LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Việt
Trang 1TẠI XÃ CÁN TỶ - HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Thái Nguyên - 2015
Trang 2TẠI XÃ CÁN TỶ - HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự đồng ý của
thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Việt Hưng tôi đã thực hiện đề tài “Tìm hiểu
tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang”
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới nhà trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Nguyễn Việt Hưng đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện thành công khóa luận này
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới UBND xã Cán Tỷ và toàn thể nhân dân trong
xã đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thu thập số liệu cũng như các tài liệu liên quan đến đề tài tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song
do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân không thể nhìn thấy được Rất mong nhận được sự góp ý kiến, phê bình của quý thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn nữa
Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe, thành công trong sự nghiệp cao quý
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên
Dương Minh Xuân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả điều tra các hộ sử dụng và thu hái cây thuốc tại khu vực
nghiên cứu 23 Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái phân bố một số cây thuốc tiêu biểu được sử
dụng làm thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang 24 Bảng 4.3 Các bài thuốc chủ yếu của người Mông tại xã Cán Tỷ - huyện
Quản Bạ - tỉnh Hà Giang 53
Trang 5DANH MỤC MẪU BIỂU
Trang
Mẫu biểu 01 Đặc điểm các loài cây đƣợc sử dụng làm thuốc trên tuyến
điều tra 20Mẫu biểu 02 Thông tin về các loài cây sử dụng làm thuốc trên tuyến điều
tra 21
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
GT : Giới tính
HĐND : Hội đồng nhân dân
IUCN : Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của khóa luận 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam 5
2.2.1 Trên thế giới 5
2.2.2 Ở Việt Nam 9
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 13
2.3.2 Điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề 18
3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 18
3.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 19
Trang 83.4.3 Phương pháp nội nghiệp 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Tình hình sử dụng và khai thác các loài thực vật làm thuốc
tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang 22
4.1.1 Tình hình chung 22
4.1.2 Hiện trạng khai thác, sử dụng và chế biến cây thuốc 23
4.2 Đặc điểm hình thái và sinh thái một số cây thuốc tiêu biểu được người Mông sử dụng làm thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang 24
4.3 Một số bài thuốc của người Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang 53
4.4 Nguồn gốc của những loài thực vật rừng làm thuốc 58
4.5 Nguyên nhân suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển 58
4.5.1 Nguyên nhân suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc 58
4.5.2 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển 59
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề nghị 62
Trang 9Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tượng đặc biệt được nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò, chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực như thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trường… ở từng vùng từng địa phương khác trên thế giới Trong đó, cây thuốc được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật, trong đó độ đa dạng
về cây cỏ khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã được xác định, dự đoán có thể tới 12.000 loài, trong số này, nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30% Nằm tại khu vực giao lưu các nền văn hóa ở các nước Đông Nam Á, Việt Nam còn là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp lãnh thổ Việt Nam Với mức độ đa dạng về hệ thực vật và văn hóa như vậy, chúng ta đang được kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc quý giá của các cộng đồng dân tộc khác nhau sử dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế
Trang 10Mặc dù mang lại nhiều lợi ích như vậy nhưng đến nay các loài cây làm thuốc vẫn chưa được quan tâm khai thác, bảo tồn và phát triển một cách bền vững Mặt khác, các loài thực vật được thu hái trong tự nhiên ít khi được gây trồng tại vườn nhà nên người dân đã khai thác một cách quá mức một số loài không còn khả năng tái sinh Vì vậy chúng ta cần phải có những phương pháp bảo tồn và phát triển các thực vật làm thuốc có giá trị trong tự nhiên
Cán Tỷ là một xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhưng được thiên nhiên ưu đãi cho hệ sinh thái rừng đa dạng, phong phú trên núi đá vôi Tuy nhiên
do diện tích đất nông nghiệp ít, chủ yếu là đất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng
và chưa có rừng chiếm một tỷ lệ rất cao không đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực thực phẩm nên người dân chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng đặc biệt là các loài thực vật làm thuốc Cùng với sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng thì nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị khai thác bừa bãi dẫn đến suy giảm hệ thực vật và nguy cơ nhiều loài cây thuốc quý hiếm sẽ bị tuyệt chủng Để phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng như góp phần bảo tồn đa dạng sinh học,
đa dạng nguồn gen,bảo tồn những tri thức bản địa quý báu được tích góp từ hằng ngàn năm thì việc thống kê, hệ thống hóa nguồn tài nguyên cây thuốc là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết nhằm sử dụng một cách khoa học và hiệu quả trong tương lai
Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp – Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Tìm hiểu
tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của đồng bào dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang” nhằm khai
thác tiềm năng, thống kê thêm một số loài thực vật rừng được sử dụng trong các bài thuốc, tìm ra phương án phù hợp để bảo tồn và phát triển các cây thuốc có giá trị của người Mông
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu kiến thức bản địa và kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Mông trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc góp phần bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
Trang 111.3 Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích của nghiên cứu thì các mục tiêu sau đây được thực hiện:
- Đánh giá được thực trạng và mức độ sử dụng các loài thực vật làm thuốc
của cộng đồng người Mông
- Xây dựng được danh lục các loài thực vật rừng được người dân sử dụng
để làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiêm truyền thống
- Lựa chọn được một số bài thuốc, cây thuốc hay và quan trọng để nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân
- Tìm hiểu được một số bài thuốc dân gian, công dụng chữa bệnh từ rễ, thân, lá, hoa, quả hay hạt một cách an toàn và có hiệu quả cao
1.4 Ý nghĩa của khóa luận
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng những kiến thức trong quá trình học tập ở trường vào thực tiễn
tại địa bàn nghiên cứu
- Rèn luyện phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin từ cộng đồng Biết
cách phân tích, xử lý thông tin thu được và kỹ năng làm việc với cộng đồng
- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời sau khi hoàn thành khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn trong sử dụng bền vững các loài thực vật làm thuốc của cộng đồng các dân
tộc thiểu số
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn và sản xuất
- Đánh giá được hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật làm thuốc trong cộng đồng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khách quan nhất trong việc đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững
- Làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển các cây thuốc quý hiếm có giá trị kinh tế cao
- Góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lợi từ rừng
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa tri thức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học Tri thức bản địa đã và đang góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu bảo tồn
và phát huy giá trị tri thức bản địa
Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ rất lâu đời Thời nguyên thủy
tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc nôn mửa, hôn mê, thậm chí chết người hoặc tích tụ trong cơ thể đến một lúc nào đó phát bệnh Dần dần họ nhận thức được cây nào ăn được, cây nào không ăn được và
họ biết lợi dụng tính chất này để làm thức ăn hay thuốc chữa bệnh
Với diện tích rừng tương đối lớn, Việt Nam có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ
có giá trị với 2.000 loài lâm sản ngoài gỗ là cây thân gỗ; 3000 loài cho dược liệu;
400 loài cho lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc; 500 loài cho tinh dầu, lâm sản ngoài gỗ được coi là lĩnh vực có vị trí quan trọng trong ngành lâm nghiệp Lâm sản ngoài gỗ gắn liền với cuộc sống của 24 triệu đồng bào miền núi sống trong và gần rừng, có nơi nguồn thu từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 10-20% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình Gây trồng lâm sản ngoài gỗ trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc khai thác, thu hái lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên và
chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng vạn lao động khu vực nông thôn
Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến năm 2014, có khoảng 36/63 tỉnh gây trồng, thu hái lâm sản ngoài gỗ với diện tích 1,6 triệu ha, chiếm 13% diện tích đất có rừng trong phạm vi toàn quốc, trong đó diện tích lâm sản ngoài gỗ có khả năng khai thác, thu hái từ rừng tự nhiên là 1,1 triệu ha, diện tích lâm sản ngoài
gỗ được trồng là 469.794ha
Trang 13Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng
đồng Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ
truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm
sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảm
nguồn cung cấp những thuốc này
Đến nay người ta đã thu thập được 40.000 bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào trên khắp các miền, nhưng khi con người phát hiện được giá trị của các hợp chất thiên nhiên thì cũng là lúc môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, cân bằng sinh thái bị phá vỡ và các tài nguyên thiên nhiên đã bị cạn kiệt đây không chỉ là thách thức đối với một vùng miền mà là vấn đề đang đặt ra đối với toàn cầu Trong sách đỏ Việt Nam ghi nhận 325 loài thực vật quý hiếm đã ở tình trạng cần bảo vệ thì cây thuốc có 128 loài (chiếm 38,2%) chắc chắn con số này sẽ tăng nhanh và danh sách các loài thuốc quý hiếm đang cạn kiệt dần còn nhiều hơn
Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cây thuốc đáp ứng được nhu cầu hiện tại và cả trong tương lai thì cần chú ý song song giữa việc khai thác trong tự nhiên đảm
bảo tái sinh với việc nghiên cứu gây trồng các loài cây con làm thuốc
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Tri thức bản địa đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về thực vật - dân tộc học hiện đại Cụ thể là tri thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên Tri thức bản địa cũng đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nông nghiệp sinh thái - nông lâm kết hợp, luân canh cây
Trang 14trồng, quản lý sâu bệnh hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông
nghiệp
Từ thời cổ xưa, loài người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cuộc sống của mình Theo Aristote (384-
322 TCN) đã tổng kết trên 4000 năm trước, các dân tộc vùng Trung Cận Đông
đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau này người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (dẫn theo Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999) [1] Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người Ai Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ướp xác các vua chúa hoặc làm nước thơm
từ khoảng 4.000 năm TCN Người Trung Quốc đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu Tại Đông Á, người Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bệnh từ 2.000 năm trước đây (dẫn theo Lã Đình Mỡi và các tác giả, 2001) [13].Theo Ahmad, U.& M.N.Nabi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng: Nền y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ đều được ghi nhận trong lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3.000 - 5.000 năm (dẫn theo Trần Văn Ơn, 2003) [14] Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc
để chữa bệnh từ lâu đời và đặc sắc tùy thuộc vào từng nền văn hóa
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên
Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả
A.l.Ermakov, V.V.Arsimovich… đã nghiên cứu thành công công trình “Phương
pháp nghiên cứu hóa sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử
dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loại cây thuốc Các tác giả A.F.Hammemen, M.D.Choupinxkaia và A.A
(cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “giá trị cây thuốc” Năm 1972
tác giả N.G.Kovalena đã công bố trên cả nước Liên Xô cũ việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao và không gây hại cho sức khỏe của con người Qua cuốn
sách “chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được
Trang 15loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (dẫn theo Trần Thị Lan, 2005) [10]
Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời Trân đưa ra
“Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in ấn lại
Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công
trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người
cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hóa của chúng, công
dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô
tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo”,
“Quảng Tây trung dược trí”……(dẫn theo Trần Hồng Hạnh, 1996) [5] Năm
1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam, Trung Quốc đã xuất bản
cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” Cuốn sách đã đề cập
đến cây Thảo quả với một số nội dung như sau:
- Phân loại Thảo quả: gồm có tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost
Lemaire), tên họ (Zingiberceae)
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả
- Vùng phân bố ở Trung Quốc
- Đặc điểm sinh thái: khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật trồng: nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu
bệnh hại
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản
- Công dụng: dùng làm thuốc trị các bệnh đường ruột
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, thu hái chế biến và bảo quản (dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [17]
Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò trọng yếu trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng người trên khắp thế giới Các kinh nghiệm
Trang 16dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Và từ đó, mỗi châu lục mỗi dân tộc hình thành nên nền dược thảo mang những nét đặc trưng riêng
- Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển Thầy thuốc người Hy Lạp có tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách thống kê 600 loại thảo mộc; Nicholas Culpeper xuất bản cuốn
dược thảo “The English Physitian”…
- Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời Ở Trung Quốc, Lý Thời Trân (thế kỷ 16) đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong
tập "Bản thảo cương mục" Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các
phương thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc
Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các
loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trước tới nay Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền - y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc…
Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao (trong tổng
số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R.Farnsworth $ D.D.Soejarto,1985) Theo Napralert năm 1990 con số này được ước tính từ 30.000 - 70.000 loài cây thuốc Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông - Nam Á khoảng 6.500 loài…(N.R.Farnsworth, 1985; S.K.Alok, 1991; P.G Xiao, 2006), (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2007) [15] Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực vật đang được sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau vào mục đích chữa bệnh Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trong các hoạt động buôn bán ở
Trang 17quy mô địa phương hoặc quốc tế (dẫn theo Phạm Minh Toại và Phạm Văn Điển, 2005) [19] Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho biết, hiên nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin thì có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở
các mức độ khác nhau Trong tập tài liệu “các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ”
xuất bản từ năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các loài cây
thuốc hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của
Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài được sử dụng làm thuốc cần bảo vệ (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2007) [15]
2.2.2 Ở Việt Nam
Phần lớn cây thuốc Việt Nam mọc hoang dại ở vùng rừng núi, một vùng chiếm 3/4 diện tích toàn lãnh thổ, và là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh
Hiện nay đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi năm, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Các cây thuốc đang được khai thác với khối lượng lớn như: Vằng đắng (Coscinium fenestratum), Thiên niên kiện (Homalomena spp.), Cẩu tích (Cibotium barometz), Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis)… phần lớn các cây thuốc trên được đưa vào sử dụng trực tiếp trong nền YHCT Một số loài được đưa vào chiết xuất hoạt chất để dùng làm thuốc như: Thanh hao (Artemisia annua) chiết artemisinin làm thuốc chữa sốt rét, Bình vôi (Stephania spp.) chiết xuất L tetrahydro palmatin làm thuốc an thần, giảm đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết saponin làm thuốc chữa sỏi thận…(dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [15]
Trang 18Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721 - 1792), hay các nhà nghiên cứu hàng đầu về cây thuốc: Vũ Văn Chuyên, Đỗ Tất Lợi, Phạm Hoàng Hộ, Võ Văn Chi, Trần Đình Lý, Nguyễn Nghĩa Thìn, …
Trong nền văn minh Đại Việt đã có 155 vị danh y với 497 tập sách y học cổ truyền dân tộc được viết bằng tiếng Hán và tiếng Nôm Trong thế kỷ 20 các vị danh y Việt Nam cũng đã biên soạn trên 200 tập sách có giá trị về Đông y bằng chữ Quốc ngữ Nền y học dân gian của 54 dân tộc trong cộng đồng Việt Nam gắn liền với sự sinh sống từng vùng địa dư sinh thái và xã hội Từng dân tộc trong quá trình sinh tồn và phát triển đều tích lũy được những kinh nghiệm
về sử dụng cây con thuốc có ở từng địa phương Đông y Việt Nam với hệ thống
lý luận chặt chẽ, với các phương pháp phòng và chữa bệnh có hiệu quả, đã phục
vụ đắc lực cho việc giữ gìn và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân từ xưa tới nay Nước ta đã có những công trình nghiên cứu về cây thuốc và các phương
pháp chữa bệnh bằng cây thuốc đồ sộ như: “Nam dược thần hiệu”, “Hồng nghĩa
giác tư y thư” của Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh và tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác Các tác phẩm này có ý nghĩa to
lớn cho nền YHCT dân tộc Bộ “Nam dược thần hiệu” do Hòa Thượng Bản Lai
ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô biên tập, bổ sung in lại năm 1761 gồm bản thảo dược tính 499 vị (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3.932 phương thuốc nam
ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa bệnh gia súc “Nam dược chính
bản” do vua Vĩnh Thịnh năm thứ 13 (1705- 1719) sai các quan nội thị phủ chúa
Trịnh, các quan y viện duyệt lại và bổ sung sắp xếp thành chương mục thứ tự và
đổi tên thành “Hồng nghĩa giác tư y thư” in lại năm 1717 gồm quyển thượng và
Trang 19- Quyển hạ gồm “Thập tam phương gia giảm” và “Bổ âm đơn” đã được đời
sau diễn dịch ra ca nôm và in năm 1723 (dẫn theo Nguyễn Bá Tĩnh, 1998) [16] Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác có công to lớn trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong giai đoạn này, đồng thời các ông đã thống kê ghi chép lại các kinh nghiệm chữa bệnh dân gian quý báu và đúc rút ra những bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm để viết thành sách lưu truyền cho hậu thế Tuy nhiên, các tác phẩm chỉ tập trung nghiên cứu về công dụng chữa bệnh của các cây thuốc, các phương pháp chữa bệnh… mà chưa có điều kiện nghiên cứu về phân bố, trữ lượng của các loài cây thuốc trên lãnh thổ Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc có một sự canh tranh chia rẽ sâu sắc giữa YHCT và YHHĐ Giai đoạn này, không có một công trình nghiên cứu nào về cây thuốc của Việt Nam được thực hiện do nền y học bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp
và bóp nghẹt không cho phát triển Một số nhà khoa học người Pháp đã có những cố gắng tìm hiểu những cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam và đã biên soạn thành tài liệu để lại bao gồm có hai bộ:
- Bộ thứ nhất “Dược liệu và dược điển Trung Việt” của hai tác giả E
M.Perrot và Paul Hurrier xuất bản tại Pari năm 1907 Trong bộ sách này các tác giả chia thành hai phần lớn phần một có sự nhận xét chung về nền Y học Á Đông, việc hành nghề y ở Trung Quốc và Việt Nam; phần hai kiểm kê các danh mục thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng học dùng trong y học Trung Quốc và Việt Nam Tài liệu có tính chất toàn diện nhưng bộ sách xuất bản đã lâu nên so với sự tiến bộ của khoa học hiện nay thì có nhiều thiếu sót, cần phải được sửa lại và bổ sung thêm Nội dung giới thiệu từng vị thuốc nhưng còn quá sơ lược so với sự đòi hỏi thực tế hiện nay
- Bộ thứ hai “Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương” phần cây thuốc
do hai tác giả Ch Crevest và A Pestelot biên soạn thành hai tập: Tập 1 in năm
1928, tập 2 in năm 1935 với 1.430 vị thuốc thảo mộc của 3 nước Đông Dương Đến năm 1952, A Pesterot có sửa chữa lại và bổ sung thêm, đặt cho bộ sách cái
Trang 20tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia và Việt Nam” với 1.428 vị thuốc
thảo mộc và được in thành 4 tập: Tập I (1925), tập II (1953), tập III (1954), tập
IV in năm 1954 dành riêng cho các mục lục và bảng tra cứu (dẫn theo Đỗ Tất Lợi, 2006) [12] Các tác phẩm nghiên cứu về cây thuốc của các tác giả người pháp tuy chưa đầy đủ và tỉ mỉ nhưng các bộ sách biên soạn khá công phu và giúp ích nhiều cho những nghiên cứu về cây thuốc của Việt Nam sau này
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu các cây cỏ được sử dụng làm thuốc trên cả nước Trong thời
kì kháng chiến các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu thống kê, hệ thống lại, tìm hiểu số lượng, khu phân bố các loại cây thuốc Công việc này được tiến hành trong suốt một thời gian dài với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành:
Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi… Trong các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam có một công trình nghiên cứu điển hình như:
- Cuốn sách “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi gồm 6 tập
được in từ năm 1962 - 1965 Tác giả đã trình bày khoảng 430 loài cây thuốc thuộc 116 họ, đã thống kê các cây thuốc, ông đã ghi chép một cách tỉ mỉ các thông tin: Đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa lí, công dụng, cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình
khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” có một ý nghĩa quan trọng trong nền y dược học Việt
Nam Cuốn sách được các nhà khoa học và nhân dân đón nhận rất lớn Từ khi xuất bản đầu tiên năm 1962 - 1965 đến năm 2006 cuốn sách đã được tái bản 14 lần, trong quá trình tái bản cuốn sách có chỉnh sửa bổ sung ngày càng hoàn thiện các thông tin cập nhật và hình ảnh minh họa về cây thuốc
- Cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” của Vũ Văn Chuyên, xuất bản
năm 1966 cuốn sách đã tóm tắt được hầu hết các đặc điểm của các họ có cây thuốc ở Việt Nam Tác giả đã mô tả đầy đủ các thông tin về: Tên khoa học, tên
Trang 21phổ thông, đặc điểm nhận biết chung, khu vực phân bố của từng họ cây thuốc Đây là việc có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu của công tác nghiên cứu
về hệ thực vật cây thuốc Việt Nam
- Cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, xuất bản năm
1997 tác giả đã thống kê, mô tả chi tiết về tên khoa học, tên phổ thông, tên địa phương, các đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và sinh thái học, phân bố địa
lý, công dụng cách dùng của các dân tộc có sử dụng vị thuốc này, các công trình khoa học trên thế giới đã công bố có liên quan đến cây thuốc của 3.200 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam và các cây thuốc được du nhập gây trồng ở Việt Nam Cuốn sách mô tả sinh động hình ảnh các cây thuốc bằng các hình vẽ và ảnh mầu
Công tác điều tra nghiên cứu của Viện Dược liệu - Bộ Y tế ở tất các địa phương trên toàn quốc kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật kể cả nấm có công dụng làm thuốc trong đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc
tự nhiên (dẫn theo Nguyễn Tập, 2007) [15]
Ngoài ra có rất nhiều các công trình khoa học được công bố có liên quan tới
nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam: “Cây cỏ có ích Việt Nam” gồm 4 tập của
Võ Văn Chi, Trần Hợp xuất bản năm 1999; “Từ điển thực vật thông dụng” tập I
tập II của Võ Văn Chi xuất bản năm 2003 v.v
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Cán Tỷ thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang cách trung tâm thị trấn Tam Sơn 12km về phía bắc được chia thành 8 thôn bản gồm: Đầu Cầu I, Đầu Cầu II, Suối Hồ, Lùng Vái, Sảng Cán Tỷ, Sủa Cán Tỷ, Pờ Chúa Lủng, Giàng Chu Phìn
Xã có vị trí địa lý và ranh giới như sau:
- Phía bắc giáp xã Bát Đại Sơn, xã Na Khê và xã Lao Và Chải
Trang 22- Phía đông giáp xã Lao Và Chải
- Phía nam giáp xã Lùng Tám và xã Đông Hà
- Phía tây giáp xã Thanh Vân và xã Bát Đại Sơn
Là một xã vùng III điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng là cầu nối giữa các huyện, tỉnh miền xuôi với cao nguyên đá Đồng Văn
2.3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Cán Tỷ nằm trong vùng núi đá vôi của khu vực đông bắc, có địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống núi đá vôi cao trên 1000m - 1500m so với mặt nước biển, trải dài từ bắc xuống nam, độ dốc trung bình 40% Xen kẽ giữa địa hình đồi núi là các thung lũng nhỏ hẹp có con sông Miện chảy qua, hai bên bờ sông là khu dân cư và đường giao thông, chính vì vậy mà đất canh tác của xã không có nhiều so với diện tích của toàn xã Đất của xã chủ yếu là đất xám bạc màu dùng
để trồng ngô và trồng các loại cây hoa màu khác, ngoài ra còn có đất phát triển trên núi đá vôi màu vàng nhạt xen lẫn phiến sét
Nhìn chung Cán Tỷ có địa hình tương đối phức tạp, độ dốc lớn nên việc bố trí các công trình phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn
2.3.1.3 Đặc điểm Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Cán Tỷ nằm trong tiểu vùng khí hậu nóng ẩm với hai mùa rõ rệt mùa mưa
và mùa khô: Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 trong năm Do có khí hậu nóng nên lượng mưa phân bố ít, hạn hán thường kéo dài và rất khắc nghiệt
* Thủy văn
Lượng mưa trung bình năm là 1000mm - 1500mm tập trung nhiều vào tháng 6 - 7 chiếm khoảng 80% thường xảy ra lũ dâng cao ở sông nhưng không ảnh hưởng nhiều đến đời sống cũng như canh tác nông nghiệp của người dân
Hệ thống sông, suối, ao, hồ hầu như không có mọi hoạt động tưới tiêu, sinh hoạt đều phụ thuộc vào một con sông chính chảy qua xã
Trang 232.3.2 Điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội
2.3.2.1 Văn hóa
Các hoạt động văn hóa nghệ thuật được chỉ đạo tổ chức thực hiện đến tận thôn bản, những kế hoạch văn hóa văn nghệ của đoàn thanh niên được tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân Tổ chức thi đấu văn nghệ, thi đấu bóng chuyền cho các thôn bản ngoài ra còn phát động các phong trào xây dựng nông thôn mới
Mở các lớp truyền thụ văn hóa của dân tộc cho thế hệ trẻ, vận động bà con thôn bản xóa bỏ các chế độ, hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan cùng nhau xây dựng các thôn bản, làng văn hóa tương xứng với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước
2.3.2.2 Kinh tế
Cán Tỷ là một xã thuần nông, người dân chủ yếu canh tác cây ngô là chính tuy nhiên bằng sự cố gắng, cần cù, chịu khó mà sản lượng lương thực hàng năm đều tăng, đời sống của người dân khấm khá và dần dần ổn định
* Sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng năm 2014 đạt 1.237,6 ha đạt 101%
kế hoạch giao, tăng 70% Tổng sản lượng lương thực là 2.372 tấn đạt 114% kế hoạch giao trong đó:
+ Cây ngô: Diện tích ngô trồng được 462/454 ha đạt 101% kế hoạch giao, diện tích ngô lai là 315 ha, năng suất bình quân đạt 40,5 tạ/ha, sản lượng bình quân đạt 1.871,1 tấn
+ Cây lúa mùa: Trồng được 77/77 ha đạt 100% kế hoạch giao, năng suất đạt
Trang 24+ Cây lạc: Trồng được 27/25 ha đạt 108% kế hoạch giao, năng suất đạt 13 tạ/ha, sản lượng 35,1 tấn
Chính vì vậy xã đã tập trung chỉ đạo cán bộ chuyên môn và lực lượng bảo
vệ rừng xây dựng kế hoạch phối hợp với cán bộ phụ trách thôn, bản tổ chức tuyên truyền cho người dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ và phát triển rừng Phối hợp với các công ty lương thực trong tỉnh tổ chức cấp phát gạo bảo vệ rừng cho các hộ gia đình trong xã
2.3.2.3 Xã hội
* Giáo dục – đào tạo:
Hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm học 2013 - 2014 ở tất cả các cấp học, trong đó: Bậc học Mầm non kết quả huy động đạt 478 trẻ, tăng 2 lớp và tăng 19 trẻ Bậc học Tiểu học kết quả huy động học sinh từ 6-10 tuổi là 690/701 đạt 99%
kế hoạch giao, kết quả chuyển lớp đạt 98%, tỷ lệ học sinh khá đạt 20.72%, tỷ lệ học sinh giỏi đạt 3,6% Bậc học Trung học cơ sở kết quả chuyển lớp đạt 99%, chuyển cấp đạt 100%, số học sinh có học lực khá, giỏi tăng cao Học sinh bán trú được quan tâm đúng mức chất lượng dạy và học chuyển biến rõ rệt, cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư, xây dựng, công tác phổ cập giáo dục được duy trì Nhìn chung các phong trào học đường được phát triển sôi nổi tạo khí thế cho học sinh hăng hái học tập, các chế độ chính sách của nhà trường, nhà nước được triển khai kịp thời đúng đối tượng như: nghị định số 74/2013 của chính phủ
và quyết định số 1883 của UBND tỉnh Hà Giang
Trang 25* Y tế:
Chỉ đạo kịp thời trạm y tế xã thực hiện tốt công tác trực trạm, khám chữa bệnh và cấp phát thuốc cho nhân dân, nâng cao y đức ngành phục vụ tận tình nhân dân đến khám chữa bệnh Thường xuyên triển khai chương trình tẩy giun cho học sinh và truyền dịch tiêm phòng sởi, thủy đậu đạt 99,7% cho các lứa tuổi mầm non và lứa tuổi từ 6 - 20 tuổi Tổ chức tiêm chủng vắc xin cho trẻ từ 1 - 15 tuổi đạt 97% được triển khai đúng quy định theo tháng và đủ số mũi
* Giao thông:
Tuyến đường quốc lộ 4c chảy qua xã là điều kiện thuận lợi cho giao thương, chuyên chở hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược Các tuyến đường dân sinh
đã được sửa sang và trải xi măng giúp người dân đi lại dễ dàng hơn Tuy nhiên
do xã có địa hình hiểm trở, phức tạp nên gây khó khăn cho giao thông, cùng với
đó là hay sạt lở, đá lăn làm hỏng đường gây thiệt hại nặng nề về kinh tế
* Quốc phòng – An ninh:
- Công tác quốc phòng: Thực hiện tốt việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, thực hiện nghiêm chỉnh Phát lệnh Dân quân tự vệ
- Công tác An ninh: An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an ninh toàn xã hội được ổn định Chú trọng và thường xuyên nắm tình hình an ninh chính trị
* Công tác an sinh xã hội:
Phối hợp với phòng lao động thương binh xã hội thực hiện chi trả kịp thời các chế độ chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo nghị định số 67/CP, tặng quà tết, hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho các hộ gia đình có hoàn cảnh kinh
tế khó khăn và tiếp nhận quà từ thiện từ các nhà hảo tâm trên cả nước
Qua kết quả rà soát toàn xã có 914 hộ với 4836 khẩu, tổng số hộ nghèo là
362 hộ chiếm 39,60%, hộ cận nghèo là 224 hộ chiếm 24,51%, hộ trung bình là
328 hộ chiếm 35,89% Xã đã tập trung chỉ đạo cán bộ phụ trách thôn xét nhà tạm theo nguồn vốn hỗ trợ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với mức hỗ trợ 30 triệu đồng/hộ, đến nay các hộ đã hoàn thành xong nhà đảm bảo chất lượng và cuộc sống ổn định cho người dân
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
* Đối tượng nghiên cứu:
Các loài thực vật bản địa được sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
* Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ được tiến hành nghiên cứu tại xã Cán Tỷ
- Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu những kiến thức bản địa trong việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc của người Mông
3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 02/02/2015 đến ngày 25/04/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình sử dụng và khai thác các loài thực vật làm thuốc tại xã Cán Tỷ -
huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
- Đặc điểm hình thái và sinh thái một số cây thuốc tiêu biểu được người Mông sử dụng làm thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
- Một số bài thuốc của người Mông tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh
Hà Giang
- Nguồn gốc của những loài thực vật rừng làm thuốc
- Nguyên nhân suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thông tin thứ cấp: thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu, những thông tin liên quan tới các loài cây thuốc của
Trang 27địa phương, địa điểm thu hái, loài và đặc điểm loài, bộ phận sử dụng, mùa vụ thu
hái, cách chế biến và sử dụng của người dân tại địa phương
- Thông tin sơ cấp: thu thập bằng phương pháp phỏng vấn nhóm, xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: phỏng vấn những người đưa tin then chốt, những người có kinh nghiệm và uy tín
+ Phỏng vấn trực tiếp các hộ có sử dụng thực vật làm thuốc: chọn những
hộ điển hình, hộ có người già am hiểu về cây thuốc
+ Phương pháp chọn hộ điều tra: điều tra theo kiểu ngẫu nhiên
+ Điều tra thực địa khu vực sinh sống của các loài thực vật sử dụng làm
thuốc có sự hướng dẫn của người dân địa phương
3.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp
* Phương pháp thu thập các thông tin và số liệu có sẵn
- Kế thừa các tài liệu cơ bản: Tham khảo, kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các tài liệu có liên quan tới chuyên đề nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, thông tin trên các trang web của các tác giả trong và ngoài nước
- Phương pháp chuyên gia: Phân loại tên khoa học, họ, nguồn gốc được giám định thông qua các thầy thuốc, những người có kiến thức, am hiểu về thực vật rừng tại địa phương, các thầy giáo về phân loại thực vật và thực vật rừng của trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
* Phương pháp thu thập số liệu, thông tin
Phương pháp PRA: Phỏng vấn những người dân địa phương thường xuyên tham ra thu hái, sử dụng các loài thực vật làm thuốc
- Sử dụng bảng câu hỏi (Phụ lục 03) với nội dung ngắn gọn, rõ ràng để khi phỏng vấn thu được nhiều thông tin, giúp cho người dân dễ hiểu, dễ trả lời
- Đối tượng được lựa chọn phỏng vấn là những người có uy tín, có nhiều kinh nghiệm như: già làng, trưởng bản, thầy lang bốc thuốc, người cao tuổi, hoặc người hay đi rừng…
Trang 28- Địa điểm phỏng vấn là tại nhà của các gia đình, trên đường họ đi làm về hoặc trực tiếp cùng họ đi làm rồi phỏng vấn
* Phương pháp điều tra theo tuyến
Trên địa bàn nghiên cứu ta lập tuyến điều tra trên địa phận của xã Trên các tuyến chia làm các nhánh điều tra đánh giá sự phân bố cũng như đặc điểm sinh thái của các loài thực vật rừng làm thuốc Tuyến điều tra được lập mang tính đại diện, điển hình cho toàn khu vực nghiên cứu Trên tuyến điều tra tiến hành thu thập thông tin về các loài thực vật làm thuốc, chụp ảnh, thu mẫu các cây thuốc,
mô tả đặc điểm hình thái và phân bố theo sự hướng dẫn của các thầy lang có kinh nghiệm Sau khi điều tra, thu thập số liệu xong ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 01 Đặc điểm các loài cây được sử dụng làm thuốc
trên tuyến điều tra
Trang 29Mẫu biểu 02 Thông tin về các loài cây sử dụng làm thuốc
trên tuyến điều tra
Địa điểm điều tra Thôn Xã Huyện Tỉnh Chiều dài tuyến Ngày ĐT Người ĐT
STT
Tên cây
Họ
Mùa khai thác
Cách khai thác
Bộ phận
sử dụng
Công dụng
Địa
phương
Khoa học
3.4.3 Phương pháp nội nghiệp
Sau khi thu thập đầy đủ thông tin, mô tả đặc điểm hình thái, thu mẫu và chụp ảnh xong tiến hành tổng hợp, xử lý số liệu, thống kê tất cả các cây thuốc, các bài thuốc lên bảng danh lục các loài thực vật được sử dụng làm thuốc tại địa phương và chuẩn bị viết báo cáo
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tình hình sử dụng và khai thác các loài thực vật làm thuốc tại xã Cán
Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
4.1.1 Tình hình chung
Đã từ rất lâu người Mông tại xã Cán Tỷ có cuộc sống gắn bó mật thiết và phụ thuộc chủ yếu vào rừng Họ thường xuyên khai thác những sản phẩm có sẵn trong rừng để phục vụ những nhu cầu khác nhau trong cuộc sống hằng ngày Chữa bệnh bằng thảo dược có nhiều ưu điểm, tính hiệu quả cao, rẻ tiền, dễ kiếm, khi sử dụng ít gây ra tác dụng phụ cho người bệnh nên thường được người dân
áp dụng thông qua tự học hỏi hoặc được người khác truyền lại Qua nhiều đời thử nghiệm và sử dụng trong khi chữa bệnh họ đã đúc kết thành những bài thuốc gia truyền quý báu ngày càng hiệu nghiệm và hoàn thiện hơn
Nhận thấy giá trị to lớn của các loài thực vật làm thuốc nên người dân đã vào rừng khai thác bán cho các lái buôn từ Trung Quốc sang để tăng thêm thu nhập Và một phần do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng cao mà thuốc tây y lại khó chữa khỏi một số bệnh nên người dân thường tìm những thầy lang để bốc thuốc
Điều tra các hộ gia đình của 3 thôn Sủa Cán Tỷ, Lùng Vái và Đầu Cầu I thì
số hộ gia đình biết sử dụng các cây thực vật làm thuốc là rất ít Trong đó chỉ có
14 hộ là sử dụng thường xuyên và là những thầy lang có tiếng Tuy vậy số lượng, thành phần các loài cây sử dụng làm thuốc của đồng bào rất đa dạng và phong phú với nhiều loại cây, nhiều vị thuốc Phỏng vấn và thảo luận cùng các
hộ gia đình đã xác định được các loài cây của cộng đồng sử dụng chủ yếu là các loài cây mọc tự nhiên ở trên rừng, nương rẫy và một số ít được gây trồng ở xung quanh nhà
Trang 314.1.2 Hiện trạng khai thác, sử dụng và chế biến cây thuốc
Dân tộc Mông là tộc người sống tập trung trên núi cao, cuộc sống gắn bó mật thiết với rừng và ít tiếp xúc với môi trường bên ngoài chính vì vậy mà họ đã biết cách tận dụng những nguồn lợi sẵn có vô cùng quý giá từ rừng để phục vụ cho cuộc sống hằng ngày Ngoài công việc chính là nương rẫy thì những lúc nông nhàn họ còn thường xuyên đi vào rừng để săn bắn động vật, lấy củi đun, hái nấm, hái thuốc hay chỉ đơn giản là đi tuần tra rừng Tuy số lượng người vào rừng thì nhiều nhưng chỉ có một số ít người là biết cách sử dụng các loài thực vật làm thuốc chữa bệnh
Qua quá trình điều tra 30 hộ gia đình trong địa bàn nghiên cứu đã thu được kết quả tình hình sử dụng và thu hái cây thuốc của dân tộc Mông tại xã Cán Tỷ
và được thể hiện tại bảng 4.1
Bảng 4.1 Kết quả điều tra các hộ sử dụng và thu hái cây thuốc
tại khu vực nghiên cứu Tình hình sử dụng và thu hái Người thu hái
(Nguồn: số liệu điều tra dân)
Qua bảng 4.1 cho ta thấy được tỷ lệ thường xuyên sử dụng các loài thực vật rừng làm thuốc ít hơn tỷ lệ không thường xuyên sử dụng, ngoài ra có rất nhiều
hộ không bao giờ sử dụng vì không biết cách sử dụng nó như thế nào, nếu trong nhà có người đau ốm thì phải nhờ đến người biết công dụng và sử dụng chúng trong chữa bệnh Trong khi đó người tham gia thu hái thuốc phần lớn là đàn ông
và chỉ có đàn ông mới biết cách chế biến, sử dụng nó Các kết quả điều tra được thể hiện ở phụ lục 1
- Tỷ lệ sử dụng cây thuốc thường xuyên chiếm 46,67%
- Tỷ lệ sử dụng cây thuốc không thường xuyên chiếm 53,33%
Trang 32- Tỷ lệ nam tham gia thu hái thuốc chiếm 93,33%
- Tỷ lệ nữ tham gia thu hái thuốc chiếm 6,67%
Hầu hết các cây thuốc được sử dụng đều có thể chữa được rất nhiều bệnh khác nhau và bộ phận sử dụng cũng rất phong phú: rễ, thân, lá, vỏ, hoa, quả, hạt, củ Có
một số ít sử dụng một bộ phận nhất định và thường chỉ chữa được một loại bệnh
Cách chế biến, sơ chế, và bảo quản cũng rất phong phú tùy thuộc vào từng loại bênh, từng loại cây: có thể giã nát hòa nước uống khi bị đau bụng, ninh với
thịt ăn, giã nát băng bó khi bị thương, …
Cách khai thác: Người dân khai thác các loài thực vật rừng bằng nhiều cách khác nhau, nhưng chủ yếu nhất vẫn là dùng tay hái, dùng dao và cuốc để đào củ,
rễ Cây thuốc sau khi thu hoạch về đều được chế biến dùng ngay hoặc phơi khô sau đó mới đem chế biến hay sắc uống, tùy thuộc vào mục đích và trường hợp
mà các loại thuốc thu hái về sử dụng nhiều cách khác nhau
4.2 Đặc điểm hình thái và sinh thái một số cây thuốc tiêu biểu được người Mông sử dụng làm thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
Để tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng một số cây thuốc và bài thuốc được phát hiện tại khu vực nghiên cứu Chúng tôi đã tổng hợp một số đặc điểm hình thái và phân bố, kết hợp với hình ảnh minh họa kèm theo của các loài cây thuốc
thông dụng Do thời gian có hạn nên chỉ xác định được tiếng địa phương, còn tiếng phổ thông và tiếng la tinh vẫn chưa xác định được
Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái phân bố một số cây thuốc tiêu biểu được sử dụng làm thuốc tại xã Cán Tỷ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang
Stt Tên cây Đặc điểm và phân
Trang 331 Chò kế
- Cây thân thảo, rễ dài, lá hình trứng mọc đối, 1 cuống có nhiều lá, mép có răng cưa, gân nhỏ nổi rõ
- Mọc hoang dại ở nương rẫy dưới tán các cây khác
- Nhổ cả cây rửa sạch đun uống chữa đau bụng, đi ngoài lỏng
giống
- Cây thân thảo, lá hình tròn mọc sát gốc, cuống dài, mép
có răng cưa nhỏ, gân song song nổi rõ
- Mọc sát dưới chân
đá trên nương rẫy sau thu hoạch
- Nhổ lấy cả cây đun uống chữa viêm phổi
hành
- Cây thân thảo cao 20-30cm, lá nhỏ hình giáo dài, gân song song, mép nguyên, hoa mọc thành chùm màu trắng
- Chủ yếu được trồng xung quanh nhà của các thầy thuốc
- Nhổ cả cây về ninh với thịt ăn chữa suy nhược
cơ thể, vàng da
ngâm rượu uống chữa đau lưng, mỏi gối,…
- Cây cỏ, lá to tròn, lúc còn non màu đỏ lúc già màu xanh nhạt, mép nguyên,
- Cắt lấy 1 đoạn thân ăn sống hoặc mài củ chắt lấy nước
Trang 34dưới gốc có củ
- Mọc hoang dại trên núi cạnh chân đá hoặc nơi ẩm ướt
uống chữa khó tiêu, buồn nôn
5 Ngải tía
- Cây thân thảo, mềm, màu hồng, lá hình trứng xẻ thùy chân vịt, mặt trên xanh dương mặt dưới hơi hồng, mép có răng cưa, gân mặt dưới nổi rõ
- Mọc nhiều trong rừng già, các thung lũng sâu ẩm ướt
- Vặt lá giã nát chắt lấy nước để rửa chữa đau mắt do bị que chọc, bụi bẩn hoặc bọ xít tè vào mắt
- Mọc hoang dại trên sườn và đỉnh núi đá vôi nơi có nhiều ánh nắng
- Lấy 3 lá cây đặt vào lòng bàn tay rồi thổi vào
nhiệt miệng ở trẻ em
Trang 35mềm, lá tròn xẻ nhiều thùy, mép có răng cưa, gân nổi rõ, dưới gốc có củ
-Thường được trồng xung quanh nhà hoặc trồng trên nương rẫy
lấy nước bôi lên
da chữa bênh cứng bụng, nổi cục to do viêm đau dạ dày hoặc
củ giã nát trị rắn cắn,…
- Cây thân bụi màu xanh cao khoảng 1-2m, lá kép lông chim, có nhiều lông nhỏ, mép nguyên, dưới gốc có rễ to dài
- Thường mọc trên đỉnh núi đá vôi hoặc rừng già cao trên 800m có nhiều ánh nắng mặt trời
- Đào cả cây đun với cây chấp lía chữa đau bụng, ỉa chảy ở trẻ em ngoài ra có thể đào lấy rễ thái mỏng hòa nước sôi uống khi bị đầy hơi, chướng bụng…
vôi
- Cây dây leo, màu xanh dương, lá hình tim dài mũi nhọn, gân nằm ngang nổi
rõ, mép nguyên, dưới gốc có củ hình tròn màu đen
- Mọc sâu trong các
kẽ đá trên núi đá vôi cao trên 500m
- Đào lấy củ đun uống chữa
đi ngoài lỏng, đi ngoài có lẫn máu,…
10 Quốc ló - Cây thân bụi, hóa - Vặt lá giã nát
Trang 36tra gỗ khi già, cao
khoảng 3-4m, lá nhỏ dài hình thuôn màu
- Mọc trong các hang
đá, chân đá nơi khô ráo
ít ánh nắng mặt trời
- Nhổ lấy rễ đun uống chữa sốt cao ở trẻ nhỏ
bì
- Cây nửa bụi thân hóa gỗ, có nhiều gai cong sắc nhọn, lá hình thuôn dài, 1 cuống có 3-4 lá, mép
có răng cưa, gân mờ
- Mọc hoang dại trên các sườn núi, đỉnh núi đá vôi
- Vặt lấy lá ninh với thịt nạc ăn chữa bệnh xơ gan, viêm gan
13 La và - Dây bò sát mặt đất, - Cắt lấy 4-5 lá
Trang 37màu đỏ, lá hình tim màu xanh nhạt, gân mặt dưới nổi rõ, mép lượn sóng
- Mọc hoang dại ở nương rẫy sau thu hoạch
đun uống chữa khó tiêu, ỉa chảy
- Cây thân thảo, mềm, màu trắng sữa,
lá hình kiếm dài, màu xanh dương, bao lấy thân, mũi nhọn, mép nguyên, không có gân hoặc
mờ
- Mọc hoang dại gần chân núi, nghĩa địa
- Cắt 2-3 lá đun uống khi phụ nữ đến tuổi dây thì
- Mọc gần các cây to hoặc vách đá lớn ở chân núi, sườn núi đá vôi
- Đào lấy củ ngâm rượu làm
chữa thận yếu, tóc bạc sớm, sinh lý yếu…
Trang 38lành hình tim moc cách,
mặt dưới nhiều lông nhỏ màu trắng, mặt trên xanh nhạt, mép nguyên, nhiều gân nhỏ nổi rõ
- Mọc ở chân núi, sườn núi cạnh các vách đá lớn
băng bó chữa đứt gân tay, gân chân, bong gân sau 1 thời gian gân sẽ tự liền
đông
- Cây thân thảo, mềm, lá kép lông chim, hình thuôn dài, mỗi cuống có 5 lá, gân song song, mép
có nhiều răng cưa, quả nhỏ, hình tròn màu xanh
- Mọc hoang dại ở nương rẫy hoặc trên đất trống đồi núi trọc
- Vặt lấy lá giã nát với 1 ít rượu rang lên cho ấm
khớp, đau khớp, bong gân
- Cây thân thảo, màu
đỏ cao đến 1m, lá mọc đối, hình tròn, màu đỏ, mép nguyên, gân song song
- Mọc hoang dại trong rừng già hoặc được trồng xung quanh nhà các thầy thuốc
- Vặt lấy lá giã nát với 1 số lá rừng dại khác băng bó chữa đứt gân chân, gân tay