Trong đó, cuộcchiến tranh Thái Bình Dương 1941 – 1945 diễn ra giữa phát xít Nhật Bản và pheĐồng Minh Mỹ, Anh, Liên Xô trên biển Thái Bình Dương và khu vực Châu Ánhằm tranh giành quyền
Trang 1BÀI TIÊU LUẬN: CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG 1941 - 1945
MỤC LỤC
Trang 2Mục lục 1
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 9
Chương 1:HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN BÙNG NỔ CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941 - 1945) 9
1.1 Vài nét khái quát về khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 - 1945) 9
1.1.1 Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 9
1.1.2 Các quan niệm về cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 -1945) 9
1.2 Hoàn cảnh lịch sử cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941 - 1945) 11
1.3 Nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến tranh Thái Bình Dươnng (1941 -1945) 12
1.3.1 Nguyên nhân sâu xa 12
1.3.2 Nguyên nhân trực tiếp 15
Chương 2: DIỄN BIẾN CHÍNH CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941 - 1945) 17
2.1 Giai đoạn 1: Chiến tranh bùng nổ Phát xít Nhật thôn tính các nước Châu Á – Thái Bình Dương (12/1941 - 5/1942) 17
2.1.1 Trận Trân Châu Cảng và chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ (7/12/1941) 17
2.1.2 Trên mặt trận Đông Nam Á (12/1941 - 5/1942) 27
2.1.3 Trên mặt trận Thái Bình Dương (12/1941 - 5/1942 28
2.2 Giai đoạn 2: Hai phe giằng co (5/1942 - 1/1943) 30
2.3 Giai đoạn 3: Phe Đồng Minh phản công, phát xít Nhật đầu hàng (1/1943 - 9/1945) 31
Trang 32.3.1 Chiến tranh Thái Bình Dương từ chiến thắng Gua-đan-ca-nan
(8/1942 – 1/1943) đến chiến dịch Mãn Châu (9/8/1945 - 2/9/1945) 31
2.3.2 Chiến tranh hạt nhân Phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện (2/9/1945) 36
Chương 3: KẾT CỤC VÀ Ý NGHĨA CUỘC CHIẾN TRANH NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG CHỦ NGHĨA PHÁT XÍT 40
3.1 Kết cục cuộc chiến tranh 40
3.2 Ý nghĩa, tác động của cuộc chiến tranh 43
3.3 Nguyên nhân thắng lợi của cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít 47
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi cuộc sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tìm hiểu vềquá khứ, về các giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giớingày càng cao Gắn liền với quá trình phát triển đó là các cuộc chiến tranh Trênthế giới, trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc chiến tranh xung đột Có cuộc chiếnkết thúc nhanh, có cuộc chiến diễn ra trong thời gian dài Trong đó, lịch sử loàingười diễn ra hai cuộc chiến tranh lớn, mang quy mô thế giới, lôi cuốn tất cả cácnước vào vòng khói lửa Đó là chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), vàcuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
có quy mô rộng lớn hơn, tính chất tàn khốc, ác liệt hơn nhiều lần Trong đó, cuộcchiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) diễn ra giữa phát xít Nhật Bản và pheĐồng Minh (Mỹ, Anh, Liên Xô) trên biển Thái Bình Dương và khu vực Châu Ánhằm tranh giành quyền lợi ở khu vực này đã có ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc chotất cả các nước trong khu vực
Tìm hiểu về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) không chỉ là tìmhiểu về các hoạt động quân sự giữa Nhật Bản và phe Đồng Minh (trực tiếp là Mỹ),
mà còn thấy rõ một giai đọan lịch sử quan trọng của các nước Châu Á trong quátrình đấu tranh giải phóng dân tộc, trong đó có Việt Nam, cũng bị phát xít Nhậtchiếm đóng trong chiến tranh
Chiến tranh Thái Bình Dương (1941- 1945) với sự xuất hiện lần đầu tiên củabom nguyên tử đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải bàn luận: Vai trò to lớn của Mỹtrong việc đánh bại phát xít Nhật? Hay chứng tỏ sự phát triển của khoa học kĩ thuật?Hay đó là tội ác chiến tranh đáng phải lên án của đế quốc Mỹ ?
Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) kết thúc với thất bại hoàn toàncủa chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã tác động tích cực đến phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc của nhân dân Châu Á, và có ảnh hưởng trực tiếp đến lịch sử dân tộcViệt Nam với Cách mạng tháng 8/1945 _ thời cơ “ngàn năm có một” cho dân tộc tađứng lên tự giải phóng
Trang 5Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945), trong 4 năm chiến tranh nhiềubài học kinh nghiệm quý giá về cả sự thành công và thất bại được rút ra, ngày nayvẫn còn ý nghĩa đối với nhiều dân tộc.
Từ đó có thể khẳng định, chiến tranh Thái Bình Dương (1941 -1945) có liênquan đến nhiều quốc gia, là một vấn đề tế nhị của lịch sử, cho đến nay vẫn có nhiềucông trình nghiên cứu tiếp tục được tiến hành
Việc tìm hiểu về chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) còn góp phầncủng cố kiến thức, làm phong phú vốn hiểu biết của bản thân và góp phần vào phục
vụ việc dạy học sau này Đồng thời, đề tài là một tài liệu tham khảo, cung cấpnguồn kiến thức cho mọi người khi tìm hiểu về vấn đề này
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN BÙNG NỔ CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941 – 1945)
1.1 Vài nét khái quát về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945)
1.1.1 Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất trong bốn đại dương, bao phủ 1/3 bềmặt Trái Đất, với diện tích 179,7 triệu km2, trải dài 15.500 km từ biển Bering trongvùng Bắc cực đến gần biển Ross của Nam Cực, phía Đông Thái Bình Dương nằmhoàn toàn bên bờ Tây Châu Mỹ, bờ Đông Thái Bình Dương là bờ biển nước Nga,kéo xuống Đông Bắc Á, Đông Nam Á đến Châu Úc Thái Bình Dương Bao gồm25.000 hòn đảo đa số tập trung ở phía Nam xích đạo [24]
Châu Á – Thái Bình Dương là vùng rộng lớn, bất kì đế quốc tư bản nào cũngmuốn bành trướng ảnh hưởng, khai thác nguồn lợi tại đây Trong thời kì này, ởChâu Á nổi lên vai trò của Nhật Bản Nhật Bản âm mưu độc chiếm Châu Á và bờtây Thái Bình Dương thực hiện giấc mộng “Đại Đông Á” với khẩu hiệu “Châu Ácủa người Châu Á” Trong khi đó, Mỹ sau khi độc chiếm Mỹ Latinh và bờ ĐôngThái Bình Dương cũng có tham vọng vươn ảnh hưởng sang bờ Tây Thái BìnhDương, biến Thái Bình Dương thành “ao nhà”, đồng thời kiểm soát khu vực Châu
Á Anh cũng là nước có thuộc địa tại Đông Nam Á và có âm mưu mở rộng phạm viảnh hưởng ở đây
1.1.2 Các quan niệm về cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945)
Ở cả trong nước và thế giới, các nhà nghiên cứu đều đã thống nhất được thờigian kết thúc cuộc chiến tranh là năm 1945, khi phát xít Nhật đầu hàng phe ĐồngMinh Nhưng thời gian mở đầu cuộc chiến tranh thì còn nhiều bàn cãi Có quanđiểm cho rằng, từ năm 1931, khi Nhật xâm lược Mãn Châu của Trung Quốc, bắtđầu quá trình bành trướng ra bên ngoài của Nhật Bản được coi là mốc mở đầuchiến tranh Một số quan điểm khác cho rằng mốc mở đầu chiến tranh là năm 1940
Trang 7khi Nhật tấn công Đông Dương Quan điểm thứ ba cho rằng chiến tranh Thái BìnhDương bùng nổ vào năm 1941, khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ.
Trong khuôn khổ đề tài, tôi tìm hiểu về cuộc chiến tranh Thái Bình Dươngtrong thời gian từ 1941 đến 1945 Từ trước năm 1941, mặc dù hoạt động bànhtrướng của Nhật ngày càng lộ rõ và đã động chạm đến quyền lợi các nước phươngTây ở Châu Á, nhưng Mỹ, Anh chỉ làm ngơ, dung dưỡng, thỏa hiệp cho quân phiệtNhật Chiến tranh không thể diễn ra nếu không có sự tham gia từ hai phía Sự kiệnngày 7/12/1941, Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ, Mỹ lúc này mớichính thức tuyên chiến, làm xuất hiện “phía bên kia” của cuộc chiến tranh Đến đâychiến tranh Thái Bình Dương mới chính thức bùng nổ
Từ những ý kiến khác nhau về thời gian bùng nổ cuộc chiến tranh dẫn đến cónhững quan điểm khác nhau về cuộc chiến tranh này
Theo Từ điển bách khoa Quân sự Liên Xô (Mát-xcơ-va, 1986) thì cuộc chiếntranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) bao gồm toàn bộ các hoạt động quân sự giữacác lực lượng vũ trang của Nhật với Mỹ và đồng minh của Mỹ tại Châu Á – TháiBình Dương [4, tr7]
Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông “Cuộc chiến tranh Thái BìnhDương (1941 – 1945) là một bộ phận của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 –1945), nổ ra ở vùng Thái Bình Dương giữa Nhật Bản và Mỹ, Anh để tranh giànhnhau thuộc địa Chiến tranh mở đầu bằng trận Trân Châu Cảng (7/12/1941), khiNhật bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ Lúc đó quân Nhật đánh chiếm nhiều thuộc địacủa Mỹ, Anh, Hà Lan, nhưng khi chiến tranh chuyển thế thắng sang các nước ĐồngMinh thì Nhật thất bại dần và đầu hàng không điều kiện Nhân dân các nước Châu
Á – Thái Bình Dương đã đấu tranh anh dũng chống sự xâm lược của chủ nghĩaquân phiệt Nhật và việc trở lại đô hộ của Mỹ, Anh, Pháp để giành độc lập” [7, tr96].Như vậy Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) bao gồm toàn bộ cáchoạt động quân sự giữa các lực lượng vũ trang của Nhật với Mỹ, giữa Nhật với Liên
Xô và mối quan hệ giữa Nhật với các dân tộc Châu Á và cả với nhân dân Nhật Bản.Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) bao gồm hai chiến trường chính: trênbiển (Thái Bình Dương); trên đất liền (Đông Nam Á, Đông Bắc Á, Ha – oai)
Trang 8Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945) là bộ phận hợp thành chiến tranhthế giới thứ hai Cùng với mặt trận Châu Âu, mặt trận Châu Á trở thành hai mặt trậnquan trọng nhất, ác liệt nhất trong Đệ nhị thế chiến Hai mặt trận này có quan hệkhăng khít với nhau Khi chiến tranh ở mặt trận Châu Âu bùng nổ, lôi cuốn sự chú ýcủa các nước lớn về phương Tây, tạo điều kiện cho Nhật ở Châu Á bành trướng ảnhhưởng Đồng thời cả hai mặt trận cùng diễn ra là nhằm phân tán lực lượng củaHồng quân Liên Xô ra cả hai phía Khi chiến tranh ở Châu Âu kết thúc, cũng là lúcchiến tranh Thái Bình Dương bước vào giai đoạn quyết định, nắm chắc thắng lợithuộc về Hồng quân và nhân loại tiến bộ thế giới.
1.2 Hoàn cảnh lịch sử cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945)
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, chủ nghĩa phát xít đã xuất hiệntrên thế giới, điển hình là phát xít Đức, Italia (Châu Âu), Nhật Bản (Châu Á)
Đến 1937, trục phát xít được hình thành “Trục Beclin – Roma – Tokyo” bằngviệc kí Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản (11/1937, Italia là nước cuối cùng kí vàoHiệp ước)
Ngày 27/9/1940, Đức, Ý, Nhật ký Hiệp ước Tam cường Theo Hiệp ước này,Nhật “thừa nhận và tôn trọng” vai trò của Đức, Ý “trong việc thiêt lập một trật tựmới ở Châu Âu”; Đức, Ý thì “thừa nhận và tôn trọng” vai trò của Nhật “trong việcthiết lập một trật tự mới ở Châu Á” và cam kết bảo vệ nhau trong trường hợp mộttrong ba nước bị tấn công Với Hiệp ước này Đức, Ý làm mưa làm gió ở Châu Âu,Nhật thỏa sức tung hoành ở Châu Á
Chủ nghĩa phát xít – “bọn hiếu chiến nhất, phản động nhất, sô vanh nhất” – đãxuất hiện, mang bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc là xâm lược, hiếu chiến Chủnghĩa phát xít đang đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình an ninh thế giới, ráo riếtchuẩn bị chiến tranh, chia lại thế giới
Ngày 1/9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai chính thứ bùng nổ với sự kiện Đứctấn công Ba Lan
Tính đến 1941, Chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra quyết liệt ở Châu Âu,phát xít Đức lần lượt tấn công các nước Bắc Âu và Tây Âu, Pháp đã là thuộc địacủa Đức (6/1940), Anh cũng bị Đức tấn công dữ dội (8/1940) Tháng 6/1941, phát
Trang 9xít Đức tấn công Liên Xô, Liên Xô tuyên chiến với Đức Đến cuối 1941, Liên Xôgiành thắng lợi lớn tại Mát-xcơ-va làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranhchớp nhoáng” của Đức Như vậy, cả Châu Âu đã bị lôi vào cuộc chiến tranh, trongkhi đó, sau hơn 2 năm chiến tranh ác liệt thì Mỹ vẫn đứng ngoài cuộc chiến, đồngthời vẫn viện trợ quân sự hoặc bán vũ khí cho cả hai bên tham chiến.
Ở Châu Á, đã xuất hiện “lò lửa chiến tranh” Nhật Bản Đến 1941, Nhật Bản đãthực hiện bước đầu tiên trong kế hoạch bành trướng của mình, tấn công Mãn Châu(18/9/1931) và đã kéo quân vào Đông Dương (9/1940) (Kế hoạch bành trướng rabên ngoài của Nhật gồm 4 bước: 1 – đánh chiếm Mãn Châu; 2 – độc chiếm TrungQuốc; 3 – làm chủ Châu Á; 4 – bá chủ toàn cầu)
Như vậy, Chiến tranh thế giới thứ hai đã bùng nổ, nền hoàn bình an ninh thếgiới đã bị xâm phạm nghiêm trọng, chủ nghĩa phát xít bành trướng lãnh thổ và ngàycàng mở rộng chiến tranh Lúc này cần sự thống nhất và đoàn kết giữa các cườngquốc thế giới cùng chống lại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình an ninh thế giới
1.3 Nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến tranh Thái Bình Dươnng (1941 – 1945) 1.3.1 Nguyên nhân sâu xa
Trước hết là sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít Để thoát khỏi cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, một số nước tư bản đã thực hiện phát xít hóachính quyền, đi theo con đường gây chiến tranh, chia lại thế giới, điển hình là Đức,
Ý, Nhật
Ở Châu Á, Nhật Bản đã có sẵn chế độ Thiên hoàng nên quá trình phát xít diễn
ra thông qua việc quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và tiến hành chiến tranh xâmlược thuộc địa Tháng 9/1931, Nhật Bản đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc,làm bàn đạp cho cuộc phiêu lưu quân sự mới Năm 1933, Nhật Bản dựng lên chínhphủ bù nhìn, đưa Phổ Nghi - hoàng đế cuối cùng Trung Quốc - lên đứng đầu cái gọi
là “Mãn Châu quốc” Sự kiện Mãn Châu chính là ngòi lửa cuộc chiến tranh xâmlược Trung Quốc với quy mô ngày càng rộng lớn, đánh dấu Nhật Bản trở thành “lòlửa chiến tranh” ở Châu Á và trên thế giới
Thứ hai là nhằm giải quyết mâu thuẫn còn tồn đọng sau chiến tranh thế giớithứ nhất (1914 – 1918) “Chiến tranh Thái Bình Dương cùng chung nguyên nhân
Trang 10với cuộc chiến tranh thế giớ thứ hai Đó là giải quyêt mâu thuẫn giữa các cườngquốc còn tồn đọng từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất Tại Châu Á, mâu thuẫn đóthể hiện bằng sự chanh chấp ngày càng quyết liệt giữa Nhật Bản và các đế quốcphương Tây mà trước hết là Mỹ về thuộc địa, thị trường và quyền kiểm soát kinh tế,chính trị đối với các dân tộc trong khu vực Mâu thuẫn đó sâu sắc tới mức vượt qua
cả mâu thuẫn giữa Nhật Bản (thế giới tư bản nói chung) với Liên Xô mà họ luôn tìmcách bóp chết”[4, tr7]
Thứ ba là mâu thuẫn Nhật - Mỹ ở Châu Á Mâu thuẫn này xuất hiện từ đầu thế
kỉ XX tại Hội nghị Oa-sinh-tơn (1921) với hệ thống các hiệp ước:
Theo “Hiệp ước 4 nước” bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nhật (13/12/1921), Mỹ đãthủ tiêu được Liên minh Anh – Nhật (1902), đồng thời trở thành nước đóng vai tròchủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương
Với “Hiệp ước 9 nước” bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Ý, Bỉ, Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Trung Quốc (6/2/1922) Trung Quốc trở thành thị trường chung của các nướcphương Tây và Nhật Bản Đặc biệt, Mỹ đã hợp pháp hóa sự bành trướng của mìnhvào Trung Quốc
Đặc biệt với “Hiệp ước 5 nước” bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Ý, (6/2/1922)quy định về trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dương theo tỉ lệ:Anh, Mỹ bằng nhau 525.000 tấn; Nhật 315.000 tấn; Pháp, Ý bằng nhau 175.000 tấn,
đã hạn chế sức mạnh hải quân Nhật Bản
Hệ thống Hiệp ước Oa-sinh-tơn hoàn toàn có lợi cho Mỹ, hải quân Mỹ nganghàng với hải quân Anh và vượt qua Nhật Mỹ còn thực hiện được việc xâm nhậpvào thị trường Viễn Đông và Trung Quốc thông qua các chính sách “mở cửa” Nhậtcũng bị suy giảm quyền lực trên biển đồng thời phải chấp nhận nhượng bộ trongvấn đề Trung Quốc
Như vậy, với hệ thống hòa ước Oa-sinh-tơn , Mỹ đã có quyền lợi tại Thái BìnhDương và Trung Quốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Nhật Bản, đe dọagiấc mộng “Đại Đông Á”, “Châu Á của người Châu Á” của Nhật Bản Hội nghịOasinhtơn là một thất bại của Nhật Bản trong cuộc cạnh tranh với đế quốc Mỹnhằm giành quyền bá chủ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 11Cuối cùng là thái độ dung dưỡng, nhân nhượng của các cường quốc (Anh,Pháp, Mỹ) làm cho chủ nghĩa phát xít có điều kiện đẩy mạnh và mở rộng chiếntranh Trong khi chủ nghĩa phát xít ngày càng đẩy mạnh chiến tranh thì các nướcphương Tây và Liên Xô lại không thống nhất được đường lối hành động chung.Các nước tư bản Anh, Pháp tỏ thái độ dung dưỡng, thỏa hiệp, nhân nhượngphát xít để đổi lấy hòa bình, đỉnh cao của chính sách này là Hiệp ước Muy – ních(19/9/1938), tạo điều kiện cho Đức tấn công Ba Lan (1/9/1939), làm bùng nổ chiếntranh thế giới thứ hai (1939 – 1945).
Mỹ theo “chủ nghĩa biệt lập”, không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài Châu
Mỹ Nhưng thực tế Mỹ vẫn bán vũ khí cho hai bên tham chiến hoặc trực tiếp việntrợ cho chủ nghĩa phát xít Mỹ không muốn tham chiến ngay từ đầu mà thực hiệnthủ đoạn “tọa sơn quan hổ đấu”, đến khi chiến tranh bước vào giai đoạn cuối, dùbên nào thắng trận cũng nhảy vào ủng hộ bên đó, dù sao Mỹ cũng được lợi Ở Châu
Á, Mỹ không những nhượng bộ cho phát xít Nhật mà còn viện trợ quân sự choNhật “…Cho tới lúc này, chính phủ Mỹ vẫn không hề có thái độ kiên quyết đối vớihành động xâm lược của Nhật Bản Năm 1940, Mỹ vẫn tiếp tục giúp Nhật tăngcường tiềm lực kinh tế và quân sự của nó Gang, thép, xăng dầu, động cơ máy bay,
ô tô và các phụ tùng thay thế của Mỹ vẫn tiếp tục được nhập vào Nhật với số lượngngày càng nhiều…” [13, tr12]
Liên Xô nhà nước xã hội chủ nghĩa duy nhất thế giới đã cố gắng hết sức nhằmngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình an ninh Châu Âu và toàn thế giới Chínhphủ Liên Xô khẩn thiết đề nghị các cường quốc tiến hành các thảo luận ở trong vàngoài tổ chức Hội quốc liên để có những biện pháp kiên quyết ngăn chặn chiếntranh xâm lược, cùng nhau gìn giữ hòa bình Chính phủ Liên Xô đã nhiều lần đềnghị với các cường quốc Anh, Mỹ, Pháp cùng thảo luận với Liên Xô về những biệnpháp thống nhất hành động ngăn chặn chiến tranh nhưng các chính phủ phương Tâyvẫn một mực từ chối đề nghị quan trọng của Liên Xô
Như vậy, với bản chất của chủ nghĩa đế quốc là tiêu diệt mọi đối thủ cạnhtranh nhưng lại tránh đụng độ trực tiếp với kẻ thù, các nước đế quốc đã nhânnhượng chủ nghĩa phát xít, mượn tay phát xít tiêu diệt đối thủ (tức các nước đế
Trang 12quốc) Đồng thời, kẻ thù của chủ nghĩa đế quốc còn là nhà nước Liên Xô xã hộichủ nghĩa, mọi hành động của các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ đều nhằm hướng
sự tấn công của chủ nghĩa phát xít vào Liên Xô, tiêu diệt nhà nước xã hội chủnghĩa đầu tiên
1.3.2 Nguyên nhân trực tiếp
Mâu thuẫn giữa Nhật Bản với Mỹ nảy sinh từ đầu thế kỉ XX với hệ thống Hiệpước Oa-sinh-tơn, đến cuối thập niên 30 (thế kỉ XX) mâu thuẫn nay càng trở nên sâusắc do âm mưu của Nhật muốn độc chiếm Trung Quốc, gạt bỏ quyền lợi của Mỹ,Anh, bá chủ Thái Bình Dương và Viễn Đông Đặc biệt mâu thuẫn trực tiếp giữaNhật với Mỹ từ khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939) về thuộc địa, thịtrường và quyền kiểm soát kinh tế, chính trị đối cới các dân tộc trong khu vực Châu
Á, với sự kiện Nhật đưa quân xuống miền Nam Đông Dương đưa đến lệnh cấm vậndầu mỏ của Mỹ đối với Nhật (7/1941) Đó là nguyên nhân trực tiếp đưa đến cuộcChiến tranh Thái Bình Dương
Vào tháng 6/1940, khi chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức tại chính quốc,nhân cơ hội đó, Nhật tiến quân vào Bắc Đông Dương (9/1940).Tháng 9/1940,Nhật, Đức, Ý kí “Hiệp ước Tam cường” có nội dung công nhận địa vị của Nhật ởChâu Á và cam kết bảo vệ nhau trong trường hợp một trong ba nước bị tấn công.Việc Nhật Bản bành trướng xâm lược Châu Á làm cho mối quan hệ của họ với Mỹ,Anh ngày càng xấu đi
Tháng 7/1940, Hoa Kì tuyên bố hủy bỏ điều ước thông thương Nhật – Mỹ, hạnchế xuất khẩu nhiên liệu xăng máy bay cho Nhật
Khi Đức tấn công Liên Xô (6/1941) có yêu cầu Nhật cùng đem quân tiêu diệtLiên Xô, nhưng giới cầm quyền Nhật đã quyết định tôn trọng Hiệp ước Trung lậpNhật – Xô (13/4/1941), không đem quân giúp Đức mà vẫn tiếp tục thực hiện chủtrương “Nam tiến”
Cuối tháng 7/1941, ngay sau khi tiến xuống miền Nam Đông Dương chiếmđóng các căn cứ quân sự tại đây, Hoa Kì lập tức có phản ứng Ngày 26/7/1941, Hoa
Kì tuyên bố phong tỏa tài sản Nhật tại nước này, cấm xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật
Trang 13Tiếp đó, Anh hủy bỏ Hiệp ước Thông thương Nhật - Ấn Độ và Miến Điện Hà Lancũng ra lệnh cấm xuất khẩu dầu hỏa và bô-xít sang Nhật.
Những quyết định này của các nước phương Tây có ảnh hưởng quyết định đến
bộ máy chiến tranh Nhật Bản Theo tính toán của Bộ tư lệnh Hải quân, lượng dầu
mỏ dự trữ của Nhật chỉ đủ dùng trong hai năm và nếu không có cách giải quyết vấn
đề này thì hải quân Nhật sớm muộn cũng bị tê liệt Trong tình thế đó, Nhật muốnthương lượng với Hoa Kì bằng cách đề nghị một Tạm ước với nội dung: Hoa kì vàNhật sẽ không sử dụng vũ lực tại Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương; Hai bên
sẽ cùng nhau khai thác các dự trữ tự nhiên ở Inđônêxia; Quan hệ Mỹ – Nhật sẽ đượckhôi phục, trong đó Hoa Kì phải tiếp tục xuất khẩu dầu hỏa sang Nhật, hủy bỏphong tỏa tài sản của Nhật và không can thiệp vào việc Trung Quốc Phía Nhật còn
bổ xung thêm rằng sau khi kí Hiệp ước Hòa bình Trung – Nhật, quân đội Nhật sẽrút khỏi Đông Dương Tổng thống Rudơven có thiện cảm với đề nghị này, nhưngngoại trưởng Mỹ Coocđen - Hen lại cực lực phản đối Do lập trường hai bên quákhác nhau, đàm phán giữa Nhật và Hoa Kì đổ vỡ
Trong hoàn cảnh đó, mục tiêu của hải quân Nhật là chiếm đóng Inđônêxia –khu vực có nhiều dầu mỏ nhất Đông Nam Á Nhưng muốn chiếm được Inđônêxiaphải chiếm được Singapo và Philippin Tuy nhiên, nhận thức được về tiềm lực yếukém của mình không thể thắng Mỹ nhưng người Nhật hi vọng một cuộc chiến lâudài sẽ làm suy yếu ý chí chiến đấu của người dân Mỹ
Tại Hội nghị Ngự tiền 1/12/1941, Nhật quyết định chính thức tuyên chiến vớiHoa Kì và ngày giờ khai chiến được ấn định là ngày 8/12 (giờ Tokyo)
Tiểu kết
Với bản chất hiếu chiến,phản động, sôvanh, chủ nghĩa phát xít – bộ phân củachủ nghĩa đế quốc đã gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc với toàn nhân loại Ởkhu vực Châu Á – Thái Bình Dương là cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1939 –1945), mà phát xít nhật là kẻ chủ mưu, việc Mỹ tuyên bố cấm xuất khẩu dầu mỏsang Nhật được xem là “giọt nước tràn ly” dẫn đến bùng nổ cuộc chiến tranh này.Cuộc chiến tranh phản ánh mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ phe tư bản chủ nghĩa vềnhu cầu thuộc địa, chiến tranh là điều không thể tránh khỏi
Trang 14Chương 2 DIỄN BIẾN CHÍNH CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1941 – 1945)
2.1 Giai đoạn 1: Chiến tranh bùng nổ Phát xít Nhật thôn tính các nước Châu Á – Thái Bình Dương (12/1941 – 5/1942)
2.1.1 Trận Trân Châu Cảng và chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ (7/12/1941)
Kế hoạch tấn công Trân Châu Cảng của Nhật
Tác giả của kế hoạch tấn công tiêu diệt hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng là Thủy
sư đô đốc Yamamoto Isoroku, 57 tuổi và đã 40 năm tận tâm phục vụ hải quânHoàng gia Nhật (tính đến 1941) Khó có thể nói chính xác kế hoạch này nảy sinhtrong đầu Yamamoto từ lúc nào, song có thể khẳng định nó có nguồn gốc từ chiếnthuật của hải quân Nhật trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905)
Ngày 7/1/1941, Yamamoto đệ trình Bộ trưởng hải quân lúc bấy giờ là KoshiroOikwa một bản báo cáo 9 trang với tựa đề “Dự kiến về việc chuẩn bị chiến tranh”,trong đó lần đầu tiên chính thức lập luận về một trận đột kích vào Trân Châu Cảng.Tháng 4/1941, kế hoạch của Yamamoto chính thức được mang mật danh là
“Chiến dịch Z” để kỉ niệm một hiệu lệnh mà đô đốc Togo Heihachiro đã sử dụngtrong trận hải chiến Tsushima (Đối Mã) đánh chìm hạm đội Nga hoàng
Trong cuộc diễn tập, chiến dịch bộc lộ nhiều hạn chế Qua nhiều tranh cãi kéodài và gay gắt giữa những người ủng hộ và phản đối “chiến dịch Z”, cuối cùng nóvẫn được phê chuẩn
Ngày 3/11/1941, Tổng tham mưu trưởng hải quân, đô đốc Ashami Nagumophê chuẩn lần cuối cùng “chiến dịch Z” và đệ trình chính phủ Cuộc tấn công TrânChâu Cảng chính thức trở thành một bộ phận trọng yếu trong toàn bộ chiến tranhcủa Nhật Bản Thời điểm bắt đầu chiến dịch này được coi là mốc mở đầu chiếntranh Thái Bình Dương do Nhật phát động: ngày 8/12 (giờ Tokyo) tức ngày 7/12(giờ Ha – oai ) Tư lệnh chiến dịch, dĩ nhiên chính là tác giả của nó, đô đốcYamamoto Isoroku – Tư lệnh hạm đội Liên hợp và Phó đô đốc Nagumo Chuichi –
Trang 15Tư lệnh hạm đội hàng không số 1, được cử làm Tư lệnh lực lượng tấn công TrânChâu Cảng tức “Kido Butai” hay “lực lượng đặc nhiệm Z” mà hạm đội của ông làhạt nhân nòng cốt
6 giờ sáng, ngày 26/11, toàn bộ lực lượng đặc nhiệm Z đã nhổ neo bước vàocuộc chiến Rời vịnh Hitokapu lạnh lẽo, đoàn tàu tiến về phía Đông, băng qua vùngBắc Thái Bình Dương trong mùa đông giá buốt, ngày đi không khói, đêm khôngánh đèn Để đảm bảo bí mật, đoàn tàu được lệnh đánh chìm mọi tàu bè của các nướctrung lập mà nó gặp Nếu gặp tàu Mỹ trước ngày 6/12 thì hủy bỏ cuộc hành quânquay trở về; trong ngày 6/12 thì tùy theo tình hình mà có quyết định thích hợp; còntrong ngày 7/12 thì tấn công tiêu diệt trong bất cứ tình huống nào May mắn thay,đúng như kế hoạch dự tính, trong suốt cuộc hành trình hơn 10 ngày “Kido Butai”không gặp một tàu bè nào khác trên đường đi Trong khi đó, mỗi ngày nó đều nhậnđược những tin tức tình báo về tình hình Trân Châu Cảng và những chỉ thị cần thiếtcủa Tư lệnh chiến dịch đô đốc Yamamoto… [4, tr25]
Mục tiêu của Nhật trong trận Trân Châu Cảng
Với một kế hoạch tấn công bí mật, bất ngờ, được chuẩn bị kĩ lưỡng và huyđộng một lực lượng lớn, giới quân phiệt Nhật hi vọng ở Trân Châu Cảng nhiềuđiều Trước tiên, người Nhật hi vọng nó sẽ tiêu diệt các đơn vị của hạm đội Hoa Kì
và do đó ngăn cản hạm đội Thái Bình Dương can thiệp vào việc Nhật chinh phụcĐông Ấn
Kế tiếp, đó là cách người Nhật tranh thủ thời gian để củng cố vị thế của họ vàtăng cường sức mạnh hải quân trước khi các tàu chiến mới của Hoa Kỳ được chếtạo theo Đạo luật Vinson – Walsh sẽ xóa tan mọi cơ hội chiến thắng
Cuối cùng, nó được trù tính sẽ là một đòn giáng vào tinh thần của người Mỹ,
có thể gây nản lòng dân chúng Mỹ, cho phép Nhật tiếp tục chinh phục Đông Nam Á
mà không bị can thiệp
Như vậy, mục tiêu của Nhật ở Ha-oai là lực lượng quân sự, các mục tiêuquân sự của Mỹ nhằm làm giảm sức mạnh quân sự của Mỹ, hoàn toàn không nhằmvào các điểm dân sự và không có ý đồ chiếm đất Yamamoto tác giả kế hoạch tấncông Trân Châu Cảng vạch rõ rằng “mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng
Trang 16địch chứ không phải là chiếm đất Chiếm đóng quần đảo có nghĩa là mở thêm mộtchiến trường mới, làm phân tán lực lượng vốn cần phải được tập trung vào chiếntrường chính ở Đông Nam Á” [4, tr21] Thời điểm khai chiến được ấn định vàosáng sớm ngày 8/12/1941 (giờ Tôkyô) tức ngày 7/12/1941 (giờ Ha-oai), vào mộtngày chủ nhật, khi mà mọi công việc đều được hoãn lại, dành thời gian cho ngàynghỉ cuối tuần Và khi đó, cuộc đàm phán Nhật – Mĩ tại Oa sinh tơn vẫn còn đangtiếp diễn Đồng thời, theo nguồn tin tình báo của Nhật tại Ha-Oai thì “ngày chủ nhậtnào đô đốc Kimmel cũng đem cả hạm đội vào quân cảng” [6, tr35] Đó là điều kiệnthuận lợi cho Nhật tấn công, thực hiện mục tiêu đề ra của trận đánh.
Trận tập kích của Nhật vào Trân Châu Cảng (7/12/1941)
Để thực hiện kế hoạch “Bắc tiến”, Nhật đã chọn tấn công vào nước Mĩ, mụctiêu là cảng Trân Châu trên quần đảo Ha-oai
Trân Châu Cảng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Mĩ
Quần đảo Ha-oai của Mỹ ở giữa Thái Bình Dương là một chuỗi đảo dài nốitiếp nhau theo hướng từ Tây-Tây Bắc sang Đông-Đông Nam, có tổng diện tích gần17.000 km2 với khoảng nửa triệu người (ở thập kỉ 40) Lớn nhất là đảo Ha-oai (trên10.000 km2) nằm ở cực Nam quần đảo, nhưng quan trọng nhất là đảo Oahu với diệntích gần 1.500 km2, nằm cách Ha-oai khoảng 140 dặm về phía Tây Bắc Trên bờbiển phía Nam đảo Oahu có thành phố Honolulu (có khoảng 200.000 dân) thủ phủcủa cả quần đảo Cũng trên bờ biển phía Nam đảo, cách Honolulu về phía Tâychừng 6 dặm là Trân Châu Cảng, căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa
Kì (từ 1940) Dựng trên một vịnh biển ăn sâu vào đất liền của đảo rồi lại chia thànhnhiều vụng biển và luồng lạch kín đáo, lại có một cù lao ở giữa vịnh được gọi là
“đảo Ford” như một cầu tàu thiên nhiên Trân Châu Cảng có điều kiện tự nhiên kýtưởng để bảo vệ Hạm đội chống lại mọi sự tấn công từ bên ngoài Việc bố phòng ởcảng hết sức cẩn mật với một hệ thống lưới thép đặc biệt chống ngư lôi và tàungầm Ngoài Trân Châu Cảng Hạm đội còn có một căn cứ khác là cảng Lahainatrên đảo Maui, một đảo nằm ở khoảng giữa Oahu và Ha-oai
Nằm ở tọa độ 21o20’38” B, 157o58’30” T trên đảo Oahu, hòn đảo lớn thứ ba củanhóm đảo phía Tây đảo Ha-oai, Trân Châu Cảng có vị trí chiến lược quan trọng đối
Trang 17với toàn bộ vùng Bắc Thái Bình Dương Với khoảng cách tương ứng với một tầnbay tối đa của các “pháo đài bay” B17 từ Oahu đến bờ biển phía Tây Hoa Kì, TrânChâu Cảng có thể trở thành căn cứ triển khai các hoạt động không quân oanh tạc ởTây Thái Bình Dương Vai trò, vị trí của Trân Châu Cảng đối với hải quân còn quantrọng hơn Do vị trí gần như ở giữa vùng Bắc Thái Bình Dương, Trân Châu Cảngvừa là căn cứ chỉ huy, căn cứ hậu cần, là cơ sở bảo dưỡng sửa chữa các chiến hạmcủa hạm đội Thái Bình Dương Từ căn cứ này, hạm đội Thái Bình Dương có thểtung sức mạnh của họ khống chế vùng biển này
Nếu như với Hoa Kì, Trân Châu Cảng và Midway là hai bàn đạp quan trọngnối tiếp nhau để vươn ảnh hưởng sang lục địa Châu Á thì đối với Nhật Bản, TrânChâu Cảng là bàn đạp để tiến đến Hoa Kì và toàn bộ lục địa Bắc Mỹ
Trân Châu Cảng là nơi tập trung đông lực lượng quân sự của Mỹ, “chủ lựchạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tập trung ở căn cứ Trân Châu Cảng nhằm gâysức ép với Nhật trong quá trình đàm phán Nhật – Mỹ, nhưng đối với Nhật đó là một
cơ hội tốt để chỉ bằng một cuộc tấn công có thể đập nát chủ lực hạm đội Mỹ ở TháiBình Dương” [12, tr93]
Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kì thực sự là hạm đội mạnh nhất thế giớilúc bấy giờ với khoảng 170 hạm tàu các loại mà lực lượng chủ yếu là 4 tàu sân bay,
11 thiết giáp hạm, và hàng chục tuần dương hạm Toàn bộ lực lượng đồ sộ ấy đượcđặt dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Husbanb Kimmel - Tư lệnh hạm đội (từ2/1941) Bảo vệ hạm đội và toàn bộ quần đảo, có một lực lượng lục quân gần43.000 binh lính và sĩ quan, trong đó 35.000 đóng tại Oahu Lực lượng này đượctrang bị vũ khí rất hiện đại Trên đảo Oahu có 5 sân bay, quan trọng nhất là sân bayHickam ở ngay gần Trân Châu Cảng và sân bay Wheeler ở phía Bắc đảo
Từ tháng 4 – 5/1941, Hoa Kì thực hiện các cuộc di chuyển lực lượng từ hạmđội Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương và các đảo khác Đến ngày 7/12/1941,tại Trân Châu Cảng chỉ còn hơn một nửa lực lượng của hạm đội Thái Bình Dương,nhưng nó vẫn là một lực lượng rất hùng hậu với 8 thiết giáp hạm, 8 tàu tuần dương,
30 tàu khu trục, 4 tàu ngầm, 49 tàu khác và 390 máy bay các loại (riêng máy bay
Trang 18quân sự lục quân là 233 chiếc, trong đó có 150 chiến đấu cơ, 35 pháo đài bay hiệnđại B17)
Nhật chọn tấn công vào Trân Châu Cảng là vì mục tiêu này nằm ngoài dự định
và hoàn toàn bất ngờ với Mỹ Cho đến ngày 6/12/1941 (giờ Oa-sinh-tơn) các hoạtđộng chuẩn bị cho chiến tranh của Nhật đang dần hoàn tất thì Hoa Kì vẫn khônghay biết gì hoặc đã phát hiện ra hoạt động của quân Nhật nhưng không biết sẽ tấncông vào đâu và càng không bao giờ nghĩ Nhật dám gây chiến tranh với Mỹ
Oa-sinh-tơn cho rằng “Họ đi đánh người Anh, họ chưa chuẩn bị để đụng đầuvới chúng ta đâu” [4, tr11]
Tại Thượng Hải: “Trong các tô giới của Anh và Pháp, quân trú phòng … biếtrằng mình đang nằm giữa lòng quân Nhật như một ốc đảo, nếu chiến tranh xảy rathì chỉ có chết hoặc trở thành tù binh mà thôi” [4, tr13]
Tại Hồng Công: “Tin tức về hạm đội Nhật rời Hải Nam cho mọi người biết:Tử thần sắp gõ cửa!” [4, tr13]
Như vậy, từ Oa-sinh-tơn đến Thượng Hải mọi người đều cầm chắc Nhật sẽtiến công nhưng thời điểm và mục tiêu bị tấn công vẫn còn là ẩn số “Căn cứ vàocách bố trí và sử dụng lục quân và hải quân của Nhật hiện tại, có thể thấy rằng sẽkhông có bất kỳ một hành động nào của Nhật nhằm đánh vào Trân Châu Cảng trongtương lai gần nhất và nói chung cũng không có kế hoạch đó trong tương lai…Chính phủ Mỹ cho rằng Nhật sẽ không dám đánh Mỹ chừng nào mà Mỹ không chủđộng tấn Nhật trước” [4, tr27] Ngay cả Tổng thống Rudơven cũng cho rằng “NhậtBản sẽ không dám tấn công Mỹ, những hoạt động của quân Nhật chỉ nhằm nghibinh để chuẩn bị cho cuộc tấn công Liên Xô” [12, tr92]
Với kế hoạch tấn công được chuẩn bị từ sớm, đảm bảo mọi điều kiện chothắng lợi, Nhật đã huy động một lực lượng khá mạnh Lực lượng hai bên thamchiến tại cảng Trân Châu ngày 7/12/1941 được ghi trong bảng 1
Trang 19Bảng 1: So sánh tương quan lực lượng hai bên trong trận Trân Châu Cảng
Nguồn http://www.google.com
Lực lượng
8 tàu tuần dương 2 tàu tuần dương hạng nặng
5 tàu ngầm bỏ túi1
8 tàu dầu
414 máy bayChỉ huy
Đô đốc Husband Kimmel
Đô đốc Watter Short
Đô đốc Yamamoto Isoroku
Đô đốc Nagumo Chuichi
Vào 5 giờ sáng, ngày 7/12/1941, toàn bộ hạm đội đặc nhiệm Nhật Bản đã đượctập kết ở một nơi cách Trân Châu Cảng 200 hải lý Lúc 5 giờ 30 phút, hai máy baytrinh sát cất cánh từ hai tuần dương hạm Nhật Bản Chikumê và Tônê, bay lượn haivòng trên Trân Châu Cảng nhưng không bị phát hiện Hai máy bay trinh sát này đãđiện về kì hạm của Phó đô đốc Nagumo những tin tức về các vị trí chính xác củacác tàu chiến Mỹ đang đỗ tại Trân Châu Cảng Mọi thứ đã chuẩn bị hoàn tất, máybay đã sẵn sàng Hạm trưởng ra lệnh bằng cách hất hàm cho sĩ quan trực Ngọn cờ
đỏ với hình tam giác với một vòng tròn trắng ở giữa được kéo lên cột buồm, cónghĩa: “Chuẩn bị cất cánh” Đúng 6 giờ 20, lá cờ này buông rơi xuống: “Cất cánh”.Chỉ trong khoảng khắc trong tiếng gầm rú kinh khủng, 183 máy bay chiến đấu theotrình tự định sẵn lao vút lên bầu trời theo đội hình chữ “V” Đúng 7 giờ 15 phút, các
1 Tàu ngầm bỏ túi: là loại tầu ngầm chỉ có hai người trong tàu, lúc tấn công địch bản thân tàu có thể tự nổ như một quả thủy lội khổng lồ.
Trang 20máy bay của đợt tấn công thứ hai do Trung tá Shigekazu Shimaakazi chỉ huy cấtcánh: 36 chiến đấu cơ, 54 máy bay ném bom độ cao, 78 máy bay ném bom bổ nhào,tổng cộng là 168 chiếc Đồng thời 29 tàu ngầm Nhật đi theo một hướng khác cũng
đã đến gần Trân Châu Cảng nhằm chặn đánh những tàu chiến Mỹ nào còn “sốngsót” tìm cách chạy thoát ra ngoài biển cả
Như vậy, trong buổi sáng 7/12 Nhật thực hiện hai đợt tấn công vào TrânChâu Cảng
Đúng 7 giờ 15 phút, chủ nhật, ngày 7/12/1941 (giờ Ha – oai), trái bom đầu tiênrơi xuống Trân Châu Cảng Đợt tiến công thứ nhất bắt đầu
Lực lượng của Nhật đã hành động theo đúng dự kiến: 40 máy bay phóng ngưlôi của Trung tá Shigehanl Murata hạ thấp xuống lượn về Trân Châu Cảng để giángđòn đầu tiên; 49 máy bay ném bom độ cao do chính Tư lệnh hành quân, Trung táMitsuo Fuchida chỉ huy bắt đầu triển khai theo hướng đó để sẵn sàng nhập cuộc.Đoàn máy bay ném bom bổ nhào tách làm hai toán và vọt lên cao chờ giáng đòntiếp theo trên các sân bay ở Trân Châu Cảng: 25 chiếc của Trung tá Akira Sakamotođến ngay sân bay Wheeler; 26 chiếc do Trung tá Kakuichi Takahashi chỉ huy thìđến Trân Châu Cảng và sân bay Hickam gần đó Ngoài ra còn có sự yểm trợ 43chiến đấu cơ do Trung tá Shigeru Itaya chỉ huy
Cuộc tấn của Nhật Bản đã bắt đầu, Mỹ hoàn toàn bị động, bất ngờ Các hoạtđộng cho ngày nghỉ cuối tuần trên quần đảo vẫn diễn ra bình thường
Ngay khi trái bom đầu tiên rơi xuống Trân Châu Cảng cũng là lúc “thủy binhtrên tất cả các hạm tàu ở Trân Châu Cảng mặc lễ phục trắng tập hợp chỉnh tề trênboong tàu để làm lễ chào cờ vào lúc 8 giờ Trừ những người đang ca trực, các sĩquan được miễn thủ tục này vẫn đang ăn sáng hoặc còn đang ngủ …” [4, tr30]
“Đa số các quân nhân khác đều còn đang ngủ trong phòng lính … Trong khugia binh, mọi người còn đang mặc áo ngủ hay áo tắm … Trong phòng ăn sĩ quan,hai Trung úy George Whelch và Kenneth Taylor vội ngừng tranh luận về lợi ích củabơi lội và giấc ngủ …” [19, tr124]
“Một số sĩ quan và thủy quân Mỹ ở lại trên các tàu chiến, cũng như các sĩquan và thủy quân Mỹ ở lại trên bờ cùng các sĩ quan binh lính, không quân, lục
Trang 21quân Mỹ khác trên đảo Oahu, tất cả đều còn nằm trên giường ngủ, trong khi cácmáy bay Nhật đang bổ nhào trút bom xuống đầu họ Không một khẩu súng cao xạnào trên đảo Oahu bắn trả Không một máy bay chiến đấu nào của Mỹ kịp cấtcánh” [1, tr280].
Bị tấn công quá bất ngờ, Mỹ không có bất kì sự chuẩn bị nào, hầu như khôngdiễn ra sự chống trả, “rải rác chỗ này chỗ kia đang chuẩn bị khai hỏa nhưng với sốlượng rất ít ỏi” và bị thiệt hại nặng nề
“Tám phút sau khi quả ngư lôi đầu tiên đánh trúng, thiết giáp hạm Oklahoma
đã bị lật nhào Hơn 400 sĩ quan và thủy thủ mắc kẹt bên trong chết chìm cùng vớitàu … Từ vòng thứ hai, các máy bay phóng ngư lôi Nhật đã tập trung vào chiếcWest Virginia nằm bên ngoài che chở cho chiếc Tennessee Trong giây lát, thiếtgiáp hạm West Virginia bốc cháy và chìm xuống biển khi vẫn giữ thăng bằng Tiếptheo đó, thêm một loạt bom và ngư lôi đánh trúng chiếc California khiến nó bốccháy dữ dội và chìm tại chỗ, chỉ còn nhô mấy cột buồm lên khỏi mặt nước ChiếcArizona bị ngư lôi đánh hụt, nhưng các máy bay ném bom độ cao đã rót trúng nó 5trái bom cùng một lúc Một trong năm trái bom chui vào ống khói xuống bên dưới
nổ ngay ở hầm chứa đạn Chiếc tàu phát nổ long trời lở đất với một cột khói và lửacao 300 m rồi gãy làm đôi trong 9 phút Cả hai phần tàu chúi xuống biển rồi từ từchìm dần, làm 1.102 người chết theo tàu … Giống như chiếc Maryland đã bịthương sau khi chiếc Oklahoma đậu bên ngoài nó bị đánh chìm, chiếc Tennesseebắt đầu bị trúng bom và ngư lôi khi chiếc West Virginia không còn đứng bên đểche chở cho nó nữa” [4, tr33] Từ trên không nhìn xuống, nhiều phi công Nhật lầmtưởng chiếc Utah là một tàu sân bay, khoảng nửa tá máy bay Nhật đã lao vào tấncông liên tục chiếc tàu bia không có vũ khí tự vệ này Bom và ngư lôi trút xuốngnhư mưa rào, lúc 8 giờ 12 phút, chiếc Utah bị lật úp Trên mặt nước, hàng ngànngười bơi khỏi các tàu đang cháy, định vào bờ đảo Ford nhưng mặt nước bị ngậpdầu dày hơn ba phân, bắt cháy như một biển lửa Phần đông những người nhảyxuống nước đều bị cháy
Chiếc Utah vốn là một thiết giáp hạm đã 33 năm đi biển, nay được tháo bỏ mọi vũ khí để trở thành tàu bia dành cho huấn luyện.
Trang 22Các binh lính, sĩ quan và người dân Mỹ trên Ha-oai chưa kịp hết ngạc nhiên vìđợt tấn công lần thứ nhất đầy “bất ngờ” của Nhật, thì Nhật đã tiếp tục thực hiện đợttấn công lần thứ hai.
Đúng 8 giờ 55 phút, máy bay Nhật bắt đầu thả bom xuống Oahu Lực lượngcủa đợt tấn công thứ hai này bao gồm 168 máy bay do Trung tá ShizekakuShimazaki chỉ huy, với sự yểm trợ của 36 chiến đấu cơ, 54 máy bay ném bom đọcao hướng tới các sân bay và 78 máy bay ném bom bổ nhào do Trung tá TakashigeEgusa chỉ huy, ập đến Trân Châu Cảng
Trong đợt hai này, Mỹ cũng đã có sự chủ động hơn, chuẩn bị chống trả, songkhông gây thiệt hại đáng kể cho Nhật Từ các sân bay, người ta dùng bất cứ loại vũkhí nào kiếm được để bắn lên trời, từ súng máy, súng trường cho đến cả súng lục,thậm chí “cầm cả mỏ lết liệng về máy bay” Hỏa lực chủ yếu dựa vào hơn 80 khẩupháo phòng không cỡ 30 inch , 20 pháo phòng không 37mm và hơn 100 súng máy
cỡ lớn Hỏa lực quả là đáng sợ nhưng vì thiếu tổ chức, phối hợp nên không gây thiệthại đáng kể cho Nhật
Trong đợt 2 này, Mỹ tiếp tục bị thiệt hại nặng nề Số phận các sân bay ở Ha –oai không có gì sáng sủa hơn các thiết giáp hạm, “chỉ trong ít phút đầu, các căn cứkhông quân của lục quân là Wheeler Hickam, Bellows cũng như các căn cứ khôngquan của hải quân ở Kaneohe, đảo Ford và sân bay Ewa … đều bị tàn phá khủngphiếp … Thêm ba tàu tuần dương hạng nhẹ Helena, Honolulu và Relei bị đánhtrọng thương, còn khu trục hạm Show bốc cháy …, thiết giáp hạm Pennsylvania bịthương không nặng lắm, Neveda bị thương…” [4, tr37]
Đúng 9 giờ 45 phút, Mitsuo Fuchida ra lệnh cho tất cả máy bay Nhật quy tụ vềmũi đất Kanea để quay về hạm đội, kết thúc cuộc tấn công
Trân Châu Cảng đã mở đầu cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương giữa Nhật
Mỹ và Đồng Minh, một cuộc chiến tranh ác liệt, tàn khốc tại khu vực Châu Á –Thái Bình Dương Với chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, chiến tranh thế giớithứ hai đã lan rộng ra toàn thế giới, lôi cuốn tất cả các nước vào vòng khói lửa
Trong khi mọi người đang phá cửa hầm đạn, Thượng sĩ Thomas Donahue vì quá sốt ruột đã dùng cả mỏ lết
Trang 23Trong ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh, Mỹ bị tấn công bất ngờ và bị thiệthại nặng nề, Mỹ buộc phải tuyên chiến, tham gia chiến tranh Trong khi đó, Nhậtchỉ phải chịu sự hi sinh khiêm tốn (xem bảng 2)
Bảng 2: Thiệt hại hai bên tham chiến trong trận Trân Châu Cảng
Máy bay: 188 bị tiêu diệt
Số người thiệt mạng: 2.345 quân nhân,
Trận Trân Châu Cảng là trận đánh có ý nghĩa chiến lược to lớn Thắng lợiquan trọng của Nhật Bản trong trận Trân Châu Cảng là loại khỏi vòng chiến đấuhạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong một thời gian, tạo điều kiện thuận lợi choquân đội Nhật Bản đánh chiếm nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á và làm chủvùng biển Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh Trận Trân Châu Cảng cũng đánh dấu những ngày tháng suy tàn cuối cùng củathiết giáp hạm và mở đầu thời đại của tàu sân bay
Trang 24Giới quân sự nước ngoài thường gọi trận Trân Châu Cảng là một bài học vềmất cảnh giác, không sẵn sàng chiến đấu và chủ quan khinh địch khiến Mỹ bị thiệthại gần một hạm đội lớn.
Phản ứng của Mỹ sau trận Trân Châu Cảng
Ngay khi Nhật tấn công vào Trân Châu Cảng, dân chúng Ha-oai và binh lính,
sĩ quan Mỹ ở Ha-oai hoàn toàn bất ngờ, chưa tìm được cách chống trả máy bayNhật ngay, hoặc chống trả nhưng còn rời rạc, lẻ tẻ
Tại Oa-sing-tơn, mọi công việc vẫn diễn ra bình thường, chưa ai biết tin gì vềcuộc tấn công Đã quá trưa ngày 7/12, bức điện gửi từ Ha-oai mới đến Oa-sing-tơn.Đúng 13 giờ 46 phút, Tổng thống Franklin D Rudơven mới biết thông tin này.Sáng ngày 8/12/1941, Tổng thống Franklin D Rudơven đọc bài diễn văntrước Quốc hội Mỹ, có đoạn như sau: “Hôm qua, ngày 7/12, một ngày của sựnhục nhã Hợp chúng quốc Hoa Kì đã bị các lực lượng hải quân và không quâncủa đế quốc Nhật Bản tấn công bất ngờ và không tuyên chiến.…Tôi yêu cầulưỡng viện của Quốc hội Hoa Kì tuyên chiến với Nhật kể từ ngày chủ nhật hômqua …” [4, tr45]
Như vậy, ngày 8/12/1941, Nhật Bản chính thức tuyên chiến với Mỹ, Anh.Cùng ngày, Mỹ, Anh tuyên chiến với Nhật Cuộc chiến tranh ở khu vực Châu Á –Thái Bình Dương – một bộ phận của Chiến tranh thế giới thứ hai – đã bùng nổ.Một ngày sau đó đến Hà Lan, tiếp đó là các nước Pháp Tự do, các nước Ôt-xtrây-lia và các nước Mỹ Latinh đã tuyên chiến với Nhật Tất cả có 120 nước lần lượttuyên chiến
2.1.2 Trên mặt trận Đông Nam Á (12/1941 – 5/1942)
Ngày 7/12, hầu như đồng thời với cuộc tập kích quân cảng Trân Châu của
Mỹ, quân Nhật còn tiến hành các hoạt động quân sự tại nhiều nơi khác:
10 giờ 45 phút (giờ Oa-sinh-tơn), quân Nhật chiếm khu quốc tế tại ThượngHải; 11 giờ 40 phút, quân Nhật ném bom các căn cứ của Anh tại Bắc Malaixia; 12giờ 5 phút, quân Nhật đổ bộ lên bờ biển Malaixia; một giờ sau, quân Nhật từ miềnNam Thái Lan tấn công vào Malaixia
Trang 25Những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh Châu Á – Thái Bình Dương cũng lànhững ngày bất hạnh đối với hạm đội Anh Ngày 8/12, hạm đội Anh gồm 12 tàubọc thép và 4 ngư lôi đã rời căn cứ ở Singapo để tấn công các tàu vận tải Nhật màtheo nguồn tin tình báo nhận được đã bắt đầu đổ quân vào bờ biển Bắc Malaixia.Tàu ngầm Nhật đã phát hiện được cuộc hành quân của hạm đội Anh, và ngày 10/12,máy bay Nhật đã đánh chìm 2 tàu bọc thép của hạm đội Anh.
Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh, thế quân Nhật như nước trêncao đổ xuống không gì cản nổi Sau thắng lợi tại Ha-oai, phát xít Nhật tiếp tục mởrộng bành trướng ra cả Đông Nam Á và Thái Bình Dương
Tại Đông Nam Á, Nhật liên tiếp đánh chiếm các nước một cách dễ dàng Từngày 8/12/1941, Nhật đưa quân vào lãnh thổ Thái Lan, quân đội Thái Lan hầu nhưkhông kháng cự Ngày 11/12/1941, Thái Lan kí với Nhật một Hiệp ước tương trợ vềquân sự và trở thành chư hầu của Nhật Ngày 21/12/1941, chính phủ Thái Lan tuyênchiến với Mỹ, Anh Đầu tháng 1/1942, Nhật tấn công Mã Lai, quân Anh kháng cựnhưng thất bại, phải bỏ đất liền kéo nhau về đảo Singapo Đầu tháng 2/1942, Nhậtchiếm được Singapo – “đảo pháo đài” kiên cố của đế quốc Anh ở Đông Nam Á sau
70 ngày đêm chiến đấu ác liệt Tháng 3/1942, Nhật chiếm Inđônêxia, quân đội HàLan hạ vũ khí đầu hàng Tháng 5/1942, Nhật chiếm Philippin, quân Mỹ phải rút về
Úc Cũng trong tháng 5/1942, Nhật chiếm được Miến Điện, ngày 16/5/1942, nhữngngười lính Anh cuối cùng thuộc đội hậu vệ của quân đoàn Miến Điện vượt biên giớitiến vào Bắc Ấn Độ “Thế là nước Anh mất Miến Điện sau gần 5 tháng giao tranh
Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề” Trên chính các thuộc địa của mình, các nướcphương Tây cũng nhanh chóng bị đánh bật, các quốc gia Đông Nam Á lần lượt bịNhật chiếm đóng
2.1.3 Trên mặt trận Thái Bình Dương (12/1941 – 5/1942)
Trên vùng biển Thái Bình Dương, Nhật cũng nhanh chóng mở rộng được ảnhhưởng Ngay sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Nhật lần lượt chiếm các đảoGuam (10/12/1941), đảo Wake (22/12/1941) của Mỹ, rồi đổ bộ lên đảo New Britaingần quần đảo Xalomong (23/1/1942) và từ đây tiến sang bờ đông đảo New Ghine(8/3/1942), trực tiếp uy hiếp Úc
Trang 26Trong giai đoạn này, Nhật Bản đã bành trướng lãnh thổ đến tối đa Trong thờigian chưa đầy 6 tháng từ khi bùng nổ chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật Bản đãcủng cố được trận địa của mình ở Đông Dương và Thái Lan, đánh chiếm Ma-lai-xia, Sin-ga-po, quần đảo In-đô-nê-xia, một phần New-Ghine, Miến Điện, Phi-lip-pin, Hồng Công và các đảo Guam, New-Britain, Xa-lo-mong Đến thời điểm tháng5/1942, Nhật đã đánh chiếm được một vùng rộng lớn ở Châu Á – Thái Bình Dương,thống trị gần 8 triệu km2 đất đai (gấp hơn 2 lần lãnh thổ Nhật), với 500 triệu dân ởĐông Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương [2, tr97](gấp 2 lần dân số Nhật) “Đếquốc mặt trời đã đạt đến đỉnh cao nhất của nó!” [4, tr68].
Lược đồ chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945 )
Nguồn http://www.google.com
Trang 272.2 Giai đoạn 2: Hai phe giằng co (5/1942 – 1/1943)
Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, nguyên nhân chủ yếu làm cho quânNhật thắng lợi ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là sự mất cảnh giác và thiếukiên quyết của phía Mỹ, Anh Mặc dù Nhật đã chuẩn bị chiến tranh từ lâu, nhưng
Mỹ, Anh xuất phát từ mưu đồ hướng mũi tấn công của chủ nghĩa quân phiệt Nhậtvào Liên Xô, cố tìm cách hòa hoãn với Nhật Do đó, Mỹ, Anh đã không chuẩn bịđầy đủ và kiên quyết để chống lại cuộc tấn công của quân Nhật
Tuy nhiên, sau khi đánh chiếm được một vùng rộng lớn ở Châu Á – Thái BìnhDương, thì những điểm yếu của quân Nhật cũng bắt đầu bộc lộ Do sự hạn chế vềquân số và khả năng hậu cần, quân Nhật bị dàn quá mỏng trên một chiến trườngrộng lớn Lúc đó “Nhật có khoảng 100 sư đoàn, chúng để lại nước Nhật 20 sư đoàn,
60 sư đoàn tinh nhuệ được bố trí ở Trung Quốc, chủ yếu là dọc biên giới Trung –
Xô, còn lại 20 sư đoàn tung hoành khắp chiến trường Đông Nam Á – Thái BìnhDương…” [12, tr79] Vì vậy đến khoảng tháng 5/1942, cuộc tấn công của Nhật trênchiến trường Châu Á – Thái Bình Dương cũng bắt đầu chững lại
Tháng 5/1942, tại vùng biển San-hô (giữa Ốt-xtrây-lia và quần đảo mông) diễn ra trận đánh tương đối lớn giữa hải quân Nhật và hải quân Mỹ Thiệthại của hai bên tương đương nhau, nhưng quân Nhật đã buộc phải rút khỏi vùngbiển này
Xa-lô-Trận đánh tiếp theo giữa quân Nhật và quân Mỹ - Anh diễn ra vào đầu tháng6/1942, tại vùng biển Mit-uây Quân Nhật bị thiệt hại rất nặng: mất 4 tàu sân bay,cùng toàn bộ máy bay đậu trên đó và 1 tàu tuần dương Trận Mit-uây chứng tỏ cáncân so sánh lực lượng tại chiến trường Nam Thái Bình Dương đã nghiêng về phía
Mỹ, Anh Tuy vậy, trong suốt hai năm 1942 – 1943 phía Mỹ, Anh vẫn không tiếnhành cuộc phản công thực sự để đánh bại lực lượng Nhật Bản trên Thái BìnhDương Các trận đánh chỉ diễn ra một cách rất hạn chế trên vùng biển và trên đấtliền tại các quần đảo Xalômông và New-Ghinê Ý đồ của các chính phủ Mỹ – Anh
là né tránh chiến tranh lớn với Nhật Bản và chờ đợi một cuộc chiến tranh giữa NhậtBản và Liên Xô Vì vậy, trong thời gian dài từ 1942 – 1943, chiến sự chỉ diễn ratrong thế giằng co giữa hai phe mà thôi
Trang 28Chiến thắng quyết định làm thay đổi tình hình chiến sự trên chiến trường làtrận chiến của quân đội Mỹ và hải quân Nhật tại Gua-đan-ca-nan (8/1942 –1/1943) Tại đây, Nhật bị thiệt hại nặng nề buộc phải rút lui Từ đây, Mỹ, Anh vàphe Đồng Minh chuyển sang phản công trên toàn chiến trường.
2.3 Giai đoạn 3: Phe Đồng Minh phản công, phát xít Nhật đầu hàng (1/1943 – 9/1945)
2.3.1 Chiến tranh Thái Bình Dương từ chiến thắng Gua-đan-ca-nan (8/1942 – 1/1943) đến chiến dịch Mãn Châu (9/8/1945 – 2/9/1945)
Trên chiến trường Đông Nam Á
Từ sau chiến thắng Gua-đan-ca-nan (8/1942 – 1/1943), phe Đồng Minh giànhđược thế phản công; Mỹ, Anh đẩy mạnh phản công trên toàn chiến trường, chiếmlại được những vùng đất từ tay Nhật
Bằng chiến thuật “nhảy cóc”, Mỹ chiếm lại các đảo trên Thái Bình Dương:Quần đảo Xa-lô-mông (1 – 11/1943), đảo Gin-be (11/1943), đảo Mac-san (2/1944).Sau đó Mỹ chuyển sang chiến thuật “nhảy cừu”, đánh thẳng vào đảo Saipan đểchiếm quần đảo Ma-ri-an (6/1944) Trong trận hải chiến này hải quân Nhật bị thiệthại 3 tàu sân bay và hơn 4000 máy bay ở Tây Nam Thái Bình Dương, quân Mỹđánh chiếm lại New-Ghinê (9/1943 – 7/1944)
Những trận đánh cuối cùng của Mỹ ở Thái Bình Dương là đánh chiếm đảo vô-gi-ma (2 – 3/1945) và đảo Ô-ki-na-oa (25/3/1945) Đảo Ô-ki-na-oa là pháo đàirất kiên cố, án ngữ cửa ngõ đi vào đất Nhật (cách đất Nhật 600 km), có quan hệ
I-“sinh tử” đến vận mệnh đế quốc Nhật nên quân Nhật chống cự lại rất quyết liệt Ởđây quân Nhật chỉ có 8 vạn người, Mỹ phải huy động 45 vạn quân, 1317 tàu chiến,
1727 máy bay Qua ba tháng chiến đấu ác liệt, ngày 21/7/1945, Mỹ mới chiếmđược Ôkinaoa, nhưng phải chịu thiệt hại nặng nề (riêng máy bay mất 1000 chiếc)[14, tr215]
Tháng 10/1944 – 6/1945, dưới sự chỉ huy của tướng Mac-Actơ, Mỹ đã tiêudiệt 30 vạn quân Nhật phòng thủ ở Phi-lip-pin và chiếm lại nước này
Trang 29Tháng 10/1944 – 8/1945, liên quân Đồng Minh (75 vạn quân) dưới sự chỉ huycủa Đô đốc Anh Mao-battơn tiến vào thủ đô Răng-gun, quét sạch 20 vạn quân Nhật
và giải phóng Miến Điện
Ngoài ra, trên đất Nhật, từ mùa thu năm 1944, Mỹ đã tiến hành ném bom ácliệt ở 70 thành phố của Nhật như Ô-sa-ka, Na-gôya, Yô-kô-ha-ma… đặc biệt là thủ
đô Tô-ky-ô bị tàn phá nặng nề (riêng cuộc ném bom napan đêm 9/3/1945 đã giếtchết hàng vạn người) Nhưng mục tiêu oanh tạc của máy bay Mỹ trên đất Nhật cũnggiống như mục tiêu oanh tạc của máy bay Anh, Mỹ trên lãnh thổ nước Đức lànhững điểm dân cư, chứ không phải các mục tiêu quân sự Theo tài liệu của chínhphủ Nhật Bản, các cuộc ném bom của máy bay Mỹ đã làm cho 220 vạn ngôi nhà bị
đổ, 26 vạn người chết và hơn 41 vạn người bị thương Máy bay Mỹ không ném mộtquả bom nào xuống các mục tiêu quân sự và khu công nghiệp của Nhật ở Đông BắcTrung Quốc để không ảnh hưởng tới tiềm lực quân sự của Nhật Bản đang chuẩn bịchiến tranh với Liên Xô Chỉ tới khi Hồng quân Liên Xô tiến vào Đông Bắc TrungQuốc máy bay Mỹ mới ném bom tàn phá các khu công nghiệp ở đây để khỏi rơi vàotay Hồng quân Liên Xô
Quân Nhật ngày càng bị đẩy vào thế phòng ngự, đặc biệt từ khi Liên Xô tuyênchiến với Nhật, kết cục của Nhật như đã nhìn thấy trước
Liên Xô tuyên chiến và chiến dịch Mãn Châu (9/8 – 2/9/1945)
Mặc dù đã kí “Hiệp ước trung lập” với Liên Xô (13/4/1941) nhưng trong suốttiến trình cuộc chiến tranh Thái Bình Dương cũng như Chiến tranh thế giới thứ hai,Nhật Bản luôn thi hành chính sách thù địch với Liên Xô và chỉ chờ cơ dịp là tấncông xâm lược Liên Xô Từ 1941 – 1945, tàu chiến Nhật đã bắt giữ 178 tàu buôncủa Liên Xô, bí mật cung cấp cho Đức nhiều nguyên liệu quan trọng Trong nhữngnăm chiến tranh, bọn gián điệp Nhật đội lốt các nhà ngoại giao ở Mát-xcơ-va đểkhai thác những bí mật quốc gia của Liên Xô và thông báo cho bọn tình báo Đức.Như vậy, Nhật Bản đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp ước trung lập Liên Xô – NhậtBản Do đó, khi Hiệp ước này hết hạn ngày 5/4/1945, chính phủ Liên Xô tuyên bốkhông gia hạn nữa Chính phủ Liên Xô luôn trung thành với những cam kết tại các
Trang 30hội nghị Tê-hê-ran (1943), I-an-ta (2/1945), Pốtx-đam (7 – 8/1945) về việc sẽ thamgia chiến tranh chống Nhật
Ngày 8/8/1945, để bảo vệ an ninh của lãnh thổ miền Đông đất nước, để giảiphóng các dân tộc Châu Á khỏi ách thống trị của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, đểthực hiện lời cam kết với các nước Đồng Minh, Liên Xô đã tuyên chiến với NhậtBản Ngay sau đó, ngày 10/8/1945, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ cũng tuyên chiếnvới Nhật Bản Với việc Liên Xô tuyên chiến, cuộc chiến tranh chống chủ nghĩaquân phiệt Nhật trên chiến trường Châu Á – Thái Bình Dương đã bước vào giaiđoạn quyết định
Ngay sau khi tuyên chiến, Liên Xô đã đóng góp phần sức lực quan trọng vàoviệc tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật bằng chiến thắng vĩ đại tại Mãn Châu, đánhtan đạo quân Quan Đông của Nhật Bản
Mãn Châu nằm ở Đông Bắc Trung Quốc, phía Tây Bắc giáp Mông Cổ, haimặt Bắc và Đông giáp vùng Viễn Đông của Liên Xô, phía Đông Nam giáp TriềuTiên, Tây Nam giáp Nội Mông của Trung Quốc và phía Nam giáp biển Hoàng Hải
Do vị trí khống chế với cả Bắc Trung Quốc, Mông Cổ và cả vùng Viễn Đông củaLiên Xô, nên Mãn Châu là nơi tranh chấp của các cường quốc trong vùng
Quyết tâm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt Nhật giải phóng nhân loại,nhà nước Xô Viết đã huy động lực lượng lớn cho chiến dịch quyết định này Vềphía Nhật, Mãn Châu là hậu phương lớn trực tiếp để Nhật nuôi hi vọng tiếp tục kéodài chiến tranh, lại có đạo quân Quan Đông là chỗ dựa cuối cùng của nước Nhậtquân phiệt đang đóng tại Mãn Châu Vì vậy cuộc chiến ở đây diễn ra vô cùng ácliệt, cả hai bên đều cố nắm giữ Hai bên đều huy động một lực lượng lớn, tinh nhuệ,(xem bảng 3) Để đánh bại chủ nghĩa quân phiệt Nhật, lúc này, chỉ có thể đánh bạiđạo quan Quan Đông, chiếm lại Mãn Châu
Trang 31Bảng 3: Lực lượng hai bên trong chiến dịch Mãn Châu
Nguồn http://www.google.com
Lực lượng 1,5 triệu quân chủ lực
18.000 kỵ binh (Mông Cổ)
993.000 quân chủ lực170.000 quân Mãn Châu
Chỉ huyNguyên soái Vaxilepski Tư lệnh Yamada Otozo
Tổ chứcPhương diện quân Dabaican
(Nguyên soái Malinôpxki) Phương diện quân số 1
Phương diện quân Viến Đông 1
(Nguyên soái Mêretcôp) Phương diện quân số 3
Phương diện quân Viến Đông 2
(Nguyên soái Puốcaiep) Phương diện quân số 17
Tập đoàn quân số 4Tập đoàn quân số 34
Ngay từ sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Xô Viết đã bắt đầu thực hiện cuộctiến công, vượt qua biên giới Xô – Trung với dãy Đại Hưng An hùng vĩ, cánh rừngTai-ga và dòng sông A-mua trong điều kiện hết sức khó khăn do mưa lũ kéo dài,làm mực nước sông dâng cao, các con đường mòn cũng bị nước lũ xoá sạch
Sáng ngày 9/8/1945, ba phương diện quân của Liên Xô tấn công cùng một lúc,kẹp đội quân Quan Đông ở Mãn Châu vào gọng kìm tấn công từ nhiều phía Sức tấncông dũng mãnh của Hồng quân đã nghiền nát những hệ thống phòng ngự kiên cố,
đè bẹp những hành động chống cự điên cuồng của địch
Chiều ngày 9/8, Tôkyô nhận được tin tức đạo quân Quan Đông không thểchống cự nổi trước sức tấn công của Hồng quân Liên Xô
Sáng ngày 10/8/1945, chính phủ Nhật Bản quyết định chấp nhận công ướcPốtx-đam (công bố từ ngày 26/7/1945, kêu gọi Nhật đầu hàng nhưng Nhật khướctừ) với điều kiện giữ nguyên chế độ Thiên hoàng ở Nhật Bản Phía Liên Xô kiênquyết phản đối, đòi Nhật phải đầu hàng không điều kiện
Trang 32Ngày 14/8/1945, tin đội quân Quan Đông tan rã về đến Tô-ky-ô Chính phủNhật Bản cho truyền đi bản tuyên bố của Nhật Hoàng về việc đầu hàng không điềukiện các nước Đồng Minh Nhưng bộ chỉ huy đạo quân Quan Đông đã không thựchiện quyết định của Thiên hoàng, vẫn tiếp tục chống cự Do vậy Hồng quân Liên
Xô được lệnh tiếp tục tấn công, tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật đến thắng lợicuối cùng Khắc phục khó khăn về tiếp tế khi càng tiến xa hâu phương, các chiến sĩHồng quân đẩy mạnh tấn công, chiếm được các thành phố quan trọng của MãnChâu: chiếm Thẩm Dương, Trường Xuân (15/8/1945), chiếm Chan-be, Can-gan (16– 17/8), chiếm cụm cứ điểm Khai-la, tấn công Mẫu Đơn Giang (15 – 19/8), ngày20/8 tiến vào Cáp Nhĩ Tân, Cát Lâm… cô lập hoàn toàn đạo quân Quan Đông, cắtđứt mọi đường rút lui của chúng ra phía biển
Ngày 19/8/1945 Bộ chỉ huy phương diện quân Dabaican cho một đơn vị đổ bộđường không xuống Thẩm Dương, Phổ Nghi – “Hoàng đế” Mãn Châu bị bắt làm tùbinh Cùng ngày, các chiến sĩ Xô Viết tiến vào giải phóng Cát Lâm, ngày 22/8, giảiphóng Lữ Thuận; ngày 23/8 giải phóng Đại Liên
Đến cuối tháng 8/1945, toàn bộ khu vực Mãn Châu với hơn 40 triệu dân đãđược Hồng Quân giải phóng hoàn toàn khỏi ách chiếm đóng của bọn quân phiệt.Ngày 2/9/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh, chiến dịch MãnChâu sau hơn 20 ngày chiến đấu đã kết thúc thắng lợi [13, tr51]
Đồng thời với chiến dịch giải phóng Mãn Châu, Hồng Quân còn phối hợp thựchiện chiến dịch giải phóng Bắc Triều Tiên (10/8 – 24/8/1945), giải phóng Nam Xa-kha-lin (11/8 – 25/8) và giải phóng quần đảo Cu-rin (15/8 – 1/9/1945), giải phónghoàn toàn các vùng đất mà Nhật chiếm đóng
Trong tiến trình cuộc tấn công thần tốc 24 ngày đêm, quân đội Liên Xô đãđánh bại hoàn toàn lực lượng mạnh nhất của quân đội Nhật Bản là đội quân QuanĐông Tổng số thiệt hại của chúng là 800 nghìn tên, trong đó 84 nghìn tên bị chết và
594 nghìn tên bị bắt làm tù binh, trong đó có Tư lệnh đạo quân Quan Đông và 148tướng lĩnh khác Quân đội Liên Xô đã chiếm được phần lớn binh khí kĩ thuật củađịch Toàn bộ Mãn Châu, Bắc Triều Tiên, Nam Xakhalin, quần đảo Cu-rin được