ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM --- LƯƠNG THỊ THANH HUYỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT THỨ SINH TẠI VÙNG ĐẦU NGUỒ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
LƯƠNG THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM
THỰC VẬT THỨ SINH TẠI VÙNG ĐẦU NGUỒN
HỒ THÁC BÀ, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN – 2009
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
LƯƠNG THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊNTRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT THỨ SINHTẠI VÙNG ĐẦU NGUỒN
HỒ THÁC BÀ, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên nghành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN – 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa có ai công bố
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Sinh – KTNN và các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái; Trường THPT Thác Bà – Yên Bái đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và công tác
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2009
TÁC GIẢ
Lương Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… 2
3 Giới hạn nghiên cứu……… 3
Chương 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………… 4
1.1 Một số khái niệm có liên quan……… 4
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……… 6
1.2.1 Trên thế giới……… 6
1.2.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng……… 6
1.2.1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng……… 8
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam……… 12
1.2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 12
1.2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh 15
1.2.2.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật rừng ở Yên Bái 18
Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 20
2.1 Nội dung nghiên cứu 20
2.1.1 Đặc điểm hệ thực vật và thảm thực vật vùng đầu nguồn hồ Thác Bà 20
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ của hai trạng thái TTV… 20
2.1.3 Một số đặc điểm cấu trúc ngang của hai trạng thái TTV………… 20
2.1.4 Một số đặc điểm cấu trúc đứng của hai trạng thái TTV………… 20
2.1.5 Một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của hai trạng thái TTV……… 20
2.1.6 Để xuất một số giải pháp để phục vụ cho công tác bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học và khả năng phòng hộ đầu nguồn tại khu vực hồ Thác Bà
20 2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phương pháp luận……… 20
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu……… 21
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu……… 24
Chương 3 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31
3.1 Điều kiện tự nhiên 31 3.1.1 Vị trí địa lý 31
3.1.2 Địa hình……… 31
3.1.3 Khí hậu - Thuỷ văn ……… 32
3.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng……… 32
3.1.5 Thảm thực vật – Cây trồng……… 33
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội……… 33
3.2.1 Dân số và lao động……… 33
3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành……… 34
Chương 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 40
4.1 Hiện trạng thảm thực vật khu vực hồ Thác Bà……… 40
4.1.1.Hệ thực vật……… 40
4.1.2 Thảm thực vật……… 41
* Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau nương rẫy……… 45
* Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau khai thác kiệt……… 47
4.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái và mật độ cây gỗ của hai trạng thái TTV……… 51
4.2.1 Chỉ số IVI và công thức tổ thành sinh thái trong quần hợp cây gỗ…… 52
4.2.2 Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây……… 60
Trang 44.2.3 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học ở hai TTV……… 62
4.2.4 Đặc điểm dạng sống thực vật……… 63
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc ngang của hai trạng thái TTV……… 65
4.3.1 Phân bố loài theo các nhóm tần số xuất hiện ……… 65
4.3.2 Sự phân bố số loài cây theo cấp đường kính……… 68
4.3.3 Sự phân bố số cây theo cấp đường kính ……… 70
4.4 Một số đặc điểm cấu trúc đứng của hai trạng thái TTV 72 4.4.1 Phân bố số cây theo cấp chiều cao……… 72
4.4.2 Phân bố loài theo cấp chiều cao ……… 74
4.5 Đặc điểm tái sinh tự nhiên trong hai trạng thái TTV……… 76
4.5.1 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học tầng cây tái sinh……… 77
4.5.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh……… 78
4.5.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ……… 80
4.5.4 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang……… 81
4.5.5 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh……… 82
Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 88
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
D1,3 Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m
HVN Chiều cao vút ngọn trung bình
IVI Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ
SI Chỉ số tương đồng về thành phần loài cây Shannon Chỉ số đa dạng sinh học
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Số lượng và sự phân bố các taxon thực vật tại KVNC 40
4.2 Tổng số loài và loài ưu thế sinh thái ở hai TTV 52
4.3 Kết quả các loài cây gỗ có chỉ số IVI > 5% ở hai TTV 53
4.8 Chỉ số tương đồng về thành phần loài ở hai TTV 61
4.9 Chỉ số tương đồng về thành phần loài của TTV sau NR 61
4.10 Chỉ số tương đồng về thành phần loài của TTV sau KTK 61
4.12 Dạng sống của thực vật tại khu vựu hồ Thác Bà 64
4.13 Phân bố số loài theo cấp đường kính ở hai TTV 69
4.17 Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây tái sinh ở hai TTV 77
4.18 Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh ở hai TTV 78
4.19 Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở hai TTV 80
4.20 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở hai TTV 82
4.21 Phân bố cây theo mặt phẳng nằm ngang ở hai TTV 83
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sơ đồ ô tiêu chuẩn cấp I với các ô cấp II và cấp III 23 4.1 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau NR 45 4.2 Ảnh TTV sau NR đã phục hồi tự nhiên được 20 năm 46 4.3 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau KTK 48 4.4 Ảnh TTV sau KTK đã phục hồi tự nhiên được 20 năm 49 4.5 Phổ dạng sống của hai kiểu TTV tại khu vực nghiên cứu 65 4.6 Phân bố số loài theo nhóm tần số ở TTV sau NR 66 4.7 Phân bố số loài theo nhóm tần số ở TTV sau KTK 67 4.8 Đồ thị phân bố số loài theo cấp đường kính ở hai TTV 69 4.9 Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính của hai TTV 71 4.10 Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao ở hai TTV 73 4.11 Đồ thị phân bố số loài theo cấp chiều cao ở hai TTV 75 4.12 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao ở hai TTV 81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế của
đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ,
cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng
trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút
cả về số lượng và chất lượng
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giời có 11 triệu ha
rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu ha
rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới Ở Việt
Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng Năm 1943
độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26% Nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [18]
Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện
pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ
phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12
triệu ha, tương đương với và độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng tự nhiên có 10
triệu ha và rừng trồng có 2 triệu ha
Để đạt được kết quả như trên, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất rừng cho
các tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ Những
chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện
tích đất trống đồi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại Có được kết quả đó là do
những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến
theo hướng xã hội hoá nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động
tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng
Việc nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo vệ, phục
hồi và sử dụng hợp lý rừng tự nhiên là rất cần thiết trong đó nghiên cứu cấu trúc và
tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng là một khâu cơ bản không thể thiếu
Hồ Thác Bà là hồ nước nhân tạo do ngăn dòng sông Chảy năm 1970 để làm Nhà máy thuỷ điện Thác Bà, nhà máy thuỷ điện đầu tiên ở nước ta Hồ nằm ở địa giới hai huyện Yên Bình và Lục Yên của tỉnh Yên Bái, có diện tích mặt nước khoảng 23.400 ha, có 1.331 đồi đảo lớn nhỏ với thảm thực vật và cảnh quan đa dạng Nhưng do tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi rừng phòng hộ đầu nguồn nên thảm thực vật ở khu vực này đã bị suy thoái nghiêm trọng Từ đó gây ra hậu quả làm đất bị xói mòn rửa trôi, gây bồi lắng lòng hồ, hạn chế khả năng chứa nước Mặt khác, rừng sau khai thác hầu như bị đảo lộn toàn bộ về cấu trúc, quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hướng thoái bộ so với ở tình trạng nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không được quản lý tốt
Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc
điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên trong một số trạng thái thảm thực vật thứ sinh tại vùng đầu nguồn Hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái ” làm cơ sở khoa học cho việc
nghiên cứu về diễn thế và đa dạng sinh học Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng phục vụ cho công tác phòng hộ đầu nguồn và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học ở địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Về lý luận
Bổ sung những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên tại vùng đầu nguồn Hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái làm góp phần vào việc nghiên cứu về diễn thế và đa dạng sinh học Từ đó đề xuất các biện pháp tác động thích hợp nhằm từng bước đưa rừng về trạng thái có cấu trúc
hợp lý, ổn định hơn
2.2 Về thực tiễn
Trên cơ sở các quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng phục vụ cho công tác phòng hộ và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học tại vùng đầu nguồn Hồ Thác Bà
Trang 73 Giới hạn nghiên cứu
3.1 Giới hạn về khu vực nghiên cứu
Là xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, đây là vùng rừng đầu
nguồn của Hồ Thác Bà
3.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Là hai trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau nương rẫy và
sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Các thảm cây
bụi, cây trồng nông nghiệp, công nghiệp, trang trại, vườn cây ăn quả và rừng trồng
đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.3 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về một số đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái (tần số xuất hiện,
độ phong phú, độ ưu thế của các loài cây gỗ) để đánh giá vai trò sinh thái của từng
loài cây gỗ trong quần xã cây gỗ rừng; quy luật phân bố số loài, số cây theo cấp
đường kính và cấp chiều cao; xác định tính đa dạng của quần hợp cây gỗ và đặc
điểm tái sinh tự nhiên trong hai trạng thái thảm thực vật rừng
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.1.2 Tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo, hay
tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên Cùng với thuật ngữ này, còn có nhiều thuật ngữ khác đang được sử dụng rộng rãi hiện nay Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “ Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:
- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp
- Tái sinh bán nhân tạo nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng
bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [20], tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù
Trang 8của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế
hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo ông vai trò lịch
sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu
theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng
cây gỗ Ông cũng khằng định tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh
của một hệ sinh thái rừng
Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1995) [38]cho rằng nếu
thành phần loài cây tái sinh giống với thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay
thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác Ngược lại, nếu thành phần loài cây tái
sinh khác với thành phần cây đứng thì quá trình diễn thế xảy ra
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lập
lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây conđều có
nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo thì cây con
cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với các
khái niệm khác (như trồng rừng) là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng cây
giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm.Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quá
trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng
1.1.3 Phục hồi rừng
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích đã
bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái
tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó là một
quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một
thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán (Trần Đình Lý; 1995), [22]
Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải pháp khác nhau tuỳ theo
mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo (trồng rừng) phục hồi tự nhiên
và phục hồi tự nhiên có tác động của con người (xúc tiến tái sinh)
1.2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Trên thế giới
Đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học và lí luận phục vụ cho công tác kinh doanh rừng
1.2.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong
hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
* Cơ sở sinh thái về cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của thảm thực vật
là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P W Richards (1952), G N Baur (1964), E P Odum (1971)… tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
G N Baur (1964) [64] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung
và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên
Trang 9cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên
Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng [47]
P Odum (1971) [48] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật
ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm
sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Công trình nghiên cứu của R Catinot (1965) [4], J Plaudy (1987) [29] đã biểu
diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh
thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
* Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần
sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng Phương pháp vẽ biểu đồ
mặt cắt đứng của rừng do P.W Richards (1952) [49] đề xướng và sử dụng lần đầu
tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng
thứ của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được
cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây gỗ trong diện tích có hạn
Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một
hình tượng về không gian ba chiều
P W Richards (1959, 1968, 1970) [50] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt
đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn
giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ
tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi
và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh
trên thân hoặc cành cây
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc
trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng suất thảm
thực vật Ngay từ đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grinsebach đã sử dụng dạng sinh
trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho
các nhóm thực vật Phương pháp của Humboldt và Grinsebach được các nhà sinh
thái học Đan Mạch (Warming, 1094; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển
Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác nhau) Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grinsebach Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất
Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp nhận rộng rãi
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng của rừng tự nhiên nhiệt đới
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong bảo vệ rừng
1.2.1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ [19], [20], [49]
Trang 10Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được
nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1952 ; Baur G.N, 1964 ;
Rollet, 1969) Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây
có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất
định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được
quan tâm nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng
mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều
đã bị biến đổi J.Van Steenis (1956) [51] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ
biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng
và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách
xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ
đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh
Công trình của Walton, A B Bernard, R C - Wyatt Smith (1950) [76] với phương
thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai ; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt
dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana Nội dung hiệu quả của từng phương
thức đối với tái sinh đã được G N Baur (1976) [2] tổng kết trong tác phẩm cơ sở
sinh thái học trong kinh doanh rừng
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy
mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô đo đếm thông
thường từ 1 đến 4 m2
Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số
trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp “
điều tra chẩn đoán ” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai
đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P.W Richards (1952), Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x 1 m; 1 m x 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Bava (1954), Budowski (1956), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung
có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [12]
Tác giả H Lamprecht (1969) [67] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Tác giả G N Baur (1976) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm
cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã
Trang 11ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất
khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên
ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm
phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong
điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov,
1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [37]
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên
cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela
nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành
thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên
thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi
khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm
Hồng Ban, 2000) [1]
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1 -
20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa
dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn
thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu
đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21
loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng
Ban, 2000) [1]
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế
giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự
nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây
dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một
cách bền vững
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình
Trần Ngũ Phương (1970) [25] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú
ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng
Thái Văn Trừng (1978) [43] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết
Vũ Đình Phương (1987) [27] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ cho công tác điều chế với phân chia theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong qúa trình phân chia
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [44] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn Đây là quy luật cơ bản nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố, có thể xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ sở xác định trữ lượng lâm phần
Trang 12Nguyễn Văn Trương (1983) [45] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem
xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ
giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987)
[27] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn
hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa
là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định
giới hạn của các tầng cây
Đào Công Khanh (1996) [17] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu
trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất một số biện
pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng
Nguyễn Anh Dũng (2000) [13] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu
trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà
Bình
Bùi Thế Đồi (2001) [14] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc
quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam
Các tác giả Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [28] thử nghiệm
phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế
rừng lá rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho rằng đa số loài
cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm
phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc đường
kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng
hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các tác giả như Đồng
Sĩ Hiền (1974) [15] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố
thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập
biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) [35, 36] đã sử
dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh
và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng Trần Văn Con
(1991) [5] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng
khộp ở Đăklăk Lê Sáu (1995) [36] đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên Bùi Văn Chúc (1996) [10] đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn Lâm trường sông Đà ở các trạng thái rừng IIA, IIIA1 và rừng trồng làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [39], thống kê thành phần loài của Vườn Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ của 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn như: Hoàng thảo Tam đảo
(Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia longicaudata), Trà hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris
delavayi)…
Đặng Kim Vui (2002) [46], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 -2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ
có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất 75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm
Trang 131.2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ
những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An,
Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả nghiên cứu bước đầu
đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [40] tổng kết và kết luận về tình hình tái sinh
tựnhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng
của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố
số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ có h < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với
lớp cây ở các cấp kích thước khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có
khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài
cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn
vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên
Trần Ngũ Phương (1970) [25] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa
lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người
khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự
hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó
phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên
những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng
khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Nguyễn Văn Trương (1983) [45] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái
sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng
Phùng Ngọc Lan (1984) [19] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai
thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu
Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng
kể đến tỷ lệ nảy mầm
Phạm Đình Tam (1987) [30] đã làm sáng tỏ hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng
thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá
nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và
hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh
tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái
và Lạng Sơn) Nguyễn Duy Chuyên (1988) [11] đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm
cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu
Vũ Tiến Hinh (1991) [16] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Nguyễn Ngọc Lung (1993) [21] và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm chắc các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực vật Qua đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi đúng hướng, quá trình này được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [38] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi Qua đó, tác giả kết luận: rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu, Nghệ An Nguyễn Duy Chuyên (1995) [12] đã nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố tổ thành cây tái sinh, số
Trang 14lượng cây tái sinh Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái sinh cho toàn
lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng
phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm
Trần Xuân Thiệp (1995) [38] nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trong rừng chặt
chọn ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên
trong các trạng thái rừng khác nhau Theo tác giả, rừng thứ sinh có số lượng cây tái
sinh lớn hơn rừng nguyên sinh Tác giả còn thống kê các cây tái sinh theo 6 cấp
chiều cao, cây tái sinh triển vọng có chiều cao h > 1,5 m
Tác giả Trần Đình Lý (1995, 1997) [22, 23] và cộng sự khi nghiên cứu về lớp
cây tái sinh tự nhiên ở Phanxipăng - Sa Pa - Lao Cai đã xác định được quy luật phân
bố cây tái sinh ở vùng này
Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường Hương Sơn
- Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) [34] cho rằng áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh
tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên
rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác động phải có tác dụng thúc
đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng
nghĩa với tái sinh rừng và phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây
tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện
các biện pháp mở tán rừng, chặt gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai
thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng
Thái Văn Trừng (2000) [44] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam,
đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh
tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: đất
rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh
không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong
không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui
luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Trần Ngũ Phương (2000) [26] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự
nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự
nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng
về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
Lê Đồng Tấn (1995, 1997, 1998, 1999, 2003) [31, 32, 33] và cộng sự đã nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La Tác giả đã kết luận mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi, tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và ba cấp độ dốc là khác nhau, sự khác nhau chính là tổ thành các loài trong tổ hợp đó
Phạm Ngọc Thường (2001, 2003) [41, 42] nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây
gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là khá cao
Lê Ngọc Công (2004)[9], khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, cho rằng giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1-6 năm), mật độ cây tăng lên, sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây
1.2.2.3 Những nghiên cứu về TTV rừng ở Yên Bái
Ở Yên Bái trong thời gian qua có một số công trình của các tác giả về phục hồi rừng Lâm Phúc Cố (1994)[6], nghiên cứu phục hồi lại rừng đầu nguồn sông Đà tại
Mù Căng Chải cho rằng ở những nơi đất khó có tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết Theo tác giả nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loài cây thích nghi với điều kiện đồi núi trọc Lâm Phúc Cố (1996) [7], nghiên cứu một số biện pháp xây dựng rừng phòng
hộ đầu nguồn sông Đà tại Lâm trường Púng Luông – Mù Cang Chải – Yên Bái đã
Trang 15nhận xét: trồng hỗn giao các loài cây bản địa với Thông đuôi ngựa là biện pháp tạo
rừng phòng hộ đầu nguồn hiệu quả cao và nhanh nhất, ở những vùng rất xung yếu
có điều kiện lập địa phù hợp với yêu cầu sinh thái nhiều loài cây thì tiến hành trồng
hỗn giao theo băng tỷ lệ 1:2 (50% cây bản địa, 50% cây mục đích)
Lâm Phúc Cố (1996) [7], nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng
Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận diễn
thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng cao đỉnh
Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạnphát triển, từ 4 loài ở giai đoạn I (< 5
năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn V (> 25 năm) Rừng phục hồi có 1 tầng cây gỗ
giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4
Âu Văn Bẩy (2005) [3], nghiên cứu đặc điểm vùng bán ngập của một số hồ
trọng điểm ở miền bắc Việt Nam, đề xuất giải pháp trồng rừng phòng hộ bán ngập
ven hồ cókết luận: Việc trồng rừng bán ngập tại các hồ vùng đầu nguồn là rất cần
thiết, có tác dụng chống sạt lở ven hồ, hạn chế xói mòn rửa trôi đất, hạn chế bồi
lắng lòng hồ, bảo vệ nguồn nước
Như vậy có thể thấy các công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng ở
tỉnh Yên Bái còn rất ít, chưa đáp ứng được nhiệm vụ phục hồi, bảo vệ và phát triển
rừng của vùng đầu nguồn Hồ Thác Bà Những nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp
phần nhỏ vào mục tiêu đó
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm hệ thực vật và TTV vùng đầu nguồn Hồ Thác Bà
- Hệ thực vật
- Thảm thực vật
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ của hai trạng thái TTV
- Cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ
- Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây
- Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học của hai trạng thái TTV
2.1.3 Đặc điểm cấu trúc ngang của các trạng thái TTV nghiên cứu
- Phân bố loài cây theo các nhóm tần số xuất hiện trong quần hợp cây gỗ
- Phân bố số cây theo cấp đường kính
- Phân bố loài cây theo cấp đường kính
2.1.4 Đặc điểm cấu trúc đứng của các trạng thái TTV nghiên cứu
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao
- Phân bố loài cây theo cấp chiều cao
2.1.5 Đặc điểm tái sinh TN của các trạng thái TTV nghiên cứu
- Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học lớp cây tái sinh
- Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
2.1.6 Đề xuất một số giải pháp để phục vụ cho công tác bảo tồn tài nguyên sinh học và khả năng phòng hộ đầu nguồn tại khu vực nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1 Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu
Trang 16chuẩn đại diện ở hai trạng thái thảm thực vật sau nương rẫy và sau khai thác kiệt ở
khu vực nghiên cứu, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác Đề tài
sử dụng các phương pháp phân tích số liệu truyền thống, phương pháp kế thừa các
tư liệu, số liệu có liên quan
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn
Để mô tả một quần xã thực vật, số liệu cần phải được thu thập trên một số ô
tiêu chuẩn (OTC) có diện tích đủ lớn Việc áp dụng phương pháp điều tra theo OTC
đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như trong nước
Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới, để xác định tổng diện tích OTC, H
Lamprecht (1979) [6] đã tiến hành điều tra thành phần loài cây trên diện tích ô cơ sở
400 m2, sau đó tăng dần số ô cho đến khi không có loài cây mới xuất hiện Tổng
diện tích của các ô khi đó là diện tích tối thiểu của các OTC cần điều tra để đảm bảo
có thông tin đầy đủ về tổ thành loài Phương pháp này cho phép xác định diện tích
của OTC một cách chính xác, đặc biệt là đối với những kiểu thảm thực vật có cấu
trúc đồng đều, còn đối với diện tích lớn bao gồm nhiều kiểu thảm có thành phần
loài và điều kiện địa hình phức tạp cần phải có sự phân loại khoanh vùng trước
Từ năm 1930, ở Malaysia người ta đa áp dụng phương pháp điều tra OTC
với diện tích đo đếm là 4 m2
(2x2 m) đối với cây tái sinh Đến năm 1948, London
đã tiếp tục phát triển sau đó là Barnard (1950) lại tiếp tục hoàn thiện cho đến năm
1960 Wyatt - Smith bổ sung có sửa đổi thành phương pháp điều tra chuẩn đoán
Phương pháp này được áp dụng một cách rộng rãi trong việc đánh giá hiệu quả các
phương thức xử lý lâm sinh trong kinh doanh rừng ở vùng nhiệt đới, trong đó đối
tượng chính là đánh giá lớp cây tái sinh Theo phương pháp này, để đánh giá hiện
trạng lớp cây tái sinh cần phải mở các tuyến điều tra Trên tuyến điều tra đặt các
OTC theo cự ly nhất định (thường là 100 m) để thu thập số liệu
Thái Văn Trừng (1978) [43] đề nghị dùng OTC dạng bản nhỏ 100 m2 (10x10
m) để điều tra nhanh ngoài thực địa và ô kích thước từ 400 m2 (20x20 m) cho đến 1
ha tuỳ theo thành phần và quần thể phức tạp hay đơn giản khi điều tra chi tiết
Để điều tra tái sinh, Nguyễn Vạn Thường (1991)[40] đã dùng phương pháp điều tra tuyến và khu tiêu chuẩn Khu tiêu chuẩn có diện tích 0,2 - 0,5ha
Lâm Phúc Cố (1996) [7] sử dụng OTC 400 m2 cho cả 5 giai đoạn diễn thế phục hồi rừng sau nương rẫy ở Púng Luông - Yên Bái
Trần Xuân Thiệp (1996)[38] thiết lập OTC cho các trạng thái rừng với diện tích từ0,1- 0,2ha để nghiên cứu diễn thế rừng ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
Các tác giả Lê Đồng Tấn (2000) [21], Lê Ngọc Công (2003) [23] đã áp dụng OTC
400 m2 cho các đối tượng là thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy Phạm Ngọc Thường (2002) [42] đã xác định diện tích ô tiêu chuẩn là 500 m2(20x25 m) áp dụng cho cho cả 5 giai đoạn trong quá trình tái sinh tự nhiên phục hồi rừng sau nương rẫy tại 2 tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên Đối với thảm vầu, nứa phục hồi tác giả đã áp dụng diện tích OTC là 100 m2
(10x10 m)
Hệ thống ô tiêu chuẩn gồm các ô có kích thước khác nhau cho các nhóm cây
có kích thước khác nhau đã được nhiều tác giả ứng dụng khi nghiên cứu rừng tự nhiên nhiệt đới (Brun, 1969, Plonczak, 1989, Hahn-Schilling, 1994, Kammesheidt,
1994, Nguyễn Văn Sinh, 2000, Wode, 2000 ) Lý do để các tác giả sử dụng hệ thống ô tiêu chuẩn như vậy là vì nhóm cây lớn thường có mật độ nhỏ nhất, sau đó đến nhóm cây nhỡ và cuối cùng là nhóm cây tái sinh có mật độ cao nhất Một hệ thống ô tiêu chuẩn như vậy bao gồm một lượng ô nhất định những ô lớn cho nhóm cây lớn Trong mỗi ô lớn lại có một số ô nhỏ hơn cho nhóm cây nhỡ và một số ô dạng bản cho nhóm cây tái sinh Diện tích điều tra cho nhóm cây nhỡ và nhóm cây tái sinh ít hơn diện tích điều tra cho nhóm cây lớn nhưng vì mật độ của chúng cao nên vẫn đảm bảo độ chính xác cần thiết
Như vậy, mỗi tác giả khi tiến hành điều tra thu thập số liệu ngoài thực địa đều áp dụng những kích thước OTC khác nhau Tuy có khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất số lượng và kích thuớc OTC phải đủ lớn thì số liệu thu thập được mới đủ độ tin cậy
Để thu thập số liệu, chúng tôi thực hiện phương pháp điều tra theo tuyến và OTC như sau:
Trang 17Tuyến điều tra đầu tiên được xác định theo hướng vuông góc với đường
đồng mức, các tuyến tiếp theo song song với tuyến đầu tiên Cự ly giữa hai tuyến là
50 – 100 m tuỳ theo địa hình cho phép Một hệ thống ô tiêu chuẩn đại diện đã được
thiết lập bao gồm 15 (hoặc 10 ô) ô tiêu chuẩn cấp I trong trạng thái thảm thực vật
(TTV) thứ sinh phục hồi tự nhiên (TN) sau nương rẫy và 5 ô tiêu chuẩn cấp I trong
trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau khai thác kiệt để điều tra nhóm cây có
đường kính d > 5 cm; mỗi ô tiêu chuẩn cấp I có diện tích 400 m2
(20 m x 20 m); số
ô tiêu chuẩn tỷ lệ với diện tích mỗi kiểu rừng tái sinh.[dẫn theo Pham Ngọc
Thường(2003)] Trong mỗi ô tiêu chuẩn cấp I, ghi chép các thông tin như: Số hiệu ô,
vị trí ô, độ dốc, hướng phơi, độ cao, những tác động chính vào rừng, số cây có d >
5cm Ở giữa mỗi ô tiêu chuẩn cấp I trên lại thiết lập một ô tiêu chuẩn cấp II có diện
tích 100 m2 (5 m x 20 m) để điều tra nhóm cây có đường kính d ≤ 5 cm và chiều cao
trên 1,3 m Tại 4 góc ô tiêu chuẩn cấp I thiết lập 4 ô tiêu chuẩn cấp III có diện tích 4
m2 ( 2 m x 2 m) để điều tra nhóm cây tái sinh có chiều cao 30 - 130 cm (nhưsơ đồ
trong hình 3.1)
Hình 3.1 - Sơ đồ ô tiêu chuẩn cấp I với các ô cấp II và cấp III
* Điều tra nhóm cây lớn
Trong ô tiêu chuẩn cấp I đo chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m cho những cây
có đường kính lớn hơn 5 cm (tương đương chu vi 16,7 cm) sau đó dùng chương
trình Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính:
Xác định tên loài và đo chiều cao vút ngọn (HVN) bằng thước sào có chia vạch cho mỗi cây đã đo đường kính
* Điều tra nhóm cây nhỡ
Trong ô tiêu chuẩn cấp II đo chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m với những cây
có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm (chu vi nhỏ hơn 16,7 cm) sau đó dùng chương trình Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính:
P
D, trong đó P là chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m
Xác định tên loài và đo chiều cao vút ngọn (HVN) bằng thước sào có chia vạch cho mỗi cây đã đo đường kính
* Điều tra cây tái sinh có chiều cao 30 - 130 cm
Việc điều tra cây tái sinh được thực hiện trong ô tiêu chuẩn cấp III có kích thước 4 m2
(2 m x 2 m) ở 4 góc ô tiêu chuẩn Tất cả cây tái sinh của các loài cây gỗ
có chiều cao 30 - 130 cm được xác định tên cây, nguồn gốc, phẩm chất (tốt,, trung bình, xấu) và đo chiều cao
* Điều tra cây bụi, dây leo và thảm tươi
Thành phần loài lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi được xác định cho các ô tiêu chuẩn cấp III Độ nhiều (hay độ dầy rậm) thảm tươi được đánh giá cho toàn ô cấp I
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Nhóm cây gỗ được xác định theo quy định mới của Cục Lâm nghiệp Các chỉ
số thông dụng được tính theo các công thức đã được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn thống kê, quy hoạch rừng với việc sử dụng chương trình Excel
Các chỉ số đặc trưng cho cấu trúc quần hợp cây gỗ rừng sẽ được tính toán bằng chương trình chuyên dụng xử lý số liệu ô tiêu chuẩn F-Structure A&S (Nguyễn Văn Sinh, 2004) Chương trình này cho ra các thông tin sau:
- Tổng góp số loài trong các ô tiêu chuẩn: Số loài mới xuất hiện trong ô tiêu
chuẩn kế tiếp được cộng thêm vào tổng số loài đã có ở các ô tiêu chuẩn trước Tổng
Trang 18này được dùng để vẽ đường „loài/diện tích‟ Đường „loài/diện tích‟ được vẽ với các
điểm có hoành độ là tổng góp diện tích các ô tiêu chuẩn và tung độ là tổng số loài
cây gỗ đã điều tra được trên các diện tích đó Đường này cho biết tối thiểu tổng diện
tích các ô tiêu chuẩn phải là bao nhiêu để ta có thể bao quát được cấu trúc loài của
quần hợp cây gỗ rừng Vì thường khó có thể bao quát được tất cả các loài cây gỗ,
Cain và Oliveira Castro [4] đã đề xuất coi diện tích đại diện tối thiểu là đã đạt được
khi tăng diện tích ô tiêu chuẩn lên 10% mà số loài tăng thêm ít hơn 10%
- Phân bố số loài, số cây theo các nhóm đường kính: Số loài và số cây
được tính cho các nhóm đường kính: 6 - 10 cm; 11 - 15 cm; 16 - 20 cm, kết quả
được thể hiện bằng đồ thị
- Phân bố số loài, số cây theo các nhóm chiều cao: Số loài và số cây được
tính cho các nhóm chiều cao: 1 - 5 m; 6 - 10 m; 11 - 15 m, kết quả được thể hiện
bằng đồ thị
- Phân bố số loài theo các nhóm tần số xuất hiện: Tần số xuất hiện ở đây là
tần số xuất hiện tuyệt đối của loài, là tỷ lệ phần trăm số ô tiêu chuẩn có đại diện của
loài đó trên tổng số ô tiêu chuẩn đã điều tra Số loài được tính cho 5 nhóm tần số: 1
- 20%; 21 - 40%; 41 - 60%; 61 - 80%; 81 - 100%
- Các chỉ số đa dạng cho các quần xã rừng tái sinh tự nhiên
2.2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng
a Cấu trúc tổ thành sinh thái tầng cây gỗ:
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo thành
rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia lâm phần
thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành loài khác nhau
thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa dạng sinh học cũng
khác nhau
Trong nghiên cứu, đề tài sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance
Value Index = IVI) Chỉ số mức độ quan trọng đã được Curtis và McIntosh (1951)
đề xuất và áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các
loài trong một quần thể thực vật, cho phép đánh giá mức độ quan trọng của loài trong quần hợp cây gỗ rừng tự nhiên
Chỉ số được tính bằng cách cộng các chỉ tiêu độ phong phú tương đối, độ ưu thế tương đối và tần số gặp tương đối:
3
F D A IVI i i i i
(3-1) Trong đó:
- IVIi là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thứ i
- Ai là độ phong phú tương đối của loài thứ i: được tính bằng cách lấy số cá thể của loài thứ i chia cho tổng số cá thể của tất cả các loài rồi nhân với 100 %
- Di là độ ưu thế tương đối của loài thứ i: được tính bằng cách lấy tổng diện tích mặt cắt thân ở độ cao 1,3 m của các cây thuộc loài thứ i chia cho tổng diện tích mặt cắt thân ở độ cao 1,3 m của tất cả các cây đã điều tra rồi nhân với 100%
- Fi là tần số xuất hiện tương đối của loài thứ i: được tính bằng cách lấy tần
số xuất hiện của loài thứ i chia cho tổng tần số xuất hiện của tất cả các cây đã điều tra rồi nhân với 100 %
Theo Daniel Marmillod (1958), những loài cây có chỉ số IVI 5% mới thực
sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Chính vì vậy chúng tôi tính tổng IVI của những loài có trị số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IVI đạt 50%
b Mật độ:
Công thức xác định mật độ như sau:
10.000S
nN/ha
(3-2)
Trong đó:
- n: Tổng số cá thể của loài trong các OTC,
- S: Tổng diện tích các OTC (ha)
Trang 19c Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây
Đề tài sử dụng công thức Soerensen‟s Index - SI (1948) để tính chỉ số tương
đồng về thành phần loài giữa các nhóm cây trong cùng một trạng thái cũng như giữa
các trạng thái TTV khác nhau để đánh giá sự biến động thành phần loài cây gỗ của
các tầng khác nhau trong hiện tại và tương lai
B A
C SI
(3-3) Trong đó:
-C là số lượng loài xuất hiện cả ở 2 quần thể A và B,
-A là số lượng loài của quần thể A,
-B là số lượng loài của quần thể B
d Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học của quần hợp cây gỗ rừng:
Từ trước đến nay khi nghiên cứu các quần xã sinh vật, các tác giả đã đề xuất
ra rất nhiều chỉ số đa dạng: chỉ số Shannon (Magurran, 1988), chỉ số Berger-Parker
(Magurran, 1988), chỉ số Brillouin (Brillouin, 1962), chỉ số Simpson (Simpson,
1949), chỉ số Alpha (Magurran, 1988), chỉ số McIntosh (McIntosh, 1967), chỉ số
Margalef (Margalef, 1958), chỉ số Menhinick (Magurran, 1988) Trong đề tài,
chúng tôi chọn chỉ số Shannon để đánh giá tính đa dạng của các quần hợp cây gỗ đã
nghiên cứu vì chỉ số này đánh giá tổng hợp cả độ đa dạng loài (số loài) và độ đa
dạng trong loài (số cá thể của từng loài):
N N
H n ni s
i
iln'
- s là số loài trong quần hợp,
- ni là số cá thể loài thứ i trong quần hợp,
- N là tổng số cá thể trong quần hợp
e Đặc điểm lớp cây bụi, dây leo, thảm tươi:
Đánh giá độ phong phú loài của lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi Độ nhiều
(hay độ dầy rậm) của thảm tươi được đánh giá theo Drude (bảng 3.1)
Bảng 3.1.Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi
Ký hiệu Tình hình thực bì
Soc Thực vật mọc rộng khắp che phủ 75 - 100% diện tích Cop3 Thực vật mọc rất nhiều che phủ trên 50 - 75% diện tích Cop2 Thực vật mọc nhiều che phủ từ 25 - 50% diện tích Cop1 Thực vật mọc tương đối nhiều che phủ từ 5 - 25% diện tích
Sp Thực vật mọc ít che phủ dưới 5% diện tích Sol Thực vật mọc rải rác phân tán
Un Một vài cây cá biệt
Gr Thực vật phân bố không đều , mọc từng khóm
2.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng
a Chỉ số đa dạng cây tái sinh:
Chúng tôi chọn chỉ số Shannon để đánh giá tính đa dạng cây tái sinh trong hai trạng thái rừng nghiên cứu:
N N
s
i
iln'
- s là số loài trong quần hợp,
- ni là số cá thể loài thứ i trong quần hợp,
- N là tổng số cá thể trong quần hợp
b Hệ số tổ thành cây tái sinh:
Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức sau:
n%j
.100n
n
m
1 i i
Trang 20Trong đó:
- j =1,
- m là số thứ tự loài
Nếu:
- n%j 5% thì loài j được tham gia vào công thức tổ thành
- n%i < 5% thì loài j không được tham gia vào công thức tổ thành
- Ki: Hệ số tổ thành loài thứ i,
- ni: Số lượng cá thể loài i,
- N: Tổng số cá thể điều tra
c Mật độ cây tái sinh:
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác
định theo công thức sau:
Sn 10.000
(3-8) Trong đó:
- S là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh (m2),
- n là số lượng cây tái sinh điều tra được
d Chất lượng cây tái sinh:
Tính tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, hoặc xấu theo công thức:
100N
n
(3-9)
Trong đó:
- N%: Tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, hoặc xấu,
- n: Tổng số cây tốt, trung bình, hoặc xấu,
- N: Tổng số cây tái sinh
Xác định cây chồi dựa vào vết sẹo trên gốc cây Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt không sâu bệnh Cây trung bình là cây không cong queo, không sâu bệnh, không gãy cành cụt ngọn nhưng khả năng sinh trưởng kém hơn, có thể còn đang bị chèn ép bởi tầng cây bụi và thảm tươi Cây xấu là cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, bị sâu bệnh
e Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao:
Thống kê số lượng cây tái sinh theo 5 cấp chiều cao: h 20 cm; 21 -50 cm;
51 - 100 cm; 101 - 130 cm và h > 130 cm Vẽ biểu đồ biểu diễn số lượng cây tái sinh theo cấp chiều cao
g Phân bố cây tái sinh:
Để nghiên cứu sự phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng, chúng tôi sử dụng công thức của Poisson khi dung lượng mẫu đủ lớn (n ≥ 30) Công thức tính U như sau:
26136,0)
5.0
r
U
(3-10) Trong đó:
- r : là giá trị trung bình khoảng cách của n lần quan sát,
- λ : là mật độ cây tái sinh trên một đơn vị diện tích (cây/m2),
- n : số lần quan sát
Nếu:
U ≤ - 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố cụm
U ≤ 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố ngẫu nhiên
U > 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố cách đều
Trang 21Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Yên Bình là huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái, có tổng diện tích tự nhiên là
76.227,44 ha Trung tâm huyện lỵ cách trung tâm Thành phố Yên Bái 8 km về phía
Đông Nam, cách Thủ đô Hà Nội 175 km về phía Tây Bắc Yên Bình nằm trong tọa
độ địa lý từ 104045' đến 10006' kinh độ Đông và từ 21040' đến 22004' vĩ độ Bắc
Khu vực nghiên cứu là xã Xuân Long ( huyện Yên Bình) có tổng diện tích tự nhiên
là 7.780 ha, trong đó rừng tự nhiên có 5.954 ha (có 4.656 ha rừng phòng hộ đầu
nguồn, chiếm 78% diện tích rừng tự nhiên), rừng trồng có 762 ha (có 114 ha rừng
phòng hộ đầu nguồn, chiếm 15% diện tích rừng trồng)
Địa giới hành chính của xã Xuân Long như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp xã Ngọc Chấn
- Phía Đông giáp xã Tích Cốc
- Phía Tây giáp huyện Lục Yên
3.1.2 Địa hình
Huyện có đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ trung du lên miền núi, thấp dần từ
Tây Bắc xuống Đông Nam, được tạo bởi hai dãy núi:
- Dãy Cao Biền nằm phía tả ngạn sông Chảy (hồ Thác Bà) gồm những đồi núi
có độ cao từ 300 - 600 m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là đường giao
thủy giữa sông Chảy và sông Lô Phía thượng huyện xuất hiện những núi đá vôi có
vách đứng sắc nhọn thuộc các xã Tích Cốc, Mỹ Gia, Xuân Long
- Dãy Con Voi là hệ thống núi cổ nằm phía hữu ngạn sông Chảy, bao gồm
những sườn núi thấp, thoải và dưới tầng đất phủ là nền đá phiến thạch kết tinh, có
độ cao từ 400 - 700 m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là đường giao thủy
giữa sông Chảy và sông Hồng
3.1.3 Khí hậu - Thuỷ văn
- Ánh sáng: Thời gian chiếu sáng nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9; ít nhất từ tháng
11 năm trước đến tháng 4 năm sau Tổng giờ nắng trong năm khoảng 1.593 giờ
- Sương muối: Toàn huyện không có hiện tượng sương muối xảy ra
Nguồn nước ngầm: huyện Yên Bình nằm trong vùng chứa nước đệ tam, đệ tứ, nhưng lưu lượng nhỏ, thuận lợi cho việc đào giếng lấy nước ăn, dùng sinh hoạt Về chất lượng nước nhìn chung chưa bị ô nhiễm, có điều kiện thực hiện các chương trình nước sạch
3.1.4 Đất đai - Thổ nhưỡng
Theo số liệu điều tra, huyện Yên Bình có các loại đất chính sau:
- Nhóm đất đỏ vàng (Feralit) chiếm phần lớn diện tích đất trong huyện (61%), đây là loại đất hơi chua hàm lượng đạm thấp, bao gồm:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đất sét chiếm 18% Loại đất này có tỷ lệ mùn và đạm trung bình, chua
Trang 22+ Đất pha (Fp, Fq) chiếm 13%, có thành phần cơ giới nhẹ, chua, nghèo mùn và các
loại đất Feralit trên đá vôi có tầng đất dày trung bình, tỷ lệ mùn và đạm trung bình
- Nhóm đất dốc tụ phân bố rải rác ở các thung lũng, sông suối, nghèo mùn, đạm
trung bình
- Nhóm đất phù sa phân bố dọc sông Chảy và các con suối lớn, nhóm đất này
có địa hình bằng phẳng, giàu chất dinh dưỡng
Như vậy, nhóm đất đỏ vàng là nhóm đất quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ cao và
thích hợp cho cây rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển
3.1.5 Thảm thực vật cây trồng
Yên Bình có thảm thực vật khá phong phú, nhiều chủng loại Trong huyện có
các thảm thực vật phát triển như: Rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, lúa, màu, v.v
3.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
3.2.1 Dân số và lao động
3.2.1.1 Dân số, dân tộc
Dân số trung bình huyện Yên Bình năm 2005 là 104.923 người, trong đó khu
vực nông thôn là 84.503 người, khu vực thành thị là 20.420 người Tỷ lệ phát triển
dân số năm 2005 là 1,23% Mật độ trung bình toàn huyện là 135 người/km2
, riêng
xã vùng cao Xuân Long mật độ dân số chỉ có khoảng 52 người/km2
Huyện Yên Bình có 7 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 58,2%; dân tộc
Tày chiếm 17,1%; dân tộc Dao chiếm 14,4%; dân tộc Cao Lan chiếm 6,8%; dân tộc
Nùng chiếm 3,0%, còn lại các dân tộc khác chiếm 0,5%
3.2.1.2 Lao động
Theo số liệu thống kê đến năm 2005, toàn huyện có 47.970 người trong độ
tuổi lao động, chiếm 46% dân số: Trong đó số người có khả năng lao động là
47.215 người, chiếm 98,4%; số người không có khả năng lao động là 755 người chỉ
chiếm có 1,6% Số lao động có việc làm là 46.034 người, trong đó lao động nông
thôn 37.289 người; lao động thành thị 9.170 người Lao động sản xuất nông - lâm –
ngư nghiệp có 39.615 người, chiếm 80,5% tổng số lao động; lao động sản xuất công
nghiệp, xây dựng có 2.494 người, chiếm 5,2% và lao động thương mại dịch vụ có
4.028 người, chiếm 8,5% Số lao động cần bố trí việc làm2.833 người, chiếm 5,9%
tổng số lao động Số lao động có trình độ đã được đào tạo là 8.688 người, chiếm
18,4% số người có khả năng lao động; trong đó trình độ trên đại học có 5 người; đại học có 898 người, cao đẳng có 877 người; trung cấp và công nhân kỹ thuật có 4.474 người; đào tạo ngắn hạn có 2.434 người
3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành
3.2.2.1 Nông nghiệp
Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành NN giai đoạn 1996 - 2000 là 4,25%; trong đó ngành trồng trọt 3,25%; ngành chăn nuôi 4,95%; ngành dịch vụ NN 5,50% Giai đoạn 2001 - 2005 tăng trưởng toàn ngành là 5,50%, trong đó trồng trọt 6,50%; chăn nuôi 5,50% và dịch vụ 9,95% tăng gấp 2 lần thời kỳ 1996 - 2000
a Trồng trọt
- Cây lương thực: Vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển trên cả 3 mặt diện tích, năng suất, sản lượng Diện tích canh tác lúa ruộng ổn định 2.000 - 2.200 ha Diện tích ngô tăng nhanh từ 560 ha lên 900 ha, đặc biệt là diện tích cây ngô đông trồng trên ruộng hai vụ lúa từ 200 ha lên 500 ha Trong sản xuất cây lương thực đã tập trung thâm canh tăng năng suất lúa trên đất ruộng và ngô trên đất soi bãi, đồng thời
mở rộng diện tích canh tác bằng cách tăng vụ ba Năng suất được tăng đều hàng năm do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất NN, đưa các giống có năng suất cao vào gieo trồng, cải tiến các khâu chăm sóc v.v Tổng sản lượng lương thực cây
có hạt năm 2000 đạt 21.206 tấn, bình quân lương thực đạt 210 kg/người/năm Đến cuối năm 2004, tổng sản lượng lương thực cây có hạt là 27.000 tấn tăng so với quy hoạch 1.000 tấn Bình quân lương thực/người/năm là 257 kg
- Cây có bột: Cây khoai lang và khoai khác có diện tích ổn định hàng năm từ 800 -
900 ha, được canh tác trên đất bãi soi, đồi nương đối với đồng bào dân tộc thiểu số; sản lượng khoảng 1.500 - 2.000 tấn/năm
- Cây sắn: Có diện tích khoảng 1.500 - 1.700 ha, sản lượng hàng năm từ 19.500 - 22.000 tấn Từ năm 2003, Nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây dựng, giống sắn mới năng
Trang 23suất cao được đưa vào trồng với diện tích tăng nhanh vào năm 2004 là 3.500 ha Đến
năm 2005 diện tích sắn dự kiến là 4.000 ha, trong đó có 3.500 ha sắn cao sản
- Cây thực phẩm: Bao gồm cây rau, cây đậu đỗ các loại được canh tác trên cây vườn
tạp, đất màu ven sông Diện tích tăng dần từ 948 ha năm 2000 lên 1.004 ha vào năm
2004, với sản lượng 8.995 tấn, tăng 857 tấn so với năm 2000, góp phần tăng khả
năng cung cấp cho thị trường
- Cây công nghiệp và cây ăn quả
+ Cây chè:Chè là cây công nghiệp thế mạnh của huyện Năm 2004 tổng diện tích
chè trên địa bàn huyện là 2.037,4 ha, tăng 362,3 ha so với năm 2000, trong đó diện
tích chè kinh doanh là 1.786 ha; kiến thiết cơ bản là 251,4 ha Năng suất chè đạt 62
tạ/ha, đưa sản lượng chè búp tươi từ 4.795 tấn năm 2000 lên 11.075 tấn năm 2004
Năm 2005 diện tích chè kinh doanh ổn định, nhưng tăng diện tích chè giống mới,
bình quân mỗi năm trồng cải tạo 50 ha Đưa năng suất chè búp tươi lên 70 tạ/ha
Sản lượng chè búp tươi đạt 11.440 tấn
+ Cây ăn quả:Diện tích cây ăn quả toàn huyện là 764 ha, sản lượng hàng năm đạt
3.800 tấn Cây ăn quả chủ lực của huyện Yên Bình là cây bưởi ngọt, tập trung ở các
xã Đại Minh, Hán Đà, thị trấn Thác Bà Ngoài ra, các tập đoàn cây ăn quả của
huyện còn có các loại như: Cam, Quýt, Hồng, Xoài, chủ yếu được trồng xen kẽ
trong vườn tạp
b Chăn nuôi
Đàn gia súc, gia cầm vẫn được giữ vững, với tốc độ tăng trưởng bình quân
hàng năm khá cao Năm 2005, đàn trâu có 14.200 con; đàn bò có 10.000 con; đàn
lợn có 51.000 con, đàn gia cầm có 320.000 con Sản lượng thịt trung bình hàng năm
là: thịt trâu hơi 252 tấn, thịt bò hơi 770 tấn, thịt lợn hơi 2.391 tấn, thịt gia cầm 166
tấn Từ việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi đã từng bước cải tạo
được đàn gia súc trên địa bàn Phương thức chăn nuôi đã và đang được thay đổi từ
thả rông, vòng vốn vay chậm đến nay người dân đã biết chăn nuôi gia súc hàng hóa
không còn tình trạng nuôi bò 3 năm, nuôi trâu lâu năm như trước nữa Vì vậy sức
kéo của trâu bò luôn khỏe, sản lượng thịt hơi hàng hóa ngày càng tăng Trong những năm tới phương thức này vẫn được duy trì và phát triển mạnh hơn
3.2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tổng cơ sở sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2000 là
327, tăng 111 cơ sở so với năm 1995 Giá trị sản xuất đạt 5.330 triệu đồng; tăng trung bình 11,15%/năm Đến năm 2005, số cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh là 364 cơ sở Đặc biệt đã hình thành các doanh nghiệp mạnh đầu tư lớn, mở rộng sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, sức cạnh tranh lớn
3.2.2.3 Thương mại, dịch vụ
Năm 1995 số cơ sở kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện là 376
hộ, vốn lao động là 2.880 triệu đồng Đến năm 2000 tăng lên 488 hộ số vốn tăng lên 6.304 triệu đồng Năm 2005 số hộ kinh doanh dịch vụ là 623 hộ, vốn kinh doanh là 9.576 triệu đồng
Tốc độ tăng bình quân hàng năm của ngành Thương mại - dịch vụ giai đoạn
2000 - 2005 là 14,76% Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng dần dịch vụ và giảm dần thương mại Nguyên nhân là khi nhà nước có cơ chế thông thoáng trong sản xuất kinh doanh, ở những nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông là nơi có nhiều tiềm năng về khoáng sản Để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh thì các dịch vụ
ra đời và phát triển mạnh Dịch vụ ngân hàng và bưu chính, vận tải thủy bộ, dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật cung ứng các dịch vụ một cách kịp thời và đầy đủ Khi khu
du lịch Thác Bà được đầu tư, chắc chắn ngành dịch vụ huyện Yên Bình sẽ có thu nhập cao hơn nhiều so với hiện nay
Trang 24- Đường quốc lộ:Có 2 tuyến, tổng chiều dài 70 km Tuyến quốc lộ 70 có chiều
dài 56 km, từ xã Đại Minh qua xã Thịnh Hưng, thị trấn Yên Bình, Đại Đồng, Tân
Hương, Cẩm Ân, Bảo ái, Tân Nguyên đường cấp V, kết cấu mặt bằng nhựa, có 42
cầu các loại với chất lượng tốt Tuyến quốc lộ 37 có chiều dài 14 km Đoạn từ Cát
Lâm - Thác Bà đi qua các xã Đại Minh, Hán Đà và thị trấn Thác Bà
- Đường tỉnh lộ: Đường Đông Hồ dài 64 km chạy qua các xã Vĩnh Kiên, Vũ
Linh, Phúc An, Yên Thành, Xuân Lai, Mỹ Gia, Cẩm Nhân, Ngọc Chấn, Xuân Long,
mặt đường dải nhựa rộng 3,5 m
- Đường do huyện quản lý: Có 3 tuyến, tổng chiều dài 20 km Trong đó:
Tuyến Vĩnh Kiên - Yên Bình - Bạch Hà đường nền đất dài 6 km; tuyến Cẩm Nhân -
Tích Cốc dài 8 km và tuyến Cẩm Nhân - Phúc Ninh dài 6 km
- Đường liên thôn, liên bản: Có tổng chiều dài trên 300 km, có 4 cầu treo ở các
xã Yên Bình, Vĩnh Kiên, Yên Thành, Xuân Long
- Đường thủy: Yên Bình có hồ Thác Bà đã hình thành các tuyến đường giao
thông đường thủy trên hồ: tuyến Hương Lý - Thác Bà và ngược lại dài 15 km; tuyến
Hương Lý - Cẩm Nhân dài 50 km; tuyến Hương Lý - Xuân Long dài 70 km
b Năng lượng
Hệ thống điện lưới quốc gia đến năm 2005 có đủ 25 xã Số hộ dùng điện lưới
quốc gia năm 2000 là 78%, đến năm 2005 tăng lên 85% Từ năm 2000 đến nay
huyện Yên Bình được đầu tư 76km đường dây trung thế, một trạm biến áp
320KVA, 20 trạm biến áp 50KVA với tổng vốn đầu tư 22.678 triệu đồng
c Hệ thống thủy lợi
Toàn huyện có 142 công trình thủy lợi vừa và nhỏ Trong đó có 38 công trình
kiên cố, 35 công trình xây lát, 69 công trình tạm Năng lực tưới theo thiết kế là
1.246 ha nhưng thực tế chỉ tưới tiêu được 909 ha (tương đương 73%) Trong những
năm qua huyện đã làm mới, nâng cấp 12 công trình và làm được 4 km kênh mương
tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp, đưa diện tích được tưới tăng lên 483 ha so
với năm 1995
d Hệ thống thông tin liên lạc
Hiện tại huyện có một tổng đài kỹ thuật số với số máy thuê bao là 1.200 máy
Số xã có máy điện thoại là 16/25 xã, bình quân 5 máy/100 dân; 100% các xã có báo đọc trong ngày Đến năm 2005 sẽ có 100% số xã có máy điện thoại Khu vực huyện
lỵ, thị trấn Thác Bà và các xã vùng phụ cận đã được phủ sóng điện thoại di động
e Phát thanh truyền hình
Năm 2005 huyện Yên Bình có 25/25 xã, thị trấn có trạm truyền thanh ở các cơ
sở đến các thôn, bản Có 3 trạm phát sóng FM tiếp sóng truyền hình
3.2.2.5 Giáo dục đào tạo, Y tế, Văn hóa thể thao
a Giáo dục và đào tạo
Năm 2000 Yên Bình có 55 điểm trường, tăng 4 điểm trường so với năm 1995; trong đó ngành học Mầm non 8 trường; bậc Tiểu học có 21 trường; Trung học cơ sở
11 trường và Trung học phổ thông 3 trường Đến năm 2005 có 83 điểm trường tăng hơn so với năm 2000 là 28 điểm trường Tổng số phòng học năm 2000 là 660, tăng
74 phòng so với năm 1995 Số phòng xây cấp IV trở lên là 338 phòng Số phòng học tạm là 322 phòng Đến năm 2005 có 776 phòng học, tăng 116 phòng so với năm 2000 Trong đó có 660 phòng đã xây kiên cố và 116 phòng xây cấp IV Nhìn chung cơ sở vật chất trường học các cấp đã tương đối đảm bảo, xóa bỏ tình trạng học ba ca như trước đây Những năm qua nhà nước đã đầu tư cơ sở vật chất cho ngành giáo dục thông qua ngân sách tập trung và chương trình 135, trung tâm cụm xã, dự án giảm nghèo đã làm cho trường lớp học khang trang sạch đẹp hơn Trên địa bàn huyện có 03 trường cấp III (ở T.T Yên Bình, T.T Thác Bà và xã Cẩm Nhân)
b Y tế
Hiện tại huyện có 26 cơ sở y tế, gồm 22 trạm y tế và 03 phòng khám đa khoa khu vực, 01 trung tâm y tế huyện Số giường bệnh thuộc trung tâm y tế huyện là 70 giường, ở bệnh viện huyện là 36 giường, ở các khu vực là 34 giường Tỷ lệ 17 giường/vạn dân Hiện nay cơ sở vật chất y tế xuống cấp và thiếu nhiều, cần được nâng cấp bệnh viện huyện, các phòng khám đa khoa, một số trạm y tế xã cần được đầu tư trang thiết bị cho ngành để có điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Trang 25c Văn hóa, thể thao
Văn hóa: Huyện Yên Bình có 01 thư viện với 07/20 đầu sách các loại (trong đó
sách thiếu nhi có 619 cuốn, tủ sách cơ sở có 1.120 cuốn); có 21 điểm bưu điện văn hóa
ở 21 xã, thị trấn Phòng văn hóa thông tin có đội văn hóa thông tin lưu động Có nhiều
cuộc hội diễn văn nghệ quần chúng đã tạo ra phong trào văn hóa văn nghệ phục vụ đời
sống tinh thần cho người dân trong huyện
Thể dục, thể thao:Yên Bình là một trong những huyện có phong trào thể dục
thể thao phát triển Đến năm 2004, số người tham gia tập luyện tăng lên 4.000
người so với năm 2000, số đội thể thao tăng lên 52, sân chơi thể thao tăng 57 sân
Nhìn chung, nhiều sân chơi chưa đảm bảo tiêu chuẩn, nhất là sân bóng đá, bóng
chuyền, chưa có nhà luyện tập là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của
công tác thể dục thể thao huyện
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4.1.1 Hệ thực vật
Từ các kết quả nghiên cứu thu được và tham khảo các tài liệu có liên quan, chúng tôi đã thống kê hệ thực vật tại KVNC có 1223 loài thuộc 730 chi, 183 họ của
4 ngành thực vật bậc cao có mạch Số lượng và sự phân bố các taxon được trình bày trong bảng 4.1
Bảng 4.1 Số lượng và sự phân bố các taxon thực vật tại KVNC
STT Tên ngành
Loài Chi Họ
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
4 Mộc lan (Magnoliophyta) 1151 94,11 692 94,79 157 85,79
Trang 26(Orchidaceae: 54 loài); Họ Đậu (Fabaceae): 40 loài; Họ Cói (Cyperaceae): 37 loài;
Họ Dâu tằm (Moraceae): 29 loài; Họ Cúc (Asteraceae): 29 loài; Họ Hoà thảo
(Poaceae): 28 loài; Họ long não (Lauraceae): 27 loài; Họ Đơn nem (Myrsinaceae):
24 loài; Họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae): 22 loài; Họ Gừng (Zingiberaceae): 22 loài;
Họ Ráy (Araceae): 20 loài Có 39 loài thuộc dạng quý hiếm được ghi trong Sách đỏ
Việt Nam, đó là các loài: Drynaria bonii, D fortunei, Enicosanthellum petelotii,
Goniothalamus takhtajanii, Rauvolfia verticillata, Asarum glabrum, Markhamia
stipulata, Canarium tramdenum, Codonopsis javanica, Dipterocarpus retusus,
Captanopsis tessellata…
Qua phân tích các số liệu ở trên cho thấy, trong diện tích 402 ha hệ thực vật
khu vực đầu nguồn Hồ Thác Bà rất phong phú và đa dạng với nhiều loài cây có giá
trị sử dụng cao như: cây lấy gỗ, cây làm thuốc, cây cho tinh dầu và dầu béo, cây
dùng làm rau ăn, cây làm cảnh, cây cho tanin và làm thuốc nhuộm, cây cho sợi và
làm bột giấy
4.1.2 Thảm thực vật
Từ kết quả điều tra ngoài thực địa cho thấy rừng nguyên sinh trong khu vực
nghiên cứu đã bị khai thác cạn kiệt trong một thời gian dài trước đây Thay thế vào
đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh chiếm diện tích lớn, được phân bố ở
nhiều vị trí khác nhau trong khu vực như: rừng trồng, rừng phục hồi tự nhiên, thảm
cây bụi và thảm cỏ
4.1.2.1 Rừng trồng
Thuộc địa phận vùng đầu nguồn hồ Thác Bà nên rừng trồng chủ yếu trong
khu vực là rừng phòng hộ, trên các vùng khác là rừng kinh doanh được trồng theo
các chương trình khuyến nông, khuyến lâm như chương trình 135, 327 và gần đây
là do các hộ tự đầu tư trồng nhà nước hỗ trợ giống và kỹ thuật theo các chương trình
giao đất giao rừng Kết quả điều tra cho thấy cây trồng chủ yếu là cây nhập nội như:
Bạch đàn (Eucaliptus), Keo tai tượng (Acasia mangium), Keo lá tràm (A
auriculiformis), Thông nhựa (Pinus merkusii)
Rừng thuần loại gồm có rừng Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông nhựa) Rừng hỗn loài có rừng Bạch đàn - Keo tai tượng, Bạch đàn - Keo lá tràm, Thông - Keo lá tràm, Thông - Keo tai tượng
Như vậy, rừng trồng trong vùng chủ yếu là cây nhập nội với phương thức trồng thuần loài hay hỗn giao đơn giản Hơn nữa do mới trồng rừng chưa khép tán nên khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất bị hạn chế Một số khu vực rừng trồng đã khai thác, thậm chí có nơi đã khai thác đến chu kỳ 2 nhưng không được chăm sóc tốt nên chất lượng rừng rất thấp Trên những diện tích này, để phục hồi lại thảm thực vật cần có những nghiên cứu để đề xuất những giải pháp lâm sinh hợp lý nhằm cho phù hợp với điều kiện hiện trạng thực tế trong khu vực nhằm đạt được hiệu quả cao
4.1.2.2 Thảm thực vật tự nhiên
Theo khung phân loại thảm thực vật theo đặc điểm ngoại mạo của UNESCO (1973) [75], tại khu vực đầu nguồn Hồ Thác Bà có các kiểu thảm với những đặc điểm chính như sau:
I.A.1.1 Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp + Cây gỗ lá rộng: Là một dạng thoái hoá do khai thác kiệt Hiện nay được bảo vệ nghiêm ngặt ít bị tác động, có cấu trúc đặc trưng của rừng nhiệt đới mưa mùa Thành phần loài thực vật rất đa dạng, bao gồm cả các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh, cây định vị và cây rừng nguyên sinh Có nhiều loài cây gỗ lớn,
chiều cao từ 8-15m, đường kính dao động từ 10-35cm, như: Trám trắng (Canarium
album), Trám chim (Canarium tonkinense), Máu chó (Knema globularia), Chò nâu
(Dipterocarpus tonkinensis), Vàng anh (Saraca dives)…cá biệt có một vài cá thể Gội (Agalia sp.) thuộc họ Xoan (Meliaceae) cao tới 25m và đường kính 50cm, Nang trứng (Hydrocarpus sp.) cao 20m, đường kính 40cm Các cây gỗ tạo ra độ tàn
che lớn 90% Tầng cây bụi chủ yếu là cây tái sinh tự nhiên còn non, phân bố rải rác Thảm tươi có thành phần loài nghèo nàn gồm các loài thuộc họ Cỏ (Poaceae),
Dương xỉ (Polypodiaceae) Hệ thống dây leo ít
+ Rừng nứa xen cây gỗ: Là trạng thái do kết quả của việc khai thác gỗ củi quá mức
hình thành nên, phân bố chủ yếu trên độ cao 200-500m Trong kiểu này, cây gỗ có