1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN

58 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một số giống Lily nhập nội từ Hà Lan.. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và khả năng c

Trang 1

NGUYỄN VĂN TẤP

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT

TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG

HOA LILY TẠI BA BỂ-BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2008

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS Đỗ Tuấn Khiêm

2 PGS.TS Đào Thanh Vân

THÁI NGUYÊN, NĂM 2008

Trang 2

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi

sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin,

tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2008

TÁC GIẢ

Nguyễn Văn Tấp

trách Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn, PSG TS Đào Thanh Phó Trưởng Khoa nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài Chân thành cảm ơn tới các cán bộ thuộc Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạn: KS Nguyễn Văn Tuấn, KS Hoàng Thị Bình, đã giúp đỡ tôi trong quá trình theo dõi thí nghiệm; hộ gia đình bà Bùi Thị Nam

Vân-đã tham gia mô hình trồng hoa LiLy tại Ba Bể

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới UBND tỉnh Bắc Kạn, Ban lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn, các đồng nghiệp Phòng quản lý khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá học cũng như thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường

Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả những giúp đỡ quý báu đó

TÁC GIẢ

Nguyễn Văn Tấp

Trang 3

Danh mục các bảng

Danh mục các đồ thị

Danh mục chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu 1

2 Mục đích 2

3 Yêu cầu 2

PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ HOA 3

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu phát triển hoa Lily ở Bắc Kạn 3

1.1.1.Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống 3

1.1.2.Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ 3

1.1.3 Cơ sở của việc nghiên cứu mật độ trồng 3

1.1.4 Cơ sở thực tiễn 4

1.2 Nguồn gốc và phân loại hoa Lily 5

1.2.1 Nguồn gốc 5

1.2.2 Phân loại hoa Lily 6

1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của hoa Lily 10

1.3.1 Đặc điểm thực vật học của hoa Lily 10

1.3.2.Yêu cầu điều kiện sinh thái của hoa Lily 14

1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 16

1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cắt trên thế giới 16

1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Lily trên thế giới 19

1.5 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa ở việt nam 23

1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 23

1.5.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam 25

1.6.2 Thời vụ 30

1.6.3 Mật độ, khoảng cách trồng 30

1.6.4 Cách trồng 31

1.6.5 Chăm sóc sau khi trồng 31

1.6.6 Nghiên cứu về sâu bệnh hại 32

1.6.7 Thu hoạch và bảo quản hoa Lily 33

1.7 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Đồn Đèn-Ba Bể 34

1.7.1 Địa hình 34

1.7.2 Khí hậu 34

1.7.3 Đất đai 36

1.7.4 Kinh tế-xã hội 37

PHẦN 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1.Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 38

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 38

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 38

2.1.3.Thời gian nghiên cứu 38

2.2 Nội dung nghiên cứu 38

2.2.1 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một số giống Lily nhập nội từ Hà Lan 38

2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất, chất lượng của giống Sorbonne tại Ba Bể-tỉnh Bắc Kạn 38

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đối với sinh trưởng và phát triển của giống Lily Sorbonne 38

2.2.4 Xây dựng mô hình sản xuất hoa Lily tại tỉnh Bắc Kạn 38

Trang 4

số giống Lily tại Ba Bể- Bắc Kạn 39

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống Sorbonne tại Ba Bể-tỉnh Bắc Kạn 39

2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng tới sự sinh trưởng và phát triển của giống hoa Lily Sorbonne tại Ba Bể Bắc Kạn 40

2.3.4 Xây dựng mô hình trồng hoa lily tại tỉnh Bắc Kạn 41

2.3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 41

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 44

2.3.7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 44

PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một số giống Lily tại Ba Bể-Bắc Kạn 45

3.1.1 Tình hình sinh trưởng và phát triển của các giống Lily 45

3.1.2 Một số đặc điểm hình thái 49

3.1.3 Thời gian sinh trưởng của các giống Lily 52

3.1.4 Chất lượng của 3 giống Lily 54

3.1.5 Tình hình sâu bệnh hại chính của các giống Lily 56

3.1.6 Hiệu quả kinh tế 57

3.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống Sorbonne tại Ba Bể-tỉnh Bắc Kạn 59

3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của giống Sorbonne qua các thời vụ khác nhau 59

3.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của giống Sorbonne qua các thời vụ 63

3.2.3 Đặc điểm hình thái và chất lượng của giống Sorbonne ở các thời vụ 66

3.2.4 Tình hình sâu bệnh hại 68

hoa lily Sorbonne tại Ba Bể-Bắc Kạn 72

3.3.1 Đặc điểm hình thái và sinh trưởng của giống Sorbonne ở các mật độ trồng khác nhau 73

3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lily Sorbonne 76

3.3.3 Đặc điểm hình thái và chất lượng hoa ở các mật độ trồng khác nhau 78

3.3.4 Tình hình sâu bệnh hại 80

3.3.5 Hiệu quả kinh tế 81

3.4 Kết quả xây dựng mô hình trồng hoa tại Đồn Đèn Ba Bể 82

3.4.1 Kết quả triển khai mô hình 83

3.4.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Kiến nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 1

Trang 5

Bảng 3 1 Tỉ lệ mọc mầm của các giống Lily 46

Bảng 3 2 Số lá và động thái ra lá của các giống Lily 46

Bảng 3 3 Chiều cao và động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Lily 48

Bảng 3 4 Một số đặc điểm hình thái của các giống Lily 50

Bảng 3 5 Một số đặc điểm hình thái của các giống Lily 51

Bảng 3 6 Thời gian sinh trưởng của các giống Lily (ngày) 52

Bảng 3 7 Các giai đoạn phát triển của các giống hoa Lily 53

Bảng 3 8 Đặc điểm hình thái và chất lượng hoa của các giống Lily 54

Bảng 3 9 Độ bền hoa cắt và độ bền tự nhiên của các giống Lily (ngày) 55

Bảng 3 10 Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 56

Bảng 3 11 Hiệu quả kinh tế của các giống Lily (10,8m2/giống) 58

Bảng 3 12 Ảnh hưởng của thời vụ đến tỉ lệ nẩy mầm của giống Sorbonne 59 Bảng 3 13 Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái ra lá của giống Sorbonne 60 Bảng 3 14 Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Lily Sorbonne 62

Bảng 3 15 Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của giống Sorbonne (ngày) 63

Bảng 3 16 Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn phát triển của giống Lily Sorbonne 65

Bảng 3 17 Ảnh hưởng của thời vụ đến đặc điểm hình thái và chất lượng hoa của giống Sorbonne 66

Bảng 3 18 Độ bền hoa cắt và độ bền tự nhiên qua các thời vụ trồng của giống Sorbonne 68

Bảng 3 19 Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 68

ra lá của giống Sorbonne 73

Bảng 3 22 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Sorbonne 75

Bảng 3 23 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của giống Sorbonne (ngày) 76

Bảng 3 24 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn phát triển của giống Sorbonne 77

Bảng 3 25 Đặc điểm hình thái và chất lượng hoa của giống Sorbonne ở các mật độ trồng khác nhau 78

Bảng 3 26 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến độ bền của hoa lily Sorbonne 79 Bảng 3 27 Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 80

Bảng 3 28 Hiệu quả kinh tế ở các mật độ trồng (10,8m2) 81

Bảng 3 29 Đặc điểm hình thái và sinh trưởng của giống Sorbonne trong mô hình 83

Bảng 3 30 Đặc điểm hình thái và chất lượng hoa của mô hình 84

Bảng 3 31 Hiệu quả kinh tế của mô hình 85

Trang 6

Đồ thị Tên Đồ thị Trang

Đồ thị 3 1 Động thái ra lá của các giống Lily 47

Đồ thị 3 2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây các giống Lily 49

Đồ thị 3 3 Động thái ra lá của giống Sorbonne ở các thời vụ 61

Đồ thị 3 4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Sorbonne ở các

thời vụ 63

Đồ thị 3 5 Động thái ra lá của giống Sorbonne ở các mật độ trồng 74

Đồ thị 3 6 Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các mật độ trồng 76

DNU: Đường kính nụ DTHAN: Đường kính thân cuối cùng (cách gốc 10 cm) Euro: Đồng tiền châu Âu

GA3: Gibberellin HCAY: Chiều cao cây HNU: Chiều cao nụ MS: Môi trường dinh dưỡng cơ bản OT: Oriantal x trumpet

ppm: Phần triệu (parts per million) SOHOA: Số hoa nở

Sorbo: Sorbonne Star: Starfighter STS: Silver thiosunfate TGST: Thời gian sinh trưởng

TLA: Tổng số lá TNU: Tổng số nụ USD: Đô la Mỹ

VU 1 Công thức 1 trồng ngày 8/11/2006, dự kiến hoa nở dịp 8/3/2007

VU 2 Công thức 2 trồng ngày 8/9/2007, dự kiến hoa nở dịp 20/11/2007

VU 3 Công thức 3 trồng ngày 8/10/2007, dự kiến hoa nở dịp tết âm lịch năm

2007 sang năm 2008 Yell: Yelloween

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu

Hoa là một trong các loại cây trồng có vai trò quan trọng trong sản xuất

nông nghiệp Ở nước ta, nghề trồng hoa đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho

nhiều địa phương, góp phần không nhỏ trong việc chuyển đổi cơ cấu cây

trồng

Đối với Bắc Kạn, nghề trồng hoa mặc dù chưa phát triển nhưng đã có

những góp đáng kể, là nguồn thu nhập chính của một số hộ nông dân ở

phường Sông Cầu-thị xã Bắc Kạn

Do quá trình đô thị hoá, diện tích trồng hoa ở thị xã Bắc Kạn gần như

không còn nữa; trong khi đó nhu cầu về hoa của người dân không ngừng tăng

cao, vì thế nghề trồng hoa ở Bắc Kạn vẫn có điều kiện phát triển Nghề trồng

hoa có thể tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, đồng thời tạo

nguồn thu nhập không nhỏ cho các hộ gia đình trồng hoa ở Bắc Kạn Nhưng

trong thời gian qua, Bắc Kạn chưa có sự quan tâm thoả đáng để nghề trồng

hoa phát triển Đặc biệt là công tác nghiên cứu thử nghiệm và xây dựng mô

hình sản xuất hoa có giá trị kinh tế cao ở các vùng có điều kiện sinh thái thuận

lợi Người dân muốn trồng hoa nhưng thiếu giống tốt, thiếu kỹ thuật, thiếu

định hướng từ các cơ quan quản lý và các nhà chuyên môn vì vậy mà không

dám đầu tư vào lĩnh vực mới mẻ này

Xuất phát từ những lý do trên, trong hai năm 2005-2006 tỉnh Bắc Kạn

đã tiến hành thử nghiệm trồng một số loài hoa tại vùng Đồn Đèn-huyện Ba Bể

và vùng Đèo Gió-huyện Ngân Sơn Kết quả thấy rằng, các giống hoa cơ bản

phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương, đặc biệt là hoa Lily, có hoa

to, màu sắc đẹp, mùi thơm giữ được lâu và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao

Do đó tỉnh có kế hoạch mở rộng diện tích trồng hoa Lily ở những vùng có

điều kiện sinh thái phù hợp

Tuy nhiên, Lily là giống cây trồng mới, các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, nhất là thời vụ trồng, mật độ trồng phù hợp chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ

Chính vì vậy, chúng tôi triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh

trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật trồng hoa Lily tại Ba Bể-Bắc Kạn" làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc mở rộng sản xuất

hoa Lily tại địa phương

Trang 8

PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ HOA

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu phát triển hoa Lily ở Bắc Kạn

1.1.1.Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống

Cây hoa Lily mới được phát triển mạnh ở nước ta những năm gần đây,

giống Lily đưa vào sản xuất chủ yếu là nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc hoặc

Đài Loan, chúng chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái

một cách hệ thống trước khi trồng, nên dẫn đến một số giống có chất lượng

hoa kém, mẫu mã xấu, nở hoa không đúng dịp gây khó khăn cho người sản

xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại Nghiên cứu giống sẽ giúp

chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp

của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống

phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất

1.1.2.Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ

Ở mỗi một thời vụ có điều kiện ngoại cảnh khác nhau, ảnh hưởng đến

sinh trưởng phát triển của cây cũng khác nhau

Hơn nữa, Lily là cây hoa cao cấp, hoa thường nở tập trung, giá trị kinh

tế cao Ở những ngày thường, nhu cầu loại hoa này không lớn, khả năng tiêu

thụ hoa khó, giá bán thấp, trong khi đó những dịp lễ, tết như: ngày 8/3, ngày

20/11, tết Nguyên đán, nhu cầu về hoa Lily là rất lớn, dễ tiêu thụ trên thị

trường, giá bán cao Nghiên cứu thời vụ trồng Lily ở nước ta chưa nhiều, việc

nghiên cứu thời vụ không những giúp chúng ta xác định được thời gian trồng

hợp lý mà còn xác định được thời vụ trồng có hiệu quả kinh tế cao

1.1.3 Cơ sở của việc nghiên cứu mật độ trồng

Mỗi một loại cây trồng, yêu cầu trồng ở một mật độ nhất định mới sinh

trưởng, phát triển thuận lợi, cho năng suất và chất lượng cao Đối với hoa

Lily, tuỳ theo mục đích thương mại làm hoa cắt cành hay hoa chậu mà người

ta trồng ở mật độ khác nhau Ở nước ta, hoa Lily là một cây mới, nghiên cứu

mật độ trồng còn ít, việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

1.1.4 Cơ sở thực tiễn

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao nằm ở phía Bắc Việt Nam, có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ cao trung bình từ 500-600m, đặc biệt có một số vùng có độ cao từ 700-1000m so với mặt biển như ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn

Khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, á nhiệt đới và một số khu vực mang đặc tính ôn đới, mùa đông đến sớm, mùa mưa đến muộn

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 485.943 ha Trong đó: Đất Nông nghiệp: 37.798 ha chiếm 7,78%, đất Lâm nghiệp: 333.059 ha, chiếm 68,53%, còn lại là đất khác (Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2007)[5]

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần IX đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 đối với ngành nông lâm nghiệp là:

"Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tận dụng những tiềm năng lợi thế của địa phương về đất đai, khí hậu thời tiết ở từng vùng sinh thái để nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích, tạo vùng sản xuất hàng hoá tập trung, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước cải thiện và ổn định đời sống cho nhân dân"

Trong những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều cố gắng để phát triển kinh tế-xã hội thông qua chương trình ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, như: quy hoạch vùng trồng cây ăn quả, xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong việc trồng, chăm sóc một số cây ăn quả đặc sản tại địa phương: Hồng không hạt Ba Bể; Cam, Quýt Quang Thuận; Đào, Lê Ngân Sơn; tuyển chọn cây đầu dòng chè Shan (Tuyết), đã đem lại những kết quả to lớn, góp phần không nhỏ trong

Trang 9

việc nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống của đồng bào các dân tộc trong

tỉnh Đặc biệt hoa Lily là cây trồng mới đưa vào địa phương trồng thử

nghiệm, bước đầu sinh trưởng, phát triển tốt và cho thu nhập khá cao tại khu

vực Đồn Đèn-huyện Ba Bể và Đèo Gió-huyện Ngân Sơn

Với những thuận lợi về khí hậu, thời tiết, đất đai như trên, Bắc Kạn có

thể phát triển trồng hoa Lily ở những vùng sinh thái phù hợp, góp phần

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần IX đề ra

Để có cơ sở khoa học và thực tiễn trước khi phát triển loại hoa này tại

Bắc Kạn, chúng tối tiến hành nghiên cứu khảo nghiệm một số giống hoa Lily

nhập nội; nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của của chúng ở một

số thời vụ và nghiên cứu mật độ trồng hợp lý để chọn lọc ra giống hoa Lily,

thời vụ và mật độ trồng phù hợp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và

hiệu quả kinh tế cho người trồng hoa

Vì vậy, việc triển khai đề tài trên ở tỉnh Bắc Kạn có ý nghĩa rất lớn, là

cơ sở khoa học và thực tiễn để tỉnh chỉ đạo triển khai mở rộng mô hình trồng

hoa Lily có hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho

nhân dân, đặc biệt là đồng bào tái định cư tại khu vực Đồn Đèn-Khuổi Luông

huyện Ba Bể

1.2 Nguồn gốc và phân loại hoa Lily

1.2.1 Nguồn gốc

Lily là một trong những loài hoa quan trọng nhất trên thế giới

(Barba-Gonzalez.R & CS, 2005)[26] Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 80 loài

Lily khác nhau (Comber, 1949) [33], nó có nguồn gốc ở vùng Himalaya và

được mở rộng tới các vùng núi ở Bắc bán cầu (De Jong, 1974 ;

http://www.the-genus-lilium.com) [36], [65], phân bố từ 100 đến 600 vĩ Bắc

Phần lớn các giống hoa Lily thương mại, như: lai châu Á, lai Phương Đông

đều có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc (Beattie and White, 1993) [27]

Do có vẻ đẹp sang trọng, hương thơm quyến rũ và giá trị kinh tế cao nên hoa Lily nhanh chóng được phát triển ở nhiều nước trên thế giới, như: Hà Lan, Italia, Canada, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn

Độ, Thái Lan

1.2.2 Phân loại hoa Lily

Căn cứ vào đặc điểm hình thái, nguồn gốc, thời gian sinh trưởng, màu sắc hoa người ta có thể phân loại hoa Lily thành các nhóm khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại hoa Lily như sau:

a Dựa vào sự ưa thích của các giống Lily:

Theo "Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao-cây Lily" của tác giả

Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004)[9], phân Lily thành 4 nhóm:

+ Nhóm 1: Nhóm Lily Phương Đông (Oriental Lily): phần lớn có nguồn gốc từ các chủng L auratum và L speciosum, L japonicum, L

rubellum

+ Nhóm 2: Nhóm Lily Á Châu (Asiatic Lily), gồm những chủng có nguồn gốc từ châu Á, như : L.lancifolium, L.lechtlinii, L.maximwiczii,

L.pumilum, L.bulbiferum, L.davidii

+ Nhóm 3: Nhóm Lily thơm (Longiflorum Lily) với các chủng loại

L.longiflorum, Lily Đài Loan (L.formosanum), Lily trắng (L.candidum), Lily

Vương (L.regale) là chính

+ Nhóm 4: Nhóm Lily Tinh Diệp (Martagon Lily), gồm Lily Hán Lâm

(L.hansonii), Lily Tinh Diệp (L.martagon) là chính, cùng với L.chalcedonicum, Lily ốc đan (L.cernuum, L.davidii, L.lancifolium ) lai tạo

chọn lọc ra

b Phân loại theo Hội làm vườn Hoàng gia Anh:

Hội làm vườn Hoàng gia Anh (1964) dựa vào nguyên sản bố mẹ, đặc trưng hình thái, màu sắc hoa người ta chia Lily thành 9 nhóm:

Trang 10

b1 Nhóm Lily lai châu Á (Asiatic hybrids)

Gồm những giống lai có nguồn gốc ở châu Á, hoa nở vào đầu mùa hè,

là nhóm lai giữa các loài: L.lancifolium (syn.L.tigrinum), L cernuum, L

davidii, L maximowiczii, L.maculatum, L.hollandicum, L amabile, L

pumilum, L concolor, và L bulbiferum Đây là nhóm dễ trồng và cũng dễ ra

hoa nhất

Nhóm này có đặc điểm là màu hoa rất phong phú: đỏ thẫm, cam, vàng,

hồng, xanh tía, mầu mận và trắng; nhìn chung hoa không có mùi thơm

Dựa vào hình dáng hoa nhóm này lại được phân ra làm 3 loại: hướng

lên trên, hướng ra ngoài và hướng xuống dưới

- Loại hoa hướng lên trên: mọc đơn hoặc trên hoa tự, ra hoa sớm Các

giống thường thấy như: Angel’s Touch, Aurora Borealis, Peachy Keen, Gold

Ballerina

- Loại hoa hướng ra ngoài: giống thường thấy là Apricot Pixels,

Fire Mountain, Grand Cru, Orange Art, Braudwine

- Loại hoa chúc xuống: gồm các giống: Ambrosia, King Pete,

Blackbuttylly, Wtonella

b2 Nhóm Lily lai Tinh Diệp (Martagon hybrids)

Là nhóm Lily có nguồn gốc từ các loà: L.martagon với L.hansonii, L

medeoloides, and L.tsingtauense Nhóm Martagons là loại Lily ưa bóng, thân

cao, hoa hơi hướng xuống dưới, nhiều màu sắc: vàng, trắng, hồng, xanh tía,

cam, màu hoa cà Một số giống như: Black Prince, Blush, Brocade, Cadense,

Autumn Color, Attiwaw, Terrace City

b3 Nhóm Lily lai hoa trắng (Candidum hybrids)

Bao gồm giống lai của các loài L.candidum, L.chalcedonicum, L

monadelphum và một số giống khác của châu Âu, bao gồm cả L.martagon

Nhưng nhóm này ít thấy ở thị trường

Một số giống thuộc nhóm này như: Beerensiik, Prankfonce, Whito Might, Smetterling, Baa, Lilylover-UT, Frostweed, John benoot, Mahans 30

b4 Nhóm lai Lily châu Mỹ (American hybrids)

Là nhóm Lily bắt nguồn từ phía bắc châu Mỹ, gồm những giống lai của

các loài như: L.pardalinum, L.parryii, L.humboldtii và L.kelloggii Một số

giống thương mại: parvum #30, parvum#31, parvum#32, parvum#33, kelloggii #3301, bolanderi #4201, canadense var coccineum #24, parvum var hallidayi #33 , rubescens #22, Lilium shastense #1801 , superbum #19

b5 Nhóm lai Lily thơm (Longiflorum hybrids)

Nhóm này có mùi thơm, gồm những giống lai bắt nguồn từ Lily thơm

L.longiflorum (Easter Lily) và Lily Đài Loan (L.formosanum) lai tạo ra; hoa

có hình dáng giống loa kèn Một số giống thuộc nhóm này, như: Gelria, Avita Come, Snow Queen, Ice Queen, Longistar, Evening Star, Yellow Tullican, Casa Rosa, Ace of hearts, Dragoon, Bermuda Lily

b6 Nhóm Lily lai loa kèn (Trumpet hybrids) Bắt nguồn từ loài Lily châu Á, như: Lily Vương (L.regale), Lily Thông Giang (L.sargentiae), Lily Nghi Xương (L.luecanthum) Hoa hình loa

kèn, có thể hoa hướng ra ngoài hoặc hướng xuống dưới, có hương thơm, đặc biệt là ban đêm Một số giống thuộc nhóm này: Black Dragon, Copper King, Golden Sunburst, Midnight, Moonlight, African queen, Pink Perfection,…

b7 Nhóm lai Phương Đông (Oriental hybrids) Phần lớn các giống thuộc nhóm này do lai một số chủng L.auratum và

L.speciosum Đặc điểm là thân có chiều hướng cao, hoa khá to, hướng ra

ngoài và có hương thơm Hiện nay có rất nhiều giống Lily lai Phương Đông được đưa vào sản xuất thương phẩm, như: Casa blanca, Angelique, Dizzy, Maru, Souvenir, Rio regro, Pink expressions, Stargazer, Sorbonne,

Trang 11

Starfighter, Acapulco, Tiber, Collection, Mixed, Miss Lucky, Montezuma,

Muscadet

b8 Nhóm Lily lai tạo (interdivisional hybrids-Orienpets: OT hybrids, LA

hybrids, AA hybrids…)

Gồm những giống lai khác, như lai giống giữa nhóm Phương Đông và

nhóm Loa kèn, nhóm thơm với nhóm châu Á Hiện nay nhóm này có nhiều,

nhờ lai giống đã tạo ra các giống mới có khả năng chống chịu tốt với điều

kiện ngoại cảnh, sâu bệnh Một số giống LA (lai Longiflorum và Asiatic):

Aerobic, Ballroom, Best seller, Canillo, Carmine diamond; giống AA (lai

Aurelian và Asiatic): Fiery belles, Ivory belles, Silky belles; giống OA (lai

Oriental x Asiatic): Elegant crown, Fancy crown, Fuego crown; giống OT (lai

Oriental x Trumpet): Yelloween, Altary, American bandstand, American

dream, American jouney

b9 Loài hoang dại (The wild species)

Gồm những loài thuộc nội địa của bắc châu Mỹ, châu Âu và châu Á

(Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ ) là những loài được trồng trong môi trường

tự nhiên, chưa bị ảnh hưởng bởi sự lai giống, loài L.auratum (gold-banded

Lily) là một loài đẹp nhất trong tự nhiên, loài L.lancifolium (Tiger Lily) nổi

tiếng ở Trung Quốc và Nhật Bản Đây là nhóm Lily quan trọng trong việc

phát triển các giống lai châu Á và nhóm khác Một số chủng: L.cernuum có ở

Hàn Quốc và Nga; L.davidii, L.henryi, L.regale có ở Trung Quốc; leichtlinii

có ở Nhật Bản; pardalium có ở Tây Nam nước Mỹ; L.speciosum album,

L.speciosum rubrum có ở Nhật Bản và Trung Quốc…

c Phân loại theo thời gian sinh trưởng, ra hoa:

+ Loại ra hoa sớm: từ khi trồng đến khi ra hoa 60-80 ngày

+ Loại ra hoa trung bình: từ khi trồng đến khi ra hoa: 85-100 ngày

+ Loại ra hoa muộn: từ khi trồng đến khi ra hoa: 105-120 ngày

+ Loại ra hoa cực muộn: 120-140 ngày

d Ngoài ra người ta còn có thể phân loại theo màu sắc của hoa: hoa đỏ, hoa trắng, hoa vàng

Như vậy, Lily có thể phân loại nhiều cách khác nhau tuỳ theo mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu

1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của hoa Lily

1.3.1 Đặc điểm thực vật học của hoa Lily

1.3.1.1 Đặc điểm thực vật học Lily là tên gọi chung của tất cả các cây thuộc loài Lilium spp, ngành

một lá mầm (Magnoliophyta), lớp hành (Liliopsida), bộ hành (Liliales), họ hành (Lilyaceae) (Dương Đức Tiến, Võ Văn Chi, 1978) [2]

Lily là loài cây thân ngầm dưới đất, có một số đặc điểm sau:

- Thân vảy: là phần phình to của thân, gồm có đĩa thân và các vảy, thân vảy trần không có vỏ bao bọc ; vảy có nhiều hình dạng: elíp, cầu dẹt, hình trứng

Thân vảy của Lily được coi là mầm dinh dưỡng; một thân vảy trưởng thành gồm đĩa vảy, vảy già, vảy non, trục thân sơ cấp, trục thân thứ cấp và đỉnh sinh trưởng Độ lớn của thân vảy thường được đo bằng chu vi và trọng lượng của nó

Kích thước và trọng lượng của thân vảy khác nhau tuỳ thuộc vào từng giống, loại nhỏ: có chu vi 6cm, nặng 7-8g; loại to chu vi 24-25cm, nặng trên 100g

- Lá: lá Lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xoè hoặc hình thuôn đầu lá hơi nhọn không có cuống hoặc cuống ngắn Hình dáng lá to hay nhỏ, gân lá nhiều hay ít tuỳ thuộc vào từng giống

- Rễ gồm 2 loại: rễ gốc và rễ thân Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh trưởng

từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khoẻ, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của cây, tuổi thọ của rễ này có thể tới 2 năm Rễ thân gọi

Trang 12

là rễ trên mọc từ thân dưới đất, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh

dưỡng, tuổi thọ rễ này là 1 năm

- Củ con và mầm hạt: đại bộ phận Lily có nhiều củ con ở gần thân rễ,

chu vi mỗi củ từ 0,5-3cm, số lượng củ con tuỳ thuộc vào giống và điều kiện

trồng trọt

- Hoa: hoa Lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá,

nhỏ Hoa Lily có thể chúc xuống (nod downward), vươn ngang (face

(http://www.extension.umd.edu)[59]

Hoa có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình cốc, hình loa kèn,

hình phễu

Màu sắc hoa Lily đa dạng, phong phú: cam, vàng, trắng, hồng, đỏ cam,

tía (Woodcock & Stern, 1950)[52]

Thông thường hoa Lily có 6 cánh, 2 vòng nối với nhau, mỗi vòng có 3

cánh hoa tạo nên; cánh hoa hình elíp; nhị hoa có 6 cái, giữa có cuống, gắng

với nhau có hình chữ T

- Quả: hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có 3 ngăn Độ

lớn, trọng lượng, số lượng hạt tuỳ thuộc vào từng giống

1.3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng phát dục

a Đặc điểm của thân vảy

Phát dục của thân vảy phục thuộc nhiều vào môi trường và các điều

kiện chăm sóc Vảy nhiều và sung mãn, thì chất lượng tốt Độ lớn của thân

vảy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa Thân vảy có chu vi càng lớn thì số nụ

trên cây càng nhiều Giống lai Phương Đông, như Sorbonne chu vi củ

12-14cm có 1-2 nụ, chu vi củ 14-16cm có 2-5 nụ, chu vi củ 16-18 có số nụ 3-6,

chu vi củ 18-20 có 4-7 nụ, giống Yelloween (giống lai giữa nhóm Phương

Đông và nhóm Loa kèn) chu vi củ 12-14cm có 2-4 nụ, chu vi củ 14-16cm có

Trục thân Lily do trục mầm dinh dưỡng co lại tạo thành, gồm trục thân

sơ cấp và trục thân thứ cấp Đầu trục thân sơ cấp là mầm dinh dưỡng co ngắn, trục thân thứ cấp nằm giữa mầm dinh dưỡng co ngắn và vảy, có từ 1 đến 3 cái, là trung tâm phát dục ra củ con đời sau

Sau khi phá trạng thái ngủ trục sơ cấp, ở trên mầm nách trục thân là vùng vươn dài thứ nhất, mầm đỉnh co ngắn lại, vươn lên mặt đất, lá trên bắt đầu mở ra, khi cây ra nụ thì số lá đã được cố định

Chiều cao cây quyết định bởi số lá và chiều dài đốt Số lá chịu ảnh hưởng của chất lượng củ giống, điều kiện và thời gian xử lý lạnh củ giống Thông thường, mầm được cố định trước khi trồng Chiều cao cây quyết định bởi chiều dài đốt Trong điều kiện ánh sáng yếu, ngày dài, nhiệt độ thấp và xử

lý trước khi bảo quản lạnh lâu, đều có tác dụng làm dài đốt thân Ngược lại nếu ánh sáng mạnh, ngày ngắn, nhiệt độ cao sẽ ức chế đốt kéo dài; trong

Trang 13

khoảng nhiệt độ từ 20-300C nếu tăng thêm 20C cây có thể thấp đi 2cm (Đặng

Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

c Đặc điểm phát dục

- Sự phân hoá hoa: Khi bắt đầu nảy mầm, cây bắt đầu phân hoá mầm

hoa Mầm hoa rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp, nên khi xử lý lạnh trước khi

trồng, củ có thể mọc mầm và phân hoá hoa Nếu không trồng kịp thời sẽ bất

lợi cho phát dục mầm hoa

Số lượng mầm hoa nguyên thủy phụ thuộc nhiều vào điều kiện sinh

trưởng vụ trước, chất lượng củ giống và giống

- Sự ra hoa: Sự phân hoá hoa và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn

của điều kiện trước khi trồng, như: chất lượng củ giống, điều kiện xử lý Tốc

độ phát dục của nụ và hoa chịu tác động lớn của điều kiện sau khi trồng nhất

là nhiệt độ, ẩm độ không khí và ẩm độ đất Nếu nhiệt độ trên 300C thì hoa bị

mù sẽ cao Nếu nhiệt độ từ 25-300C sẽ làm thui nụ, tỷ lệ ra hoa chỉ đạt

21-43% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Ánh sáng mạnh tạo ra sự bại dục của nụ và gây ra cháy lá, việc xử lý

che nắng sẽ giảm thui nụ Ánh sáng yếu cũng làm thui nụ và ảnh hưởng đến

chất lượng hoa

Sau khi hoa nở 2 tháng thì quả chín Hạt quả có cánh nên có thể phát

tán trong tự nhiên theo gió Sau khi thu hoạch quả, thân lá khô héo, thì có thể

thu hoạch củ để làm giống

d Sự ngủ nghỉ của củ Lily và biện pháp phá ngủ

Củ Lily sau khi thu hoạch thì ở trạng thái ngủ nghỉ, thời gian ngủ nghỉ

khác nhau tuỳ thuộc vào từng giống Kỹ thuật quan trọng trong việc trồng

Lily là phải phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của củ giống Nếu trồng củ giống chưa

qua phá ngủ sẽ dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp và tỷ lệ hoa mù cao Nhìn chung

các giống bảo quản lạnh 2-50C sau 6-10 tuần thì phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ

của củ giống (Bonner, F.J.M, 1997) [29]

1.3.2.Yêu cầu điều kiện sinh thái của hoa Lily

1.3.2.1 Nhiệt độ và ánh sáng Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát dục của hoa Lily, đặc biệt là ảnh hưởng đến nảy mầm của hạt, sự phát dục của thân, sự sinh trưởng của lá và sinh trưởng phát triển và chất lượng củ giống (Roh.M.S,

1996)[45]

Lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển của hoa Lily ban ngày là 200C, ban đêm là: 120C Nhiệt độ thấp từ 12-150C cây sinh trưởng chậm (Richard, 2006)[44], dưới 120C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian đầu nhiệt độ thấp có lợi cho ra rễ và sự phân hoá hoa Các giống khác nhau có yêu cầu nhiệt độ khác nhau: các giống lai phương Đông thời kỳ đầu yêu cầu nhiệt độ ban ngày

200C, ban đêm 150C, nhiệt độ đất 150C ; các giống Lily thơm chịu nóng tốt hơn, nên yêu cầu nhiệt độ ban ngày là 25-280C, ban đêm 18-200C

Nhiệt độ và ánh sáng là yếu tố quan trọng, điều tiết sự phân hoá hoa và

sự ra hoa; chiếu sáng bổ sung ở nhiệt độ thích hợp (16-180C) có thể sẽ rút ngắn được thời gian ra hoa của tất cả các giống (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Cường độ chiếu sáng thích hợp cho cây Lily là 12.000-15.000 lux, nhất

là ở thời kỳ cây cao 20-30cm Mỗi một nhóm Lily yêu cầu một điều kiện ánh sáng nhất định Lily châu Á và Phương Đông sinh trưởng tốt ở điều kiện đủ sáng Nếu giảm ánh sáng cây sẽ cao hơn, mảnh khảnh và yếu mềm Nhưng

nhóm Tinh Diệp (Martagon hybrids) nở hoa tốt trong điều kiện che bóng

(http://www.extention.umn.edu)[58] Ngoài ra, nếu thiếu ánh sáng, nhị đực sẽ sản sinh Etylen, dẫn đến hiện tượng rụng nụ Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của củ giống

1.3.2.2 Nước

Trang 14

Lily là cây yêu cầu trồng ở vùng đất thoát nước, độ ẩm đất ảnh hưởng

lớn đến sinh trưởng và phát dục của Lily Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước,

thời kỳ ra hoa nhu cầu nước giảm ; nếu nước nhiều củ dễ bị thối

(http://www.Lilynook.mb.ca) [61] Độ ẩm thích hợp nhất cho cây Lily sinh

trưởng phát triển là 80-85% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

1.3.2.3 Không khí

Lily là cây mẫn cảm với khí Etylen, tuy nhiên các giống khác nhau thì

độ mẫn cảm cũng khác nhau, trong các giống thì Lily châu Á mẫn cảm cao

nhất

1.3.2.4 Đất

Lily có thể trồng được ở mọi loại đất, phù hợp với đất nhiều mùn, đất

thịt nhẹ ; do rễ Lily ăn nông, nên đất trồng yêu cầu phải thoát nước tốt

(http://www.Lilynook.mb.ca)[61] Đất quá khô hoặc quá nhiều nước đều ảnh

hưởng đến sinh trưởng, phát dục của Lily Thời kỳ đầu Lily cần nhiều nước,

thời kỳ ra hoa nhu cầu nước giảm Nếu nước nhiều dễ bị thối củ và rụng nụ

Lily rất mẫn cảm với muối, đất nhiều muối cây không hút được nước sẽ ảnh

hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây; ảnh hưởng đến quá trình phân hoá

hoa và ra hoa Hàm lượng muối trong đất không được vượt quá 15mg/cm2,

chất ô xy hoá không quá 1,5mmol/lít

Đất quá chua hoặc quá kiềm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển

của hoa Lily Nếu đất quá chua cây hút nhiều ion sắt, nhôm, ma giê gây hại

cho cây; đất quá kiềm, cây hút sắt, ma giê giảm dẫn đến thiếu các sắc tố; pH

phù hợp cho trồng Lily là 5,5-7 tuỳ từng giống, giống lai phương Đông yêu

cầu pH từ 6,5-6,8, giống lai châu Á yêu cầu pH là 6,5 (www.umass.edu)[62]

1.3.2.5 Dinh dưỡng

Theo Nguyễn Khắc Trung và CS (1997)[21] thì mỗi loại phân bón

thích hợp với từng loại cây trồng, việc bón phân cho cây cần phải đúng chủng

loại, số lượng và đúng thời kỳ Lily yêu cầu dinh dưỡng sớm, yêu cầu cao

nhất trong 3 tuần đầu sau trồng Dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều tới sinh trưởng phát triển của cây, nhất là một số nguyên tố: đạm, lân, can xi Tuy nhiên, Lily cũng dễ bị ngộ độc muối, mẫn cảm với hợp chất chứa Clo và Flo Nếu hàm lượng Flo trong không khí cao dễ gây cháy lá ; hàm lượng Clo trong đất cao trên 15mmol/lít sẽ bị ngộ độc rễ Đất thiếu Can xi, Lily dễ bị vàng lá, cây sinh trưởng phát triển kém

1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới

1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cắt trên thế giới

1.4.1.1 Tình hình sản xuất hoa cắt và cây cảnh trên thế giới

Đồ thị 1.1 Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên thế giới (ha)

(Nguồn: Jo Wijnands, 2005) Trong những năm gần đây, ngành sản xuất hoa cắt và cây cảnh không ngừng phát triển và mở rộng ở nhiều nước trên thế giới, như: Trung Quốc, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc, Newzealand, Kenya, Ecuador, Colombia, Israel

Hiện nay, Trung Quốc là nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn nhất thế giới với diện tích là 122.600ha, nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn thứ hai là Ấn Độ : 65.000ha Mỹ là nước đứng thứ 3, với khoảng 60.000ha

0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000

Trang 15

(AIPH, 2004)[25] Một số nước châu Âu như : Pháp, Đức, Tây Ban Nha,

Anh, Hà Lan, Israel có nghề trồng hoa phát triển, diện tích trồng hoa của

các nước đều ở mức trên 15.000ha Sản xuất hoa ở các nước châu Âu chiếm

khoảng 15% lượng hoa trên thế giới Ở châu Phi, Kenya là nước trồng nhiều

hoa nhất với diện tích 2.180ha Nam Phi và Zimbabwe có diện tích trồng hoa

khoảng 1.100ha

Như vậy, diện tích trồng hoa tập trung chủ yếu ở các nước châu Âu và

châu Á, một phần ở các nước châu Phi

1.4.1.2.Tình hình tiêu thụ hoa trên thế giới

Trên thế giới có 3 thị trường tiêu thụ hoa chính là Mỹ, các nước châu

Âu và Nhật Bản (Buschman, 2005)[30]

Hàng năm giá trị xuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD,

đứng đầu trong 4 nước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD,

Colombia 430 triệu USD, Kenya 70 triệu USD và Israel 135 triệu USD

(http://www.flowerzone.co.nz/industry.html)[59]

Đức là một trong những nước nhập khẩu hoa cắt lớn nhất thế giới, với

giá trị nhập khẩu hoa cắt của Đức là 880 triệu Euro mỗi năm; Anh: 830 triệu

Euro; Mỹ: 600 triệu Euro; Canada: 203 triệu Euro Hà Lan không chỉ là nước

xuất khẩu nhiều hoa mà còn là một nước nhập khẩu hoa lớn, giá trị nhập khẩu

chiếm khoảng 25% xuất khẩu (Jo Wijnands, 2005)[38]

Tình hình tiêu thụ hoa trung bình/người và ước tính giá trị thị trường

của một số nước trên thế giới được thể hiện ở Đồ thị 1.2 như sau:

Đồ thị 1.2 Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100

triệu Euro) của một số nước trên thế giới (Nguồn: Jo Wijnands, 2005) Tiêu thụ hoa bình quân trên đầu người hàng năm của các nước trên thế giới biến động trong phạm vi rất rộng từ vài Euro như ở Nga đến trên 90 Euro như ở Thuỵ Sỹ Ước tính giá trị thị trường cao nhất là Mỹ, đạt trên 7.000 triệu Euro; sau đó đến Nhật, đạt gần 4.000 triệu Euro; Đức trên 3.000 triệu Euro

và Anh trên 2.000 triệu Euro

Tính theo số lượng hoa cắt năm 2006, 11 nước châu Âu đã xuất khẩu 175,86 triệu cành hoa cắt, trong đó Lily : 6,19 triệu cành; nhập khẩu: 67,29 triệu cành, thì Lily là 543.900 cành (http://www.p-maps.org)[63] Tiêu thụ hoa cắt ở châu Á cũng tăng nhanh từ những năm 1993 trở lại đây, như : Inđonêxia năm 1993 tiêu thụ 33,93 triệu cành, năm 1999 tiêu thụ 58,99 triệu cành; Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ năm 1993 khoảng 400 triệu cành, đã tăng lên 1,09 tỷ cành vào năm 1996 (Yang Xiaohan, 1996)[50]

Như vậy, thị trường hoa cắt trên thế giới là rất lớn, bên cạnh những thuận lợi để phát triển nghề trồng hoa, thì khó khăn cũng không nhỏ, nhất là những thách thức thị trường cho các nước xuất khẩu hoa (Jo Wijnands, 2005)[38]

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Trang 16

1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Lily trên thế giới

1.4.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới

Lily là loài hoa cắt được trồng rộng rãi trên thế giới (Beers.C.M,

2005)[28] Hoa có hình dáng đẹp, màu sắc phong phú, quyến rũ, sang trọng,

nhất là nhóm Lily thơm (L.longiflorum Thumb) được coi là biểu tượng của sự

thanh khiết và lộng lẫy (Lê Quang Long và CS, 2006)[14] Hiện nay, Lily

đang là một trong sáu loài hoa cắt phổ biến, quan trọng nhất trên thế giới (De

Hertogh & Le Nard, 1993)[34] Mặc dù Lily mới được phát triển trong những

năm gần đây, nhưng đã có thị trường tiêu thụ rộng lớn do đa dạng về chủng

loại và số lượng các giống lai thương mại (De Hertogh, 1996)[35] Lily có

thể trồng làm hoa cắt, hoa trong chậu và hoa ngoài vườn (De Hertogh, 1996;

Grassotti, 1996 ; Mynett, 1996) [35], [37], [41] Tuy nhiên, hoa Lily được

trồng nhiều ở một số nước, như : Hà Lan, Pháp, New Zealand, Mỹ, Chi Lê,

Italia, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới (ha)

(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2005)

Hà Lan là nước đứng đầu trong các nước sản xuất hoa Lily về cả củ

giống và hoa Lily thương phẩm Lily là cây đứng thứ 5 trong các loài hoa cắt

quan trọng của Hà Lan (Van Tuyl J.M, 1996)[49] Trong những năm gần đây

diện tích trồng Lily của Hà Lan tăng nhanh chóng: từ 100 ha năm 1970 lên

4800ha năm 2000 (Van Tuyl J.M, 2005)[48] Phần lớn Lily được lai giống và

sản xuất ở Hà Lan (Chi.H.S, 1999)[32] Thông qua các chương trình nghiên

cứu, tạo giống tiên tiến: nuôi cấy mô tế bào trong ống nghiệm (In vitro), tạo giống đa bội thể, chuyển gen đã tạo ra nhiều giống mới có khả năng thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh tốt, hoa đẹp, năng suất cao (Van Tuyl.J.M, 1996)[49] Hàng năm, Hà Lan sản xuất được 11,8 tỷ cành hoa cắt, trong đó Lily chiếm 3,5% (Beers.C.M, Barba-Gonzalez.R, Van Silfhout.A.A, Ramanna.M.S, and Van Tuyl.J.M, 2005)[48] Mỗi năm sản xuất 2,21 tỷ củ Lily giống, thì 2,11 tỷ củ (95,5%) được sử dụng làm hoa cắt, trong đó khoảng 0,41 tỷ củ (19,4%) được trồng ở trong nước, xuất khẩu sang các nước châu

Âu 1 tỷ củ và các nước ngoài châu Âu 0,7tỷ củ (Buschman, 2005)[30] Công nghệ sản xuất hoa Lily của Hà Lan tiên tiến, đầu tư cơ sở vật chất lớn, như nhà kính năm 2003 có tới 266ha (Jo Wijnands, 2005)[38] Do đó, Hà Lan có thể sản xuất hoa Lily quanh năm, nên giá thành sản xuất thấp, hiệu quả kinh tế cao

Trung Quốc là nước trồng hoa Lily sớm nhất, những nghiên cứu thấy rằng từ đời Đường người ta đã trồng Lily để lấy củ ăn như một món ăn sang trọng có lợi cho sức khoẻ (http://en.wikipedia.org)[56] Hiện nay Trung Quốc

có 46 loài 18 biến chủng Lily, chiếm khoảng 50% tổng số loài trên thế giới (Zhao.X, 1996)[51] Lily được phân bố ở khắp các vùng, đặc biệt là ở Sichuan, Yunnan, Xizang và Gansu; các giống trồng chính là: Navona, Acapulco, Elife, Lorian, Solemio, Pollyanna, Adelina, Akita, Her Grace, Jessica, Maremma, Amanda, Ankra, Apropas, Merostar, Wisdom, Snow Queen và White Satin (Yang Xiaohan, 1996)[50] Nhiều giống Lily của

Trung Quốc có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi, như: L legale,

L.formosanum, L subphureum với điều kiện nóng; L.henryi, L.davidii, L sargentiae, L.leucanthum với điều kiện muối và kiềm; L.pulilum, L.concolor

với hạn hán; và L dauricum và L.distichum với điều kiện lạnh

Hiện nay Trung Quốc tập trung nghiên cứu một số chủng L.regale,

L.sulphureum, L.davidii và L.lancifolium để đưa vào trồng trọt và đang thực

Trang 17

hiện chương trình bảo tồn các loài Lily độc, quý hiếm Trong tương lai,

nghiên cứu, bảo quản phát triển Lily bằng phương pháp mầm phôi, nguyên

sinh chất sẽ được triển khai tại Trung Quốc (Zhao.X, 1996)[51]

Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là một trong

những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á, mỗi năm nhập

khẩu hoa giá trị khoảng 500 triệu USD Hoa Lily đứng ở vị trí thứ tư trong

các loài hoa ở Nhật Hiện nay diện tích trồng hoa Lily của Nhật Bản khoảng

550ha (Okazaki.K, 1996)[47] Lily phân bố ở nhiều vùng, mỗi vùng có những

đặc trưng riêng: vùng Kagoshima sản xuất giống L.longiflorum, vùng Niigata

và Hokkaido sản xuất giống lai châu Á, vùng Toyama sản xuất giống

speciosum, Giống Stargazer và Casa Blanca không những được ưa chuộng ở

Nhật mà còn nổi tiếng trên thế giới Sản xuất củ giống ở Nhật chủ yếu là loài

L.longiflorum với diện tích 180ha, cung cấp khoảng 20 triệu củ giống cho thị

trường

Năm 1928, Nhật Bản bắt đầu có những nghiên cứu đầu tiên về Lily, đó

là nghiên cứu về lai giống giữa L.formosanum và L.longiflorum Sau đó mở

rộng nghiên cứu ra nhiều lĩnh vực khác, như: giải quyết hiện tượng bất dục do

lai xa khác loài, nuôi cấy mô, nuôi cấy noãn sào trong môi trường dinh dưỡng

cơ bản - MS(Murashige and Skoog, 1962)[40]

Những năm gần đây Hàn Quốc là một nước phát triển nghề trồng hoa

mạnh, xuất khẩu hoa lớn nhất khu vực Đông Bắc Á Diện tích trồng hoa của

Hàn Quốc vào khoảng 15.000ha, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8

lần năm 1989 Lily là cây đứng thứ tư trong các cây hoa cắt ở Hàn Quốc

(Kim.Y, 1996)[39]; năm 2003 Hàn Quốc xuất khẩu hoa Lily sang Nhật giá trị

khoảng 10 triệu USD, nhập khẩu giống từ Hà Lan trị giá khoảng 4 triệu USD

(Rhee, 2005)[43] Hàn Quốc có 11 loài Lily nội địa, trong đó 8 loài

L.concolor var pulchellum, L.callosum, L.amabile, L.cernuum, L.lancifolium

(L.tigrinum), L leichtliniiuva maximowiczii, L.pumilum và L dauricum thuộc

nhóm Sinomartagon và 3 loài L.hansonii, L tsingtauense và L.distichum

thuộc nhóm Martagon Diện tích trồng Lily tăng, năm 1985: 32ha, năm 1992

là 223ha, trong đó giống L.longiflorum, chiếm 55%; lai châu Á và lai phương

Đông chiếm 37%, 8% là các nhóm khác

Từ đầu thập niên 1990 nghiên cứu sản xuất giống lai khác loài Lily đã được tiến hành ở Hàn Quốc (Rhee, 2002)[42] Hiện nay Hàn Quốc đang tập trung nghiên cứu sản xuất giống sạch bệnh vi rút, nghiên cứu sản xuất kết hợp quản lý dịch hại, khắc phục bệnh sinh lý để đưa vào trồng trọt

Ở Italia diện tích trồng hoa cắt vào khoảng 8.000ha thu nhập hàng năm trên 1,1 tỷ USD Lily là một loại cây hoa cắt có hiệu quả kinh tế cao, hoa Lily được trồng quanh năm (mùa xuân sản xuất trong nhà kính, mùa hè sản xuất ngoài trời), ở nhiều vùng, nhưng được trồng nhiều ở phía Nam Italia, diện tích trồng khoảng 280-300ha, thu nhập khoảng 71 triệu USD (Grassotti, 1996)[37] Hiện nay, Italia vẫn phải nhập giống từ Hà Lan với giá trị khoảng

152 triệu USD mỗi năm, trong đó 70% là giống L.elegans, 20% là lai phương Đông và 10 % là giống thơm (longiflorum); do giá giống ngày càng tăng cao

nên Italia đã khuyến khích các viện nghiên cứu và công ty hoa tư nhân nghiên cứu sản xuất củ giống

Kênia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và cũng là nước xuất khẩu hoa tươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, Kênia có tới 3 vạn nông trường với hơn 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa phăng, hoa Lily và hoa hồng Mỗi năm xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó hoa Lily chiếm 35%

Đài Loan là nước có công nghệ sản xuất hoa Lily cắt cành tiên tiến, trình độ canh tác cao, diện tích trồng hoa Lily khá lớn: năm 2001 có 490ha trồng Lily, giá trị xuất khẩu Lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD

Trang 18

Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước khác trên thế giới trồng

Lily, như: Mỹ, Đức, Pháp, Canada, Israel, Úc, Chi Lê, Mêhicô, Côlômbia,

NewZeland, Thái Lan, Singapore, Ma lai xi a

1.4.2.2 Một số đặc điểm chung của ngành sản xuất hoa trên thế giới

Đặc điểm cơ bản của ngành sản xuất hoa tiên tiến trên thế giới là tạo

lập cơ chế chính sách, đầu tư, hỗ trợ đồng bộ, thoả đáng, để thúc đẩy sản xuất

phát triển

Có sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty tư nhân và người sản xuất Bên

cạnh sự đầu tư của nhà nước, các công ty tư nhân cũng đẩy mạnh nghiên cứu

khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất hoa

Kỹ thuật sản xuất hoa nói chung, hoa Lily nói riêng ở trình độ cao, sản

xuất trong điều kiện được bảo vệ, nhà kính là chính (ở Israel 100% diện tích

trồng hoa được bảo vệ); do đó có khả năng điều khiển chế độ nhiệt, ẩm độ

không khí, dinh dưỡng, ánh sáng theo yêu cầu từng thời kỳ sinh trưởng phát

triển của cây hoa, nên chất lượng hoa cao

Có sự gắn kết giữa nghiên cứu sản xuất với thị trường tiêu thụ sản

phẩm

Vì vậy, nghề trồng hoa của các nước tiên tiến trên thế giới có tính rủi ro

thấp hơn, hiệu quả kinh tế cao

1.5 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa ở việt nam

1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loài hoa và cây cảnh

phát triển Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200ha diện tích trồng

hoa cây cảnh (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007)[2] Sản xuất

hoa cho thu nhập cao, bình quân đạt khoảng 70-130 triệu đồng/ha nên rất

nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích trồng hoa trên những

vùng đất có tiềm năng (http://www.rauhoaquavietnam.vn)[64]

Tại miền Bắc, sản xuất hoa tập trung ở một số địa phương : Thành Phố

Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lao Cai, Sơn La và Hà Giang Loại hoa sản xuất nhiều nhất ở vùng này là hoa Cúc, chiếm khoảng 35%, thứ 2 là hoa Hồng chiếm 32%; còn lại là các loại hoa khác, như: Lay ơn, Đồng tiền, Cẩm chướng, Huệ, Lan (http://xttm.agroviet.gov.vn)[53] Vùng sản xuất nhiều hoa như : Tây Tựu-Từ Liêm-Hà Nội : 330ha ; Vĩnh Phúc 867ha ; Hải Phòng : 755ha ; Hoành Bồ-Quảng Ninh 10ha; Lao Cai 95,7ha; Sơn La 22ha, Hà Giang 18ha

Các tỉnh phía Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là địa phương có diện tích trồng hoa cây cảnh lớn khoảng 700ha, với 1.400 hộ sản xuất trên 8 quận huyện, các loại hoa trồng chính là: hồng môn, lay ơn, đồng tiền, thiên điểu Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước, với diện tích trồng hoa cây cảnh năm 2005 là 2027ha (http://www.rauhoaquavietnam.vn)[64] Hoa được sản xuất chủ yếu ở Thành Phố Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An, sản lượng hoa khoảng 640 triệu cành Nghề trồng hoa ở Đà Lạt đang có xu hướng phát triển mạnh, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, sử dụng giống mới, cải tiến quy trình canh tác, áp dụng các loại phân bón thế hệ mới với đặc tính phân giải chậm, sử dụng các vật liệu hỗ trợ sản xuất… nhưng ứng dụng mang lại hiệu quả rõ rệt nhất là sản xuất hoa trong nhà màng, sử dụng các hệ thống tưới cải tiến và sử dụng giống thông qua kỹ thuật nhân cấy mô thực vật (Nguyễn Văn Tới, 2007)[20] Diện tích trồng hoa, cây cảnh của nước ta tăng trưởng ổn định trong suốt 12 năm qua; so năm 1994, diện tích hoa cây cảnh năm 2006 tăng 3,8 lần (diện tích hoa cây cảnh năm 1994 : 3.500ha, năm 2006 : 13.400ha) giá trị tăng

6 lần, đạt 1.045 tỷ đồng (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[11] Hiệu quả kinh tế từ trồng hoa gấp 10 lần so với lúa và 7 lần so với cây trồng khác; nếu đầu tư 28

Trang 19

triệu cho 1 ha hoa thì lợi nhuận thu được 90 triệu đồng (Nguyễn Xuân Linh,

1998)[12]

Mặc dù diện tích trồng hoa cây cảnh ở nước ta tăng, nhưng việc sử

dụng hoa cắt ở nước ta chưa nhiều, bình quân khoảng 1USD/người/năm, so

sánh với các nước khác trên thế giới, như: Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan,

Ytalia (bình quân 1 người 16,6USD/năm) thì nước ta sử dụng hoa cắt còn rất

ít Tiêu thụ hoa trong nước đa dạng về chủng loại, nhưng chất lượng hoa thấp,

giá rẻ, hiệu quả kinh tế không cao; hoa được tiêu thụ tập trung chủ yếu vào

những ngày lễ, tết, các ngày kỷ niệm Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được

một số loại hoa cắt cành như : hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng,

Lily sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Australia, Ả rập,

nhưng số lượng chưa nhiều bình quân khoảng 10 triệu USD/năm Sở dĩ sản

phẩm hoa cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới là do

chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu

của khách hàng quốc tế (http://www.rauhoaquavietnam.vn)[64]

1.5.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam

1.5.2.1 Tình hình nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam

Việt Nam có 2 loài Lilium hoang dại: L.browii F.E Brown var

Cochesteri Wils mọc trên núi đá, các đồi cỏ ở Bắc Thái, Cao Lạng (nay là tỉnh

Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn) và loài L.poilaneigag.nep

xuất hiện ở đồi cỏ Sa Pa-Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lao Cai) (Võ Văn Chi,

Dương Đức Tiến, 1978; Lê Quang Long và CS, 2006)[3], [13] Tuy nhiên,

các giống Lily trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập nội từ Hà Lan,

Đài Loan hoặc Trung Quốc Nghiên cứu về hoa Lily tập trung ở một số

hướng: khảo nghiệm để lựa chọn được những giống nhập nội phù hợp với

điều kiện sinh thái từng vùng; nghiên cứu sản xuất củ giống bằng kỹ thuật in

vitro, nuôi cấy bioreator bên cạnh đó, nghiên cứu kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa Lily cũng được quan tâm

Nghiên cứu khảo nghiệm hoa Lily được thực hiện ở nhiều vùng phía Bắc bước đầu đã thu được kết quả khả quan (Trần Duy Quý, 2004)[16] Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Đông từ năm 2002 đến năm

2004 đã xác định được 3 giống Lily: Tiber, Siberia và Acapulco có khả năng trồng phù hợp ở khu vực phía Bắc; kết quả khảo nghiệm tại các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên đã khẳng định được 2 giống Tiber và Sorbonne sinh trưởng, phát triển tốt tại địa phương

Nghiên cứu sản xuất giống Lily ở Việt Nam cũng đem lại một số kết quả nhất định, như: Nghiên cứu phương pháp tạo củ in vitro trên một số giống hoa Lily nhập nội (Nguyễn Thái Hà và CS, 2003)[10] Nghiên cứu khả năng tạo củ của Lily bằng cách tạo củ sơ cấp Lily trong ống nghiệm (Hà Thị Thuý

và CS, 2005)[19] Nghiên cứu nhân giống củ Lily bằng kỹ thuật in vitro nuôi cấy trong môi trường cơ bản (MS) có bổ sung 12% đường sacaroza, nhiệt độ phòng 25-270C, độ ẩm 70%, cường độ chiếu sáng 3000lux do tác giả Nguyễn Thị Lý Anh Viện Sinh học Nông nghiệp-Trường Đại học Nông nghiệp I Kết quả cho thấy các cây trồng từ củ in vitro có khối lượng trên 1g/củ và được xử

lý ở nhiệt độ 50C trong 3 tháng đã sinh trưởng, phát triển tốt và có chất lượng củ thu hoạch cao (Nguyễn Thị Lý Anh, 2005)[1] Các nhà khoa học thuộc Phân viện Công nghệ sinh học Đà Lạt và Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) đã thành công trong việc nhân giống Lily bằng kỹ thuật nuôi cấy bioreactor, sau 1-2 tháng có thể tạo ra 10.000 cây Lily giống từ bình nuôi cấy loại bioreactor có thể tích 20 lít, cây

có khả năng sống và sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên đến 95% (http://www.cuctrongtrot.gov.vn) [54]

Nghiên cứu về một số giải pháp kỹ thuật: sử dụng chất kích thích sinh trưởng, bón phân qua lá, che bóng cho cây thực hiện ở Lạng Sơn, Thái

Trang 20

Nguyên, Bắc Kạn đã xác định được một số chất kích thích sinh trưởng: GA3

có tác dụng làm tăng chất lượng hoa (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[11], phân bón

qua lá Antonik có tác dụng tốt đến sinh trưởng và chất lượng hoa (Phạn Thị

Mai Chinh, 2007)[4]

1.5.2.2 Tình hình sản xuất hoa Lily ở Việt Nam

a Tình hình sản xuất hoa Lily trong nước

So sánh với chủng loại hoa khác thì sản xuất hoa Lily ở nước ta chiếm

một tỷ lệ thấp về cả diện tích và số lượng

Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng hoa Lily nhiều nhất so với

các địa phương khác trong cả nước, chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích

trồng hoa Tình hình phát triển hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, do có điều

kiện ngoại cảnh phù hợp cho sự phát triển của các giống hoa Hơn nữa Đà Lạt

có kỹ thuật trồng hoa Lily cao hơn những vùng khác, nên hoa sinh trưởng

phát triển tốt, chất lượng hoa đồng đều Lily là một trong những loại hoa đem

lại hiệu quả kinh tế cao cho một số công ty hoa ở Đà Lạt Ở đây có một công

ty nước ngoài đầu tư sản xuất hoa Lily từ năm 1994, diện tích trồng hoa Lily

khoảng 4 ha, mỗi năm cung cấp cho thị trường 3 triệu cành

Hiện nay, một số tỉnh miền núi phía Bắc, như: Lạng Sơn, Sơn La, Bắc

Kạn, Hoà Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên đã

tiến hành sản xuất một số giống Lily thương mại: Tiber, Sorbonne, Siberia,

Acapulco, Stargazer, Yelloween, Starfighter nhưng mới ở quy mô thử

nghiệm nhỏ, chưa đưa ra sản xuất đại trà

Nhìn chung, việc sản xuất hoa Lily của nước ta còn nhiều hạn chế về

diện tích, năng suất và sản lượng, dẫn tới giá thành hoa cắt còn khá cao, trung

bình 20.000-30.000 đồng/cành Lily ; dịp lễ, tết có thể lên tới 50.000

đồng/cành thậm chí 80.000đồng/cành

b Tình hình sản xuất hoa ở Bắc Kạn

Nghề trồng hoa ở tỉnh Bắc Kạn chưa phát triển, quy mô nhỏ lẻ, manh mún Hoa được trồng ở một số phường, xã của Thị xã Bắc Kạn: phường Sông Cầu, xã Huyền Tụng và xã Dương Quang Số lượng và chủng loại ít, chủ yếu

là hoa Hồng và hoa Cúc Hai năm gần đây (2005-2006) tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành trồng thử nghiệm một số loài hoa có giá trị kinh tế cao, như: hoa Lily, Cẩm chướng, Tuy líp, Đồng tiền, Layơn bước đầu thu được kết quả khá khả quan; xác định được một số giống hoa tương đối phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương Năm 2007, một số hộ dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã đầu tư trồng hoa Lily, với diện tích khoảng 0,5ha (tương đương 100.000 củ giống) Tuy nhiên, với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, nghề trồng hoa ở Bắc Kạn chưa thực sự có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

1.5.2.3 Một số đặc điểm chung của nghề trồng Lily ở Việt Nam Ngành sản xuất hoa nói chung, sản xuất Lily nói riêng ở nước ta còn nhiều tồn tại :

- Về quy mô : các cơ sở sản xuất hoa cắt cành ở nước ta ở quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún, tản mạn ; sản xuất đơn lẻ, diện tích 1.000-2.000

m2/hộ (http://www.rauhoaquavietnam.vn)[64]

- Về kỹ thuật: Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm là chính, nhân giống bằng phương pháp cổ truyền: gieo hạt, trồng bằng củ, mầm nên giống dễ bị thoái hoá, chất lượng hoa kém Đầu tư khoa học kỹ thuật còn thấp

so với các nước trong khu vực và thế giới; chủ yếu là sản xuất ngoài tự nhiên; tính đến năm 2005, tỉ lệ diện tích hoa cây cảnh áp dụng biện pháp tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới chỉ đạt khoảng 35%, diện tích trồng hoa cây cảnh trong nhà có mái che chiếm 5% (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[11], trong đó tập trung chính ở Lâm Đồng với 650ha diện tích trồng hoa trong nhà màng (Nguyễn Văn Tới, 2007)[20] Chính vì vậy mà nghề sản xuất hoa dù có thu

Trang 21

nhập cao, nhưng cũng gặp khá nhiều rủi ro và phụ thuộc nhiều vào điều kiện

tự nhiên

- Các giống hoa chủ yếu nhập nội từ nước ngoài, bằng nhiều con đường

khác nhau, nhưng chủ yếu lại bằng con đường không chính thức nên rất khó

khăn cho việc quản lý chất lượng giống, bị động sản xuất, giá thành sản phẩm

cao

- Chưa có sự chỉ đạo thống nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ

- Diện tích ít, sản lượng thấp, chất lượng hoa chưa cao

1.5.2.4 Triển vọng của nghề trồng Lily ở nước ta

Hoa Lily mới phát triển mấy năm gần đây ở nước ta nhưng đã được

nhiều người yêu thích, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng

Hiện nay, ở Việt Nam, Lily được xếp vào loại hoa cao cấp, thường đắt

hơn 10-15 lần so với các loại hoa thông thường như: cúc, hồng, cẩm chướng,

chỉ đắt sau phong lan và địa lan (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Với nhu cầu tiêu thụ hoa của thị trường như trên, Việt Nam có nhiều cơ

hội để sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ hoa ở trong nước và trên thế

giới

1.6 Nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất hoa lily

1.6.1 Đất trồng

Đất trồng Lily phải là đất thoát nước tốt để tránh thối rễ, củ và vàng lá

sau này (Richard McAvoy, 2006)[44] Cần kiểm tra đất trước khi trồng và

kiểm tra định kỳ trong vụ trồng Độ chua đất ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng

phát triển của Lily Độ chua thích hợp cho Lily sinh trưởng là: 6,0-6,5, nếu

pH thấp, thiếu phốt pho, có thể bị cháy lá (http://edis.ifas.ufl.edu)[55] Để cải

tạo độ chua, có thể sử dụng một số biện pháp, như: trộn than bùn vào đất và

bón vôi bột, lưu huỳnh hoặc sun phít sắt có thể giảm độ pH Trong quá trình

bón phân, chúng ta nên sử dụng đạm Nitrat để hạn chế làm tăng độ pH trong đất (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

1.6.2 Thời vụ

Ở một số nước như: Hà Lan, Italia người ta có thể trồng quanh năm trong nhà kính (Grassotti, 1996)[37] Tuy nhiên ở điều kiện nước ta cần tránh trồng vào vụ hè, vì phải tiêu tốn nhiều năng lượng để hạ thấp nhiệt độ, dẫn đến giá thành sản xuất cao Nếu trồng ở điều kiện tự nhiên, nhiệt độ cao, thời gian sinh trưởng của hoa ngắn, chất lượng hoa kém dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Lily là cây có hoa nở tập trung, nên cần bố trí các thời vụ trồng để hoa

nở vào các dịp lễ, tết, như: tết âm lịch, ngày 8/3, ngày 20/11 mới đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Muốn có hoa nở vào dịp mong muốn, cần phải bố trí thời điểm trồng hợp lý (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[11]

1.6.3 Mật độ, khoảng cách trồng

Nghiên cứu mật độ trồng người ta thấy rằng: mật độ trồng phải căn cứ vào chủng loại giống, chu vi củ, điều kiện trồng và thời tiết của khu vực trồng (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9] Cùng chu vi củ là 10-12cm, với giống châu Á trồng mật độ 30-45 củ/m2, nhưng với giống Lai phương Đông mật độ là 30-40 củ/m2 Cùng một giống, chu vi củ nhỏ trồng mật độ dày hơn, chu vi củ lớn trồng mật độ thưa hơn: giống Sorbonne chu vi củ 14-16 cm, mật

độ 45-55 củ/m2 ; chu vi củ 16-18, mật độ 40-50 củ/m2 ; chu vi củ 18-20 trồng 35-45 củ/m2

Thông thường người ta trồng Lily ở một số khoảng cách 15cmx 15cm, hoặc 15cmx20cm hoặc 20cmx20cm tuỳ thuộc vào điều kiện trồng trọt thực

tế

Trang 22

1.6.4 Cách trồng

Để có hiệu quả nên trồng Lily trên luống rộng 1-1,5m, rạch từ 3-5

hàng, rãnh sâu 10 - 12 cm (http://extension.umd.edu)[57] Sau đó đặt củ và

lấp đất dày 5 - 8 cm rồi tưới nước, tưới đẫm trên mặt luống, đợi nước ngấm

hết thì rắc mùn rơm trên mặt luống, khi củ nảy mầm đều thì dỡ bỏ rơm trên

mặt luống

1.6.5 Chăm sóc sau khi trồng

a Dinh dưỡng và phân bón

Hai đến ba tuần đầu sau trồng Lily không cần bón phân (Đặng Văn

Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9] Khi xuất hiện rễ thì bắt đầu bón phân, cứ 1

tuần bón 1 lần: trong nhà kính có thể bón đạm NH4NO3 và Ca(NO3)2 với tỉ lệ

2:1, nồng độ đạm 250 đến 300ppm; trồng ngoài đồng ruộng có thể bón

450-670gram đạm/100 m2 (www://extension.umd.edu)[58]

Kết quả nghiên cứu của Hà Lan cho biết tỷ lệ dinh dưỡng cần cho Lily

giữa các chất N: P: K: Ca: Mg là: 10:1,7: 13,8: 6,4: 0,34 Người ta cho rằng

trước và sau khi củ nảy mầm không cần bón phân chỉ cần bón khi cây cao 10

–12cm…

b Tưới nước

Độ ẩm rất quan trọng, đặc biệt trong 3 tuần đầu sau trồng

(http://edis.ifas.ufl.edu)[55] Lily cần đủ ẩm, nếu đất quá khô hoặc đất quá ướt

đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của Lily; nếu thừa nước thân lá mềm,

yếu, cây vươn dài, hoa mù tăng

Nếu đất khô quá thì tưới nước duy trì độ ẩm đất, nhưng không được tưới

(http://www.Lilynook.mb.ca)[61]

Thời gian tưới tốt nhất là vào buổi sáng, có các cách tưới như: tưới tràn,

tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt Trong đó, biện pháp tưới nhỏ giọt cho hiệu quả

kinh tế rất cao Lượng nước tưới nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, nhiệt độ không khí, giống, tình hình sinh trưởng của cây và hàm lượng muối trong đất

c Ánh sáng Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của Lily Thiếu ánh sáng cây sinh trưởng chậm, mềm yếu, lá vàng, hoa không bền Mầm hoa Lily phát dục vào mùa đông nên cần cung cấp đủ ánh sáng Nếu thiếu ánh sáng vào giai đoạn mầm hoa nhú ra đến khi cắt hoa, hoa sẽ trắng, độ bền hoa cắt giảm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Mỗi một giống Lily yêu cầu chế độ ánh sáng khác nhau, đối với hoa cắt yêu cầu che bóng 30-40% là phù hợp (http://edis.ifas.ufl.edu)[55] Về mùa đông cần chiếu sáng bổ sung, vụ hè cần che bớt ánh sáng, đối với các giống phương Đông che bớt 70%, giống lai châu Á che bớt 50%

Thời lượng chiếu sáng ảnh hưởng đến quá trình nở hoa của Lily Khi trồng vào đông và vụ xuân, thời gian mặt trời chiếu sáng ngắn, điều chỉnh thời gian chiếu sáng có thể giúp cho một số giống hoa Lily nở sớm hơn

d Khắc phục hiện tượng rụng nụ và khô mầm hoa Thiếu ánh sáng dễ dẫn đến hiện rụng nụ và khô hoa Khí Etylen có tác dụng làm nụ bị bại dục Sử dụng chế phẩm STS (silver thiosulfate-hỗn hợp của AgNO3 + NaSO3) phun vào lúc nụ dài 3 cm với nồng độ 0,1 mmol/lít Phun kép 1- 2 lần trong 1 tuần, có thể khắc phục được hiện tượng rụng nụ và khô mầm hoa (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

1.6.6 Nghiên cứu về sâu bệnh hại

Vấn đề lớn của người trồng Lily là bệnh vàng lá và rụng nụ (www.umass.edu)[62] Nguyên nhân gây bệnh cho Lily có nhiều, như: Bệnh do các loại nấm gây nên: bệnh khô lá do Botrytis elliptica; nấm Furarium gây hại lớn trên nhiều loại cây trồng (Đoàn Thị Thành, 2005)[17] trong đó có bệnh thối củ của Lily

Trang 23

Thiếu can xi là vấn đề nghiêm trọng làm giảm giá trị và ảnh hưởng đến

http://www.ipm.msu.edu)[46], [60]; thiếu can xi gây hiện tượng cháy lá (leaf

scorch), chết hoại trên lá Lily (upper leaf necrosis), bệnh thường xảy ra ở

những lá trên trước khi nụ hoa xuất hiện đối với củ giống đủ can xi, và ở

những lá thấp đối với củ giống có hàm lượng can xi thấp (Chang, Miller,

2003)[31]

Ngoài ra, Lily còn bị một số bệnh do vi rút hoặc tuyến trùng gây nên

Đối với sâu hại, hoa Lily thường bị một số loại sâu hại chính như: rệp nâu

đen, rệp bông, nhện gây hại chủ yếu ở thân, cành lá và vảy củ làm cho cây

sinh trưởng kém

Biện pháp phòng trừ: ngoài các biện pháp cơ giới, như: tiêu huỷ tàn dư

bệnh, làm sạch cỏ dại thì sử dụng thuốc hoá học khi bệnh xuất hiện là cần

thiết

1.6.7 Thu hoạch và bảo quản hoa Lily

- Thu hoạch: Thời gian thu hoạch tốt nhất với Lily là lúc nụ thứ nhất

phình to và chuyển màu (http://extension.umd.edu[58] Thu hoa muộn, khi đã

nở vận chuyển khó khăn, phấn hoa rơi làm bẩn hoa, làm giảm giá trị thẩm mỹ

của hoa Cắt Lily vào buổi sáng, cách mặt đất 10 - 15 cm, để 5 - 6 lá gốc Sau

khi cắt hoa, nhúng 1/3 cuống hoa vào nước sạch, nhanh chóng đưa vào chỗ

mát để bảo quản, hoặc cắm vào bình Nếu để vận chuyển, cần bó thành từng

bó 5 bông/bó, cắt bỏ lá gốc và tiếp tục nhúng gốc hoa trong nước Tuổi thọ

của hoa Lily có thể kéo dài 9-14 ngày hoặc dài hơn tuỳ giống

(http://extension.umd.edu)[58]

- Bảo quản hoa: Sau khi cắt khỏi cây mẹ, cành hoa bị mất đi nguồn

cung cấp nước và chất dinh dưỡng Cành hoa vẫn phải tiếp tục hô hấp và thoát

hơi nước, protein và tinh bột vẫn bị phân giải Vì vậy, nếu không được bổ

sung nước và chất dinh dưỡng hoa sẽ nhanh tàn Do đó, hoa cắt cần được bảo quản tốt, có một số phương pháp bảo quản sau:

Bảo quản lạnh: dùng nước lạnh, kho lạnh làm giảm quá trình hô hấp của hoa, có thể bảo quản 3-5 ngày ở nhiệt độ 3-50C; xử lý hoá chất bằng Thi-o sun phát bạc (STS) 24 giờ ở nhiệt độ 200C trước khi vận chuyển (http://edis.ifas.ufl.edu)[55]

- Kích thích hoa nở: sau khi xử lý lạnh một thời gian dài làm cho hoa khó nở, cần phải xử lý kích thích hoa nở bằng cách nhúng hoa trong dung dịch diệt khuẩn 8-hyđroxylpuril 200 mg/lít + đường Saccaroza 3% (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

1.7 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Đồn Đèn-Ba Bể

1.7.1 Địa hình

- Khu vực Đồn Đèn là vùng núi cao có độ dốc bình quân 150 - 200, nghiêng từ đông sang tây, là lưu vực đầu nguồn của suối Nà Kiêng chảy về hướng tây Độ cao tuyệt đối tại điểm cao nhất là 1452m, nơi thấp nhất là 400m, trung bình là 800m so với mực nước biển

1.7.2 Khí hậu

Khí hậu, thời tiết ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đối với mỗi loại cây trồng, giống khác nhau thì yêu cầu điều kiện sinh thái là khác nhau Vì vậy, cần phải nghiên cứu điều kiện sinh thái của vùng trước khi đưa một giống cây trồng mới vào sản xuất

Lily là cây trồng ôn đới, rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, nhất là nhiệt độ và ánh sáng… nên việc nghiên cứu thời tiết, khí hậu tại địa phương

sẽ giúp chúng ta khẳng định liệu Lily có thể trồng ở vùng đó được không

a Đặc điểm chung của khí hậu huyện Ba Bể

Trang 24

Khu vực Đồn Đèn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận á

nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của khí hậu ôn đới, hàng năm có bốn mùa, nhưng ở

đây rõ nhất là 2 mùa: mùa khô và mùa mưa

- Mùa khô: kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, độ ẩm thấp, rét và

có sương mù, một số ngày có sương muối, ít mưa

- Mùa mưa: từ tháng 4 đến tháng 9, nóng ẩm, mưa nhiều

- Nhiệt độ bình quân năm: 22-240C

- Tiểu khí hậu ở khu vực là ôn hoà, mát mẻ quanh năm, ít bị ảnh hưởng

của lũ lụt

b Khí hậu khu vực huyện Ba Bể tại các thời vụ thí nghiệm

Từ tháng 11/2006 đến tháng 3/2007 nhiệt độ bình quân ở khu vực Đồn

Đèn biến động từ 14,30C-21,30C, nhưng có thời điểm nhiệt độ xuống thấp tới

40C (tháng 1/2007); thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn, nhất là tháng

1/2007, chỉ đạt 49 giờ chiếu sáng, nên đã ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng và

phát triển của cả 3 giống Lily thí nghiệm, đặc biệt là thời gian sinh trưởng của

3 giống đều dài hơn so với lí lịch gốc

Độ ẩm không khí ở khu vực thí nghiệm bình quân từ 79-85% là tương

đối phù hợp với yêu cầu của cây hoa Lily Tuy nhiên, có những thời điểm độ

ẩm thấp, nhất là tháng 1 và tháng 2 năm 2007, chỉ đạt: 32-35%; lượng mưa

tháng 1/2006, tháng 2/2007 thấp: 3,3-3,4mm, do đó, một phần cũng ảnh

hưởng tới sinh trưởng, phát triển của Lily

Diễn biến tình hình khí hậu khu vực Ba Bể, trong thời gian nghiên cứu

được trình bày ở Bảng 1.2 như sau:

Bảng 1.2 Diễn biến khí hậu thời tiết huyện Ba Bể

Tháng

Nhiệt độ

TB / tháng (oC)

Ẩm độ TB/ tháng ( % )

Lượng mưa (mm)

Tổng

số giờ nắng (giờ)

Khu vực Đồn Đèn huyện Ba Bể có diện tích đất khá rộng, chưa được

khai thác và sử dụng hợp lý, gồm một số loại đất chính sau:

- Đất pheralit màu vàng nhạt phát triển trên đá phiến thạch, sa thạch

- Đất dốc tụ được hình thành do rửa trôi, lắng đọng

Trang 25

1.7.4 Kinh tế-xã hội

- Kinh tế: vùng Đồn Đèn phần lớn là tự cung, tự cấp, ngành nghề chưa

phát triển, chủ yếu sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân còn nhiều

khó khăn (tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm trên 90%)

- Cơ sở hạ tầng: Hiện nay đã có đường nhựa chạy qua đi các xã Cao Trĩ

và Quảng Khê Ở Khu vực này có một hồ nước có dung tích chứa 10.000 m3,

đủ nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của đồng bào

Với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế-xã hội như trên, Khu Đồn Đèn

có thể phát triển một số cây trồng ôn đới mang giá trị kinh tế cao, trong đó có

hoa Lily

Việc đưa hoa Lily vào trồng tại khu vực Đồn Đèn, vừa góp phần tạo

công ăn việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho đồng bào định canh

định cư, vừa phục vụ nhu cầu của thị trường và khách du lịch

Tuy nhiên, do người dân có trình độ thấp thì việc phát triển nghề trồng

hoa Lily ở đây sẽ gặp một khó khăn nhất định

PHẦN 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu về giống hoa Lily tại Bắc Kạn: Nghiên cứu 3 giống Lily nhập nội từ Hà Lan là: Yelloween (thuộc nhóm tạp giao OT), Starfighter và Sorbonne (thuộc nhóm lai phương Đông) nhập từ Hà Lan, đã được xử lý ngủ nghỉ, chiều cao mầm từ 1,5-2cm, chu vi củ giống từ 18-20cm

- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật: giống Lily Sorbonne, nhập từ Hà Lan, đã được xử lý ngủ nghỉ, chiều cao mầm từ 1,5-2cm, chu vi củ giống từ 18-20cm

- Các vật tư như: phân bón (đạm, lân, kali), thuốc bảo vệ thực vật; dụng

cụ như thước kẹp panme, thước mét, sổ sách ghi chép

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Đồn Đèn- huyện Ba Bể -Tỉnh Bắc Kạn

2.1.3.Thời gian nghiên cứu

Tháng 11/2006 đến tháng 2/2008

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một

số giống Lily nhập nội từ Hà Lan

2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất, chất lượng của giống Sorbonne tại Ba Bể-tỉnh Bắc Kạn

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đối với sinh trưởng và phát triển của giống Lily Sorbonne

2.2.4 Xây dựng mô hình sản xuất hoa Lily tại tỉnh Bắc Kạn

Trang 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một

số giống Lily tại Ba Bể- Bắc Kạn

- Thí nghiệm gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại:

+ Công thức 1: giống Yelloween

+ Công thức 2: giống Starfighter

+ Công thức 3: giống Sorbonne

+ Diện tích thí nghiệm: 32,4m2, mỗi ô thí nghiệm 3,6 m2

- Thời vụ: Vụ Đông Xuân năm 2006, trồng ngày: 8/11/2006

- Chế độ bón phân và kỹ thuật chăm sóc: Tuân theo quy trình kỹ thuật của

Viện nghiên cứu rau quả Hà Nội

- Đất thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên nền đất dốc tụ: N=0,23%,

P2O5=0,14%, K2O=0,30%, mùn: 2,47%(Nông Thế Diễn, 2006)[6]

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại (Đỗ

Thị Ngọc Oanh và CS, 2004)[15]

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sinh trưởng, phát triển và

chất lượng hoa của giống Sorbonne tại Ba Bể-tỉnh Bắc Kạn

- Thí nghiệm gồm 3 công thức, trồng thời điểm để hoa có thể nở vào các ngày

lễ, tết (20/11, tết Nguyên đán, ngày 8/3):

+ Công thức 1: Trồng 8/11/2006, dự kiến thu hoạch vào dịp 8/3/2007

+Công thức 2: Trồng 8/9/2007 dự kiến thu hoạch vào 20/11/2007

+Công thức 3 Trồng 8/10/2007 (ngày 28/8/2007 âm lịch), dự kiến thu hoạch

+ Diện tích thí nghiệm: 32,4m2, mỗi ô thí nghiệm 3,6 m2

- Đất thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên nền đất dốc tụ: N=0,23%,

P2O5=0,14%, K2O=0,30%, mùn: 2,47% (Nông Thế Diễn, 2006)[6]

- Chế độ bón phân và kỹ thuật chăm sóc: Tuân theo quy trình kỹ thuật của Viện nghiên cứu rau quả Hà Nội

+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô vuông la tinh (Đỗ Thị Ngọc Oanh và

- Diện tích thí nghiệm 43,2m2 Mỗi ô thí nghiệm 3,6m2

- Đất thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên nền đất dốc tụ: N=0,23%,

P2O5=0,14%, K2O=0,30%, mùn: 2,47% (Nông Thế Diễn, 2006)[6]

- Thời vụ trồng: ngày 8/10/2007 dự kiến hoa nở vào dịp tết Nguyên đán năm

2008

- Quy trình trồng và chăm sóc được tiến hành theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Trang 27

- Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, với 3 lần nhắc lại (Đỗ

Thị Ngọc Oanh và CS, 2004)[15]

2.3.4 Xây dựng mô hình trồng hoa lily tại tỉnh Bắc Kạn

- Xây dựng mô hình trồng hoa Lily với diện tích 400m2: theo dõi đặc

điểm sinh trưởng, phát triển và đánh giá hiệu quả kinh tế

2.3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.3.5.1 Các chỉ tiêu theo dõi

a Khả năng sinh trưởng và phát triển

- Theo dõi tỉ lệ nảy mầm của các giống (%)

+ Theo dõi số củ nảy mầm

- Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của giống Lily thí nghiệm

+ Theo dõi động thái ra lá của cây: đếm số lá ra trên một thân của cây

(lá/ thân)

+ Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo từ mặt đất đến đỉnh

sinh trưởng cao nhất (cm)

+ Theo dõi chiều cao cây cuối cùng: đo thời điểm hoa chuẩn bị thu

hoạch

+ Theo dõi đường kính thân cuối cùng (cách gốc 10 cm) (cm)

+ Tỷ lệ hoa bị thui/cây (%)

+ Tỷ lệ lá bị biến dạng/cây (%)

- Quan sát, mô tả một số đặc điểm thực vật học của giống Lily thí nghiệm

+ Thân : màu sắc, đường kính, chiều dài thân

+ Lá : Màu sắc, hình dáng, chiều dài, chiều rộng; đo 30 lá, tính trung bình

+ Hoa : Màu sắc, mép hoa, cánh hoa, đường kính hoa, hương thơm b.Chất lượng của giống hoa

- Số hoa trên cây, đường kính nụ hoa ở thời điểm hoa chuẩn bị nở (cm), chiều cao nụ hoa ở thời điểm hoa chuẩn bị nở (cm): mỗi công thức đếm 30 cây (hoa/cây)

- Ngày ra nụ: theo dõi từ ngày trồng đến 10%, 50%, 80% số cây ra nụ của từng công thức

- Theo dõi thời gian nụ có màu từ trồng đến 10%, 50%, 80% số cây nụ đã có màu

- Ngày hoa thứ nhất nở hoàn toàn: theo dõi từ ngày trồng đến 10%, 50%, 80% cây có hoa thứ nhất nở hoàn toàn

- Theo dõi độ bền hoa cắt (ngày): khi hoa đầu tiên hé nở, cắt vào cắm trong lọ nước sạch mỗi ngày thay nước một lần, xác định số ngày hoa tồn tại (nở, héo, tàn), số ngày cả cành hoa tàn (hoa cuối cùng)

- Theo dõi độ bền hoa tại vườn: xác định số ngày hoa tồn tại (nở, héo, tàn), số ngày cả cành hoa tàn (ngày cuối cùng)

c Theo dõi tình hình sâu bệnh hại

- Theo dõi chủng loại sâu bệnh với tỷ lệ và mức độ hại theo phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật (Viện bảo vệ thực vật, 1997, 1999, 2000)[22], [23], [24]

- Đánh giá mức độ sâu bệnh hại theo các mức độ sau:

Đối với sâu (rệp): đánh giá theo 4 mức độ:

* Mức độ lẻ tẻ (rất nhẹ, có từ một rệp đến một quần tụ rệp nhỏ trên lá)

** Mức độ phổ biến (nhẹ, xuất hiện một vài quần tụ rệp trên lá)

*** Mức độ nhiều (rệp có số lượng lớn, không nhận ra quần tụ)

Trang 28

**** Mức độ rất nhiều (rệp có số lượng lớn, đông đặc, ảnh hưởng tới tất cả lá,

- Tổng thu trên đơn vị diện tích

- Tổng chi trên đơn vị diện tích

- Thu nhập hỗn hợp = Tổng thu - Tổng chi (không bao gồm công lao động

của người dân)

- Lãi thuần = Thu nhập hỗn hợp-Chi phí lao động

- Hiệu quả kinh tế = Thu nhập hỗn hợp/Tổng chi (không bao gồm công lao

động)

2.3.5.2 Phương pháp theo dõi

- Định cây theo dõi 10 cây/1 ô thí nghiệm, định kỳ theo dõi 10 ngày/1

lần

- Đối với sâu bệnh hại định kỳ điều tra 7 ngày/lần lấy 5 điểm chéo góc,

mỗi điểm 5 cây, theo phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật của Viện bảo

vệ thực vật (Viện bảo vệ thực vật, 1997,1999, 2000)[22],[23],[24]

- Phương pháp theo dõi: sử dụng phương pháp thống kê, như: đo, đếm,

ghi chép

- Điều kiện thí nghiệm: Kỹ thuật chăm sóc, bón phân, tưới nước, phòng

trừ sâu bệnh và các yếu tố phi thí nghiệm được thực hiện trên các giống và

các thời vụ là đồng nhất như nhau

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp xử lý số liệu: số liệu thu được xử lý thống kê toán học excell (Lê Thanh Dũng, 2004)[8] và phần mềm IRRISTAT (Phạm Tiến Dũng, 2002)[7]

2.3.7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

2.3.7.1.Nghiên cứu về giống

- Nghiên cứu tình hình sinh trưởng phát triển của 3 giống Lily: Sorbonne, Yelloween và Starfighter

2.3.7.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống Sorbonne

- Nghiên cứu mật độ trồng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của giống Sorbonne

Trang 29

PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của một số giống

Lily tại Ba Bể-Bắc Kạn

3.1.1 Tình hình sinh trưởng và phát triển của các giống Lily

Sinh trưởng và phát triển của Lily có thể chia ra các giai đoạn: phát

triển trục thân, ra nụ, nở hoa, kết hạt, chết khô Củ Lily trồng dưới đất thường

sau khoảng 1-2 tuần sẽ nảy mầm, trong trường hợp xử lý không đầy đủ hoặc

gặp trời lạnh thời gian nảy mầm có thể kéo dài 5 tuần Từ khi trồng đến khi ra

nụ khoảng 6-9 tuần Từ khi ra nụ đến nở hoa khoảng 4-7 tuần Các giống khác

nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau

3.1.1.1 Tỷ lệ mọc mầm của các giống Lily

Tỷ lệ mọc mầm phụ thuộc nhiều vào chất lượng của củ giống và ảnh

hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất

Thông thường, sau trồng 5-7 ngày thì củ giống Lily mọc lên khỏi mặt

đất

Theo dõi nảy mầm của 3 giống thí nghiệm thấy rằng: sức nảy mầm của

giống Sorbonne là mạnh nhất, sau trồng 4 ngày đã nảy mầm (21,3%), thời

gian nảy mầm kết thúc sau 8 ngày Giống Starfighter có sức nảy mầm yếu

nhất sau trồng 6 ngày mới nảy mầm (29,8%) và kéo dài sau trồng 14 ngày

mới kết thúc nảy mầm Giống Yelloween sau trồng 4 ngày có tỷ lệ nảy mầm

là 9,3 %, thời gian nảy mầm là 10 ngày

Tỷ lệ mọc mầm của các giống thí nghiệm tương đối cao đều đạt trên 95

% Tuy nhiên, có sự khác nhau về tỷ lệ mọc giữa các giống, giống Sorbonne

có tỷ lệ mọc cao nhất đạt 98,2%, giống Starfighter có tỷ lệ mọc thấp nhất là 95,5% Kết quả mọc mầm của các giống thí nghiệm được trình bày ở Bảng 3.1 như sau:

Bảng 3 1 Tỉ lệ mọc mầm của các giống Lily

Giống

Sau 4 ngày (%)

Sau 6 ngày (%)

Sau 8 ngày (%)

Sau

10 ngày (%)

Sau

14 ngày (%)

Số củ trồng (củ)

Số củ nẩy mầm (Củ)

Tỉ lệ (%)

Bảng 3 2 Số lá và động thái ra lá của các giống Lily Chỉ tiêu

Giống

Động thái ra lá (lá) Sau

30 ngày

Sau

40 ngày

Sau

50 ngày

Sau

60 ngày

Sau

70 ngày

Sau

80 ngày

Sau

90 ngày Tổng

số lá

Ngày đăng: 09/08/2016, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.2. Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
th ị 1.2. Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 (Trang 15)
Bảng 3. 1. Tỉ lệ mọc mầm của các giống Lily - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 1. Tỉ lệ mọc mầm của các giống Lily (Trang 29)
Đồ thị 3. 1. Động thái ra lá của các giống Lily - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
th ị 3. 1. Động thái ra lá của các giống Lily (Trang 30)
Bảng 3. 4. Một số đặc điểm hình thái của các giống Lily - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 4. Một số đặc điểm hình thái của các giống Lily (Trang 31)
Đồ thị 3. 2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây các giống Lily - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
th ị 3. 2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây các giống Lily (Trang 31)
Bảng 3. 8. Đặc điểm hình thái và chất lƣợng hoa của các giống Lily - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 8. Đặc điểm hình thái và chất lƣợng hoa của các giống Lily (Trang 33)
Bảng 3. 15. Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 15. Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của (Trang 38)
Đồ thị 3. 4. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Sorbonne ở - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
th ị 3. 4. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Sorbonne ở (Trang 38)
Bảng 3. 19. Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 19. Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính (Trang 40)
Hình thành nụ, nụ sẽ bị thui, ở thời kỳ ra hoa, hoa sẽ không nở được hoặc dị - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Hình th ành nụ, nụ sẽ bị thui, ở thời kỳ ra hoa, hoa sẽ không nở được hoặc dị (Trang 41)
Bảng 3. 21. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái và động - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 21. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái và động (Trang 43)
Đồ thị 3. 6. Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các mật độ trồng - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
th ị 3. 6. Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các mật độ trồng (Trang 44)
Bảng 3. 22. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 22. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều (Trang 44)
Bảng 3. 25. Đặc điểm hình thái và chất lƣợng hoa của giống Sorbonne ở - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 25. Đặc điểm hình thái và chất lƣợng hoa của giống Sorbonne ở (Trang 45)
Bảng 3. 28. Hiệu quả kinh tế ở các mật độ trồng (10,8m 2 ) - NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG HOA LILY TẠI BA BỂBẮC KẠN
Bảng 3. 28. Hiệu quả kinh tế ở các mật độ trồng (10,8m 2 ) (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w