1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế

63 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được những giải pháp đồng bộ, phù hợp để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá ở một huyện miền núi còn mang nặng tính sản xuất t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN HUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN BẮC QUANG -

HÀ GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Thái Nguyên, năm 2011

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

NGUYỄN HUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN BẮC QUANG -

HÀ GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60-31-10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Đình Tuấn

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi

xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ ã được

cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Huy Hoàng

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau Đại học, các thầy, cô giáo, cán bộ nhân viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Đình Tuấn, người đã trực

tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện, phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Thống kê, phòng Giáo dục, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Hùng An, Vĩnh Hảo, Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi khi điều tra, thu thập các tài liệu và số liệu thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện và động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 17 tháng 10 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Huy Hoàng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng, biểu viii

Danh mục biểu đồ, sơ đồ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài 4

5 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 5

1.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20

1.2 Phương pháp nghiên cứu 33

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33

1.2.2 Các phương pháp cụ thể 33

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36

CHƯƠNG 2 39

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN BẮC QUANG, HÀ GIANG 39

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bắc Quang 39

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội 41

2.2 Thực trạng chung về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở huyện Bắc Quang giai đoạn 2007-2009 49

2.2.1 Tình hình sản xuất chung của huyện Error! Bookmark not defined 2.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Bắc Quang 49

2.2.3 Thực trạng và các loại hình tổ chức sản xuất 68

2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang 84

2.3 Phân tích SWOT đối với phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Bắc Quang giai đoạn 2007 – 2009 89

CHƯƠNG 3 92

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN 92

NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 92

Ở HUYỆN BẮC QUANG, HÀ GIANG 92

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Bắc Quang giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến 2020 92

3.1.1 Các quan điểm và định hướng phát triển 92

3.1.2 Định hướng và giải pháp chủ yêud nhằm phát triển sản xuất hàng hoá ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang đến năm 2020 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106

1 Kết luận 106

2 Kiến nghị 107

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương

BVTV Bảo vệ thực vật

KHKT Khoa học kỹ thuật

KTQD Kinh tế quốc dân

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND Uỷ ban nhân dân

VAC Vườn ao chuồng

VACR Vườn ao chuồng ruộng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bắc Quang năm 2009 40

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của huyện Bắc Quang 41

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về dân số và lao động của huyện 44

Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của huyện Bắc Quang Error! Bookmark not defined Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Bắc Quang Error! Bookmark not defined Bảng 2.6: Giá trị sản xuất, cơ cấu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng ngành nông lâm thủy sản huyện Bắc Quang giai đoạn 2007-2009 Error! Bookmark not defined Bảng 2.7: Cơ cấu tỷ lệ đất sử dụng cho các cây trồng qua các năm 49

Bảng 2.8: Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực huyện Bắc Quang giai đoạn 2007 - 2009 52

Bảng 2.9: Diện tích, năng suất và sản lượng cây thực phẩm huyện Bắc Quang giai đoạn 2007 – 2009 55

Bảng 2.10: Diện tích, năng suất và sản lượng cây thực phẩm khác của huyện Bắc Quang giai đoạn 2007 – 2009 57

Bảng 2.11: Diện tích, sản lượng, năng suất một số loại cây công nghiệp lâu năm của huyện Bắc Quang giai đoạn 2008 – 2009 58

Bảng 2.12 Diện tích, sản lượng, năng suất một số loại cây công nghiệp hàng năm của huyện Bắc Quang giai đoạn 2008 – 2009 60

Bảng 2.13: Số lượng, chủng loại một số vật nuôi chính huyện Bắc Quang – Hà Giang các năm 2008 – 2009 62

Bảng 2.14: Diện tích và sản lượng khai thác tài nguyên rừng của huyện Bắc Quang các năm 2008 - 2009 65

Bảng 2.15: Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại 72

Bảng 2.16: Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm của trang trại 75

Bảng 2.17: Thông tin chung về chủ hộ 77

Trang 5

Bảng 2.18 Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ nông

dân điều tra năm 2009 81

Bảng 2.19: Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu 82

Bảng 2.20:Tổng hợp một số chỉ tiêu về các loại hình tổ chức sản xuất 83

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Bắc Quang 42

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu diện tích trồng chính trong các năm 51

Biểu đồ 2.3: Nghề nghiệp của chủ hộ trong mẫu điều tra 79

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sản xuất nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội, là ngành sản xuất để cung cấp nhu cầu tối cần thiết về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội; cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến; cung cấp hàng hoá xuất khẩu; cung cấp lao động và một phần vốn để công nghiệp hoá Nông nghiệp - nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ; là cơ sở để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, trong đó nổi bật nhất là đảm bảo được an ninh lương thực, từng bước trở thành một trong những cường quốc dẫn đầu về xuất khẩu gạo và đang chiếm lĩnh thị trường thế giới về cà phê, hồ tiêu, hạt điều, thuỷ sản, giầy da, may mặc Với sự phát triển mạnh mẽ của dân cư nông thôn đang từng bước được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, tỷ lệ nghèo đói theo tiêu chí mới đến nay chỉ còn khoảng dưới 15% Mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh theo hướng tích cực, nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 67% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và 1/3 kim ngạch xuất khẩu là từ nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam về phương diện việc làm và an ninh lương thực Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sản xuất nông nghiệp của nước ta vừa có cả những thời

cơ và thách thức mới

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, đã chỉ rõ định hướng phát triển ngành nông nghiệp như sau: “Hiện nay và trong nhiều

Trang 6

năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn có tầm chiến lược

đặc biệt quan trọng Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông

nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnhsang sản xuất các sản phẩm có thị

trường và hiệu quả kinh tế cao… Xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập

trung, gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất và chế biến, khắc phục

tình trạng sản xuất manh mún, tự phát” [?]

Bắc Quang là một huyện vùng thấp của tỉnh Hà Giang, có vị trí là cửa

ngõ của tỉnh với các địa phương ở khu vực phía Nam của tỉnh Bắc Quang có

nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là cây ăn quả

và cây công nghiệp dài ngày Mặc dù trong những năm vừa qua, huyện đã có

chủ trương đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thực hiện việc quy

hoạch, giao đất giao rừng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông

lâm nghiệp Tuy nhiên trên thực tế, sản xuất vẫn mang tính tự phát, chạy theo

thị trường; vấn đề sản xuất hàng hóa có chất lượng và mang tính thương hiệu

chưa được coi trọng, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế

giới… vì vậy dẫn đến hiệu quả kinh tế sản xuất còn thấp, chưa phát huy được

tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương Vấn đề đặt ra là phải xây dựng

được những giải pháp đồng bộ, phù hợp để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông

nghiệp theo hướng hàng hoá ở một huyện miền núi còn mang nặng tính sản

xuất tự nhiên nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra của tỉnh, đồng thời

cũng là yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá trong thời kỳ

hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá Vì vậy đề tài “Nghiên

cứu giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

ở huyện Bắc Quang, Hà Giang trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là

vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho mục tiêu tìm ra các giải pháp để

giải quyết các vấn đề nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề có liên quan đến phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

và vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông sản hàng hoá… từ đó đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo

Trang 7

hướng hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế cho huyện Bắc Quang,

Hà Giang đến năm 2020 và những năm tiếp theo

- Phạm vi về thời gian: Các số liệu và tài liệu sử dụng trong nghiên cứu đề

tài được thu thập từ giai đoạn 2007 - 2009, tập trung trong năm 2009

4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài

Với kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề

về lý luận về sản xuất nông lâm sản hàng hoá trong thời kỳ hội nhập và phát

triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Về mặt thực tiễn đưa ra

được định hướng và những giải pháp chủ yếu có cơ sở khoa học và phù hợp

với thực tiễn để phát triển sản xuất nông sản hàng hoá và đẩy mạnh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn ở một địa phương khu vực miền núi

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của

huyện Bắc Quang, phân tích những khó khăn và lợi thế về sản xuất nông lâm

sản hàng hoá; từ đó xây dựng quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp

thúc đẩy phát triển mạnh sản xuất nông sản hàng hoá huyện Bắc Quang trong

thời gian tới Những vấn đề nghiên cứu và đề xuất của đề tài vừa mang tính lý

luận vừa có tính thực tiễn sẽ có sự đóng góp tích cực vào việc đề xuất các giải

pháp và chính sách phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và sản xuất

nông lâm sản hàng hoá nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương chính:

- Chương 1: Tổng quan về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất

hàng hóa và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Chương 2: Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng

sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang, Hà Giang

- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển nông

lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Bắc Quang, Hà Giang

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

1.1.1.1 Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp

- Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh

tế quốc dân Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản

Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội:

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển là những nước còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nhưng vẫn chưa ngành nào có thể thay thế được

Trang 8

Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao thì nhu cầu

của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lượng,

chất lượng và chủng loại Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều

kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc

dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực Có thể chọn con đường nhập

khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhưng điều đó

chỉ phù hợp với các nước như Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không

dễ gì đối với các nước như Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là

những nước đông dân Các nước đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời

sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải tự sản xuất

được trong nước Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh,

chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã

có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự

ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển

thì sẽ khó thu hút được đầu tư để phát triển bền vững, lâu dài

Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu

vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nước

đang phát triển Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư

sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực

nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát

triển công nghiệp và đô thị Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt

tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông

nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải

phóng ngày càng nhiều Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển

công nghiệp và đô thị Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia

trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khu vực nông nghiệp

còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là

công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả

về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cường điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp

Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp

và dịch vụ Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao

gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn

sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển

Nông nghiệp còn là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại

nông lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các sản phẩm công nghiệp Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông lâm thuỷ sản Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu, giá trị xuất khẩu nông

Trang 9

lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng

đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là sơ sở trong sự phát triển

bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môt

trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn Nông nghiệp sử dụng

nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, làm ô nhiễm đất và

nguồn nước Dư lượng độc tố trong sản phẩm tăng ảnh hưởng đến sức khoẻ

con người Nếu rừng bị tàn phá, đất đai sẽ bị xói mòn, thời tiết, khí hậu thuỷ

văn thay đổi xấu sẽ đe doạ đời sống của con người Vì thế trong quá trình phát

triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm ra các giải pháp thích hợp để duy trì và

tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường [8]

1.1.1.2 Hàng hóa và sản xuất hàng hóa

* Hàng hoá là một dạng vật chất được đem ra trao đổi:

Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu của con người

thông qua trao đổi là mua bán Hàng hoá có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử

dụng

Từ khái niệm đó ta thấy một sản phẩm sản xuất ra được đem ra trao đổi

mới được gọi là hàng hoá; song trao đổi được thì sản phẩm đó đã có một giá

trị nhất định (giá trị trao đổi) và sản đó thoả mãn được nhu cầu nào đó của

người tiêu dùng (giá trị sử dụng)

Như vậy, sản phẩm hàng hoá trên thị trường chịu sự chi phối của hai quy

luật: Quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Nếu sản phẩm cung vượt cầu

thì sản phẩm đó hoặc là thừa hoặc phải chịu bán với giá thấp, chịu thua lỗ Ở

khía cạnh khác, cùng một loại sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng sản

phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu

dùng, có giá cả hợp lý, rẻ hơn thì sản phẩm đó được tiêu thụ dễ dàng Sản

phẩm kém chất lượng, giá cả cao, cung cấp không ổn định thì sản phẩm đó bị thừa ế, thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường hàng hoá

* Sản xuất hàng hoá:

Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của mỗi nước So với nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá có nhữg ưu thế nổi bật Vì trong nền sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra là để bán nên nó chịu sự chi phối của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh, buộc các tập thể sản xuất, người sản xuất phải tổ chức lại sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, thay đổi mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của

xã hội Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất và càng tạo điều kiện cho nền sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá ra đời

Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội gắn liền với hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu Phân công lao động xã hội không mất đi mà ngày càng phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu (Hợp tác quốc tế và khu vực, thị trường chung, hội nhập kinh tế, WTO ) Hình thức sở hữu cũng được thay đổi để phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất

Sự chuyên môn hoá và phân công hợp tác quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu ngay cả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ở nước ta, kinh tế hàng hoá đã ra đời nhưng đang trong dạng sản xuât hàng hoá nhỏ và đang từng bước thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển theo chiến lược kinh tế mở: Đưa nhanh cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại làm cho trình độ xã hội hoá sản xuất ngày càng được mở rộng Sản xuất hàng hoá không chỉ dựa trên cơ

sở điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ thuật mà đã tính đến khả năng liên kết quốc

Trang 10

tế Chính sự giao lưu và hợp tác quốc tế đã làm cho nền kinh tế hàng hoá

nước ta có những bước phát triển mới

1.1.1.3 Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

a Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa:

* Phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một đặc

trưng cơ bản trong cơ chế thị trường hàng hoá

Nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững phải dựa trên

mấy tiêu chí:

+ Bền vững về mặt sản xuất: Sản phẩm được tạo ra không những phải

khai thác được lợi thế tự nhiên của khu vực (đất đai, khí hậu, thời tiết ) lợi

thế về mặt kinh tế (lao động, vốn, trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng hiện có )

về mặt xã hội và môi trường (tạo ra được sự liên kết trong nông thôn, xây

dựng nông thôn mới và cải tạo được môi sinh môi trường ) [ 16]

+ Bền vững về thị trường tiêu thụ: Sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được

thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu về khối lượng, chất

lượng và giá cả có tính cạnh tranh cao Có thị trường tiêu thụ ổn định và tạo

khả năng mở rộng thị trường mới.Thị trường ở đây được hiểu là thị trường

tiêu dùng sản phẩm cùng thị trường nguyên liệu sản phẩm cho công nghiệp

chế biến.[ 9]

+ Bền vững về môi trường kinh tế - xã hội nông thôn: Sản xuất sản phẩm

hàng hoá (sản phẩm chuyên môn hoá) phải gắn với phát triển sản phẩm đa

dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sử dụng lao động, tài nguyên tại

chỗ, phải là sản phẩm sạch đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực

phẩm, không gây ô nhiễm môi trường, phá hoại môi trường, môi sinh

+ Gắn được sản xuất, chế biến với môi sinh môi trường nông thôn mới,

tạo điều kiện xây dựng một cơ cấu kinh tế mới phù hợp, bền vững: Gắn được

sản xuất với chế biến để vừa sử dụng được nguyên liệu tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển, thu hút được lao động tại chỗ, tạo thêm được việc làm Đa dạng hoá sản phẩm nhằm sử dụng tiềm năng đa dạng của điều kiện tự nhiên, đất đai và lao động của từng địa phương, tăng thu nhập cho hộ gia đình, tạo điều kiện để sản phẩm hàng hoá phát triển thuận lợi, hiệu quả

* Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một quá trình

từ một nền nông nghiệp truyền thống,phân tán, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém lên một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại một nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Ở một nền sản xuất nông nghiệp như nước ta sản xuất hàng hoá phải đi từng bước vững chắc, không chủ quan nóng vội, duy ý chí nhưng không thể ngồi chờ, phải tạo ra thế và lực để phát triển

Đi từng bước vững chắc, trước hết phải giải quyết tốt nhu cầu tiêu dùng tại chỗ bằng cách đa dạng hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm Phát huy nội lực của mình, bằng thâm canh tăng năng suất, bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến tăng nhanh sản phẩm vừa đáp ứng tiêu dùng vừa có sản phẩm trao đổi Khi đã tạo được thế đứng vươn lên làm giàu, lựa chọn sản phẩm vừa có nhu cầu trên thị trường, vừa có lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hoá Khi đã có hàng hoá, có chỗ đứng của hàng hoá rồi mở rộng sản xuất, phát huy cao lợi thế, từng bước đi vào chuyên môn hoá, tranh thủ ngoại lực để phát triển Đó là bước đi của một nền nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững Giai đoạn nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững Đặc trưng của nó là nền nông nghiệp được thương mại hóa và chuyên môn hóa cao, khối lượng hàng hóa nhiều và chủng loại hàng hóa phong phú, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cho phép hình thành và phát triển các vùng cây con chuyên môn hóa và thâm canh với quy mô lớn, cơ cấu sản xuất hợp lý, khai thác tối

đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng, từng địa phương; thị trường

Trang 11

được mở rộng cả trong và ngoài nước Mục đích của sản xuất nông nghiệp

hàng hóa là tối đa hóa lợi nhuận, sản phẩm trở thành hàng hóa đã được xác

định từ trước khi quá trình sản xuất diễn ra Do đó, sản xuất cái gì và sản

phẩm như thế nào không phải xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất mà

xuất phát từ nhu cầu người mua, của thị trường Thời kỳ này được tự do

thương mại hóa nên con người sản xuất tìm mọi cách đưa tiến bộ khoa học -

công nghệ vào công nghiệp hoá và hiện đại hoá sản xuất nhằm làm tăng năng

suất lao động, giảm giá thành sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao

năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường

Vai trò của Nhà nước ở thời kỳ này chủ yếu là thiết lập hệ thống luật

pháp, chính sách về thị trường, đào tạo cán bộ, cung cấp hàng hóa công cộng,

tổ chức hệ thống dự báo, thông tin cho các cơ sở sản xuất, tạo ra môi trường

kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh nông nghiệp [16]

* Chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi có lợi thế:

Xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp là đa dạng về tự

nhiên và sinh học, để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp hàng hóa phát triển, tăng

khối lượng nông lâm sản hàng hóa, điều quan trọng là phải lựa chọn và phân

bố chuyên môn hóa các giống cây, vật nuôi thích hợp cho từng vùng theo

hướng cây, con có lợi thế cạnh tranh

- Cây, con được lựa chọn phải thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí

hậu và môi trường, với khả năng canh tác của từng vùng, tiểu vùng, từng hộ

gia đình về khả năng đầu tư và trình độ sản xuất, phát huy khai thác nội lực,

tranh thủ ngoại lực

- Cây con được lựa chọn phải có khả năng phát triển tập trung, quy mô

lớn để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn phục vụ nhu cầu tiêu dùng

của thị trường hay nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong vùng hoặc liên vùng, trong huyện và liên huyện một cách ổn định

- Cây con được lựa chọn trước mắt lợi dụng những cơ sở hạ tầng sẵn có như cơ sở chế biến, đường giao thông, đường điện để giảm chi phí sản xuất

và tiêu thụ nhưng về lâu dài phải tiếp thu được kỹ thuật mới và cơ sở hạ tầng mới, nguồn nhân lực mới để tăng được năng lực cạnh tranh trên thị trường

Quá trình hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững là quá trình thực hiện mục đích tối đa hóa lợi nhuận và cũng là quá trình tái sản xuất hàng hoá mở rộng, ổn định

Hiện nay trên thế giới, tùy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi nước, mà nền nông nghiệp đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau; ở nước

ta hiện nay về căn bản vẫn là một nước nông nghiệp, hàng hóa nhỏ với một trình độ sản xuất nông nghiệp hàng hóa lạc hậu, chuyên môn hóa thấp, khối lượng nông sản hàng hóa được sản xuất ra chưa tương xứng với tiềm năng

Do vậy, đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta trong thời gian tới không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bền vững lâu dài của chính sự phát triển nền kinh tế - xã hội theo hướng XHCN Đối với nông nghiệp ở nước ta hiện nay, một số vùng, địa phương, bên cạnh sản xuất tự cung tự cấp cũng đã có một số sản phẩm trở thành hàng hóa với những quy mô và trình độ phát triển khác nhau như chè, cà phê, cao su, trâu bò, gà, lợn, nuôi trồng thủy sản Các chính sách của Nhà nước cần có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi vùng thì có thể đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững

b Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa:

Phát triển nông nghiệp hàng hóa có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tạo cơ sở cho các ngành trong nền

Trang 12

KTQD phát triển, làm tăng khả năng tích lũy và làm biến đổi sâu sắc trong

đời sống kinh tế - xã hội nông thôn Chính vì vậy việc phát triển nông nghiệp

hàng hóa là yêu cầu bức thiết trước mắt cũng như lâu dài đối với các quốc gia

trên thế giới Tuy nhiên, để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đạt trình độ

cao còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố Có thể xem xét các nhân tố chủ yếu sau:

* Thứ nhất: Nhân tố thị trường

Thị trường có vai trò vừa là điều kiện, vừa là môi trường của kinh tế

hàng hóa; nó thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng, khối lượng nông sản hàng

hóa tiêu thụ trên thị trường, nó điều tiết (thúc đẩy hoặc hạn chế) quan hệ kinh

tế của cả người quản lý, nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua tín hiệu

giá cả thị trường Chính cái "phong vũ biểu" giá cả thị trường sẽ cung cấp tín

hiệu, thông tin nhanh nhạy để điều tiết hành vi kinh tế của các chủ thể kinh tế

sao cho có lợi nhất Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụng

định hướng cho người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, thay đổi mặt

hàng, thay đổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường Thị

trường ngày càng phát triển góp phần làm cho nông nghiệp hàng hóa cũng

ngày càng đa dạng, phong phú Nó cũng lựa chọn, đòi hỏi cao về số lượng và

chất lượng, phong phú về chủng loại nông sản hàng hóa Nhân tố thị trường

ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đây được xem xét trên 2

góc độ: Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra

Thị trường đầu vào: Bao gồm đất đai, lao động, khoa học, công nghệ

sản xuất, vốn trong đó đặc biệt là thị trường đất và lao động Cũng như các

hàng hoá khác, đất đai và lao động cũng trở thành hàng hoá

- Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất ra

sản phẩm, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động và là tư liệu

sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được; hiệu quả của sản xuất nông nghiệp

phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai Xác định rõ quyền sử dụng đất ổn

định lâu dài cho một cá nhân hoặc một nhóm và như vậy nó tạo ra các chủ thể sản xuất thực sự làm chủ các tư liệu sản xuất, làm chủ trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm chủ đối với nông sản phẩm và tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường Việc cho phép nông dân được quyền sử dụng đất sản xuất lâu dài thì nguồn tài nguyên đất đai mới sử dụng có hiệu quả, được bảo vệ và phát triển độ màu mỡ trong quá trình khai thác, phát huy hết khả năng kinh doanh nông nghiệp của mình Mặt khác, quá trình mua - bán, luân chuyển, chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ dẫn đến đất đai vận động theo hướng tập trung, hình thành nên các trang trại, đồn điền, có quy mô sản xuất hàng hóa phù hợp, đem lại lợi nhuận cao Người nông dân làm chủ sử dụng đất là điểm khởi đầu cho sự phát triển nông nghiệp hàng hóa[4]

- Cũng như đất đai, sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản cấu thành quá trình sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp Mở rộng thị trường lao động chính là môi trường tạo nên sự chuyển dịch người lao động từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ việc làm không hiệu quả sang việc làm có hiệu quả hơn, tạo điều kiện để phân bố sức lao động hợp lý, phù hợp với khả năng, trình độ của người lao động trong nông nghiệp Chính sự phân công lao động và chuyên môn hóa lao động trong nông nghiệp là cơ sở và là điều kiện để hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa

Mặt khác, thị trường lao động có được phát triển hay không, nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào một mặt là trình độ dân trí, khả năng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính chất cần cù, thông minh Trên trực tế, trình độ của người sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế tự nhiên, biểu hiện họ là những người dám kinh doanh làm giàu cho mình và cho xã hội Họ dám bỏ sức lực và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, có hiệu quả nhất Để thực hiện điều

đó, đòi hỏi người sản xuất cần phải có những kiến thức cơ bản về khoa học - công nghệ, về quản trị kinh doanh, biết tiếp cận và nghiên cứu thị trường,

Trang 13

nhận biết nhu cầu của thị trường, từ đó biết lựa chọn những cây, con nào được

người tiêu dùng đánh giá cao và có sức mua lớn

Một mặt khác là sản xuất có được mở rộng hay không? có được chuyển

đổi từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá hay không? điều này lại phụ

thuộc vào thị trường đầu vào, phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học

công nghệ sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật và cơ sở vật chất kỹ thuật,

trình độ sử dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật sản xuất Tiến bộ khoa học -

công nghệ trong nông nghiệp được biểu hiện những nội dung cơ bản sau:

- Ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học vào sản xuất

- Hoàn thiện hệ thống quy trình kỹ thuật sản xuất, quy trình công nghệ

bảo quản, chế biến sản phẩm

- Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng cải tạo đất, sử dụng nguồn nước

phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường

- Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng các phương tiện hóa học như phân

bón, thuốc bảo vệ cây trồng vật nuôi, thuốc kích thích tăng trưởng, vật liệu

hóa học xây dựng

- Những tiến bộ liên quan đến người lao động nông nghiệp bao gồm:

Trình độ văn hóa, trình độ quản lý, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ lành nghề, trình

độ tiếp cận thị trường

- Tiến bộ kỹ thuật trong việc trang bị và sử dụng các phương tiện cơ khí

như: Máy chuyên dụng hay là công cụ lao động nói chung; hệ thống các công

trình thủy lợi; các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất như đường

xá, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, nhà xưởng, kho bãi

Các nhân tố nêu trên được coi là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, chính

là "giá đỡ vật chất", là bộ xương sống của sản xuất, là nhân tố trực tiếp làm

thay đổi trạng thái của sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản Ngày nay, ở các nước kinh

tế phát triển, khoa học- công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi và nó đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đến trình độ, quy mô phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong nền sản xuất hàng hóa, vốn là một trong những yếu tố quan trọng

để tiến hành sản xuất kinh doanh Vốn ở đây được xét theo nghĩa hẹp, nó được biểu hiện một lượng tiền mặt nào đó, nó có thể biến thành một nguồn lực cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy, tốc độ và quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hóa tùy thuộc vào mức thu nhập và khả năng tích lũy vốn của các đơn vị, các chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng như sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước ở cả hai khía cạnh tỷ trọng vốn đầu tư và chính sách đầu tư Do đó, vốn và việc sử dụng vốn có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa Đối với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hoặc hộ nông dân, muốn nâng cao trình độ sản xuất hàng hóa thì không những cần có lượng vốn đầu tư đủ lớn mà quan trọng là cần phải biết cách nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn Nhưng trên thực

tế cả hai vấn đề này các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn; hộ nông dân là những người có ít vốn đầu tư và trình độ sản xuất kinh doanh cũng như trình độ quản lý thấp Do vậy, muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi phải có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước thông qua hệ thống tài chính, tín dụng và các hình thức huy động vốn khác Có như vậy mới tạo ra sự đột phá để đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa

Thị trường đầu ra: Việc xây dựng thị trường đầu ra cho nông nghiệp

hàng hóa là cơ sở để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển sản xuất hàng hoá Trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra là nhằm để bán và trao đổi trên thị trường chứ không phải phục vụ nhu cầu của cá nhân Do vậy, điều kiện cơ bản để các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình là phải xác định được thị trường đầu ra, tìm kiếm được khách hàng và lựa chọn được phương thức tiêu thụ sản phẩm thông qua các hợp

Trang 14

đồng kinh tế cụ thể Thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp rất đa

dạng và phong phú, đó có thể là các doanh nghiệp công nghiệp (các cơ sở

công nghiệp chế biến nông sản), các doanh nghiệp thương mại (các nhà bán

buôn, bán lẻ, các đại lý ) và những người tiêu dùng nông, lâm sản thông qua

các chợ nông thôn các đại lý tiêu thụ, các cơ sở chế biến công nghiệp tiêu thụ

ở thị trường nước ngoài thông qua các nhà xuất khẩu các hợp đồng kinh tế,

khả năng khai thác và mở rộng thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh

nông nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng quyết định quy mô và trình độ phát

triển nông nghiệp hàng hóa

* Thứ hai: Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên

Trong nông nghiệp đối tượng của sản xuất là những cây trồng và vật

nuôi Nó là những cơ thể sống, phát triển theo quy luật sinh học nhất định, rất

nhạy cảm với những yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết -

khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến năng

suất và chất lượng sản phẩm Trong quá trình sản xuất, người lao động phải

nghiên cứu rất cụ thể đặc tính sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi liên

quan đến điều kiện tự nhiên, nơi định bố trí sản xuất loại cây trồng, vật nuôi

đó để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng tự nhiên cụ thể

mới đưa lại hiệu quả kinh tế và chất lượng Chính vì vậy, đối với phát triển

nông nghiệp hàng hóa, đòi hỏi phải nghiên cứu tạo ra những giống mới có

năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng,

từng địa phương Mặt khác, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng

lãnh thổ đã hình thành nên các vùng cây con đặc sản có lợi thế cạnh tranh rất

cao Đây cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nền nông

nghiệp hàng hóa cần phải nghiên cứu để tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên

trong sản xuất hàng hóa nông nghiệp

* Thứ ba: Nhóm nhân tố thuộc về tthể chế, chính sách kinh tế vĩ mô của

Nhà nước

Chính sách kinh tế vĩ mô có ý nghĩa tạo ra môi trường kinh doanh để hình thành nền nông nghiệp hàng hóa Vì thế, nếu chính sách đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách kinh tế vĩ

mô của Nhà nước không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thông qua các chính sách để điều tiết thị trường theo định hướng XHCN như: Chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khoa học- công nghệ, chính sách tiêu thụ nông sản các chính sách này vừa tạo điều kiện phát triển sản xuất, vừa tạo điều kiện thu hút, đầu tư để thúc đẩy

sự hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa

Phát triển khoa học- công nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng: hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc , cung cấp vốn, tín dụng Những vấn đề này thể hiện

sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân tố không thể thiếu được trong phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững Các nhóm nhân tố nêu trên có mối quan hệ cùng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển bền vững, trong mỗi nhóm nhân tố đều có mặt tích cực riêng song nếu giải quyết không đồng bộ thì sản xuất hàng hoá hoặc không phát triển được hoặc không bền vững

Đối với nền nông nghiệp Việt Nam, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, với việc từng bước tham gia các thị trường AFTA, và WTO, thì tất yếu khách quan phải chuyển dịch nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng sang sản xuất hàng hóa Vì thế, nghiên cứu để thực thi một

hệ thống thể chế pháp lý và chính sách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Vì có phát huy được lợi thế so sánh, nhằm làm tăng các loại sản phẩm, giá trị sản xuất hàng hóa ngành nông nghiệp, thỏa mãn ngày càng cao về nhu cầu nông

Trang 15

sản phẩm cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nhanh tiến

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp

hóa - hiện đại hóa

1.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng

hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

ở một số nước trên thế giới

Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và bền vững

là bước đi thích hợp của nhiều nước trên thế giới trong chiến lược phát triển

kinh tế Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, không có một

công thức phát triển chung cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

đối với tất cả các nước Mỗi nước có cách đi riêng, tùy theo những đặc điểm,

điều kiện cụ thể của mình, dưới đây là kinh nghiệm phát triển nông nghiệp

của một số nước ở Châu Á :

* Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản:

Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng người

đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các hộ gia đình

nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Với đặc điểm tự nhiên

và xã hội, trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược

khôn khéo và hiệu quả, như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ

(bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao

động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho

nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát huy nội

lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ

quan trọng) để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi

tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông

thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị Những bước đi thích hợp

này là những điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa

Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao trong nông nghiệp, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp (như tơ tằm, dệt may ), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông thôn toàn quốc Tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn

* Phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc:

Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả

Là nước có diện tích đất canh tác khan hiếm và eo hẹp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp cao, Trung Quốc chủ trương nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Trang 16

và cải tạo đất trồng, giải quyết vấn đề dôi dư lao động Vì vậy, quốc gia này

đã thực hiện thu hẹp kiểu kinh doanh cần nhiều lao động, mở rộng việc kinh

doanh tập trung vốn và kỹ thuật Đó là điều có lợi cho nông dân, cho công

cuộc cải cách nông thôn và việc phân bổ tối ưu các nguồn lực trong sản xuất

nông nghiệp Thực tế cho thấy, phương thức kinh doanh trên những mảnh

ruộng manh mún cổ truyền trước đây không còn phù hợp với việc thâm canh

bằng tập trung vốn và kỹ thuật Chỉ có phương thức kinh doanh với quy mô

lớn mới tạo tiền đề cho việc đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật nhằm đạt tới một

nền sản xuất hiện đại và bền vững

Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng

góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tổng kết kinh

nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản

Trung Quốc chỉ rõ: "Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn

định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc

của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện

đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân" Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng

định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc

vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông

nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước Quan điểm trên xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, nông

nghiệp có vai trò mà không một ngành kinh tế nào có thể thay thế được Tuy

nhiên, trên thực tế, nông nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trình độ hiện đại

hóa và bảo đảm sự phát triển bền vững Vì vậy, hiện đại hóa nông nghiệp

nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển trở thành đòi hỏi cấp bách hơn bao giờ

hết Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách

có lợi cho việc giải quyết vấn đề "tam nông" như: thực hiện xóa bỏ thuế nông

nghiệp và phụ thu thuế nông nghiệp; trợ cấp cho nông dân sản xuất lương

thực; thực hiện chế độ khám chữa bệnh loại hình mới trong cả nước, trong đó

có việc giải quyết khám chữa bệnh cho nông dân

Qua hơn 20 năm cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Bảo đảm đầy đủ quyền

tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại hình sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn; xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế

độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn; kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng"; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị

* Thái Lan với chiến lược xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, sức cạnh tranh mạnh:

Thái Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua đã chứng tỏ vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh Do đó, những năm gần đây, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và công nghiệp phục vụ nông nghiệp Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo dựng sự vững mạnh, ổn định về kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chức nông nghiệp và phát triển hệ thống

Trang 17

điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên

nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triển bền vững

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp

dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức

hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao

trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt

động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công

tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;

giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân Đối

với các sản phẩm nông sản, Nhà nước tăng cường sức cạnh tranh của hàng

hóa nông sản bằng việc tăng khả năng tổ chức và tiếp thị thị trường Phân bổ

khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, ngăn chặn tình

trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài

nguyên đã bị suy thoái Giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư tưởng trong

nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai,

đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà

nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy

lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu

hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại

cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông

thôn với các dự án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước

Một trong những tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững

và hiện đại hóa là cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ thuật

sản xuất tiên tiến Thái Lan chú trọng phát triển cơ giới hóa nhằm đưa nông

nghiệp đi vào thâm canh, cải tạo và xây dựng nông thôn Phát triển mạng lưới

xí nghiệp cơ khí nhỏ và vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn và nông

thôn Khuyến khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí trong

nước chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng từ 1 đến 3

năm Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cải tạo đất, áp dụng công nghệ sinh học

để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; thực hiện việc chuyển giao công nghệ nuôi cấy phôi; nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch

Thái Lan còn chú trọng phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước khác, nhất là các nước công nghiệp phát triển Hiện nay, ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, nông nghiệp Thái Lan còn có nhiều mặt hàng xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau xanh và sắn củ Nhờ có chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển mạnh, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (khoảng 5 triệu tấn/năm), là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông - Nam Á

Giáo dục và đào tạo cũng hướng vào nông nghiệp, nông thôn với các chương trình đào tạo phát triển kỹ năng cho nông dân và người quản lý đất đai, quản lý kinh doanh, bảo vệ môi trường và an toàn sức khỏe Ngoài ra, còn

có những hoạt động đào tạo truyền thống như tạo công ăn việc làm trong lĩnh vực hoạt động nông nghiệp nhằm góp phần thu hút lực lượng lao động đông đảo là thanh niên Thái Lan thực hiện chính sách "ưu đãi nông nghiệp - nông thôn - nông dân" nhằm ổn định chính trị - xã hội

Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện là xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đều thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững của các nước này là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập[6]

Trang 18

1.1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

ở Việt Nam

Trước năm 1980, sản xuất nông nghiệp nước ta lâm vào tình trạng đình

đốn do mô hình hợp tác kiểu cũ và cơ chế kế hoạch hoá tập trung không phù

hợp Vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ XX, mức sản xuất

lương thực bình quân đầu người liên tục giảm, lượng gạo hàng năm nhập

khẩu tăng lên gần 1 triệu tấn, tình trạng khoán chui diễn ra phổ biến Chỉ thị

100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã bước

đầu giải phóng lao động nông dân, gắn trách nhiệm và lợi ích của họ với sản

phẩm cuối cùng trên ruộng khoán, khuyến khích đầu tư thêm lao động, phân

bón, vật tư để thu thêm nhiều sản phẩm vượt khoán Kết quả đã đem lại 6-7

vụ được mùa liên tiếp, sản lượng lương thực tăng gần 1 triệu tấn/năm

Bắt đầu từ cuối năm 1983 đến 1984, động lực khoán sản phẩm đến nhóm

và người lao động có dấu hiệu suy giảm, bởi lẽ khoán sản phẩm mới chỉ điều

chỉnh cơ chế phân phối và cơ chế quản lý giữa người lao động và hợp tác xã,

giữa công nhân lao động và nông trường, chưa thiết lập đầy đủ quyền làm chủ

cho các hộ nông dân Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 về đổi mới quản

lý kinh tế nông nghiệp đã chính thức thừa nhận vai trò của kinh tế hộ và coi

kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Đồng thời nhiều chính

sách khác được thực hiện như xoá bỏ chế độ độc quyền thu mua nông sản,

xoá bỏ chế độ 2 giá, thực hiện chính sách khuyến khích nông dân tăng sản

lượng để bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế và hỗ trợ đối với nông

nghiệp, từng bước cải cách pháp lý để hỗ trợ kinh tế thị trường phát triển

trong nông nghiệp Kết quả là đến năm 1995, lần đầu tiên hầu hết các chỉ tiêu

kế hoạch 5 năm 1991-1995 trong đó có chỉ tiêu nông nghiệp, đều hoàn thành

và hoàn thành vượt mức, đưa nước ta thành nước xuất khẩu trên dưới 3 triệu

tấn gạo/năm

Từ năm 1995 đến nay, đối mới trong nông nghiệp tiếp tục được thực hiện để tăng trưởng và hội nhập Tháng 11/1998, Bộ Chính trị ra nghị quyết số 06-NQ/TW về một số vấn đề nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trong đó khẳng định vấn đề trọng yếu là kinh tế trang trại Tháng 2 năm 2000, Chính phủ ra nghị quyết 03 về phát triển kinh tế trang trại Những văn bản chính sách về khuyến khích phát triển nông nghiệp tiếp tục được hoàn thiện tạo động lực cho nông nghiệp nước ta phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng:

+ Sản xuất lương thực tiếp tục tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường Đến năm 2007, sản lượng lương thực có hạt cả nước đạt trên 41 triệu tấn (trong đó lúa là 35,9 triệu tấn) nâng mức lương thực có hạt bình quân đầu người từ 444 kg năm 2000 lên 469,5 kg năm 2007 Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để một nước đang phát triển có thể thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá thực sự Trong vòng 10 năm, sản xuất lương thực tăng hơn 13 triệu tấn, mỗi năm tăng hơn 1 triệu tấn Giai đoạn 2001-2007, các sản phẩm trồng trọt khác đều tăng với tốc độ khá như chè búp khô tăng 51,5%, cao su mủ khô tăng 61%, hạt tiêu 172,67%, đỗ tương 84%, lạc 42% Một số cây trồng có lợi thế cạnh tranh là gạo, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu

Sản lượng các loại cây trồng đều tăng nhanh, trong khi đó diện tích gieo trồng các loại cây lương thực giảm từ 8,44 triệu ha năm 2000 xuống còn 8,27 triệu ha năm 2007, riêng diện tích trồng lúa giảm mạnh từ 7,66 triệu ha xuống còn 7,2 triệu ha Về cơ bản đã khắc phục được tình trạng độc canh cây lúa trên phần lớn diện tích, làm giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác tăng từ 17 triệu đồng năm 2000 lên trên 30 triệu đồng năm 2007; Riêng ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đạt xấp xỉ 40 triệu đồng/ha Diện tích đạt trên 50 triệu đồng/ha đã tăng từ 10% lên 20%

Trang 19

Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá Từ năm

2000 đến 2007, ngành chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng khá, tăng cao nhất là

năm 2005 đạt 11,4%, năm 2007 tăng 4,6% Sản lượng thịt lợn hơi xuất

chuồng năm 2007 đạt 2,55 triệu tấn, tăng 80,4% so năm 2000 Chăn nuôi trâu

bò tương đối ổn định qua các năm, tính bình quân giai đoạn 2000-2007, sản

lượng thịt trâu, bò tăng bình quân 9,8%/năm Đàn bò sữa phát triển nhanh,

năm 2005 cả nước có 104 ngàn con, sản lượng sữa đạt 198 ngàn tấn, tăng gấp

4 lần so năm 2000 và tăng bình quân trên 30%/năm Chăn nuôi gia cầm tăng

trưởng bình quân 7,6%/năm giai đoạn 2000-2003 Đến năm 2007, tổng đàn

gia cầm cả nước đạt 226 triệu con, đạt 358,8 ngàn tấn thịt hơi Về cơ bản,

ngành chăn nuôi nước ta đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và

một phần xuất khẩu

Ngành lâm nghiệp phát triển và đạt được một số thành tựu: Tốc độ tăng

trưởng của ngành lâm nghiệp bình quân đạt 1,4%/năm Với thành tựu bảo

toàn và phát triển được vốn rừng Độ che phủ của rừng năm 1990 là 27,7%,

đến năm 2005 đạt 37,3% Từ năm 2000 đến nay, bình quân hàng năm trồng

được gần 200 ngàn ha rừng Các khâu khoanh nuôi tái sinh, khoán quản lý

bảo vệ rừng theo phương thức”giao đất khoán rừng” đều đạt và vượt kế

hoạch Thành tựu đáng ghi nhận trong việc khai thác và chế biến lâm sản từ

rừng là tỷ lệ gỗ khai thác từ trồng đã tăng lên, từ 47,4% năm 1998 lên 62,4%

năm 2000 và đạt cao hơn trong những năm gần đây

Ngành thuỷ sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông, lâm,

thuỷ sản Đến năm 2007, sản lượng thuỷ sản cả nước đạt hơn 4,15 triệu tấn,

tăng gấp 2,6 lần so với năm 2000 Thành tựu đáng chú ý nhất là diện tích và

sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng trưởng ở mức cao So với năm 2000, năm

2007 diện tích nuôi tăng gấp 1,57 lần và sản lượng tăng gấp hơn 3,5 lần, đạt

2.085,2 ngàn tấn Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi

trồng và chế biến thuỷ sản đã gắn kết chặt chẽ Các khâu trọng yếu về hạ tầng

kỹ thuật phục vụ nuôi trồng, khai thác, chế biến đã được đầu tư, từng bước hiện đại hoá

Hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến Nghị định số 03/NĐ-CP năm 2000 của Chính phủ đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển Năm 2006 cả nước có 72,02 ngàn

hộ trang trại, tăng 16 ngàn hộ so với năm 2000, thu hút khoảng 240 ngàn lao động Kinh tế hợp tác xã ngày càng phát triển, năm 2006 có 6.971 hợp tác xã, trong đó có 5.847 hợp tác xã cũ chuyển đổi, 1.124 hợp tác xã mới thành lập Các hình thức liên doanh liên kết đã tạo ra những năng lực phát triển mới mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông, lâm, nghiệp thuỷ sản phát triển sau đổi mới đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng nhanh chóng, năm 2007 đạt trên 12

tỷ USD với 1.229,2 ngàn tấn cà phê, 152,5 ngàn tấn hạt điều, 82,9 ngàn tấn hạt tiêu, 114,5 ngàn tấn chè, cao su thiên nhiên đạt 714,9 ngàn tấn, thuỷ sản đạt 3,8 tỷ USD, tăng gấp 2,53 lần so năm 2000 Thị trường xuất khẩu được đa dạng hơn, có nhiều thị trường mới cho hàng nông, lâm, thuỷ sản

Bên cạnh những kết quả đạt được, nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp một số khó khăn, thách thức, đó là:

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch chậm so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tốc độ giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản trong GDP cả nước đã chậm lại, năm 1990, tỷ trọng này là 38,74%, năm

2000 còn 24,53%, bình quân mỗi năm giảm 1,4%, nhưng giai đoạn

2001-2007 chỉ giảm dưới 0,8%/năm, còn 20,3% năm 2001-2007

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn thể hiện tính độc canh, tự túc, phân tán

và quy mô nhỏ Chăn nuôi chiếm tỷ trọng 24% và không vững chắc Phương thức chăn nuôi phân tán dưới hình thức hộ gia đình với kỹ thuật thủ công và chăn nuôi tận dụng thức ăn dư thừa trong cuộc sống hàng ngày vẫn là phổ biến Số trang trại chăn nuôi tuy có tăng lên nhưng mới chỉ chiếm khoảng 3%

Trang 20

số trang trại cả nước và sản phẩm chăn nuôi của trang trại cũng chỉ chiếm

khoảng 10% tổng sản phẩm chăn nuôi Các sản phẩm trồng trọt xuất khẩu

ngoài gạo, cao su, cà phê chỉ đạt mấy chục ngàn tấn/năm Nhiều loại sản

phẩm xuất khẩu chủ yếu dưới hình thức tiểu ngạch sang Trung Quốc như rau,

củ, quả, cao su, chè xanh

Dân số và lực lượng lao động còn lưu trú lại trong khu vực nông nghiệp

nông thôn khá cao Năm 2007, trong số trên 30 triệu lao động nông thôn, lao

động sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chiếm tới 23,89 triệu người và chưa có dấu

hiệu thuyên giảm do tình trạng thất nghiệp (tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở

nông thôn mới đạt trên 80% năm 2007) và tốc độ chuyển dịch cơ cấu chậm

Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam còn thấp Chất lượng

nông sản thấp, nguyên nhân chính là chúng ta chưa có đủ bộ giống cây trồng

và vật nuôi cho sản phẩm chất lượng cao Công nghệ bảo quản, chế biến nông

sản chậm được đổi mới và chưa đồng bộ là nguyên nhân cố hữu nhất, tồn tại

lâu nhất làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Giá thành nông sản còn cao

do nhiều nguyên nhân như giống kém, trình độ thâm canh còn hạn chế, tỷ lệ

hao hụt trong các khâu thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, chế biến khá cao;

Sản xuất nông nghiệp phân tán với 9,78 triệu hộ nông nghiệp (năm 2006) Cơ

sở hạ tầng dịch vụ thương mại hàng nông sản còn hạn chế, chi phí cao

Nạn chặt phá rừng và tình trạng cháy rừng chưa được ngăn chặn hữu

hiệu Giai đoạn 2001-2007, bình quân mỗi năm bị cháy hơn 5,5 ngàn ha rừng

và bị chặt phá 3,32 ngàn ha gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế xã hội, môi

trường Mỗi năm vẫn còn tới hàng chục ngàn vụ vi phạm lâm luật về bảo vệ,

khai thác và phát triển rừng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

như hoạt động của lực lượng kiểm lâm còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp

luật của người dân còn kém nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là người dân

vùng đệm vẫn còn sống phụ thuộc nhiều vào việc khai thác các tài nguyên

rừng cho sinh kế

Thu nhập từ nông nghiệp giảm, phân hoá giàu nghèo trong nông thôn diễn ra với khoảng cách ngày càng xa hơn Chất lượng tăng trưởng nông nghiệp thấp, mặc dù giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 5,5%/năm nhưng chi phí sản xuất cao nên giá trị gia tăng của toàn ngành chỉ tăng 4%

Tỷ lệ giá trị gia tăng/giá trị sản xuất nông nghiệp giảm dần Thu nhập bình quân/hộ giảm do giá cả các loại vật tư nông nghiệp ngày càng cao, gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và các hộ nông dân [dt 8], [10]

Trong những năm tới, để phát triển nền nông nghiệp nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bền vững, nhà nước và nhân dân cần phải xây dựng được một chiến lược phát triển nông nghiệp đúng đắn dựa trên các căn cứ khoa học sau:

Thứ nhất, phải đánh giá một cách khách quan và sâu sắc chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn trước, chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như các hạn chế tồn tại

Thứ hai, phải căn cứ vào nguồn tài nguyên của đất nước, bao gồm tài nguyên về đất đai, thời tiết, khí hậu Đất nước ta với nguồn tài nguyên phục vụ cho nông nghiệp có nhiều lợi thế, song cũng có những khó khăn lớn Cần đánh giá đúng các lợi thế và những khó khăn trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp

Thứ ba, căn cứ vào cơ sở vật chất - kỹ thuật nông nghiệp bao gồm hệ thống công cụ máy móc, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp Với hệ thống đạt ở mức nào, cần thiết phải điều chỉnh bổ sung và nâng cấp xây dựng nhằm hướng vào phục vụ chiến lược phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện tại và tương lai

Thứ tư, căn cứ vào nguồn lao động và trình độ của người lao động: số lượng và chất lượng của nguồn lao động Ở nước ta nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, song chất lượng còn thấp, ít được đào tạo về kỹ thuật và quản

lý, trình độ dân trí chưa cao

Trang 21

Thứ năm, căn cứ vào nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế về sản

phẩm nông nghiệp Ở từng giai đoạn, yêu cầu về số lượng, chất lượng và

chủng loại các nông sản rất khác nhau ở trong nước cũng như trên thị trường

quốc tế Cần phân tích, đánh giá và dự báo về nhu cầu của thị trường một

cách có căn cứ khoa học

Thứ sáu, căn cứ vào trình độ khoa học và công nghệ của thế giới, của

nước ta và khả năng ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học và công

nghệ của thế giới vào điều kiện Việt Nam hiện nay và sắp tới

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đại hội X của Đảng đã chỉ ra

chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta như sau:

“Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn

hướng tới xây dựng, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng,

phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cạnh tranh

cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình

thành một nền nông nghiệp sạch, phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông lâm

nghiệp thuỷ sản tăng 3-3,2%/năm”[7]

Từ chiến lược tổng quát trên, có thể xác định những nội dung chủ yếu:

+ Phát triển một nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại

hoá có cơ cấu sản xuất ngày càng hợp lý

+ Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, đa

dạng có cơ cấu sản phẩm hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường

trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời đẩy nhanh ứng dụng tiến

bộ khoa học- công nghệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng, mẫu mã và

khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

+ Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, đảm bảo

vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành một nền

nông nghiệp sạch

Mục tiêu phát triển:

+ Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và lâu dài

+ Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu + Đa dạng hoá các sản phẩm nông sản hàng hoá

+ Tạo ra các sản phẩm mang tính đặc sản vùng miền, xây dựng và phát triển thành thương hiệu địa phương nhằm gia tăng giá trị nông sản hàng hoá + Nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn

+ Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững [9]

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng sản xuất nông nghiệp và nông nghiệp hàng hóa ở huyện Bắc Quang trong thời gian qua như thế nào? Tại sao phát triển còn chậm?

- Những sản phẩm nông nghiệp nào là sản phẩm hàng hoá chính ở huyện Bắc Quang?

- Những tiềm năng, cơ hội và thách thức cho việc sản xuất nông sản hàng hóa ở huyện Bắc Quang là gì?

- Cần những giải pháp nào để đẩy mạnh đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá ở huyện Bắc Quang, Hà Giang trong thời

kỳ hội nhập kinh tế quốc tế?

1.2.2 Các phương pháp cụ thể

a) Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập số liệu thứ cấp (tài liệu đã công bố ): Đề tài nghiên cứu chủ yếu thông qua việc tập hợp các tài liệu, số liệu có liên quan đến từ các sách báo, tạp chí khoa học, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và

Trang 22

ngoài nước…; đặc biệt là từ các báo cáo, các số liệu đã được công bố của

phòng thống kê và các cơ quan chức năng có liên quan ở huyện Bắc Quang

- Điều tra số liệu sơ cấp (tài liệu sơ cấp): Sẽ tiến hành điều tra một số

lượng mẫu theo phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên về kinh tế hộ nông

dân ở 3 xã thuộc 3 vùng kinh tế khác nhau đại diện trong huyện để minh

chứng thêm về thực trạng sản xuất nông sản hàng hoá của các hộ nông dân

Để thu thập số liệu mới, sử dụng phổ biến phương pháp đánh giá nhanh

nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của

người dân (PRA), phương pháp điều tra hộ nông dân

+ Phương pháp chọn mẫu điều tra:

Việc chọn hộ nghiên cứu là bước hết sức quan trọng có liên quan trực

tiếp tới độ chính xác của các kết quả nghiên cứu Do vậy, việc chọn hộ nghiên

cứu phải mang tính đại diện cao cho vùng nghiên cứu Để xác định số lượng

hộ cần điều tra nghiên cứu, ta sử dụng công thức sau:

2

2 2

n

Trong đó:

n: Số lượng hộ cần tiến hành điều tra;

t: Giá trị kiểm định (t = 1,96 với  = 5%);

: Độ chênh lệch bình quân mẫu và bình quân tổng thể

Để ước lượng  ta dùng phương sai chọn mẫu (S 2 được tính cho 20 hộ

điều tra thử) và ước lượng theo công thức sau:

1

2 2

2

2

) 1 ( )

1 (

U

s n U

s

Trong đó:

S 2: Phương sai mẫu

n: Dung lượng mẫu

U1, U2: Chênh lệch mẫu và được tra từ bảng phân phối X2 Sau đó dựa vào công thức tính n, ta xác định được số lượng mẫu cần điều tra là n = 150 mẫu Tuy nhiên để tăng độ chính xác và để lại trừ những mẫu không đạt chất lượng hoặc số liệu điều tra trùng nhau nên số lượng mẫu được tăng lên là 200 mẫu

+ Chọn địa điểm nghiên cứu:

Địa điểm nghiên cứu phải vừa mang tính đại diện chung, vừa mang những nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Để tiến hành nghiên cứu cơ cấu kinh tế của các hộ dân, tôi tiến hành điều tra 200 hộ nông dân theo phương pháp ngẫu nhiên tại 3 xã đại diện cho các vùng trên địa bàn huyện Xã Hùng an đại diện cho các xã vùng sâu của huyện Vĩnh Hảo đại diện cho các xã vùng trung tâm của huyện, nơi có điều kiện tốt về cơ sở hạ tầng và thị trường Xã Tiên Kiều đại diện cho các xã phía Nam của huyện Với cách chọn điểm điều tra như vậy, có thể nói quá trình nghiên cứu đã đại diện được cho toàn huyện Việc lựa chọn hộ để điều tra hoàn toàn theo phương pháp ngẫu nhiên, không căn cứ theo tiêu chuẩn đói nghèo của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội

+ Xây dựng phiếu điều tra cho các hộ, với đầy đủ nội dung như: Thông tin chung về hộ nông dân như họ và tên, tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ văn hóa của chủ hộ, số nhân khẩu, lao động của hộ, ngành nghề chính, tài sản chủ yếu, đất đai, tài sản phục vụ sản xuất của hộ; thông tin về kết quả sản xuất, chi phí sản xuất; thông tin về tình hình nghèo đói của hộ; thông tin về những nhu cầu thực tế trong sản xuất và đời sống của hộ

b) Phương pháp xử lý số liệu:

Các số liệu điều tra thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân giúp chúng ta nắm được đầy đủ các thông tin Các số liệu điều tra được nhập liệu thông qua chương trình Excel

Trang 23

Sử dụng phần mềm SPSS để tính giá trị trung bình và kiểm định một số

tiêu chí nghiên cứu từ số liệu điều tra sơ cấp

c) Phương pháp phân tích số liệu

Sau khi tổng hợp và xử lý số liệu, sử dụng phương pháp thống kê so

sánh để đánh giá tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp và nông sản hàng

hoá qua các năm, các giai đoạn; sử dụng phưong pháp thống kê mô tả để mô

tả quá trình sản xuất hàng hoá tại địa phương nghiên cứu

d) Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, các nhà chuyên môn và của các

chuyên gia về các lĩnh vực có liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp theo

hướng hàng hoá ở địa phương

e) Phương pháp SWOT

Để đánh giá những tiềm năng, cơ hội và thách thức của sản xuất

nông nghiệp và nông sản hàng hoá ở huyện Bắc Quang, Hà Giang

f) Phương pháp dự báo kinh tế

Sử dụng phương pháp này để xây dựng phương hướng, định hướng, mục

tiêu và giải pháp để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

1.2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu chính

Hiện nay có nhiều hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế và

chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và trình độ

nghiên cứu Với điều kiện nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng tôi

sử dụng chỉ tiêu nghiên cứu theo phiếu điều tra gồm có:

- Giá trị sản xuất GO (Gross output): là toàn bộ của cải vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một kỳ sản xuất (thường là một năm), đây là tổng thu của

- Chi phí trung gian IC (Intermediate cost) là toàn bộ những chi phí vật

chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như các khoản: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, vật rẻ tiền mau hỏng…và những khoản chi phí bằng tiền khác:

IC = ∑Ci (i = 1:n) Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i

- Giá trị gia tăng VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của người

lao động khi sản xuất được một đơn vị sản phẩm, đơn vị diện tích trong một vụ sản xuất Công thức tính: VA = GO – IC

- Thu nhập hỗn hợp: là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao

gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận sản xuất một đơn vị diện tích trong một năm

Công thức tính:

Thu nhập hỗn hợp = VA – (A + T)

- Thu nhập bình quân đầu người: là tổng thu nhập của hộ sau khi đã trừ

đi những khoản chi phí bằng tiền chia bình quân theo đầu người

Công thức tính:

Thu nhập bình quân đầu người = (GO – IC)/tổng số nhân khẩu

- Số bình quân giản đơn: Để phản ánh mức độ bình quân của các chỉ tiêu

nghiên cứu

Công thức tính:

Số bình quân giản đơn = ∑Pi / n (i = 1:n)

Trang 24

- Tốc độ phát triển bình quân: để tìm ra tốc độ, xu hướng biến động của

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua thời gian

Y1 : mức độ đầu tiên của dãy số thời gian;

Yn : mức độ cuối cùng của dãy số thời gian;

t : tốc độ phát triển bình quân

1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô và kết quả sản xuất nông nghiệp

- Chỉ tiêu bình quân về diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng

chủ yếu

- Chỉ tiêu về số lượng đàn gia súc, gia cầm; sản lượng thịt, trứng

- Giá trị sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu

- Giá trị dịch vụ trong nông nghiệp…

1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất nông sản hàng hoá

- Quy mô diện tích, sản lượng vùng sản xuất hàng hoá tập trung của một

số loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày,

cây ăn quả và quy mô vùng chăn nuôi tập trung

- Giá trị sản lượng nông sản hàng hoá một số sản phẩm chủ yếu

- Tỷ suất nông sản hàng hoá đối với một số nông lâm sản chủ yếu

- Sản lượng, kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN BẮC QUANG, HÀ GIANG

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BẮC QUANG

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Bắc Quang được tách ra từ tỉnh Tuyên Quang cũ năm 1891 để sát nhập với tỉnh Hà Giang thành tỉnh Hà Giang Đến năm 1976 hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang sát nhập lại thành tỉnh Hà Tuyên thì Bắc Quang là một trong số các huyện của tỉnh Hà Tuyên Đến năm 1991 lại tái lập hai tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang thì Bắc Quang lại trở thành một trong 9 huyện lúc

đó của tỉnh Hà Giang Và cho đến năm 2003 Bắc Quang lại được tách ra làm

2 huyện là huyện Bắc Quang và huyện Quang Bình như ngày nay Hiện tại toàn huyện có 02 thị trấn và 21 xã

Bắc Quang có tổng diện tích tự nhiên là 83,951.6ha, với địa giới hành chính như sau: phía Đông giáp huyện Hàm Yên - Tuyên Quang; phía Nam giáp huyện Lục Yên - Yên Bái, phía Tây giáp với huyện Quanh Bình và phía Bắc giáp với huyện Vị Xuyên của Hà Giang Địa hình phần lớn là đồi núi thấp xen kẽ những dải đồng bằng khá rộng cùng với hệ thống sông, suối, ao hồ dày đặc, độ cao trung bình khoảng từ 400 – 500m so với mặt nước biển

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu

Khí hậu của huyện Bắc Quang chia ra làm 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm: 23ºC (Nhiệt độ cao nhất : 33ºC; Nhiệt độ thấp nhất : 10,5ºC); Độ

ẩm không khí trung bình trong năm: 89 (%); Lượng nước bốc hơi trung bình

870mm/năm; Số giờ nắng trung bình trong tháng: 89 giờ; Lượng mưa trung

Trang 25

bình : 4500mm/năm, lượng mưa trung bình lớn, vào khoảng

4.000-5.000mm/năm Đây cũng là một trong những trung tâm mưa lớn nhất ở nước

ta, số ngày mưa đạt tới 180-200 ngày/năm Nhưng là điều kiện tự nhiên rất

thuận lợi để phát triển các loại cây nông sản hàng hoá đặc biệt là cho cây cam

phát triển mạnh để trở thành cây sản xuất hàng hoá của huyện trong thời gian

tới

2.1.1.3 Điều kiện đất đai

Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bắc Quang như sau (xem bảng 2.1):

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bắc Quang

1.1.2 Đất trồng cỏ chăn nuôi 283,2 283,2 294,2 0,34 0,34 0,35

1.1.3 Đất cây hàng năm khác 3.213,3 3.215,4 3.508,5 3,85 3,83 4,18

1.2 Đất trồng cây lâu năm 7.983,3 8.325,3 7.796,7 9,56 9,92 9,29

2 Đất lâm nghiệp 65.968,9 66.123,2 66.305,5 78,96 78,75 78,98

2.1 Đất rừng sản xuất 37.342,5 37.496,7 38.079,9 44,70 44,66 45,36

2.2 Đất rừng phòng hộ 28.626,4 28.626,4 28.225,6 34,26 34,09 33,62

2.3 Đất nuôi trồng thủy sản 582,1 632,1 578,1 0,70 0,75 0,69

3 Đất phi nông nghiệp 5.215,4 5.220,7 5.229 6,24 6,22 6,23

4 Đất chưa sử dụng 21.333,1 20.912,3 20.915 25,53 24,91 24,91

Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Bắc Quang

Năm 2010, huyện Bắc Quang có 83,951.6ha đất tự nhiên và diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 78,98% diện tích đất tự nhiên Đất sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp là 5.229 ha và chỉ chiếm 6% so với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Ngoài ra, còn một diện tích đất tự nhiên lớn chiếm 18% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện chưa có biện pháp sử dụng vì địa hình trên núi cao, hiểm trở, phức tạp và không có đường giao thông thuận lợi Diện tích để sản xuất nông nghiệp năm 2010 chỉ chiếm 17,068% trong tổng diện tích tự nhiên Do địa hình chủ yếu là đồi núi cao nên diện tích đất dành cho lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản chỉ có 578,1ha và chiếm 0,69% trong tổng diện tích đất nông, lâm, ngư nghiệp của toàn huyện

Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp năm 2010 chiếm 20,33% và có xu hướng giảm so với năm 2009 là 20,49% Tuy nhiên, cơ cấu diện tích đất trồng lúa năm 2010 là 5.568,7ha tăng lên, từ 10,58% năm 2009 tăng lên 11,04 năm

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của huyện Bắc Quang

Đơn vị tính: Tỷ.đ

Trang 26

tổng hợp 2008 2009 2010 09/08 10/09

I Tổng các ngành 755 1.075 1.263 142,4 117,5

1 Nông lâm thuỷ sản 228 365 435 160,1 119,2

2 Công nghiệp, xây dựng 257 333 373 129,5 112,0

3 Thương mại, dịch vụ 270 377 455 139,6 120,7

4 Lương thực bình quân đầu

người (kg/người/năm) 382 408 453 106,8 111,0

5 Giá trị thu nhập BQ/người 4,32 6,82 7,21 157,7 105,7

6 Thu ngân sách trên địa bàn 46 51 39 110,9 76,5

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bắc Quang

Tổng giá trị sản phẩm của huyện liên tục tăng trưởng cao trong thời gian

gần đây Năm 2008, giá trị tổng sản phẩm các ngành kinh tế trên đạt 755 tỷ

đồng, năm 2009 đạt 1.075 triệu đồng, tăng 42% so với năm 2008 Năm 2010,

giá trị sản xuất đạt 1.263 tỷ đồng (tăng 188 tỷ đồng so năm 2009); giá trị

ngành nông lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 70 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng

tăng 40 tỷ đồng, thương mại - dịch vụ tăng 78 tỷ đồng so năm 2009; giá trị

bình quân trên một đơn vị diện tích đạt 27 triệu đồng/ha; thu nhập bình quân

đầu người đạt trên 7,12 triệu đồng/người/năm; thu ngân sách thuế và phí trên

địa bàn đạt 39 tỷ đồng Số thu ngân sách giảm 12 tỷ đồng so với năm 2009 là

do UBND huyện thực hiện các chính sách ưu đãi thuế, miễn, giảm thuế cho

các doanh nghiệp đóng trên địa bàn để chung tay giải quyết các khó khăn do

khủng hoảng kinh tế toàn cầu Sản lượng lương thực bình quân/người/năm đạt

382kg năm 2008 tăng lên 453kg trong năm 2010

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế của huyện Bắc Quang giai đoạn 2008-2010

Nông lâm thuỷ sảnCông nghiệp, xây dựng

Thương mại, dịch vụ

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bắc Quang (Sửa năm 2008-2010) Trong những năm qua , cơ cấu kinh tế của huyện Bắc Quang đang có sự chuyển dịch rất rõ nét

* Cơ cấu n gành nông, lâm thủy sản: năm 2008 là 30,2%, đến năm 2010 tăng lên 34,44% trong tổng giá trị sản xuất của huyện Như vậy, ngành nông, lâm thủy sản đang có xu hướng tăng dần về giá trị và gia tăng về cơ cấu so với các ngành khác trong giai đoạn 2008-2010

* Giá trị của ngành công nghiệp và xây dựng lại có xu hướng giảm dần

Năm 2008 cơ cấu giá trị của ngành này chiếm tỷ lệ 34,04%, năm 2009 giảm còn 30,98% và năm 2010 cơ cấu chỉ còn chiếm 29,53% trong tổng cơ cấu kinh tế của huyện

* Ngành thương mại và dịch vụ có sự thay đổi đột biến trong năm 2008, ngành này chiếm 35,76% trong tổng cơ cấu kinh tế của huyện, đến năm 2010,

cơ cấu của ngành tăng lên 36,03% Kết quả chung đó đã đưa ngành thương mại và du lịch của huyện Bắc Quang lên một tầm cao mới, vươn lên đứng đầu trong tổng cơ cấu kinh tế của huyện

Trang 27

Như vậy, cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 2008-2010 của huyện Bắc

Quang có xu hướng tăng dần tỷ trọng sản xuất nông lâm nghiệp và dịch vụ -

thương mại, giảm dần tỷ trọng ngành công nghiệp & xây dựng

2.1.2.2 Tình hình về xã hội

a, Dân số, lao động

Theo số liệu thống kê , dân số của huyện năm 2010 là 109.734 người,

trong đó có 54.538 nam chiếm tỷ lệ 49,7% và 55.196 nữ chiếm tỷ lệ 50,3%

Với 19 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Tày,

Nùng, Dao, Kinh Do là địa phương tiếp giáp với nhiều tỉnh bạn là Tuyên

Quang và Yên Bái cho nên ở Bắc Quang cũng có các dân tộc đặc trưng của

các tỉnh khác như Cao Lan, Sán Chí, Thái, Mường

Bảng 2.3 Tình hình về dân số và lao động của huyện năm 2010

1.3 Dân số trong độ tuổi lao động 48.836 45,0

2 Lao động và phân bổ lao động 48.268 100

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bắc Quang

Là một huyện đặc trưng của vùng núi phía Tây Bắc nên dân số huyện Bắc Quang cũng có sự phân bố giống như các địa phương khác trong khu vực

đó là phân bố rải rác và tập chung chính ở khu vực nông thôn Số liệu n ăm

2010, chỉ có 15,1% dân số sống ở khu vực thành thị , còn lại 84,9% dân số

của huyện sống rải rác tại các thôn bản khu vực nông thôn

Lao động của huyện với 45% lực lượng dân số trong độ tuổi lao động tập chung chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Năm 2010, toàn huyện có đến 32.352 lao động đang làm việc trong các ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 67% số lượng lao động của toàn huyện Chỉ có 620 lao động đang làm việc trong lĩnh vực thủy sản Số lao động làm việc trong lĩnh vực lâm nghiệp cũng rất ít chỉ có 1.620 lao động chiếm 5% cơ cấu lao động của ngành nông, lâm thủy sản Theo thống kê đến cuối năm 2010, toàn huyện có 30.112 lao động huyện đang làm việc trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ lệ 93,1% cơ cấu lao động của ngành nông, lâm thủy sản

Ngành công nghiệp và xây dựng chỉ thu hút được 9.467 lao động chiếm 19,6% lực lượng lao động trong toàn huyện Tuy nhiên trong số này chỉ có

299 lao động làm việc trong ngành xây dựng và 9.168 lao động còn lại làm việc trong lĩnh vực công nghiệp Lĩnh vực công nghiệp chủ yếu của huyện là các hoạt động sản xuất gạch nung, khai thác đá, chế biến gỗ thô và xay sát lúa gạo

Lĩnh vực dịch vụ, thương mại tuy có số lượng động chỉ có 6.449 người chiếm 13% cơ cấu lao động của toàn huyện nhưng lại tạo ra được giá trị cao nhất trong năm 2010 là 377 triệu đồng chiếm 35% trong tổng cơ cấu kinh tế của huyện Như vậy có thể thấy cồn rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện nói riêng và trên địa bàn tỉnh Hà Giang nói chung

Tóm lại, lực lượng lao động của huyện đang tập chung chủ yếu trong các

Trang 28

hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi Với sự phân bố lao động trong năm

2010 của huyện ta có thể nói Bắc Quang đang có sự chuyển đổi về cơ cấu

kinh tế dựa trên cơ sở có một nền sản xuất nông nghiệp lâu đời

b Về y tế, giáo dục

* Y tế: Hiện nay, 100% các xã, phường trên địa bàn huyện đều có trạm y

tế cấp cơ sở và 100% có cán bộ y tế Tuy nhiên vẫn chưa có được điều kiện

tốt để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân do không có đủ các trang thiết bị cần

thiết phục vụ cho khám chữa bệnh, cơ số thuốc có được chủ yếu thông qua

các chương trình y tế của Chính phủ dành cho đồng bào miền núi và các khu

vực có điều kiện đặc biệt khó khăn Hơn nữa, số lượng bác sỹ có trình độ đại

học trở lên chỉ có tỷ lệ xấp xỉ 1/3000 người dân không thể đáp ứng được nhu

cầu khám chữa bệnh cho người dân

Huyện có 238 giường bệnh nhưng mới chỉ đạt tỷ lệ xấp xỉ 1/641 người

dân, không đủ đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho người dân của

huyện Với tình hình hiện tại, các cấp lãnh đạo của huyện cần có giải pháp về

đào tạo nhân lực có trình độ cao trong ngành y như thực hiện chế độ cử tuyển

để các sinh viên trường y, dược sau khi ra trường phải về địa phương công

tác Cần phải có chính sách khuyến khích, thu hút để có thêm nhiều bác sỹ

đến địa phương công tác trong giai đoạn hiện nay

* Giáo dục: Theo số liệu thống kê , năm 2010 toàn huyện có 20 trường

mẫu giáo với 541 giáo viên và 5.446 cháu mẫu giáo ; về tiểu học có 71 trường,

883 giáo viên và 9.195 học sinh; trung học cơ sở có 71 trường, 577 giáo viên

và 7.679 học sinh ; có 5 trường trung học phổ thông với 198 giáo viên và

5.332 học sinh

Đảng bộ và các cấp lãnh đạo của huyện rất chú trọng công tác đầu tư

cho giáo dục Tuy còn gặp nhiều khó khăn về đầu tư cho công tác giáo dục

bởi ngân sách của huyện và của tỉnh cấp cho còn rất hạn chế, song các cấp

chính quyền huyện Bắc Quang cùng với người dân đã rất nỗ lực hết sức để

đáp ứng cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ quản lý, giáo viên chuyên môn để đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong huyện Với những cố gắng đó, huyện Bắc Quang đã thu được một số kết quả đáng khích lệ như sau: Đến cuối năm 2009, toàn bộ 100% số xã, phường được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, 100% số xã, phường được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

2.1.2.3 Kết cấu hạ tầng nông thôn

a Giao thông nông thôn:

Hệ thống giao thông của huyện Bắc Quang là tương đối hoàn thiện với

cả hai loại hình đường bộ và đường thuỷ Với hơn 50km đường Quốc lộ 2 chạy qua địa phận huyện nên đã tạo điều kiện rất lớn cho thông thương và phát triển kinh tế của huyện Bên cạnh đó tất cả các xã, thị trấn đều có đường

ô tô về đến trung tâm

b Thông tin liên lạc:

Hiện tại 100 xã, phường có điểm Bưu điện văn hoá xã Trên toàn bộ địa bàn huyện đã được phủ sóng mạng di động của các nhà cung cấp dịch vụ lớn như: Vinaphone, MobiFone, Viettel

Tính đến ngày 31/12/2009 số máy điện thoại cố định của huyện đạt mật

độ trung bình 13,5 máy/100 dân Cùng với tốc độ phát triển của ngành bưu chính viễn thông đã làm tăng doanh thu của ngành từ 24.080 triệu đồng năm

2008 tăng lên 54.183 triệu đồng năm 2009

c Về lưới điện nông thôn:

Hệ thống lưới điện quốc gia đã phủ 100% số xã trên địa bàn toàn huyện Đây là một nỗ lực rất lớn của cán bộ, công nhân trong ngành điện lực huyện Bắc Quang bởi địa hình hiểm trở của một huyện miền núi, địa hình kéo dài,

độ cao thấp không đồng nhất nên rất tốn kém cho công tác xây lắp hệ thống lưới điện nông thôn

Trang 29

2.1.3 Một số đánh giá chung về đặc điểm địa bàn huyện Bắc Quang có

ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Những thuận lợi

- Huyện Bắc Quang là một huyện thuộc miền núi phía Bắc nên được rất

nhiều chương trình, dự án của Nhà nước cũng như của các tổ chức phi chính

phủ đầu tư để giúp người dân phát triển kinh tế Điều đó đã tạo điều kiện cho

các hộ nông dân có hội tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

sản xuất, nâng cao năng lực, thay đổi hệ thống cây trồng và có giá trị sản

lượng cao trên một đơn vị diện tích đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất hàng

hoá

- Là huyện có vị trí địa lý cửa ngõ để giao thương giữa tỉnh Hà Giang

với các tỉnh lân cận như Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc có

cửa khẩu “Thanh Thủ y” thông thương với Trung Quốc, là điều kiện thuận

lợi để phát triển ngành thương mại và dịch vụ một cách nhanh chóng

- Đất đai của huyện cùng với khi hậu tiểu vùng tương đối thuận lợi

cho việc phát triển nhiều loại cây sản xuất hàng hoá như cam sành và cây

quýt đã được người tiêu dùng biết đến Mặt khác, diện tích đất chưa sử

dụng còn khá lớn có thể mở rộng để phát triển trồng trọt, chăn nuôi

- Về giáo dục, đào tạo, y tế, thông tin liên lạc và các mặt kinh tế - xã

hội, kết cấu hạ tầng nông thôn khác đã và đang phát triển, đời sống người

dân từng bước được cải thiện

2.1.3.2 Những khó khăn

- Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp kém, phần lớn các hộ nông

dân còn sản xuất tự cung tự cấp Các hộ sản xuất hàng hoá chủ yếu phát triển

ở các xã vùng sâu do đó hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém Thu nhập của người

dân còn thấp

- Là huyện có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn dân cư có trình độ

dân trí thấp, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, số người được đào tạo

nghề còn ít, ngoài ra còn có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, đã phần nào hạn chế khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ cho người lao động

- Hệ thống cơ sở hạ tầng mặc dù đã được quan tâm và chú trọng Nhưng bên cạnh đó, ở các khu vực vùng sâu, vùng cao thì hệ thống này còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo về chất lượng Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật như trạm giống cây trồng vật nuôi các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống

- Sản phẩm cam sành nổi tiếng của huyện luôn trong trạng thái được mùa thì giá thấp còn mất mùa dẫn đến sản lượng hàng hoá thấp thì lại có giá cao Đó là điều mà người dân trồng cam trong thời gian qua không thể kiểm soát được giá cả thị trường và cũng chịu chung số phận đối với các cây nông sản hàng hoá khác

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN BẮC QUANG

2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất ngành trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây nông nghiệp của huyện có xu hướng tăng lên qua các năm Diện tích đấy trồng cây nông nghiệp năm 2010 là 18.127,4ha tăng lên 10,5% so với năm 2009 Diện tích cây lúa năm 2009 của toàn huyện là 7670,3ha Đến năm 2010, diện tích cây lúa của huyện là 7697,0ha, tăng thêm 0,3% so với năm 2009 Tuy nhiên, với điều kiện thực tế của huyện thì phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá vẫn là hướng đi đúng đắn phù hợp với điều kiện về cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, điều kiện đất đai, lao động, trình độ lao động, tập quán canh tác (xem bảng 2.4)

Bảng 2.4 Diện tích gieo trồng một số loại cây trồng chính ở Bắc Quang

2008 2009 2010 09/08 10/09

Tổng diện tích gieo trồng 15850,6 16408,3 18127,4 103,5 110,5

Trang 30

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Bắc Quang

Từ năm 2008 đến 2010, cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển dịch theo

hướng tăng dần diện tích các loại cây có giá trị kinh tế như các loại cây lấy củ

có chất bột (khoai lang, củ sắn), ngô làm nguyên liệu cho các công ty chế biến

thức ăn gia súc Cụ thể diện tích cây lấy củ có chất bột năm 2010 là 1.525,9ha

tăng 43,5% so với năm 2009 (1.063,5ha) Trong đó, tăng nhiều nhất là diện

tích trồng sắn có tốc độ tăng trưởng về diện tích đạt 62,2% năm 2010 so với

năm 2009 Bên cạnh đó, diện tích trồng cây ngô cũng tăng lên rất nhanh đạt

tốc độ tăng trưởng 110,3% năm 2010 so với năm 2009 (diện tích trồng ngô

năm 2010 đạt 2668,4ha tăng thêm 1.399,7ha so với năm 2009) Ngoài ra, diện

tích trồng rau và đậu các loại năm 2010 cũng có xu hướng tăng thêm nhiều so với năm 2009 (xem biểu đồ 2.2)

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu diện tích một số cây trồng chính trong các năm

Cây lúa

43,91

Cây ngô

7,26

Cây lấy

củ có chất bột

5,52

Rau các loại 3,67

Đỗ tương

0,93

Đậu các loại

13,58

Cây lấy

củ có chất bột

5,89

Rau các loại 3,96

Đỗ tương

0,98

Đậu các loại

do không đạt được hiệu quả kinh tế nên cũng ngày càng bị thu hẹp về diện tích

Do diện tích trồng cây cam năm 2010 do số lượng giảm 248,5ha so với năm 2009 nên đã tạo ra sự thay đổi về cơ cấu diện tích và giảm nhiều nhất trong cơ cấu là so với các nhóm cây trồng khác từ 13,1% năm 2009 xuống còn 10,38% năm 2010 Tuy tổng diện tích trồng chè của huyện có sự tăng lên

về diện tích năm 2010 so với năm 2009 là 266,5ha Nhưng cơ cấu diện tích trồng chè giảm 0,41% năm 2010 so với năm 2009 do phần tăng của diện tích trồng chè chậm hơn so với tổng diện tích đất gieo trồng tăng thêm của huyện

Trang 31

trong năm 2010 Hơn nữa, diện tích trồng chè tăng không đáng kể so với phần

tăng thêm về diện tích các cây ngô, cây sắn trong phân tích ở phần trên Cơ

cấu diện tích trồng cây lúa cũng giảm từ 43,91% năm 2009 còn 39,17% năm

2010 Nguyên nhân do các hộ dân chuyển hầu hết các diện tích đất đồi, nương

sang thâm canh các nhóm cây lấy củ có chất bột như ngô, sắn cụ thể nhóm

cây trồng lấy củ có chất bột tăng thêm 193ha, tăng nhiều nhất là diện tích cây

ngô tăng thêm 1.399,7ha đã làm thay đổi về cục diện cơ cấu cây trồng của

huyện trong năm 2010

Cơ cấu diện tích các loại cây trồng khác còn lại như: nhóm cây rau tăng

thêm 136,78ha về diện tích gieo trồng và tăng thêm 0,3% về cơ cấu năm

2010 so với năm 2009

Đồng thời với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng thì việc chuyển dịch cơ

cấu mùa vụ, cơ cấu giống được thực hiện ngày càng rộng rãi và dần trở thành

tập quán sản xuất Đến nay ở huyện Bắc Quang diện tích lúa xuân muộn và lúa

mùa sớm được gieo cấy chiếm khoảng 80%, đã xuất hiện một số mô hình sản

xuất trái vụ đem lại hiệu quả cao Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, về biện

pháp thâm canh, về bảo quản và tiêu thụ nông sản sau thu hoạch… được áp

dụng đã nâng cao hiệu quả và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp Đã hình thành

và ổn định tập quán sản xuất 3 vụ/năm trên diện tích canh tác cây hàng năm;

bước đầu xuất hiện vùng sản xuất hàng hóa với một số cây trồng có thị trường

tiêu thụ như rau, cây ăn quả, cây dược liệu, cây làm thức ăn gia súc, cây chè,

cây cao xu… Nhiều mô hình trang trại chuyên canh và sản xuất kinh doanh

tổng hợp được hình thành và phát triển Kết quả trồng trọt cụ thể đạt được như

sau:

Nhóm cây lương thực có hạt (lúa, ngô)

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực chủ yếu

huyện Bắc Quang giai đoạn 2008 - 2010

5 Tỷ suất giá trị hàng hóa% 11,03 12,5 15,6 113,30 124,80

II Cây ngô

5 Tỷ suất giá trị hàng hóa% 58,9 63,4 69,5 107,60 109,60

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Bắc Quang

Là nhóm cây trồng chủ lực trên diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện Từ năm 2008 đến nay, diện tích gieo trồng của huyện có xu hướng giảm dần đối với cây lúa và tăng dần đối với cây ngô Nguyên nhân do một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển mục đích sử dụng để phát triển các ngành kinh tế khác, một phần do chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn (lúa vào vụ chiêm trong điều kiện khô hạn chuyển sang trồng ngô) Nhờ áp dụng có hiệu quả các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh nên mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng năng suất, sản lượng cây lương thực của huyện có xu hướng tăng Sản lượng lương thực tăng, vừa đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, dành một phần phục vụ chăn nuôi và bước đầu có hàng hóa phục vụ nhu cầu của các địa phương khác Kết quả đạt được như sau:

- Cây lúa: Diện tích gieo cấy bình quân năm 2010 đạt 7.696 ha/năm Do tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, kỹ thuật canh tác và đặc biệt do chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ chính vụ sang gieo cấy trà xuân muộn, mùa sớm nên năng suất lúa đã tăng từ 43,5 tạ/ha năm 2008 lên 46,9 tạ/ha năm

Ngày đăng: 10/08/2016, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Tổng kết lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
9. Tổng cục Thống kê (2007), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
10. Đặng Kim Oanh (2007), Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn ở một số nước Châu Á, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn ở một số nước Châu Á
Tác giả: Đặng Kim Oanh
Năm: 2007
11. Trần An Phong, Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững, Hội thảo dự án VIE/01/021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững
12. Đặng Kim Sơn, Phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Hội Dự án VIE/01/021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một nền nông nghiệp bền vững
13. Đặng Kim Sơn (2009), Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
14. Nguyễn Từ (1995), Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Tác giả: Nguyễn Từ
Năm: 1995
15. Nguyễn Đình Thắng (2006) Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
16. Nguyễn Văn Thường (2006), Kinh tế Việt Nam năm 2005 trước ngưỡng cửa WTO, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam năm 2005 trước ngưỡng cửa WTO
Tác giả: Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2006
18. h ttp://www.hagiang.gov.vn/rss/index.php?pageid=12383&topicid=133&pagenum= Link
1. Báo các tổng kết tình hình sản xuất nông nghiệp các năm 2008, 2009, 2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Quang Khác
2. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các năm 2008, 2009, 2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Quang Khác
3. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2008 đến năm 2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Quang Khác
4. Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Bắc Quang giai đoạn 2008 - 2010 Khác
5. Báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và phướng hướng, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp huyện Bắc Quang các năm 2008, 2009, 2010 Khác
6. Báo cáo tình hình kết quả sản xuất nông nghiệp vụ chiêm, vụ mùa huyện Bắc Quang các năm 2008, 2009, 2010 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của huyện Bắc Quang - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của huyện Bắc Quang (Trang 25)
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bắc Quang - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bắc Quang (Trang 25)
Bảng 2.3. Tình hình về dân số và lao động của huyện năm 2010 - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.3. Tình hình về dân số và lao động của huyện năm 2010 (Trang 27)
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực chủ yếu - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực chủ yếu (Trang 31)
Bảng 2.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây đậu, đỗ các loại - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây đậu, đỗ các loại (Trang 33)
Bảng 2.8. Diện tích, sản lƣợng, năng suất một số loại cây công nghiệp, cây - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.8. Diện tích, sản lƣợng, năng suất một số loại cây công nghiệp, cây (Trang 34)
Bảng 2.10: Tình hình sản xuất một số vật nuôi chính huyện Bắc Quang - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.10 Tình hình sản xuất một số vật nuôi chính huyện Bắc Quang (Trang 36)
Bảng 2.11 phản ánh số liệu thống kê diện tích, sản lượng khai thác tài  nguyên rƣ̀ng trong hai năm 2009-2010 của huyện Bắc Quang - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.11 phản ánh số liệu thống kê diện tích, sản lượng khai thác tài nguyên rƣ̀ng trong hai năm 2009-2010 của huyện Bắc Quang (Trang 37)
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại Bắc Quang năm 2009 - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại Bắc Quang năm 2009 (Trang 41)
Bảng  số  liệu  2.16 dưới  đây  cho  thấy  tình hình  chế biến và tiêu  thụ  sản  phẩm sản xuất của trang trại trên địa bàn huyện - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
ng số liệu 2.16 dưới đây cho thấy tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm sản xuất của trang trại trên địa bàn huyện (Trang 42)
Bảng 2.6. Một số thông tin chung về chủ hộ  Chỉ tiêu - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.6. Một số thông tin chung về chủ hộ Chỉ tiêu (Trang 43)
Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân   của - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.15. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân của (Trang 45)
Bảng 2.8:Tổng hợp một số chỉ tiêu về các loại hình tổ chƣ́c sản xuất  Loại hình tổ chức   Giá trị sản  Giá trị sản phẩm  Tỷ suất giá trị - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.8 Tổng hợp một số chỉ tiêu về các loại hình tổ chƣ́c sản xuất Loại hình tổ chức Giá trị sản Giá trị sản phẩm Tỷ suất giá trị (Trang 46)
Bảng 2.7. Thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu hộ điều tra - Nghiên cứu giải pháp nhằm phát triển Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang trong điều kiện hội nhập Kinh tế Quốc tế
Bảng 2.7. Thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu hộ điều tra (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm