Lựa chọn điểm điều tra được thể hiện thông qua bảng sau: Bảng lựa chọn điểm điều tra 1 Thị trấn An Châu 45 Đại diện cho xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất 2 Vân Sơn 45 Đại diện cho xã có tỷ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NÔNG HỘ
Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG - BẮC GIANG
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số : 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ LÝ
THÁI NGUYÊN - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Trần Thị Vân Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phạm Thị Lý
trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái nguyên đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo cô giáo khoa sau đại học
Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái nguyên
Tôi cũng xin được cảm ơn ban giám hiệu, các thầy giáo cô giáo trường
Đại học Kinh tế & QTKD Thái nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và những người luôn luôn bên cạnh tôi trong quá trình thực tập và thực
hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Trần Thị Vân Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 3
4.2 Các phương pháp nghiên cứu 3
4.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 7
5 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 9
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 9
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo 9
1.1.2 Quan điểm nghèo đói của Việt Nam 10
1.1.3 Tiêu chí đánh giá nghèo đói 11
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
1.2.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới 13
1.2.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc 14
1.2.3 Kinh nghiệp xóa đói giảm nghèo của Hàn Quốc 15
1.2.4 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia 16
1.2.5 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 18
1.2.6 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam 24
1.2.7 Những giải pháp trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam 28
Trang 3Chương 2 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO
NÔNG HỘ Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG - BẮC GIANG 29
2.1 Tình hình cơ bản của huyện Sơn Động 29
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Sơn Động 32
2.1.3 Phân tích SWOT trong phát triển kinh tế thực hiện giảm nghèo của huyện Sơn Động 34
2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Sơn Động 2010 36
2.2 Thực trang nghèo đói của huyện Sơn Động 39
2.2.1 Thực trạng nghèo đói của huyện 39
2.2.2 Những chính sách thực hiện giảm nghèo ở huyện Sơn Động trong thời gian qua 41
2.2.3 Thực trạng phát triển sản xuất và nghèo đói của nhóm hộ điều tra 45
2.2.4 Phân tích nguyên nhân, hậu quả ảnh hưởng đến nghèo đói của hộ gia đình 60
2.2.5 Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới thu nhập của hộ bằng hàm sản xuất Cobb - Douglas 68
2.2.6 Kết luận về nguyên nhân tác động đến sản xuất của hộ 72
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NÔNG HỘ HUYỆN SƠN ĐỘNG - BẮC GIANG 74
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Sơn Động giai đoạn 2011 - 2020 74
3.1.1 Quan điểm phát triển 74
3.1.2 Mục tiêu phát triển 75
3.2 Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực trong giai đoạn 2011 - 2015, 2016 - 2020 76
3.2.1 Phương hướng phát triển ngành nông - lâm - thủy sản 76
3.2.2 Phương hướng phát triển ngành công nghiệp - xây dựng 76
3.2.3 Phương hướng phát triển ngành dịch vụ 76
3.3 Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân 76
3.3.1 Giải pháp về vốn 77
3.3.2 Giải pháp về vấn đề đất đai, nhà ở 77
3.3.3 Tổ chức tập huấn khoa học kỹ thuật cho người dân 78
3.3.4 Phát triển các ngành nghề phụ trong nông thôn 79
3.3.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn 79
3.3.6 Bài trừ các tệ nạn xã hội 80
3.3.7 Phát triển sản xuất trồng trọt 81
3.3.8 Phát triển chăn nuôi 81
3.3.9 Phát triển nghề rừng 82
3.3.10 Giải pháp về thị trường 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
2 Đồng Việt Nam đồng VND
3 Hàm sản xuất Cobb - Douglas CD
5 Lao động - Thương binh - Xã hội LĐ - TB - XH
6 Ngân hàng phát triển Châu Á ADB
7 Tổng thu nhập quốc nội GDP
9 Cán bộ công nhân viên CBCNV
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chuẩn nghèo qua các giai đoạn 13
Bảng 1.2 Tỷ lệ nghèo đói bình quân các vùng của Việt nam qua các năm 19
Bảng 2.1 Tình hình sử sụng quỹ đất của huyện Sơn Độngnăm 2010 31
Bảng 2.2 Nhân khẩu và lao động của huyện Sơn Động, 2010 33
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lương thực của huyện, 2009 - 2010 37
Bảng 2.4 Cơ cấu kinh tế huyện Sơn Động, 2008 - 2010 38
Bảng 2.5 Thực trạng nghèo đói của huyện Sơn Động 40
Bảng 2.6 Thông tin chung về chủ hộ điều tra, Sơn Động năm 2010 45
Bảng 2.7 Tình hình dân tộc của nhóm hộ điều tra,Sơn Động 2010 46
Bảng 2.8 Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra, 2010 47
Bảng 2.9 Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra, 2010 48
Bảng 2.10 Tình hình trang bị tài sản phục vụ đời sống của hộ, 2010 49
Bảng 2.11 Tình hình trang bị tài sản phục vụ sản xuất của hộ, 2010 50
Bảng 2.12 Phân tổ thu nhập theo nhóm hộ điều tra, 2010 52
Bảng 2.13 Các nguồn thu của nhóm hộ điều tra, Sơn Động 2010 54
Bảng 2.14 Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ 58
Bảng 2.15 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi của hộ, 2010 59
Bảng 2.16 Tổng hợp nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của hộ điều tra, 2010 60
Bảng 2.17 Tình hình đất đai phục vụ sản xuất của hộ 63
Bảng 2.18: Tình hình vốn và vốn vay của hộ 64
Bảng 2.19 Tổng hợp kinh nghiệm sản xuất của hộ, 2010 66
Bảng 2.20 Lao động của nhóm hộ điều tra, 2010 67
Bảng 2.21: Thu nhập từ làm thuê của hộ điều tra, 2010 68
Bảng 2.22 Kết quả hàm sản xuất Cobb-Douglas 69
Trang 5DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.1: Có cấu kinh tế huyện Sơn Động, 2008 - 2010 39
Đồ thị 2.2: Đường cong Lorenz 53
Đồ thị 2.3: Biểu đồ biểu diễn thu nhập của nhóm hộ điều tra 57
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng diễn ra nhanh trong suốt thập niên 90 và những năm của thập niên 2000; công cuộc giảm nghèo triển khai mạnh mẽ từ những năm 1993 đã đem đến kết quả rất tốt về giảm nghèo Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 38% năm 1998; 18,1% năm 2004; 15,5% năm 2006, 14,87% năm 2007 và 11% năm 2009 Trong vòng 15 năm qua Việt Nam đã giảm 3/4 số người nghèo, bước vào năm 2009 thu nhập bình quân theo đầu người vượt mức 1000USD; đời sống của đại đa số người dân được cải thiện đáng kể, nhất là nhóm hộ nghèo
Tuy nhiên, trong giai đoạn này các huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có tỷ lệ nghèo cao, tốc độ giảm nghèo vẫn diễn ra chậm Tình trạng nghèo khổ, tuổi thọ, tình trạng dinh dưỡng và những chỉ số đo lường mức sống khác ở vùng đồng bào dân tộc vẫn còn ở mức thấp mặc dù có rất nhiều chính sách, chương trình đã được đưa vào thực hiện nhằm hỗ trợ các huyện này và đồng bào dân tộc thiểu số Tình trạng nghèo của nhóm dân tộc thiểu số cao gấp 4,5 lần so với người Kinh và người Hoa, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm tới 14% dân số
cả nước nhưng số người nghèo lại chiếm 36% tổng số người nghèo vào năm 2005
Sự giảm nghèo của các huyện vùng cao, đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra chậm hơn các huyện trung du, đồng bằng Tính đến cuối năm 2006 cả nước có 58 huyện có tỷ
lệ nghèo cao gấp 3,5 lần tỷ lệ nghèo chung của cả nước, thu nhập bình quân đầu người ở các huyện này đạt từ 2,3-4,3 triệu đồng/năm chỉ bằng 1/3 mức bình quân đầu người chung của cả nước Đầu năm 2007 bổ sung thêm 03 huyện do mới chia tách và tái nghèo, nâng tổng số lên 61 huyện có tỷ lệ nghèo cao trong cả nước Và tới năm 2009 con số huyện nghèo cả nước đã tăng lên 62 huyện Vấn đề đặt ra là cần phải có giải pháp gì hỗ trợ các huyện nghèo để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội, về thu nhập, mức sống giữa các huyện này với các địa phương khác trong nước
Trang 6Xóa đói giảm nghèo cũng giống như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra
được đâu là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo đói, trong đó nguyên nhân
nào là nguyên nhân chính Từ đó, đề ra được những giải pháp đúng đắn, hiệu quả
nhất nhằm giúp người dân xóa đói giảm nghèo
Sơn Động là huyện vùng cao của tỉnh Bắc Giang Trong những năm qua tình
hình kinh tế - xã hội đã có nhiều tiến bộ đáng kể Mặc dù đã đạt được thành quả
đáng kể trong công tác XĐGN, song thu nhập bình quân đầu người ở Bắc Giang
còn thấp và tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn cao so với bình quân chung của cả nước Do
vậy, XĐGN vẫn là một công tác đòi hỏi tỉnh Bắc Giang phải tiến hành thường
xuyên, liên tục
Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp xóa
đói giảm nghèo cho nông ở huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất một số giải pháp phù hợp trợ giúp cho huyện nghèo Sơn Động ở tỉnh
Bắc Giang giảm nghèo nhanh, chống tái nghèo, thu hẹp khoảng cách về thu nhập và
mức sống giữa các huyện
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói
- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của huyện Sơn Động
- Chỉ ra được những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói của hộ nông dân
huyện Sơn Động
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân
huyện Sơn Động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sản xuất và nghèo đói của các
hộ nông dân huyện Sơn Động
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại huyện nghèo Sơn Động của tỉnh Bắc Giang
3.2.2.Thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu sơ cấp năm 2010 và số liệu thứ cấp thứ cấp kỳ 2008 - 2010, một số số liệu đầu năm 2011
3.2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và nghèo đói của hộ nông dân, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, tại sao phải nghiên cứu đói nghèo ở huyện Sơn Động? Sơn Động là huyện nghèo nhất của Bắc Giang, mặc dù trong những năm qua số hộ nghèo liên tục giảm Tuy nhiên, chất lượng xóa đói giảm nghèo chưa mang tính bền vững Chính
vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu XĐGN cho huyện, từ đó đề xuất được một số giải pháp cho hộ nông dân phát triển sản xuất và thoát nghèo
Hai là, nguyên nhân nào dẫn tới đói nghèo của hộ, đâu là tác động chính, đâu
là tác động phụ? Để làm được điề này, chúng ta cần phải ứng dụng phần mềm tin học vào ước lượng để tránh những kết luận mang tính chủ quan của người nghiên cứu Trong đề tài này, tôi ứng dụng hàm Cobb - Douglas vào phân tích
Ba là, giải pháp xoá đói giảm nghèo nào phù hợp với điều kiện thực tế của
hộ nông dân ? Vì vậy, khi nghiên cứu XĐGN, chúng ta phải đi tìm và phân tích những nguyên nhân thực tế dẫn tới nghèo đói
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận của mình
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ta phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động và phát triển và trong mối quan hệ biện chứng với các sự vật, hiện tượng khác
Trang 74.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
a Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo
của các địa phương, các phòng Thống kê, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và
các cán bộ có trách nhiệm ở địa phương
b Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp xác định mẫu điều tra
Việc chọn hộ nghiên cứu là bước hết sức quan trọng có liên quan trực tiếp
tới kết quả nghiên cứu Vì vậy việc chọn hộ điều tra phải mang tính đại diện cao
cho vùng nghiên cứu Để xác định số hộ cần điều tra nghiên cứu, ta sử dụng công
thức sau:
2
2 2
t
n
-: Phạm vi sai số cho phép
- n: số hộ phải điều tra
- t: Giá trị kiểm định (t = 1,9544 với = 0,05)
-2: Phương sai của tổng thể chung
Để ước lượng 2 ta dung phương sai chọn mẫu (S2 được tính cho 30 hộ điều
tra thử) và ước lượng theo công thức sau:
1
2 2
2
2
) 1 ( )
1
(
U
s n U
s
n
Trong đó:
S2: phương sai mẫu
n: dung lượng mẫu
U1, U2: chênh lêch mẫu và được tra từ bảng phân phối Sau đó dựa vào công thúc
tính n, ta xác định được số lượng mẫu điều tra là n = 175 mẫu Tuy nhiên để tăng độ
chính xác và để loại trừ những mẫu không đạt chất lượng hoặc số liệu điều tra trùng
nhau nên số lượng mẫu được tăng lên là 180 mẫu
Sau khi xác định được số mẫu điều tra, tôi xác định địa điểm tiến hành điều tra tại 4 điểm là: Thị trấn An Châu, xã Vân Sơn, xã Long Sơn, xã Yên Định Việc chọn hộ để điều tra là hoàn toàn ngẫu nhiên Lựa chọn điểm điều tra được thể hiện thông qua bảng sau:
Bảng lựa chọn điểm điều tra
1 Thị trấn An Châu 45 Đại diện cho xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất
2 Vân Sơn 45 Đại diện cho xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất
3 Long Sơn 45 Đại diện cho các xã SX công nghiệp và thủy sản
4 Giáo Liêm 45 Đại diện cho các xã phát triển nông lâm nghiệp
Tổng 180 Đại diện cho toàn huyện
- Sau khi tiến hành xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa điểm điều tra, bước tiếp theo là xây dựng phiếu điều tra tình hình kinh tế và đói nghèo của hộ
- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về vấn
đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hộ
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Thu thập thông tin qua các cán bộ địa phương, người lãnh đạo trong cộng đồng và những người dân có uy tín trong cộng đồng Phương pháp này đặc biệt cho phép khai thác được những kiến thức bản địa của người dân địa phương
4.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
a Đối với thông tin thứ cấp Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là
số liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu
b Đối với thông tin sơ cấp Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý
Trang 84.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
a Phương pháp phân tổ
Do khi tiến hành điều tra không căn cứ theo tiêu chuẩn đói nghèo của Bộ Lao
động - Thương bình - Xã hội, do đó phân tổ để xác định đâu là hộ nghèo, đâu là hộ khá
và đâu là hộ trung bình là hết sức quan trọng Để tiến hành phân tổ, tôi sử dụng phương
pháp đồ thị Có nghĩa sau khi tính thu nhập bình quân của tất cả các mẫu, sắp xếp theo
chiều tăng dần và tiến hành xác định khoảng cách tổ một cách phù hợp
b Phương pháp hàm sản xuất Cobb - Douglas
Để phân tích ảnh hưởng của các nguyên nhân đến kết quả sản xuất của hộ, đề
tài sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas (CD) để phân tích
Hàm CD có dạng:
CmDm D
C D C bn n b b
e e
e X X AX
Y 2 1 1 2 2
2 1 1
Trong đó:
Y: biến phụ thuộc Trong mô hình Y là thu nhập của hộ
phầm mềm EXCEL
c Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được dùng để so sánh các chỉ tiêu giữa các nhóm hộ
nghèo, hộ trung bình và hộ khá, giữa khu vực thuận lợi và khu vực khó khăn
d Phương pháp đồ thị
Để xác định sự bất bình đẳng trong thu nhập, đề tài sử dụng đường cong
Lorenz và hệ số Gini làm cơ sở cho phân tích so sánh đói nghèo
Đường cong Lorenz có dạng:
Đường cong Lorenz càng cách xa đường
450 càng chứng
tỏ sự bất bình đẳng trong thu nhập càng lớn
Hệ số Gini được đo bằng cách chia diện tích của hình nằm giữa đường 45o và đường cong Lorenz và diện tích của tam giác vuông nằm giữa đường 45o và trục hoành 0 ≤ G ≤ 1 G càng gần 0, mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao và ngược lại
4.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
4.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ
(1) Tổng giá trị sản xuất của hộ: GO (Gross Output) là toàn bộ giá trị sản phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng của các sản phẩm làm ra quy về giá trị
GO = ∑piqi (i = 1:n) Trong đó: qi khối lượng sản phẩm phẩm i
Pi: giá của sản phẩm i (2) Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ những chi phí phục
vụ quá trình sản xuất của hộ (không bao gồm trong đó giá trị lao động, thuế, chi phí tài chính, khấu hao)
IC = ∑ Ci (i = 1:n) (3) Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của hộ khi sản xuất trên một đơn vị diện tích
VA = GO - IC (4) Hệ số Gini (G): là hệ số phản ánh sự bất bình đẳng trong thu nhập
Tỷ lệ % thu nhập Cộng dồn
100
cong Lorenz
Trang 9Công thức tính:
100)(
n
i i
Các số bình quân như: thu nhập bình quân, diện tích bình quân, nhân khẩu
bình quân, độ tuổi bình quân …
4.3.3 Chỉ tiêu hiệu suất biên một đơn vị của biến độc lập
(1) Đối với biến định lượng: _
_
X
Y b
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
- Chương 2: Thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo cho nông hộ ở
huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện xóa đói giảm
nghèo cho nông hộ ở huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, để tồn tại được thì cần phải giải quyết được những nhu cầu cơ bản nhất Những nhu cầu này được chia ra làm hai dạng, đó là những nh cầu về vật chất và những nhu cầu về tinh thần hay còn gọi là những giá trị của cuộc sống
Nhu cầu vật chất thiết yếu như: ăn, mặc, ở, đi lại
Nhu cầu tinh thần thiết yếu như: giáo dục, y tế, giao tiếp
Những nhu cầu này cần được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó, mà người ta goi là mức sống tối thiểu của cộng đồng Nghĩa là nếu không đạt được đến mưc này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách bình thường được
Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo chúng ta cần phải nghiên cứu tới nhu cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân
Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau Sau đây là một số khái niệm cơ bản về nghèo đói:
- Khái niệm nghèo đói của một số tổ chức quốc tế: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình
họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng [22]
- Khái niệm nghèo đói do Hội nghị chống Đói nghèo Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan, 1993: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con
Trang 10người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển
kinh tế xã hội và phong tục tập quán từng địa phương [8]
- Khái niệm nghèo đói của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Ngân hàng phát triển Châu Á đã phát biểu nghèo đói dưới hai hình thức là
nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối [14]
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung
bình của cộng đồng, tại một thời điểm nào đó
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả
mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống, nghĩa là không có khả năng đạt
đến một tiêu chuẩn tối thiểu của cuộc sống
1.1.2 Quan điểm nghèo đói của Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển, đời sống của người dân
còn thấp, một bộ phận dân chúng còn sống dưới mức đói nghèo Trong đó, vẫn có
hộ gia đình bị đói, tình trạng đứt bữa vẫn còn xảy ra đối với những người nghèo
nhất Do vậy, qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và
quản lý các bộ đã đi đến thống nhất cần có một khái niệm riêng, chuẩn mức riêng
cho nghèo đói ở Việt Nam
Ở Việ Nam, nghèo đói được quan niệm đơn giản hơn, trực diện hơn, bởi đây
là những quan niệm chính của người nghèo Người dân miền núi họ nói rằng: nghèo
đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn
nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặc trời, khi mưa trong nhà cũng
như ngoài sân Một số người Hà Tĩnh thì trả lời: nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở
bằng tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không có trâu
bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền khám chữa bệnh… Như
vậy, quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói từng vùng, từng nhóm
dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định
nghèo đói là những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn
hóa, đi lại và giao tiếp xã hội không được thỏa mãn Sự khác nhau chung nhất là
thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng
Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo đói theo các hướng sau:
- Tiếp cận về dinh dưỡng: người nghèo là những người có mức tiêu thụ Calo đạt dưới 2.100 kcalo/người/ngày [8] Chỉ tiêu này do Tổ chức Y tế Thế giới xây dựng cho mỗi thể trạng trung bình của con người Chỉ tiêu này áp dụng cho những nước phát triển cũng như những nước đang phát triển
- Tiếp cận về thu nhập: người nghèo là những người có mức thu nhập không đảm bảo cho cuộc sống và chi tiêu [8] Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài những nhu cầu về lương thực và thực phẩm, con người có nhiều những nhu cầu cần phải đảm bảo khác như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục Do vậy nếu thu nhập không đảm bảo trang trải được cuộc sống và chi tiêu thì được coi là nghèo đói
- Tiếp cận về xã hội: người nghèo là những người không được tiếp cận những dịch vụ công cộng như: y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, pháp luật Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng lên về mọi mặt Khi đó ngoài những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống, con người cần phải đáp ứng nhiều những nhu cầu khác Đánh giá về nghèo không đơn thuần chỉ về dinh dưỡng mà phải bao gồm cả những yếu tố khác nữa
- Người nghèo là những người dễ bị tổn thương Người nghèo bị tổn thương bởi những rủi ro trong sản xuất và đời sống Khả năng hồi phục sau những rủi ro của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả
Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận nghèo đói Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo đói đối với người dân là tiếp cận về khía cạnh kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu nhập của người dân
1.1.3 Tiêu chí đánh giá nghèo đói
Đói nghèo là một phậm trù lịch sử gắn với điều kiện cụ thể và trình đọ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Vì vậy, khó có thể đưa ra được những tiêu chí và chuẩn mực chung xác định để đánh giá đói nghèo
Trang 11cho mọi quốc gia Tuy nhiên, để có thể hoạch định được một chính sách xóa đói,
giảm nghèo phù hợp trên phạm vi thế giới và từng quốc gia cần phải xác định dược
các tiêu chí đánh giá và chuẩn đói nghèo cụ thể
Hiện nay, Liên Hợp Quốc sử dụng các tiêu chí sau để đánh giá đói nghèo:
Thứ nhất, tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người trong một năm
(GNP/người/năm) hay tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người trong một năm
(GDP/người/năm)
Thư hai, chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index) chỉ
phản ánh thuần túy về mặt giá trị chứ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng cuộc sống
của dân cư nên từ năm 1990, Liên Hợp Quốc đã sử dụng chỉ số HDI để bổ sung cho
chỉ số GDP/người (GNP/người) trong việc đánh giá trình độ phát triển của mỗi
quốc gia
Để đánh giá mức độ nghèo đói ở Việt Nam hiện nay có thể dùng một trong
ba chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói của Ngân hàng thế giới: Ngân hàng thế giới
đưa ra ngưỡng nghèo là 1 USD/người/ngày Nghĩa là, nếu thu nhập của người nào
đó không đạt mức 1 USD/ngày thì được liệt vào diện nghèo đói
- Chỉ tiêu của Tổng cục Thống kê Việt Nam: Tổng cục Thống kê xác định
ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương
thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đảm bảo đủ 2.100 kcalo/người/ngày
- Chỉ tiêu nghèo đói của Bộ Lao động - Thương bình - Xã hội: Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội xác định chuẩn nghèo dựa trên thu nhập bình quân của hộ
Chuẩn nghèo này được xây dựng cho từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển kinh
tế - xã hội với thời kỳ đó
Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ LĐ - TB & XH qua các thời kỳ được thể hiện
70.000 100.000 200.000 400.000
- Vùng thành thị 90.000 150.000 260.000 500.000
(Nguồn: Bộ lao động Thương Binh Và Xã Hội)
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, công cuộc xoá đói giảm nghèo trên thế giới cũng đã mang lại được rất nhiều thành công Tỷ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ giảm đáng kể, đặc biệt ở các khu vực Châu Á và Châu Phi Thành tựu của xoá đói giảm nghèo đạt được do các nguyên nhân: xung đột vũ trang giảm đáng kể cũng như sự quan tâm của toàn thế giới đối với việc xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn còn khoảng 1,2 tỷ người sống trong tình trạng nghèo khổ, tập trung chính vẫn là ở Châu
Á và Châu Phi Bên cạnh đó, một số nơi do xung đột vũ trang dẫn đến tình trạng nghèo đói như khu vực BanKan (Côsôvô), khu vực Trung đông và một số nơi khác trên thế giới Theo tính toán hiện nay có khoảng 150 triệu người ở Châu Phi vẫn đang sống trong tình trạng nghèo khổ, trong năm 2009 thu nhập của người dân châu lục này chỉ tăng 3,7% [29] Nạn đói đang đe dọa 3 triệu người dân tại Nigeria, trong
đó có 700.000 nghìn trẻ em [29] Liên hợp quốc cảnh báo hơn 10 triệu người dân ở Miền nam Châu Phi đang đối mặt với nguy cơ thiếu lương thực do ảnh hưởng của khí hậu và việc gieo cấy muộn làm giảm đáng kể sản lượng lương thực Trong khi
Trang 12đó tại Châu Á công tác xoá đói giảm nghèo đã gặt hái được nhiều thành công ấn
tượng trong vòng 10 năm qua Theo thống kê của Liên hợp quốc số người sống
dưới 1USD/ ngày ở Châu Á đã giảm từ 703 triệu người năm 2001 xuống còn 670
triệu người năm 2009 Tuy nhiên, Châu Á cũng đứng trước nhiều thách thức dẫn
đến tình trạng đói nghèo như chiến tranh, sự bất ổn về mặt chính trị ở một số nước
cũng như thảm họa thiên tai Bên cạnh đó, thành tựu xoá đói giảm nghèo của Châu
Á phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, Việt Nam, đây là những quốc gia đã rất
thành công trong chương trình xoá đói giảm nghèo của mình Cụ thể Việt Nam năm
cả nước còn 2 triệu hộ nghèo, chiếm 11% dân số, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền
núi, biên giới, Tây nguyên
1.2.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước láng giềng với Việt Nam, có những điều kiện kinh
tế - xã hội tương đồng với Việt Nam Trong những năm vừa qua, Trung Quốc đã
thu được những thành công vượt bậc trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo,
đặc biệt trong chương trình xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn
Là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, từ 250 triệu hộ nghèo năm 1978 đến
năm 2003 còn 29 triệu hộ [5], đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung
và của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ nét
Giải pháp xoá đói, giảm nghèo mà Trung Quốc đưa ra rất thiết thực, cụ thể:
- Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chẳng hạn giai đoạn đầu chọn 500
thôn nghèo nhất Nhà nước tập trung đầu tư cho hai năm với nguồn lực đủ mạnh để
giải quyết những công trình bức xúc liên quan đến sản xuất, đời sống dân sinh Sau
hai năm lại chuyển đầu tư cho các thôn tiếp theo
- Đối với gia đình nghèo, trước hết giúp cho họ cách thức làm ăn, đi vào phát
triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, sức khoẻ, sau đó mới hỗ trợ đầu tư, cho vay
vốn để phát triển mạnh sản xuất để thoát nghèo bền vững, nhiều vùng hướng mạnh
vào chăn nuôi bò sữa
- Thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với gia đình nghèo, địa phương
nghèo, có cơ chế động viên toàn xã hội tham gia vào chương trình giảm nghèo,
động viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà máy, xí nghiệp tham gia đầu tư vào các vùng nghèo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều hình thức thích hợp như liên doanh đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sữa quy mô lớn ở các khu tự trị, tỉnh nghèo để thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho nông dân
- Thực hiện cho gia đình nghèo vay vốn ưu đãi, phân công trách nhiệm giúp
đỡ các địa phương nghèo cho các cơ quan, ban ngành, tổ chức đoàn thể, các địa phương giàu giúp đỡ địa phương nghèo cả về kinh nghiệm, vốn đầu tư, cán bộ
1.2.3 Kinh nghiệp xóa đói giảm nghèo của Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới thứ lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở thành phố lớn, thế nhưng 40% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng di dân từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, không thẻ kiểm soát nổi, gây ra tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội
Để ổn định chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản sau:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho họ nông dân vay
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao
- Thay giống lúa mới với năng suất cao
Trang 13- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập
các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sủa chữa đường xá, cầu cống và nâng
cấp nhà ở
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có
việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra các thành phố lớn để
kiếm việc làm Chính sách này đã được thể hiện thong qua thế kế hoạch 10 năm cải
tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng
hóa sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xóa đói giảm
nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn
Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính
phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn nhằm xóa đói giảm nghèo dân chúng ở khu vực nông thôn, có
như vậy mới xóa đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền
kinh tế
1.2.4 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia
Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình thành từ
năm 1971 gắn liền với việc ban hành chính sách kinh tế mới của Chính phủ Kể từ
đó, nó luôn được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với nội dung của các chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của Đất nước, như chính sách kinh tế mới (1970 - 1990), chính
sách phát triển mới (1990 - 2000) và tầm nhìn 2020
Mục tiêu tổng thể của Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia là xoá
bỏ hoàn toàn nghèo đói trên toàn quốc Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mục
tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói được đặt ra theo từng thời kỳ nhất định, từ 49,3% năm
1970 xuống còn 16,7% năm 1990 và 7,2% năm 2000 [6]
Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ Malaysia đã lựa chọn các chiến
lược nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tham gia tự tạo việc làm và các hoạt động có
thu nhập cao hơn Do đa số người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, nên Chính
phủ dành nhiều ưu tiên thực hiện các chương trình và dự án nhằm tạo điều kiện cho
người dân nông thôn hiện đại hoá phương thức canh tác, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm để nâng cao thu nhập
- Chương trình tái định cư nhằm đưa những người không có ruộng đất hoặc những người có ruộng đất nhưng sản xuất không có hiệu quả đến những vùng đất mới, ở đó họ có thể làm việc trong các đồn điền cao su hoặc sản xuất dầu cọ Tại nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu hạ tầng tốt về điện, nước
- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại Ở một số nơi, chương trình này cũng được thực hiện theo mô hình hợp tác xã để đạt được những lợi ích sản xuất trên quy mô lớn
- Chương trình kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn với những hoạt động chế biến nông sản, khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập
- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác
- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian
- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các vùng nông thôn hoặc các thành thị
Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính phủ cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường điện, điện thoại, ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây dựng trường học, bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh
Trang 14Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện tham
gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo Những hoạt động chính của các chủ
thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho người
nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều kiện nhà ở và việc học tập
của con cái những người nghèo
Thành tựu xoá đói của Malaysia: nhờ những nỗ lực nêu trên, trong vài thập
kỷ qua tỷ lệ người nghèo của Malaysia đã giảm từ mức gần 50% năm 1970 xuống
còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra Cụ thể hơn, năm
1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng thành thị đã giảm xuống
tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương ứng 58,7% và 21,9% của năm
1970); các con số tương ứng của năm 2010 là 7% và gần 2% [6] Theo đánh giá của
Ngân hàng Thế giới, với tốc độ như trong thời gian vừa qua, chỉ trong một vài năm
nữa ở Malaysia sẽ không còn ai phải sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập dưới 2
USD mỗi ngày
1.2.5 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
a Tình hình nghèo đói của Việt Nam
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển với hơn 80 triệu dân, trong
những năm vừa qua cùng với sự nỗ lực của Đảng, Chính phủ, các cấp chính quyền
và toàn thể nhân dân, công cuộc xoá đói giảm nghèo đã thu được những thành công
to lớn
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt tỷ lệ cao, đời sống của người
dân không ngừng được tăng lên, số hộ nghèo đói đã giảm xuống Với việc áp dụng
chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ đói nghèo qua các vùng trong giai
đoạn 2006 - 2010 được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 1.2 Tỷ lệ nghèo đói bình quân các vùng của Việt nam qua các năm
(theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010)
2006 2007 2008 2009 2010
1 Tây Bắc 33,95 31,20 28,45 25,7 22,95
2 Đông Bắc 22,35 19,85 17,35 14,85 12,35 3.Đồng bằng Sông Hồng 9,76 8,61 7,46 6,31 5,6 4.Bắc Trung bộ 25,64 22,74 19,84 19,94 14,04 5.Duyên hải Miền trung 22,24 19,85 17,46 17,07 12,68 6.Tây Nguyên 24,90 21,90 18,90 15,90 12,90 7.Đông Nam Bộ 8,88 7,88 6,88 5,88 4,88 8.Tây Nam bộ 14,18 12,93 11,68 10,43 9,13
Nguồn: Số liệu chuẩn nghèo quốc gia 2006 - 2010
Như vậy ta thấy kể từ đầu năm 2006 khi Việt Nam áp dụng chuẩn nghèo mới, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi nhiều từ 17,27% (đầu năm 2006) xuống còn 9,34% năm 2010 Tuy đạt được nhiều thành công, song Việt Nam vẫn còn một số tồn tại trong xoá đói giảm nghèo như: thứ nhất, chuẩn nghèo của Việt Nam còn cách quá
xa so với chuẩn nghèo của Thế giới (1USD/người/ngày); thứ hai, kết quả xoá đói giảm nghèo không mang tính bền vững, tỷ lệ hộ dân có thu nhập quanh mức chuẩn nghèo còn cao do đó khi có sự biến động về chuẩn nghèo hoặc những tác động của các yếu tố ngoại cảnh rất dễ dẫn đến tình trạng tái nghèo; thứ ba, hầu hết số người nghèo đói của Việt Nam đều tập trung ở khu vực nông thôn, nơi có khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Chính điều này lại gây những cản trở cho công tác xoá đói giảm nghèo
b Kinh nghiệm XĐGN ở Bắc Kạn Bắc Kạn là một tỉnh miền núi vùng cao nằm trong nội địa vùng Đông Bắc Việt Nam với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 48875,21 km2, dân số 276.718 người,
Trang 15gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện: 7 hyện và một thị xã Trong những năm qua
cùng với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, cùng với sự
quan tâm hỗ trợ của các bộ ngành địa phương, Bắc Kạn đãcó nhiều bước phát
triển đáng mừng Cùng với sự ổn định tăng trưởng kinh tế, việc triển khai các
chương trình xoá đói giảm nghèo đã làm thay đổi đáng kể diện mạo nghèo đói
trên địa bản tỉnh
Với chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì tỷ lệ hộ
nghèo trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất cao Với chuẩn nghèo mới năm 2005 tỷ lệ
hộ nghèo trên toàn tỉnh là 50,87%, trong đó có 6 huyện thị có tỷ lệ hộ nghèo rất
cao trên 50% Đắc biệt là Huyện Pác Nặm với tỷ lệ hộ nghèo lên đến 72,79%
Bằng nhiều biện pháp, chính sách hỗ trợ tích cực của nhà nước,phấn đấu vươn
lên của hộ nghèo, trong năm 2006, 2007, 2008 tỷ lệ hộ nghèo trên toàn tỉnh
giảm nhanh với tỷ lệ hộ nghèo từng năm là 41,47% năm 2006, 34,43% năm
2007 và 26,05% năm 2008
c Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở Hà Giang
Trong 62 huyện nghèo nhất thì Hà Giang có tới 6/11 huyện thị nằm
trong danh sách này.Những năm qua nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, cùng với công tác chỉ đạo sát sao, xã hội hoá các nguồn lực, phát huy tinh
thần tương thân, tương ái của đồng bào dân tộc trong tỉnh mà công tác xoá nhà tạm,
xoá đói giảm nghèo của Hà Giang đã đạt được kết quả rất tích cực
Tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm nhanh từ 51,05% năm 2005 xuống còn
27,64% năm 2008, cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn đã có nhiều thay đổi,
đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Trong đó, việc xã hội hoá công tác xoá đói
giảm nghèo là quan trọng và việc tác động làm thay đổi nhận thức của người dân về
ý thức tự vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống, tránh trông chờ ỷ lại là điểm
mấu chốt
Để làm được điều này, trong những năm qua, nhiều cơ quan, DN đã rất tích
cực trong công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh Ngoài ra, tỉnh vận động các đồng
chí ủy viên, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể nêu cao tinh thần gương mẫu,
mỗi đồng chí ủng hộ ít nhất 1 hộ nghèo trở lên, mỗi hộ 2 con dê, 1 tấm phản nằm, 1 chiếc màn; CBCNV mỗi người trích một phần thu nhập để trợ giúp giống trâu, bò,
dê, lợn cho các hộ nghèo theo đơn vị đã được phân công phụ trách Ngoài ra, các hộ
có điều kiện sẽ giúp giống gia súc cho các hộ nghèo nuôi rẽ Các huyện ít hộ nghèo
sẽ giúp các huyện, xã có nhiều hộ nghèo hơn Việc thống kê các hộ phải được nếu tên, địa chỉ cụ thể rõ ràng
Tiêu biểu như cuộc vận động ủng hộ giống gia súc nuôi luân chuyển và phản nằm, màn cho các hộ nghèo, thu hút 633 cơ quan, trên 5 nghìn cán bộ, đảng viên tự nguyện trích một phần tiền lương và thu nhập để tham gia ủng hộ Qua đó, hỗ trợ được 184 con trâu, 302 con bò, 4.374 con dê và trên 5 nghìn tấm phản nằm, với tổng số tiền lên tới 4,24 tỷ đồng, bảo đảm ít nhất mỗi hộ nghèo được hỗ trợ 1 con trâu (bò) hoặc từ 2-3 con dê sinh sản
Ngoài ra, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh việc xoá nhà tạm để đảm bảo cho người dân
có nơi an cư lạc nghiệp, qua đề án hỗ trợ thêm 5.836 hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 Quá trình thực hiện cũng mang tính xã hội hoá cao, ngoài nguồn vốn của Nhà nước, các doanh nghiệp trung ương cũng đã hỗ trợ rất nhiều, cùng với nguồn tài chính của gia đình, dòng họ, thôn xóm giúp đỡ Việc huy động các nguồn tiền đóng góp ủng hộ đồng bào xây dựng nhà cũng được tỉnh cho từng sở, ban, ngành, doanh nghiệp phụ trách từng xã đặc biệt khó khăn một cách cụ thể Ví dụ như huyện Mèo Vạc chỉ trong một thời gian ngắn đã huy động được 3 tỷ đồng hỗ trợ cho các huyện nghèo xóa nhà tạm Đến nay, tỉnh Hà Giang đã xoá được khoảng 14.000 căn nhà tạm Riêng năm 2009, xoá được 6.287 căn nhà tạm thì có 2.212 nhà xây, 1.312 nhà trình tường, 1.372 nhà sàn và 1.048 nhà gỗ trong tổng số gần 140 tỷ dùng xoá nhà tạm thì nguồn tiền xã hội hoá chiếm tới 2/5 Nhiều ngôi nhà vững chắc đã được dựng lên đảm bảo theo những tiêu chí đã đặt ra tạo điều kiện cho bà con có chỗ ở tốt hơn
Có được những thành công đó là nhờ nỗ lực của tỉnh Hà Giang và sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong tỉnh và ý thức tự thoát nghèo của người dân Đây là bài học quý giá cho các tỉnh trong công cuộc xoá đói giảm nghèo
Trang 16c Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh có có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, có cơ sở
vật chất kỹ thuật còn thiếu và thấp kém, sản xuất còn giản đơn theo kinh nghiệm,
nặng về tự cấp tự túc, thiếu khoa học kỹ thuật, việc tiếp cận các yếu tố của kinh tế
thị trường còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao
Chính vì vậy, từ năm 2004, tỉnh Lào Cai bắt đầu được thử điểm thực hiện các
mô hình xoá đói giảm nghèo theo nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Cụ thể, trong thời gian 5 năm (2004 - 2008), trên địa bàn tỉnh đã xây dựng và
mở rộng lên 7 mô hình với tổng số 455 hộ nghèo tham gia Tổng kinh phí đã đầu tư
cho các mô hình là 3.316,9 triệu đồng, trong đó: đầu tư trực tiếp hỗ trợ người nghèo
là 708,02 triệu đồng (chiếm 21,35%), đầu tư cho vay là 1.975 triệu đồng (chiếm
60%), còn lại là chi cho công tác tập huấn và quản lý của các cấp Nhìn chung các
mô hình đã thực hiện đều có khả năng nhân rộng, hàng năm có từ 20-30% số hộ
nghèo tham gia dự án thoát nghèo Có được những thành công như vậy là do:
- Các mô hình đều đặt lợi ích của người nghèo lên hàng đầu, nhiều vấn đề có
liên quan thuộc lợi ích của người nghèo và những mong muốn của họ đã được quan
tâm giải quyết, thông qua các quyền mà người nghèo được hưởng khi tham gia dự
án, đó là: được tham gia dự án, các mô hình đều được xây dựng trên cơ sở sự họp
bàn thống nhất của đại diện tất cả các hộ nghèo, các hộ nghèo đều được cùng tham
gia trong quá trình khảo sát, bàn bạc xác định các tiềm năng thế mạnh của địa
phương, các loại cây trồng vật nuôi có khả năng phát triển được, điều kiện của từng
hộ, những thuận lợi khó khăn của quá trình sản xuất như lao động, vốn, kỹ thuật, thị
trường; được tự quyết ngay từ khâu lập dự án, một số vấn đề quan trọng đã được
giao cho chính người người nghèo tự quyết định từ đó giúp cho họ mạnh dạn hơn,
tự tin hơn và cảm thấy mình được làm chủ quá trình sản xuất, khơi dậy được tính
sáng tạo và tinh thần trách nhiệm đối với những quyết định của mình; được vay vốn
ưu đãi với 60% tổng số vốn đầu tư của dự án dành cho tín dụng ưu đãi, được hỗ trợ
xây dựng củng cố chuồng trại chăn nuôi để chuyển đổi tập quán chăn nuôi từ thả
rông sang nuôi nhốt hoặc che chắn phòng chống mưa, rét; được tham gia tập huấn khuyến nông, tư vấn hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên, tham gia các buổi đối thoại với với các đối tượng khác nhằm trao đổi những kinh nghiệm làm ăn, cách làm hay của các hộ khá và giàu, cũng như giải đáp thắc mắc của các hộ nghèo; được lực lượng khuyến nông viên, thú y viên tự nguyện, chuyên trách ở xã, thôn bản tư vấn, trợ giúp kỹ thuật trực tiếp; được tham gia giám sát, đánh giá dự án thông qua hoạt động
sơ kết, tổng kết định kỳ về tình hình thực hiện mô hình, những hộ làm ăn hiệu quả được khen thưởng, tôn vinh, ghi nhận và động viên kích lệ kịp thời
Vấn đề lợi ích của các lực lượng tham gia cùng được quan tâm gắn liền với trách nhiệm Các hộ khá giàu tham gia dự án với vai trò đầu tàu, có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo về kinh nghiệm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, Các hộ này cũng được hưởng lợi bình đẳng với các hộ nghèo về vốn vay ưu đãi, tập huấn khuyến nông, chăm sóc và tư vấn thú y, Lực lượng khuyến nông viên, thú y viên, cán bộ chuyên trách ở cấp thôn, xã được trợ cấp thêm kinh phí của dự án để thực hiện các hoạt động quản lý, theo dõi các hợp đồng trách nhiệm được ký kết giữa Ban quản lý dự án với người tham gia dự án Bên cạnh đó người dân trên địa bàn cũng được hưởng lợi từ các hoạt động: thúc đẩy sản xuất hàng hoá của dự án; tư vấn
và trợ giúp kỹ thuật của lực lượng khuyến nông, thú y viên của mô hình và hưởng lợi từ các sản phẩm do các hộ trong mô hình sản xuất ra như con giống, lương thực, thực phẩm tại chỗ tăng thêm
Nguồn nhân lực tại chỗ được chú ý khai thác đã phát huy hiệu quả tích cực Từ việc đan xen giữa hộ khá, giàu và hộ nghèo trong mô hình đã tạo thêm được nguồn lực, kiến thức và kinh nghiệm thực hiện dự án Chính sự gần gũi giữa các hộ khá, giàu và hộ nghèo đã giúp các hộ nghèo học hỏi được kinh nghiệm làm ăn của các hộ khá, giàu, đồng thời cũng khai thác được nhiều sự giúp đỡ trực tiếp khác của các hộ khá, giàu cho các hộ nghèo Việc sử dụng trưởng thôn, bản làm khuyến nông viên thôn bản trong các mô hình đã nhanh chóng mang lại hiệu quả trực tiếp, do họ vừa là người đi đầu, gương mẫu trong sản xuất ở thôn bản đó, vừa là người nắm rõ được tâm tư nguyện vọng của từng hộ dân, thông thạo phong tục tập quán và khắc
Trang 17phục ngay được những rào cản về ngôn ngữ Các mô hình đều lựa chọn các loại
hình sản xuất đa dạng để có thể tận dụng sức lao động phổ thông và thời gian nhàn
rỗi của hộ nghèo, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình tham
gia dự án Kết quả bình quân ngày công lao động của các hộ gia đình tham gia dự
án đều tăng từ (7 -10)% sau mỗi năm, tạo thu thu nhập ổn định, năm sau cao hơn
năm trước để giảm nghèo và thoát nghèo bền vững
1.2.6 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam
Có thể nói có rất nhiều những nguyên nhân gây ra đói nghèo cho đồng bào, ở đây
tôi chỉ xin đưa ra một số nhóm những nguyên nhân cơ bản nhất:
a Nguồn lực hạn chế
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của
nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không
thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại
cản trở họ thoát khỏi nghèo đói
Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng
tăng lên Thiếu đất đai ảnh hưởng tới việc đảm bảo an ninh lương thực của người
nghèo, cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây
trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương án
sản xuất tự cung, tự cấp là chính Họ vẫn sử dụng những phương thức sản xuất
truyền thống, sử dụng những phương thức này dẫn đến giá trị sản phẩm không cao,
năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp nên thiếu tính cạnh tranh trên thị trường
và vì vậy đưa họ vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch
vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Nhiều những yếu tố đầu vào sản xuất
như giống, phân bón, đã làm tăng chi phí, giảm nhu nhập tính trên đơn vị sản
phẩm sản xuất ra
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của
nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp
dụng khoa học công nghệ mới Mặc dù trong chương trình xoá đói giảm nghèo Quốc
gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã được tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo không có khả năng tiếp cận tín dụng Một mặt họ không có tài sản để thế chấp, mặt khác họ không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng đồng vốn không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận nguồn vốn và cuối cùng càng làm cho họ nghèo hơn
b Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định Người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do đó không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi đói nghèo Bên cạch đó, trình độ học vấn thấp có ảnh hưởng tới các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái đến không những thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai
Trình độ học vấn hạn chế cũng ảnh hưởng tới khả năng tìm kiếm việc làm trong những khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn
c Người nghèo ít có cơ hội tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan tới pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt Mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã chi phí dịch vụ pháp lý còn cao
d Các nguyên nhân về nhân khẩu học Quy mô gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông con, ít lao động là một trong những đặc điểm của các gia đình nghèo Quy mô gia đình lớn, tỷ
lệ người ăn theo cao
Trang 18e Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và
những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Nguồn
thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng
chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như (thiên tai, mất mùa, mất
việc làm, mất sức khoẻ, tai nạn ) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia
đình trong nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc
sống của gia đình họ và gây ra tình trạng nghèo đói cho hộ
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh cũng rất cao đối với người nghèo, do họ
không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và khắc
phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ
gia đình mất khả năng phục hồi rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa
f Bệnh tật và sức khoẻ yếu cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng
nghèo đói trầm trọng
Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và chi tiêu
của người nghèo, làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu
hai gánh nặng: Một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí khám
chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp
g Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hoá
thương mại, cải cách doanh nghiệp nhà nước) đến nghèo đói
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong
những nhân tố ảnh hưởng tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạt được những thành
tích giảm nghèo rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên quá trình phát triển và mở
cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo
- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý: Tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn
thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng
nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, chưa chú trọng đầu tư cho những ngành công
nghiệp thu hút nhiều lao động
- Cải cách các doanh nghiệp Nhà nước và các khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước đã dẫn đến việc mất đi nhiều việc làm trong giai đoạn đầu cải cách Nhiều công nhân mất việc làm đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ thấp và người lớn tuổi
- Chính sách cải cách kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do hóa thương mại đã tạo ra những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết
bị sản xuất, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp dẫn đến nhiều doanh nghiệp
bị phá sản và đẩy công nhân vào thất nghiệp và dẫn đến nghèo đói
- Tăng trưởng kinh tế giúp xoá đói giảm nghèo trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạng của người nghèo (về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực) lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế Việc phân phối lợi ích tăng trưởng giữa các tầng lớp dân cư không bình đẳng, điều này dẫn đến khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng lên
- Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo vừa thiếu vừa yếu Việc tiếp cận các vùng này còn hết sức khó khăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của toàn dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động
Trên đây là một số những nguyên nhân và ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói trong dân cư Tuy nhiên, đối với những địa phương khác nhau thì có thể có những nguyên nhân khác nhau Ngay trong bản thân các hộ nông dân cũng có thể có một hay một số những nguyên nhân tác động gây ra tình trạng nghèo đói, có những nguyên nhân chủ quan những cũng có những nguyên nhân khách quan Điều mấu chốt trong nghiên cứu đói nghèo là phải tìm ra được những nguyên nhân tác động tới hộ cũng như đâu là nguyên nhân cơ bản nhất?
Trang 191.2.7 Những giải pháp trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Để xây dựng được những giải pháp xoá đói giảm nghèo của một vùng, một
quốc gia phải được dựa trên điều kiện thực tế của địa phương Trong chiến lược
toàn diện về tăng trưởng xoá đói giảm nghèo của Việt Nam Dựa vào những bài học
kinh nghiệm trong quãng thời gian thực hiện xoá đói giảm nghèo vừa qua với
những thành công đã đạt được Việt Nam đã đúc kết lại một số giải pháp mang tính
chất chính sách và định hướng để xoá đói giảm nghèo sau:
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường, trường, trạm cho
các xã nghèo và các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, xã vùng cao Đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng là một giải pháp mang tính chiến lược để XĐGN, thu hẹp khoảng cách
giữa vùng phát triển và vùng chậm phát triển Việt Nam thực hiện thành công giải
pháp này thông qua các chương trình như 134, 135, 156
- Hoàn thiện hệ thống các chính sách xoá đói giảm nghèo
Để công tác xoá đói giảm nghèo được thành công mang tính bền vững, đòi hỏi
Nhà nước và các cơ quan quản lý cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ từ
Trung ương đến địa phương
- Xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ xóa đói giảm nghèo đầy đủ về năng lức và
- Tăng cường công tác giáo dục đào tạo nhằm nâng cao hiểu biết cho người dân
về kiến thức sản suất trồng trọt chăn nuôi và cả lĩnh vực kinh tế thị trường
- Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh
trong các hộ nhất là đối với hộ nghèo
- Thực hiện đào tạo nghề, mở một số ngành nghề phụ để tăng thu nhập giải
quyết việc làm tại chỗ cho lao động địa phương
- Thực hiện tốt các chính sách xã hội khác như y tế, giáo dục, an ninh
Chương 2 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NÔNG HỘ Ở HUYỆN SƠN ĐỘNG - BẮC GIANG
2.1 Tình hình cơ bản của huyện Sơn Động 2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
là bài học quý giá cho các tỉnh trong công cuộc xoá đói giảm nghèo
Sơn Động là huyện vùng cao của tỉnh Bắc Giang Từ trung tâm huyện là thị trấn An Châu cách thành phố Bắc Giang khoảng 80km
Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh
Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn
Phía Tây giáp huyện Lục Ngạn
Phía Tây Nam giáp huyện Lục Nam
Vị trí địa lý của huyện được thể hiện rõ thông qua bản đồ 01
Là huyện miền núi vùng sâu cách xa trung tâm của tỉnh Bắc Giang, điều kiện kinh tế xã hội của Huyện vẫn còn hết sức khó khăn Tuy nhiên được sự giúp đỡ, quan tâm của đảng và nhà nước cũng như của các cấp lãnh đạo tỉnh cho nên hệ thống giao thông đến trung tâm huyện được đầu tư Việc đi lại vào trung tâm huyện cũng rất thuận tiện, tuy nhiên hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn huyện vẫn còn hết sức khó khăn do điều kiện địa hình phức tạp chủ yếu là núi cao Cần được
sự giúp đỡ đầu tư, quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo
Trang 202.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Nhìn chung, địa hình của huyện Sơn Động khá phức tạp và đa dạng, gồm
vùng núi thấp có độ cao trên 500m, địa hình hiểm trở bị chia cắt mạnh, vùng gò đồi
và vùng đất tương đối bằng phẳng chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven
sông, ven suối và thung lũng
Địa hình đa dạng là điều kiện tự nhiên để tỉnh phát triển nông lâm nghiệp
theo hướng đa dạng hoá với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá phong
phú, đáp ứng nhu cầu thị trường
2.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thủy văn
Khí hậu huyện Sơn Động rất lạnh, sương muối và băng giá thường xuyên
xảy ra về mùa đông mưa tương đối lớn Không khí tương đối khô hạn, biên độ nhiệt
đới lớn Số giờ nắng trong năm cao, trung bình hàng năm từ 1200-1800 giờ Nhiệt
độ trung bình trong năm toàn tỉnh từ 22,70C- 240C Những tháng nóng nhiệt độ
trung bình lên tới 280C- 290C Mùa nóng ở trung du kéo dài từ tháng 4-10, ở miền
núi từ tháng 5-10 Nắng nóng đi liền với mưa nhiều, vào mùa này chiếm 80% tổng
lượng mưa cả năm Vì thế có thể coi vùng này là vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất
tỉnh
2.1.1.4 Tài nguyên đất đai của huyện
Bảng 2.1 Tình hình sử sụng quỹ đất của huyện Sơn Độngnăm 2010
Nguồn: Phòng thống kê huyện Sơn Động
Qua bảng số liệu ta thấy, trong tổng số diện tích đất tự nhiên của huyện, thì chủ yếu là đất lâm nghiệp với 69.000 chiếm 48,04% tổng diện tích; đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 19,45 tương đương với 27.945 Ngoài ra, huyện còn có một diện tích lớn đất chưa sử dụng (bao gồm cả sông suối và đất đá) gồm 38.200ha chiếm 26,6%, đây là điều kiện quan trọng để huyện có thể mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngành nghề cho nông dân
2.1.1.5 Tài nguyên nước
Nước là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống và sản xuất của con người Đối với địa bàn huyện Sơn Động do có địa hình đồi, núi xen kẽ,chia cắt mạnh đã tạo nên hệ thống sông suối dày đặc
2.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn huyện chứa nhiều trữ liệu tài nguyên khoáng sản như than đá và các mỏ quặng đa kim Đây chính là điều kiện quan trọng cho ngành công nghiệp khai khoáng phát triển
Trang 212.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Sơn Động
2.1.2.1 Điều kiện dân số và lao động của huyện Sơn Động
Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính, trong đó có 02 thị trấn là thị trấn An
Châu và thị trấn Thanh Sơn và 21 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 14 xã thuộc
diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II Cộng đồng dân
tộc sinh sống tại huyện gồm 9 dân tộc, đông nhất là người Kinh, Tày, Nùng, Dao,
Cao Lan, Sán Chí, Hoa…
Hệ thống giáo dục từ Mầm non đến Trung học phổ thông được quan tâm,
toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ năm 1995
Tuy nhiên, lực lượng lao động được đào tạo chuyên nghiệp có tỷ lệ còn hạn chế,
điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của huyện
Tại thời điểm năm 2010, dân số huyện Sơn Động là 72.571 người, mật độ
dân số trung bình 79 người/km2 Tổng số hộ toàn huyện là 16.007 hộ
Khu vực nông thôn có 14.301 hộ với 83.574 nhân khẩu, chiếm 89,3% tổng
số hộ và 91,6% nhân khẩu toàn huyện Tổng số lao động trong nông thôn toàn
huyện là 41.745 lao động, chiếm 91,6% dân số nông thôn và 91,6% tổng số lao
động toàn huyện, đây là một tỷ lệ rất cao Số lao động ngành nông nghiệp là 45.255
lao động, chiếm 90,5% tổng số lao động toàn huyện Số lao động trong ngành công
nghiệp chỉ chiếm 3,5% và ngành dịch vụ là 4,8% Điều đó cho chúng ta thấy số lao
động trong nông thôn có sự chênh lệch lớn giữa ngành nông nghiệp với các ngành
khác, thể hiện tính thiếu hiệu quả trong cơ cấu lao động toàn huyện nói chung và
trong nông thôn nói riêng
Bảng 2.2 Nhân khẩu và lao động của huyện Sơn Động, 2010
Chỉ tiêu
Số lƣợng (Hộ)
Cơ cấu (%)
Số Lƣợng (Khẩu)
Cơ cấu (%)
Số Lƣợng (L.Đ)
Cơ cấu (%)
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 14.678 91,7 66.545 91,7 41.771 91,7
- Công nghiệp, xây dựng 562 3,5 2.548 3,5 1.599 3,5
Hệ thống điện: Huyện Sơn Động hiện nay đang sử sụng hệ thống điện quốc gia, 100% số xã có đường điện cao thế đến trung tâm xã với 89% số hộ đã được sử dụng điện Tuy nhiên, do địa hình nhiều đồi núi phức tạp, vào mùa mưa thường xuyên hay bị sạt lở làm đổ cột điện nguồn điện cung cấp thường xuyên bị gián đoạn làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
Hệ thống giao thông: trên điạ bàn huyện có hai tuyến quốc lộ 31 và 279 chạy qua Mặc dù toàn huyện có 23/23 xã có đường nhựa đến hoặc qua trung tâm xã nhưng về các tuyến đường giao thông từ trung tâm các xã đến các thôn bản vẫn còn
Trang 22rất khó khăn, đường chủ yếu là do dân tự mở Vào mùa mưa hầu như việc đi lại là
rất khó khăn
Hệ thống thủy lợi: Do vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với
nền kinh tế của huyện, hệ thống thuỷ lợi được chú ý đầu tư xây dựng Huyện có
tổng số phai đập là 109 cái, tổng số chiều dài kênh mương kiên cố là 35,8 km Hệ
thống thuỷ lợi nhìn chung chỉ đáp ứng được một phần diện tích sản xuất nông
nghiệp Vẫn còn nhiều khu vực còn thiếu nước phục vụ sản xuất, đặc biệt là vào
những năm hạn hán kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp
Y tế: Huyện đã có Trung tâm y tế với đội ngũ y, bác sĩ đáp ứng được yêu cầu
khám chữa bệnh của nhân dân, toàn bộ 23/23 xã, thị trấn đều đã có trạm xá, tuy
nhiên chỉ có 6 xã trạm y tế được xây dựng cấp 4, còn lại là nhà tạm không đảm bảo
yêu cầu Toàn huyện có 190 giường bệnh với 180 cán bộ y tế Nhìn chung hệ thống
y tế của huyện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân
Giáo dục: Thời gian gần đây, các trường học trên địa bàn huyện đã được
kiên cố hoá Tất cả các phòng học được xây dựng từ cấp 5 trở lên Tại thời điểm
thống kê năm 2009, ở các cấp học có tổng số 856 lớp học, số giáo viên phổ thông là
1.282 giáo viên với tổng số học sinh là 22.866 em
Cơ sở vật chất khác như hệ thống nước sạch, hệ thống phương tiện vận tải,
cơ sở chế biến nông lâm sản, cũng có những bước phát triển trong thời gian qua,
tuy nhiên so với yêu cầu phát triển thì còn ở mức rất khiêm tốn cần tiếp tục được
đầu tư phát triển
Tóm lại, cơ sở vật chất của huyện Sơn Động trong những năm gần đây đã
được quan tâm đầu tư xây dựng, tuy nhiên vẫn còn tương đối nghèo nàn, chưa đủ
điều kiện phục vụ yêu cầu cần thiết cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
của huyện
2.1.3 Phân tích SWOT trong phát triển kinh tế thực hiện giảm nghèo của huyện
Sơn Động
a Điểm mạnh
- Tài nguyên, đất đai, khí hậu thảm thực vật đa dạng, đại bàn chủ yếu là vùng
núi thấp có độ ca trên 500m thuận tiện cho việc phát triển sản xuất nông, lâm
nghiệp vừa mang tính đa dạng, vừa mang tính đặc thù
- Diện tích đất lâm nghiệp nhiều, đây là một trong những tiềm năng lớn để phát triển lâm nghiệp
- Hệ thống sông suối hình thành từ các khe núi ngoài việc sử dụng để cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, nó còn tạo ra cảnh quan đa dạng và hấp dẫn để phát triển du lịch sinh thái
- Có rừng nguyên sinh Khe Rỗ
- Dân số và lao động chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với trình độ lạc hậu, nên ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo của huyện
- Tuy đã được đầu tư nhưng cơ sở hạ tầng vẫn còn thấp kém, ảnh hưởng lớn tới giao lưu kinh tế, đặc biệt là việc phát triển ngành dịch vụ, ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất và XĐGN của người dân địa phương
- Có nhiều xã đặc biệt khó khăn (15 xã)
c Cơ hội
- Là huyện trong danh sách 62 huyện nghèo từ 2009 tới nay
- Được sự đầu tư quan tâm đặc biệt của Nhà nước và tỉnh Do đó, có cơ hội
về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống
- Nhiều đơn vị hỗ trợ cho giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của chính phủ
- Có điều kiện phát triển du lịch
Trang 23d Nguy cơ
- Khí hậu khắc nghiệt,rất lạnh, sương muối và băng giá thường xuyên xảy ra về
mùa đông, mưa tương đối lớn Không khí tương đối khô hạn, biên độ nhiệt đới lớn
- Tụt hậu về kinh tế so với các địa phương khác
2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Sơn Động 2010
Sơn Động là một trong 62 huyện nghèo của cả nước, tuy nhiên trong những
năm qua được sự đầu tư của chính phủ, các chương trình phát triển cũng như
chương trình xóa đói giảm nghèo, cộng với sự nỗ lực cố gắng vươn lên của địa
phương, Sơn Động đã đạt một số kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
cũng như nâng cao đời sống của người dân địa phương Thể hiện qua các mặt sau:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện năm 2010 đạt12,3%, đây là kết quả
đáng khích lệ đối với một huyện nghèo miền núi của tỉnh Bắc Giang Bên cạnh chỉ
tiêu về tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu về thu nhập và đời sống của người dân cũng
đạt được những thành tựu đáng kể Cụ thể: Tổng thu ngân sách năm 2010 đạt
231,07 tỉ đồng trong đó thu tại địa bàn huyện là 17,057 tỉ đồng (năm 2009 thu tại
địa bàn huyện đạt 16,5 tỉ đồng); sản lượng lương thực bình quân đạt 391kg/người
Về chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo của huyện cũng đạt được nhiều thành công,cụ thể tỷ
lệ hộ nghèo của huyện giảm 6,87% so với năm 2008
* Về sản xuất nông nghiệp
Mặc dù có những khó khăn nhất định về địa hình, khí hậu tuy nhiên trong năm
qua, ngành sản xuất trồng trọt của huyện cũng gặt hái được một số thành công như:
sản lượng lương thực đạt 27.142 tấn, tăng 14,3% so với năm 2009 (23.747 tấn)
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lương thực của huyện, 2009 - 2010
Nội dung ĐVT 2008 2009 2010 2009/2008
(%)
2010/2009 (%)
I Diện tích cây lương thực có hạt 7.393 7.753 8.063
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Sơn Động
Ta thấy, diện tích trồng lúa và ngô tăng, đồng thời do sử dụng giống mới cũng như có phương thức canh tác hợp lý nên tổng sản lượng lương thực có hạt tăng lên đáng kể so với năm 2008 là 16,12%, với năm 2009 là 14,29%
Bên cạnh thành công của cây lương thực có hạt, diện tích của một số loại cây trồng lâu năm cũng tăng lên, cụ thể diện tích trồng mới cây ăn quả là 65,5 ha đạt 131% kế hoạch (50ha)
- Chăn nuôi: Với lợi thế là vùng núi, thức ăn dồi dào cho ngành chăn nuôi Chính vì vậy chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc cũng chính là một ngành kinh tế thế mạnh của Huyện.Trong năm 2010, đàn trâu đạt 14.011 con, tăng 3.1%
so với năm 2009, tương tự đàn bò đạt 2.238 con tăng 9.06%, đàn lợn gia cầm đều tăng: tổng đàn lợn đạt 54.271 con tăng 5% so với năm 2009, đàn gia cầm tăng 9.67% Sản lượng thủy sản đạt 121 tấn tăng 0.8%
Trang 24- Lâm nghiệp: Sơn Động là huyện có thế mạnh về phát triển lâm nghiệp, do
có diện tích lâm nghiệp lớn Theo báo cáo về tình hình Kinh Tế Xã Hội của huyện
năm 2010, toàn huyện có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 69.000 ha Trong đó phần
lớn diện tích rừng nhận khoanh nuôi tự nhiên còn lại là diệm tích rừng trồng mới và
rừng sản xuất Tuy diện tích rừng của Sơn Động nhiều nhưng hiện nay chưa thực sự
gắn kết giữa phát triển nghề rừng với thu nhập của nông dân, nhất là các hộ nghèo,
hộ sống gần rừng
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ có bước phát triển tích cực,
nhất là từ khi củng cố mạng lưới đường giao thông liên xã và mạng lưới điện nông
thôn Huyện đã quy hoạch được một số khu công nghiệp nhỏ và đề ra nhiều giải
pháp nhằm khôi phục và phát triển các nghê thủ công truyền thống của địa phương
như chế biến lâm sản, dệt mành… Đến năm 2010giá trị sản xuất công nghiệp tính
theo giá cố định đạt 35,649 tỉ đồng tăng so với năm 2009 là 18.58%
* Cơ cấu kinh tế của huyện Sơn Động giai đoạn 2008 - 2010
Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của huyện, ta đi nghiên cứu cơ cấu
kinh tê của huyện qua giai đoạn 2008 - 2010 và được thể hiện thông qua bẳng số
Giá trị (Tr.đ) %
Giá trị (Tr.đ) %
2008 622.941 100 362.166 58,14 69.759 11,20 191.016 30,66
2009 633.948 100 384.543 57,92 69.105 10,41 210.300 31,67
2010 693.414 100 408.606 58,93 73.878 10,65 210.930 30,42
Nguồn: Phòng thống kê huyện Sơn Động
Cơ cấu kinh tế huyện Sơn Động 2008 đến 2010
0 10 20 30 40 50 60 70
Đồ thị 2.1: Có cấu kinh tế huyện Sơn Động, 2008 - 2010
Qua bảng số liệu ta thấy, cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2008 - không có nhiều biến động hay nói cách khác là chưa có sự chuyển dịch cơ cấu mang tính tích cực Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn 51,18%.(năm 2008) và 58,93(năm 2010), giá trị nghành công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ( 11,20% năm 2008 và giảm xuống còn 10,65% năm 2010) Nói chung cơ cấu kinh tế của huyện vẫn còn lạc hậu và chưa có sự chuyể biến tích cực Chính điều này đã hạn chế tới việc phát triển của địa phương, qua đó ảnh hưởng tới kết quả xóa đói giảm nghèo của huyện Vì vậy, cần có kế hoạch, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tạo ra động lực phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân
2.2 Thực trang nghèo đói của huyện Sơn Động
2.2.1 Thực trạng nghèo đói của huyện
2.2.1.1 Kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo của huyện, 2008 - 2010
Mặc dù đã đạt được nhiều thành công trong phát triển kinh tế xã hội địa phương, từng bước nâng cao đời sống người dân, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, Sơn Động vẫn được coi là một trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước Trong nội bộ huyện, kết quả xoá đói giảm