm được điều

chỉnh trong khi giá cả, lạm phát ngày một tăng Có một thực tế, tưởng chừng

như mâu thuẫn là, người công nhân không hồ hởi mấy, thậm chí còn lo trước

việc nhà nước chuẩn bị ban hành và ban hành nghị định về lương, tăng lương

cơ bản khối doanh nghiệp! Việc đóng bảo hiểm cho người lao động ở một số

doanh nghiệp chưa được thực hiện nghiêm theo quy định

Thực tế cho thấy, lợi ích của người lao động bị bớt xén rất nhiều

Chẳng hạn, nhiều doanh nghiệp sau khi bị buộc phải tăng lương theo Nghị

định 03 của Chính phủ, đã tìm cách giảm các chế độ phải thực hiện cho người

lao động như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, với lý do phải tăng lương nên

tốn nhiều tiền

Về vấn đề này, ông Đặng Ngọc Chiến, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn

lao động Việt Nam, khẳng định: “Để đối phó với chuyện tăng lương, một số

doanh nghiệp thường cắt xén các khoản phụ cấp và chi phí khác Như thế là

không đúng, vì theo quy định của Chính phủ, thì các phụ cấp và chi phí khác

của người lao động phải được giữ nguyên Các khoản phụ cấp và chi phí này

là thoả thuận giữa chủ sử dụng lao động với đại diện người lao động

41

Thiếu thốn về vật chất, tinh thần, cộng với các mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động (lương thấp, điều kiện làm việc kém, chủ doanh nghiệp đối xử không tốt…) nên theo một kết quả khảo sát, có tới hơn 50% số công nhân không muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, không muốn tham gia học tập nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề Theo chúng tôi, để giải quyết tận gốc những bức xúc của người lao động, trước hết, cần có quy hoạch tổng thể về đầu tư trên cả nước để tạo việc làm cho người lao động theo phương thức “ly nông không ly hương”, tránh tình trạng người lao động nhập cư đổ dồn về một số tỉnh, thành Các địa phương, khi kêu gọi đầu tư, cần có chủ trương phát triển khu công nghiệp gắn với phát triển nhà ở, cơ sở y tế, giáo dục, văn hoá đủ phục vụ đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Mặt khác, các địa phương không nên lấy việc hạ giá nhân công xuống mức thấp làm một lợi thế để thu hút đầu tư, mà cần phải có nhiều chính sách khác tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá và tay nghề cho người lao động"1

Ngoài ra, một lý do khác cũng khiến công nhân đình công là chủ doanh nghiệp (người nước ngoài) có những lời nói, hành vi xúc phạm, xỉ nhục công nhân

Đình công tập thể, đông người của công nhân trong những năm gần đây có xu hướng tăng:

1 Ngày 2 - 3 - 2010, khoảng 10.000 công nhân công ty Pouchen Việt Nam (trụ

sở đóng tại xã Hóa An, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) đã đình công Đây là công ty chuyên sản xuất giày da, 100% vốn nước ngoài

Nhiều công nhân cho hay công ty đã ép công nhân làm việc quá giờ, chậm tăng lương, không trả tiền thâm niên và chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn chưa hợp lý… Yêu sách mà công nhân đưa ra là yêu cầu ban giám đốc công ty tăng lương cho công nhân, đồng thời cải thiện khẩu phần ăn cho công nhân Nhiều công nhân cho biết: suất ăn của công ty hiện nay chỉ khoảng 4.000 đồng/suất, không đủ chất tái tạo sức lao động (http://tuoitre.vn)

2 Ngày 25 - 2 - 2011, gần 800 công nhân Công ty TNHH Han And Young Việt

1 http://vov.vn/Home/Vi-sao-cong-nhan-dinh-cong/20063/27707.vov

Trang 21

Nam (cụm công nghiệp Thanh Điền, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh) đã ngừng việc tập thể do bị cắt giảm tiền thưởng hằng năm Một số

công nhân cho biết sau Tết Tân Mão, công ty đồng ý tăng lương thêm 10% theo

thỏa thuận từ năm trước; nhưng sau đó lại đơn phương cắt các khoản tiền thưởng

đang áp dụng Ngoài ra, công nhân còn yêu cầu công ty tăng tiền ăn trưa bởi hiện

mỗi bữa chỉ có 4.000 đồng

Cùng ngày, tại KCN Trảng Bàng, hơn 3.000 công nhân Công ty TNHH Hoa Sen

(may mặc) cũng đã đình công yêu cầu tăng lương Các ngành chức năng đã trực

tiếp tổ chức cuộc đối thoại giữa công ty và người lao động nhưng chưa có kết quả

(http://www.thanhnien.com.vn)

3 Ngày 1 - 4 - 2011, hàng trăm công nhân chi nhánh Cty TNHH Sao Vàng

(chuyên gia công các loại giày dép da tại xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh

Thái Bình) đình công

Công nhân cho biết: chuyên gia người Trung Quốc đã có lời nói, hành vi xúc

phạm, xỉ nhục người lao động Một công nhân kể lại: “Vài ngày gần đây đã xảy

ra nhiều hành vi xúc phạm của chuyên gia Trung Quốc đối với công nhân Một

chuyên gia tên là A Chân (quản lý xưởng may A) đã có lời nói xỉ nhục tới công

nhân; đạp, ném giày vào công nhân; một chuyên gia khác tên là A Lương (phụ

trách xưởng khâu tay) đã có hành vi giật, ném bịch sữa của một công nhân người

này này mang đồ ăn vào xưởng” Bức xúc, công nhân đã ngừng việc để phản đối

Công nhân yêu cầu chi nhánh phải chuyển chuyên gia A Chân đi nơi khác Công

nhân cũng phản ánh việc chuyên gia xúc phạm công nhân đã có từ lâu, những sự

việc trên chỉ là giọt nước tràn ly

Công nhân còn phản ánh thời gian làm việc của chi nhánh không tuân theo hợp

đồng lao động; công nhân phải vào làm việc trước giờ quy định 10 - 25 phút

Công nhân phản ánh mức tiền chi ăn trưa 8.000 đồng/người là thấp, đề nghị tăng

thêm Được biết, chi nhánh chưa xây được nhà ăn, nên Cty chi tiền cho công

nhân ăn ở ngoài (http://laodong.com.vn)

4 Ngày 15 - 4 - 2011, gần 2.000 công nhân Công ty Marumitsu thuộc KCN

Quang Minh (Mê Linh, Hà Nội) đình công, đòi tăng lương và giải quyết một số

quyền lợi chính đáng Theo một số công nhân, lý do đình công là do mức lương

cơ bản Cty Marumitsu trả cho công nhân quá thấp, môi trường làm việc nóng, ồn,

độc hại, nhiều công nhân không chịu được đã bị ngất xỉu khi làm việc

Nhiều công nhân cho biết, chỉ trở lại làm việc khi Cty tăng lương cơ bản, tăng

phụ cấp độc hại, cải thiện môi trường làm việc (lắp quạt mát), được hưởng đầy đủ

các chế độ ngày lễ, chế độ về sớm nuôi con nhỏ không mất khoản tiền chuyên

cần Cty Marumitsu là Cty 100% vốn đầu tư của Nhật Bản, chuyên sản xuất kinh

doanh đồ gỗ, đồ nội thất cao cấp (http://www.tienphong.vn)

5 Ngày 15 - 8 - 2011, khoảng 400 công nhân công ty may Phong Phú (KCN làng

nghề Diên Sanh, Quảng Trị) đã tổ chức tụ tập vây quanh trụ sở công ty để đình

công phản đối các chính sách về tiền lương, điều kiện làm việc hà khắc cũng như thái độ của phía công ty đối xử với công nhân khi giải quyết khiếu nại

Ngay sau khi diễn ra buổi đình công, đại diện công ty đã tổ chức họp công nhân

để đối thoại với công nhân nhằm xoa dịu tình hình Theo kiến nghị của công nhân đình công, các chính sách tiền lương quá thấp, đời sống công nhân còn hạn chế, không đủ sống; chế độ ăn uống không đảm bảo; công nhân bị bắt buộc làm tăng ca, sức khoẻ không đảm bảo; trong các buổi hội họp công ty đã xúc phạm đối với công nhân đình công; công nhân bị cho ăn cơm ôi thiu (http://www.anninhthudo.vn)

6 Ngày 6 - 10 - 2011, hàng trăm lao động đại diện cho khoảng 1.600 công nhân

ở bộ phận may thuộc công ty may mặc ITG – Phong Phú (đóng tại đường số 2, KCN Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) đã tổ chức nghỉ việc, đình công để phản đối về chế độ lao động tại công ty này

Theo công nhân Nguyễn Thị K (21 tuổi, quê Quảng Nam), mức lương cơ bản của các lao động tại đây chỉ dao động từ 1,5 – 1,6 triệu đồng Đây là mức lương thấp hơn với quy định cũng như so với mặt bằng của các công ty cùng ngành nghề trong khu công nghiệp Trong khi đó, giá cả sinh hoạt đang ngày càng đắt

đỏ khiến cho đời sống của công nhân gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra, nhiều công nhân còn bức xúc khi mức tiền tăng ca không được minh bạch, rõ ràng từ đầu Số tiền tăng ca được tính theo số lượng sản phẩm làm ra cũng có giá thấp hơn các công ty khác Bên cạnh đó, nhiều công nhân còn phản ánh chế độ ăn uống không được đảm bảo về dinh dưỡng, chưa có chế độ ưu tiên, hỗ trợ cho người mang thai theo quy định của luật lao động hiện hành (http://vietnamnet.vn)

2.1.1.3 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột lợi ích về vấn đề môi trường:

* Phản ứng từ ô nhiễm từ nước thải các khu công nghiệp:

Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 do Bộ tài nguyên và Môi trường công bố ngày 1/6/2010, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp, nếu không được giải quyết tốt sẽ gây ra thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe cộng đồng hiện tại và tương lai, phá hỏng những thành tựu công nghiệp nói riêng và triển vọng kinh tế, tiến bộ xã hội nói chung ở Việt Nam

Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu Kết quả quan trắc chất lượng cả 3 lưu vực sông Đồng Nai ( miền Nam), Nhuệ - Đáy và sông Cầu( miền Bắc) đều cho thấy

Trang 22

44

bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, những khu vực chịu

tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh,

nhiều chỉ tiêu cao hơn quy định nhiều lần

Khoảng 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải/ngày từ các khu

công nghiệp (KCN) được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý

gây ô nhiễm môi trường Có đến 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ

thống xử lý nước thải tập trung Đây là những con số báo động về thực trạng

môi trường tại các KCN Việt Nam

Tính đến tháng 10/2009, toàn quốc có khoảng 223 KCN được thành

lập theo Quyết định của Chính phủ Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động,

với tổng diện tích đất gần 57.300ha, đạt tỷ lệ lấp đầy trung bình khoảng 46%

Thực tiễn cho thấy, các KCN có vai trò quan trọng trong quá trình

phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Các KCN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy

tăng trưởng, công nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài

nước vào phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm

và thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích

cực, các KCN ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô

nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp

Ô nhiễm môi trường từ các KCN ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi

trường sinh thái tự nhiên Đặc biệt, nước thải không qua xử lý của các KCN

xả thải trực tiếp vào môi trường gây thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản

xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận Theo các

chuyên gia, sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất

lớn Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam bộ

chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây

Nguyên là 2% Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước

thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải

tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn rất thấp

và đăng ký nguồn thải đối với chất thải nguy hại

Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều tồn tại như: phân cấp trong hệ thống quản lý môi trường KCN chưa rõ ràng, tỷ lệ xây dựng và vận hành các công trình xử lý môi trường tại các KCN còn thấp Năm 2010, Tổng cục môi trường đã tiến hành thanh tra, kiểm tra diện rộng tại các KCN, đặc biệt là kiểm tra chặt chẽ các lưu vực sông lớn của Việt Nam, bởi muốn chặn đứng ô nhiễm lưu vực sông thì phải chặn đứng nguồn thải ra sông1 Thực tế cho thấy:

- Nhà máy chế biến mủ cao su Hà Tĩnh xả nước thải không qua xử lý trong nhiều năm, ô nhiễm lan rộng ra sông Ngàn Sâu, sau đó đổ ra sông La của huyện Đức Thọ

- Ước tính mỗi ngày Công ty TNHH Pangrim Neotex, Bến Gót, TP.Việt Trì xả hơn 2.000m3 nước thải ra sông Hồng Cùng với công ty này trong danh sách những cơ sở cần xử lý triệt để ô nhiễm theo quyết định của Thủ tướng còn có Công ty TNHH Miwon Việt Nam, Công ty Khoáng sản Khải Hoàn

- Nhà máy tuyển quặng sắt của Công ty cổ phần Khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai vận hành từ cuối năm 2007, nước thải lan ra sông Ba, tạo thành dòng màu đỏ, đục ngầu kéo dài từ huyện Kbang đến huyện Kông Chro

1 Xem bài của tác giả X.H: “Nước thải từ khu công nghiệp có thể gây ra thảm họa môi trường ở Việt Nam”,

trên trang http://www.khoahocphothong.com.vn

Trang 23

- Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi xả nước thải trực tiếp ra sông

Trà Khúc, từ xã Tịnh An đến xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, khiến cá phơi

bụng nằm dày đặc

- Nước thải của Công ty Sabeco Sông Lam đổ ra ngoài mương thoát

nước chung của khu công nghiệp, khiến người dân xã Hưng Đông, TP.Vinh,

Nghệ An phải bỏ ruộng, không đánh bắt được cá

- Nhiều nhà máy, xí nghiệp lấp hệ thống dẫn nước, gây cản trở dòng

chảy, khiến hầu hết ruộng đồng của các xã ven Quốc lộ 5 và 39 ở huyện Văn

Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ (Hưng Yên) ngập úng chỉ sau một trận mưa lớn

Nước thải làm ô nhiễm nguồn nước tưới, khiến hàng trăm ha đất canh tác màu

mỡ phải bỏ hoang

- Hệ thống sông Đồng Nai đi qua 12 tỉnh, thành Lưu vực sông đang

"chứa" 103 khu công nghiệp, khu chế xuất và hàng loạt các khu, cụm công

nghiệp với diện tích khoảng 34.000ha Nguồn nước mặt của hệ thống sông

Đồng Nai bị ô nhiễm nghiêm trọng, trong khi nhiều nhà máy xử lý nước sinh

hoạt đã lấy nước từ sông này phục vụ cho hàng triệu người dân ở các đô thị

lớn như Biên Hòa (Đồng Nai), Thủ Dầu Một (Bình Dương) và thành phố Hồ

Chí Minh1

Từ thực tế đó, người dân đã có những phản ứng như viết đơn khiếu

nại gửi tới các cấp chính quyền, khởi kiện ra tòa, bao vây khu công nghiệp,

lấp đường ống xả thải… Dưới đây là một số vụ việc diễn ra ngay trong 2 năm

2010 - 2011:

1 Sáng 24/5/2010, bức xúc vì tình trạng ô nhiễm do nước thải của khu công

nghiệp Quang Minh (huyện Mê Linh, Hà Nội) gây ra, người dân quanh đây đã

đắp đất chặn hai miệng cống xả

Hàng chục người dân thị trấn Quang Minh và xã Tiền Phong (huyện Mê Linh) đã

tập trung cạnh khu công nghiệp Quang Minh phản đối việc nước thải thoát ra từ

khu công nghiệp này gây ô nhiễm cho các khu vực lân cận Ngay trong buổi

sáng, hai cống xả thải đã bị họ dùng đất lấp kín

Người dân cho biết, tình trạng ô nhiễm đã diễn ra từ nhiều năm nay Gánh chịu

hậu quả là thị trấn Quang Minh và xã Tiền Phong khi nước xả thải chảy theo con

1 Quỳnh Minh: “Nhiều dòng sông bị ám sát”, trên trang http://danviet.vn

kênh tiêu thoát qua hai địa phương này Đáng chú ý nhất là việc nước thải theo kênh tiêu chảy vào đầm Và, nơi có trạm bơm cung cấp nước cho hơn 100 mẫu ruộng ở ấp 1 Tuy nhiên, người dân tại đây hiện không thể lấy nước từ trạm bơm tưới rau mà phải tự khoan giếng lấy nước

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội cuối 2009, tại khu công nghiệp Quang Minh, chất lượng nước xả thải của 10 cơ sở vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10 lần, 27 cơ sở quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định, 14 cơ

sở khai thác nước ngầm không có giấy phép, hoặc khai thác nước vượt quá lưu

lượng… (http://vnexpress.net)

2 Ngày 6 - 7 - 2010, tại UBND huyện Tân Thành, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hội Nông

dân, Phòng NNPTNT và Ban Chỉ huy thống kê thiệt hại kinh tế và môi trường vụ Vedan đã có buổi làm việc với 40 trưởng văn phòng luật sư và giám đốc công ty luật để các tổ chức hành nghề luật sư này hỗ trợ pháp lý giúp người dân xây dựng

và hoàn thiện đơn cùng hồ sơ khởi kiện Vedan trong tháng 7.2010

Theo Hội Nông dân và các cơ quan chức năng, có 1.255 hộ dân thuộc 4 địa phương là xã Mỹ Xuân,Tân Phước, Phước Hòa và thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành bị ảnh hưởng bởi việc lén lút đầu độc sông Thị Vải của Vedan Tổng thiệt hại của 1.255 hộ dân là trên 216 tỉ đồng Vedan chỉ đồng ý hỗ trợ người dân 10 tỉ đồng, các hộ dân đã không đồng ý việc hỗ trợ của Vedan đã đề nghị chuyển hồ sơ khởi kiện Vedan ra tòa, buộc Vedan bồi thường thiệt hại

40 văn phòng LS và các công ty luật đã nhất trí ủng hộ người dân và nhận giúp 1.255 hộ dân này hoàn thiện hồ sơ khởi kiện Vedan ra tòa Đồng thời các văn phòng luật sư này cũng nhận ủy quyền của người dân tham gia tố tụng và cử luật

sư bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân trước tòa

UBND tỉnh đã có cuộc họp với lãnh đạo các sở: Tài nguyên và Môi trường, NNPTNT, Tư pháp, Hội Nông dân và đại diện giới luật sư BRVT đề nghị trợ giúp nông dân và hoàn thành việc nộp hồ sơ khởi kiện Vedan trước ngày 20.7.2010 và làm các thủ tục cần thiết để tòa xem xét miễn giảm tiền án phí cho các hộ dân nghèo (http://laodong.com.vn)

3 Ngày 1 - 5 - 2011, khoảng 60 người dân thuộc các xóm Trung Mỹ, Mỹ Long,

Mỹ Hòa và Mỹ Hậu (thuộc xã Hưng Đông, thành phố Vinh, Nghệ An) mang theo cuốc xẻng, xe rùa ra cánh đồng Bàu Trang (xã Hưng Đông) đào đất lấp mương thoát nước của Khu công nghiệp Bắc Vinh (Nghệ An)

Mương thoát nước chạy dọc cánh đồng Bàu Trang có chức năng cung cấp nước sản xuất nông nghiệp cho các xóm Trung Mỹ, Mỹ Long, Mỹ Hòa, Mỹ Hậu và thoát nước thải đã qua xử lý của các nhà máy trong Khu Công nghiệp Bắc Vinh Tuy nhiên trong một thời gian dài, Nhà máy sản xuất bao bì Sabeco - Sông Lam

đổ nước thải chưa qua xử lý ra mương rồi đổ ra cánh đồng Bàu Trang gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe đời sống và sản xuất của nhân dân thuộc 4 xóm trên Bức xúc về tình trạng ô nhiễm môi trường do nhà máy này gây ra, người dân gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan chức năng

Một con đập bằng đất cao 1,5m, rộng 2m đã được hình thành trên mương dẫn nước của Hợp tác xã Đông Vinh (Hưng Đông) Người dân cho biết, nếu việc ô nhiễm môi trường không được giải quyết thì họ không chỉ dừng lại ở việc đào đất lấp mương

Ông Trần Đức Ninh (xóm Trung Mỹ, xã Hưng Đông, thành phố Vinh) cho biết:

"Ô nhiễm đã hơn 3 năm nay Hàng ngày chúng tôi phải sống chung với mùi hôi thối do nước thải nhà máy gây ra Nhiều diện tích đất sản xuất ở cánh đồng Bàu Trang bị ô nhiễm không sản xuất được phải bỏ hoang mấy mùa nay rồi Chúng tôi đã gửi kiến nghị đi khắp nơi, nhiều đoàn kiểm tra đã về lấy mẫu nước thải

Trang 24

48

nhưng không có gì chuyển biến Cực chẳng đã chúng tôi mới phải lấp mương

chặn nước thải" (http://www.baomoi.com)

4 Ngày 5 - 7 - 2011, đông đảo người dân Trung Sơn, xã Hoà Liên, huyện Hoà

Vang, Đà Nẵng đã kéo đến KCN Hoà Khánh để phản ứng việc nhiều NM tại đây

xả nước thải, gây ô nhiễm môi trường

Người dân đã dùng đất, đá lấp kín các cửa xả nước từ KCN này ra cánh đồng

Hoà Liên Sở Tài nguyên môi trường Đà Nẵng đã cử cán bộ đến hiện trường lấy

mẫu, kiểm tra để giải quyết gấp trong thời gian tới

Trước đó, UBND TP cũng vừa ra quyết định xử phạt hành chính với mức trên

100 triệu đồng đối với 2 DN sản xuất thép tại KCN Hoà Khánh vì hành vi thải

bụi và khí thải ra môi trường vượt tiêu chuẩn gấp 15-20 lần Trong đó, Cty CP

thép Dana - Ý bị phạt 55 triệu đồng, Cty thép Thái Bình Dương 50 triệu đồng

Hiện chỉ có 17/139 nhà máy tại KCN Hòa Khánh có đấu nối vào hệ thống xử lý

nước thải (http://laodong.com.vn)

5 Ngày 4 - 8 - 2011, Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49) đã

bắt quả tang Nhà máy xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Long

Thành xả hàng ngàn m3 nước chưa qua xử lý ra rạch Bà Chèo thông ra sông

Đồng Nai Sau khi sự việc bị phát giác, nhiều người dân ở ấp 2, xã Tam An,

huyện Long Thành (Đồng Nai) làm đơn gửi chính quyền địa phương đòi bồi

thường thiệt hại

Ông Nguyễn Văn Liêm đưa ra lá đơn cũ đã viết từ năm trước: “Năm nào tôi cũng

viết đơn khiếu nại nhà máy, yêu cầu khắc phục hành vi xả nước thải gây ô nhiễm

môi trường và bồi thường cây trái cho gia đình tôi, nhưng chưa bao giờ được giải

quyết”

Theo ông Liêm, từ năm 2005, khi nhà máy xử lý nước thải hoạt động thì nước

kênh rạch đen thui, cá tôm không còn, rồi cây cối chết rụi dần Lội dưới mương

Vàm đổ ra rạch bà Chèo, ông Đoàn Văn Giàu mò tìm ốc về cho vịt ăn, nhưng

suốt buổi chỉ bắt được một nhúm ốc

Ông Giàu kể: “Nuôi mấy con vịt nhưng không dám cho vịt lội mương bởi nhiều

hộ ở đây thả vịt xuống mương, vài ngày sau chết sạch” Ông Giàu cũng là một

trong những người dân ở ấp 2 sớm có đơn đòi đền bù thiệt hại

Ông Võ Văn Luật, Chủ tịch UBND xã Tam An cho biết: “Sau khi công an bắt

quả tang nhà máy xả thải, mấy ngày nay người dân đã đến hỏi thủ tục đòi bồi

thường thiệt hại, trước mắt tôi chỉ đạo Hội Nông dân giải thích cho người dân Đã

có 3 đơn khiếu nại Cty Sonadezi đòi bồi thường”

Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cho rằng, việc Sonadezi tự ý cải tạo hệ

thống xử lý nước thải nhưng không báo cáo với cơ quan chức năng để theo dõi

giám sát là không đúng quy định (http://bee.net.vn)

6 Đêm 16 - 9 - 2011, quá bất bình với việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm

trọng của nhà máy xi măng Lam Thạch II thuộc Công ty CP Xi măng và Xây

dựng Quảng Ninh (nằm trên địa bàn xã Phương Nam - Uông Bí - Quảng Ninh),

hàng chục hộ dân sống trên địa bàn đã kéo nhau đến tận trụ sở nhà máy để phản

đối

Nhà máy xi măng này đã nhiều lần xả khói đặc muội đen khiến không khí và

nguồn nước bị ô nhiễm; ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống người dân nơi đây

Mặc dù người dân đã nhiều lần có ý kiến, nhưng phía lãnh đạo nhà máy vẫn

không chịu giải quyết Sáng 17/9, hàng trăm người dân đã lập chốt chặn ngay

trước cửa nhà máy yêu cầu công ty và cơ quan chức năng TP Uông Bí vào cuộc

xem xét, giải quyết vụ việc

Để giải quyết những bức xúc của người dân, chiều ngày 17/9, UBND TP Uông

49

Bí đã tổ chức cuộc đối thoại giữa đại diện người dân và đại diện nhà máy, tìm hướng giải quyết vấn đề (http://www.tin247.com)

* Phản ứng từ ô nhiễm rác thải:

Rác thải ở Việt Nam được phân chia làm hai mảng rõ rệt đó là rác thải

ở nông thôn và đô thị nhưng điều quan ngại hiện nay ở rác thải đô thị Năm

2008, tổng rác thải sinh hoạt ở các đô thị phát sinh khoảng 35.100 tấn/ngày, rác thải sinh hoạt ở nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày Tại các đô thị rác thải sinh hoạt chiếm 60 đến 70%, có một số đô thị lên đến 90% Và mỗi năm lượng rác thải đô thị tăng từ 10 đến 16%

Rác thải tăng nhanh chóng nhưng các bãi chôn lấp chứa không hết và một thực trạng diễn ra là sau mỗi trận mưa, từ các bãi rác này mức độ ô nhiễm lan tảo rộng lớn Nước mưa tràn ngập kéo theo rác thải trôi khắp nơi, nước rác hòa vào sông suối gây ô nhiễm nặng nề bốc mùi hôi thối, nguồn nước ô nhiễm, đất sản xuất nông nghiệp bị anh hưởng

Nhưng ở các đô thị nước ta công tác xử lý rác thải chủ yếu bằng việc chôn lấp, trung bình mỗi đô thị có một bãi Trong đó, 85% đô thị sử dụng phương pháp chôn lấp không hợp vệ sinh Những thành phố lớn như Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh có từ 4 đến 5 bãi chôn lấp hoặc khu xử lý1 Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam nhận định, việc chôn lấp rác thải nếu làm không đủ qui trình, không đúng, chắc chắn sẽ ô nhiễm Phản ứng của người dân xuất phát

từ xung đột lợi ích từ vấn đề môi trường ngày càng tăng và phức tạp Ở nhiều nơi như : Đà Nẵng, Đồng Nai, Đắk Nông, Quảng Ngãi, Sơn Tây, Ba Vì (Hà Nội), Hải Phòng, Hà Tĩnh, Nghệ An… dân tập trung đông người, chặn xe rác , không cho đổ rác ở bãi thải của địa phương do quá bức xúc vì ô nhiễm môi trường, nguồn nước và sinh hoạt Dưới đây là một số vụ việc:

1 Từ 10h sáng đến 21h ngày 25/7/2006, người dân ở khu vực bãi rác Khánh Sơn

(phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu) đã dùng nhiều loại vật dụng khác nhau

1 Xem thêm Đắc Thành: “Mỏ vàng giữa đô thị bị lãng quên”, trên trang http://bee.net.vn

Trang 25

ngăn chặn không cho các xe chở rác thuộc Công ty môi trường - đô thị TP Đà

Nẵng đổ rác vào bãi

Lãnh đạo Công ty môi trường - đô thị TP Đà Nẵng cho biết, từ 10h sáng, người

dân đã chặn không cho cả chục xe chở rác vào bãi và yêu cầu công ty phải đáp

ứng việc cung cấp nước sinh hoạt, tưới nước trên đường để giảm bụi (ngày 8 lần)

và nâng cấp đường để hạn chế ô nhiễm môi trường Mặc dù những yêu cầu này

nằm ngoài khả năng, song để giải phóng lượng rác khổng lồ tồn đọng trong thành

phố, vào 21h đêm 25/7, lãnh đạo công ty đã quyết định sẽ cung cấp nước sạch

cho người dân vào ngày hôm nay 26/7 và nâng số lần tưới nước trên đường vận

chuyển rác vào bãi Tuy nhiên, người dân vẫn chưa chấp thuận phương án này

(http://www.thanhnien.com.vn)

2 Ngày 11/8/2009, hàng trăm hộ dân ở xã Tân Tiến (huyện Chương Mỹ, thành

phố Hà Nội) đã tập trung canh chừng không cho xe đổ rác vào bãi rác núi

Thoong Trên đoạn đường vào, một tảng đá lớn đã được lăn ra giữa đường, chỉ

chừa chỗ vừa xe máy, xe đạp đi lại Ngay tại chân bãi rác, người dân dựng lều

bạt, mang bát đũa, nồi xoong ra ăn ngủ tại chỗ Mỗi ngày có 10 hộ thay nhau ra

canh gác Các cụ già cũng được huy động ra ngồi canh Chỉ cần xe rác xuất hiện,

gõ một tiếng kẻng, gọi một cuộc điện thoại là hàng trăm người dân cả thôn sẽ

xuất hiện

Không phải vô cớ mà hàng trăm người dân xã Tân Tiến lại có thái độ bức xúc,

không cho xe chở rác vào bãi rác núi Thoong Sự cố rò rỉ đáy hố chôn lấp rác số

2 tháng 7/2008 tại khu xử lý rác thải núi Thoong đã gây ô nhiễm toàn bộ các

giếng nước ăn của người dân chủ yếu là thôn Gò Chè và Tiến Tiên (xã Tân Tiến)

Dòng nước chảy ra đồng đã làm chết 4ha lúa của dân, gây ô nhiễm không khí

nặng nề Nước múc lên từ giếng ăn cũng có mùi rác, người dân ăn cơm phải mắc

màn vì nạn ruồi, nhặng Nhiều người dân đi làm đồng, lội nước bị nước rác chảy

xuống khiến tay, chân bị sưng vù, nổi mẩn khắp người Muốn có nước dùng, các

hộ dân phải mang can đi xin tại các thôn, xã khác cách cả cây số

(http://www.baomoi.com)

3 Ngày 12/7/2010, tại đường vào bãi rác Đập Chùa, người dân khối phố Văn

Phúc, phường Văn Yên, TP Hà Tĩnh đã dựng lán ngày đêm ngồi trực chặn không

cho xe chở rác của Công ty Công trình Đô Thị TP Hà Tĩnh vào bãi xử lý

Do đó rác mỗi ngày lại dồn lại nhiều hơn trên các tuyến phố Hà Tĩnh nhất là ở

khu vực gần chợ, khu đông dân cư, các cột điện ven đường và ngay cả điểm chờ

xe buýt cũng trở thành nơi tập trung rác thải Nhiều đống rác cao như núi, bốc

mùi hôi thối, ruồi nhặng bâu đầy (http://bee.net.vn)

4 Ngày 7 - 1 - 2011, hàng trăm người dân thuộc 5 xóm của xã Hưng Đông, TP

Vinh (Nghệ An) đã dựng lều bạt ngay cổng vào bãi rác Hưng Đông để ngăn

không cho xe chở rác của Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị vào

đổ rác

Trong vòng mấy ngày không có chỗ đổ rác đã biến TP Vinh chìm ngập trong rác

thải và tấn công cả trường học, cơ quan công sở… (http://dantri.com.vn)

5 Ngày 23/7/2011, bức xúc vì tình trạng quá tải của bãi rác Xuân Sơn, làm ảnh

hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày, hơn 100 hộ dân tại xã Xuân Sơn

(Thị xã Sơn Tây, Hà Nội) đã tập trung chặn đường vào bãi rác không cho xe vào

đổ rác, khiến rác ứ đọng tràn ngập khắp Thị xã

Sự việc người dân chặn xe đổ rác đã diễn ra hơn 1 tuần nay, khiến cho rác bị ứ

đọng, đổ tràn lan dọc nhiều con đường tại Thị xã Sơn Tây, gây mất vệ sinh môi

trường nghiêm trọng

Người dân đã mang theo cả chăn màn, đồ ăn, nước uống tập trung canh giữ 24/24

tại khu vực cửa vào bãi rác Xuân Sơn Những hộ này chủ yếu sống gần khu vực bãi rác, thuộc 4 thôn là Xuân Khanh, Lễ Khê, An Sơn, Tam Sơn Theo những người dân, do lượng rác thải quá lớn khiến cho rác tràn ra khỏi khu vực bãi rác vào nhà dân Hệ thống xử lí rác thải của bãi rác xuống cấp, không đảm bảo khiến khói bụi bay vào nhà dân, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân tại đây

Trước đó, UBND TP Hà Nội đã có chỉ đạo di dời những hộ dân sống gần bãi rác Xuân Sơn, để bố trí tái định cư ở nơi khác

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc bố trí di dời và tái định cư vẫn chưa hoàn thiện, nên những hộ dân này vẫn đang phải sống cạnh bãi rác và chịu sự ô nhiễm từ bãi rác này (http://tinonline.info)

2.1.2 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột văn hóa:

Văn hóa có nội hàm phong phú và phức tạp, nên xung đột văn hóa cũng được biểu hiện hết sức đa dạng và phức tạp Xét về bản chất, xung đột

văn hóa chính là sự va đập giữa những quan niệm khác nhau về giá trị

Chúng ta thấy rằng, trên thực tế, luôn tồn tại những quy tắc có thể là hữu ích đối với một thực thể văn hóa này song lại có hại đối với một thực thể văn hóa khác, và do đó, những người bị hại sẽ chống lại Đó là một trong những nguyên nhân để xung đột văn hóa nảy sinh

Trong thực tế đời sống, các quan niệm giá trị khác nhau sẽ dẫn đến cách giải thích khác nhau về lợi ích quốc gia, về trật tự thế giới, về cách sống, lối sống… Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, rất nhiều vấn đề phát sinh, trong đó lĩnh vực văn hóa là diễn biến phức tạp và nhạy cảm nhất Có thể nói, chưa có một vấn đề nào lại thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như vấn đề toàn cầu hóa Và cũng chính ở môi trường toàn cầu hóa này, xung đột văn hóa xuất hiện nhiều nhất Như chúng ta đã biết, văn hóa - cụ thể là bản sắc văn hóa, là linh hồn của dân tộc Văn hóa còn thì dân tộc còn; văn hóa suy thì dân tộc yếu; văn hóa mất thì dân tộc diệt Như vậy, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và toàn cầu hóa đều là những hiện tượng xã hội cực kỳ phức tạp, phong phú Cũng vì thế, mối quan hệ giữa chúng càng phức tạp cả trong nhận thức lẫn trong xử lý các tình huống thực tiễn1

1 Xem Phạm Thái Việt: “Xung đột văn hóa”, trên trang http://www.vientriethoc.com.vn

Trang 26

52

Ở một bình diện khác, vấn đề xung đột văn hóa rất dễ xảy ra đối với

lớp người di dân, đang sống ở quê hương bỗng nhiên phải lưu lạc xứ lạ, quê

người, văn hóa hoàn toàn khác biệt Cha mẹ vẫn giữ nề nếp cũ, trong khi môi

trường sống mới đã làm con cái thay đổi hoàn toàn Từ cách ăn mặc, ngôn

ngữ, lối sống… đều khác cha mẹ, và, đó chính là nguyên nhân tạo ra những

xung đột văn hóa trong xã hội Thực tế này đã được hai đạo diễn người Mỹ

khái quát trong bộ phim tài liệu đặc sắc “Người con gái Đà Nẵng” - một bộ

phim xúc động về chiến tranh Việt Nam Dù bộ phim đã được thực hiện từ

năm 2002, giành nhiều giải thưởng tại các Liên hoan phim, được đề cử giải

Oscar năm 2003 nhưng đến tháng 6 năm 2011 mới lần đầu tiên được chiếu ở

Việt Nam Ý nghĩa, giá trị của bộ phim vẫn còn nguyên vẹn

Đó là câu chuyện về cô gái mang tên Heidi (tên Việt là Mai Thị

Hiệp) 7 tuổi lên máy bay sang Mỹ (4/1975) trong một phi vụ lớn mà người

Mỹ gọi là “không phận cô nhi”: Đưa những đứa trẻ lai Mỹ sang Mỹ để các gia

đình nhận con nuôi Mẹ nuôi đã cho cô đi học, sống một cuộc sống đầy đủ về

mặt tiện nghi vật chất, biến Hiệp trở thành cô gái Mỹ 100%, và không cho cô

nói về nguồn gốc, ai hỏi thì nói sinh ở Mỹ Năm 22 tuổi, Heidi mới đi tìm lại

mẹ mình - cũng chính là tìm về với nguồn cội của cô Trên chuyến bay trở về

Việt Nam tìm mẹ, Heidi sống trong cảm giác háo hức, hồi hộp… Gặp người

mẹ Việt Nam sau gần 20 năm xa cách, sau những giây phút xúc động ban đầu,

Heidi đã phải đối mặt với “sốc văn hóa” thật sự khi cô không thể thích nghi

được với cuộc sống ở Việt Nam Ngay đến cách âu yếm, giữ chặt con gái của

người mẹ (24h/24h, từ ăn, ngủ chung giường) đến khi thăm hỏi bà con chòm

xóm, đi chợ cũng làm cô thấy mệt mỏi, chán nản Từ cuộc sống vật chất tạm

bợ ở môi trường xung quanh, từ những sự đụng chạm thân mật vào Heidi của

những người thân cũng làm cô chán nản và muốn rời đi… Khi thấy chị gái

khó khăn, Heidi cho tiền và bà chị lại xin thêm, nói cô giúp con mình học Và,

giọt nước làm tràn li chính là buổi họp gia đình, anh trai đề nghị Heidi đưa mẹ

Cú sốc - bi kịch của Heidi, đạo diễn không lý giải, không bình luận, nhưng khán giả Việt Nam thì có thể lý giải Ba nguyên nhân khiến Heidi bị sốc chính là cô vẫn chưa thoát khỏi mặc cảm bị mẹ đẻ bỏ rơi; vì cô đã hoàn toàn bị nhiễm văn hóa, lối sống Mỹ; vì mối liên kết với quá khứ lại rất lỏng lẻo, ngôn ngữ bất đồng…

Hay một thực tế ở Việt Nam những năm gần đây gây nhức nhối về mặt xã hội là vấn đề bi kịch hôn nhân của những cô dâu Việt lấy chồng nước ngoài Vụ việc cô dâu người Việt Hồng Ngọc bị giết hại ở Hàn Quốc năm

2010, tiếp đó cô dâu Hoàng Thị Nam bị ông chồng Hàn Quốc Lim ChaeWon sát hại hôm 24/5 vừa qua như một hồi chuông cảnh báo xót xa cho những cô gái liều lĩnh đánh bạc với đời mình, “nhăm mắt đưa chân” vào kịch bản hôn nhân không tình yêu nơi xứ người Không được trang bị những kiến thức cơ bản để sống trong môi trường gia đình có nhiều sự khác biệt về phong tục tập quán, lối sống, ngôn ngữ… các cô dâu người Việt nơi xứ người thân cô thế cô không đủ kỹ năng ứng xử để giải quyết và tháo gỡ các mâu thuẫn, xung đột Tóm lại, nguyên nhân sâu xa của những bi kịch loại này là xuất phát từ những xung đột văn hóa

Từ góc độ văn hóa, chúng ta nói nhiều đến vấn đề truyền thống và hiện đại Ngay trong mỗi gia đình - tế bào của xã hội, cũng đã bộc lộ những mâu thuẫn, xung đột không nhỏ Đất nước trong quá trình đổi mới, diện mạo đời sống xã hội đổi thay rất nhiều Gia đình truyền thống cũng phải biến đổi

để thích nghi với xã hội hiện đại Điều dễ nhận thấy chính là sự thay đổi thang giá trị dẫn đến những xung đột giữa các quan niệm khác nhau về văn hóa Ví dụ, trước đây cha mẹ là người có quyền uy rất lớn đối với con cái, thì

Trang 27

nay con cái cần được đối thoại, thảo luận rất nhiều vấn đề trong cuộc sống với

cha mẹ Hay, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, sự bình đẳng nam nữ…

Có thể nói, hầu như xung đột thường bắt nguồn từ sự khác biệt trong nhận

thức giữa cha mẹ và con cái về cùng một vấn đề Những xung đột trong gia

đình tưởng nhỏ, nhưng hậu quả xã hội lại rất lớn Sẽ ra sao khi các thành viên

trong gia đình cảm thấy cô đơn, lạc lõng trong chính ngôi nhà của mình? Vì

thế, trong cuộc sống gia đình, nếu biết cách điều hòa những quan niệm khác

nhau về giá trị, về tâm lý… thì cha mẹ có thể đẩy lùi những phản ứng tiêu cực

từ phía con cái và ngược lại Rõ ràng hiện nay, gia đình - nơi duy trì bền vững

nhất các giá trị văn hóa truyền thống đang phải đối mặt với sự tấn công của

những quan niệm, tư tưởng mới, lối sống mới từ mặt trái của cơ chế thị

trường và quá trình mở cửa, hội nhập Vì thế không ít gia đình Việt Nam hiện

nay đã có những biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống , và, dẫn đến nảy

sinh những mâu thuẫn giữa các thế hệ, mâu thuẫn trong các quan hệ và quan

niệm về quyền lợi, nghĩa vụ, tình yêu, hôn nhân và các mặt khác trong sinh

hoạt gia đình…Sự xuống cấp của gia đình này đã giải thích lý do tại sao trong

xã hội ta, nhiều khi chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ, xung đột nhỏ nhưng cũng có

thể phản ứng bằng hành xử bạo lực, thậm chí xảy ra án mạng Thực tế đau

lòng là, hiện nay ở xã hội chúng ta, án mạng đang ngày càng gia tăng do đạo

đức xuống cấp Minh chứng cụ thể là vài năm trở lại đây, tình hình tội phạm

trong giới trẻ diễn biến hết sức phức tạp với tính chất cực kỳ nghiêm trọng

Theo thống kê của công an, năm 2010 có 687 vụ phạm pháp hình sự do người

chưa thành niên gây ra Phân tích 1.111 đối tượng bị bắt, xử lý, số không biết

chữ chỉ chiếm 8,28%, tiểu học 14,31%, trong khi trình độ văn hóa bậc THCS

là 38,34% và PTTH là 39,06%, cho thấy không thể đổ lỗi vì thất học, thiếu

hiểu biết Con số tội phạm lần đầu (không phải tội phạm chuyên nghiệp) là

66,42%, chứng minh người từng có thân nhân tốt phạm tội chiếm tỷ lệ cao

Một biểu hiện khá rõ của xung đột văn hóa đó là vấn đề sắc thái văn

hóa vùng, miền, địa phương; vấn đề ngôn ngữ, phong tục tập quán… Theo

cách hiểu thông thường, văn hóa vùng hay địa phương là một thực thể văn hóa bao gồm những nét đặc trưng, những nét sắc thái riêng mà các vùng khác không có, hoặc có nhưng không điển hình, không tiêu biểu Các vùng cảnh quan - lãnh thổ khác nhau đòi hỏi việc xử lý của con người đối với môi trường tự nhiên không giống nhau, do đó dẫn đặc thù kinh tế, văn hóa và lịch

sử khác nhau Hiện nay, trong nền văn hóa Việt Nam, sự thống nhất hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự phát triển kinh tế -

xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa là những nhân tố bao trùm có ảnh hưởng sâu sắc đối với việc giữ gìn, bảo tồn, tăng cường và phát huy tính thống nhất trong đa dạng cuả văn hóa vùng, miền, địa phương Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều yếu tố tác động rất mạnh vào vấn đề này, nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột không nhỏ Ví dụ, chỉ riêng việc xây dựng các công trình công nghiệp lớn tại vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên cùng việc đẩy mạnh sự phân bổ lại lao động, dân cư, vấn đề di dân… đã ảnh hưởng rất lớn đến bản sắc văn hóa vùng, miền Cũng như sự xé lẻ các nhóm dân cư thuộc một tộc người, cuộc sống đan xen không phải giữa từng bản, từng buôn người dân tộc, mà giữa từng hộ gia đình người Tày, Thái, Mnông, Êđê… chẳng hạn

về lâu dài sẽ tác động trên nhiều của nét văn hóa vùng, miền Từ đó đã diễn ra

sự dung hợp phong tục tập quán giữa một số dân tộc sống xen kẽ hoặc liền kề nhau Nhiều luật tục lạc hậu đã được xóa bỏ hay tự mờ nhạt dần, như tục ở rể của người Thái và một số dân tộc miền núi phía Bắc, tục “nối dây” (chuê-nuê) của các dân tộc mẫu hệ vùng Tây Nguyên

Do văn hóa thẩm thấu vào bên trong các chủ thể của tương tác, nên xung đột văn hóa thường có đặc trưng là tính gián tiếp, tàng ẩn Vì thế, đụng

độ văn hóa một khi hình thành, thì việc giải quyết nó sẽ càng khó khăn so với đụng độ kinh tế hay chính trị, bởi các bên đều dựa theo tiêu chuẩn giá trị của mình để đánh giá và phán đoán sự vật Văn hóa là con người, nên văn hóa có mặt trong mọi xung đột, bởi bất cứ xung đột trong xã hội nào cũng nảy sinh trên quan hệ người - người Văn hóa ảnh hưởng đến thái độ, hành vi, khuôn

Trang 28

56

mẫu ứng xử, cách xử lý tình huống, cách phản ứng với “cái xa lạ” … Bằng

cách này hay cách khác, văn hóa thẩm thấu vào trong các xung đột, không

quan trọng là người ta có nhận thức được sự hiện diện của nó hay không

Dưới đây là một số vụ việc:

1 Sức ép thi cử đang ngày càng tăng, đè nặng tâm lý cho các sĩ tử nếu không đỗ

thì “liệu thần hồn” Con thi đỗ, cha mẹ nở mày, nở mặt, không đỗ chỉ vì thiếu

chút điểm, cha mẹ đay nghiến

Không thiếu những cuộc “đối thoại” kiểu ấy sau vụ mùa thi cử vừa qua chỉ vì cái

thực và cái mơ của hai thế hệ không cùng chạm đỉnh Cha mẹ đau đầu về con cái,

trong khi con cái chán ngấy cha mẹ vì những xung đột nhỏ trên, điều ấy vô hình

chung đã này càng khoét sâu thêm khoảng cách thế hệ

Theo một cuộc điều tra của VTV thì có tới 74% bạn trẻ thấy rằng có khoảng

cách lớn với cha mẹ mình, chỉ có 18% là trung bình và 8% là khoảng cách nhỏ

Theo chuyên gia tâm lý học Đinh Đoàn thì cần phải tháo kíp nổ trước khi xảy ra

xung đột giữa hai thế hệ

Trong một cuộc điều tra khác về câu hỏi: mức độ đồng tình của bạn với cha mẹ

bạn như thế nào? 17% trả lời thường xuyên, 70% trả lời thỉnh thoảng và chỉ có

13% có ý kiến là hiếm khi Quan điểm sống và giá trị sống đã tạo nên khoảng

cách ấy (tuanvietnam.vietnamnet.vn/thao-ngoi-no-xung-dot-the-he)

2 Theo số liệu được đưa ra tại "Hội thảo giải pháp phòng ngừa từ xa và ngăn

chặn tình trạng học sinh đánh nhau" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày

28/07/2010, trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến ngày diễn ra hội thảo, cả

nước đã xảy ra 1.598 vụ học sinh (HS) đánh nhau ở trong và ngoài trường học

Các nhà trường đã xử lý kỷ luật khiển trách 881 HS, cảnh cáo 1.558 HS và buộc

thôi học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 năm học) tới 735 HS Tính bình quân, cứ

11.111 HS thì có 1 em bị buộc kỷ luật thôi học có thời hạn vì đánh nhau Mặc dù

hầu hết các trường đều đưa ra các mức kỷ luật rất nặng như đuổi học, ghi học

bạ nếu phát hiện đánh nhau trong trường, nhưng không vì thế mà bạo lực học

đường thuyên giảm Trong cặp sách của học sinh có cả dao, côn, ống nước,

gươm, kiếm Để tránh bị nhà trường phát hiện, nhiều học sinh đã đợi đến lúc tan

học, ra ngoài cổng trường rồi mới lao vào ẩu đả Thường những vụ xô xát này

không dừng lại ở hai "diễn viên" chính mà kéo theo đó là những hội, những bang,

những "đệ" với đầy đủ hung khí trong tay Lý do dẫn đến những hành vi bạo lực

này thường rất nhỏ, nhỏ đến mức không thể gọi đó là nguyên nhân để dẫn đến

đánh nhau Chỉ là nghe phong thanh mình bị nói xấu, va chạm nhỏ trong lớp, hay

chỉ đơn thuần là "nhìn đểu" cũng có thể dẫn đến bạo lực Riêng năm học

2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người

Mới đây nhất, theo báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng tải, ngày

21/4/2011, công an một phường của quận 12 (Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết

3 Mô hình đại gia đình khá phổ biến ở nước ta, nhiều người xem đó là niềm hạnh

phúc khi được sống chung nhiều thế hệ, nhưng không ít người, nhất là các gia đình sống ở thành phố lại cho là phiền toái và luôn tìm cách thoát ra mối quan hệ

mà theo họ là "một cổ mấy tròng" để có một cuộc sống tự do, không phải đụng chạm ai Có nhiều người vì điều kiện khác nhau không thoát được thì chọn cho mình giải pháp đó là cách ứng xử im lặng, nhưng không có nghĩa là đồng ý Và

đó là dấu hiệu của một cuộc sống ngột ngạt thiếu vắng những tiếng cười hay

"chiến tranh tâm lý"

Trong cuộc sống, truyền thống người Việt có câu "Trẻ cậy cha, già cậy con" Điều này đã trở thành triết lý sống của biết bao thế hệ Việt Nam Song trong cuộc sống hiện đại, không ít giá trị gia đình cũng như những mối quan hệ đã có nhiều biến chuyển khác biệt dẫn đến những mâu thuẫn thế hệ ngày càng lớn Khoảng cách thế hệ là một trong nhiều nguyên nhân của tình trạng này Khi chăm sóc con cháu, ông bà thường dùng kinh nghiệm "ngàn xưa", còn đôi vợ chồng trẻ lựa chọn kiến thức "tân tiến" Sự khác biệt này có thể hóa giải từ từ nếu đôi trẻ biết chọn cách cùng ông bà đọc báo, xem các chương trình nuôi dạy bé trên ti-vi để

bổ sung kiến thức Những khi góp ý với các bậc sinh thành, con cái cần nhẹ nhàng, mềm mỏng Bởi những trải nghiệp cuộc sống đã mang đến cho họ không

ít vốn sống Hãy tỏ ra trân trọng và xem những lời khuyên của ông bà như những người bạn thân của mình Sống hòa thuận, vui vẻ là liều thuốc bổ quý giá mà không gì có thể mua được (http://www.baomoi.com)

4 Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt, nhiều làng, xã phút

chốc bỗng "nâng đời" thành phố thị đang phổ biến Những con đường vươn dài tới tận thôn, làng, kéo theo nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí mọc lên như nấm Thay cho những ngôi nhà tranh vách đất là các khu cao tầng, nhà cửa kiên

cố, tiện nghi "đến tận răng"

Người quê bỗng trở thành thị dân lúc nào chẳng hay Không thể phủ nhận, đô thị hóa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Nhưng, trong khi cơn lốc đô thị hóa như vũ bão, thì việc chuẩn bị về lối sống còn chưa tương xứng, dẫn đến sự khập khễnh Sự nhầm lẫn giữa "hiện đại hóa" với "thành thị hóa" nông

Trang 29

thôn, dẫn đến bản sắc văn hóa làng quê bị biến dạng dữ dội

Kiến trúc truyền thống làng quê là điều đầu tiên bị phá vỡ, trong khi việc kế tục

xứng đáng lại chưa sẵn sàng, đang là thực tế ở nhiều "phố làng" Mấy năm gần

đây, khi việc mở rộng Hà Nội được thông qua, việc mua bán đất ở nhiều địa bàn

thuộc Hà Tây (cũ) trở nên tấp nập

Những ngôi làng đơn sơ, xinh xắn nhanh chóng bị thay thế bằng những ngôi làng

hiện đại, những ngôi biệt thự to lớn của những người đến mua đất Việc quy

hoạch tùy tiện, những ý thích quái gở càng khiến những vùng đất sơn thủy hữu

tình, yên bình thành nham nhở

Trong trào lưu hiện đại, làng cổ Đường Lâm cũng bị mai một dấu tích của một

ngôi làng cổ đá ong mà vì nó, làng mới trở nên nổi tiếng Bà con ở đây giờ xây

nhà bằng gạch nung, với đủ kiểu tây, tàu xen kẽ Làng Mông Phụ dường như chả

còn ai theo nghề đào đá ong nữa Cũng không còn những khóm tre, hay con ngõ

đất sỏi đá ong lóng lánh, từng là một phần lịch sử của ngôi làng cổ

Tương tự thế, vẻ đẹp sâu lắng bình yên của ngôi làng gốm ở Bát Tràng giờ cũng

lùi vào dĩ vãng Những quầy hàng san sát mọc thành phố trong làng Nhiều ngõ

nhỏ "li ti" như phố cổ Hà Nội Cái hồn cốt của làng là gốm, sản phẩm từng được

triều đình phong kiến chọn để cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh, giờ bị chìm

trong sự phong phú, đa dạng về màu sắc, kiểu dáng của đủ loại gốm nhập về từ

Trung Quốc

Làng lụa Vạn Phúc vốn nổi danh, giờ đã như đô thị với những khu phố bán hàng

sầm uất Tiếng thoi đưa lách cách thuở nào giờ đã trôi vào ký ức, khi các khung

dệt công nghiệp đang lấn át Những tòa nhà cao tầng hiện đại ở Đông Ngạc, Cự

Đà cũng đang khiến các ngôi làng cổ này dần chìm vào dĩ vãng

(http://antg.cand.com.vn)

5 Văn hoá ứng xử trong doanh nghiệp là một phần văn hoá doanh nghiệp Các

mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp được xây dựng và duy trì, phát triển bền

vững sẽ tạo ra mối liên kết chặt chẽ trong toàn doanh nghiệp và đây là nguồn nội

lực to lớn của mỗi doanh nghiệp Bên cạnh đó, môi trường làm việc ngày càng

trở nên đa dạng, nên càng đòi hỏi văn hoá ứng xử phải được thiết lập bền vững

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa hề chú trọng tới việc xây

dựng, củng cố văn hoá ứng xử trong doanh nghiệp mình Vì vậy, các mâu thuẫn,

xung đột trong nội bộ xảy ra liên tiếp, nhân viên bỏ việc

Để xây dựng doanh nghiệp và văn hoá doanh nghiệp bền vững, mỗi doanh

nghiệp cần phải xây dựng được những nguyên tắc ứng xử trong nội bộ phù hợp

với văn hoá doanh nghiệp riêng

Là người đứng đầu doanh nghiệp, nhà lãnh đạo có vai trò rất quan trọng trong

quá trình xây dựng văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp

Họ phải biết tuyển chọn, dùng người đúng việc, đúng chỗ, đưa ra chế độ thưởng phạt công minh, biết cách thu phục nhân viên, lắng nghe, tiếp nhận thông tin phản hồi từ nhân viên, biết giải quyết muâ thuẫn, xung đột nội tại có hiệu quả Khi thực hiện những nguyên tắc này, nhà lãnh đạo sẽ xây dựng được nét văn hóa ứng xử tốt đẹp trong doanh nghiệp

Tuyển chọn, dùng người đúng việc, đúng chỗ: Khi nhà lãnh đạo tuyển chọn đúng

người và dùng đúng người, đúng việc sẽ phát huy được tiềm năng của nhân viên, tạo cho nhân viên niềm say mê trong công việc

Chế độ thưởng phạt công minh: Khi thực hiện công việc quản lý, đòi hỏi nhà lãnh

đạo phải có khiển trách, khen thưởng và phải itến hành công bằng Khi khiển trách, nhà lãnh đạo phải dựa trên lợi ích của tập thể, của doanh nghiệp Khiển trách cũng đòi hỏi phải có nghệ thuật, sao cho nhân viên vui vẻ chấp nhận và phấn đấu làm tốt hơn Khi nhân viên làm tốt, hãy khen thưởng nhân viên trước tập thể

Thu phục nhân viên dưới quyền: Nhà lãnh đạo không chỉ đơn thuần đưa ra các

yêu cầu, mệnh lệnh rồi bắt nhân viên thực hiện Nhà lãnh đạo phải có nghệ thuật,

am hiểu tâm lý con người để thu phục các nhân viên tự nguyện đi theo mình Giao việc cho nhân viên, nhưng chính nhà lãnh đạo cũng phải có thái độ hăng hái giống như mình bắt tay vào làm

Quan tâm tới thông tin phản hồi từ nhân viên: Những phản hồi của nhân viên

cũng giống như những phản hồi của khách hàng.Vì vậy, nhà lãnh đạo hãy xem xét tới ý kiến phản hồi từ phía nhân viên

Giải quyết những xung đột, mâu thuẫn nội tại có hiệu quả: Trước hết, hãy giúp

các nhân viên tự giải quyết những mâu thuẫn của mình Khi mâu thuẫn, xung đột lên cao, nhà lãnh đạo phải biết tìm ra cách giải quyết sao cho không ảnh hưởng tới công việc chung, và các bên liên quan đều thỏa mãn (http://www.songgianh.com.vn)

2.1.3 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tôn giáo:

Bản chất tôn giáo thể hiện trên hai phương diện chính là nguyên nhân

ra đời và tinh thần giáo lí Nguyên nhân ra đời phản ánh cơ sở tồn tại và phát triển Giáo lí chứa đựng mục đích và con đường, nhận thức và hành vi, nội dung và phương tiện để truyền bá tôn giáo

Xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo mà do những nguyên nhân sau:

Trang 30

60

Thứ nhất, sự đa dạng tôn giáo chứa đựng tiềm năng xung đột Các tôn

giáo thường có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau Đó là cơ sở tạo

nên những hệ thống giá trị tinh thần, quan niệm đạo đức và các niềm tin tuyệt

đối khác nhau giữa các tôn giáo Một hệ thống giá trị và niềm tin như vậy

thường khiến tín đồ đặt trọn lòng tin vào tôn giáo đó Đó là tâm lí độc quyền

tôn giáo và thái độ phủ nhận tôn giáo khác

Thứ hai, nhiều tôn giáo lớn thường có các giáo phái khác nhau Sự bất

nhất dẫn đến bất đồng, sau đó là mâu thuẫn, cuối cùng là xung đột Bên cạnh

đó, cùng với sự phát triển của tôn giáo là sự xuất hiện yếu tố chính trị trong

tôn giáo do chi phối của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội và sự tác động

của yêu cầu tổ chức Sự tranh chấp địa vị trung tâm giữa các giáo phái đã góp

thêm nguyên nhân phi tôn giáo vào kiểu dạng xung đột tôn giáo này

Thứ ba, tôn giáo được coi là nguồn của xung đột còn bởi những liên

hệ về mặt giá trị với các nguyên nhân xung đột khác, đặc biệt là xung đột lãnh

thổ và sắc tộc Trong quá trình phát triển, nhiều giá trị tôn giáo đã kết hợp với

những yếu tố bản địa, trở thành bộ phận không tách rời trong hệ thống giá trị

cộng đồng và góp phần tạo nên bản sắc cộng đồng Trong chừng mực nào đó,

tôn giáo đóng vai trò như một sợi dây liên kết cộng đồng nên dần dần chúng

hoà trộn với các giá trị quốc gia, dân tộc Bởi mối liên hệ như vậy và với tư

cách là giá trị cộng đồng, tôn giáo thường dễ bị lôi kéo vào trong các xung đột

lãnh thổ hay sắc tộc nhằm kích thích chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc

Điều này đôi khi tạo nên suy nghĩ cho rằng đây là xung đột tôn giáo

Thứ tư, đó là mâu thuẫn giữa tôn giáo và thế tục Thực ra, bản chất

của mâu thuẫn này cũng gần giống mâu thuẫn trong quan niệm và niềm tin

giữa các tôn giáo khác nhau Về mặt nào đó, tôn giáo ra đời nhằm cải biến

thực tại theo quan niệm và cách thức riêng của mình Trong khi đó, thực tế lại

đa dạng và phức tạp hơn nhiều những gì tôn giáo quan niệm Vì thế, bất đồng

về quan niệm, trái ngược về niềm tin là khó tránh khỏi Xung đột tôn giáo -

thế tục hiện diện khá nhiều trong lịch sử và được thể hiện trên nhiều khía cạnh

61

đời sống khác nhau như chính trị, xã hội và văn hoá Chính vì mâu thuẫn này

mà các tôn giáo khi mới ra đời đều gặp không ít khó khăn để có được chỗ đứng trong đời sống cộng đồng

Thứ năm, rất nhiều xung đột tôn giáo xảy ra do liên quan đến chính trị

Trong lịch sử tôn giáo, sự liên quan với chính trị đã đem lại cả nguyên nhân lẫn điều kiện cho xung đột tôn giáo Là điều kiện khi chính trị được tôn giáo

sử dụng để phát huy thế lực và ảnh hưởng Là nguyên nhân khi chính trị sử dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu của mình Mâu thuẫn tôn giáo được chính trị tiếp sức đã bị trầm trọng thêm Ngược lại, mâu thuẫn chính trị đi cùng tôn giáo lại tạo nên xung đột tôn giáo1

Ở Việt Nam trước đây, xung đột tôn giáo thường liên quan đến tư tưởng và sự theo/không theo tín ngưỡng nào đó Tuy nhiên, đất nước thống nhất, những năm đổi mới xung đột giữa các nhóm theo tôn giáo khác nhau hoặc giữa nhóm theo và không theo tôn giáo nào đó xuất phát từ đòi hỏi quyền "sở hữu", sử dụng đất đai phục vụ các hoạt động tôn giáo hoặc "lợi dụng" phục vụ hoạt động tôn giáo gây mâu thuẫn nhằm mục đích khác Đặc biệt là xung đột giữa nhóm theo tôn giáo với chính quyền sở tại có liên quan đến đất đai của tôn giáo đã có quá trình cho mượn, hiến tặng, trưng thu cho mục đích công cộng của Nhà nước, hoặc được Nhà nước sau quá trình sử dụng đã phân phối lại cho các công dân hoặc tôn giáo khác Đáng lưu ý là những xung đột tôn giáo có liên quan đến vấn đề đất đai có sự tiếp tay, chỉ đạo của một số phần tử xấu nên có yếu tố chính trị

Dưới đây là một số vụ việc xung đột tôn giáo và thực tiễn giải quyết phản ứng xuất phát từ xung đột tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong khoảng 10 năm trở lại đây:

1 Vụ khiếu - tố di dời nhà nguyện Sông Mây và 68 hộ dân trên đất quốc phòng tại

xã Bình Minh (Đồng Nai)

1 Xem Hoàng Khắc Nam: “Xung đột tôn giáo nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,

số 4 - 2004, tr 26 - 31

Trang 31

Ngày 11/3/1999 UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 858/QĐ.CT-UBT V/V

giới thiệu địa điểm di dời nhà nguyện Sông mây đến vị trí mới cho LM và BHG xứ

Bùi Chu Lợi dụng việc di dời linh mục và BHG cố tình không chấp hành, kích

động giáo dân chống đối giữ đất không di dời nhà nguyện theo chủ trương của

tỉnh Để đối phó với chính quyền, họ lợi dụng lễ nghi và các hoạt động tôn giáo để

kích động, tổ chức các hoạt động chống đối; thông qua nhiều việc làm trái phép

khác để tác động tiêu cực đến quần chúng như: liên tiếp tổ chức xây dựng các công

trình tôn giáo trái phép trong khu vực nhà nguyện; kích động các hộ dân có đất

trong khu vực giải tỏa không di dời; tổ chức cho một số giáo dân luân phiên canh

gác nhà nguyện để cản trở các đoàn công tác đến giải quyết vụ việc; kích động và

tổ chức, tụ tập đông người gây rối…tạo nên tình hình căng thẳng kéo dài từ 1999

Tháng 8/1999, đoàn công tác liên ngành Chính phủ đã trực tiếp thanh tra vụ việc

và có kết luận chỉ đạo giải quyết tại văn bản số 371/VPCP V/v di dời nhà nguyện

Sông Mây để thu hồi đất quốc phòng, xem xét hỗ trợ tiền di dời nhà nguyện

Quá trình giải quyết, UBND tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần mời làm việc với linh mục

và BHG nhà nguyện về việc di dời nhà nguyện, xử lý các hoạt động vi phạm tại

nhà nguyện Sông Mây nhưng họ có thái độ không chấp hành; đã mở nhiều đợt vận

động đến từng hộ dân ở Sông Mây; đã xây dựnng xong khu tái định cư cho số hộ

diện giải tỏa di dời và vận động họ nhận đất ổn định cuộc sống Lực lượng công an

đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm phân hóa, bao vây, cô lập cố cực đoan, cầm

đầu; ngăn chặn và tham mưu giải quyết hiệu quả các vụ xảy ra gây rối không để

lan rộng trở thành “điểm nóng” Tuy nhiên, do thái độ và hoạt động tiêu cực của số

cầm đầu, cực đoan, chống đối (như nêu ở phần trên) nên đến nay chính quyền tỉnh

vẫn chưa thể triển khai thực hiện xong chủ trương di dời nhà nguyện và các hộ dân

(kể trên) được Trong năm 2003 và 04 tháng đầu năm 2004 linh mục và số tích cực

khiếu - tố tiếp tục có quan điểm kiên quyết chống chủ trương di dời nhà nguyện

Để thực hiện ý đồ này họ liên tục tìm cách tác động tiêu cực đến quần chúng thông

qua một số sinh hoạt tôn giáo và các hoạt động khác Thậm chí, trong 04 tháng đầu

năm 2004 linh mục Thanh còn đe dọa sẽ rút phép thông công những giáo dân di

dời ra khu tái định cư, tiếp tục chỉ đạo xây sửa trái phép một số công trình tại nhà

nguyện nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2003

2 Tranh chấp đòi đất tại giáo xứ Hoàng Nguyên (Hà Tây cũ)

Chủng viện Hoàng Nguyên trực thuộc Toà giám mục Hà Nội, được xây dựng từ

năm 1903 để đào tạo các chủng sinh trong địa phận Từ 1945-1952, Chủng viện

vẫn là nơi giảng dạy, học tập cho chủng sinh của giáo phận Từ năm 1952, do bị

giặc Pháp bắn phá, gây nhiều thiệt hại, Chủng viện phải dời về Hà Nội Cơ sở vật

chất của Chủng viện giao cho xứ họ Hoàng Nguyên quản lý Từ năm 1971, khu

Chủng viện được chuyển giao cho chính quyền để làm Trường PTTH Phú Xuyên

B Năm 1996, UBND tỉnh Hà Tây đã có chủ trương dời Nhà trường về địa điểm

mới cũng thuộc xã Tri Thuỷ Đến năm 2000, chính thức di chuyển trường và

CSVC của Trường PTTH Phú Xuyên B được bàn giao UBND xã Tri Thuỷ để sử

dụng làm phòng học cho Trường PTCS Tri Thuỷ - Theo nhu cầu như Tờ trình số

02 ngày 25/6/2000 của Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Tri Thuỷ xin khu vực trường PTTH cho trường PTCS

Ngày 6/7/1997, Linh mục Bùi Tám, phụ trách xứ Hoàng Nguyên có đơn xin lại khu Chủng viện cũ với lý do: “trước đây chính quyền mượn của giáo hội Nhà trường gần nhà thờ, nên các sinh hoạt tôn giáo và việc giảng dạy của nhà trường có nhiều buổi trùng hợp, ít nhiều gây ảnh hưởng đến giảng dạy, học tập của nhà trường cũng như các sinh hoạt tôn giáo của nhà thờ Nay nhà trường đã chuyển đến địa điểm mới, được Giám mục Hồng y giao nhiệm vụ xin lại khu Chủng viện

cũ cho hoạt động giáo hội”

Từ ngày 2/01/2001 đến ngày 17/3/2001, giữa UBND xã Tri thuỷ và Linh mục Bùi Tám, Ban hành giáo xứ Hoàng Nguyên diễn ra tranh chấp trong việc tháo dỡ nhà Lẫm (nguyên là nhà kho của trường tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên):

Linh mục Bùi Tám đã chỉ đạo Ban hành giáo, giáo dân tháo dỡ trước và chở số ngói mũi (nguyên của nhà Chủng viện cũ) về Nhà Chung ở Hà Nội, còn một số gỗ lim đưa vào kho của nhà thờ bảo quản Mặc dù chính quyền ngăn cản nhưng họ vẫn cương quyết tháo dỡ với lý do là "lệnh của bề trên"

3 Tranh chấp đòi cơ sở vật chất, đất ở trường Diên Hồng của một số giáo dân xứ

Bùi Chu (Đồng Nai)

Ngày 15/6/2001, UBND xã Bắc Sơn tổ chức xây dựng nâng cấp 3 phòng học Trường tiểu học Diên Hồng thành trường mẫu giáo "Thạch Thảo", thì có một số giáo dân tụ tập ngăn cản, làm cho việc thi công xây dựng không thể triển khai thực hiện

Trước đó, từ năm 1995 linh mục và BHG xứ Bùi Chu đã có ý muốn đòi 3 phòng học này với lý do sử dụng vào sinh hoạt tôn giáo và sau đó sẽ mở "cây xăng" thu kinh phí cho giáo xứ Nhưng linh mục chánh xứ lúc đó không đồng ý vì cho rằng ông đã hiến cho nhà nước Trước 1975, 3 phòng học trường Diên Hồng thuộc trường tư thục Bùi Chu, do linh mục Đoàn Thanh Điện làm hiệu trưởng Sau 30/4/1975 một thời gian cơ sở này bỏ trống không sử dụng Năm 1976 chính quyền ấp Bùi Chu sử dụng 3 phòng học làm kho đựng lúa của ấp Sau đó được tiếp tục sử dụng làm cửa hàng ăn uống của HTX mua bán xã Hố Nai 4 Năm 1979, HTX Hố Nai 4 giải thể Do khó khăn về trường lớp chính quyền địa phương (lúc bấy giờ) giải quyết giao 3 phòng học và phòng ở cho giáo viên của trường Sau khi ngăn cản việc thi công xây dựng, BHG xứ Bùi Chu đã chỉ đạo cho một số

bà trong hội dòng 3 chôn các cọc sắt xung quanh khu đất và khóa cửa 3 phòng học

và tiến hành nhiều hoạt động tôn giáo tại đây Họ đã đưa đến 30 ghế dựa và 1 tượng thánh Martino (cao 40cm); tụ tập dọc kinh tập thể vào các buổi chiều hàng ngày để xác lập "chủ quyền" của xứ đối với cơ sở này Các họ đạo đã gửi thư cho linh mục chánh xứ thể hiện quyết tâm giữ đất:

“Thiết tưởng rằng đây là di sản thiêng liêng mà cha ông chúng tôi để lại vì thế

chúng tôi sẽ quyết tâm bảo vệ mảnh đất này đến cùng” (Thư cộng đoàn giáo họ

Patima ngày 30/10/1992)

Trang 32

64

“Chúng tôi xét thấy rằng, đất đai này là của toàn bộ giáo dân của giáo xứ Tam

Thái, vì vậy chúng ta phải giữ đến cùng” (Thư giáo họ Antôn ngày 31/10/1992)

“Xin cha cho chúng con xác nhận một lần nữa, lúc nào chúng con cũng đoàn kết

nhất trí và xiết chặt hàng ngũ xung quanh cha để bảo vệ phần đất mà toàn thể giáo

hữu chúng con đã đổ bảo công sức xây dựng ” (Thư của họ mẹ HCO ngày

01/11/1992)

4 Theo hồ sơ tài liệu về nhà đất đang lưu trữ tại Sở Tài nguyên - Môi trường và Sở

Xây dựng Hà Nội, khu nhà đất số 40a (nay là số 42) phố Nhà Chung, trước đây có

nguồn gốc do Hội truyền giáo ngoại quốc (Hội thừa sai Pa-ri) quản lí và sử dụng

Trong thời kì thực hiện chính sách của Nhà nước về nhà đất, ngày 24/11/1961,

linh mục Nguyễn Tùng Cương (lúc đó là quản lí toà tổng giám mục Hà Nội) đã

bàn giao cơ sở nhà đất số 40a (nay là số 42) Nhà Chung qua Nhà nước thống nhất

quản lí

Liên tục từ đó đến nay, khu nhà đất 42 Nhà Chung do UBND quận Hoàn Kiếm

quản lí, sử dụng làm trụ sở cơ quan phòng Văn hoá - Thể thao quận, Trung tâm

Thể dục - Thể thao, Nhà Văn hoá quận

Ngày 18/9, UBND quận Hoàn Kiếm tổ chức công bố quy hoạch Dự án Công viên

cây xanh - Thư viện phục vụ cộng đồng dân cư tại khu đất số 42 phố Nhà Chung,

quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Sáng 19/9, các đơn vị thi công bắt đầu triển khai dự án

Thế nhưng, ngay sau đó, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã có Đơn khiếu nại khẩn

cấp gửi Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ cho rằng khu đất đó là của Tòa Tổng

Giám mục, đồng thời yêu cầu các cơ quan chức năng chấm dứt việc triển khai dự

án trên khu đất

Theo Nghị quyết số 23/2003/QH ngày 26/1/2003 của Quốc hội khóa XI thì "Nhà

nước không xem xét lại chủ trương chính sách và việc thực hiện các chính sách về

quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban

hành trước ngày 1/7/1991"

Tại các công văn gửi Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội đã

khẳng định: Trong trường hợp Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám

mục Hà Nội có nhu cầu thực sự cần thiết về diện tích làm việc thì có văn thư và lập

Đề án trình cấp có thẩm quyền xem xét để được giải quyết theo quy định của Luật

Đất đai năm 2003 và phù hợp với quy hoạch chung xây dựng của thành phố Hà

Nội (http://www.anninhthudo.vn)

5 Ngày 24/10/1961, linh mục Vũ Ngọc Bích (là người quản lý nhà, đất) đã ký biên

bản "Hội nghị bàn giao nhà thống nhất quản lý vào Nhà nước" Theo đó, bàn giao

toàn bộ nhà đất do dòng Chúa Cứu thế quản lý tại 116 Nam Đồng (trừ diện tích

nhà thờ, nay là khu vực 178 phố Nguyễn Lương Bằng) gồm 3.905m2 nhà chính,

945m2 nhà phụ trên diện tích khoảng 60.000m2 đất giao sang cho Nhà nước quản

lý, trong đó có khu nhà đất do Xí nghiệp thảm len (nay là Cty cổ phần may Chiến

Thắng - Cty MCT) đang sử dụng

Như vậy, khu nhà dất tại 178 phố Nguyễn Lương Bằng đã được Nhà nước thống

nhất quản lý (trừ khu vực nhà thờ) Trong văn bản số 2476, ngày 30.6.2008 của

65

UBND TP.Hà Nội trả lời khiếu nại của ông Trịnh Ngọc Hiên và một số linh mục, giáo dân đã khẳng định: Việc đòi quyền sử dụng nhà đất tại 178 Nguyễn Lương Bằng mà Nhà nước đang thống nhất quản lý là không có cơ sở để giải quyết

Từ đầu tháng 11/2007, Giáo xứ Thái Hà đã cho người xây dựng nhà nguyện, hang

đá và đang tiếp tục làm nhà mới trên khu đất đang có tranh chấp do Cty vật tư vận tải ximăng và Cty điện lực Hà Nội quản lý; tự ý dựng cổng sắt chiếm phần đường

đi vào khu đất của 2 Cty này

Đến đầu tháng 1/2008, Giáo xứ Thái Hà liên tục huy động giáo dân đẩy đổ tường rào của Cty may Chiến Thắng, lập bàn thờ, đặt tượng, treo ảnh Đức Mẹ, tập trung đông người cầu nguyện trên vỉa hè, bên ngoài tường rào Cty may Chiến Thắng Nhằm giải quyết dứt điểm khiếu kiện về đất đai, sau văn bản số 2476 ngày 30/6, ngày 2/7, UBND TP có công văn số 4231 chỉ đạo xử lý về vấn đề này

Trong đó có mục nêu rõ: "Nếu nhà thờ Thái Hà có nhu cầu xin sử dụng đất để phục vụ mục đích tôn giáo theo quy định của Nhà nước thì phải thực hiện theo trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật " Tuy nhiên, Giáo xứ Thái Hà liên tục có các văn bản bao biện cho các hành vi vi phạm Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Đất đai của mình và có cách hành xử riêng

Cao điểm là khoảng 2h sáng ngày14/8/2008, Giáo xứ Thái Hà đã huy động giáo dân tổ chức đặt tượng Đức Mẹ bằng thạch cao cao khoảng 1,1m, trong khuôn viên nhà đất của Cty MCT Ngay sáng hôm sau, Giáo xứ Thái Hà đã huy động 150 giáo dân tổ chức cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ

Chiều cùng ngày, hàng trăm giáo dân đẩy đổ 8 mét tường rào khu đất của Cty MCT, lát gỗ tạo lối đi, đưa thêm 2 bức tượng Đức Mẹ, thánh giá cao 6m; tổ chức phát quang, dọn dẹp khu vực đặt tượng, dựng lều bạt, để 3 chiếc ôtô ngay trong khuôn viên này Đến chiều 17/8, giáo dân còn mang tranh, ảnh, tượng Đức Mẹ định đặt trong khu nhà ở và làm việc công nhân ở Cty này Nhưng trước sự phản đối quyết liệt của công nhân thì họ đặt 2 tượng, treo ảnh trên cây tại khu vực khác của Cty (http://laodong.com.vn)

6 Sáng 20 /7 / 2009, khoảng hơn 200 giáo dân từ một số huyện trong tỉnh Quảng

Bình kéo về nhà thờ Tam Tòa (phường Đồng Mỹ, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), nay là khu Chứng tích tội ác chiến tranh, ngang nhiên xây dựng nhà thờ trái phép trên nền nhà thờ cũ đã bị bom Mỹ tàn phá năm xưa Hành vi trên không chỉ

vi phạm pháp luật, mà còn gây nên sự bức xúc của nhân dân địa phương nói chung, đồng bào giáo dân nói riêng

Nhà thờ Tam Tòa được xây dựng vào năm 1886 nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người Pháp và đồng bào theo đạo trên địa bàn Năm 1954, toàn bộ dân của xứ đạo Tam Tòa di cư vào Nam Cũng từ đây nhà thờ bị bỏ hoang Ngày 11/2/1965, nhà thờ bị bom Mỹ tàn phá hầu như toàn bộ, chỉ còn sót lại phần tháp chuông

Do trên địa bàn không còn người dân theo đạo, nên toàn bộ khu vực này lâu nay không sử dụng vào mục đích thờ tự, cầu nguyện Đến năm 1997, UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết định 143 công nhận tháp chuông Tam Tòa là chứng tích tội

ác chiến tranh của đế quốc Mỹ đối với người dân Quảng Bình Ngày 23/10/2008,

Trang 33

UBND tỉnh Quảng Bình và Tòa giám mục Vinh (Tòa giám mục Xã Đoài), nơi

quản lý toàn bộ giáo phận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã ký bản ghi nhớ, nội

dung là trao đổi, bàn bạc về đất đai nhà thờ Tam Tòa cũ và một số giáo điểm trên

địa bàn tỉnh Quảng Bình Biên bản này do Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình,

Trần Công Thuật và Giám mục Giáo phận Vinh, Cao Đình Thuyên ký Tại bản ghi

nhớ này UBND tỉnh và Tòa giám mục thống nhất: “Khuôn viên của nhà thờ Tam

Tòa cũ hiện là chứng tích tội ác chiến tranh Hai bên thống nhất sẽ giữ nguyên và

tôn tạo nhằm bảo vệ cũng như phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục truyền thống

cho thế hệ trẻ

Phía giáo Hội có nhu cầu xây dựng cơ sở thờ tự, thì làm thủ tục xin cấp đất theo

đúng quy định, trên cơ sở quỹ đất của địa phương và quy hoạch tổng thể của thành

phố Đồng Hới

Nhà thờ không những là nơi thờ tự, mà còn là công trình văn hóa, Tòa giám mục

nên chọn nơi nào thuận lợi cho giáo dân và tăng thêm vẻ đẹp cho thành phố”

Quyết định của UBND tỉnh Quảng Bình và bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh với Tòa

giám mục không chỉ được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ mà

còn phù hợp với Luật Di sản văn hóa và Luật Đất đai hiện hành

(http://www.qdnd.vn)

7 Trong thôn Đồng Chiêm có địa danh tên là núi Chẽ, nằm trong địa giới hành

chính của xã An Phú, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Ngày

19/3/1994, UBND tỉnh Hà Tây có Quyết định số 316 thành lập Ban quản lý rừng

đặc dụng Hương Sơn, với chức năng cơ bản là quản lý bảo vệ toàn bộ rừng đặc

dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tây, trong đó có rừng đặc dụng tại thôn Đồng Chiêm

Ngày 29/6/2000, UBND tỉnh Hà Tây và Sở NN & PTNT đã có Quyết định số

192QĐ/NN-LN bổ sung chức năng giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng Hương

Sơn có trách nhiệm khoanh nuôi rừng đặc dụng thuộc vùng đệm xã An Phú với

diện tích 708,5ha, trong đó có núi Chẽ ở thôn Đồng Chiêm, với diện tích 16,5ha,

thuộc lô C1 - độ cao 80m - độ dốc 250

Ngày 3/ 3 /2009, Ban hành giáo xứ Đồng Chiêm, đứng đầu là linh mục nhà thờ xứ

Nguyễn Văn Hữu đã huy động hàng trăm giáo dân xây dựng trái phép một cây

thánh giá trên đỉnh núi Chẽ Để biện minh cho hành động trái pháp luật của mình,

linh mục Nguyễn Văn Hữu và phó xứ Nguyễn Văn Liên đã bơm tin đồn thổi rằng

núi Chẽ là “núi thiêng”, Tuy nhiên, bản thân linh mục và phó xứ cũng không thể

giải thích hay đưa ra bất cứ bằng chứng nào về việc núi có thiêng hay không!?

Trước sự việc trên, UBND huyện Mỹ Đức đã chỉ đạo các cơ quan chức năng lập

biên bản vi phạm hành chính và ra các quyết định xử lý hành chính, yêu cầu tháo

dỡ hiện vật xây dựng trái phép theo đúng quy trình, thủ tục Ngày 2/4/2009,

UBND huyện Mỹ Đức đã ra quyết định xử lý hành chính, phạt cảnh cáo đối với 5

người trong Ban hành giáo giáo xứ Đồng Chiêm về hành vi trên và yêu cầu buộc

tháo dỡ công trình vi phạm, khôi phục tình trạng ban đầu

(http://www.cand.com.vn)

Phần lớn các cơ sở tôn giáo đã có đơn xin lại đất, cơ sở thờ tự hoặc có

ý định đòi lại đều diễn ra âm ỷ nhiều năm Quá trình giải quyết/không giải quyết đã phát sinh mâu thuẫn gay gắt dẫn đến khiếu nại, tố cáo Giải quyết các khiếu nại, tố cáo này lại thường rất phức tạp về an ninh, trật tự và khó giải quyết xử lý về nhiều mặt trong công tác quản lý nhà nước Trong đó nhiều vụ việc tuy đã được giải quyết nhưng họ không đạt được nguyện vọng, tình hình

bề nổi tạm ổn định song mâu thuẫn vẫn tiếp tục âm ỷ, khi có thời cơ, điều kiện "thuận lợi" họ lại tiến hành khiếu nại, tố cáo tiếp

Xung đột liên quan tôn giáo được các thế lực thù địch rất quan tâm và luôn tìm cơ hội thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng bóp méo sự thật, vu cáo chính quyền vi phạm tự do tôn giáo, tín ngưỡng để chuyển hóa thành sự kiện chính trị phức tạp, chuyển hóa tính chất xung đột

Số lượng người tham gia thường đông từ hàng trăm đến hàng ngàn người tuỳ theo số lượng giáo dân, tín đồ của cơ sở tôn giáo; tín đồ tham gia lại bị chi phối, ràng buộc bởi hệ thống thần quyền, giáo lý, bởi đức vâng lời

Do có sự chỉ đạo hậu thuẫn sâu sắc của chức sắc, chức việc nên hoạt động khiếu nại, tố cáo các vụ có liên quan tôn giáo thường mang tính tổ chức chặt chẽ ngay từ khi còn âm ỉ cho đến khi kết thúc, có sự bàn bạc tính toán kỹ về nội dụng đơn thư, lực lượng tham gia và biện pháp đối phó với chính quyền

2.1.4 Phản ứng xã hội xuất phát từ xung đột tộc người:

Việt Nam có 54 tộc người, trong đó người Kinh là đa số, chiếm khoảng 86% dân số; 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước Trong số 63 tỉnh, thành phố hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng miền núi và tộc người thiểu số: 12 tỉnh vùng cao; 9 tỉnh miền núi; 23 tỉnh có huyện,

xã miền núi và 10 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nơi có đông đồng bào các tộc người thiểu số sinh sống

Những năm gần đây, ở vùng các vùng tộc người thiểu số và miền núi của Việt Nam đã và đang phát sinh những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp;

Trang 34

68

bùng phát thành những “điểm nóng” đang có khả năng tái phát và còn tiềm ẩn

những nguy cơ bất ổn định

2.1.4.1 Ở khu vực Tây Nguyên :

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Đắc Nông và

Lâm Đồng Phản ứng bùng phát thành xung đột tộc người năm 2001 ở các

tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk, Kon Tum và tái phát vào năm 2004 ở các tỉnh Đăk

Lăk, Đăk Nông, Gia Lai thông qua việc hàng nghìn người dân bị lợi dụng, lôi

kéo, tụ tập biểu tình, chống đối người thi hành công vụ, đòi yêu sách và thành

lập nhà nước riêng

1 Tỉnh Đắc Lắc:

Ngày 10/4/2004 tại tỉnh Đăk Lăk, ở 30 buôn, thuộc 18 xã của huyện Krông Ana và

thành phố Buôn Mê Thuột có khoảng 3.500 người, chủ yếu là dân tộc bản địa tiến

vào trung tâm thành phố theo 4 hướng:

- Tại cánh Bắc huyện Krông Ana:

Từ 6 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút có 37 xe công nông chở khoảng 600 người

thuộc các xã Ea Tiêu, Ea Ktur, Ea Bhok, Cư Ea Wy theo Quốc lộ 27 kéo về cách

trung tâm thành phố 8 km thì bị lực lượng công an, dân phòng chặn lại Những

người biểu tình ném đá vào lực lượng dân phòng, dùng xà gạt chém một công an bị

thương Đến 14 giờ ta bắt 4 tên và dùng biện pháp mạnh giải tán được toàn bộ số

người biểu tình

- Tại cánh Nam huyện Krông Ana:

Lúc 7 giờ có 500 người thuộc các xã Ea Na, Dray Súp, Ea Bông đi trên 18 xe công

nông kéo về Buôn Mê Thuột, nhưng đến đèo Ea Na bị chặn lại, ta làm tốt công tác

tuyên truyền giải thích nên đồng bào trở về buôn

- Tại hướng huyện Cư M’gar:

Từ 6 giờ sáng đã có hàng trăm người dân tộc Ê đê của 4 xã Ea H’đing, Cư Suê, thị

trấn Ea Pok (huyện Cư M’gar) tập trung tại thị trấn Ea Pok theo tỉnh lộ 2 kéo về

Buôn Mê Thuột Lực lượng chốt chặn tại đây đã bị phá vỡ, số người biểu tình đã

dùng gạch đá tấn công lực lượng công an, dọc đường còn có 4 điểm chốt chặn nữa

nhưng đều bị phá vỡ Đến 9 giờ 30 phút, đã có hơn 1.800 người tập trung ở hướng

này, đi trên 193 xe công nông kéo đến khu vực trụ sở Ủy ban nhân dân phường

Tân Lợi, cách trung tâm thành phố 2 km Đoàn biểu tình mang theo hung khí như

gậy đóng đinh, ná cao su, xà gạt, gạch đá, mang theo cả lương thực, nước uống,

- Tại thành phố Buôn Mê Thuột:

Lúc 7 giờ khoảng 300 người ở thôn Kbur (xã Hòa Khánh) kéo đến chợ Ea Kao, cách trung tâm thành phố 8 km Tại đây đã xảy ra xô xát giữa đoàn biểu tình và lực lượng công an, đã bắt 6 tên cầm đầu biểu tình, kết hợp với việc tuyên truyền vận động, đến 15 giờ đồng bào đã trở về buôn

Tại buôn Dha Prông (xã Cư Ebur) có hơn 60 thanh niên dùng 4 xe công nông chạy vào trung tâm thành phố định xuống khu vực Ea Kao để tham gia biểu tình, nhưng

đã bị chặn lại, bắt 8 tên và đoàn biểu tình bị giải tán

Ở Đắc Lắc tình hình diễn biến phức tạp, có điểm quyết liệt; các nơi đều tập trung kéo về thành phố Buôn Mê Thuột để đòi đất đai, nhà cửa của người Kinh, để Liên hợp quốc can thiệp và chở đi Mỹ (đoàn Lãnh sự quán Mỹ xin làm làm việc tại địa phương ngày 12/4 nhưng ngày 10/4 đã lên Buôn Mê Thuột và bị ta chặn lại ở Bình Phước phải quay về)

Tình hình Đắk Lắc đến 15 giờ ngày 10/4 đã ổn định, không có thêm vụ bạo loạn nào xảy ra; chỉ có 1 vụ ở buôn Jung (xã Ea K’tur, huyện Krông Ana) số người biểu tình bị giải tán trở về (khoảng 200 người) nhưng không về nhà mà tập trung tại sân vận động của buôn, đến 12 giờ ngày 11/4 ta đã vận động và bắt một số tên cầm đầu mới giản tán được Tỉnh và các huyện đã tập trung khắc phục hậu quả, cứu chữa người bị thương, tăng cường lực lượng bám địa bàn và triển khai một số biện pháp nhằm ổn định tư tưởng và đời sống của nhân dân

2 Tỉnh Đắc Nông:

Ngày 10/4, 5 huyện phía Nam của tỉnh (khu vực đồng bào M’nông) tình hình bình thường Riêng huyện Cư Jút giáp với Đăk Lăk xảy ra biểu tình Vào lúc 7 giờ 30 phút, lợi dụng đám tang của già làng buôn Buôr (xã Tân Thắng), trên 200 người của 4 buôn (buôn Buôr, buôn Nui, buôn Trum thuộc xã Tâm Thắng và buôn U thuộc thị trấn Ea T’Ling) kéo vào trung tâm huyện đến trước cổng Ủy ban nhân dân huyện Cư Jút thị bị lực lượng ta chặn lại giải tán, xảy ra xô xát quyết liệt, người dân tộc ném đá vào công an

3 Tỉnh Gia Lai:

Từ sáng sớm ngày 10/4 đã có 10 xã thuộc 4 huyện: Đăk Đoa, Mang Yang, Ayunpa

và IaPa có người dân tộc biểu tình Các lực lượng triển khai chặn được một số điểm không để người dân tộc kéo đi, nhưng một số điểm không ngăn chặn được,

số biểu tình kéo lên trụ sở các xã Hra (huyện Mang Yang), Ia Peng (Ayunna) Ia Gla, Ia Tức (huyện Đăk Đoa), bao vây trụ sở xã, hô khẩu hiệu đòi đất đai, đòi thả những người bị bắt, đòi tự do sinh hoạt đạo Tin lành, xông vào nhà lãnh đạo

Trang 35

huyện, ném đá đập vỡ cửa trụ sở xã, phá hệ thống loa truyền thanh và đòi hạ cờ Tổ

quốc Lực lượng ta kịp thời triển khai, vây chặt, vừa vận động vừa tuyên truyền,

mặc dù xảy ra xô xát đến trưa ngày 10 cơ bản đã giải tán được đoàn biểu tình

Ngày 11/4, tỉnh Gia Lai tiếp tục xuất hiện thêm nhiều điểm biểu tình mới tại các

huyện Cư sê, Cư Prông và Đức Cơ và Đăk Đoa Hàng trăm người kéo về ủy ban

nhân dân các xã, thị trấn trung tâm huyện với băng rôn khẩu hiểu yêu sách, ném đá

tấn công lực lượng ngăn chặn, ta triển khai lực lượng ngăn chặn và đã xảy ra xô

xát quyết liệt khiến nhiều đồng chí bị thương

Mặc dù vậy đến ngày 12 - 13 tháng 4 tình hình Gia Lai cũng chưa thật sự hết dấu

hiệu phức tạp Ở một số điểm sau biểu tình, bạo loạn, số quá khích vẫn lén lút nhen

nhóm âm mưu biểu tình trở lại Sau ngày 15 tháng 4 tình hình tạm thời ổn định

Cuộc bạo loạn năm 2004 bùng phát ở Tây Nguyên có quy mô tương đối lớn với sự

tham gia của hơn 10.000 người; có tính chất đặc biệt thô bạo và manh động Trên

đường đi bọn cầm đầu quá khích đã dùng gạch, đá ném, dùng gậy đánh, dùng xà

gạt chém lực lượng công an, cán bộ; khi đến thành phố đập phá nhà người Kinh,

đánh người Kinh Không chỉ dùng thủ đoạn lừa mị mà những kẻ cầm đầu còn dùng

cả thủ đoạn ép buộc đồng bào dân tộc; ép buộc học sinh, người già, phụ nữ có thai

đi biểu tình Tính chất ly khai, kỳ thị dân tộc phản động rõ nét Các hoạt động

được tổ chức chặt chẽ hơn, chu đáo hơn: ở các buôn đã có sự chuẩn bị chu đáo về

lực lượng, phương tiện, có sự thống nhất về thời gian thực hiện, tổ chức hành

động Cuộc bạo loạn năm 2004 gây hậu quả nặng nề về chính trị, tư tưởng Trên tất

cả các hướng xảy ra biểu tình, bạo loạn đều có sự xô xát quyết liệt giữa lực lượng

biểu tình và lực lượng chống biểu tình, nhiều người bị thương; xô xát giữa đồng

bào với cán bộ, công an, giữa đồng bào Thượng và đồng bào Kinh

2.1.4.2 Ở khu vực Tây Nam Bộ (tỉnh Sóc Trăng):

Sóc Trăng là tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer, chiếm 27,91%

dân số toàn tỉnh, cư trú xen kẽ với đồng bào Kinh khắp 8 huyện, thị trong

tỉnh, tập trung đông nhất ở 4 huyện: Vĩnh Châu, Mỹ Tư, Mỹ Xuyên và Long

Phú Đồng bào Khmer với bản chất thật thà, cần cù lao động, có truyền thống

đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Những năm gần đây với nhiều chủ trương đầu tư phát triển kinh tế xã

hội, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa và có những ưu tiên thỏa đáng, đời

sống vật chất tinh thần của nhân dân trong vùng dân tộc bước đầu được cải

thiện Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhân dân gặp nhiều khó khăn, một số

phải cầm cố ruộng đất, đi làm thuê ở địa phương khác, mặt bằng dân trí còn thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tâm lý đồng bào nhẹ dạ cả tin… Lợi dụng tình hình trên, trong những năm qua các thế lực thù địch và các hội nhóm Khmer đã thực hiện âm mưu kích động đòi ly khai tự trị, kích động hận thù dân tộc Đặc biệt là lợi dụng sơ hở trong quản lý nhà nước để hoạt động tôn giáo, truyền đạo trái phép (toàn tỉnh Sóc Trăng hiện có 5 tôn giáo: Phật Giáo, thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài hòa hảo, có 278 cơ sở thờ tự, 206 đình, miếu, 1 trường trung cấp Phật học, 1 trường Bổ túc văn hóa Paly trung cấp Nam bộ, 1 tỉnh dòng mến thánh giá và 1 công đoàn Chúa Quan Phòng; có hơn 2500 chức sắc, nhà tu hành; trên 8400 chức việc và 615.500 tín đồ tôn giáo (chiếm 50,9 % dân số toàn tỉnh) Đáng chú ý là sự xuất hiện trở lại nhóm

Từ Ân, Đạo Tâm, Thiên Khai Huỳnh Đạo, Vô Vi Pháp… Nhóm Thiên Khai Huỳnh Đạo hiện có 2 nơi thờ tự khoảng 135 tín đồ; tháng 4 năm 2003 họ đã

tự ý đặt 2 tượng và xây dựng thêm nhà khách không xin phép, tổ chức phát tán một số kinh có nội dung chống phá Việt Nam

Tuy trong những năm qua các tổ chức tôn giáo trong tỉnh chưa có những hoạt động chống đối công khai, song còn tiềm ẩn các nhân tố gây bất

ổn định như: có biểu hiện liên kết tôn giáo, các hoạt động tranh giành ảnh hưởng, khuếch trương thanh thế, phát triển tín đồ, nắm giáo dân… Mặt khác, các tổ chức tôn giáo ở nước ngoài tán phát tài liệu kích động chia rẽ đoàn kết lương giáo, tán phát tài liệu xuyên tạc đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, kêu gọi tín đồ đấu tranh đòi tự do tôn giáo… đặt ra những vấn đề phức tạp về dân tộc và tôn giáo, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn định ở địa phương

2.1.4.3 Ở khu vực Tây Bắc (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên):

Mường Nhé là huyện vùng cao biên giới thuộc tỉnh Điện Biên Những năm qua cùng với nhiều chính sách ưu tiên, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Chính phủ và tỉnh Điện Biên, thông qua triển khai thực hiện nhiều chương trình mục tiêu như 134, 135, 167, NQ

Trang 36

72

30a… , tỷ lệ hộ đói, nghèo tại Mường Nhé đã giảm đáng kể (bình quân

5%/năm) Tính riêng trong năm 2009, Mường Nhé đã triển khai đề án phát

triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, với tổng kinh phí

thực hiện cho cả giai đoạn 2009-2020 gần 6.000 tỷ đồng

Bên cạnh việc được thụ hưởng nhiều chương trình, dự án hỗ trợ phát

triển kinh tế - xã hội, nhà ở, đường giao thông, nước sạch, trường học, chăm

sóc y tế giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào huyện Mường

Nhé ngày càng được cải thiện, không thể phủ nhận đời sống đồng bào các dân

tộc thiểu số nơi đây còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, việc đầu tư phát triển

chưa đồng đều

Gần đây trong một bộ phận người Hmông ở huyện Mường Nhé có

thông tin lan truyền rằng những ngày đầu tháng 5 năm 2011, tại Mường Nhé

sẽ xuất hiện một “thế lực siêu nhiên” Thông tin lừa bịp với nội dung “thế

lực” này sẽ mang bà con tới miền đất hứa, ở đó mọi người sẽ được ban sức

khỏe, hạnh phúc, sự giàu sang và phú quý Một số đồng bào do nhẹ dạ, cả tin

đã rủ nhau cùng tụ tập về Mường Nhé (chủ yếu là ở bản Huổi Khon, xã Nậm

Kè) để chờ đón sự xuất hiện của “thế lực siêu nhiên” Lợi dụng tình hình đó,

một số phần tử cực đoan đã sử dụng những luận điệu lừa gạt, dụ dỗ, kích

động, lôi kéo, thậm chí đã cưỡng bức nhiều đồng bào dân tộc Hmông từ một

số địa phương về Mường Nhé để tụ tập, rêu rao cái gọi là “thành lập Vương

quốc Hmông”, gây mất trật tự, an ninh, làm ảnh hưởng đến đời sống và sản

xuất của người dân Thậm chí những kẻ cầm đầu còn tiến hành các hoạt động

quá khích như tổ chức người canh gác, hình thành vùng quản lý riêng, ngăn

cản hoạt động đi lại, sinh hoạt bình thường của người dân trong khu vực, hoạt

động của cán bộ chính quyền địa phương; khống chế người thi hành công vụ

và đưa ra những điều kiện, yêu sách trái pháp luật

Việc gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong

cộng đồng dân tộc Hmông ở Mường Nhé vào tháng 5 năm 2011 không ngoài

73

ý đồ của một nhóm người tự phong là “trưởng đạo” của cái gọi là “đạo Vàng Chứ” để gây sự chú ý và tạo sức ép lên các cấp chính quyền địa phương Trước tình hình này, chính quyền và các đoàn thể nhân dân đã kịp thời vận động, thuyết phục và giải thích để bà con hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của

kẻ xấu, tổ chức chữa trị bệnh tật, chăm sóc y tế cho đồng bào bị ốm đau, đặc biệt là người già và trẻ em Từ đó, nhân dân đã tự giác trở về nơi cư trú Chính quyền địa phương đã hỗ trợ phương tiện, lương thực, thuốc men và trợ cấp giúp đồng bào ổn định cuộc sống Một số đối tượng có hành vi quá khích

đã bị tạm giữ để điều tra, xử lý theo các quy định của pháp luật

Người Hmông có câu nói “Có mà đi thì hết Không có mà đi thì chết”,

để khuyên răn mọi người trong dân tộc mình từ bỏ tập quán du canh, du cư tồn tại từ lâu đời Tuy nhiên chỉ với một số kẻ cầm đầu, tay sai cho các thế lực thù địch đã tuyên truyền, dụ dỗ, ép buộc, thậm chí cưỡng bức hàng trăm người, ngày đêm rồng rắn gia đình đến Huổi Khon tụ tập chờ “thế lực siêu nhiên”, chờ “thành lập Vương quốc Hmông” Cần phải đặt câu hỏi là tại sao chỉ với một số đối tượng trình độ hạn chế lại có thể kích động, dụ dỗ một số lượng đông đảo bà con đồng bào dân tộc thiểu số nghe theo; động lực nào khiến họ đem cả gia đình, người già, trẻ con phiêu lưu mạo hiểm?

Luận điệu tuyên truyền, xúi giục, kích động của những phần tử xấu ở Mường Nhé không có gì mới Chủ yếu vẫn chỉ là lợi dụng trình độ nhận thức còn hạn chế của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số; những khó khăn trong đời sống của người dân; tập quán du canh, du cư của bà con… Hoạt động của kẻ xấu đã đẩy các hộ dân đang làm ăn yên ổn vào cảnh bần hàn, đói khổ, tạo ra những gánh nặng cho chính sách hỗ trợ của Nhà nước, gây khó khăn cho việc triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào Ẩn chứa trong sự kiện Mường Nhé là ý đồ lôi kéo đám đông tụ tập gây rối, kích động

để những lực lượng hậu thuẫn từ bên ngoài có cớ thổi phồng lên thành vấn đề bạo động tôn giáo, sắc tộc, tuyên truyền chống phá chính sách đại đoàn kết dân tộc của nhà nước ta

Trang 37

1 Người phát ngôn Ủy ban Nhân dân tỉnh Điện Biên, ông Lê Thành Đô, Phó Chủ

tịch kiêm Chánh Văn phòng UBND tỉnh Điện Biên, cho biết, thời gian gần đây,

trong một bộ phận người H’Mông ở tỉnh Điện Biên, chủ yếu là ở Mường Nhé, có

thông tin lan truyền, rằng trong những ngày đầu tháng 5, tại Mường Nhé sẽ xuất

hiện một "Thế lực siêu nhiên"

"Thế lực" này sẽ mang bà con về "một miền đất hứa," ở đó mọi người sẽ được ban

sức khỏe, hạnh phúc, sự giàu sang và phú quý

Từ đầu tháng 5, một số bà con do nhẹ dạ cả tin vào những thông tin bịa đặt, lừa bịp

của kẻ xấu, đã rủ nhau cùng tụ tập về Mường Nhé để chờ đón sự xuất hiện của "Thế

lực siêu nhiên." Lợi dụng tình hình đó, một số phần tử xấu đã kích động, vận động

đòi thành lập “vương quốc” riêng của người H’Mông, gây mất trật tự, an ninh, an

toàn ở địa phương

Tình trạng tụ tập đông người trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu các tiện

nghi sinh hoạt, ăn uống không bảo đảm vệ sinh, đã ảnh hưởng đến sức khỏe của bà

con

Theo ông Lê Thành Đô, trước tình hình trên, chính quyền địa phương đã cử cán bộ

xuống vận động, thuyết phục bà con không nên tin vào những thông tin bịa đặt lừa

bịp, cùng các luận điệu sai trái đối với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của

Đảng và Nhà nước ta do các phần tử xấu tung ra, sớm trở về nhà để tiếp tục công

việc sản xuất, kinh doanh, sống bình yên như trước đây Hiện nay một số bà con đã

trở về nhà

Tình hình tại Mường Nhé đang được các cấp ủy chính, quyền tiếp tục giải quyết để

sớm ổn định cuộc sống cho đồng bào (http://vietnamnet.vn)

2 Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Sự việc xảy ra tại bản Huổi Khon được dư

luận quan tâm, các cơ quan có trách nhiệm chỉ đạo giải quyết Cho đến nay, tình

hình tại đây đã yên ổn Sự việc đã được giải quyết một cách rất thiện chí và nhân

đạo Mặc dù là vụ việc tụ tập đông người, gây rối, nhưng vẫn được giải quyết trong

hòa bình Tất cả đồng bào tụ tập theo lôi kéo, dụ dỗ của kẻ xấu, đều đã trở về quê

quán

Nguyên nhân của sự việc này có nhiều như trình độ nhận thức của một số đồng bào

còn hạn chế; do luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu Do đó, một số người nhẹ dạ, cả

tin, hiếu kỳ đã nghe theo Tuy nhiên, khi chúng ta làm rõ những luận điệu tuyên

truyền sai trái này, thì đồng bào đã tự trở về địa phương

Khi đồng bào trở về, chính quyền địa phương phải tiếp tục có trách nhiệm giải thích,

giúp đồng bào hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu, tránh bị lôi kéo, dụ dỗ, đồng

thời bảo đảm đời sống của đồng bào Không để đồng bào bị đói; quan tâm, chăm sóc

sức khỏe cho đồng bào, đặc biệt chú ý tạo điều kiện cho con em đồng bào đi học,

nhất là con em những đồng bào nhẹ dạ cả tin bị dụ dỗ, lôi kéo tập trung đông người,

được tiếp tục trở lại học tập Đảng và Chính phủ cũng sẽ có những chủ trương,

chính sách cụ thể để đầu tư, thực hiện nhằm cải thiện đời sống cho bà con về giao

thông, cơ sở vật chất, tín dụng, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp, giải quyết việc làm

cho đồng bào (http://vietnamnet.vn)

2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA PHẢN ỨNG XÃ HỘI

2.2.1 Những nguyên nhân từ lợi ích:

2.2.1.1 Lợi ích giữa chủ và thợ:

Theo quy luật thì giới chủ lúc nào cũng muốn thu về lợi nhuận tối đa;

và còn quan hệ lao động theo cơ chế chủ - thợ, người làm công - người sở hữu

tư liệu sản xuất, thì sự phức tạp về quan hệ lao động và xung đột lợi ích là khó tránh khỏi Các mối quan hệ này không chỉ tồn tại trong thực tế, mà cũng không trái với pháp luật nước ta Đó là lý do vì sao các thành phần kinh tế nước ta, chủ yếu là kinh tế của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta và kinh

tế tư doanh trong nước, càng phát triển thì quan hệ lao động và xung đột lợi ích cũng tăng lên theo tỉ lệ thuận; mà biểu hiện là số lượng, tần số cuộc đình công và số lượng công nhân lao động tham gia đình công ngày một tăng

Đã cho tư bản liên doanh thì Nhà nước phải tính cho hợp lý phần phân chia lợi nhuận Nhà nước lấy bao nhiêu (tức là đánh thuế), chủ tư bản được hưởng phần lợi nhuận (tức là giá trị thặng dư) nhưng hưởng đến mức nào thì chấp nhận được Cái quan trọng là, người công nhân được hưởng bao nhiêu từ lợi nhuận để tái tạo sức sản xuất, nâng cao tay nghề và phát triển tri thức Thiếu thốn về vật chất, tinh thần, cộng với các mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động (lương thấp, điều kiện làm việc kém, chủ doanh nghiệp đối

xử không tốt…) nên theo một kết quả khảo sát, có tới hơn 50% số công nhân không muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, không muốn tham gia học tập nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề Các địa phương, khi kêu gọi đầu tư, cần

có chủ trương phát triển khu công nghiệp gắn với phát triển nhà ở, cơ sở y tế, giáo dục, văn hoá đủ phục vụ đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Mặt khác, các địa phương không nên lấy việc hạ giá nhân công xuống mức thấp làm một lợi thế để thu hút đầu tư, mà cần phải có nhiều chính sách khác tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, trong đó có việc nâng cao trình độ văn hoá

và tay nghề cho người lao động

Trang 38

76

2.2.1.2 Lợi ích của địa phương và vấn đề môi trường:

Việc phát triển thiếu thiếu quy hoạch, thiếu bền vững đã biểu hiện

trước mắt Quy hoạch thủy điện nhiều đã ảnh hưởng đến nguồn nước, gây lũ

lụt vùng hạ lưu Các khu công nghiệp, làng nghề “đầu độc” các con sông, các

khu vực dân cư Đó là tình trạng “xung đột môi trường” giữa các địa phương

Thực ra, tình trạng ô nhiễm của tỉnh này “báo hại” cho tỉnh kia đã

được nói nhiều Các địa phương sử dụng nguồn nước, nguồn tài nguyên, xây

dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất theo kiểu “sống chết mặc bay” Anh

nào khai thác cứ khai thác, anh nào xả cứ xả, chẳng cần biết đến “hàng xóm”,

môi trường, dân cư Diễn biến môi trường là một quá trình tích lũy chậm, cứ

lầm lũi “gặm nhấm, ăn mòn” môi trường, môi sinh Phải nói thẳng rằng, các

cơ quan quản lý địa phương không phải kém hiểu biết, mà là biết nhưng

không chịu ứng phó, xử lý

Các chuyên gia môi trường đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh: Nếu

chúng ta cứ ngồi đợi đến lúc nhìn thấy sai mới sửa thì khi đó việc “sửa sai” sẽ

vô cùng tốn kém Thậm chí, toàn bộ tiền lợi nhuận từ doanh nghiệp gây ô

nhiễm nộp cho ngân sách cũng không đủ để cứu vãn môi trường Bao nhiêu

dòng sông đang chết dần chết mòn, bao nhiêu cá chết phơi trắng mặt nước?

Đáng sợ hơn, bao nhiêu người lớn, trẻ em mang bệnh tật suốt đời?

2.2.2 Những nguyên nhân từ văn hóa lối sống:

2.2.2.1 Xung đột văn hóa cá nhân:

Xung đột văn hóa cá nhân liên quan đến quan niệm sống, lối sống,

tính cách của con người và thường gắn với yếu tố cảm xúc cá nhân Ở đây,

nguyên nhân và quá trình phát triển mang tính cảm tính Ví dụ, trong một tổ

chức, một người có tính được chăng hay chớ sẽ ghét những đồng nghiệp có

tính chỉnh chu, có tính tổ chức vì theo họ mọi sự cẩn thận, chu đáo đó chỉ là

biểu hiện của nhiều sự thiếu sáng tạo; một người có tính xu nịnh sẽ không

thích những đồng nghiệp say mê chuyên môn vì theo họ những người kia chúi

độ và qui mô ngày càng trở nên trầm trọng hơn

2.2.2.2 Xung đột văn hóa cộng đồng:

Xung đột văn hóa cộng đồng, dạng xung đột văn hóa này xuất hiện phổ biến và đặc trưng hơn Nguyên nhân của dạng xung đột văn hóa cộng

đồng thường do những yếu tố cơ bản sau:

Do bắt nguồn từ ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc…

Do sự phát triển chênh lệch về mức sống, trình độ sống, chất lượng sống và cả phong cách sống giữa các dân tộc

Do sự cư trú phân tán và xen kẽ cao độ của các dân tộc, vừa tạo thuận lợi cho đoàn kết, tương trợ, nhưng lại dễ xảy ra va chạm trong cuộc sống

Do xuất phát từ chính bản thân cuộc sống, như vấn đề di dân để xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia (các đập thủy điện, các nhà máy, xí nghiệp, các nông trường, lâm trường…) Hay vấn đề di dân miền xuôi lên miền núi để phát triển kinh tế; thực hiện phân bố lại lao động trong phạm vi toàn quốc; vấn đề di dân tự do; vấn đề tranh giành đất đai ở một số nơi

Do vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch…

2.2.3 Những nguyên nhân do bất bình đẳng dân tộc và do địch lợi dụng, kích động:

2.2.3.1 Sự bất bình đẳng dân tộc:

Trang 39

Trong quá trình cùng sinh sống trên một địa bàn lãnh thổ cùng một

quốc gia dân tộc, phải cùng nhau chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, cùng

nhau phát triển kinh tế, hưởng thụ văn hóa… ý thức quốc gia dân tộc được

hình thành chung cho các tộc người cùng sinh sống, trên cơ sở đó xây dựng

khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên khi có sự biến động về kinh tế

chính trị, đời sống khó khăn, bất bình đẳng về kinh tế xã hội thì rất dễ phát

sinh xu hướng ly khai, kỳ thị dân tộc Nổi lên trong số các vấn đề dân tộc ở

nước ta chính là tình trạng tranh giành đất đai, mâu thuẫn giữa những người di

cư và dân bản địa ở các vùng miền đa dân tộc Tuy nhiên để xóa đói giảm

nghèo, nâng cao đời sống cho đồng bào, khắc phục bất công xã hội là quá

trình phức tạp Thực hiện sự nghiệp ấy cần cả một thời kỳ biến đổi cách mạng

trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Một khi đói nghèo, bất công xã

hội chưa khắc phục, thì những mất mát thiệt thòi của đồng bào dân tộc lại bị

kẻ địch kích động, rất dễ nảy sinh, bùng phát chống đối, bạo loạn

2.2.3.2 Sự lợi dụng, kích động của các lực lượng phản động:

Lực lượng phản động thường khoét sâu những vấn đề bất công của

hiện tại, biến sự khác biệt về bản sắc giữa các tộc người thành những vấn đề

đối lập, kỳ thị, ly khai dân tộc Như ở Tây Nguyên, chúng đã nêu ra khẩu hiệu

“đuổi người Kinh về miền xuôi để giành lấy đất đai nhà cửa”, thành lập nhà

nước độc lập cho người Tây Nguyên hay về cái gọi là “Nhà nước Khmer

Crôm độc lập” ở Sóc Trăng, “Tổ quốc của người Hmông” ở Tây Bắc… Với

trình độ dân trí thấp, tư duy trực quan, đồng bào dân tộc bản địa dễ bị ngộ

nhận, lôi kéo, dụ dỗ và kích động

Bọn phản động thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, đằng

sau đó là tuyên truyền tư tưởng ly khai phản động Với trình độ dân trí còn

nhiều hạn chế, niềm tin tôn giáo mù quáng thì hành vi của con người thường

manh động Việc thay đổi nhận thức, niềm tin và hành vi của đồng bào rất

- Sự đa dạng hóa phương thức phối hợp, điều hòa các nguồn lực cho các lĩnh vực, vùng miền nhất là hiện tượng sử dụng một số phương thức bất hợp lý, bất hợp pháp trong điều phối nguồn lực dẫn đến những tổn hại trực tiếp cho đất nước và lợi ích của người dân, tạo ra sự bất đồng trong nhận thức, quan điểm

- Sự đa dạng hóa chủ thể kinh tế thị trường dẫn đến đa dạng hóa việc làm, tạo nên sự chênh lệch thu nhập do phương thức phân phối thu nhập bất hợp lý gây ra là nhân tố dẫn đến tâm lý phản ứng của người dân, nhất là thành phần lao động phổ thông

- Quá trình cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước, thay đổi tổ chức, cơ chế trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng làm cho một bộ phận cán bộ, công chức, công nhân mất việc làm, lợi ích bị tổn hại dẫn đến tâm lý bất mãn mặc dù bản thân họ không đủ trình độ, năng lực

2.2.4.2 Cơ cấu xã hội chưa đổi mới kịp với sự đổi mới cơ cấu kinh tế cũng dễ dẫn đến một loạt các vấn đề phức tạp nảy sinh như:

- Chủ thể kinh tế ngày một đa dạng làm cho nguyên tắc, phương pháp quản lý xã hội ngày càng gặp nhiều khó khăn, thử thách

- Thị trường lao động chưa phát triển; thị trường việc làm còn chưa hợp lý, sức ép việc làm lớn làm cho tầng lớp lao động có trình độ thấp rơi vào thế bất lợi, dễ bị mất việc làm

- Tình hình phân hóa giai tầng, chênh lệch giàu nghèo, cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa các ngành nghề, khu vực; giữa lao động chân tay

và lao động không phải chân tay, giữa người làm lãnh đạo, quản lý và người

Trang 40

80

không làm lãnh đạo, quản lý tiệp tục rộng thêm làm kích hoạt mâu thuẫn giữa

các tầng lớp

- Kết cấu tiêu dùng, chi phí cho việc học, nhà ở, chữa bệnh và các dịch

vụ quá lớn so với thu nhập của người dân đã ảnh hưởng đến việc nâng cao

chất lượng cuộc sống

Làm thế nào để các giai tầng xã hội có nhận thức đúng, đồng cảm và

thừa nhận nhau, tin tưởng và đoàn kết thực sự là một thách thức mới trong

quản lý xã hội Sự phân hóa giàu nghèo dễ dẫn đến xung đột xã hội một khi

địa vị của tầng lớp tinh hoa và tầng lớp nghèo khổ xuất hiện dấu hiệu truyền

nối nhau giữa các thế hệ

2.2.4.3 Tốc độ đô thị hóa nhanh cũng tạo nên những nguyên nhân

dẫn đến xung đột xã hội một khi chưa được giải quyết thích đáng:

- Đô thị hóa nhanh dẫn đến tình trạng nông dân bị thu hồi đất, mất

việc làm, đời sống khó được đảm bảo

- Di dân từ các nơi về các thành phố lớn kiếm việc làm, sinh sống

ngày càng nhiều dễ tạo ra những mâu thuẫn, khó khăn trong hòa nhập, hưởng

dịch vụ công cộng, dễ tạo cho họ tâm lý đối xử không công bằng

- Mâu thuẫn giữa các chủ doanh nghiệp và công nhân trong các doanh

nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài sẽ ra tăng một

khi quyền lợi của người lao động không được đảm bảo

- Quá trình giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giải quyết vấn đề việc

làm cho người bị thu hồi đất còn nhiều hạn chế, bất cập, dễ dẫn đến mâu

thuẫn tranh chấp, khiếu kiện

2.2.5 Những nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách:

2.2.5.1 Những tác động của sự chuyển đổi cơ chế:

Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa đang trong giai đoạn quá độ để hoàn thiện Cơ chế kinh tế mở đã

tạo ra một sự thay đổi lớn lao về giải phóng sức sản xuất nhưng thể chế chính

trị có những mặt chưa kịp thay đổi cho tương ứng Cơ chế thị trường đòi hỏi

81

phải tồn tại trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vai trò tối thượng, điều chỉnh mọi hoạt động của con người Mặt khác, trong giai đoạn đang chuyển đổi cơ chế thì tất cả các vấn đề như: mô hình tổ chức, cơ chế quản lý,

cơ cấu và chất lượng cán bộ trong quản lý nhà nước không thể hoàn thiện ngay một lúc được Mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất chú ý, rất tích cực đến việc xây dựng mới hệ thống chính sách về quản lý kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật nhưng nó vẫn chưa thực sự đồng bộ, còn có nhiều kẽ hở trong quản

lý Thêm vào đó là thủ tục hành chính còn rờm rà qua nhiều tầng nấc, nhiều khâu trung gian tạo điều kiện cho việc sinh sôi cách làm việc quan liêu và các

lẽ chính các cán bộ đã dàn xếp, để bao che cho nhau Do đó ngời dân thường phải dùng biện pháp khiếu kiện, biểu tình vợt cấp lên thẳng cấp cao nhất ở Trung ương, tỏ rõ thái độ không tin tưởng, bất tín nhiệm đối với các cơ quan lãnh đạo, với cán bộ có chức trách, có thẩm quyền ở địa phơng và cơ sở

2.2.5.2 Một số chính sách về nông nghiệp nông dân và nông thôn còn nhiều vấn đề bất cập1:

- Chính sách về đất nông nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường đất đai trở nên có giá, nhng các chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, nhất là đất nông nghiệp, đất thổ cư, quỹ đất 5% còn thiếu cụ thể và có nhiều sơ hở Thêm vào

đó sự kiểm tra, kiểm soát của các cấp bị buông lỏng trong một thời gian dài

1 Xem thêm Nguyễn Thị Mai Anh: “Điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng -

Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm”, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008, tr 58 - 75

Ngày đăng: 10/08/2016, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tân: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp tỉnh Hà Tây cũ)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
2. Một số văn kiện về chính sách dân tộc – miền núi của Đảng và Nhà nước, Nxb Sự Thật, H, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về chính sách dân tộc – miền núi của Đảng và Nhà nước
Nhà XB: Nxb Sự Thật
3. Lưu Văn Sùng: Một số điểm nóng chính trị xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây- hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống, Nxb CTQG, H, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm nóng chính trị xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây- hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Hồ Trọng Hoài (2006): Đói nghèo và xung đột xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo và xung đột xã hội
Tác giả: Hồ Trọng Hoài
Năm: 2006
7. Vũ Văn Kiểu: Vấn đề dân tộc dân tộc, tôn giáo trong chiến lược quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc (Tạp chí Dân tộc oline:http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=10783) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc dân tộc, tôn giáo trong chiến lược quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc" (Tạp chí Dân tộc oline: "http://cema.gov.vn
8. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mường Nhé: cảnh giác với những luận điệu lừa bịp” trên trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mường Nhé: cảnh giác với "những luận điệu lừa bịp
5. Trần Minh Tơn (2008): Để tôn giáo đồng hành và phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc, Tạp chí Cộng sản số 10 (154) Khác
6. Nghị quyết số 21 Bộ Chính trị: Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w