Đề tài “Nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu nhằm đưa ra và phân tích mô hình thực tế đang áp dụng tại
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn đầy đủ nguồn tham khảohoặc từ các tài liệu được nêu ở mục các tài liệu tham khảo, các ý kiến và đề xuấtcủa tác giả chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 10 năm
2010 Học viên
Nguyễn Đình Thiện
1
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài: 9
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 10
4 Phương pháp nghiên cứu: 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 10
6 Bố cục của đề tài: 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
Tín dụng và rủi ro tín dụng: 12
Tín dụng ngân hàng: 12
Phân loại tín dụng ngân hàng: 13
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: 13
Căn cứ vào hình thức tín dụng: 14
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại: 15
Phân loại theo rủi ro: 15
Phân loại khác: 16
Rủi ro ngân hàng và rủi ro tín dụng: 16
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 16
Rủi ro tín dụng: 17
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng: 18
Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng: 23
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 24
Trang 3Phân loại rủi ro tín dụng: 25
Quản trị rủi ro tín dụng 26
Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng: 26
Lượng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng: 27
Lượng hóa rủi ro tín dụng: 27
Đánh giá rủi ro tín dụng: 28
Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng: 29
Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng: 29
Xây dựng và thực hiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng: 30
Tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng: 30
Kiểm tra, giám sát: 31
Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp xử lý nợ 31
Bảo đảm tín dụng: 32
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 33
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung: 34
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán: 34
Bài học kinh nghiệm và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 35
Bài học kinh nghiệm: 35
Định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam: 37
Kết luận chương 1: 39
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) 40
Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) 40
Tóm tắt các sự kiện nổi bật: 40
Sơ đồ tổ chức bộ máy: 41
Hội Đồng Quản Trị: 42
Trang 4Kiểm Soát: 42
Ban Điều hành: 42
Các khối, ban nghiệp vụ, và công ty trực thuộc: 42
Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của VIB: 42
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại VIB: 44
Bộ máy Quản trị rủi ro 44
Mô hình Quản trị rủi ro Tín dụng của VIB: 45
Quy định về chính sách tín dụng: 57
Định hướng tín dụng: 57
Chính sách khách hàng 59
Các sản phẩm tín dụng 60
Quy trình thu hồi nợ và xử lý tài sản đảm bảo: 61
Trích lập dự phòng rủi ro: 62
Kiểm tra giám sát tín dụng độc lập: 63
Hệ thống thông tin quản trị tín dụng: 64
Kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu cơ bản: 65
Tình hình hoạt động tín dụng tại VIB giai đoạn 2007 - 2009 65
Danh mục khoản vay và cơ cấu dư nợ tín dụng: 65
Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ 66
Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: 66
Cơ cấu dư nợ phân theo ngành hàng: 67
Cơ cấu dư nợ theo khách hàng: 68
Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn vay: 68
Cơ cấu dư nợ theo khu vực địa lý: 68
Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn và giám sát: 69
Đánh giá ảnh hưởng của mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung trong hoạt động tín dụng của VIB 69
Những ưu điểm và vấn đề tồn tại của mô hình quản trị rủi ro tín dụng của VIB: 71
Trang 5Những ưu điểm: 71
Những vấn đề còn tồn tại: 73
Kết luận chương 2: 76
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) 77
Những giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng: 77
Những giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình QTRR tín dụng: 83
Những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng đối với hệ
thống NHTM: 87
Đối với các NHTM: 87
Đối với các NHNN: 87
Các quy phạm pháp luật và các cơ quan liên quan: 88
Kết luận chương 3: 88
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHẦN PHỤ LỤC 92
Phụ lục 1 Các Khối, Ban, Vùng của VIB: 92
Phụ lục 2 Sơ đồ mô hình quản trị rủi ro của VIB: 97
Phụ lục 3 Tình hình tài chính của VIB 98
Trang 6VIB AMC Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác tài sản VIB
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1 Tóm tắt tình hình kinh doanh của VIB các năm 2005 – 2009 65Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ của VIB các năm 2007 – 2009 66Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ theo loại tiền của VIB các năm 2007 – 2009 66
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ theo loại khách hàng của VIB các năm 2007- 2009 68Bảng 2.6 Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn của VIB các năm 2007 – 2009 68Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ theo khu vực địa lý của VIB các năm 2007 – 2009 68Bảng 2.8 Bảng tổng hợp và so sánh tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu của VIB
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang Hình 1.1 Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng 25Hình 2.1 Sơ đồ mô hình cơ cấu tổ chức VIB 41Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị tín dụng của VIB 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong môi trường hoạt động nhiều thử thách, các ngân hàng phải gánh chịu rủi
ro đáng kể để kiếm được lợi nhuận Đo lường và quản trị rủi ro là khía cạnh quantrọng nhất của quản trị tài chính ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính yếu, mang lại nguồn thu chủ yếu chongân hàng thương mại (NHTM) nhưng cũng là hoạt hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.Việc hiểu rõ và tổ chức tốt mô hình quản trị rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọngđối với hoạt động ngân hàng
Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro lớn nhất đối với các NHTM Việt Nam, bởitổn thất từ rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến sự an toàn, hiệuquả, uy tín của một ngân hàng mà còn có thể ảnh hưởng đến cả sự ổn định của hệthống ngân hàng và nền kinh tế Việc xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng, banhành và tuân thủ các chính sách, quy trình, quy định trong hoạt động cấp tín dụng làđòi hỏi tất yếu giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng cạnhtranh
Bên cạnh yêu cầu càng cao của pháp luật Việt Nam về quản trị ngân hàng, đểhội nhập các NHTM Việt Nam cũng đang chọn lọc áp dụng các nguyên tắc, chuẩnmực quốc tế trong việc xây dựng mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro, đặc biệt làrủi ro tín dụng
Đề tài “Nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc tế Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu nhằm đưa ra và phân tích
mô hình thực tế đang áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam(VIB) và từ đó có thể nhận diện những ưu điểm cũng như những vấn đề cần bổ sung
để đề ra các giải pháp hữu ích nhằm hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tạiNHTM một cách an toàn và hiệu quả hơn, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mựcquản trị rủi ro tín dụng hiện đại
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của đề tài là đưa ra nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:
9
Trang 10- Đề tài đưa ra những vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tíndụng và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàngthương mại Việt Nam.
- Giới thiệu, đánh giá thực trạng mô hình quản trị rủi ro tín dụng đang áp dụng tạiNgân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) Từ kết quả hoạt động củaVIB từ năm 2007 đến năm 2009, tác giả đưa ra những đánh giá mô hình quản trị rủi
ro tín dụng đang áp dụng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngânhàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) và góp phần nâng cao hiệu quảkinh doanh và hạn chế rủi ro tín dụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB)
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mô hình quản trị rủi ro tín dụng và hoạtđộng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) tronggiai đoạn từ năm 2007 đến 2009
4 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: phươngpháp khảo sát, phương pháp nghiên cứu thống kê, phương pháp phân tích, phươngpháp so sánh, phương pháp tổng hợp, đề tài cũng sử dụng và vận dụng các lýthuyết cơ bản, các lý luận khoa học về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tíndụng và mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tếViệt Nam (VIB)
Trên cơ sở phân tích đánh giá mô hình quản trị rủi ro tín dụng và tình hìnhhoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB), đềtài nêu ra những ưu điểm, những hạn chế và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện khảthi
Trang 11Điểm nổi bật nhất của đề tài là nghiên cứu chi tiết về mô hình quản trị rủi rotín dụng đang áp dụng tại một Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, nhằm rútkinh nghiệm và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình đang nghiên cứu.
6 Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục
và nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động củaNgân hàng thương mại
- Chương 2: Mô hình quản trị rủi ro tín dụng và tình hình hoạt động tín dụngtại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB)
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tạiNgân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB)
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Tín dụng và rủi ro tín dụng:
Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan nhằm phản ánh mối quan hệ giaodịch giữa hai chủ thể, trong đó bên chủ thể sở hữu giao một lượng giá trị bằng tiềnhoặc tài sản cho bên kia sử dụng và chủ thể sử dụng có nhiệm vụ hoàn trả với mộtlượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu sau một thời gian được xác định
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên
cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản củabên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vôđiều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Nói một cáchkhác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa ngânhàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định
Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có
Vai trò của tín dụng: góp phần phát triển kinh tế; góp phần ổn định tiền tệ và
ổn định giá cả; mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộnggiao lưu quốc tế;
Chức năng của tín dụng: tập trung và phân phối lại tài nguyên theo nguyên
tắc có hoàn trả; tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông; phản ánh và kiểm soát các
Trang 13hoạt động kinh tế;
Nguyên tắc tín dụng: Vốn vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi; Vốn vay
phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; Vốn vay phải đảm bảo bằng giá trị vật
tư hàng hóa tương đương
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ: cho vay, chiết
khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính hoặc các nghiệp vụ tài trợ vốn khác của ngânhàng cho khách hàng theo nguyên tắc thỏa thuận và có hoàn trả
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho kháchhàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theothỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Phân loại tín dụng ngân hàng:
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầucủa khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây là một số cách phânloại chủ yếu:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Phân chia theo thời gian cho vay có 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn cho vay đến 12 tháng, chủ yếu được sử dụng để bùđắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắnhạn của cá nhân
- Tín dụng trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thường được sử dụng để đầu tưmua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuấtkinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh
Trang 14- Tín dụng dài hạn: trên 60 tháng, thường được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu
tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trìnhthuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
- Cho vay: là việc ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụngvào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc lẫn lãi, bao gồm các loại sau:
+ Thấu chi: là việc ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số dư tiền gửi thanhtoán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn nàyđược gọi là hạn mức thấu chi
+ Cho vay từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng ít cónhu cầu vay thường xuyên
+ Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp chokhách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sảnxuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá.Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm nhiều lần trongthời hạn tín dụng đã thoả thuận
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiệncác nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúngnghĩa vụ như cam kết Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau:
+ Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việctrả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định dự
Trang 15+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổnthất thay khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba
+ Bảo lãnh tiền ứng trước: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trướccho bên thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không trả
+ Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (tổ chức tíndụng, các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay)không trả được
+ Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúnghợp đồng kinh tế cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanhtoán đủ
- Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạnsao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và cólãi Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó
- Các hình thức cấp tín dụng khác: thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,…
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại:
- Tín dụng có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tàisản (của bên vay hoặc bên thứ ba) Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngânhàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không đủ khảnăng hoàn trả nợ đúng hạn
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp dựa trên uy tín và khảnăng tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín của bênthứ ba
Phân loại theo rủi ro:
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn củacác khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời, được phân loại thành 5nhóm theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước:
Trang 16Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi
đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như cáckhoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán;
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả
nợ;
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày;
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
Phân loại khác:
- Theo mục đích sử dụng vốn có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng,…
- Theo đối tượng tín dụng sử dụng vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tín dụngvốn lưu động và tín dụng vốn cố định
- Theo đối tượng cho vay tiêu dùng: tín dụng nhà đất, cho vay mua ô tô, cho vay duhọc, …
Cách phân loại này cho thấy tính đa dạng trong sản phẩm tín dụng của ngânhàng và cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vựctài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức, chính sách quản lý phù hợp
Rủi ro ngân hàng và rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi khi xảy
ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản hoặc uy tín của ngân hàng Các ngân hàng thườngchịu nhiều loại rủi ro khác nhau
Trong quản trị ngân hàng hiện đại thì các ngân hàng xếp các loại rủi ro thànhcác nhóm chính để xây dựng bộ máy quản trị:
- Rủi ro chiến lược là rủi ro phát sinh do việc hoạch định chiến lược kinh doanh vượtquá các nguồn lực có thể thực hiện hoặc quá thận trọng nên không sử
Trang 17dụng hiệu quả các nguồn lực của ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh liên quan đến hoạt động cấp tín dụng cho kháchhàng mà vì lý do nội bộ hay ngoại cảnh mà khách hàng mất khả năng thanh toánmột phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đúng hạn đượcquy định tại hợp đồng
- Rủi ro thị trường là rủi ro phát sinh do những thay đổi bất thường về giá như lãisuất, tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán và giá các tài sản khác do Ngân hàng nắm giữtrong quá trình hoạt động kinh doanh hoặc theo các giao dịch bảo đảm hoặc cácgiao dịch có tài sản bảo đảm tương tự khác;
- Rủi ro lãi suất là rủi ro từ việc có những thay đổi bất lợi lên lợi nhuận kỳ vọng từ lãitrong các năm hoạt động hiện tại và tương lai gây ra bởi sự thay đổi về lãi suất và
sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn của ngân hàng
- Rủi ro thanh khoản là rủi ro luồng tiền ra khỏi ngân hàng bất thường, hoặc phát sinh
do chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ, hoặc không kịp hoặc không thể chuyểnhóa tài sản thành tiền để đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi trả; là tình trạng ngânhàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng, có thể gây thua lỗ, làmđình trệ hoạt động kinh doanh hoặc làm mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản
- Rủi ro hoạt động là rủi ro dẫn đến tổn thất do nguyên nhân con người, những thiếusót hoặc vận hành không tốt quy trình, hệ thống nội bộ hoặc do các sự kiện kháchquan bên ngoài Cấu thành rủi ro hoạt động gồm có: gian lận nội bộ; gian lận từbên ngoài; nội quy và an toàn nơi làm việc; khách hàng, sản phẩm và thông lệ kinhdoanh; thiệt hại về vật chất; gián đoạn kinh doanh và các sự cố hệ thống; thực hiện,chuyển giao và quản lý quy trình
Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro lớn nhất đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung bới các hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng
Trang 18Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng.
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” - theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợkhông đúng hạn cho ngân hàng
+ Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho Ngânhàng phát sinh khi đối tác không đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ các điềukhoản của Hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ như đã thỏa thuận theocác điều khoản của Hợp đồng tín dụng;
+ Rủi ro tín dụng xuất hiện trong quá trình cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, chothuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụngkhác của ngân hàng
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng:
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay vàngười đi vay Ngân hàng và người đi vay hoạt động tuân theo sự chi phối với nhữngđiều kiện cụ thể của môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh là đối tượngthứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinhdoanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay vàngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan Sự tiếp cận các yếu tố,nguyên nhân gây rủi ro sau đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện,khách quan hơn, từ đó sẽ đưa ra được những đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi rotrong kinh doanh của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
Trang 19tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệpthường xuyên phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt củathị trường.
Sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và các ngân hàng nước ngoài cótiềm lực mạnh (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lượng dịch vụ) khiếncho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro các khách hàng có tiềm lựctài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), vốnrất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thịtrường thế giới biến động xấu
Hàng lậu, hàng giả làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngânhàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này Các mặt hàng kim khí điện máy, gạchmen, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là những ví dụ tiêu biểu cho tìnhhình hàng lậu ở nước ta
Sự cạnh tranh và lợi nhuận kỳ vọng đối với các nhà đầu tư làm chuyển dịchvốn từ ngành này qua ngành khác Việc thiếu quy hoạch và điều tiết hợp lý của Nhànước dẫn đến sự gia tăng vốn đầu tư quá mức vào một số ngành, dẫn đến khủnghoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
• Các chính sách, quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng vẫn đang trong quátrình hoàn thiện để tiếp cận các chuẩn mực, quy tắc quốc tế Nhiều khi các quyđịnh pháp luật được ban hành dựa trên ý chí chủ quan của cơ quan ban hành thay vìdựa trên các căn cứ khoa học;
• Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Việc thực thi pháp luật để hỗ trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt
là trong việc cưỡng chế thu hồi nợ Theo quy định thì trong trường hợp khách hàngkhông trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay Tuy
Trang 20nhiên trên thực tế, các NHTM không thể cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tàisản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý nếu khách hàng không hợp tác mà phải xử lýqua con đường tố tụng… dẫn đến tình trạng NHTM không dễ giải quyết được nợtồn đọng dù có tài sản bảo đảm.
• Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Hoạt động thanh tra ngân hàng và năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưatheo kịp sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Nội dung và phương pháp thanh tra,giám sát chậm đổi mới, khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro cònyếu Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngănchặn, cảnh báo phòng ngừa rủi ro và vi phạm Những sai phạm về cho vay, cấp tíndụng ở một số NHTM có thể đã được ngăn chặn nếu bộ máy thanh tra phát hiện và
xử lý kịp thời
Những thách thức cho hệ thống ngân hàng là việc thiếu thông tin tương xứng
để làm cở sở trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế, do đó nếucác ngân hàng chạy mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin chưa cânxứng sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanhnghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) cũng chỉ cungcấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mứctín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơnđiệu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin
- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan:
• Do sự thay đổi của chính sách, pháp luật ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp;
• Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
• Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh
cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý
Trang 21lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phátsinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấuđến các doanh nghiệp khác.
• Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đaphần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạnđổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kếtoán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản
lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà
lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
• Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểmchung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Việc ghi chép các sổ sách kế toánvẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Khi cán bộngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do cácdoanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyênnhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuốicùng để phòng chống rủi ro tín dụng
• Do các quy trình, quy định thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ; bộ máy quản trị và kiểmsoát rủi ro hoạt động chưa hiệu quả;
• Cho vay và đầu tư vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tếhoặc một địa bàn nào đó;
• Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủdẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý;
• Do không phát hiện khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, năng lực tàichính, ;
• Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó
Trang 22nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểmtra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinhdoanh.
• Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đềkiểm soát rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm,nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùngnguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
• Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩmđịnh trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khicho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cáchchủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệmquan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việctheo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra tronghợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinhdoanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh
• Sự hợp tác giữa các NHTM còn lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệuquả:
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụthể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiềungân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thìrủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác
để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Đó là những nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và do hệ thống thông tin Nguyên nhân chủ quan là từ phía
Trang 23khách hàng vay và ngân hàng cho vay.
Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển Đối với các ngân hàng khả năng phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ máy quản trị rủi ro tín dụng Năng lực quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng, cán bộ phê duyệt tín dụng và các nguồn lực kiểm tra giám sát của ngân hàng Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản trị rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như đã đi được hơn một nửa.
Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng:
Quá trình tiếp xúc, kiểm tra thường xuyên khách hàng vay, cán bộ ngân hàng
có thể nhận biết dấu hiệu của những khoản cấp tín dụng có vấn đề:
- Khách hàng cung cấp thông tin thiếu trung thực hoặc có ý lảng tránh hoặc thoái tháctrả lời cán bộ ngân hàng; Sao nhãng và thiếu những cuộc thảo luận trước chuẩn bịcho việc thanh toán các khoản phải trả theo kỳ;
- Thay đổi tài khoản ngân hàng; số dư tài khoản tại ngân hàng giảm;
- Thay đổi trong thái độ, thói quen cá nhân của những người chủ chốt của công ty;thay đổi trong thái độ đối với ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng, đặc biệt là khi họtạo cảm giác thiếu tính hợp tác; những nhân vật chủ chốt của công ty ốm hoặc chết;những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật chủ chốt;
- Doanh thu bán hàng giảm, không đáp ứng được những đơn đặt hàng; lợi nhuận giảm; các khoản thu tiền về chậm, lưu chuyển tiền mặt ròng giảm;
- Nhiều tài sản không hoạt động (nhàn rỗi), hàng tồn kho gần như không bán được; giá trị của tài sản giảm;
Trang 24- Nhờ cậy vào chỉ một khách hàng hoặc một nhà cung cấp, tập trung doanh số vàomột mặt hàng nhất định; áp dụng chính sách chiết khấu bất bình thường; những thayđổi trong chính sách mua bán chịu; xuất hiện những thỏa hiệp cho những khoảnphải thu; sự thay đổi đáng kể về giá trị của từng đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mà cóthể làm mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành;
- Xuất hiện những khác biệt đáng kể giữa hoạt động kinh doanh và ngân sách; mức
độ chênh lệch lớn giữa tổng doanh thu và doanh thu ròng; tỷ lệ phần trăm của chiphí trên tổng doanh thu tăng lên; doanh thu bán hàng tăng lên nhưng lợi nhuận giảmđi; sự gia tăng không cân xứng của chi phí quản lý so với mức tăng của doanh thubán hàng;
- Thay đổi về phạm vi kinh doanh; bố trí nhà máy và thiết bị không hợp lý; kém cỏitrong việc duy trì vận hành và bảo hành máy móc thiết bị sử dụng; mất mát nhữngdây chuyền sản xuất chính, quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp; mấtmột hay nhiều khách hàng có năng lực tài chính tốt hoặc mất nhà cung ứng chính
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng:
- Đối với nền kinh tế:
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp và các cánhân Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gặp khó khăn để sảnxuất kinh doanh dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Sự khủng hoảng từ hệthống ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế
bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định
Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nêntác động do khủng hoảng rủi ro tín dụng tại một nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đếnnền kinh tế các nước có liên quan Ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụthuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới, do đó hệ thống ngân hàng của một quốcgia gặp khó khăn cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới Kinh nghiệm cho thấycuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ
Trang 25Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro
Rủi ro lựa
chọn Rủi ro bảo đảm nghiệp vụ Rủi ro Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung
(2001-2002) và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ (2007) đã làm suy thoái nền kinh tế toàn cầu
- Đối với ngân hàng:
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãicho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn,điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi và sút giảm hiệu quảkinh doanh Khi gặp phải rủi ro tín dụng cao ngân hàng thường rơi vào tình trạngmất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tíncủa ngân hàng, và có thể bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào kiểm soát đặc biệt hoặc bịphá sản, sáp nhập
Đối với cán bộ nhân viên, do ngân hàng gặp khó khăn trong kinh doanh nênchế độ phúc lợi, thu nhập sẽ bị hạn vì thế những người có năng lực sẽ thuyênchuyển công tác, càng gây khó khăn cho ngân hàng
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể gây những hậu quả: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn,
có thể bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy pháp luật đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng buộc phải xây dựng hệ thống quản lý tín dụng thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Phân loại rủi ro tín dụng:
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng
Trang 26Rủi ro tín dụng có thể phân thành rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch.
- Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ yếu tố riêng biệt mỗi chủ thể đi vay hay từ ngành kinh tế
+ Rủi ro tập trung: là rủi ro xuất phát từ việc cho vay tập trung vào một số kháchhàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại sản phẩm tín dụng hoặc một khu vựcđịa lý;
- Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệpvụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tíchtín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợpđồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mứccho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt độngcho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý cáckhoản vay có vấn đề
Quản trị rủi ro tín dụng:
Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng:
Chấp nhận và quản trị rủi ro là nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh ngân hàng;Tuy nhiên, ngân hàng cần phải tính đến khả năng chấp nhận rủi ro trong chiến lượckinh doanh của mình và cần hiểu thấu đáo, đo lường và kiểm soát rủi ro trong phạm
vi khả năng sẵn sàng ứng phó đối với những bất lợi có thể chấp nhận được
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo
lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa
và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.
Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính
Trang 27sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật, nhận diện, cảnh báo và đề ra các biện pháp hạn chế sự xuất hiện củarủi ro tín dụng, giảm thiểu những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định
sự tương quan hợp lý giữa các nguồn lực của ngân hàng với mức độ mạo hiểm cóthể khi sử dụng vốn ngân hàng cho nghiệp vụ cấp tín dụng Quản trị rủi ro tốt chính
là một nguồn lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo
ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn
Lƣợng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng:
Lượng hóa rủi ro tín dụng:
Lượng hóa rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóamức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng antoàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro Sau đây
là các mô hình được áp dụng tương đối phổ biến:
- Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):
Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanhnghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tíndụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó:
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản;
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản;
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản;
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của nợ;X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản;
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại,
Trang 28khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm cónguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào cóđiểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.
- Mô hình chất lượng 6 C:
(1) Tư cách người vay (Character)
(2) Năng lực của người vay (Capacity)
(3) Thu nhập của người đi vay (Cash)
(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral)
(5) Các điều kiện (Conditions)
(6) Kiểm soát (Control)
- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình điểm số tíndụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sởhữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác
Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn
bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn
Tổng dư nợ cho vay là tất cả các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và chothuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ cógiá khác; Các khoản bao thanh toán; Các hình thức tín dụng khác
Thông thường tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng thấp: là những khoản cho vay cómức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoảntín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản cho
Trang 29vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngânhàng Đây cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ chovay của ngân hàng.
+ Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản chovay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng làvừa phải Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vaycủa ngân hàng
- Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động: cho biết có bao nhiêu đồng vốn huyđộng tham gia vào dư nợ:
Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng:
Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng:
- Mô hình quản trị rủi ro tín dụng bao gồm:
+ Các quy định về tổ chức bộ máy cấp tín dụng, bộ máy giám sát rủi ro và bộ máy xử
lý rủi ro; các quy định về trình tự và thẩm quyền của bộ máy cấp tín dụng,
Trang 30bộ máy giám sát và bộ máy xử lý rủi ro.
+ Quy định điều kiện nhân sự trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ nhân viên thực hiệncác công việc trong bộ máy cấp tín dụng, quản trị rủi ro và xử lý rủi ro;
+ Xây dựng và hoàn thiện các định hướng, chính sách, quy chế, quy trình và hướngdẫn nghiệp vụ liên quan đến hoạt động và quản trị rủi ro tín dụng
+ Hệ thống đào tạo cán bộ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngân hàng;
+ Hệ thống thông tin tín dụng, báo cáo quản trị và cảnh báo rủi ro;
- Mô hình quản trị rủi ro có thể có nhiều hình thức tùy thuộc vào quy mô của ngânhàng, mức độ hứng chịu các loại rủi ro khác nhau và độ phức tạp trong tổ chức củangân hàng Một mô hình quản trị rủi ro đúng đắn là phải gắn kết được mô hình quảntrị rủi ro đó với mục tiêu và chiến lược tổng thể của ngân hàng
Xây dựng và thực hiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng:
- Xây dựng phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, bao gồm:cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, chuẩn hoá hợp đồng tíndụng, hợp đồng bảo đảm, phân loại tài sản bảo đảm theo khả năng thu hồi nợ vàquản lý nợ;
- Quy định về các điều kiện, quy trình thẩm định và quyết định việc cho vay và nhậntài sản bảo đảm tiền vay;
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục cho vay vàcấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản;
- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đốitượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng
- Xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống các quy chế, quy trình nội bộ về quản trịrủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổtay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượngtín dụng và xử lý các khoản nợ xấu
Tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng:
- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính,chiết khấu, và bảo đảm tiền vay
Trang 31- Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết địnhtài trợ.
- Phân tán rủi ro trong cho vay bằng cách không dồn vốn cho vay quá nhiều đối vớimột khách hàng hoặc một ngành, lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao
- Phòng ngừa rủi ro do tập trung tín dụng là việc quản lý danh mục tín dụng, đặt racác hạn mức cho vay đối với khách hàng hay nhóm khách hàng vay, ngành nghề,lĩnh vực, địa bàn cho vay
- Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn chovay với thời hạn của nguồn vốn huy động
- Trích lập dự phòng nhằm tạo nguồn để bù đắp tổn thất rủi ro tín dụng Áp dụng cácnguyên tắc dự phòng khác nhau dựa theo việc phân loại nợ vay có khả năng gây tổnthất ở mức độ khác nhau Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản
dự phòng để đối phó với rủi ro
- Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ quan bảo hiểmchuyên nghiệp
Kiểm tra, giám sát:
Kiểm tra và giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước khicho vay, trong khi cho vay và sau khi cho vay:
- Sử dụng mô hình CAMEL (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản) để đánhgiá Hoặc
- Sử dụng mô hình CAMELS (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản và thửnghiệm chịu đựng cực điểm) (Capital, Assets, Management, Earnings, Liquydityand Stress testing)
- Kiểm tra trong quá trình phát vay, sau cho vay, báo cáo hàng tháng và hàng quý,giám sát khả năng trả nợ Có hệ thống báo cáo định kỳ
Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp xử lý nợ:
- Ngân hàng phải xây dựng quy trình, bộ máy nhằm phát hiện và cảnh báo sớm cáckhoản nợ có vấn đề và phải có biện pháp hữu hiệu để xử lý các khoản nợ có nguy
cơ chuyển thành nợ quá hạn, nợ xấu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các
Trang 32tổn thất khi xảy ra rủi ro;
- Xử lý nợ quá hạn, nợ xấu là công việc thường xuyên của các Ngân hàng nhằm thuhồi các khoản nợ không được thanh toán đúng hạn, do đó Ngân hàng cần có quyđịnh, quy trình chuẩn hóa công việc; Mỗi cán bộ nhân viên thực hiện công việc cấptín dụng cũng là một nhân viên xử lý nợ, ngoài ra ngân hàng cần có bộ phận chuyênmôn độc lập để thực hiện việc xử lý các khoản nợ có vấn đề;
- Đối với các trường hợp chây ỳ trả nợ vay, các TCTD cần áp dụng các biện phápkiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc xử lý tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc khởi kiện
1.2.4 Bảo đảm tín dụng:
Bảo đảm tín dụng là sự bảo đảm cho ngân hàng rằng có một nguồn vốn khác
để hoàn trả hoặc bảo chi khi không thu hồi được nợ
- Vai trò của việc bảo đảm tín dụng:
+ Bảo đảm tín dụng là một hình thức bảo đảm cho trường hợp khách hàng không trả
nợ hoặc cho các tình huống bất khả kháng
+ Bảo đảm tín dụng nhằm đảm bảo khách hàng không đi chệch mục đích vay vốn đãxác định, ngăn ngừa gian lận
+ Các ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu thứ nhấtkhông thanh toán được
- Những thuộc tính của bảo đảm tín dụng:
+ Giá trị của vật bảo đảm có thể xác định được và tương đối ổn định
+ Vật bảo đảm tín dụng phải có tính chuyển nhượng và có sẵn thị trường tiêuthụ
+ Có giấy tờ, chứng từ chứng minh nguồn gốc sở hữu hợp pháp
- Bảo đảm tín dụng có các hình thức sau:
+ Thế chấp: là việc bên đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữuhoặc quyền sử dụng (đối với đất đai) các TSBĐ sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép bên đi vay sử dụng TSBĐ phục vụ cho hoạt
Trang 33động kinh doanh Các tài sản thế chấp bao gồm máy móc, trang thiết bị, nhà cửa đất đai,… thường cồng kềnh và việc bán, chuyển nhượng không đơn giản.
+ Cầm cố: là việc bên đi vay phải chuyển quyền kiểm soát TSBĐ sang cho ngân hàngtrong thời gian cam kết
Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quảntương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quátrình hoạt động của bên đi vay, như các chứng khoán, hợp đồng tiền gửi, sổ tiếtkiệm…
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam:
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng.
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơchế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn
và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ
đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thờicác loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đốiphó một khi có rủi ro xảy ra
Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là môhình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
Trang 34Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung:
Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản trị rủi
ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàngđầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năngchuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
- Điểm mạnh:
+ Quản trị rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài
+ Thiết lập và duy trì môi trường quản trị rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản
lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giámsát rủi ro
+ Xây dựng chính sách quản trị rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống
+ Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
- Điểm yếu:
+ Việc xây dựng và triển khai mô hình quản trị tập trung này đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian
+ Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý thuyết với thực tiễn
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán:
Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh
và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chứcnăng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
- Điểm mạnh:
+ Gọn nhẹ
+ Cơ cấu tổ chức đơn giản
+ Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ
- Điểm yếu:
+ Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu
+ Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số
Trang 35liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng.
Bài học kinh nghiệm và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam:
Bài học kinh nghiệm:
- Chúng ta đã có quá nhiều bài học từ thực tế về những tổn thất từ hoạt động tín dụng
có nguyên nhân từ việc quản trị rủi ro chưa hiệu quả, có thể điểm qua vài vụ án điểnhình:
+ Năm 1997, các doanh nghiệp thuộc 2 nhóm Epco và Minh Phụng nợ 6 Ngân hàngThương mại: Công thương Việt Nam (Incombank – “Vietinbank”), Ngoại thươngViệt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu ViệtNam (Eximbank), Sài Gòn Công thương Ngân hàng; Ngân hàng Thương mại cổphần Đại Nam; Ngân hàng Thương mại cổ phần Gia Định, tổng số tiền gần
tỷ đồng và 32,6 triệu USD Trong khi theo định giá của tòa án tại thời điểm xét
xử trị giá tài sản bảo đảm chỉ là 2.232 tỷ đồng
+ Năm 2008, ngày 14/8, cảnh sát Thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố, bắt giam ôngNguyễn Công Định, nhân viên Phòng tín dụng thuộc Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn (Agribank) chi nhánh Chợ Lớn, về tội “vi phạm quy định vềcho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” Nguyễn Công Định đã lập báocáo thẩm định để chi nhánh Agribank Chợ Lớn cho công ty Thành Phát (do vợchồng Trần Thị Hà - Hà Văn Hòa làm Giám đốc, Phó Giám đốc) vay 18 tỷ đồng và3.000 lượng vàng làm dự án, dù đơn vị này không đủ khả năng Thực tế, Công tyThành Phát không đủ điều kiện, khả năng tài chính, không có vốn tự có tham gia dự
án Thế nhưng, Định vẫn lập báo cáo thẩm định và đề nghị ngân hàng duyệt choCông ty Thành Phát vay tổng cộng cả vàng là trên 42 tỷ đồng Sau đó, vợ chồng Hà
- Hòa chi ra hơn 23 tỷ tiền đền bù, chi 2,4 tỷ nộp thuế chuyển mục đích sử dụng đất6,3 tỷ trả lãi vay, còn lại chiếm đoạt hơn 10 tỷ đồng (Nguồn: vnExpress.net-15/08/2008);
- Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà Nước thì: từ năm 1999 Ngân hàng Nhà nước đãthực hiện cơ cấu lại các NHTMCP, trong đó có việc thanh lý và giải quyết
Trang 36hậu quả của sự đổ vỡ từ những vụ bảo lãnh hoặc cho vay sai quy định dẫn đến mấtkhả năng chi trả như: Ngân hàng Nam Đô, Ngân hàng Vũng Tàu; thực hiện sápnhập như NHCP Quế Đô, đưa vào kiểm soát đặc biệt như VP Bank, Eximbank, ViệtHoa, Hàng Hải, Gia Định… Việc cơ cấu lại các NHTMCP thời kỳ này được coi như
là cuộc “cải cách ngân hàng ở Việt Nam lần thứ nhất’’
- Đề án tái cơ cấu Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam được tiến hành năm
1998 đã thu gọn 52 ngân hàng cổ phần, trong đó có nhiều ngân hàng ốm yếu, xuốngcòn 36 ngân hàng khoẻ mạnh, nợ xấu các ngân hàng cổ phần trước tái cơ cấu trên20% hiện chỉ còn khoảng 2,5%, một tỷ lệ rất thấp so với các ngân hàng quốc doanh
- Theo số liệu tổng hợp của tác giả từ các nguồn báo cáo của NHNN và từ báo cáocủa các TCTD thì nợ xấu bình quân hệ thống NHTM Việt Nam từ năm 2004 đếnnay tương đối ổn định và nằm trong giới hạn cho phép: năm 2004: khoảng 2,8%,năm 2005 khoảng 3,2%, năm 2006 khoảng 3,2%, năm 2007 khoảng 2,5%, năm
2008 khoảng 3,5%, năm 2009 khoảng 2,5% Tỷ lệ nợ xấu ở các NHTMQD (gồm cảcác NHTMQD đã cổ phần hóa) thường cao hơn nhiều so với các NHTMCP và các(chi nhánh) NH nước ngoài
- Tuy nhiên các chuyên gia cũng cho rằng các số liệu hiện có về hệ thống ngân hàng
có thể chưa phản ánh hết tình hình Với các khó khăn của nền kinh tế và sự đìnhđốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ xấu có thể caohơn và rủi ro thực tế sẽ lớn hơn đối với hệ thống ngân hàng, nhất là khi được đolường bằng các chuẩn mực quốc tế
+ Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhànước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản
nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khảnăng mất vốn).”
Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và(ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa của VAS
+ Còn theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ
Trang 37bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày;hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặcchậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngàynhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toánđầy đủ”.
Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạntrên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của IASđang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới
Ví dụ: Kết quả kiểm toán của Công ty Kiểm toán quốc tế Ernst & Young tại một NHTM được coi là có nợ xấu cao nhất năm 2005 theo VAS là 14,86%, theo IAS
Định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam:
- Nghiệp vụ và hoạt động ngân hàng thường bị giám sát, điều tiết chặt chẽ ở tất cả cácthị trường, tuy nhiên thực tế cho thấy bất chấp các cấp độ giám sát và điều tiết, cácngân hàng trên toàn thế giới vẫn phải luôn đối mặt với khủng hoảng
- Có thể nhận thấy rằng khả năng QTRR của các NHTM Việt Nam nhìn chungthường kém phát triển và kém tinh vi hơn ở những thị trường khác mặc dù nhiều
NH TMQD và NH TMCP đang ngày càng nhận thức rõ hơn về QTRR trong thờigian gần đây Tuy nhiên điều quan trọng là các NHTM cần phải tiếp tục đầu tư vàocông việc QTRR đúng cách trong một thị trường đang ngày càng phức tạp và nhiềuthách thức
- Ban lãnh đạo của NHTM phải có trách nhiệm đảm bảo rằng họ đang có những hệthống và quy trình đủ tốt để nhận diện, xác định và đánh giá rủi ro nhằm
Trang 38quản lý và giảm nhẹ tác động của những rủi ro đó.
- Mô hình quản trị rủi ro hiện đại cần dựa trên ba hàng phòng thủ; những nhân viên từcác cơ sở của doanh nghiệp “như một nền tảng”, bộ phận quản trị rủi ro và sau cùng
là bộ phận kiểm soát nội bộ Các ngân hàng cần phải truyền bá một thông lệ mạnh
mẽ để có thể đưa việc quản trị rủi ro vào mọi cấp Các nhân viên phải trở thànhnhững nhà quản trị rủi ro
- Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của Ủy banBasel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thịtrường, công nghệ, con người, mô hình các NHTM Việt Nam được khuyến nghịnên áp dụng mô hình quản trị rủi ro tập trung
Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng,được ban hành bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee onBanking Supervision – BCBS) Basel II sử dụng khái niệm “ba trụ cột”:
+ Yêu cầu về vốn tối thiểu
Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát:
+ Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi
Trang 39ro và chiến lược duy trì mức vốn của họ.
+ Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ vàchiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệvốn tối thiểu
+ Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định
+ Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăncản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu
Trụ cột thứ III :
Trụ cột thứ III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàngphải công bố Phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoànthiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác của ngânhàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý
Kết luận chương 1:
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi rotín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Đề tài cũng nghiên cứu bảnchất, các hình thức tín dụng, nguyên nhân rủi ro tín dụng, các biện pháp quản trị rủi
ro tín dụng và chỉ ra ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng và nền kinh
tế, nêu ra một số phương pháp phân tích rủi ro tín dụng Đề tài cũng đã nêu lênnhững vấn đề trọng yếu trong việc quản trị rủi ro tín dụng, những bài học kinhnghiệm và việc áp dụng các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ViệtNam Những nội dung này là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu chương
2 dưới đây
Trang 40CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB):
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế - VIB)được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 18/09/1996với vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng, với các cổ đông sáng lập: Ngân hàng NgoạiThương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam vàcác cá nhân là các doanh nhân thành đạt trong và ngoài nước
Đến hết năm 2009, VIB có 115 đơn vị kinh doanh (Sở giao dịch, Chi nhánh,Phòng Giao dịch) tại 27 tỉnh thành trên toàn quốc, Vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng (tháng9/2010 là 4.000 tỷ), Tổng tài sản trên 56.600 tỷ, Huy động vốn thị trường 1: trên
tỷ, Cho vay thị trường 1: trên 27.300 tỷ (nợ xấu 1,27%), lợi nhuận trước thuế
614 tỷ đồng;
Tóm tắt các sự kiện nổi bật:
18-09-1996 Thành lập Ngân hàng VIB
25-01-2006 Thành lập Trung tâm thẻ VIB
05-05-2006 Tăng vốn điều lệ lên 595 tỷ đồng
17-05-2006 Tăng vốn điều lệ lên 711 tỷ đồng
07-06-2006 Triển khai thành công Dự án Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng15-06-2006 Thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế VISA
03-07-2006 Chính thức phát hành độc lập thẻ ghi nợ nội địa VIB Values
03-07-2006 Thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế MasterCard
18-09-2006 Kỷ niệm 10 năm thành lập
22-09-2006 Hệ thống ATM chính thức đi vào hoạt động
28-11-2006 Tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng
06-12-2006 Được NHNN nước chấp thuận cho phát hành thẻ thanh toán quốc tế
VISA và MasterCard14-04-2007 Nhận giải thưởng “Nhãn hiệu cạnh tranh nổi tiếng quốc gia”
16-07-2007 Bảo lãnh phát hành thành công trái phiếu Công ty Cổ phần đầu tư
hạ tầng Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh15-08-2007 Tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng