1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số biện pháp nhằm đánh giá học sinh có hiệu quả theo thông tư 30

25 394 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 20,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với học sinh tiểu học, được đến trường, được tham gia vào các hoạtđộng giáo dục, được đánh giá một cách công bằng, khách quan và được động viên là một vấn đề rất được quan tâm của t

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Một số biện pháp nhằm đánh giá học sinh có hiệu quả theo Thông tư 30”

Họ và tên: Nguyễn Thị Lan

Sinh ngày: 05/11/1978

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Lạc, Nho Quan, Ninh Bình

Đổi mới giáo dục tiểu học là một nội dung trong chương trình đổi mới giáo dụcphổ thông của Bộ giáo dục và đào tạo Qua đó đổi mới toàn bộ mục tiêu, chươngtrình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và đặc biệt là cách đánh giá học sinhtheo thông tư 30 Điều đó cho thấy việc dạy “kiến thức” không phải là nhiệm vụquan trọng nhất mà bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải chú trọng đến khâu “dạyngười”

Đối với học sinh tiểu học, được đến trường, được tham gia vào các hoạtđộng giáo dục, được đánh giá một cách công bằng, khách quan và được động viên

là một vấn đề rất được quan tâm của tất cả mọi đối tượng xung quanh trẻ

Đóng vai trò quan trọng trong nhận xét, đánh giá học sinh ở nhà trường, đóchính là đội ngũ giáo viên bao gồm giáo viên chủ nhiệm và giáo viên các bộ môn

Nếu được đánh giá, động viên đúng mức, học sinh coi đó như một động lực

để phấn đấu, cố gắng trong học tập và khi tham gia các hoạt động tập thể Ngượclại, những đánh giá, nhận xét tiêu cực sẽ làm tổn thương tới trẻ, khiến trẻ có nhữnghành vi, trạng thái tiêu cực, hạn chế sự phát triển nhân cách của trẻ

Trải qua hơn 16 năm trong nghề với 2 năm thay đổi trong nhận xét, đánh giáhọc sinh, bản thân tôi gặp khá nhiều lúng túng với sự thay đổi này Tuy nhiên vớitâm huyết cùng nghề, lòng yêu mến học sinh, sự không ngừng học hỏi trong côngviệc, tôi đã cảm thấy tự tin, thoải mái hơn với sự thay đổi này Trong quá trình dạyhọc và giáo dục của mình, tôi đã rất trăn trở và hàng ngày đều ghi ra những kinhnghiệm, những việc làm dù nhỏ nhưng khá hiệu quả khi nhận xét, đánh giá họcsinh Và thường đặt ra những câu hỏi: Phải làm gì giúp học sinh luôn có ý thức cốgắng rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi, phụ huynh và toàn xã hội quan tâmtrẻ em một cách đúng mực, tạo mọi điều kiện tốt nhất để phát huy trí lực, phẩmchất tốt đẹp tiềm ẩn trong mỗi đứa trẻ mà không gây áp lực cho các em? Làm gìgiúp giáo viên không bị áp lực bởi công việc nhận xét, đánh giá học sinh, nhữngtrăn trở hàng ngày: Cần nhận xét gì cho học sinh ngày hôm nay?

Với những lí do nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp bảnthân bớt gặp lúng túng, khó khăn hơn trong quá trình đánh giá học sinh với đề tài:

Trang 2

“Một số biện pháp nhằm đánh giá học sinh có hiệu quả theo Thông tư 30”.

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận của vấn đề

1.1 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ lớp 1

Bước vào giai đoạn 6 tuổi, trẻ có nhiều thay đổi cả về tâm, sinh lí

- Thứ nhất, chú ý có chủ định (tức chú ý có ý thức, chú ý vào việc học tập)

của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn nàychú ý không chủ định (chú ý tự do) chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Sự tậptrung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân tán bởi những âmthanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Trẻ thường quan tâm chú ý đến nhữngmôn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, tròchơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,… Thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dàitối đa từ 25 đến 30 phút

- Thứ hai, tri giác các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính

không ổn định, tri giác thường gắn với hình ảnh trực quan

- Thứ ba, tưởng tượng của học sinh lớp 1 đã phát triển phong phú hơn so với

trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng nhiều Tuynhiên, tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi

- Thứ tư, hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào

lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khảnăng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thânthông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọngđối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảmgiác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụthể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ

ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

- Thứ năm, trong giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối

tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổchức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biếtcách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

- Thứ sáu, tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn

gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chếcảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể

là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so vớituổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều Trong quátrình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sựphát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca,hội họa, kĩ thuật, khoa học, Chính đặc điểm này đòi hỏi người làm công tác giáodục phải có sự quan tâm, sát sao và có những lời nói chuẩn mực, những đánh giákhách quan, cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết

Trang 3

quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ Việc giáo dục tình cảmcho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các

em không phải là những câu nói dễ dãi, nuông chiều khiến cho trẻ và phụ huynh cónhận thức thiếu sót về sự phát triển toàn diện của trẻ

Tóm lại là, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường họctập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30–> 35 phút Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,hứng thú khám phá Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyểnthành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Sức bền vững, sự khéo léocủa các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh Tất cả nhữngđiều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách

đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội mà cụthể là có những nhận xét, đánh giá phù hợp, kịp thời nhằm động viên, khích lệ họcsinh tự tin vào bản thân

1.2 Vai trò của nhận xét, đánh giá trong quá trình giáo dục

Chúng ta đều biết rằng nhận xét, đánh giá không phải là khâu cuối cùng của hoạtđộng giáo dục Những nhận xét, đánh giá phải được thực hiện song song với quá trìnhgiáo dục, có tác động ngược trở lại vói sự thay đổi nội dung, phương pháp, hình thức tổchức dạy học nhằm đạt được chất lượng giáo dục mong muốn

Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì màcòn dạy học như thế nào Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách

có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạyhọc đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trìnhsách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học.Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục Kếtquả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học.Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng giáo dục gây tác hại

to lớn đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn non nớt của học sinh tiểuhọc, đặc biệt là với học sinh lớp 1 Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhucầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúngthực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp học sinh tự tin, hăng say, nâng cao nănglực sáng tạo trong học tập

1.3 Một số nội dung chính của Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT

1.3.1 Mục đích đánh giá

- Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạtđộng dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giaiđoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh đểđộng viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh

để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và nhữnghạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáodục tiểu học

Trang 4

- Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điềuchỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.

- Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ tham gia đánh giá quá trình vàkết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chấtcủa con em mình; tích cực hợp tác cùng nhà trường trong các hoạt động giáo dụchọc sinh

- Giúp cán bộ quản lí các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổimới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục

1.3.2 Nguyên tắc đánh giá

- Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyếnkhích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp họcsinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan

- Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiếnthức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêugiáo dục tiểu học

- Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánhgiá của giáo viên là quan trọng nhất

- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinhkhác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh

1.3.3 Nội dung và cách thức đánh giá

- Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theochuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chươngtrình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh:

+ Tự phục vụ, tự quản;

+ Giao tiếp, hợp tác;

+ Tự học và giải quyết vấn đề

- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh:

+ Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dục;

+ Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm;

+ Trung thực, kỉ luật, đoàn kết;

+ Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước.Bên cạnh những nội dung cơ bản như trên, Thông tư 30 cũng đưa ra nhữngquy định về Đánh giá thường xuyên; Đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sựtiến bộ và kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động

giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; Đánh giá thường

xuyên sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh; Đánh giá thường xuyên

sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh; Đánh giá định kì kết quả họctập ; và Sử dụng kết quả đánh giá

Trang 5

2 Giải pháp cũ thường làm

Năm học 2014 – 2015 tôi đã áp dụng một số biện pháp để đánh giá học sinhtheo Thông tư 30 Cụ thể:

2.1 Đánh giá học sinh theo sự chỉ đạo của cấp trên

Ngay sau khi Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT được ban hành, bản thân tôi đãđược tham dự các lớp tập huấn do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức Đồngthời tôi cũng đọc và nghiên cứu Thông tư 30 và đã tập trung đánh giá học sinh ởcác nội dung sau:

+ Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập theo chuẩn kiếnthức, kĩ năng từng môn học, hoạt động giáo dục

+ Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh

+ Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh

Trong từng tiết học tôi thường xuyên theo dõi mọi hoạt động của học sinh,những ưu điểm và những tồn tại hạn chế sau đó tranh thủ ghi chép những điềumình quan sát được vào sổ tay riêng và cuối hàng tháng chắt lọc để ghi vào sổ theodõi chất lượng giáo dục Học sinh nào tôi cũng ghi nhận xét đánh giá, tôi không bỏsót em nào Do đó tôi phải tranh thủ mọi thời gian để viết các nhận xét, đánh giá, ởtrường không có cả thời gian ra chơi, phải tranh thủ viết nhận xét ở mọi lúc mọichỗ Vì vậy, tôi cảm thấy việc ghi nhận xét học sinh cực kì vất vả và quá tải, áplực Với cách làm như trên vào cuối học kì I và cuối năm học tôi phải vắt óc suynghĩ để ghi nhận xét trong học bạ của học sinh, việc ghi các nhận xét từng môn họcmất rất nhiều thời gian, đôi khi phải chuẩn bị viết ra giấy trước mới ghi vào học bạ.Tôi cảm thấy rất căng thẳng và lúng túng

2.2 Sử dụng những câu nhận xét sẵn có theo mẫu.

Việc nhận xét, đánh giá học sinh trong từng tiết học và hoạt động giáo dụcmất nhiều thời gian như trên nên tôi đã chuẩn bị những câu nhận xét trước chotừng môn học Chẳng hạn: Trong giờ Học vần khi học sinh học tốt thì tôi nhận xét:

“Em đã phát âm đúng, đọc to, rõ ràng”, còn đối với những học sinh còn gặp khókhăn khi đọc tôi đưa ra nhận xét: “Em cần rèn đọc nhiều hơn nữa” Trong các giờhọc Toán khi học sinh nắm vững bài tôi thường nhận xét: “Em làm bài tốt.” Hoặc:

“Em nắm vững bài” Học sinh làm bài chưa đúng: “Em nắm bài chưa vững” hoặc

“Thực hiện các phép tính chưa thành thạo” Các câu nhận xét được sử dụngnhiều lần trong một tiết học đối với giáo viên thì không mất thời gian suy nghĩ, cònvới học sinh được nhận xét đầu tiên cảm thấy rất vui, học sinh học chưa tốt thì nghĩmình sẽ cố gắng để học tốt hơn nhưng khi thấy nhiều bạn cũng được nhận xét nhưmình thì học sinh không còn phấn khởi, phấn đấu nữa vì mình cũng giống nhưnhiều bạn trong lớp Hơn nữa sau nhiều lần sử dụng bản thân tôi cũng cảm thấymình thiếu đi sự linh hoạt trong các lời nhận xét, không thể hiện được sự ân cần,điều mình mong mỏi đối với học sinh, không linh hoạt đưa ra những tư vấn, biệnpháp giúp học sinh tiến bộ

* Ưu điểm của giải pháp cũ

Trang 6

- Giáo viên hoàn thành được nhiệm vụ giáo dục của mình là vừa nhận xétđược bằng lời vừa viết được nhận xét trong vở, sổ theo dõi chất lượng giáo dục đốivới tất cả học sinh.

- Giáo viên bớt lúng túng khi lên lớp hoặc có người dự giờ

- Học sinh nào trong lớp cũng được giáo viên nhận xét, đánh giá nên thấy rấtvui

* Nhược điểm của giải pháp cũ

- Giáo viên phải ghi nhiều nhận xét, lời nhận xét phải ghi rõ ràng, cẩn thậnnên mất nhiều thời gian Mặt khác, mỗi môn học lại phải có lời nhận xét đặc trưng,phải phù hợp với môn học nên giáo viên phải vắt óc nghĩ cho bằng được nhiều lờinhận xét khác nhau nên giáo viên cảm thấy “quá tải”, hạn chế thời gian để nghiêncứu bài dạy và quan tâm kèm cặp, bồi dưỡng phụ đạo học sinh

- Giáo viên phụ thuộc vào những lời nhận xét sẵn có theo mẫu sẽ giảm sựlinh hoạt và nhạy bén khi đưa ra những lời nhận xét cụ thể cho từng đối tượng họcsinh, từng loại bài, từng môn học Giảm khả năng tự điều chỉnh hoạt động dạy đểphù hợp với mọi đối tượng học sinh

- Những lời nhận xét sẵn có được sử dụng lặp đi lặp lại mang tính áp đặt,chung chung

- Chưa phối hợp linh hoạt được các hình thức tuyên dương khen thưởng

- Chưa khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập và rèn luyệncủa học sinh, học sinh chưa rút ra được kinh nghiệm để tự điều chỉnh cách học củamình, không điều chỉnh được những lỗi đã mắc theo nhận xét của cô giáo nên có

vẻ như lời nhận xét đưa ra không có hiệu quả

- Giáo viên chưa đưa ra được lời tư vấn giúp đỡ để học sinh kịp thời sửa sai

- Học sinh không phát huy vai trò cá nhân một cách tối đa trong các hoạtđộng giáo dục

- Học sinh không biết tự đánh giá mình và đánh giá bạn một cách tự tin

- Học sinh chưa biết đưa ra những lời tư vấn cho bạn để bạn có hướng sửachữa phát huy

Đây cũng chính là những khó khăn rất lớn mà bản thân tôi đã gặp phải khithay đổi cách đánh giá Việc giáo dục, dạy dỗ học sinh, đưa ra những lời nhận xétđánh giá và tư vấn cho học sinh cần phải thay đổi để phù hợp hơn với tinh thần củaThông tư 30 Bởi thế tôi đã suy nghĩ và thay đổi các biện pháp đánh giá học sinhtrong năm học này nhằm giúp cho học sinh của mình tiến bộ

Trang 7

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về việc đánh giá học sinh theo Thông tư 30

Trong quá trình giáo dục, giáo viên giữ một vị trí, vai trò quan trọng Giáoviên là người trực tiếp giảng dạy, giáo dục học sinh, lên kế hoạch, tiến hành cáctiết dạy học, thực hành và phát triển các bài học trong chương trình giảng dạycủa nhà trường đồng thời cũng là người hàng ngày trực tiếp kiểm tra đưa ra nhữngđánh giá từng học sinh, theo dõi, quản lý học sinh theo các hoạt động của nhàtrường Những đánh giá của giáo viên không chỉ đơn thuần là tổng kết, ghi nhậnkết quả học tập của học sinh trong một bài làm, một kì học, một năm học mà còntác động mạnh mẽ đến tâm lí, có thể tạo động lực để học sinh tiếp tục cố gắng họctập và rèn luyện Mặt khác, từ kết quả rèn luyện của học sinh, giáo viên có nhữngđiều chỉnh phương pháp, hoạt động dạy học, giáo dục của giáo viên và hoạt độnghọc của học sinh sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh của mình

Tuy nhiên sau khi nghiên cứu kĩ Thông tư 30 và sau hai năm thay đổi, tôithấy rằng bản thân cần thay đổi nhận thức

+ Với lớp 1, hãy tăng cường nhận xét bằng miệng, bằng lời khen kết hợp vớinhững món quà nhỏ mà vô cùng ý nghĩa, gây hứng thú, lôi cuốn và tạo động lựcmột cách bất ngờ cho trẻ

+ Có ý kiến cho rằng: Đánh giá chung Hoàn thành/Chưa hoàn thành là kiểuđánh giá “dở nhất” trong tất cả các kiểu đánh giá Nó sẽ đánh đồng tất cả học sinhvào 1 loại, không những làm cho phụ huynh học sinh mà ngay cả giáo viên cũng sẽthấy rất khó theo được kiểu đánh giá này Nhưng theo tôi nếu chúng ta suy nghĩtheo hướng tích cực, nghiên cứu kĩ mục tiêu của giáo dục tiểu học thì chúng tanhận ra rằng cách đánh giá mới hoàn toàn phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học,phù hợp với mục tiêu của giáo dục hiện đại “Giáo dục làm sao để trẻ biết cáchsống và biết sống”, phù hợp với yêu cầu về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

và đào tạo vì đánh giá vì việc học, đánh giá chính là quá trình học

Ngoài việc nâng cao nhận thức về ý nghĩa của việc đổi mới hình thức, nộidung đánh giá, mỗi giáo viên chúng ta cũng cần quan tâm đến việc nâng cao chấtlượng dạy học bằng việc không ngừng học và tự học, vận dụng linh hoạt các hìnhthức và phương pháp dạy học hiện đại nhằm lôi cuốn học sinh vào bài học, tạo cơhội cho nhiều học sinh được phát biểu ý kiến, mọi đối tượng học sinh trong lớp đềuđược cô quan tâm, động viên Tạo cơ hội cho tất cả học sinh đều chủ động, tíchcực tham gia vào các hoạt động, được bày tỏ, chia sẻ trong nhóm, trước lớp mộtcách thường xuyên

Với suy nghĩ như trên, tôi luôn tạo không khí thật vui vẻ trước khi bắt đầutiết học Đó có thể là một câu nói vui, một lời hứa khen thưởng (Cô rất vui khi lớpmình tích cực phát biểu; Ai tích cực trong tiết học sẽ được tặng phiếu đổi quà Ai

là học sinh thông minh nhất sẽ trả lời được các câu hỏi trong bài học hôm nay; Aimuốn là cá nhân tiêu biểu, xuất sắc? )

Ngoài ra tôi cũng luôn ý thức phải động viên, quan tâm nhiều tới học sinh nhútnhát, có thái độ tự ti bằng cách thủ thỉ với học sinh những lúc cầm tay học sinh tập viết,

Trang 8

khen ngợi trước lớp khi học sinh có tiến bộ nhỏ Tôi luôn suy nghĩ “Nếu bạn thờ ơ vớihành động nhỏ của học sinh, bạn sẽ không bao giờ có học sinh tốt”

Bản thân tôi luôn quan tâm, quan sát tất cả các hoạt động diễn ra trong lớp mộtcách tỉ mỉ Không chỉ quan sát học sinh trong giờ học mà tôi quan sát ở các giờ ra chơi,trước khi vào lớp, khi tan học…để từ đó có những nhận xét, đánh giá khách quan vàmới tìm được những điểm mạnh, điểm cần khắc phục của học sinh

Theo tôi, để có nhận xét, đánh giá đúng thì mỗi giáo viên cần quan sát mộtcách tỉ mỉ, sát sao với tất cả các hoạt động của học sinh mình

3.2 Biện pháp 2: Nghiên cứu kĩ các bài học, các môn học

Trước mỗi bài dạy, tiết dạy, tôi xác định chính xác mục tiêu, kiến thức, kĩnăng, thái độ cần đạt ở mỗi bài dạy để từ đó định hướng cho mình: Nhận xét cáigì? Nhận xét năng lực, kiến thức, kĩ năng nào của học sinh? Ở những vấn đề củabài học hôm này cần quan tâm nhận xét những học sinh nào?

Ví dụ: Trong môn Tiếng việt 1- công nghệ giáo dục giáo viên cần dạy đúng

thiết kế, đúng quy trình 4 việc một cách nghiêm ngặt, vận dụng các bước trongtừng việc linh hoạt Giáo viên không được phép xem nhẹ hay bỏ sót một thao tácnào, không được thay đổi trật tự các thao tác Từ đó dự kiến các lời nhận xét chophù hợp với từng bài, từng đối tượng học sinh, dự kiến những lời tư vấn, hướngdẫn để học sinh sửa chữa khắc phục những tồn tại thiếu xót

Chẳng hạn khi dạy bài vần /anh/, /ach/; vần /ênh/, /êch/; vần /inh/, /ich/…giáo viên chú ý sửa ngọng cho những học sinh phát âm chưa chuẩn nhiều hơn lànhững học sinh phát âm chuẩn rồi bằng cách cho học sinh phát âm, phân tích trongnhóm; nghe bạn phát âm, phân tích trong nhóm để tự sửa và sửa cho nhau; cho họcsinh phát âm trước lớp, nghe giáo viên phát âm Nếu học sinh phát âm còn chưachuẩn giáo viên khuyến khích, động viên các em như: “Nếu em chú ý lắng nghebạn, cô giáo phát âm cô tin em sẽ đọc đúng” Hoặc nếu học sinh sửa được “Cô biết

em sẽ làm tốt”…

Khi viết chính tả học sinh chưa nắm vững luật chính tả về âm đệm, luậtchính tả e, ê … giáo viên yêu cầu: “Em hãy nhắc lại luật chính tả về âm đệm…”,cho học sinh phân tích tiếng đó bằng tay rồi viết…

Trong môn Toán khi học sinh chưa thuộc các bảng cộng, trừ thì giáo viêncần có những lời tư vấn, động viên, nhắc nhở như: “Em đọc lại bảng cộng, trừcùng các bạn trong nhóm”; “Nếu em chú ý hơn trong giờ học, cô tin rằng em sẽthuộc bảng cộng, trừ … ngay trên lớp…”

Trong môn Đạo đức, một bài học được dạy trong hai tiết Tiết một nhằmcung cấp cho học sinh các kiến thức, các chuẩn mực hành vi đạo đức của conngười Tiết học thứ hai giúp học sinh thể hiện những hành vi, thái độ, kĩ năng đãđược học ở tiết một thực hành vào thực tế cuộc sống Xác định được mục tiêu tiếthọc như vậy thì giáo viên sẽ nhận xét học sinh một cách chính xác, cụ thể và đúngđối tượng mà mình muốn hướng tới

Khi dạy bài: “Sách vở và đồ dùng học tập” giáo viên đưa ra một số tấm

gương biết giữ gìn sách vở, đồ dùng cẩn thận, cho cả lớp quan sát sách vở củanhững học sinh đó đồng thời nhắc nhở, hướng dẫn lại cho những học sinh chưa

Trang 9

biết giữ gìn đồ dùng có ý thức hơn, biết những việc nên làm để sách vở, đồ dùnghọc tập của mình luôn sạch sẽ, bền đẹp Giao cho học sinh tự theo dõi, nhắc nhởlẫn nhau và báo cáo thường xuyên việc giữ gìn, sắp xếp sách vở đồ dùng học tậpvào các tiết sinh hoạt lớp mỗi tuần Tuyên dương khen ngợi những học sinh có tiến

bộ và thường xuyên giữ gìn sách vở cẩn thận, nhắc nhở động viên những học sinhchưa giữ gìn và sắp xếp sách vở gọn gàng tự nhận xét, đánh giá việc làm của mình

Như vậy, nếu người giáo viên muốn lời nhận xét, tư vấn của mình đúng đốitượng, có trọng tâm, không sáo rỗng, không nhận xét kiểu chung chung, lời nhận xét,

tư vấn tác động trực tiếp đến học sinh, những vấn đề mà học sinh cần điều chỉnh theohướng tích cực thì đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ kĩ về mục tiêu bài dạy kết hợp vớithực tế quan sát các đối tượng học sinh hàng ngày, thường xuyên trong các hoạt độngkhác nhau

3.3 Biện pháp 3: Tích hợp các hình thức nhận xét, đánh giá trong quá trình giáo dục và dạy học

Đối với học sinh lớp một cần tăng cường nhận xét bằng lời, đặc biệt là với đầu năm học, khi học sinh mới bắt đầu tập đọc các tiếng bằng vật thật và mô hình, đọc các âm

… thì rõ ràng học sinh không thể đọc hiểu được lời nhận xét, đánh giá của giáo viên ghi trong vở Lúc này việc giáo viên thường xuyên nhận xét, đánh giá, tư vấn bằng lời là việc cực kỳ cần thiết và hữu ích với học sinh Cuối học kì I, học sinh đã bắt đầu đọc được các câu dài Lúc này lời nhận xét của giáo viên phải cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn Ví dụ giáo viên chấm và ghi lời nhận xét ở bài làm của học sinh:

Trang 10

Trên đây là một số ví dụ bài làm của học sinh được cô giáo chấm và được côgiáo sửa lỗi, nhắc nhở, động viên Theo tôi, nếu chúng ta quan tâm sát sao tới từnghọc sinh, từng bài học, từng lỗi nhỏ như vậy sẽ giúp ích rất nhiều cho sự phát triểntoàn diện của học sinh (Học sinh vui vì được cô quan tâm; Những lời khen, lờinhắc nhở là động lực để các em vươn lên; Kiến thức, kĩ năng: được cô sửa lỗi cẩnthận để tránh mắc lại) Chính vì những lí do này nên đòi hỏi giáo viên, đặc biệt làgiáo viên lớp một phải quan tâm rèn chữ, cách trình bày sao cho khoa học.

Sau khi nhận xét, đánh giá, giáo viên có thể gặp riêng học sinh, chỉ rõ lỗi và nêulại lời nhận xét của mình cho học sinh nghe nhất là những học sinh cần được tư vấn,hướng dẫn Nhưng không thể nêu lại với tất cả học sinh trong lớp vì như thế không có

đủ thời gian Vậy phải làm thế nào?

Trang 11

Tôi đã chia các đối tượng học sinh trong lớp thành các nhóm khác nhau để

có thể phát huy năng lực cá nhân và quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinhtrong lớp:

+ Nhóm học sinh học tập tích cực, tiếp thu tốt, năng động, tự giác, tự tin thểhiện bản thân trong tất cả các hoạt động

+ Nhóm nhân tố bí ẩn - đây là những học sinh có năng lực tuy nhiên thiếu sựquan tâm hoặc quan tâm chưa đúng cách từ phía phụ huynh hoặc có năng lựcnhưng nhút nhát…

+ Nhóm cần giúp đỡ - những học sinh này chỉ phát huy năng lực khi đượcquan tâm, không bao giờ chủ động tham gia các hoạt động giáo dục, không tự tin,khó khăn khi làm việc cá nhân…

+ Nhóm cần giúp đỡ đặc biệt - đây là nhóm đối tượng cá biệt: nghịch ngợm,hiếu động, tự do, khó khăn trong nhận thức, giao tiếp…

Trong các môn học tôi lại chia nhỏ thành các nhóm năng lực khác nhau Chẳnghạn trong môn Tiếng Việt, tôi chia thành các nhóm:

+ Nhóm có kĩ năng thực hành tốt, thao tác nhanh, tự tin, mạnh dạn khi trìnhbày trước lớp

+ Nhóm có kĩ năng viết (đọc) cần cố gắng

+ Nhóm cần sự hỗ trợ giúp đỡ từ thầy cô, bạn bè…

Từ việc chia thành các nhóm nhỏ như vậy, giáo viên có thể chủ động hơntrong nhận xét, đánh giá; Mặt khác, giáo viên cũng định hướng đúng những mặthọc sinh cần giúp đỡ để từ đó quan tâm đến từng đối tượng cụ thể

Ví dụ như trong lớp tôi năm nay có em: Đinh Quang Hà, Lê Duy Hoàng - lànhững học sinh nhút nhát, tiếp thu khá khó khăn kiến thức cơ bản, hơi nghịchngợm nhưng rất chăm lao động, hay kê bàn ghế, tích cực vệ sinh lớp học, thu dọn

đồ dùng cùng cô giáo Những lúc như vậy tôi đều động viên, khen ngợi các em vàtặng quà vào buổi sinh hoạt lớp, đồng thời nhắc nhở một cách nhẹ nhàng nhữngđiểm em cần sửa, cần cố gắng Trong từng tiết học tôi thường xuyên gọi các emđọc bài, trình bày trước lớp nhất là trong môn Tiếng việt 1 – công nghệ giáo dụctôi thường xuyên gọi các em lên tổ chức cho lớp chơi trò chơi giữa tiết học, tựtrình bày và giới thiệu về bản thân, trường lớp, thầy cô giáo và gia đình, tự đánhgiá việc đọc, viết của mình… Hoặc đối với em: Bùi Nguyễn Thị Thu Hồng - làmột học sinh khuyết tật, đầu năm học đến trường nhút nhát, không giao tiếp với ai.Sau khi tìm hiểu về hoàn cảnh và tâm sinh lý của em tôi thường xuyên gần gũi, tròchuyện động viên, hướng dẫn em tham gia học tập một cách tỉ mỉ, bắt tay khi emkhông viết được, cùng em phát âm, phân tích, đánh vần, khi em phát âm đúng tôi

đã khen ngợi: “Em làm rất tốt”, “Cô hài lòng về em”, “Cô tin tưởng ở em, em sẽhọc tốt nếu em cố gắng…” Với những lời động viên, khích lệ, sự quan tâm đặcbiệt em Hồng đã mạnh dạn, tự tin hơn, tham gia vào các hoạt động cùng các bạn

Từ sự quan tâm học sinh như vậy đến cuối kì I tôi đã không khó khăn khighi các nhận xét cho học sinh

Cùng với lời nhận xét tôi đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của học sinh

là thích được khen, được tặng thưởng để động viên, khích lệ học sinh Những món

Trang 12

quà rất nhỏ thôi, một cục tẩy, một chiếc bút, một cái nhãn vở, một quyển truyệntranh, một hộp đất nặn là những món quà không thể thiếu với cách thay đổi vềnhận xét, đánh giá mới với học sinh đặc biệt là học sinh lớp một Học sinh sẽ vui,phấn khởi thế nào khi trong vở có dòng chữ: Em viết có tiến bộ; Nét chữ của emđẹp, đáng khen và kèm theo đó là một phiếu đổi quà! Cuối học kì I, sau khi dự sơkết toàn trường vào cuối buổi học hôm đó, tôi đã trực tiếp phát giấy khen và phầnthưởng trước lớp để các em cảm thấy phấn khởi, có mục tiêu phấn đấu, động viêncác em có tiến bộ để các em không cảm thấy buồn chán hay thua kém bạn bè và tựđặt ra mục tiêu phấn đấu trong học kì II.

Tất cả những hình thức trên khi được áp dụng với học sinh lớp tôi, tôi thấy

có hiệu quả rõ rệt: học sinh hào hứng, phấn khởi trước khi bước vào bài học; Các

em thêm tự tin; Những học sinh nhút nhát, tiếp thu chậm luôn được giáo viên quantâm, giúp đỡ nên các em bớt dần tự ti để thể hiện mình

3.4 Biện pháp 4: Phối hợp giữa các đoàn thể trong nhà trường trong các hoạt động nhận xét, đánh giá học sinh

3.4.1 Phối hợp với các giáo viên bộ môn, Tổng phụ trách

Nếu trước đây, đánh giá học sinh chủ yếu dựa vào kết quả hai môn Toán vàTiếng Việt thì hiện nay theo cách đánh giá mới đã thay đổi hoàn toàn Một họcsinh phải được đánh giá toàn diện ở tất cả mọi mặt: kiến thức, kĩ năng, năng lực,phẩm chất

Để học sinh phát triển toàn diện như vậy thì một mình giáo viên chủ nhiệmkhông thể làm tròn trách nhiệm này Đây là lí do mà tôi rất coi trọng vai trò củagiáo viên bộ môn và Tổng phụ trách Đội

Trước hết, tôi sẽ gặp gỡ trao đổi với đồng nghiệp về tình hình lớp học, sĩ số,những học sinh cá biệt ngay từ đầu năm học Tôi nghĩ rằng đây là một việc làm có

ý nghĩa hết sức quan trọng Giáo viên chủ nhiệm chính là người tiếp xúc nhiều

Ngày đăng: 10/08/2016, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w