Kết quả nghiên cứu của đề tài có được thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ người dân qua quá trình điều tra tại địa bàn nên nó là cơ sở khách quan nhất cho việc đề xuất các giải phá
Trang 1BÙI VĂN BỘ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PU CANH HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2BÙI VĂN BỘ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PU CANH HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
- Số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan
- Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng ai công bố trong các
nghiên cứu khác
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Xác nhận giáo viên hướng dẫn Người làm cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước (Ký ghi rõ họ tên)
Hội đồng khoa học
(Ký ghi rõ họ tên)
Trần Quốc Hưng Bùi Văn Bộ
Xác nhận của giáo viên phản biện
Chấm phản biện cho sinh viên đã được sửa sai sót sau khi Hội đồng chấm theo yêu cầu
(Ký ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề này trước hết em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa lâm nghiệp, cảm ơn tất cả các thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Em đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Quốc Hưng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực tập để em hoàn thành đề tài này Em xin gửi lời cảm ơn tới Hạt kiểm lâm huyện Đà Bắc, Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pu Canh, cán
bộ UBND xã Tân Pheo, Đồng Chum Huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã nhiệt tình tạo điều kiện, giúp đỡ và hợp tác với tác giả trong quá trình nghiên cứu thu thập số liệu tại địa phương
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhóm công dụng của thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh 22
Bảng 2.2 Cơ cấu dân tộc các xã thuộc khu bảo tồn 23
Bảng 2.3 Thành phần dân tộc các xã sống trong khu bảo tồn 23
Bảng 2.4 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp của 4 xã thuộc Khu BTTN Phu Canh 24
Bảng 4.1: Thực trạng khai thác,chế biến, sử dụng một số cây LSNG là cây thực phẩm tại khu vực điều tra. 33
Bảng 4.2 Thực trạng gây trồng một số cây LSNG là thực phẩm của các hộ gia đình 37
Bảng 4.3 Thực trạng khai một số cây LSNG là thực phẩm của các hộ gia đình
từ rừng và mức độ thường gặp khi điều tra. 38
Bảng 4.4 Thực trạng khai thác, chế biến, sử dụng một số cây LSNG là cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. 40
Bảng 4.5 Thực trạng gây trồng một số cây LSNG là thuốc của các hộ gia đình từ rừng 46
Bảng 4.6 Thực trạng khai thác một số cây LSNG là thuốc của các hộ gia đình
từ rừng và mức độ thường gặp khi điều tra. 47
Bảng 4.7: Cơ cấu thu nhập từ một số loại LSNG thuộc nhóm thuốc và thực phẩm thường được khai thác sử dụng trong các hộ gia đình. 49
Trang 6CÁC DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng việt
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 4
1.4 Ý nghĩa trong học tập 4
PHẦN 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
2.1 Cơ sở khoa học 6
2.1.1 Một số khái niệm về LSNG 6
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
2.2.3 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 6
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 7
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 18
2.3.2 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội 22
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3 1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2.Phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung và các chỉ tiêu theo dõi 29
3.3.1 Nội dung 29
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 29
3.4.1 Các số liệu cần có 29
3.4.2 Các phương pháp thu thập số liệu 30
3.4.3 Các bước tiến hành đề tài 31
Trang 8PHẦN 4 : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 32
4.1 Thực trạng quản lý khai thác,chế biến, sử dụng và bảo quản một số LSNG
là nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại xã Tân Pheo và xã Đồng Chum 32
4.1.1 Thực trạng khai thác, chế biến, sử dụng và bảo quản một số loại LSNG
là nhóm thực phẩm 32
4.1.2 Thực trạng khai thác, chế biến sử dụng, và bảo quản một số loại LSNG
là nhóm cây thuốc trong khu vực nghiênn cứu 39
4.2 Cơ cấu thu nhập từ một số loại LSNG thuộc nhóm thuốc và
thực phẩm thường được khai thác sử dụng trong các hộ gia đình 49
4.3 Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 50
4.4 Các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài
lâm sản ngoài gỗ làm thuốc, thực phẩm 51
4.4.1 Xác định lựa chọn những cây LSNG bảo tồn và phát triển 51
4.4.2 Giải pháp để bảo tồn và phát triển các sản phẩm này 52
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta với diện tích tự nhiên là vùng đồi núi chịu sự ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa, do điều kiện tự nhiên và địa hình như vậy đã tạo cho nước
ta hệ thực vật rùng phong phú và đa dạng có nhiều loài gỗ và lâm sản ngoài
gỗ (LSNG) quý có giá trị cao Đã rất lâu đời đồng bào các dân tộc ít người sống trong rừng và gần rùng có tập quán và kinh nghiêm khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng để nuôi sống mình
và chữa trị các bệnh ở con người Trong những năm gần đây dân số ngày càng tăng nhanh nhu cầu của con người ngày càng lớn trong khi đó diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, phương thức khai thác các sản có sẵn từ rừng không còn đáp ứng được nhu cầu hiện tại cũng như trong tương lai của con người
Tính đến năm 2010 nghành lâm nghiệp nước ta quản lý khoảng 13.3 triệu
ha rừng trong đó gần 11 triệu ha rừng là rừng tự nhiên, hơn 2.9 triệu ha rừng là rừng trồng trên diện tích đó có rất nhiều người dân sinh sống trong rừng và gần rừng, chủ yếu là dựa vào rừng nên trình độ phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn Nhu cầu của nhân dân trong cộng đồng đòi hỏi phải có các sản phẩm từ nông nghiệp để sinh sống và phát triển bền vững và lâu dài
Nền sản xuất nông lâm nghiệp theo truyền thống trước đây chỉ chú ý đến lợi nhuận về kinh tế từ gỗ mà xem nhẹ các sản phẩm phụ khác từ rừng vì chỉ trú trọng thuần túy mục tiêu chủ yếu thu các sản phẩm gỗ nên diện tích rừng tự nhiên nước ta bị tàn phá thu hẹp một cách nhanh chóng
Đất nước Việt Nam trải dài trải dài trên nhiều vĩ tuyến, với địa hình rất
đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ
Trang 10sinh thái tự nhiên và phong phú về các loài sinh vật Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại như rừng cây có lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi,rừng hỗn giao lá rộng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn , rừng tràm, rừng ngập nước ngọt…
Rừng không chỉ có các sản phẩm là gỗ mà còn có rất nhiều sản phẩm khác ngoài gỗ có giá trị kinh tế lớn Đối với những người dân làm nghề rừng thì chính những sản phẩm ngoài gỗ này là nguồn thức ăn và là nguồn tăng thu nhập cho gia đình và cộng đồng Nguồn lâm sản ngoài gỗ cung cấp cho người dân củi đun, măng tre, gia vị, thực phẩm, dược liệu…
Những sản phẩm làm lương thực, thực phẩm và gia vị là các loài cây cho các sản phẩm là tinh bột dưới dạng củ, quả, hạt, thân dùng để ăn hoặc chăn nuôi thuộc nhóm cây cho lương thực như : Củ mài, củ Mỡ, củ Dong Riềng… măng của các loài thuộc họ phụ tre nứa như : Luồng, Mai, Vầu đắng, Lồ ô, các loại rau như : rau Sắng, rau Bao, rau Tàu bay Các loài cây cho lá, củ, quả, làm gia vị như: quả Hồi, Sa nhân, lá Sim, lá Ổi, quả Quế, Sấu, Dọc, Bứa
Các loại cây cho nhựa dầu, nhựa sáp, nhựa dính, Cao su như Thông nhựa, Thông mã vĩ, Thông Ca-Ri-Be ,Thông ba lá, bồ đề, Trám trắng, Xoan ta…
Các loài cây cho tinh dầu theo thống kê trong hệ thực vật nước ta có khoảng 657 loài cây có chứa tinh dầu.Chúng thuộc 257 chi và 114 họ thực vật bậc cao có mạch như họ Cam, họ Gừng, họ Bạc hà…
Các loại cây cho tanin ở rừng Việt Nam có nhiều, tuy nhiên trong rừng tự nhiên gỗ hỗn giao , nhiều loài cay cho tanin thường phân bố giải giác nên không thể khai thác tập trung trên quy mô lớn Rừng ngập mặn ven biển cũng có không
ít những cây cho tanin như: Đước, Vẹt, Trang, Sồi, Dẻ, Chè,Phi lao…
Các loài cây khác phục vụ cho phát triển tiểu thủ công nghiệp, các nghành nghề phụ như mây tre đan, lá cọ làm nón…
Trang 11Các loại LSNG ngoài việc phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân nó còn co tác dụng làm giàu rừng, tăng độ che phủ và đa dạng sinh học cho rừng Nhờ có nguồn LSNG thay thế mà đã làm giảm nạn chặt phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi để phục vụ cho các mục đích khác nhau của con người
Trong giai đoạn hiện nay khi diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, dân
số tại các vùng miền núi ngày càng tăng nhanh đời sống của người dân còn nhiều khó khăn thì nguồn LSNG ngày càng trở nên quan trọng hơn Bên cạnh
đó, để đẩy mạnh và phát triển hàng hóa nghành lâm nghiệp , tăng nhanh độ che phủ và phát triển rừng bền vững thì việc phát triển nguồn LSNG có thể coi là hướng đi có thể đáp ứng được những yêu cầu trên
Qua đánh giá được hiện trạng nguồn LSNG và tình hình quản lý bảo vệ
và khai thác LSNG theo hướng bền vững cũng như xác định vị trí của nguồn LSNG đối với đời sống của các hộ gia đình và cộng đồng người dân miền núi cùng với khả năng tiêu thụ nguồn LSNG trên thị trường, mà từ đó đưa ra được các giải pháp phát triển LSNG theo hướng bền vững là vô cùng cần thiết Với những lý do trên và được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp cùng với sự giúp đỡ tạo điều kiện của ban lãnh đạo khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, tôi
tiến hành thực hiện khóa luận “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải
pháp bảo tồn, phát triển lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc, Tỉnh Hòa Bình” để đưa ra những giải pháp phù hợp
nhằm bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ một cách có hiệu quả, lâu dài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề tài nhằm thực hiện góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với phát triển bền vững LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm, con người với con người trong sử dụng LSNG
Trang 12- Đồng thời bước đầu làm sáng tỏ tác động của LSNG thuộc nhóm thuốc và thực phẩm đến phát triển kinh tế cộng đồng tại địa phương
- Tìm hiểu và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao sự nhận thức của người dân về phát triển bền vững một số LSNG là cây thuốc và thực phẩm với phát triển kinh tế hộ gia đình tại 2 xã Đồng Chum và Tân Pheo huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình
- Đánh giá được thực trạng về khai thác, bảo tồn và phát triển một số loài LSNG mà thuốc và thực phẩm tại khu vực nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng tới việc bảo vệ và phát triển nguồn LSNG này từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loại lâm sản này
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập
Giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học Có sự nhận thức sâu hơn về LSNG cũng như tryền thống sử dụng nguồn tài nguyên này của một số dân tộc miền núi Cũng từ đó người đọc sẽ có được một cách nhìn đúng đắn hơn về LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm cùng những vấn đề liên quan đến nguồn tài nguyên này
Đề tài là kết quả của việc thực hành sau một quá trình học lý thuyết nên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người thực hiện Nó khẳng định sự chín muồi hay chưa chín muồi của tác giả thông qua nghiên cứu và kỹ năng làm việc thực tế thông qua cách viết đề tài Và đề tài cũng là tài liệu tham khảo nghiên cứu và phát triển bền vững nguồn LSNG đề từ đó đề xuất cho giải pháp phát triển bền vững nguồn LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại các địa phương
Trang 131.4.2 Ý nghĩa trong thực tiến sản xuất
Là cơ hội củng cố những kiến thức đã học từ nhà trường đồng thời giúp cho bản than vận dụng tốt nhất những kiến thức đã học và tìm hiểu áp dụng vào thực tiến phục vụ cho công việc sau khi ra trường
Thấy được những mặt yếu, hạn chế trong công tác phát triển bền vững nguồn LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm tại địa bàn 2 xã
Kết quả nghiên cứu của đề tài có được thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ người dân qua quá trình điều tra tại địa bàn nên nó là cơ sở khách quan nhất cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại địa phương
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Ở Việt Nam hiện nay LSNG là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu và đã được giải quyết tốt và nhu cầu sử dụng LSNG của người dân miền núi cũng như của các nghành sản xuất, chế biết tài nguyên này
Tuy nhiên trong những năm gần đây nghiên cứu về LSNG còn phân bố rải rác hoặc chỉ nghiên cứu về một hay một số cây quan trọng hoặc có sự tổ chức nghiên cứu những địa phương không nhận được thông tin kết quả Chính
vì thế ở những vùng chưa nghiên cứu thì việc sử dụng LSNG của người dân vấn còn mang tính chất tự phát chưa đem lại kết quả cao Trong khi đó đặc tính nhân văn của mỗi vùng khác nhau nên sẽ rất khó khăn để đưa được kết quả nghiên cứu từ vùng này để áp dụng sang vùng khác Do đó mà hiện nay còn nhiều địa phương ở miền núi chưa hiểu biết thực sự về LSNG
Thực hiện đề tại tại khu bảo tôn thiên nhiên Pu Canh cũng dựa trên những cơ sở khoa học đó Song do tính cấp thiết của đề tài và giới hạn về thời gian đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu và đề xuất một số các giải pháp chủ yếu cho phát triển bảo tồn một số cây LSNG là cây thực phẩm và cây thuốc mà người dân thường sử dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh
2.1.1 Một số khái niệm về LSNG
Trước đây trong vị trí nguồn LSNG không được mang lại lợi nhuận kinh tế lớn nên tài nguyên ngoài gỗ được coi là lâm sản phụ Thực ra thì nó là nguồn lợi lớn khi tổng giá trị hàng hóa còn cao hơn gỗ Ở nước ta kim nghạch xuất khẩu mây, tre trong giai đoạn năm 1976 đến 1980 bằng xuất khẩu gỗ Ở Thái Lan, riêng tre và cánh kiến đỏ hàng năm xuất khẩu giá trị 4 triệu đô [1]
Trang 15Tài nguyên LSNG là nguồn nguyên liệu quý chúng cung cấp cho con người những loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao như tinh dầu, nhựa, thực phẩm, thuốc chữa bệnh… người dân đã biết khai thác và sử dụng một số loại LSNG từ lâu Cánh kiến đỏ làm chất kết dính để hàn dò dỉ, dầu rái dung để thắp sáng, trát thuyền, làm chất chống mục, củ nâu dung để nhuộm vải…
- Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định
nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao
gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ”
- “Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây
là thực vật đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, 1992) [4]
- Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như các dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này
- Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và
sợi
- Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn,
có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng
- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…”
Trang 16- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học
và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó
Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho Lâm sản ngoài gỗ là không thể Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng
để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc
Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in
ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loại cây cỏ
để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc treo từng địa phương như
“Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ
khảo”, “Quảng Tây trung dược trí” (Trần Hồng Hạnh, 1996) [19].
Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược
35.000-liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ dược 35.000-liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [14]
Trang 17Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.l Ermakov, V.V Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hoá sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này là
cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với
liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005) [21]
Tiến sỹ James A.Dule - nhà dược lý học người mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các
loại cây thuốc (Trần Thị Lan, 2005) [21]
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị
Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh
học của các hệ sinh thái rừng địa phương (Everlyn Mathias, 2001) [2].
Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước
đây bị lu mờ và ít được chú ý đến (Phạm Văn Thắng, 2002) [17].
Trang 18Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận LSNG như một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, LSNG có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, đồng thời
cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Phạm Văn Thắng,
loài làm thức ăn (Phạm Văn Thắng, 2002) [17].
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc
Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây
“truyền thống”, có đặc thù riêng khác với một số loài LSNG là có phạm vi phân bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình
nghiên cứu liên quan còn tản mạn (Phạm Văn Thắng, 2002) [17].
Sau năm 1975, Vàng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu
cho berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chục năm khai thác loài Vàng Đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng
sẽ nguy cấp (V) trong sách đỏ Việt Nam Ba Kích (Morinda offcinalis) là
một cây thốc có tác dụng tăng cường khả năng sinh dục ở nam giới, chữa thấp khớp và một số bệnh khác đã bị khai thác mỗi năm vài chục tấn liên
tục nên đã cạn kiệt (Viện Dược Liệu, 2002) [17].
Trang 19Năm 1975, khi nghiên cứu về các vị thuốc Việt Nam Tác giả Đỗ Tất Lợi
đã cho rằng: thảo quả là loài cây thuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm
1990 Trong thảo quả có khoảng 1-1,5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng chữa các bệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu khẳng định công dụng của thảo quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó đã phần nào mở
ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học ở nước ta
Phạm Văn Thắng [17]
Trong những năm qua, chỉ riêng ngành y học dân tộc cổ truyền nước ta
đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm
1995, chỉ riêng ngành đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng tới 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Nhu cầu cho công nghiệp chế biến dược phẩm, mỹ phẩm, hương phẩm cần khoảng 20.000 tấn Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô Việc khai thác liên tục, không có kế hoạch, không hợp lý đã đặt hàng trăm loài cây thuốc trước hoạ
tuyệt chủng (Viện Dược liệu, 2002) [22]
Trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2000, giới thiệu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán, bảo
vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài LSNG như: Ba kích, sa nhân,
thảo quả, trám trắng, mây nếp,… (Nguyễn Ngọc Bình, 2000) [7]
Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, Phạm Thanh Huyền và
cs, 2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó, họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên, những kiến thức qúy báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó, họ còn đưa
ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ và các điều kiêng kị khi thu hái
Trang 20cây thuốc; đánh giá mức độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân
làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc (Phạm Thanh Huyền, 2000) [16].
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm 1994 đến 2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích Trong đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại,
mô hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rấy cũ Bước đầu các mô hình này
đã đem lại những hiệu quả đáng kể (Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập, 2006) [6]
Ở nước ta số loài cây làm thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không ngừng tăng lên:
Năm 1952: Toàn Đông Dương có 1.350 loài
Năm 1986: Việt Nam đã biết có 1.863 loài
Năm 1996: Việt Nam đã biết có 3.200 loài
Năm 2000: Việt Nam đã biết có 3.800 loài
(Lã Đình Mỡi, 2003) [3]
Cây thuốc - nguồn tài nguyên LSNG đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo, 2003, đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập chồng chéo, kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức y học cổ truyền và y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và
phát triển cây thuốc (Trần Khắc Bảo, 2003) [20]
Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản, 2003 đã thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loài cây triển vọng để đưa vào phát triển: Thảo quả, Thiên niên
kiện, Xuyên khung, (Ninh Khắc Bản, 2003) [9].
Nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng Phốk - Vùng lõi VQG Yok Đôn - Huyện Buôn Đôn -
Trang 21Tỉnh Dak Lak, Nguyễn Văn Thành và cs, 2004 Nghiên cứu đã chỉ ra từ cộng
đồng các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài
thuốc theo nhóm bệnh (Nguyễn Văn Thành, 2004) [15].
Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại VQG Tam Đảo, Ngô Quý Công và cs trong 2 năm 2004 - 2005 nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của
Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy, việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương để giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo
tồn và phát triển (Ngô Quý Công, 2005) [12]
Theo tác giả Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường bảo tồn cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy thì các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng [13]
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị
Khi nghiên cứu về LSNG ở nước ta, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: LSNG chính là một yếu tố cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Lâm sản
Trang 22ngoài gỗ đã là nguồn cung cấp các thực phẩm, thuốc chữa bệnh phục vụ cho cuộc sống của người dân ở nông thôn miền núi Trong quá trình sử dụng, giá trị của lâm sản ngoài gỗ được phát hiện ngày càng nhiều, vai trò của LSNG đối với
phát triển KT-XH miền núi càng lớn (Phạm Văn Thắng, 2002) [17]
Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Nguyễn Tiến Bân và cs, 1994 Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia
vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến… Đây là một đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau
(Nguyễn Tiến Bân, 1994) [10]
Năm 1999, khi nghiên cứu ở VQG Ba Vì, Nguyễn Văn Sản và cs, 1999 đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, LSNG bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên
LSNG ( Phạm Văn Thắng, 2002) [17]
Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tác giả, LSNG được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi, sản phẩm dùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm chiết xuất, động vật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩm khác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có những tồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự
đa dạng, phong phú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam
(Phạm Văn Thắng, 2002) [17]
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án “Sử dụng bền vững LSNG” tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm VQG Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển LSNG là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng sống cho
Trang 23người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển KT-XH trong khu vực
(Phạm Văn Thắng, 2002) [17]
Trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng LSNG ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn” của Phạm Văn Thắng và cs, 2001 cho thấy giá trị sử dụng của LSNG đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và LSNG như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế
(Phạm Văn Thắng, 2002) [17].
Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm Bản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La Quang Độ,
2001 Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân
bố của 15 loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này Đề tài là một sự đóng góp quan trọng
cho tỉnh Bắc Kạn trong việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên LSNG (La
Quang Độ, 2001) [3].
Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng, Phùng Tửu Bôi, 2005 Cây Thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được nhập vào ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã được trồng ở một
số nơi, hiện đang trồng nhiều ở Lạng Sơn và Cao Bằng, nhiều nhất là ở ba xã Chi Lăng, Kim Đồng và Tân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Theo tác giả Thạch đen là một loài LSNG có nhiều giá trị và triển vọng, cần
có chính sách và kỹ thuật hỗ trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại
hàng hoá này (Phùng Tửu Bôi, 2005) [18]
2.2.3 Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác và
sử dụng Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng (người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu…) Chính vì vậy, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau
Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được
sử dụng phổ biến hiện nay:
Trang 24- Phương pháp phân loại LSNG theo hệ thống sinh: Đây là cách phân loại các
LSNG theo hệ thống tiến hóa của sinh giới Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ như:
Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Loài Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của
chúng Phương pháp này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về phân loại
động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [5]
- Phương pháp phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân
loại mà các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố… có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ
thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau: Nhóm cây cho
lương thực, thực phẩm; nhóm cây cho sợi; nhóm cây cho ta-nanh; nhóm cây cho màu nhuộm; nhóm cây làm dược liệu; nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn; nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ; nhóm cây làm cản, cho bóng mát
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được
họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm Nhược điểm của phương pháp này chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau
Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống
phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài
giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này
LSNG được chia làm 6 nhóm:
Nhóm 1- Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ
Trang 25Nhóm 2 - Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng
Nhóm 3 - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật
Nhóm 4 - Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta-nanh
và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu
● Cây sống và các bộ phận của cây
các dịch vụ (II) (Bài giảng LSNG, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội)
Trong đó nhóm (I) bao gồm 3 nhóm sản phẩm phụ đó là: (a) Lâm sản ngoài
gỗ có nguồn gốc từ thực vật; (b) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ động vật
và (c) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ khoáng vật Nhóm II gồm các dịch
vụ như: du lịch, giải trí, xem động vật hoang dã…
Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản đó là “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sản ngoài gỗ)
Trang 26Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và
Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:
+ Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và
mỹ nghệ như: song, mây, tre, trúc, lá buông…
+ Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc
từ các loài cây rừng như: cách kiến Shellac, dầu thông, tùng hương, dầu trong, chai cục…
● Hệ động vật rừng:
Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt,
xạ, mật; cho dược liệu như: voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, rắn, trăn, kỳ đà, tắc kè, khỉ, nhím, vượn, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác
Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại LSNG trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về LSNG của Việt Nam
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí ranh giới
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh nằm trên địa bàn 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cách thị trấn Tu Lý huyện Đà Bắc 30 Km, cách thành phố Hòa Bình 50 km Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có vị trí như sau:
- Phía Bắc giáp xã Tân Pheo
- Phía Tây giáp xã Đồng Ruông, Đồng Chum
Trang 27- Phía Đông giáp xã Tân Pheo, xã Đoàn Kết
- Phía Nam giáp xã Yên Hoà, xã Đoàn Kết
Tổng diện tích tự nhiên của Khu BTTN Phu Canh là 5.647 ha, trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái là 3.212,4 ha
2.3.1.2 Địa hình, địa thế
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh là vùng núi thấp và núi cao, gồm 3 dải dông núi chính và các dải dông núi phụ Độ cao lớn nhất là 1.349m (đỉnh Phu Canh), độ cao trung bình là 900m, độ cao thấp nhất là 300m so với mặt nước biển Độ dốc bình quân trên 300
, chiều dài suờn dốc 1000 - 2000m, hiểm trở, đi lại rất khó khăn
Căn cứ vào hệ thống đường phân thủy thì Khu BTTN là lưu vực của suối Nhạp, suối Cửa Chông chảy ra hồ Sông Đà, cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình và nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của 5 xã: Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Đoàn Kết, Yên Hoà So với các khu rừng đặc dụng khác ở miền núi phía Bắc Việt nam, Khu BTTN Phu Canh có độ cao không lớn
2.3.1.3 Khí hậu - Thuỷ văn
Khí hậu: Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có chung điều kiện khí hậu
của tỉnh Hòa Bình, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1.824,4
mm, chiếm 93,6% tổng lượng mưa trong năm; mùa hanh khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa trung bình 125,2 mm, chiếm 6,4% tổng lượng mưa trong năm Số ngày mưa trong năm 110 - 130 ngày Độ ẩm không khí trung bình 83%, cao nhất trung bình 87%, thấp nhất trung bình 79% Nhiệt độ không khí trung bình 21,70C, cao nhất trung bình 290C, thấp nhất trung bình
Trang 2814,60C, cá biệt có ngày xuống 50C vào tháng 1 Hướng gió chính vào mùa hè
là gió Đông Nam; mùa đông là gió Đông Bắc
Thuỷ văn: Trong Khu bảo tồn có các suối lớn Suối Nhạp xã Đồng
Ruộng có 2 nhánh suối chính: Nhánh suối Chum bắt nguồn từ xã Mường Chiềng, chảy qua xã Đồng Chum về hợp với suối Nhạp tại khu vực xóm Nhạp trong, xã Đồng Ruộng; Nhánh suối Nhạp bắt nguồn từ xã Tân Pheo, chảy qua
xã Tân Pheo, xã Đồng Chum về hợp với nhánh suối Chum tại xóm Nhạp xã Đồng Ruộng Ngoài 2 nhánh suối chính còn có 1 nhánh suối phụ bắt nguồn từ chân núi Phu Canh xã Đồng Ruộng về hợp với suối Nhạp đổ ra hồ Sông Đà Hai suối trên tuy là suối lớn có nước chảy quanh năm nhưng do độ dốc cao, nhiều đá nổi, ghềnh thác, nên không sử dụng vận chuyển đường thuỷ (bè, mảng) liên hoàn ra đến hồ Sông Đà, vào mùa mưa thường gây ra lũ đột xuất cản trở việc đi lại của nhân dân các xã trong khu bảo tồn và vùng phụ cận
2.3.1.4 Địa chất và Đất
Địa chất: Khu bảo tồn có địa hình vùng núi cao, phần lớn diện tích là
núi đất và núi đất lẫn đá Trong khu bảo tồn có 3 loại đá mẹ chủ yếu: đá vôi,
đá mác ma a xít và đá sa thạch Trong đó: Đá vôi có thành phần khoáng vật chủ yếu là can xít màu đỏ nâu, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới thịt trung bình (hạt mịn) Đá a xít có thành phần khoáng vật chủ yếu là Kali, mua ga đen, bi ro xin, clo rít, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới thịt nhẹ Đá sa thạch có thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, li mô nít, sản phẩm phong hoá cho thành phần cơ giới hạt thô, do phong hoá không triệt để nên có nhiều sỏi cuội với nhiều cỡ đường kính khác nhau
Đất: Trong khu bảo tồn có 2 nhóm đất chính:
Trang 29- Nhóm đất Feralitic mùn, mùa từ đỏ vàng đến vàng nhạt trên núi có rừng (độ cao từ 700 - 1700m) diện tích 3.800 ha, chiếm 67,3% tổng diện tích khu bảo tồn, trong đó có các loại đất với các đặc điểm, đặc tính như sau:
+ Đất Feralitic, mùn, màu vàng nhạt trên núi có rừng, phát triển trên đá
sa thạch, tầng dày trên 120 cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, có nhiều hạt thô, lẫn sỏi, cuội, diện tích 1.500 ha, có đặc tính thấm nước nhanh, giữ nước kém, tập trung chủ yếu trong xã Tân Pheo, xã Đoàn Kết
+ Đất Feralitic mùn, màu đỏ, trên núi có rừng phát triển trên đá vôi tầng dày trên 120cm, thành phần cơ giới thịt trung bình, diện tích 1.200 ha, có đặc tính thấm nước và giữ nước tốt, tập trung chủ yếu trong xã Đồng Ruộng
+ Đất Feralitic mùn màu đỏ vàng trên núi có rừng phát triển trên đá Mác ma a xít, tầng dày trên 120 cm, thành phần có giới thịt trung bình, diện tích 1.100 ha, có đặc tính thấm nước chậm, giữ nước tốt tập trung chủ yếu trong xã Đồng Chum
- Nhóm đất Feralitic màu vàng, vàng nhạt trên đất trống đồi trọc hoặc cây bụi, nương, rẫy (có độ cao dưới 800 m) phát triển trên đá mẹ sa thạch, đá vôi, đá mác ma a xít tầng dày 50 - 120cm, diện tích 1.300 ha
2.3.1.5 Tài nguyên rừng khu bảo tồn
Tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn trong 4 xã là 5.647ha, trong đó: Diện tích có rừng: 4.213,9 ha, chiếm 74,6% diện tích Trong đó, rừng tự nhiên: 4.106,5ha, chủ yếu là rừng gỗ núi đất, cấp trữ lượng IV, có trữ lượng
gỗ từ 73m3/ha đến 110m3
/ha; tổng trữ lượng 363.343,0m3 gỗ; rừng nứa và rừng hỗn giao nứa gỗ có 345ha, trữ lượng nứa 2.908.036 cây, còn lại 115,2ha rừng non phục hồi sau nương rẫy chưa có trữ lượng
Trang 30Bảng 2.1 Tổng hợp các nhóm công dụng của thực vật ở khu bảo tồn
thiên nhiên Phu Canh
12 Cho dầu béo D 15 1,98
13 Cho nguyên liệu Nl 12 1,59
2.3.2 Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Dân tộc
Khu BTTN Phu Canh nằm trong khu vực 4 xã gồm 3 dân tộc chính là: Dân tộc Tày có 9.565 người, chiếm 85,34 %; Dân tộc Mường có 467 người, chiếm 4,16 %; Dân tộc Dao có 1.062 người chiếm 9,47 % và Dân Tộc Kinh
có 93 người chiếm 0,83 %
Trang 31Bảng 2.2 Cơ cấu dân tộc các xã thuộc khu bảo tồn
hộ
Tổng dân số
Dân số chia theo dân tộc (người)
Tân Pheo 7 845 3.527 2.668 191 569 79 Đồng Chum 9 621 2.871 2.778 84 0 9 Đoàn Kết 6 632 2.693 2.200 0 493
Dân số chia theo dân tộc
(người)
Tân Pheo 3 389 2.135 2.055 32 0 38 Đồng Chum 2 164 818 812 3 0 3 Đoàn Kết 4 420 1.795 1.301 0 494 0 Đồng Ruộng 3 265 1.119 965 150 0 3
2.3.2.2 Dân số, lao động và giới
- Dân số: Trong 4 xã có 2.606 hộ với 11.207 nhân khẩu cư trú trong 28
xóm, bản chiếm 22,25% nhân khẩu toàn huyện, trong đó nhân khẩu nông nghiệp 10.927 người chiếm 97,5%, nhân khẩu phi nông nghiệp 280 người (chủ yếu là giáo viên, nhân viên y tế) chiếm 2,5 % tỷ lệ tăng dân số hàng năm ước tính 1,3%
Trang 32- Lao động: Toàn vùng có tổng số lao động 5.529 người trong đó: Lao
động nông nghiệp có 5.317 người (chiếm 96,1 tổng số lao động), Lao động phi nông nghiệp có 212 người (chiếm 3,9 tổng số lao động)
- Những vấn đề về giới: Phụ nữ quanh Khu bảo tồn còn nhiều hạn chế
trong việc tham gia công tác bảo vệ rừng do họ bận rộn quá nhiều công việc
gia đình, chăm sóc rừng trồng theo các chương trình dự án
2.3.2.3 Hiện trạng sản xuất
2.3.2.3.1 Sản xuất nông nghiệp:
Hoạt động trồng trọt trong 4 xã chủ yếu là cây lương thực, cây màu các loại và một số ít diện tích cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày Tổng diện tích đất trồng lúa của 4 xã chỉ có 277,24 ha, năng xuất bình quân 31 tạ/ha, sản lượng lúa hàng năm đạt 650,5 tấn/năm, bình quân 60,4 kg/người/năm mới chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu lương thực của nhân dân Để khắc phục tình trạng thiếu lương thực triền miên, nhân dân phải phát rừng làm nương trồng cây lương thực (lúa, ngô)
Bảng 2.4 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp của 4 xã thuộc Khu BTTN
Phu Canh T
Tổng diện tích (ha)
Các xã trong Khu bảo tồn Tân
Pheo
Đồng Chum
Đoàn Kết
Đồng Ruộng
2 Đất trồng cây lâu năm 67,3 4,7 6,5 56,1
Trang 332.3.2.3.2 Chăn nuôi
Là hoạt động mang lại thu nhập quan trọng cho cộng đồng địa phương, đồng thời cung cấp hàng hóa tại chỗ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thị trường và cải thiện cuộc sống Cộng đồng chủ yếu nuôi trâu, bò, lợn, gà, ngan, vịt, ngỗng, dê, v.v Các năm qua số lượng đàn gia súc gia cầm trong 4 xã tăng tương đối nhanh nhất là đàn bò, trâu do nhu cầu tiêu thụ thịt bò trên thị trường ngày càng nhiều Theo thống kê năm 2009 như sau, đàn trâu có 1.872 con, đàn bò 1.652 con, đàn lợn 4.010 con Chủ yếu chăn thả trên đất trồng đồi trọc
và rừng tự nhiên
2.3.2.3.3 Hoạt động sản xuất và khai thác lâm nghiệp:
Bằng nguồn vốn dự án 661 trong các năm qua nhân dân trong 4 xã đã tích cực phát triển sản xuất lâm nghiệp Đã nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng hiện có (rừng phòng hộ xung yếu và rất xung yếu) của 4 xã là 7.158 ha Trồng mới rừng phòng hộ trên 837 ha, trong đó có 364 ha rừng luồng là loài cây vừa phát huy hiệu quả kinh tế của 2 xã Đồng Chum và Đồng Ruộng Ngoài ra, cũng đã trồng cây ăn quả trên 113 ha và 181,5 ha được cải tạo làm vườn tạp Thực tế tại địa bàn thì vẫn xảy ra tình trạng khai thác rừng và săn bắt động vật trái phép, đốt nương làm rẫy ở quy mô nhỏ Do phong tục tập quán, do đời sống của người dân còn khó khăn, đặc biệt là thiếu đất sản xuất nên một số hộ dân đã lén lút phát nương lấn vào rừng bảo tồn Tình trạng khai thác cây dược liệu, củi, lâm sản phụ song, mây, măng tre và săn bắt động vật vẫn còn xảy ra Những lâm sản phi gỗ này được các hộ sử dụng cho nhu cầu gia đình và một số cũng được đem đi bán
2.3.2.3.4 Thu nhập của nhân dân:
Sinh kế chính của nhân dân trong 4 xã là sản xuất nông lâm nghiệp Tuy nhiên, do đất nông nghiệp rất ít, năng suất không cao, bình quân lương thực chỉ đạt 60,4 kg/người/năm Rừng tự nhiên còn lại phần lớn là rừng gỗ
Trang 34được quy hoạch là rừng phòng hộ xung yếu và không được khai thác Các ngành nghề khác phát triển chậm nên đời sống nhân dân ở đây còn rất khó khăn, thu nhập bình quân chỉ đạt 3 triệu đồng/ người/ năm (khoảng 160 USD)
2.3.2.4 Cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải: Khu bảo tồn đã có đường ôtô đến trung tâm xã bao
gồm tuyến tỉnh lộ 433 từ xã Tân Pheo đi xã Đồng Chum và Đoàn Kết; Tuyến đường liên xã từ ngã ba Ênh xã Tân minh đi qua xã Đoàn Kết, xã Yên Hoà đến xã Đồng Ruộng dài 31 km
Điện: tất cả các xã trong khu bảo tồn đều có điện lưới quốc gia Tuy
nhiên, đường dây tải điện còn yếu nên thường xuyên xảy ra mất điện
Nước sinh hoạt: được dự án 472 và dự án WB đầu tư xây dựng đường
ống dẫn nước và các bể chứa nước công cộng, đảm bảo 100% số hộ dân trong
4 xã có đủ nước sinh hoạt
Thuỷ lợi: Hiện tại, các xã đều có kênh mương dẫn nước tưới cho sản
xuất nông nghiệp Riêng hồ Cang xã Đoàn Kết dự trữ nước tưới cho gần
40 ha đất nông nghiệp Nhưng do độ che phủ của rừng Phu Canh ngày càng bị thu hẹp nên khả năng dự trữ nước tưới của hồ Cang đã và đang giảm đi nhanh chóng
2.3.2.5 Văn hóa – Xã hội
Về giáo dục: Bốn xã trong Khu bảo tồn đều có đủ 2 cấp tiểu học và
trung học cơ sở, với các phòng học kiên cố được xây dựng từ nguồn vốn của chương trình 135 của Chính phủ và dự án giảm nghèo của ngân hàng thế giới
WB Tổng số trẻ em trong độ tuổi đi học (từ 6 – 14 tuổi) là 3.540 em Đội ngũ giáo viên thường là các thầy cô giáo ở tỉnh, huyện và một số huyện miền xuôi lên công tác Nhưng do còn thiếu thốn về chỗ ở, thiếu tình cảm và ít được
Trang 35sinh hoạt văn hoá văn nghệ, do đó các thầy cô giáo chưa thật sự yên tâm công tác và hạn chế khả năng phấn đấu chuyên môn của các thầy cô giáo
Về y tế: Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng lên, đảm bảo
nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu kịp thời cho nhân dân Mạng lưới y tế từ xã đến thôn bản hoạt động đồng đều và thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh Tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, thiếu thốn về thuốc men, thiếu trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu đội ngũ cán bộ y tế có năng lực chuyên môn cao, nên hiệu quả khám chữa bệnh chưa cao Các hoạt động dân
số - kế hoạch hóa gia đình được quan tâm chỉ đạo, việc đổi mới công tác tuyên truyền đã tiếp cận tốt hơn đến từng đối tượng Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện đầy đủ và có hiệu quả, v.v
Về văn hoá: Vì các xóm bản trong xã ở cách xa nhau, đi lại không
thuận tiện, và do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn lại cách xa trung tâm huyện (30-50 km), nên sinh hoạt văn hoá còn nhiều hạn chế Tuy nhiên,
hầu như mọi hộ gia đình đều có tivi
Trang 36PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu một số loài cây LSNG mà người dân thường sử dụng hiện có ở Khu Bảo tồn dùng làm thuốc và thực phẩm
- Những người thường xuyên và không thường xuyên nhưng liên quan đến việc khai thác LSNG là cây thuốc và thực phẩm
- Những người am hiểu về khai thác, chế biến về cây thực phẩm và cây dược liệu tại địa phương
- Phỏng vấn các hộ sản xuất nông lâm nghiệp và có thu nhập từ nguồn LSNG là cây thuốc và thực phẩm tại các thôn trong 2 xã
3.1.2.Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng quản lý, bảo vệ, chế biến, sử dụng, bảo quản và vai trò một
số loại LSNG là cây thuốc và thực phẩm Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn LSNG
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Tại khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình Nghiên cứu đại diện tại 2 xã trong đó: Xóm Chàm, xóm Than xã Tân Pheo và Xóm Nhạp Xã Đồng Chum huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình
- Địa điểm phỏng vấn các nhóm hộ dân là tại gia đình hay tại nơi làm việc của người dân
- Phỏng vấn nhóm thường xuyên và không thường xuyên liên quan đến khai thác cây thuốc và thực phẩm mỗi xóm điều tra ít nhất là 30 hộ
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015
Trang 373.3 Nội dung và các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Nội dung
1/ Truyền thống quản lý, sử dụng LSNG thuộc 2 nhóm làm thuốc và thực phẩm
2/ Thống kê một số loài lâm sản ngoài gỗ được người dân trong vùng
sử dụng làm thuốc, thực phẩm (danh lục của loài LSNG)
3/ Hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm của người dân (nguồn gốc khai thác các loài LSNG đó, khai thác ở mức độ nào, mức độ phổ biến của các loài đó)
4/ Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 5/ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển những loài cây này
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
- Sự phong phú và đa dạng cuả LSNG thuộc nhóm cây thuốc và thực phẩm mà người dân thường sử dụng tại khu bảo tồn và tại địa phương nghiên cứu
- Tình hình khai thác một số cây LSNG là cây thuốc và thực phẩm của người dân địa phương
- Truyền thống cách thức sử dụng một số LSNG là cây thuốc và thực phẩm của người dân địa phương
- Sự biến động của LSNG thuộc nhóm cây thuốc và thực phẩm mà người dân thường dung trong những năm gần đây tại khu bảo tồn
3.4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
3.4.1 Các số liệu cần có
Số liệu thứ cấp gồm:
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện dân sinh, kinh, tế xã hội
Trang 38- Thực trạng khai thác, quản lý, sử dụng một số cây LSNG là thuốc và thực phẩm của người dân trong 3 xóm điều tra
3.4.2 Các phương pháp thu thập số liệu
Để sử dụng số liệu thứ cấp sử dụng đến quản lý trong đề tài tôi sử dụng các phương pháp: tham khảo tài liệu, kế thừa số liệu của khu bảo tồn của địa phương từ đó chọn lọc để tổng hợp số liệu của đề tài
Với số liệu thứ cấp: tiến hành các phương pháp thu thập số liệu sau:
1 Sử dụng một số công cu đánh giá thôn bản có sự tham gia của người dân ( PRA), lịch mùa vụ
2 Phỏng vấn cán bộ địa phương như cán bộ xã, cán bộ thôn bản
3 Phương pháp quan sát có sự tham gia
4 Phỏng vấn cán bộ khu bảo tồn
5 Họp nhóm thảo luận và bổ sung kết quả phỏng vấn
6 Điều tra theo tuyến có sự tham gia Khảo sát địa bàn mục đích quan sát và đánh giá sơ bộ tình hình khai thác sử dụng các loại LSNG là cây thuốc
và cây thực phẩm
7 Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố loài LSNG trong khu vực, và đảm bảo tính đại diện, khách quan… Đề tài đã thiết lập 04 tuyến điều tra tại các địa điểm nghiên cứu
Tuyến 1 và 2 Đi qua tiểu khu 40 và 41 (xóm Than và xóm Chàm xã Tân Pheo)
Trang 39Tuyến 3 và 4 Đi qua tiểu khu 69 và 70 (qua xóm Nhạp xã Đồng Chum)
- Điều tra ô tiêu chuẩn (ÔTC): Trên tuyến điều tra, tại mỗi vị trí có sự thay đổi về thảm thực vật, tiến hành lập (ÔTC) với diện tích 100m2 (10 x 10m) Trên ÔTC điều tra một số chỉ tiêu: Thành phần loài; Tần số xuất hiện; Tình hình phân bố và khả năng phát triển) Đề tài đã lập được 12 ÔTC (Các chỉ tiêu thu thập số liệu được trình bày chi tiết trong phiếu điều tra)
Mức độ thường gặp: + ít gặp,++ gặp nhiều trung bình, +++ gặp nhiều khi
đi điều tra
3.4.3 Các bước tiến hành đề tài
Bước 1: Tìm hiểu thông tin chuyên nghành về đề tài nghiên cứu
Bước 2: Điều tra thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến chủ đề nghiên cứu như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, các họat động về phát triển một số loại lâm sản ngoài gỗ là cây thuốc và cây thực phẩm đã và đang được khai thác trên địa bàn các xóm nghiên cứu
Bước 3: Tiến hành điều tra phỏng vấn các hộ gia đình và cán bộ kỹ thuật khu bảo và cán bộ quản lý thôn bản, lựa chọn các công cụ điều tra thích hợp bảng câu cho nội dung nghiên cứu
Quan sát thực tế bổ sung kiểm tra lại những thông tin đã được cung cấp
là việc làm cấp thiết, khi đang quan sát lưu ý tới những diện tích LSNG được
sử dụng để ăn hay để bán, còn nhiều hay không dùng thu nhập hàng năm từ nguồn lâm sản đó Loại hình khai thác, bảo quản, gây trồng các loại cây LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm tổng hợp vào bảng mẫu chuẩn bị trước
Trang 40Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1 Thực trạng quản lý khai thác, chế biến, sử dụng và bảo quản một số LSNG là nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại xã Tân Pheo và xã Đồng Chum
Đề tài tiến hành điều tra 3 xóm sống quanh khu bảo tồn Pu Canh thuộc 2 xã Tân Pheo và Đồng Chum huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình với phương pháp điều tra chủ yếu phỏng vấn 30 hộ gia đìnhh tại các thôn, xóm về một số loại LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm có giá trị ít nhiều ảnh hưởng đến khinh tế hộ gia đình Kết quả điều tra trên địa bàn cho thấy các loại cây LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm mà người dân trong vùng thường sử rất đa dạng, có nhiều loại cây thuốc quý được người dân khai thác sử dụng như: Ngũ gia bì, hòang tinh cách, khôi tía…, các loại dùng làm thực phẩm như trám đen, cà ổi, rau sắng, rau rớn…, tình hình khai thác chế biến của người dân cũng rất nhiều hình thức từ khai thác rễ đến khai thác thân, lá, hoa, quả…
4.1.1 Thực trạng khai thác, chế biến, sử dụng và một số loại LSNG là nhóm thực phẩm
Từ kết quả điều tra cho thấy nhóm cây dùng làm thực phẩm được người dân
sử dụng rất đa dạng, hình thức khai thác chủ yếu khai thác bằng các dụng cụ như dao, liềm, bề, bao tải dựng.Ta có thể thấy được các hình thức thu hái chế biến bảo quản của người qua bảng sau: