TRẦN NAM TRUNG PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng LUẬN VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN NAM TRUNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH
VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN NAM TRUNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 EFA (EXPLORATORY FACTOR ANALYSIS): phân tích nhân tố khám phá
2 NĐT CN: nhà đầu tư cá nhân
3 TTCK : Thị trường chứng khoán
4 Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
5 TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky
Hình 3.1 : Biểu đồ thời gian tham gia TTCK của NĐT CN Tp.HCM
Hình 3.2 : Biểu đồ vốn đầu tư vào TTCK của NĐT CN Tp.HCM
Hình 3.3 : Biểu đồ thống kê chiến lược đầu tư của NĐT CN Tp.HCM
Hình 3.4 : Biểu đồ thống kê sự ảnh hưởng của nhân tố tâm lý đến quyết định đầu tư
của NĐT CN Tp.HCM
BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 : Tổng hợp các thang đo được mã hóa
Bảng 3.2 : Thống kê mô tả thời gian tham gia TTCK của NĐT CN Tp.HCM
Bảng 3.3 : Thống kê mô tả số vố đầu tư vào TTCK của NĐT CN Tp.HCM
Bảng 3.4 : Thống kê mô tả chiến lược đầu tư của TTCK của NĐT CN Tp.HCMBảng 3.5 : Thống kê mô tả sự ảnh hưởng của nhân tố tâm lý đến quyết định đầu tư
của TTCK của NĐT CN Tp.HCMBảng 3.6 : Thống kê mô tả các nhân tố hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định
của TTCK của NĐT CN Tp.HCMBảng 3.7 : Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến quan sát
Bảng 3.8 : Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo quyết định đầu tư
Bảng 3.9 : Kết quả phân tích EFA các biến độc lập
Bảng 3.10 : Phân tích phương sai tổng thể
Bảng 3.11 : Kết quả phân tích EFA các biến phụ thuộc
Bảng 3.12 : Ma trận tương quan giữa các nhân tố
Bảng 3.13 : Tóm tắt mô hình hồi quy
Bảng 3.14 : Kết quả kiểm định Anova
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU - 3
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI -6
Lịch sử hình thành và phát triển của Tài chính học hành vi: - 6
Lý thuyết Tài chính học hành vi: (Behavioral Finance) - 7
Thuyết kỳ vọng: (The Prospect Theory) - 8
Sự ghét lỗ: (Loss Aversion) - 9
Sự tiếc nuối: (Regret) - 9
Tâm lý dựa vào kinh nghiệm: (Heuristics) - 10
Tình huống điển hình: (Representativeness) - 10
Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction) - 11
Bám vào những giá trị đã thiết lập: (Anchoring) - 11
Hành vi bầy đàn: (Herb Behavior) -12
Kết luận chương 1 - 13
CHƯƠNG 2 – SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM -14
2.1 Giai đoạn 2000 – 2005: - 14
2.2 Giai đoạn 2006 – 2007: - 18
2.3 Giai đoạn 2008 đến nay - 21
Kết luận chương 2 - 25
CHƯƠNG 3 – KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN TTCK TP.HỒ CHÍ MINH 26
Mô hình khảo sát - 26
Quy trình khảo sát - 26
Kết quả khảo sát - 30
Phân tích mô tả - 30
Đánh giá độ tin cậy của thang đo - 35
-
Trang 7Phân tích nhân tố - 37
Hồi quy tuyết tính -42
Kiểm định mô hình - 45
Kết luận chương 3 - 46
CHƯƠNG 4 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ -47
Thảo luận về kết quả nghiên cứu - 47
Đóng góp của nghiên cứu - 48
Kết luận - 49
Những khuyến nghị - 49
Đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo - 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 52
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát chính thức
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi thô
Phụ lục 3: Biểu đồ VNINDEX từ năm 2000 đến nay
-
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Sau 9 năm đi vào hoạt động (kể từ tháng 07/2000), thị trường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua bao thăng trầm Khởi đầu từ 100 điểm, VN-Index đã nhanh chóng vượt qua mốc 500 điểm rồi trở lại dần xuất phát điểm, gần mốc 150 điểm Tiếp theo
là thời kỳ trầm lắng gần bốn năm để lấy đà cho giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục, vượt mốc 1.000 điểm và đạt đỉnh 1.170,67 điểm vào tháng 3/2007 để rồi sau đó là giai đoạn xuống dốc tệ hại, chạm “đáy” 234,66 điểm vào ngày 24/2/2009 (giảm 80% trong vòng gần 2 năm), đây là mức sụt giảm kỷ lục trong 9 năm hoạt động của TTCK Việt Nam và cũng là mức sụt giảm mạnh nhất thế giới
Đến 08/06/2009, VNINDEX lại chạm mốc 501.48 điểm (tức tăng 130% trongvòng gần 4 tháng so với mức đáy ngày 24/02/2009)
Điều này cho thấy biên độ dao động của VNINDEX là rất lớn và phản ứng cóphần quá mức trước những thông tin tác động đến thị trường
Tác nhân tác động đến thị trường thì có nhiều Ngoài những biến động không lường về tình hình kinh tế vĩ mô ở trong và ngoài nước, tình hình sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp niêm yết thì yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cũng là một nhân tố quyết định Chính yếu tố tâm lý này đã đẩy cho thị trường lên cao và rất nhanh trong một giai đoạn ngắn và cũng chính nó là nguyên nhân làm cho thị trường sụt giảm sâu và mạnh mẽ
Do đó việc nắm bắt được tâm lý của nhà đầu tư và xu hướng của thị trường là một trong những yếu tố then chốt cho việc ra quyết định trong đầu tư Vì vậy, bên cạnh các phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật thì việc nghiên cứu và phân tích hành vi tài chính của nhà đầu tư là một công việc quan trọng không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán và ngày càng được xem xét nhiều hơn khi các phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật hầu như đã không còn phát huy được vai trò của chính nó trong việc nhận định và dự đoán xu hướng của thị trường (như trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 vừa qua)
Trang 9Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà
đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh” được thực hiện
không ngoài mục đích trên và rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hành vi
của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tổ chức tài chính và Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thuộc đối tượng nghiên cứu của công trình này
Cơ sở lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
Trên 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán là tài khoản cá nhân Chính họ là nhân tố tạo nên sự nhộn nhịp, sôi động cho thị trường Ở một số thời điểm, đặc biệt như trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, hầu như các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài nằm im, không giao dịch hoặc giao dịch cầm chừng thì chính họ lại là nhân tố mang đến tính thanh khoản và quyết định cho sự tăng giảm giá trên thị trường mặc dù lượng vốn của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài lớn hơn họ rất nhiều Các quyết định của họ nếu xét trong từng thời kỳ thì thường tỏ ra nhạy bén và bám sát xu hướng của thị trường hơn so với các quyết định của các nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài
Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật của các nhà đầu tư cá nhân là đầu tư theo phong trào và phương thức đầu tư của phần đông trong số này là khi giá chứng khoán tăng thì ào ào mua vào đẩy giá càng lên cao và lên nhanh nhưng khi giá chứng khoán xuống thì lại “giẫm đạp lên nhau, ùa nhau bán tháo" để cắt lỗ đẩy giá chứng khoán giảm sâu hơn
Vì vậy, luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào nhóm các nhà đầu tư cá nhân, để tìm hiểu về các hành vi tài chính của họ trên thị trường trong từng thời kỳ mà trọng tâm
là giai đoạn 2007 – 2009, giai đoạn bùng nổ tăng trưởng, suy sụp và dần hồi phục của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 10Phạm vi nghiên cứu: luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về hành vi của các
nhà đầu cá nhân đã và đang mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt và các Công ty Chứng khoán khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với trọng tâm là giai đoạn 2007 – 2009, giai đoạn ghi nhận nhiều kịch tính và đầy biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp khảo sát thực tế: qua quá trình gần 10 năm công tác trong ngành
tài chính - chứng khoán, tác giả đã có nhiều cơ hội tiếp xúc và tư vấn đầu tư cho nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhóm các nhà đầu tư cá nhân trong nước Từ đó, tác giả đã phần nào nắm bắt được thực trạng về nhu cầu và khả năng đầu tư của khách hàng trong từng thời kỳ để đi sâu nghiên cứu về hành vi tài chính của họ trên thị trường
Phương pháp điều tra: luận văn sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông
qua bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát, tác giả sẽ phân tích dữ liệu với SPSS
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đề tài nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến hành vi tài chính của nhà đầu tư cá nhân, đánh giá một cách khách quan hành vi đầu tư của họ Từ đó, đưa ra những nhận định và khuyến nghị thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiến trình
ra quyết định của các nhà đầu tư cá nhân và giúp cho họ tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư tài chính
Kết cấu luận văn:
Luận văn được chia thành 4 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh tế học hành vi
Chương 2: Sơ lược về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam
Chương 3: Khảo sát sự tác động của các nhân tố hành vi đến quyết
định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Thành phố Hồ Chí Minh.Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI
Lịch sử hình thành và phát triển của Tài chính học hành vi:
Trong thời kỳ cổ điển, kinh tế học đã có mối liên kết gần gũi với tâm lý học
Chẳng hạn như Adam Smith viết cuốn “Lý thuyết về tình cảm luân lý” (The Theory
of Moral Sentiments), văn bản quan trọng mô tả những nguyên lý tâm lý học của các hành vi cá nhân, xuất bản vào năm 1759, được viết ra với thể văn hào nhoáng, chải chuốt, chứa đựng nhiều giai thoại, mang tính chất phân tích Trong tác phẩm này Adam Smith đã mô tả các nguyên tắc về "bản chất con người" và đặt vấn đề về nguồn gốc của khả năng tạo ra các phán xét luân lý, kể cả các phán xét hành vi của chính mình trong việc tư lợi và tự bảo tồn Adam Smith cho rằng trong mỗi người
chúng ta có một "con người bên trong" (an inner man) đóng vai trò như một người
khách quan không thiên vị, thường chấp nhận hay lên án các hành động của chính ta
và của người khác Qua tác phẩm này, Adam Smith đã đưa ra nhận xét quan trọng
mà sau này ông đã lặp lại trong tác phẩm “Tài sản của các quốc gia”: (The Wealth
of Nations): "con người tự tìm kiếm mình thường bị dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình
mà không hay biết, không do chủ đích để làm gia tăng các lợi ích của xã hội…”
Trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, các nhà kinh tế học bắt đầu đặt mình bên ngoài tâm lý học nhằm hướng tới những nghiên cứu kinh tế như một khoa học tự nhiên, bắt đầu với những giải thích về hành vi kinh tế được suy ra từ các giả định về tính tự nhiên của các thực thể (tác nhân) kinh tế Khái niệm con người kinh tế đã được đề xuất, tâm lý của con người được xem xét cơ bản dựa trên lý trí Những đại diện tiêu biểu trong thời kỳ này là: Francis Edgeworth, Vilfredo Pareto, Irving Fisher và John Maynard Keynes
Năm 1979, Daniel Kahneman, giáo sư khoa Tâm lý học tại ĐH Princeton, và
Amos Tversky đã trình bày “Lý thuyết kỳ vọng”, mô tả sự lựa chọn của con người
Trang 12như thế nào khi rơi vào tình huống buộc phải quyết định giữa sự lựa chọn bao hàm
cả sự rủi ro, chẳng hạn như trong các quyết định tài chính
Năm 2002, giáo sư Vernon Smith (75 tuổi) của Đại học George Mason và giáo
sư Daniel Kahneman (68 tuổi) của Đại học Princeton đã nhận chung giải Nobel kinh tế Hai ông có chung công trình nghiên cứu về “Ảnh hưởng của tâm lý tới quyết định chi tiêu của người dân và những bằng chứng thực nghiệm từ thập kỷ 60 đến nay” Nghiên cứu này đã vạch ra một hướng mới đối với quan hệ giữa hai ngành khoa học vốn rất ít liên quan là tâm lý học và kinh tế học Kết quả nghiên cứu chính của hai ông liên quan tới quá trình ra quyết định trong những trường hợp không chắc chắn và cho rằng quyết định của con người có thể trệch khỏi các quyết định được dự đoán bởi lý thuyết kinh tế tiêu chuẩn một cách có hệ thống
Ngày nay, Tài chính học hành vi được áp dụng nhiều trong phân tích về cácquyết định thị trường cũng như trong phân tích về sự lựa chọn công
Lý thuyết tài chính học hành vi: (Behavioral Finance)
Tài chính học hành vi, là một phân ngành kinh tế học nghiên cứu những hành vi (hành động có nhận thức) của các chủ thể kinh tế (người tiêu dùng, người phân phối hay người sản xuất) có ảnh hưởng như thế nào đến việc ra các quyết định kinh tế cũng như giá cả thị trường ra sao.
Tài chính học hành vi có vai trò quan trọng trong việc dự đoán và lý giải cho xu hướng của thị trường tài chính đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, khi các phương pháp khác như phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân tích kỹ thuật đang cho thấy những mặt hạn chế của nó
Thuyết kỳ vọng và Tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của học thuyết hành vi tài chính, học thuyết lấy cảm xúc của con người làm trọng tâm nghiên cứu
Trang 13Thuyết kỳ vọng: (The Prospect Theory)
Reference Point
Wealth
Nền tảng của thuyết kỳ vọng là hàm giá trị được Kahneman và Tversky xây dựng năm 1979 khi mô tả độ hữu dụng của một nhà đầu tư tài chính bằng một hàm hữu dụng lõm, hữu dụng biên của tài sản giảm, tức là mỗi đơn vị tăng thêm trong giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lại một giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so với sự tăng lên trước đó trong giá trị tài sản đầu tư nhưng sẽ mang đến sự đau khổ và dằn vặt nhiều hơn khi một giá trị tài sản bị sụt giảm do thua lỗ
Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky
Kahneman và Tversky cho rằng, hàm giá trị này có độ dốc hướng lên khi giá trị tài sản dưới điểm tham chiếu và độ dốc hướng xuống khi giá trị tài sản ở trên điểm tham chiếu Điểm tham chiếu được quyết định bởi mỗi cá nhân như một điểm so sánh, như để đo lường mức độ mục tiêu của giá trị tài sản Khi giá trị tài sản nằm dưới điểm tham chiếu (nhà đầu tư đang thua lỗ) thì họ sẽ là người sẵn sàng chấp nhận rủi ro, tiếp tục tham gia cuộc chơi với hy vọng sẽ mau chóng lấy lại giá trị đầu
tư ban đầu Ngược lại, khi giá trị tài sản nằm trên điểm tham chiếu, hàm giá trị có chiều hướng lõm xuống, mô tả cho hành vi chống đỡ, ác cảm với những rủi ro trong đầu tư khi nhanh chóng ra quyết định bán cổ phiếu để kiếm lời mà không phân tích đến khả năng gia tăng thêm giá trị đầu tư để tăng thêm cơ hội thu được nhiều lợi nhuận hơn
Uity
Trang 14Tóm lại: hàm giá trị của Kahneman và Tversky là cơ sở quan trọng cho việc giảithích một số hành vi tài chính của nhà đầu tư như: sự ghét lỗ và sự tiếc nuối.
Sự ghét lỗ: (Loss Aversion)
Qua thực nghiệm chỉ ra rằng những khoản lỗ thì nặng hơn gấp hai lần so với khoản lãi Lỗ 1$ thì đau khổ gấp hai lần so với lãi được 1$ (Kahneman và Tversky, 1991)
Sự ghét lỗ đề cập đến một sự thật là con người thường có xu hướng quá nhạy cảm đối với sự sụt giảm tài sản của họ hơn sự gia tăng Điều này được phản ánh bởi hàm giá trị của của thuyết kỳ vọng rằng có một sự lệch lạc ở giá trị ban đầu Sự ghét
lỗ có thể giúp chúng ta giải thích vì sao con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán Lỗ 1$ thì đau khổ gấp nhiều lần so với lãi được 1$ và do vậy, họ thường có xu hướng nắm giữ cổ phiếu bị lỗ trong khi có thể bán chúng hoặc có lợi nhuận từ sớm hơn vì nhà đầu tư luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ cản thấy tiếc nuối khi phải bán lỗ cổ phiếu Vì thế, khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, họ càng kỳ vọng vào lợi nhuận trong tương lai và thể hiện sự liều lĩnh của mình Lý thuyết này
lý giải cho xu hướng “giữ cổ phiếu lỗ quá lâu” của các nhà đầu tư.
Sự tiếc nuối: (Regret)
Con người thường có chiều hướng cảm thấy đau khổ và dằn vặt một khi mắc lỗi, thậm chí chỉ là những lỗi nho nhỏ Họ cảm thấy hết sức ăn năn, hối hận về một quyết định mang đến kết quả tệ bạc cho họ Một khi họ mắc sai lầm và thua lỗ, mong ước lớn nhất của họ là giá cả hồi phục lại giá cả ban đầu mà họ đã đầu tư, họ chỉ mong hòa vốn Do đó, ngay khi cổ phiếu vừa tăng giá họ đã vội vàng bán đi thay vì giữ lại với hy vọng sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận lớn hơn Nhưng nếu giá cổ phiếu lại xuống sâu thêm nữa, thay vì phải bán đi để cắt lỗ thì họ lại trì hoãn, chần chừ không dám bán vì nghĩ rằng bán giá này sẽ là bán giá đáy, bán xong sẽ không mua lại được giá thấp hơn hoặc nghĩ rằng thị trường chắc sẽ tốt hơn trong nay, mai
Trang 15và giá cổ phiếu của mình sẽ mau chóng gia tăng trở lại, họ lo sợ và nuối tiếc khi phải bán lỗ cổ phiếu Họ càng nuối tiếc thì càng thể hiện sự liều lĩnh của mình khi đối mặt với thua lỗ.
Tâm lý dựa vào kinh nghiệm: (Heuristics)
Các nhà đầu tư thường hành động theo kinh nghiệm Kinh nghiệm và sự lệchlạc, càng kinh nghiệm, càng ít lệch lạc
Tâm lý dựa vào kinh nghiệm phản ánh tiến trình ra quyết định dựa trên những điều mà con người đúc kết từ sự khắc phục những lỗi lầm Phương pháp kinh nghiệm rất hữu ích cho việc giải thích vì sao nhiều khi thị trường lại hành động theo kiểu vô lý trí, điều này đối lập với mô hình thị trường hiệu quả trong thông tin.Hành vi bầy đàn là một hình thức của tâm lý dựa vào kinh nghiệm ở đó hành động của cá nhân bị dẫn dắt theo hành vi của đa số và ra quyết định dựa trên tâm lý của đám đông Tuy nhiên, hành vi bầy đàn cùng với tâm lý dựa vào kinh nghiệm sẽ dẫn dắt con người đến chỗ lạc lối khi đi theo xu hướng chung của thị trường vì sự quá tự tin về những việc mà họ đánh giá
Sự quá tự tin cũng có thể bị vạch ra bởi “sự biểu hiện của tâm lý nhận thức” một
xu hướng cho con người để cố gắng phân loại các sự kiện theo loại hình hoặc cách thức biểu hiện của cách phân loại được biết đến nhiều nhất Trong thị trường chứng khoán chẳng hạn, các nhà đầu tư phân loại theo nhóm các cổ phiếu có lịch sử tăng trưởng về lợi nhuận nhưng lại bỏ qua sự hợp lý là có rất ít công ty giữ được tốc độ tăng trưởng theo thời gian Cho nên sự tự tin là một bộ phận cấu thành nên tâm lý dựa vào kinh nghiệm và sẽ được mô tả cụ thể ở phần dưới đây cùng với tình huống điển hình, hành vi tâm lý bầy đàn và tâm lý thích dựa vào những giá trị đã thiết lập khi ra quyết định đầu tư
Tình huống điển hình: (Representativeness):
Tình huống điển hình là sự đánh đồng hiệu quả kinh doanh và hiệu quả đầu tưtài chính trong khi hai khái niệm này là hoàn toàn khác nhau Hiệu quả kinh doanh
-
Trang 16được đánh giá qua các chỉ số về doanh thu và lợi nhuận còn hiệu quả đầu tư tài
chính là chênh lệch giá
Tình huống điển hình còn thể hiện ở sự ra quyết định dựa trên những kinh nghiệm có được trong quá khứ mà bỏ sót nhiều sự kiện trong hiện tại, đánh giá sự việc một cách riêng lẽ, không kết hợp thành hệ thống và tính đến mối liên hệ với tổng thể
Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction)
Tâm lý chung của con người là thích thổi phồng, phóng đại tài năng của họ và đánh giá thấp những kết quả tồi tệ có thể xảy ra mà họ không kiểm soát được Sự kết hợp của sự tự tin và lạc quan làm cho con người đánh giá quá cao kiến thức của
họ nhưng lại đánh giá thấp những rủi ro tiềm tàng và thổi phồng khả năng của họ về việc kiểm soát được các sự việc, điều này dẫn đến khối lượng giao dịch quá mức và thị trường bong bóng Một người càng quá tự tin vào chính bản thân anh ta, thì càng gặp nhiều rủi ro và sai lầm trong quyết định vì sự tự tin thường không tạo ra mối quan hệ nào với kiến thức thực tế
Đặc tính chung của con người là phản ứng lại quá mức đối với những sự kiện, những thông tin không lường trước và đầy kịch tính Vì vậy, sự quá tự tin có thể giúp giải thích phần nào sự gia tăng quá mức của giá cả trong thị trường bong bóng (đầu cơ)
Bám vào những giá trị đã thiết lập: (Anchoring)
Được định nghĩa như là việc hình thành một giá trị và đánh giá các vấn đề dựa vào giá trị đã được thiết lập trước đó.Vì sự thật là con người ai cũng có trong đầu một vài điểm tham chiếu, chẳng hạn như giá IPO, giá chào sàn trước đây của cổ phiếu Một khi có được thông tin mới họ sẽ điều chỉnh giá cả cổ phiếu lên trên điểm tham chiếu Trong trường hợp thị trường thiếu vắng những thông tin tốt hơn những thông tin trước đây thì giá cả quá khứ là căn cứ để đưa ra quyết định cho giá cả ngày hôm nay Vì vậy, việc bám vào những giá trị đã thiết lập gần như là sự gợi nhớ
Trang 17về giá cả quá khứ Bằng chứng điển hình cho lý thuyết này là trường phái phân tích
kỹ thuật, sử dụng giá cả quá khứ của chứng khoán để dự đoán xu hướng giá trong tương lai
I.2.2.4 Hành vi bầy đàn: (Herb Behavior)
Con người thường bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội đồng thời xã hội cũng có
sự ảnh hưởng hết sức to đến sự đánh giá hành vi của một cá nhân Khi con người đối diện với sự đánh giá của một nhóm người, họ thường có chiều hướng thay đổi những câu trả lời sai lầm của họ so với ý kiến của đám đông Đây là một hành vi tâm lý
Tâm lý bầy đàn (hay tâm lý đám đông) là một sự tồn tại khách quan trong bất cứ một thị trường nào không riêng gì thị trường tài chính Các bằng chứng xã hội mà các nhà tâm lý học đưa ra từ các cuộc khảo sát hoàn toàn chứng minh được điều đó.Chẳng hạn như thí nghiệm : Cho một người đứng ở một góc phố và nhìn lên bầu trời trống không trong 60 giây Một số người đi đường đã dừng lại để xem người kia nhìn gì nhưng rồi đa số cũng bước qua Lần tiếp theo, các nhà tâm lý học cho năm người làm như vậy ở góc phố đó Lần này số người dừng lại để quan sát đông gấp 4 lần Khi cho 15 người đứng ở góc phố đó, có tới 45% số người qua đường dừng lại và khi tăng số người đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80% người đi đường phải ngẩng đầu quan sát theo Vì sao lại như vậy? Vì người ta cho rằng nếu có nhiều người cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải
có gì đó Đó là lý do vì sao càng có đông người, đám đông càng dễ bị ảnh hưởng: thêm một người là thêm một bằng chứng cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra Họ tin tưởng rằng nếu càng có nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó nhất định đúng Bằng chứng này cho thấy tất cả mọi người dường như là nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chước những gì người khác đang làm
Chừng nào lòng tham và sự sợ hãi còn ngự trị trong con người thì chừng ấy còn tồn tại tâm lý đám đông Nhưng khi đám đông hành động ngược lại với những điều
Trang 18nhà đầu tư phân tích thì quyết định đúng đắn và khôn ngoan nhất là nhà đầu tư nên rời bỏ khỏi đám đông đó Thà từ bỏ một khoản lời tiềm năng còn hơn là mất một khoản vốn trước mắt.
Nhưng ra quyết định chấp nhận bỏ lỡ một cơ hội kiếm tiền mười mươi là một tâm lý vô cùng khó khăn Một nghịch lý trong kinh doanh vẫn thường xảy ra: Bản năng tự nhiên của con người và mong muốn được hòa nhập với đám đông lại là những tình huống đưa các nhà đầu tư tài chính đến bờ vực phá sản
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tài chính học hành vi là một phân ngành kinh tế học, sử dụng các lý thuyết về tâm lý hành vi để lý giải cho những bất thường xảy ra trên thị trường chứng khoán Thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của tài chính học hành vi Các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực này là Daniel Kahneman va Amos Tversky
Mặc dù lý thuyết tài chính học hành vi không cung cấp cho các nhà đầu tư một phương thức đầu tư kỳ diệu, nhưng lại có thể giúp cho họ cẩn trọng hơn đối với các hành vi của mình và tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư tài chính
Trang 19CHƯƠNG 2
SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Ra đời vào ngày 20/07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam đến nay đã hơn
9 năm tuổi Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam, không ngừng mở rộng quy mô và cải thiện về thể chế luật pháp để trở thành kênh huy động vốn quan trọng phục vụ cho con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đồng thời là kênh đầu tư mới được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm, chú ý
Tuy nhiên, cũng giống như các thị trường mới nổi khác, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua bao thăng trầm, chung quy lại có thể phân chia sự phát triển của thị trường thành ba giai đoạn chính yếu sau:
2.1 Giai đoạn 2000 - 2005:
Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-
CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán cùng với Quyết định thành lập hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.Ngày 20/07/2000, TTGDCK Tp.HCM chính thức đi vào hoạt động, và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 02 loại cổ phiếu niêm yết là REE (Công ty Cổ phần Cơ Điện lạnh) và SAM (Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông) và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch
Từ mức khởi đầu là 100 điểm, VN-Index đã nhanh chóng leo lên mức 570 điểm vào giữa tháng 06/2001 Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chỉ số này đã trượt dốc xuống còn 200 điểm vào đầu năm 2002 và tiếp tục tạo đáy 130 điểm vào tháng 4/2003 Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian này chẳng khác gì một ngôi sao băng, lóe sáng rồi vụt tắt
Trang 20Trong giai đoạn này hầu như có rất ít nhà đầu tư tổ chức, cá nhân biết đến hay
am hiểu nhiều về chứng khoán và cũng có rất ít các quỹ đầu tư trong và ngoài nước được cấp phép và hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nhưng theo thời gian, sự quan tâm của nhà đầu tư đến thị trường chứng khoán ngày một nhiều
Sự quan tâm này không hoàn toàn dựa trên nền tảng sự tăng trưởng của nền kinh tế
mà bắt nguồn từ suy nghĩ đơn thuần của những người lần đầu tham gia vào thị trường chứng khoán rằng đây là nơi mà họ có thể thu được lợi nhuận kỳ vọng một cách nhanh chóng, dễ dàng và đôi khi hơn cả sự mong đợi Quan niệm “đầu tư chứng khoán như chơi một canh bạc, may mắn thì thắng” và xem đây như là cách nhanh nhất để trở nên giàu có, họ mua chứng khoán với mong muốn điều kỳ diệu ấy
sẽ xảy ra để họ nhanh chóng được đổi đời Tâm lý này khiến cho nhu cầu mua chứng khoán tăng cao trong khi lượng cung còn quá nhỏ và khan hiếm Chính điều này đã làm cho giá các loại cổ phiếu đang niêm yết trên sàn lúc bấy giờ tăng liên tục trong nhiều tháng liền và vượt xa giá trị nội tại của nó
Nhận thấy sự xuất hiện của “bong bóng tài chính” có thể sẽ là một trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững của thị trường, đồng thời cũng để nhằm hạn chế sự đầu
cơ quá mức trên thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra một loạt các biện pháp mạnh tay như: giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối
đa cho mỗi loại chứng khoán…Mặc dù những chính sách này xuất phát từ mục đích bảo vệ nhà đầu tư nhưng nó lại có những tác động hết sức tiêu cực đến thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư và làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh Từ cuối năm 2001, tâm lý nhà đầu tư hầu như bị tổn thương nghiêm trọng và dẫn đến tình trạng thị trường dần rơi vào trạng thái “đóng băng”
Cảnh chợ chiều này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên chậm phát triển Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2003 toàn thị trường mới chỉ có 73 loại chứng khoán (trong đó có 21 mã cổ phiếu được niêm yết, 02 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và 50 loại trái phiếu chính phủ) với tổng mức vốn hóa chỉ khoảng 6.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 1.6% GDP Chỉ số này thực
sự quá nhỏ bé so với mức 20% - 30% GDP của các nước trong khu vực và nếu xét
Trang 21về cơ cấu thì thị trường cổ phiếu hầu như bị lấn át bởi giao dịch của thị trường tráiphiếu.
Sự ảm đạm của thị trường còn được thể hiện ngay trong quy mô giao dịch, vì trong khoảng thời gian kể từ khi thị trường được thành lập đến tháng 05/2003, khối lượng giao dịch của toàn thị trường một ngày chưa đến 100.000 cổ phiếu (mặc dù thị trường lúc này đã có 26 công ty được niêm yết) Tính thanh khoản thấp khiến nhà đầu tư thực sự chán nản và mệt mỏi khi cần bán để thu hồi vốn, chứ mong gì nghĩ đến chuyện sẽ hiện thực hóa lợi nhuận các khoản đầu tư của mình thị trường chứng khoán
Sau ba năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ có
14.500 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó chỉ có 90 nhà đầu tư tổ chức và 35 nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì trong 14.500 tài khoản này thì chỉ có trên dưới 1.000 tài khoản chứng khoán là có giao dịch thường xuyên
Các thể chế tài chính trung gian vẫn còn quá ít ỏi Tính đến cuối năm 2003, mới chỉ có 13 Công ty Chứng khoán, 2 Công ty Quản lý Quỹ Đầu tư, 5 Ngân hàng lưu
ký và 1 một Ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Các Công ty Chứng khoán hoạt động chủ yếu là ở Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội Lúc này, nghiệp vụ môi giới là nghiệp vụ chủ yếu của các Công ty Chứng khoán còn hoạt động của các nghiệp vụ khác (như bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư…) hầu như còn rất hạn chế và nhỏ bé
Sự yếu kém của thị trường chứng khoán còn thể hiện ngay trong chức năng cơ bản của nó là huy động vốn Và chính các doanh nghiệp niêm yết trên sàn trong giai đoạn này cũng chưa có thói quen huy động vốn thông qua phát hành thêm cổ phiếu Theo thống kê, thì đến cuối năm 2003, mới chỉ có 5 công ty niêm yết phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp
Năm 2004 được đánh giá là thời gian giá cổ phiếu dần hồi phục sau giai đoạnsuy giảm trong các năm 2002 và 2003 Giao dịch cổ phiếu trên sàn có xu thế ổn
Trang 22định hơn, các cổ phiếu hầu như không có biến động lớn Chỉ số VN-Index ở mức 239,29 điểm (ngày 31/12/2004), tăng hơn 72 điểm so với cùng thời điểm này của năm 2003 (166,94 điểm).
Tính đến cuối 2004, tổng số tài khoản của các nhà đầu tư mở tại các công ty chứng khoán là 20.300 tài khoản Điểm nổi bật là bên cạnh việc đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển mạnh sang giao dịch trái phiếu (chiếm 48% tổng giá trị giao dịch của những đối tượng này) Tính thanh khoản của thị trường cũng được nâng lên Khối lượng giao dịch tăng mạnh trong năm 2004 với tổng giá trị gần
tỷ đồng (bình quân 80 tỷ đồng/phiên), tăng 6,6 lần so với 2003 Các nhà đầu tư có
tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung: tuy chỉ chiếm trên 1% về số lượng nhưng các nhà đầu tư có tổ chức lại chiếm gần 39% tổng giá trị giao dịch của năm 2004
Bước sang năm 2005, hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự khởi sắc hơn so với những năm trước đó, quy mô thị trường được mở rộng, lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường được nâng lên, do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết có sự tăng trưởng cao cả về vốn, doanh thu và lợi nhuận
Bên cạnh đó, Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp lớn, tổ chức đấu giá công khai qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán nhiều doanh nghiệp lớn của ngành điện lực như Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thủy điện Thác Bà, Nhiệt điện Phả Lại, Điện lực Khánh Hòa Các doanh nghiệp này đã làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa cho thị trường chứng khoán
Năm 2005 cũng là năm có nhiều thay đổi trong chính sách liên quan đến thị trường chứng khoán theo hướng ngày càng hoàn thiện, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể là đã nới lỏng tỷ lệ sở hữu từ 30% lên 49% đối với các nhà đầu
tư nước ngoài, cho phép các tập đoàn bảo hiểm như Prudential, Manulife và một số
tổ chức liên doanh thành lập công ty quản lý quỹ ở Việt Nam, cấp phép lưu ký cho Tập đoàn CitiGroup, cho phép chuyển các xí nghiệp liên doanh thành công ty cổ
Trang 23phần và một số doanh nghiệp này đang hoàn tất hồ sơ niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Tóm lại: trong giai đoạn này, sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu được thể hiện ở những đặc điểm sau:
• Thị trường chứng khoán lúc này chưa chứng tỏ được vai trò của nó là kênhhuy động vốn quan trọng đáp ứng cho sự phát triển của đất nước
• Công tác phổ cập kiến thức, thông tin về chứng khoán còn nhiều hạn chế nên người dân còn tỏ ra xa lạ và với chứng khoán và thị trường chứng khoán
• Quy mô của các công ty niêm yết còn nhỏ bé, chưa thực sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư
• Các doanh nghiệp niêm yết chưa đại diện cho tất cả các lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế (chưa có công ty niêm yết nào hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, bưu chính viễn thông, …) nên biến động của VN-Index chưa thực sự là hàn thử biểu cho nền kinh tế
• Một số Công ty sau khi niêm yết đã bộc lộ những yếu kém trong quản trị kinh doanh, đầu tư không hiệu quả, ảnh hưởng niềm tin của giới đầu tư
• Môi trường pháp lý cho sự phát triển của thị trường hãy còn nhiều khiếm khuyết
và khuyết điểm khi văn bản pháp quy cao nhất cho thị trường chỉ mới dừng lại
ở cấp nghị định Luật chứng khoán vẫn chưa ra đời để tạo ra một môi trường pháp lý ổn định, rõ ràng hơn trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán
2.2 Giai đoạn 2006 - 2007:
Sau một thời gian dài đóng băng, thị trường chứng khoán Việt Nam chợt bùng lên tăng trưởng mạnh mẽ từ cuối năm 2005 Lúc này, thị trường chứng khoán như là một ma lực thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà đầu tư Từ các bà nội trợ, thay vì
lo chuyện chồng con bếp núc lại hằng ngày túc trực trên sàn; các bác hưu trí tranh thủ tiền nhàn rỗi và thời gian để tham gia đầu tư sinh lợi; giới sinh viên thể hiện sự
Trang 24nhạy bén và năng động bằng việc cùng nhau góp vốn tham gia đầu tư đến các công nhân viên chức tranh thủ thời gian mỗi sáng đến công sở cũng ghé ngang sàn để đặt lệnh Thậm chí cả những anh xe ôm, chị bán bánh mì cũng bỏ nghề để trở thành những môi giới chứng khoán OTC.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng, những thông tin về chứng khoán xuất hiện một cách rộng rãi với tần suất ngày một nhiều và đi đâu cũng nghe người ta bàn luận về chứng khoán, về cổ phiếu này cổ phiếu nọ Ở Việt Nam, chưa bao giờ
đề tài về chứng khoán lại trở nên sôi động đến như vậy Nó thật sự đã đi vào đời sống thường nhật của người dân và cũng là câu chuyện, một đề tài nóng bỏng để họ bàn bạc, trao đổi nhau mỗi khi gặp mặt
Vào thời điểm này người ta tranh nhau mua chứng khoán với cùng suy nghĩ là
“mua là thắng, ai giữ cổ phiếu là tiên và là con đường để đổi đời nhanh chóng nhất” Với quan điểm đó, họ đã chen chúc, xô đẩy, tranh giành nhau để mong lệnh của mình vào sàn sớm nhất để có cơ hội mua được cổ phiếu Chưa bao giờ và chưa từng
có tiền lệ, cơn khát chứng khoán được đẩy lên cao trào đến như vậy Lúc này, người
ta tranh nhau mua mà chẳng hề quan tâm đến việc công ty phát hành thêm cổ phiếu
để làm gì? Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty như thế nào? Họ chỉ thích những công ty chia cổ tức bằng cổ phiếu vì việc nắm giữ thật nhiều cổ phiếu sẽ khiến họ trở nên giàu có một cách nhanh chóng hơn
Khi tất cả mọi người điều cùng chung một suy nghĩ thì sự thăng hoa nhanh chóng của VN-Index cũng chẳng có gì là xa lạ Cộng thêm vào đó là hàng loạt sự kiện trọng đại của đất nước trong cùng giai đoạn này đã làm cho tâm lý của nhà đầu
tư càng trở nên phấn khích một cách cao độ hơn bao giờ hết như sự kiện ngày 07/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chỉ vài ngày sau đó, ngày 19/11/2006, Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC lần thứ 14 đã đem đến cho nhà đầu tư một kỳ vọng cao hơn và tốt đẹp hơn về sự phát triển kinh tế của đất nước Nhưng cao trào hơn hết là ngày 20/11/2006, Tổng thống Mỹ G.W.BUSH đến thăm Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh, gặp gỡ các nhà lãnh đạo hàng đầu tại Việt Nam
Trang 25khiến thị trường như bùng nổ sự hưng phấn Giá trị khớp lệnh của sàn Tp.Hồ Chí Minh lập tức lần đầu tiên vượt ngưỡng 21 triệu USD/ngày ngay sau khi Tổng thống Bush gõ chiêng mở cửa phiên giao dịch của thị trường.
Năm 2006, chỉ số VN-Index kết thúc ở mức 750 điểm và Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng thị trường chứng khoán nhanh nhất thế giới với mức 148%/năm Cũng chính trong năm này, khi nhiều tỷ phú của Mỹ đến Việt Nam gặp
gỡ, tìm cơ hội hợp tác kinh doanh một số doanh nghiệp thì ngay lập tức giá cổ phiếu của các công ty này phất lên nhanh chóng như “diều gặp gió” Cộng thêm vào đó là các sự kiện về các tập đoàn lớn trên thế giới như Microsoft, Intel…đang tìm cơ hội đầu tư kinh doanh ở Việt Nam đã càng làm củng cố thêm vào kỳ vọng phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Việt Nam
Những thông tin về Việt Nam như: thành tựu tăng trưởng kinh tế của những năm trước đó, là điểm đến đầu tư hấp dẫn, nhân công giá rẻ, môi trường chính trị ổn định
và an toàn vào bậc nhất của thế giới…cũng là nguyên nhân cộng hưởng thêm cho sự bùng nổ tăng trưởng của thị trường chứng khoán từ cuối năm 2006
Cơn sốt chứng khoán đã tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới Năm 2006, vốn hóa của thị trường đã chiếm khoảng 22% GDP, cao hơn mức 6.5% của năm 2005 Trên cả hai sàn giao dịch, số lượng công ty niêm yết đã tăng lên 193 công ty và số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán đã tăng lên
100.000 tài khoản Trong đó, số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài đã lên con số trên 1.000 tài khoản Sự gia tăng này đã khiến cho tổng lượng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam tăng mạnh Theo ước tính đến cuối năm 2006, có khoảng trên 1 tỷ USD được các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào thị trường cổ phiếu Số lượng các thể chế tài chính trung gian cũng tăng lên nhanh chóng Cuối năm 2006, số lượng các công ty chứng khoán đã tăng lên con số 55 và 18 công ty quản lý quỹ, cao hơn nhiều so với con số 14 và 06 của năm 2005
Bước sang năm 2007, VN-Index tiếp tục lập kỷ lục mới khi hàn thử biểu đạt đỉnh 1.170.67 điểm vào ngày 12/03/2007 Thị trường chứng khoán theo đó cũng mang một tầm vóc lớn hơn trước Cuối năm 2007, giá trị vốn hóa của toàn thị
-
Trang 26trường đã lên đến 40% GDP (khoảng 30,7 tỷ USD) với 249 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ trên cả hai sàn (HOSE: 138 và HASTC: 111).
Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán đã tăng lên con số hơn 330.000 tài khoản và trong đó số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài là 7.000 tài khoản Tổng số tiền mà khối ngoại bỏ vào thị trường là khoảng 3 tỷ USD nhưng nếu tính cả lượng tiền để dành cho các đợt IPO thì vào khoảng 7 tỷ đến 10 tỷ USD Các định chế tài chính trung gian tiếp tục gia tăng về số lượng khi toàn thị trường lúc này đã
có 74 công ty chứng khoán và 24 công ty quản lý quỹ Cùng với sự gia tăng của chỉ
số VN-Index thì các công ty trên sàn cũng đã thành công lớn trong việc huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Theo số liệu thống kê của Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước thì tổng lượng vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán trong năm 2007 là hơn 63.000 tỷ đồng
Tóm lại: giai đoạn 2006 – 2007 là giai đoạn đánh dấu sự bùng nổ tăng trưởng và
phát triển mạnh mẽ nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ khi hình thành cho đến nay
2.3 Giai đoạn 2008 – đến nay:
Ngày 10/10/2007, VN-Index đạt mức 1.104 điểm Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam có thể tái lập ngưỡng 1.170 được xác lập vào ngày 12/03/2007 Nhưng không ai ngờ rằng, phía trước chỗ họ đang đứng lại là một vực sâu Sau hai tuần giằng co ở mức 1.100 điểm, thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu trượt dốc từ ngày 25/10/2007 và liên tục xuyên thủng các ngưỡng hỗ trợ để lập
ra những đáy mới của thị trường, lúc này chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam
đã thay đổi 180O với những thành tựu đã tạo lập nên của một năm trước đó và đếnngày 24/02/2009, chỉ số VN-Index xuống mốc 234 điểm Đây là mức điểm thấp nhất của chỉ số này trong gần 48 tháng kể từ ngày 01/03/2005 Lúc này, các nhà đầu
tư cảm thấy hụt hẫng và bàng hoàng trước sự sụt giảm quá nhanh và quá mạnh của thị trường
Trang 27Năm 2007, hầu hết mọi người điều rất vui mừng trước thành công của Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Những con số kỷ lục liên tục được phá vỡ khiến ai ai cũng cảm thấy phấn khởi và vui mừng Cuối năm, các cơ quan nhà nước, báo chí trích dẫn những con số FDI khổng lồ như một thành tích đáng tự hào Nhưng chính quy mô quá lớn của dòng vốn ngoại khiến các khiếm khuyết và khuyết điểm của hệ thống tài chính Việt Nam bộc lộ và tổn thương Với hơn 6.5 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp và hơn 5.6 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp thì dòng vốn ngoại đã chiếm hơn 10% GDP của Việt Nam trong năm 2007 Đấy là chưa kể đến 5
tỷ USD kiều hối mà các kiều bào chuyển về Việt Nam để đầu tư nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản thì một quốc gia có nền kinh tế còn quá khiêm tốn như Việt Nam với GDP chỉ khoảng 72 tỷ USD thì không thể hấp thụ nổi lượng vốn đầu tư to lớn trên Hiện tượng dư thừa ngoại tệ đã gây nên những áp lực đối với cơ quan điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam Chỉ tính riêng trong 06 tháng đầu năm 2007, Ngân hàng Nhà nước đã phải bỏ ra hơn 112.000 tỷ đồng để mua vào 7 tỷ USD nhằm mục đích duy trùy tỷ giá hối đoái trên thị trường
Một ngịch lý là trong khi một lượng vốn khổng lồ được bơm vào lưu thông thì Ngân hàng Nhà nước lại chậm trễ trong việc thực thi các chính sách vô hiệu hóa khiến lạm phát trong nền kinh tế tăng vọt Vào cuối năm 2007, lạm phát ở Việt Nam
đã vượt qua mốc hai con số đạt mức 12,63%/năm Trong 03 tháng đầu năm 2008, trước tình trạng dòng vốn ngoại tiếp tục được đổ vào thị trường Việt Nam trong khi lạm phát lại không có dấu hiệu suy giảm (trong quý I/2008, lạm phát tiếp tục tăng lên 19,39% so với cùng kỳ năm 2007) đã đẩy Ngân hàng Nhà nước rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, nên tiếp tục mua vào ngay dừng mua ngoại tệ !?! Nếu tiếp tục mua vào ngoại tệ thì sẽ đẩy lạm phát tăng cao hơn nữa; còn ngược lại, nếu dừng lại không mua, VND sẽ tăng giá, ảnh hưởng đến lĩnh vực xuất khẩu Tình thế lưỡng nan này đã buộc Ngân hàng Nhà nước bỏ chức năng người mua cuối cùng vào cuối tháng 02 năm 2008 khiến VND tăng giá so với USD
Tình hình càng tồi tệ hơn khi đây cũng chính là thời điểm kinh tế thế giới đangxảy ra các cơn sốt về giá Giá dầu, giá vàng, giá phôi thép, phân bón … đều tăng
Trang 28mạnh kéo theo sự tăng giá các hàng hóa trong nước Lạm phát đã trở thành một thách thức, một bài toán khó đối với chính phủ Việt Nam trong giai đoạn này Để thực hiện kiềm chế lạm phát, Chính phủ đã phải thay đổi trong chính sách điều hành bằng cách chuyển từ chính sách tiền tệ, tài khóa mở rộng sang thắt chặt như cắt giảm đầu tư công, tăng lãi suất cơ bản và hút tiền về thông qua các công cụ tài chính, thực hiện mua ngoại tệ với khối lượng nhỏ giọt…Nhưng khó khăn không dừng lại ở đó, từ tháng 3/2008 những con số thâm hụt thương mại khổng lồ đã khiến cho tình hình bị đảo ngược hoàn toàn Lượng ngoại tệ dư thừa trước đây nay chuyển sang tình trạng khan hiếm Tỷ giá liên tục gia tăng khiến VND ngày càng mất giá Lúc này, thâm hụt thương mại của Việt Nam đã lên đến 17% GDP, thâm hụt ngân sách là 5% GDP và thị trường địa ốc đóng băng có thể sẽ đẩy Việt Nam vào cuộc suy thoái cán cân thanh toán giống Thái Lan năm 1997.
Trước những biến động to lớn của tình hình kinh tế vĩ mô trong nước, thị trường chứng khoán Việt Nam đã sụt giảm mạnh mẽ trước hàng loạt các chính sách của Chính phủ như: rút ra 20.300 tỷ đồng thông qua tín phiếu bắt buộc vào ngày 17/03/2008; liên tục tăng lãi suất cơ bản để hút tiền trong lưu thông và hạn chế cho vay bằng việc khống chế mức tăng trưởng tín dụng không vượt quá 30% đối với các Ngân hàng…Luồng tiền đột nhiên bị sụt giảm nhanh chóng đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp trở nên vô cùng khó khăn, vốn khả dụng của nền kinh tế cũng trở nên cạn kiệt… Lúc này ai có tiền mặt trong tay là “vua” nên đã khiến các nhà đầu tư phải liên tục phải bán tháo cổ phiếu đẩy giá chứng khoán rớt thê thảm và phong trào chi trả cổ tức bằng tiền mặt của các Doanh nghiệp được tôn vinh thay cho phong trào chi trả cổ tức bằng cổ phiếu như trước đây
Tuy nhiên, nguyên nhân không hoàn toàn đến từ những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế mà còn phát sinh từ chính những bất ổn trong nội tại của thị trường Chính làn sóng đầu cơ đã tạo nên những bong bóng trên thị trường chứng khoán và lạm phát là viên thuốc nổ làm nổ tung quả bóng đó Thị trường càng đi xuống, càng làm cho các nguồn lực bán tháo và “cắt lỗ” càng diễn ra mạnh mẽ đẩy giá chứng khoán xuống sâu và nhanh chóng hơn
Trang 29Đến tháng 05/2008, do thị trường giảm mạnh, nhiều hợp đồng cầm cố buộc phải tiến hành giải chấp vì nhiều nhà đầu tư không có tiền để thanh toán Chính áp lực áp lực giải chấp từ các hợp đồng cầm cố và repo cổ phiếu của các công ty chứng khoán
và ngân hàng là lực đẩy khịến thị trường suy giảm mạnh và nhanh chóng trong thời gian vừa qua Rất ít các nhà đầu tư mới muốn tham gia thị trường trong lúc này, các nhà đầu tư cũ thì hầu như đã không còn nguồn để mua mới, lượng cầu cổ phiếu thì yếu ớt trong khi áp lực bán mỗi ngày một tăng thêm đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam chìm sâu trong sắc đỏ VN-Index liên tục rơi từ đáy này xuống đáy khác thấp hơn trước
Trước tình trạng lao dốc của thị trường chứng khoán, Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp can thiệp nhằm cứu vãn tình thế như: hạ biên độ giao dịch chứng khoán xuống còn 1% tại HOSE và 2% tại HASTC hay chính sách kích cầu và giảm cung chứng khoán bằng việc cho phép Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) mua vào cổ phiếu, được giao dịch trên nhiều tài khoản…nhưng vẫn không mang lại hiệu quả
Trong lúc thị trường chứng khoán Việt Nam còn đang ngổn ngang, rối rắm thì vào 09/2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lại bắt đầu khai hỏa bằng sự sụp
đổ của hàng loạt các định chế tài chính lớn của Mỹ như: Bear Stearn, Lehman Brothers, Merrill Lynch… đã khiến thị trường chứng khoán toàn cầu chao đảo và sụt giảm Thị trường chứng khoán Việt Nam lúc này vốn đã suy yếu lại gặp phải cơn bão nhấn thị trường chìm sâu hơn
Chỉ tính riêng trong năm 2008, chỉ số VN-Index đã mất đi gần 70% giá trị và trở thành thị trường tồi tệ nhất Châu Á Quy mô của thị trường bị “teo nhỏ” chỉ còn khoảng gần 10 tỷ USD Trên thị trường sơ cấp, hoạt động huy động vốn trở nên khó khăn, nhiều đợt IPO của các Tổng Công ty như Sabeco,Habeco… tỏ ra thất bại và đặt ra nhiều thách thức cho mục tiêu cổ phần hóa của các Doanh nghiệp Nhà nước Các Công ty chứng khoán thì thua lỗ, nhiều công ty còn đứng bên bờ vực phá sản mặc dù so với năm 2007, số lượng các công ty chứng khoán đã tăng từ 78 lên 102 trong năm 2008
Trang 30Bước sang năm 2009, tình hình trên thị trường chứng khoán Việt Nam so với năm 2008 vẫn chưa tươi sáng hơn là bao Đến 24/02/2009, thị trường chính thức chạm đáy 234 điểm để rồi bật mạnh hồi phục lại mức 501.48 điểm vào ngày 08/06/2009 Trong giai đoạn hồi phục này, Vn-Index đã liên tục tạo ra nhiều yếu tố bất ngờ, thú vị khi khối lượng và giá trị giao dịch liên tục thiết lập những kỷ lục mới
và giữ ở mức cao trong khoản thời gian dài Tính đến thời điểm hiện nay, Vn-Index vẫn trong giai đoạn tích lũy và dao động trong mức 450 - 650 điểm, tính thanh khoản vẫn ở mức cao với giá trị giao dịch bình quân trên 2.000 tỷ đồng/phiên
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Sơ lược qua 3 giai đoạn phát triển của thị trường, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng tâm lý thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đến sự thăng trầm của thị trường chứng khoán Việt Nam Chính những yếu tố về tâm lý hành vi đã tạo ra một lực đẩy cực mạnh nâng thị trường tăng nhanh, tăng mạnh và lên cao trong thời gian ngắn và cũng chính nó là lực kéo ghìm thị trường xuống sâu một cách nhanh chóng
Những nhân tố hành vi chi phối đến tâm lý thị trường chứng khoán Việt Nam thì có nhiều, nhưng thông thường, là sự góp mặt của các nhân tố: hành vi bầy đàn, mua bán theo phong trào, sự lạc quan và bi quan quá mức trước các thông tin thị trường, bám vào những kinh nghiệm, những tình huống điển hình trong quá khứ để đánh giá thị trường hay sự quá tự tin về bản thân khi nhận định đúng về một sự việc đơn lẻ nào đó nhưng lại vô cùng ác cảm với những khoản lỗ một khi phạm phải sai lầm, thiếu sót và một tâm lý tiếc nuối, lo âu khi mua không được cổ phiếu lúc thị trường tăng điểm và bán không được cổ phiếu khi thị trường giảm điểm…Chương tiếp theo của đề tài sẽ tiến hành phân tích sự tác động của các nhân tố hành vi này đến quyết định của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường thông qua bảng câu hỏi khảo sát và chương trình xử lý dữ liệu SPSS
Trang 31CHƯƠNG 3
KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
TRÊN TTCK THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mô hình khảo sát
Như đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu sự tác động các nhân tố hành vi đến tiến trình ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bằng mô hình khảo sát dựa trên hai khái niệm:
• Tâm lý dựa vào kinh nghiệm
• Thuyết kỳ vọng
Quy trình khảo sát
Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi
• Giai đoạn 1: Xây dựng bảng câu hỏi thô (phụ lục 2) dựa trên nền tảng
các thông tin cần thu thập trong mô hình lý thuyết và các nghiên cứu về hành vi tài chính có liên quan
• Giai đoạn 2: Chọn lọc và hiệu chỉnh các câu hỏi dựa trên ý kiến đóng
góp của chuyên gia Phỏng vấn thử 10 nhà đầu tư cá nhân ngẫu nhiên để kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi, qua đó ghi nhận ý kiến ban đầu của những người được khảo sát về sự tác động của các nhân tố hành
vi đến tiến trình ra quyết định đầu tư của mình
• Giai đoạn 3: Hiệu chỉnh và hoàn tất bảng câu hỏi lần cuối, tiến hành gửi
bảng câu hỏi chính thức (phụ lục 1).
Bước 2: Xác định số lượng mẫu cần thiết và thang đo cho việc khảo sát
• Kích thước mẫu dự tính là n=150 Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, vấn đề kích thước mẫu là bao nhiêu, như thế nào là đủ lớn vẫn chưa được
Trang 32xác định rõ ràng Hơn nữa, kích thước mẫu còn tùy thuộc vào các phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu cụ thể Theo một số nghiên cứu, tính đại diện của số lượng mẫu được lựa chọn khảo sát sẽ thích hợp nếu kích thước mẫu là 5 mẫu cho một ước lượng Mô hình khảo sát trong luận văn gồm 22 biến quan sát Do đó, số lượng mẫu cần thiết là từ 110 mẫu trở lên Vậy số lượng mẫu dùng trong khảo sát là n=176 nên tính đại diện của mẫu được đảm bảo cho việc khảo sát.
• Một trong những hình thức đo lường sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng là thang đo Likert Nó bao gồm 5 cấp độ phổ biến từ 1 đến 5 để tìm hiểu mức độ đánh giá của người trả lời Vì vậy, bảng câu hỏi đã được thiết kế từ 1 là “Hoàn toàn đồng ý” đến 5 là “hoàn toàn không đồng ý”
Bước 3: Gửi phiếu điều tra đến nhà đầu tư
200 phiếu điều tra được phát đến tay nhà đầu tư tại quầy giao dịch của Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt và các Công ty Chứng khoán khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ nhiệt tình của các anh, em môi giới là bạn bè, đồng nghiệp với tác giả Các nhà đầu tư nhận phiếu điều tra đều được lựa chọn một cách ngẫu nhiên khi đến giao dịch tại sàn Bản Việt và các sàn giao dịch chứng khoán khác trên cùng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Bước 4: Nhận kết quả trả lời
Do các phiếu điều tra được gửi tận tay các nhà đầu tư nên họ có thể trả lời ngay và gửi lại cho tác giả hoặc bạn bè, đồng nghiệp của tác giả ngay sau khi nhà đầu tư hoàn tất các câu trả lời của mình trên phiếu khảo sát
Bước 5: Thu nhận phản hồi từ phía nhà đầu tư
Đã có 200 phiếu điều tra được thu nhận, với tỷ lệ phản hồi là 100%, trong
đó có 24 phiếu bị loại do không hợp lệ Do đó, số lượng mẫu còn lại để đưa vào phân tích là 176 phiếu
Bước 6: Xử lý dữ liệu thông qua việc sử dụng công cụ phân tích SPSS
Trang 33• Nội dung dữ liệu:
Dữ liệu bảng câu hỏi được thiết kế như sau:
Section 1: Một số thông tin về khách hàng:
Q1: Thời gian tham gia thị trường chứng khoán
Q2: Vốn đầu tư chứng khoán
Q3: Chiến lược đầu tư
Q4: Sự tác động của các nhân tố tâm lý đến tiến trình ra quyết định đầu tư
Section 2: Các nhân tố hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định đầu tư
• Mã hóa dữ liệu:
Sau khi thu thập được số lượng mẫu thích hợp, tác giả sử dụng công cụ SPSS để phân tích dữ liệu với các thang đo được mã hóa như trong bảng dưới đây và kết quả chi tiết sẽ được trình bày ở phần tiếp theo
Bảng 3.1 : Tổng hợp các thang đo được mã hóa
1 T Thời gian tham gia thị trường chứng khoán
2 C Vốn đầu tư chứng khoán
3 S Chiến lược đầu tư
4 B Sự tác động của nhân tố tâm lý đến tiến trình ra quyết định đầu tư
TÂM LÝ DỰA VÀO KINH NGHIỆM
Tình huống điển hình
5 RP1 Tôi cho rằng việc đầu tư vào các cổ phiếu đang “hot” trên thị trường dù có nhiều rủi ronhưng là cách đầu tư mang lại hiệu quả sinh lời nhanh nhất
6 RP2 Cổ phiếu đã có kết quả tăng trưởng tốt trong quá khứ thường sẽ có sự tăng trưởng tốttrong tương lai
Quá tự tin
7 OV1 Tôi nghĩ rằng mình hoàn toàn có đủ kiến thức và kinh nghiệm để tự phân tích và dự báo về tình hình thị trường
Bám vào những giá trị đã thiết lập