Bắc Kạn, tháng 9 năm 2014 Tác giả luận văn Lê Văn Thăng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ VĂN THĂNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH
VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY
ĐIỆN LỰC BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ VĂN THĂNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY
ĐIỆN LỰC BẮC KẠN Chuyên ngành: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TỐ QUYÊN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Điện
lực Bắc Kạn” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Bắc Kạn, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Văn Thăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Điện lực Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày
tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý
trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Tố Quyên, các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà
doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc
và cán bộ công nhân viên Công ty Điện lực Bắc Kạn, Ban lãnh đạo Sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Bắc Kạn, cán bộ viên chức các đơn vị liên quan cùng các bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó./
Bắc Kạn, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Văn Thăng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Kết cấu của đề tài luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN CẤU THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan về Văn hóa doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp 5
1.1.2 Vị trí, vai trò và sự cần thiết phải xây dựng VHDN 9
1.2 Một số yếu tố cơ bản cấu thành VHDN 21
1.2.1 Những biểu hiện trực quan hay nhóm các yếu tố hữu hình 21
1.2.2 Nhóm các yếu tố vô hình 25
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển Văn hóa doanh nghiệp 27
1.4 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ văn hóa kinh doanh ở các công ty Nhật Bản 32
1.4.1 Văn hóa doanh nghiệp ở Nhật Bản 32
1.4.2 Bài học rút ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam 35
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu 36
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 36
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 37
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 37
2.3 Các tiêu chí đánh giá văn hóa doanh nghiệp 37
Chương 3: THỰC TRẠNG VHDN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN CẤU THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC BẮC KẠN 41
3.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty Điện lực Bắc Kạn (PCBK) 41
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty 41
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty - Đặc điểm nguồn nhân lực 43
3.1.3 Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm chủ yếu của Công ty 45
3.1.4 Kết quả kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2010 - 2013 46
3.2 Đánh giá hiện trạng VHDN và một số yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Điện lực Bắc Kạn (PCBK) 49
3.2.1 Các giá trị văn hoá doanh nghiệp và mô hình VHDN của Công ty Điện lực Bắc Kạn đang theo đuổi 49
3.2.2 Một số yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa doanh nghiệp của Công ty Điện lực Bắc Kạn và kết quả 57
3.3 Đánh giá chung về sự hình thành văn hóa doanh nghiệp từ các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp ở Công ty Điện lực Bắc Kạn 68
3.3.1 Đánh giá chung về VHDN 68
3.3.2 Những thành công mà VHDN mang lại 71
3.3.3 Những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục 71
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH
NGHIỆP TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC BẮC KẠN 73
4.1 Phương hướng và mục tiêu định hướng VHDN tại Công ty Điện lực
Bắc Kạn 73
4.1.1 Phương hướng xây dựng và phát triển VHDN tại Công ty Điện lực
Bắc Kạn trong thời gian tới 73
4.1.2 Các hoạt động trong định hướng VHDN của Công ty Điện lực
4.2.2 Nhóm giải pháp: “Xây dưng các hệ thống chuẩn mực cho công ty” 79
4.2.3 Nhóm giải pháp: “Xây dựng các yếu tố văn hoá định hướng thị trường” 79
4.2.4 Nhóm giải pháp: “ Phổ biến giá trị văn hoá cho các đối tượng hữu
quan - lãnh đạo, người lao động, khách hàng, cộng đồng.” 82
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu về dân tộc trong Công ty Điện lực Bắc Kạn 44
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn trong Công ty Điện lực Bắc Kạn 44
Bảng 3.3 Lĩnh vực kinh doanh của Công ty 45
Bảng 3.4 Bảng kết quả kinh doanh của Công ty Điện lực Bắc Kạntrong
giai đoạn 2010-2013 46
Bảng 3.5 Thành phần điện thương phẩm của Công ty Điện lực Bắc Kạn 47
Bảng 3.6 Tình hình cung cấp điện của Công ty Điện lực Bắc Kạntrong
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong điều kiện hiện nay, nhiều nhà kinh tế đã khẳng định, sự thành
công của các doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu vốn và
sử dụng công nghệ gì mà nó còn được quyết định bởi việc tổ chức yếu tố con
người như thế nào, đặc biệt là nguyên lý: con người có thể đi lên từ tay không
về vốn nhưng không bao giờ đi lên từ tay không về văn hóa Vì thế, để nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngoài những giải pháp truyền
thống như đổi mới công nghệ, tăng cường vốn, tập trung đào tạo nguồn nhân
lực…thì gần đây, giải pháp xây dựng văn hoá doanh nghiệp (VHDN) đã được
nhiều nhà kinh tế đề cập đến VHDN trong nhiều trường hợp đã trở thành
nhân tố quan trọng nhất góp phần vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp Việc hình thành VHDN là một quá trình lâu dài đòi hỏi nhiều
thời gian và VHDN được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến
một số yếu tố cơ bản như : Người lãnh đạo; Các yếu tố hữu hình cấu thành bề
nổi của VHDN (phong trào, nghi lễ, nghi thức, kiến trúc trụ sở văn
phòng,biển hiệu trang phục của cán bộ nhân viên, ); Văn hóa dân tộc; Cơ
chế, chính sách, qui định về pháp luật của nhà nước và những qui định, chính
sách của doanh nghiệp
Công ty Điện lực Bắc Kạn thuộc Tổng công ty Điện lực miền Bắc đã
và đang từng bước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu
với những “luật chơi” nghiệt ngã của thương trường trong nước và quốc tế, đó
là cạnh tranh và đào thải Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam, trong
đó có Công ty điện lực Bắc Kạn, phải nhanh chóng nâng cao nội lực, đoàn
kết, đồng lòng, xây dựng cộng đồng doanh nghiệp mạnh mẽ, với hành trang
“văn hóa kinh doanh Việt Nam” vững vàng, chủ động và sẵn sàng trước
những thách thức mới của hội nhập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bên cạnh đó, với chủ trương của Chính phủ Việt nam trong việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh, từng bước xoá bỏ độc quyền của ngành điện
và xã hội hoá quá trình sản xuất và kinh doanh điện năng thì Công ty phải đối mặt với không ít những thách thức từ nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau Do
đó, để tồn tại và không ngừng phát triển, Công ty Điện lực Bắc Kạn đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp để khẳng định uy tín, thương hiệu của Công ty nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Bên cạnh việc quan tâm đến đổi mới công nghệ, phương thức sản xuất thì việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là phương án đã được Công ty tính đến Mặc dù vậy, vẫn còn những khó khăn nhất định trong quá trình xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Công
ty Điện lực Bắc Kạn Vì thế muốn xây dựng được văn hóa doanh nghiệp thì việc nghiên cứu các yếu tố cấu thành VHDN hết sức có ý nghĩa
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như vậy, tôi chọn chủ đề “Nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Điện lực Bắc Kạn”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Đồng thời, đề tài cũng mong muốn giải quyết những khó khăn trong hiện thực xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
mà Công ty Điện lực Bắc Kạn đang phải đối mặt
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu những yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa doanh nghiệp nói chung và Công ty Điện lực Bắc Kạn nói riêng với mục đích xây dựng Văn hóa doanh nghiệp ở Công ty Điện lực Bắc Kạn
Trang 7+ Đánh giá thực trạng VHDN và những yếu tố cấu thành VHDN của
Công ty Điện lực Bắc Kạn
+ Đề xuất một số giải pháp xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Công ty
Điện lực Bắc Kạn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố cơ bản cấu thành văn hoá doanh
nghiệp tại Công ty Điện lực Bắc Kạn;
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn Công ty Điện lực Bắc Kạn
+ Về thời gian: Số liệu liên quan được sử dụng để nghiên cứu trong
luận văn là khoảng 4 năm (2010-2013) trở lại đây tại địa bàn của Công ty
Điện lực Bắc Kạn
+ Về nội dung nghiên cứu: Tập trung vào một số yếu tố cơ bản cấu
thành VHDN của Công ty Điện lực Bắc Kạn
4 Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài luận văn có đóng góp một số điểm mới sau:
- Nghiên cứu có tính hệ thống đối với vấn đề VHDN, những yếu tố cơ
bản cấu thành VHDN
- Qua việc phân tích thực trạng về VHDN và một số yếu tố cấu thành
VHDN của Công ty Điện lực Bắc Kạn, đề tài sẽ đưa ra một số nhận định
riêng xung quanh vấn đề liên quan đến những yếu tố cấu thành VHDN của
Công ty Điện lực Bắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp xây dựng VHDN nói chung và của Công ty
Điện lực Bắc Kạn nói riêng trong giai đoạn tới trên cơ sở nghiên cứu những
yếu tố cấu thành VHDN
- Kết quả của đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn vì vấn
đề VHDN trong giai đoạn hiện nay thực sự còn chưa được coi trọng và việc
nhìn nhận các yếu tố cấu thành VHDN còn khá mờ nhạt Trong khi đó, với bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay thì vai trò của VHDN lại càng quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong kinh doanh của các tổ chức, công ty
5 Kết cấu của đề tài luận văn
Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 4 chương chính, bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về VHDN và một số yếu tố cơ bản cấu thành VHDN
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu Chương 3 Thực trạng VHDN và một số yếu tố cơ bản cấu thành văn hóa doanh nghiệp của Công ty Điện lực Bắc Kạn
Chương 4 Một số giải pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Công
ty Điện lực Bắc Kạn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN
CẤU THÀNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về Văn hóa doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là một vấn đề lớn, quyết định sự tồn tại phát
triển của doanh nghiệp, nó không chỉ đơn thuần là hình thức bên ngoài, hành
vi ứng xử thông thường mà phải có cách hiểu đúng đắn tổng thể về văn hoá
doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là một khái niệm còn tương đối mới mẻ
ở nước ta và nhìn chung chưa có một cách hiểu thống nhất Trên thế giới có
khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa doanh nghiệp được đưa ra Mỗi
nền văn hóa khác nhau có các định nghĩa khác nhau và mỗi doanh nghiệp lại
có một cách nhìn khác nhau về VHDN
Để hiểu thế nào là văn hóa doanh nghiệp, trước hết chúng ta nên hiểu
về khái niệm văn hóa nói chung Có nhiều định nghĩa về văn hóa, song có một
định nghĩa được công nhận rộng rãi đó là định nghĩa của tổng giám đốc
UNESCO Federico Mayor Theo ông, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng
đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng
bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và
lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình'
Như vậy văn hóa có nghĩa là truyền thống lâu đời
Đó là khái niệm về văn hóa nói chung, còn văn hóa doanh nghiệp
thì sao?
- Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa
và nhỏ, “Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng,
huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo
thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.Đây là một định nghĩa được nhiều
nhà khoa học tán đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với định nghĩa này, VHDN được quan niệm là nền móng sâu xa của doanh nghiệp Nền móng sâu xa đó có vai trò nâng đỡ và định hướng hành vi kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, định nghĩa này mới chỉ nhìn nhận VHDN dưới góc độ những giá trị tinh thần, bao gồm: những quan điểm, nghi thức và các chuẩn mực trong hành động mà doanh nghiệp đề ra
- Dưới giác độ quản lý, các nhà kinh tế Hoa Kỳ cho rằng, VHDN có thể
hiểu là “tập hợp tất cả các giá trị, chuẩn mực, hành vi được các thành viên trong doanh nghiệp cùng làm theo và nó đại diện cho cho các thành viên trong doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp đó khác với các doanh nghiệp khác Hay nói một cách cụ thể hơn thì VHDN là các quy tắc, tiêu chuẩn, nội quy quy định về hành vi của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp đối xử với nhau trong công việc cũng như những hành vi đối xử với khách hàng và những người cung ứng bên ngoài doanh nghiệp”
Cũng giống như định nghĩa đã nêu trên của Georges de Saite Marie, định nghĩa này cũng chủ yếu đề cập đến những giá trị vô hình, bao gồm các quy định, các chuẩn mực trong cư xử và giao tiếp Tuy nhiên, một bước tiến mới trong định nghĩa của các nhà kinh tế Hoa Kỳ là đã đề cập đến việc VHDN định hướng trong mối quan hệ giữa người lao động trong doanh nghiệp với nhau, các giá trị văn hóa được người lao động trân trọng và tự nguyện làm theo Hơn nữa, định nghĩa còn đề cập đến vai trò định hướng của khách hàng trong hành động của doanh nghiệp
- Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế ILO: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”
Định nghĩa trên có sự khác biệt là đề cập đến tính kết hợp và thống nhất giữa các giá trị vô hình của doanh nghiệp để trở thành những chuẩn mực trong cách giao tiếp, ứng xử của doanh nghiệp ra bên ngoài
Trang 9Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi là định
nghĩa của chuyên gia nghiên cứu xã hội học người Mỹ, ông Edgar
H.Schein.Theo Edgar H.Schein (2004),“Văn hóa công ty là tổng hợp những
quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình
giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”
Ở đây, văn hóa doanh nghiệp là tập hợp các giá trị, chuẩn mực và niềm tin
căn bản được tích lũy trong quá trình doanh nghiệp tương tác với môi trường
bên ngoài và hòa nhập trong môi trường bên trong, giá trị và chuẩn mực này
đã được xác lập qua thời gian, được truyền đạt cho những thành viên mới như
một cách thức đúng để tiếp cận, tư duy và định hướng giải quyết những vấn
đề họ gặp phải Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị, chuẩn mực được
gây dựng lên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp,
trở thành niềm tin, chuẩn mực động lực hành động, ăn sâu vào hoạt động của
doanh nghiệp và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành
viên của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức
Văn hóa doanh nghiệp chính là tính cách của doanh nghiệp, được thể hiện qua
cách suy nghĩ và hành động của các thành viên trong tổ chức
Định nghĩa trên dù được chấp nhận rộng rãi nhưng lại chỉ chú trọng đến
những vấn đề giao tiếp ứng xử giữa nội bộ với nội bộ, và giữa nội bộ doanh
nghiệp với bên ngoài
Bộ môn Văn hóa kinh doanh của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà
Nội cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ
những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu
hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh
nghiệp đó”
Định nghĩa trên đây mang tính chất tổng quát hơn và có chú trọng đến
vấn đề tạo ra những giá trị riêng gọi là bản sắc văn hóa Tuy nhiên, các giá trị
vô hình vẫn được đề cao và bộc lộ ra nhiều hơn cả
Như vậy, mỗi khái niệm được nêu ra trên đây đều thể hiện được quan điểm cũng như góc nhìn của mình về văn hóa của một doanh nghiệp được thể hiện trong kinh doanh Chúng phản ánh đầy đủ những gì mà họ cảm nhận được về doanh nghiệp dưới lăng kính của văn hóa Trong đó, giá trị văn hóa tinh thần có tính chất vô hình được đề cập đến nhiều hơn tất cả
Theo UNESCO, “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng)
đã diễn ra trong quá khứ, cũng như hiện tại, qua hàng nhiều thế kỷ nó cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” Như vậy, nếu xét trong hoạt động doanh nghiệp thì “văn hoá doanh nhân” là thuộc dạng văn hoá cá nhân, còn “Văn hoá doanh nghiệp” là thuộc dạng văn hoá cộng đồng Doanh nghiệp tồn tại là để sản xuất của cải vật chất và làm dịch vụ Mọi hoạt động sản xuất đều gắn liền với một dây chuyền công nghệ nhất định
Để vận hành được các khâu của dây chuyền này, trong doanh nghiệp phải có
hệ thống tổ chức, quản lý thật chặt chẽ từ khâu đầu đến khâu cuối Điều này
có nghĩa là trong các hoạt động của doanh nghiệp, mọi người đều phải tuân theo những giá trị - chuẩn mực cụ thể nào đó và thực hiện theo những
“khuôn mẫu văn hoá” nhất định
Như vậy, có nhiều định nghĩa xung quanh khái niệm về VHDN Mỗi nền văn hoá khác nhau đều có thể có những định nghĩa khác nhau Mỗi một doanh nghiệp lại có một cách nhìn khác nhau về văn hoá doanh nghiệp Tuy nhiên,
mọi định nghĩa đều có nét chung Từ những định nghĩa trên, văn hoá doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Văn hoá đã và đang trở thành một ID (chỉ số nhận dạng) của mỗi công
ty, giúp chúng ta phân biệt công ty này với công ty khác Văn hoá thể hiện
trong phong cách làm việc, tác phong của nhân viên cả trong công việc cũng
như trong cuộc sống Không ít công ty còn xây dựng văn hoá của riêng mình
trên cơ sở kế thừa văn hoá truyền thống dân tộc
1.1.2 Vị trí, vai trò và sự cần thiết phải xây dựng VHDN
1.1.2.1 Vị trí vai trò của VHDN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện
nay, thì việc xây dựng (VHDN) có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi,
chính điều này sẽ là nền tảng góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của
mỗi doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa
thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được, đặc biệt trong giai
đoạn hội nhập hiện nay
a Vai trò của văn hoá doanh nghiệp trong hoạt động quản lý
VHDN là bộ luật bất thành văn điều tiết mọi hoạt động của tất cả các
thành viên trong doanh nghiệp ở mọi lúc, mọi nơi tạo nên bản sắc của doanh
nghiệp Nó ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nói chung và do đó ảnh hưởng
đến tất cả các hoạt động thuộc chức năng quản lý như: chiến lược quản
lý,quản lý nhân lực, quản lý chất lượng, quản lý sản xuất, quản lý tài chính,
marketing,…
Có thể thấy, quản trị là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm
đảm bảo hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực thực hiện của người khác
Hay nói cách khác, quản trị chính là việc làm thế nào để sai khiến được những
người dưới quyền mình thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất để đạt
được mục tiêu chung Mà muốn điều hành (sai khiến) được nhân viên thì nhà
quản trị nhất thiết phải nắm vững hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin
chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được họ đồng thuận, ảnh hưởng
đến cách thức hành động của họ (đó chính là VHDN) Vậy, VHDN chính là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
công cụ, phương tiện mà qua đó nhà quản trị thực hiện công việc quản lý của mình Song, VHDN cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quyết định của người quản lý cũng như định hình phong cách lãnh đạo của họ Với những công ty có đặc trưng văn hoá không chú trọng đến việc xây dựng niềm tin vào người lao động, người quản lý thường sử dụng các biện pháp tập quyền, độc đoán, thay cho các biện pháp phân quyền và dân chủ Khi đã có được VHDN thì sức ép về quản lý của ban lãnh đạo sẽ được giảm đi nhờ sự chia sẻ của cấp dưới Các nhân viên sẽ được quyền tự biết điều hành và cần phải làm gì trong những tình huống khó khăn Trong một môi trường tổ chức mà mọi người đều tham gia chia sẻ thực sự thì vai trò của các giám đốc trong quản lý sẽ giảm nhẹ đi rất nhiều Đó là phương diện quan trọng của quản lý theo văn hoá và quản lý bằng văn hoá
VHDN ảnh hưởng tới hoạt động quản trị nói chung và do đó ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động thuộc chức năng quản trị: quản lý chiến lược, quản trị nhân lực, quản trị chất lượng, quản trị sản xuất, quản trị tài chính, Marketing
Rõ ràng rằng, mỗi tổ chức đều phải xây dựng những kế hoạch chiến lược để xây dựng lộ trình và những chương trình hành động để tiến tới tương lai và hoàn thành sứ mệnh (mục tiêu tổng quát) của tổ chức trong môi trường kinh doanh đầy biến động như ngày nay Đó chính là công việc của quản trị chiến lược mà sản phẩm của nó chính là chiến lược kinh doanh của DN Thực vậy, chiến lược kinh doanh giúp công ty thích nghi và nắm bắt các cơ hội thị trường, chọn thị trường mục tiêu trong phạm vi khả năng và nguồn lực hiện hữu lẫn tiềm năng của mình trong bối cảnh thường xuyên biến động của các yếu tố ngoại lai Một tổ chức có nền văn hoá mạnh sẽ tăng thêm sự quyết tâm của các thành viên phấn đấu vì các giá trị và chiến lược chung của DN Trái lại, một nền văn hoá” yếu” dẫn tới tình trạng mơ hồ, quyết tâm và nhiệt tình của nhân viên giảm sút, mâu thuẫn, hỗn độn, mất phương hướng Hơn nữa, để soạn thảo chiến lược (chuỗi quyết định nhằm định hướng phát triển và tạo ra
Trang 11sự thay đổi về chất bên trong DN) thì cần phải thu thập thông tin Cách thức
thu thập thông tin về môi trường hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến việc
định hướng chiến lược Khi tiến hành thu thập thông tin và phân tích môi
trường kinh doanh, những người khảo sát và phân tích đều dựa trên những giả
thiết hay mô hình, cách thức sàng lọc nhất định làm cho tư liệu thu thập mất
đi một phần tính hiện thực, khách quan và tính toàn diện Những tư liệu thu
thập được lại được diễn đạt theo những cách thức, ngôn ngữ thịnh hành trong
tổ chức, chúng đã chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hoá của tổ chức Có thể
khẳng định, VHDN luôn được thể hiện trong chiến lược kinh doanh, và chiến
lược kinh doanh cũng chính là bản kế hoạch lớn, “chương trình hành động
tổng quát “ để triển khai VHDN VHDN chính là công cụ thống nhất mọi
người về nhận thức, ý thức và cách thức hành động trong quá trình triển khai
các chương trình hành động Thực tế cho thấy, VHDN là một nhân tố đóng
góp (hoặc cản trở) quan trọng trong việc thực thi chiến lược thành công
Một chiến lược phù hợp với văn hoá tạo động lực cho mọi người trong
công ty thực hiện công việc của mình trong bối cảnh tất cả đều hỗ trợ cho
chiến lược, làm tăng thêm đáng kể sức mạnh và hiệu quả của quá trình thực
thi chiến lược Môi trường văn hoá mạnh giúp thúc đẩy tốt các hoạt động sản
xuất- kinh doanh dài hạn khi nó tương thích với chiến lược và sẽ làm tổn hại
không nhỏ tới thành tựu của công ty khi nó ít phù hợp Khi văn hoá công ty
không ăn khớp những gì cần thiết cho sự thành công của chiến lược thì văn
hoá phải được thay đổi một cách nhanh chóng nhất Văn hoá được xác lập
càng vững chắc thì càng khó khăn trong việc thực thi chiến lược mới hay
những chiến lược khác nhau Sự xung đột lớn và kéo dài giữa chiến lược - văn
hoá sẽ làm yếu đi và thậm chí có thể làm bại mọi nỗ lực trong việc thực hiện
chiến lược
Một liên kết chặt chẽ chiến lược kinh doanh - văn hoá là đòn bẩy mạnh
cho việc tạo ra các ứng xử nhất quán và giúp nhân viên làm việc trong cách
thức trợ lực ở tầm chiến lược tốt hơn Khi ấy, DN sẽ tự tạo ra hệ thống những nguyên tắc không chính thống và áp lực để tiến hành công việc nội bộ và để mỗi người biết cách thực hiện nhiệm vụ của mình Hành vi được môi trường văn hoá công ty chấp nhận sẽ phát triển mạnh, trong khi đó, những hành vi không được chấp nhận sẽ bị loại bỏ và chịu phạt Ngoài ra, mối liên kết này sẽ nuôi dưỡng và tạo động lực cho mọi người làm việc hết khả năng của minh:
nó cung cấp cơ cấu, tiêu chuẩn và hệ thống giá trị mà nó hoạt động trong đó;
và nó khuyếch trương hình ảnh công ty một cách mạnh mẽ giữa các nhân viên của công ty Tất cả những điều này làm cho nhân viên cảm nhận tốt hơn và xác thực hơn về công việc và môi trường làm việc của họ, kích thích họ làm việc ngày càng gần với khả năng cao nhất của họ
Quản trị nhân lực là toàn bộ những hoạt động của tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng Chính vì vậy, quản trị nhân lực cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của VHDN, chính bầu không khí tâm lý xã hội trong DN, những lối sống, nhu cầu cách nhìn nhận về giá trị con người trong DN có ảnh hưởng đến cách tư duy
và các chính sách quản trị nhân lực của các tổ chức Hơn nữa, thực hiện công tác quản trị nhân lực cũng là nhằm khai thác các tiềm năng về thể lực và quan trọng hơn về trí lực của con người sao cho phù hợp với yêu cầu công việc của
tổ chức đó cũng chính là công cụ xây dựng VHDN, những hoạt động cụ thể của quản trị nhân lực: tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực trong tổ chức cũng chính là hình thức biểu hiện của VHDN đó Khi trong DN đã hình thành một văn hoá mạnh, các nhân viên sẽ cống hiến hết mình vì mục tiêu của DN, VHDN sẽ là cứu cánh
để lái người lao động theo hướng làm việc mà không chỉ nghĩ đến tiền thưởng
và nhà quản trị có thể sẽ không cần phải sử dụng nhiều các biện pháp khuyến khích về mặt tiền bạc
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Quản trị sản xuất là quản lý quá trình hoặc hệ thống tạo ra hàng hoá và
dịch vụ VHDN cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến lĩnh vực này, nó đóng vai trò
như một chất xúc tác gắn kết các nhân viên, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ
trong lao động, giúp nhà quản trị sản xuất đạt được mục tiêu của mình(giảm
chi phí đến mức thấp nhất có thể để đạt lợi nhuận cao nhất, rút ngắn thời gian
sản xuất, tổ chức xây dựng hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ có độ linh
hoạt cao thích ứng với sự thay đổi nâng cao khả năng cạnh tranh: chất lượng,
mẫu mã, giá cả…)
Văn hoá chất lượng cũng là một bộ phận của VHDN, Quản trị chất
lượng thực chất là quá trình xây dựng văn hoá chất lượng trong DN Vì vậy,
để hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhà quản trị chất lượng không thể không
chú ý tới VHDN mình
Đối với lĩnh vực Quản trị tài chính, uy tín của DN đối với nhà nước,
các tổ chức tín dụng, đối với cổ đông, tính minh bạch, trung thực của các
thông tin về thực trạng tài chính của DN, cũng phản ánh được tầm cao của
VHDN đó Một doanh nghiệp có bản sắc văn hóa độc đáo là một DN tạo được
niềm tin nơi cổ đông, nhà đầu tư, khi ấy các công việc thuộc chức năng quản
trị tài chính (huy động vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sử dụng
vốn, tăng giá trị thị trường của DN…) cũng được giảm nhẹ áp lực
Ngoài ra, VHDN còn quyết định mẫu mã sản phẩm, ảnh hưởng tới
phân phối sản phẩm, chi phối các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh,
ảnh hưởng đến giá cả (vì giá tiền mà khách hàng trả cho một sản phẩm phụ
thuộc vào cả giá trị được nhận thức lẫn giá trị thật của nó) Như vậy, VHDN
còn có ảnh hưởng quyết định đến lĩnh vực Marketing của DN
b Vai trò của VHDN đối với hiệu quả hoạt động của DN
VHDN có tác động toàn diện lên hoạt động của DN như:
Tạo ra nét đặc trưng riêng cho DN đó, để nhận biết sự khác biệt giữa
DN này với DN khác, giúp DN xây dựng tên tuổi của mình Sự khác biệt đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được thể hiện ra ở những tài sản vô hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí của DN như một gia đình nhỏ, đẩy nhanh tiến độ trong quá trình thảo luận và ra các quyết định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định và chính sách của DN, tinh thần đồng đội trong mọi công việc của DN
Truyền tải ý thức, giá trị của DN tới các thành viên trong DN đó Văn hoá tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của DN, nó lớn hơn lợi ích của từng cá nhân trong DN đó Giúp giải quyết những mâu thuẫn thường nhật trong quá trình hoạt động của DN
Văn hoá tạo nên sự ổn định của DN, vì vậy mà có thể nói rằng văn hoá doanh nghiệp như một chất kết dính các thành viên trong DN, để giúp quản lý DN bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng các thành viên nên nói và làm gì
Qua đó, VHDN thực hiện các vai trò của mình đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, cụ thể:
Văn hoá doanh nghiệp góp phần làm giảm mâu thuẫn, xây dựng khối đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp Ở đây, văn hoá doanh nghiệp
được miêu tả như “ chất keo” hay “ xi măng” để kết nối các thành viên của
DN với nhau Việc tạo ra một văn hoá chung sẽ tạo ra sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn và lợi ích chung cho hành động của các thành viên Điều này rất có ý nghĩa đối với các DN có mâu thuẫn và sự thiếu thống nhất về nội bộ Hơn nữa, để tồn tại và đáp ứng được sự thay đổi của môi trường, những vấn đề quan trọng mà hầu hết các DN đều phải đối mặt đó là tạo sự thống nhất cao trong việc thực hiện chức năng, chiến lược, mục tiêu đặt ra của DN
Phối hợp và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp: nhìn một cách
rộng hơn, văn hoá thúc đẩy sự thống nhất trong nhận thức, cũng chính là tạo thuận lợi trong phối hợp và kiểm soát Văn hoá biểu hiện trong truyền thống
Trang 13của DN, tạo ra khuôn mẫu ứng xử của DN đó, được các thành viên chấp
nhận và tuân thủ, thể hiện sự hoà đồng bên trong DN nói chung, cũng như
việc ra quyết định trong những trường hợp cụ thể Đặc biệt là trong việc ra
quyết định gặp phải những thực tế phức tạp, do sự khác nhau về nhận thức,
về văn hoá địa phương của các thành viên, thì VHDN sẽ có tác dụng để
phạm vi hoá sự lựa chọn Văn hoá không chỉ xem như một yếu tố thuận lợi
cho phối hợp, mà trong hình thái giá trị, niềm tin, cách ứng xử, đặc biệt là
các nhận thức chung Văn hoá còn tạo ra sức mạnh để kiểm soát DN
Những chính kiến văn hoá đã hạn chế một cách có hiệu quả hành vi của các
thành viên trong DN, họ chỉ được tự do thể hiện chính kiến cá nhân của
mình trong khuôn khổ chung của DN, điều này trong nhiều trường hợp còn
mạnh hơn cả những hệ thống nguyên tắc chính thống của DN Nhiều DN đã
cố gắng tập hợp văn hoá của họ cho lợi thế cạnh tranh, đây chính là một
minh chứng về sức cạnh tranh văn hoá để tạo ra những ứng xử mong muốn,
và đảm bảo thực hiện được nguyên tắc
Giảm rủi ro trong công việc hàng ngày(tránh mâu thuẫn về quyền
lợi,kiểm soát các hoạt động trong DN, tối đa hoá các hoạt động có hiệu
quả…) Ở cấp độ cá nhân, một trong những chức năng của văn hoá là truyền
tải những “ nhận thức chung” qua quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên
mới Điều này được thực hiện thông qua ý tưởng của văn hoá , mà các thành
viên mới phải học để hiểu và thực hiện trong công việc, để đảm bảo những
nhận thức chung về điều gì là quan trọng đối với DN, điều đó được thực hiện
và đối xử như thế nào trong DN Việc thực hiện này sẽ tạo cơ sở suy nghĩ cho
họ để giảm sự lo âu buồn phiền, bình thường hoá mọi việc xung quanh, để có
những lựa chọn dễ dàng, và những hành động có suy nghĩ, hợp lý hơn
Tạo được sự khích lệ, động lực làm việc cho mọi thành viên trong
doanh nghiệp, Văn hoá DN có một vị trí quan trọng thúc đẩy động cơ làm
việc cho các thành viên của DN: yếu tố quyết định đến hiệu suất và hiệu quả
hoạt động của DN Hầu hết các DN đều cố gắng tạo động cơ làm việc cho nhân viên của họ thông qua cơ chế thưởng phạt Mặc dù đây là những yếu tố
rõ ràng có tác dụng, song lý thuyết về động cơ làm việc cho rằng, mong muốn làm việc của nhân viên còn chịu tác động của các động cơ khác như ý nghĩa
và sự thích thú đối với công việc, mục tiêu của họ với mục đích của DN, họ cảm thấy giá trị của công việc và được bảo đảm, an toàn trong công việc Văn hoá DN rõ ràng là có một vị trí rất lớn ở đây Một hình thái văn hoá phù hợp
và thống nhất có tác động tạo ra sự trung thành, thúc đẩy niềm tin và giá trị chân chính, khuyến khích mọi thành viên mang hết nhiệt huyết để phục vụ
DN VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận
và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên Kinh nghiệm của các DN Mỹ và Nhật Bản đã đạt được thành công đáng kinh ngạc trong lĩnh vực kinh doanh, đã đưa ra bài học kinh nghiệm giống nhau
Đó là họ đã tạo ra một VHDN nổi trội và mạnh mẽ VHDN mạnh là nhân tố
cơ bản để thúc đẩu DN đạt được hiệu quả công việc cao Hai nhà nghiên cứu VHDN Deal và Kenerdy (1982) đã kết luận rằng: ảnh hưởng của VHDN đối với năng suất và hiệu quả lao động của các thành viên trong DN thật là đáng kinh ngạc Đó là do kết quả của sự xác định mục tiêu chung để cùng nhau theo đuổi, tạo ra động cơ làm việc cao Trong những DN đó, mọi người đều
có tinh thần làm việc, và sự phối hợp công việc cao, thông tin được truyền đạt nhanh và hiệu quả, họ sẽ không phí thời gian vào những mâu thuẫn riêng vì đặt mục tiêu và giá trị của DN lên trên hết
Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh Các
nhà nghiên cứu cho rằng, một VHDN mạnh sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh cho
DN Bởi vì văn hoá DN mạnh sẽ tạo được sự thống nhất, giảm thiểu sự rủi ro, tăng cường phối hợp và giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành viên, tăng hiệu suất và hiệu quả của DN, từ đó tăng được sức cạnh tranh và
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khả năng thành công của DN trên thị trường Phần lớn các lý thuyết văn hoá
DN cho rằng, đây chỉ là một phần bức tranh Điểm cần nhấn mạnh ở đây là
chúng ta luôn nhìn mối quan hệ giữa VHDN và hoạt động của DN theo quan
điểm tích cực Hay nói cách khác, văn hoá yếu cũng có thể tạo ra hoạt động
tốt, và văn hoá mạnh chưa chắc đã tạo ra được hoạt động tốt
Nhìn chung, VHDN có tác dụng tăng cường uy tín cho DN, hình thành
trong quá trình thực hiện mục tiêu của các DN Nó tạo nên giá trị DN, đạo
đức DN, quản lý DN và thương hiệu DN VHDN là nguồn gốc của sức sáng
tạo, đoàn kết DN, là động lực tinh thần cho sự tồn tại, cạnh tranh và phát triển
của DN trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng
Như vậy, tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động
lực sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt trên thị trường Hiệu
quả và sự khác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường
c Vai trò của văn hoá doanh nghiệp đối với xã hội
Paul Haw Ken đã viết như sau: “ Mục đích tối thượng của kinh doanh
không phải hay không nên chỉ đơn giản là kiếm tiền Nó cũng không đơn
thuần là hệ thống sản xuất và buôn bán các loại hàng hoá Kinh doanh hứa
hẹn làm tăng thêm phúc lợi chung cho loài người thông qua hoạt động dịch
vụ, hoạt động sáng tạo và triết lý đạo đức Kiếm tiền bản thân nó nói chung là
vô nghĩa và chuốc lấy phức tạp và làm suy tàn thế giới mà chúng ta đang
sống” Rõ ràng, những cách kiếm lời chỉ đơn thuần chạy theo lợi nhuận, ích
kỷ, nhỏ nhen, xem thường đạo đức, nhân cách, biểu hiện sự kinh doanh vô
đạo đức và thiếu văn hoá bị xã hội lên án và không thể tồn tại lâu dài Trái
lại,mục tiêu cao nhất của hoạt động kinh doanh là làm thoả mãn tối đa nhu
cầu hàng hoá và các dịch vụ xã hội Do vậy, quan tâm đến văn hoá, kết hợp
văn hoá với kinh doanh làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái chân, thiện,
mỹ, là xu hướng chung của DN muốn tồn tại và phát triển lâu dài, đó cũng là
biểu hiện của kinh doanh có văn hoá Kinh doanh có văn hoá tạo ra mối quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hệ mật thiết giữa nhà sản xuất, nhà kinh doanh và người tiêu dùng theo nguyên tắc các bên đều có lợi Nét đẹp trong hoạt động kinh doanh có văn hoá còn khuyến khích cạnh tranh lành mạnh để cùng tồn tại và phát triển chứ không loại trừ nhau Việc sản xuất tạo ra các sản phẩm tốt đáp ứng nhu cầu cũng như thị hiếu lành mạnh và chính từ chất lượng sản phẩm sẽ tạo ra uy tín cho việc kinh doanh và cho DN Văn hoá của DN không tách rời với văn hoá của xã hội là hệ thống lớn bao gồm DN, VHDN trước hết là tuân thủ pháp luật, là bảo đảm có lãi, không những nuôi được người lao động mà còn phát triển Trên Thế giới, từ Microsoft đến Honda, Sony đã sáng tạo ra bao nhiêu giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, góp phần phát triển văn hoá của loài người DN là một tế bào của xã hội, DN không chỉ là một đơn vị kinh doanh,
DN là một cơ sở văn hoá và mỗi DN có VHDN của mình Sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi các nhà DN và hoạt động kinh doanh quan tâm hơn nữa đối với văn hoá, đưa văn hoá vào lĩnh vực kinh doanh Sự kết hợp giữa kinh doanh và văn hoá đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các DN ở nước ta hiện nay
Việc xây dựng và phát huy VHDN không chỉ tạo ra nguồn nội lực vững chắc cho việc liên tục nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường, hơn nữa đó là điều kiện quyết định để có thể huy động cao nhất các nhân tố chủ quan, khách quan khác nhau đối với việc tập trung xây dựng thương hiệu của bản thân từng sản phẩm, từng doanh nghiệp, góp phần xây dựng hệ thống thương hiệu, VHKD Việt Nam nói chung Xây dựng VHDN không chỉ đem lại hiệu quả kinh doanh bền vững
mà còn đáp ứng tốt các yêu cầu của xã hội (về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội,…Vì khi ấy, lợi nhuận có được thông qua việc đặt lợi ích con người và xã hội lên trên hết, dựa trên sự giải quyết hài hoà giữa các lợi ích (của doanh nghiệp, của người tiêu dùng, của toàn xã hội) cả trước mắt và lâu dài
Trang 15Như vậy, có thể nói văn hoá Doanh nghiệp là tài sản vô hình và vô giá
VHDN là bộ phận quan trong nhất trong những nguồn lực vô hình của doanh
nghiệp, đóng vai trò to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, là tài sản tinh thần của doanh nghiệp và là
nguồn lực để doanh nghiệp phát triển bền vững
1.1.2.2 Sự cần thiết phải xây dựng VHDN trong bối cảnh hiện nay
Bất kỳ tổ chức nào cũng phải có văn hoá mới trường tồn được Vì vậy
xây dựng văn hoá doanh nghiệp là cái đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp cần lưu
tâm tới Nhiều người khi đánh giá về doanh nghiệp vẫn chú trọng đến thị
trường, tổ chức, nhân sự, cơ cấu Tuy nhiên, người nhận thức sâu sắc về giá
trị của doanh nghiệp phải đánh giá được về cái gọi là: tầm nhìn, sứ mệnh và
giá trị cốt lõi của doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp đảm bảo sự trường tồn
của doanh nghiệp giống như khi ta thể hiện thái độ tại sao phải sống, sống
làm gì, sống như thế nào? Khi mỗi doanh nghiệp xây dựng được môi trường
sống lành mạnh thì bản thân người lao động cũng muốn làm việc quên mình
và luôn cảm thấy nhớ, thấy thiếu khi xa nơi làm việc Tạo cho người làm việc
tâm lý khi đi đâu cũng cảm thấy tự hào mình là thành viên của doanh nghiệp
chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, xây dựng
môi trường văn hoá trong mỗi doanh nghiệp làm sao để người lao động thấy
được môi trường làm việc của doanh nghiệp cũng chính là môi trường sống
của họ là điều mà các doanh nghiệp rất nên quan tâm
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, để tránh thế giới biến thành một
thể thống nhất về văn hoá, mỗi người, mỗi dân tộc đều cần phải giữ gìn và
phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc “hoà nhập” chứ không “hoà
tan” Theo một nghiên cứu tại Mỹ, duy trì và phát triển VHDN có ảnh hưởng
không nhỏ đến thành công của doanh nghiệp Do đó, muốn đứng vững trong
cạnh tranh thị trường gay gắt và để khẳng định chính mình, mỗi doanh nghiệp
cần thiết phải xây dựng cho mình một nét văn hoá doanh nghiệp riêng biệt
Vị trí và vai trò của VHDN như đã phân tích ở trên cho thấy, VHDN chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp Vì thế, trong nền kinh tế thị trường, việc xây dựng VHDN ngày càng trở nên cần thiết, tuy nhiên điều này gặp không ít khó khăn Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, đây chính là sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hoá, tri thức thì khó có thể đứng vững được Xây dựng và phát triển thành công văn hóa doanh nghiệp sẽ đem lại những lợi thế to lớn cho doanh nghiệp, đó là:
Thứ nhất, bản sắc văn hoá doanh nghiệp là động lực quan trọng của
doanh nghiệp trong quá trình tạo dựng niềm tin, uy tín đối với khách hàng và thị trường Đậy chính là yếu tố cấu thành quan trọng của thương hiệu, dấu ấn trong tâm trí khách hàng Khách hàng có thể biết thông tin về doanh nghiệp qua truyền thông, quảng cáo, hay PR, nhưng chỉ có đội ngũ con người hay văn hóa doanh nghiệp mới tạo nên cảm nhận mạnh mẽ về thương hiệu Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp chính là tài sản và sức mạnh vô hình, giúp doanh nghiệp đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay Những thành công của doanh nghiệp có bền vững hay không là nhờ vào nền văn hóa doanh nghiệp đặc trưng với bản sắc riêng có của mình
Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp là thanh nam châm, giúp doanh nghiệp
thu hút và duy trì đội ngũ nhân sự tài năng Ngày nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cạnh tranh bằng con người và cạnh tranh để có con người phù hợp Nhân viên có cá tính chỉ thích làm việc trong môi trường phù hợp với tính cách của họ Qua đó họ có thể giao lưu, học hỏi, và gắn kết lâu dài với doanh nghiệp Như vậy, văn hóa doanh nghiệp là động lực cho hoạt động quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong việc thu hút, sử dụng, phát triển, và duy trì đội ngũ nhân viên tài năng, nhằm hiện thực hóa thành công
các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ ba, văn hóa doanh nghiệp sẽ xác lập bộ gien để doanh nghiệp phát
triển trường tồn Sự lớn lên về qui mô của các doanh nghiệp sẽ tạo nên rủi ro
đổ vỡ, khi quá trình phát triển đó không dựa trên các chuẩn mực và trên nền
sự đồng nhất về nhận thức và hành vi Vì vậy, phát triển qui mô doanh nghiệp
khi không có văn hóa doanh nghiệp mạnh, doanh nghiệp sẽ trở nên tự mâu
thuẫn với khát vọng của chính nó, đối mặt với sự đổ vỡ, nhất là khi môi
trường kinh doanh thay đổi Điều này có thể dễ dàng nhận biết qua các ví dụ
về phát triển của một số tập đoàn trong thời gian vừa qua, hay trong lĩnh vực
kinh doanh chứng khoán, bất động sản
Như vậy, văn hoá doanh nghiệp là môi trường và động lực để mọi thành
viên trong tổ chức gắn kết, cùng nhau thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ
chức Mỗi doanh nghiệp hướng tới xây dựng một văn hoá doanh nghiệp mạnh
nhằm mục tiêu tối ưu hoá nguồn lực và sức mạnh kinh doanh Qua đó, văn
hoá doanh nghiệp sẽ làm gia tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua việc tạo dựng dấu ấn của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng và xã
hội, là nền tảng để doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập
ngày càng sâu rộng như hiện nay
1.2 Một số yếu tố cơ bản cấu thành VHDN
Trong quá trình hình thành và phát triển, VHDN được cấu thành bởi
nhiều yếu tố mà có thể phân ra thành hai nhóm:nhóm các yếu tố hữu hình và
nhóm các yếu tố vô hình Trong mỗi nhóm lại được cấu thành bởi nhiều yếu
tố cụ thể mà mỗi yếu tố cụ thể được biểu hiện với những đặc điểm, hình thức
khác nhau nhưng đều có một mục đích chung là thể hiện được đặc trưng VH
của tổ chức và lan truyền VH ấy tới các thành viên trong tổ chức
1.2.1 Những biểu hiện trực quan hay nhóm các yếu tố hữu hình
Những biểu hiện giá trị VH hữu hình là những cái thể hiện ra bên ngoài
rõ ràng, dễ nhận biết nhất của VHDN Các thực thể hữu hình mô tả một cách
tổng quan nhất môi trường vật chất và các hoạt động xã hội trong một DN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Một số biểu hiện hữu hình dễ quan sát tạo nên lớp bề mặt của VHDN
có thể kể đến là: Phong trào, nghi lễ, nghi thức, kiến trúc trụ sở văn phòng, biển hiệu, trang phục hay đồng phục của cán bộ nhân viên, cấu trục của doanh nghiệp, môi trường làm việc, thành tích và khen thưởng, là nhóm yếu tố cấu thành VHDN bề nổi, phản ánh đời sống, sinh hoạt của doanh nghiệp, công ty Tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng rất lớn Nó tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách của công ty, tạo ra sự khác biệt của công ty với bên ngoài, tạo hình ảnh tốt cho công ty trước cộng đồng, qua đó góp phần xây dựng thương hiệu, Chẳng hạn, tới thăm một DN có trụ sở to đẹp, biển hiệu rõ ràng, bảo vệ đứng hai bên, thấy nhiều người ra vào ăn mặc lịch sự… nhiều người có thể có thiện cảm và bước đầu đánh giá văn hóa DN này có thể ở mức cao
1.2.1.1 Kiến trúc công sở
Bao gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công sở Từ Sự tiêu chuẩn hóa về màu sắc, kiểu dáng đặc trưng của công sở, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục… đến những chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và
vị trí của chúng trong phòng vệ sinh… Tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện trí và được quan tâm Sở dĩ như vậy là vì kiến trúc ngoại thất có thể có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc Hơn nữa, công trình kiến trúc có thể được coi là một “linh vật” biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một doanh nghiệp(chẳng hạn: giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời
và trưởng thành của doanh nghiệp, các thế hệ nhân viên…), xã hội, còn các kiểu dáng kết cấu có thể được coi là biểu tượng cho phương châm chiến lược của doanh nghiệp
Trang 171.2.1.2 Nghi lễ
Đây là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng
dưới hệ thống các hoạt động, sự kiện văn hoá-xã hội chính thức, nghiêm
trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối
quan hệ tổ chức và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham dự
Những người quản lý có thể sử dụng nghi lễ như một cơ hội quan trọng để
giới thiệu về những giá trị được tổ chức coi trọng, để nhấn mạnh những giá
trị riêng của tổ chức, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận
thức về những sự kiện trọng đại, để nêu gương và khen tặng những tấm
gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn
trọng của tổ chức Có bốn loại nghi lễ cơ bản: chuyển giao(khai mạc, giới
thiệu thành viên mới, chức vụ mới, lễ ra mắt ), củng cố( lễ phát phần
thưởng ), nhắc nhở( sinh hoạt văn hoá, chuyên môn, khoa học…), liên kết ( lễ
hội, liên hoan, tết…)
1.2.1.3.Biểu tượng, bài hát truyền thống, trang phục
Biểu tượng là một thứ biểu thị một cái gì đó không phải là chính nó và
có tác dụng giúp cho mọi người nhận ra hay hiểu được thứ mà nó biểu thị
Các công trình kiến trúc, lễ nghi, giai thoại, khẩu hiệu đều chứa những giá trị
vật chất cụ thể, hữu hình, các biểu trưng này đều muốn truyền đạt những giá
trị, ý nghĩa tiềm ẩn bên trong cho những người tiếp nhận theo cách thức khác
nhau Một biểu tượng khác là logo hay một tác phẩm sáng tạo được thiết kế
để thể hiện hình tượng về một tổ chức, một DN bằng ngôn ngữ nghệ thuật
phổ thông các biểu tượng vật chất này thường có sức mạnh rất lớn vì chúng
hướng sự chú ý của người thấy nó vào một ( vài) chi tiết hay điểm nhấn cụ thể
có thể diễn đạt được giá trị chủ đạo mà tổ chức, DN muốn tạo ấn tượng, lưu
lại hay truyền đạt cho người thấy nó Logo là loại biểu trượng đơn giản nhưng
lại có ý nghĩa rất lớn nên được các DN rất chú trọng
Bài hát truyền thống, trang phục hay đồng phục là những giá trị VH tạo
ra nét đặc trưng cho DN và tạo ra sự đồng cảm, gắn bó giữa các thành viên Đây cũng là những biểu tượng tạo nên niềm tự hào của nhân viên về công ty của mình Ngoài ra, trang phục các giai thoại, truyện kể, các ấn phẩm điển hình … là những biểu tượng giúp mọi người thấy rõ hơn về những giá trị VH của tổ chức
1.2.1.4 Ngôn ngữ, khẩu hiệu
Nhiều tổ chức, DN đã sử dụng những câu chữ đặc biệt, khẩu hiệu, ví von, ẩn dụ hay một sắc thái ngôn ngữ để truyền tải một ý nghĩa cụ thể đến nhân viên của mình và những người hữu quan Khẩu hiệu là hình thức dễ nhập tâm và được không chỉ nhân viên mà cả khách hàng và nhiều người khác luôn nhắc đến Khẩu hiệu thường rất ngắn gọn, hay sử dụng các ngôn từ đơn giản, dễ nhớ; do đó đôi khi có vẻ “ sáo rỗng” về hình thức Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất của triết lý hoạt động, kinh doanh của một tổ chức, một công ty Vì vậy, chúng cần được liên hệ với bản tuyên bố sứ mệnh của tổ chức, công ty để hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của chúng
1.2.1.5 Ấn phẩm điển hình
Là những tư liệu chính thức có thể giúp những người hữu quan có thể nhận thấy rõ hơn về cấu trúc văn hoá của một tổ chức Chúng có thể là bản tuyên bố sứ mệnh, báo cáo thường niên, tài liệu giới thiệu về tổ chức, công ty,
sổ vàng truyền thống, ấn phẩm định kỳ hay đặc biệt, tài liệu quảng cáo giới thiệu sản phẩm và công ty, các tài liệu, hồ sơ hướng dẫn sử dụng, bảo hành…
1.2.1.6 Các qui định về văn hóa trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp nào cũng có các yếu tố văn hóa DN một cách tự nhiên ở các mức độ khác nhau Chắc chắn ban lãnh đạo DN nào cũng đều quan tâm tới văn phòng, nhà máy và không gian làm việc cho mọi nhân viên DN nào
mà chẳng có điều lệ, các quy định, nội quy… ban hành bằng văn bản, phổ biến cho các phòng ban thực thi Đây là đòi hỏi bắt buộc của xã hội cũng như
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của luật pháp đối với hoạt động của DN, để đảm bảo rằng DN kiếm được lợi
nhuận nhưng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ như nộp thuế, đóng góp bảo vệ
môi trường, tôn trọng thuần phong mỹ tục quốc gia…
Các quy trình, quy định hay chính sách sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động
ổn định, theo chuẩn Đây cũng là cấu thành giúp doanh nghiệp đáp ứng các
yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, góp
phần tạo tính ổn định và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp với nỗ lực làm
hài lòng khách hàng và xã hội
1.2.2 Nhóm các yếu tố vô hình
1.2.2.1 Triết lý và phương châm kinh doanh
Đây là lớp trong cùng và quan trọng nhất cấu thành nên văn hóa doanh
nghiệp, bao gồm những triết lý quản lý và kinh doanh cốt lõi nhất, căn bản
nhất Đây là cơ sở xây dựng định hướng hoạt động của doanh nghiệp và chi
phối các quyết định quản lý; là niềm tin, là giá trị bền vững không thay đổi
bất chấp thời gian và ngoại cảnh Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình xây
dựng văn hóa doanh nghiệp thành công là sự cam kết của những người lãnh
đạo cao nhất của doanh nghiệp Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và khối óc
của doanh nghiệp nằm ở lớp trong cùng của văn hóa đó là triết lý kinh doanh,
cũng như phương châm quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp và chỉ có
những nhà quản lý cao nhất của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động đến
lớp văn hóa cốt lõi này
1.2.2.2 Chất lượng ban lãnh đạo và nhân viên
Schein(2004) đã ví Người Lãnh đạo và VHDN gắn với nhau như hai
mặt của đồng xu Lãnh đạo, theo nghĩa rộng nhất, là tạo dựng văn hóa Doanh
nghiệp,hay nói cách khác nhiệm vụ tối quan trọng của lãnh đạo là tạo dựng và
củng cố văn hóa Doanh nghiệp để từ đó gây dựng sự nghiệp kinh doanh, đem
lại lợi nhuận cho công ty của mình Đây chính là nhóm người tạo ra nét đặc
thù của VHDN Có thể nói, chỉ có những nhà quản lý cao nhất của doanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp mới có đủ khả năng tác động đến triết lý kinh doanh và phương châm quản lý của doanh nghiệp mà đây lại là một trong những yếu tố cốt lõi cấu thành nên văn hóa của doanh nghiệp Triết lý kinh doanh và phương châm quản lý của doanh nghiệp là cơ sở xây dựng định hướng hoạt động của doanh nghiệp và chi phối các quyết định quản lý, là niềm tin, là giá trị bền vững không thay đổi bất chấp thời gian và ngoại cảnh Vì vậy, điều kiện tiên quyết
để quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp thành công là sự cam kết của những người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và khối óc của doanh nghiệp nằm ở lớp trong cùng của văn hóa, đó là triết lý kinh doanh, phương châm quản lý của doanh nghiệp và như trên đã nói, chỉ có những nhà quản lý cao nhất của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động đến lớp văn hóa cốt lõi này
Có thể thấy, chất lượng ban lãnh đạo DN và các nhân viên chủ chốt đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và văn hóa DN nói riêng Nếu ai đó trong ban lãnh đạo tối cao như chủ tịch hay tổng giám đốc là người thiếu các phẩm chất của nhà lãnh đạo như: thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức, thiếu kỹ năng, có hành vi ứng xử thiếu văn hóa… thì rất khó có thể lãnh đạo DN xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến Có lẽ đa số nhân viên đều có cảm nhận là không muốn làm việc cho các DN kiểu này Thậm chí, quan trọng hơn, là các khách hàng
có văn hóa cũng không muốn làm ăn với những người lãnh đạo ở dạng này
1.2.2.3 Hệ thống trao đổi thông tin, thái độ và cách ứng xử trong doanh nghiệp
Đây là yếu tố cấu thành văn hoá doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý đa dạng, đa chiều, chính xác và kịp thời Hệ thống này cần đảm bảo mọi thông tin cần thiết cho doanh nghiệp đều được thu thập, truyền đạt, lưu trữ và xử lý; đồng thời đảm bảo cho mọi thành viên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các thông tin cần thiết cho các hoạt động thường nhật cũng như công tác lập kế hoạch, xây dựng định hướng chiến lược
Trang 19Như vậy, để thực sự tạo ra “cá tính” của doanh nghiệp, tạo ra sức mạnh
cạnh tranh cho doanh nghiệp, doanh nhân, cán bộ quản lý cấp cao, các nhà
lãnh đạo và quản lý các cấp khác phải nhất thiết tham gia vào quá trình xây
dựng văn hóa của tổ chức mình
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển Văn hóa
doanh nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển VHDN là một quá trình lâu dài và
chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó, có thể kể ra những yếu tố cơ bản
nhất có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển VHDN, bao gồm: nền
văn hóa hay văn hóa dân tộc; văn hóa cá nhân; vai trò dẫn dắt của Ban lãnh
đạo doanh nghiệp; sự giao lưu văn hóa trong kinh doanh; sự nhận thức cũng
như ý thức tuân thủ của người lao động trong doanh nghiệp về các giá trị
thuộc về VHDN; pháp luật và quan điểm của Nhà nước; thái độ và sự nhận
thức của khách hàng về doanh nghiệp; và sự nhận thức của công chúng trong
xã hội về doanh nghiệp
Mặc dù những nhân tố ảnh hưởng khác không được trình bày đủ ra
trong nội dung này, nhưng trong thực tiễn và tùy vào từng trường hợp của
doanh nghiệp cụ thể trong tiến trình xây dựng VHDN, các nhân tố đó sẽ bộc
lộ ra ở các giai đoạn khác nhau, và khi đó chúng sẽ được xem xét là những
nhân tố cơ bản nhất có ảnh hưởng
Dưới đây là nội dung một số nhân tố ảnh hưởng cơ bản đến việc hình
thành và phát triển VHDN đã được nêu ra ở trên
- Nền văn hóa:
Nền văn hóa là tập hợp của các kiểu văn hóa khác nhau cùng tồn tại
trên một địa bàn rộng lớn có chủ quyền giống như quốc gia, dân tộc Nghiễm
nhiên, VHDN trở thành một bộ phận cấu thành nền văn hóa
Sự phản chiếu của văn hóa dân tộc lên VHDN là một điều tất yếu Bản
thân VHDN là một nền tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc Việc xác
định những giá trị văn hóa dân tộc phản ánh trong VHDN là điều hết sức khó khăn vì văn hóa dân tộc là một phạm trù hết sức rộng lớn và trừu tượng Tuy nhiên, thực tế cho thấy nền văn hóa hay văn hóa dân tộc có tác động rất lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ đối với doanh nghiệp Mặc dù nền văn hóa là rất đa dạng, nhưng chính sự đa dạng và phong phú này đã tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa đó Chúng ta nhận diện được nền văn hóa thông qua chính những bản sắc riêng có này Và cũng chính từ đó, chúng ta có thể hình dung và cảm nhận về từng nét văn hóa riêng biệt cấu thành nên nó
Sứ mạng của doanh nghiệp là thể hiện nét riêng trong VHDN của mình trong nền văn hóa dân tộc nhưng không được làm ảnh hưởng đến giá trị văn hóa chung của dân tộc Hay nói rộng ra, văn hóa dân tộc có vai trò dẫn dắt và định hướng cho các giá trị văn hóa của doanh nghiệp
- Văn hóa cá nhân:
Các cá nhân, bao gồm tất cả các thành viên đang làm việc cho doanh nghiệp, từ người lãnh đạo cao nhất cho đến những người nhân viên bình thường, họ mang đến cho doanh nghiệp những giá trị văn hóa khác nhau góp phần hình thành nên văn hóa chung của doanh nghiệp Các giá trị chung đó có thể kể đến như: trình độ học vấn, tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, sở trường chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, các phát minh, sáng kiến, các công trình do
họ tạo dựng hoặc góp sức tạo nên, v.v Trong quá trình phát triển và chọn lọc, các giá trị văn hóa cá nhân đó sẽ được giữ lại những giá trị tốt đẹp và loại
bỏ những giá trị xấu để góp phần tạo dựng nên VHDN
Do vậy, có thể nói rằng, văn hóa cá nhân là nhân tố có ảnh hưởng rõ ràng và dễ nhìn nhận nhất đến VHDN
- Vai trò dẫn dắt của Ban lãnh đạo doanh nghiệp
Ban lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp, mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại, của doanh nghiệp Qua
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, hệ tư tưởng và tính cách của các
thành viên trong Ban lãnh đạo doanh nghiệp sẽ được phản chiếu lên VHDN
Ban lãnh đạo doanh nghiệp giữ vai trò chính trong việc dẫn dắt và định
hướng cho nội dung và hướng phát triển VHDN Họ là những người có tiếng
nói cuối cùng trước khi tập thể doanh nghiệp quyết định lựa chọn một mô
hình văn hóa nào đó trong kinh doanh
Mặc dù vậy, sự ảnh hưởng đó vẫn sẽ bị thay đổi theo thời gian khi mà
có sự thay thế ở cấp lãnh đạo Nhưng dù sao, Ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn
là người tạo ra những ảnh hưởng và ghi dấu ấn của mình rõ nét nhất trong
VHDN qua mỗi thời kỳ phát triển của doanh nghiệp
- Sự giao lưu văn hóa trong kinh doanh:
Trong văn hóa xã hội nói chung và trong văn hóa kinh doanh nói riêng
không thể thiếu được sự giao lưu học hỏi những giá trị văn hóa khác từ bên
ngoài Việc giao lưu, học hỏi văn hóa có vai trò to lớn trong việc truyền bá
những thông điệp có giá trị về văn hóa và làm nên sức mạnh của dân tộc, sức
cạnh tranh của doanh nghiệp Trong sự giao lưu đó, việc học hỏi về văn hóa là
việc làm hết sức cần thiết Nó là một đòi hỏi tất yếu trong quy trình xây dựng
VHDN nhằm hướng đến việc hoàn thiện các giá trị VHDN
Các giá trị VHDN học hỏi thường được hình thành hoặc vô thức, hoặc
có ý thức và ảnh hưởng của chúng đến hoạt động của doanh nghiệp có thể tích
cực, cũng có thể tiêu cực
Mặc dù có rất nhiều con đường và cách thức khác nhau để học hỏi văn
hóa trong kinh doanh, thế nhưng, một đặc điểm chung nhất dễ nhận ra là trên
con đường học hỏi này có rất ít sự đóng góp của lãnh đạo mà phần lớn tập
trung ở nhân viên Những nhà lãnh đạo khôn ngoan là những người biết cách
ứng xử với những kinh nghiệm này để đạt hiệu quả quản trị cao nhất, tạo nên
môi trường văn hóa hỗ trợ đắc lực cho hoạt động của doanh nghiệp Bởi việc
học hỏi đó không làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp cũng như làm lu mờ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phong cách của lãnh đạo Trái lại, chúng càng thể hiện sự thích ứng ngày càng tốt hơn của lãnh đạo doanh nghiệp với xu hướng phát triển tất yếu
- Sự nhận thức cũng như ý thức tuân thủ của người lao động trong doanh nghiệp về các giá trị thuộc về VHDN:
Sự nhận thức và ý thức tuân thủ của người lao động về các đòi hỏi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện VHDN là điều hết sức quan trọng Nó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có khả năng duy trì hay không duy trì được VHDN Người xưa đã có câu: “Chở thuyền là dân và lật thuyền cũng là dân” Bởi vậy, VHDN muốn xây dựng thành công cũng phải tìm kiếm sự đồng thuận trong tập thể người lao động Sự thành công này phụ thuộc rất lớn vào khả năng tuyên truyền, vận động và giáo dục của doanh nghiệp về các giá trị VHDN nhằm nâng cao tình thần tự giác của người lao động, hướng họ đến một tinh thần thực hiện tự nguyện và sẵn sàng cống hiến Để thực hiện được điều đó, đòi hỏi các giá trị VHDN phải có sự hài hòa với ý trị và nguyện vọng của tập thể người lao động
- Pháp luật và quan điểm của Nhà nước:
Đây là điều kiện về môi trường để VHDN có thể hình thành và phát triển Hệ thống pháp luật phải được lập ra và điều khiển những hành vi của doanh nghiệp nhằm hướng đến những giá trị văn hóa tốt đẹp
Pháp luật và quan điểm của Nhà nước mang tính chất ảnh hưởng theo kiểu định hướng Vừa răn đe, trừng phạt vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh phục vụ xã hội
- Thái độ và sự nhận thức của khách hàng về doanh nghiệp:
Mọi biểu hiện trong kinh doanh của doanh nghiệp đều thể hiện và bộc
lộ các giá trị văn hóa của doanh nghiệp Các biểu hiện đó đều tác động lên sự nhận thức của khách hàng và đón nhận lại từ phía họ với những biểu hiện của những thái độ hoặc phản ứng khác nhau
Trang 21Trong khi đó, khách hàng là người đánh giá cuối cùng về các giá trị văn
hóa trong kinh doanh của doanh nghiệp Sự đánh giá đó đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp đã xây dựng thành công hay chưa thành công VHDN Vì thế,
cũng có thể coi VHDN là thước đo số 1 (đối tượng trực tiếp mà doanh nghiệp
hướng đến việc phục vụ, đối tượng chính mang lại lợi nhuận và sự thành công
cho doanh nghiệp) về sự thành công trong xây dựng văn hóa trong kinh doanh
của doanh nghiệp
- Sự nhận thức của công chúng trong xã hội về doanh nghiệp:
Một nhân tố quan trọng khác góp phần ảnh hưởng đến việc đánh giá
thành công hay thất bại trong nỗ lực xây dựng văn hóa trong kinh doanh của
doanh nghiệp, đó là công chúng Sự đánh giá của họ cũng quan trọng không
kém sự đánh giá của khách hàng Đặc biệt, trước yêu cầu của sự phát triển
hiện nay, tính chất bền vững và giao tế với cộng đồng buộc doanh nghiệp phải
có những hành động thân thiện và gần gũi hơn với cộng đồng Những hành
động đó phải trên cơ sở bảo vệ lợi ích của cộng đồng và tiến tới làm giàu cho
xã hội Trong quá trình thực hiện những hành động đó, các giá trị VHDN sẽ
dần được bộc lộ và được xã hội nhận thức Sự đánh giá của cộng đồng cũng
sẽ trở thành thước đo số 2 (đối tượng gián tiếp tạo ra lợi nhuận và sự thành
công cho doanh nghiệp) để đo lường mức độ thành công của doanh nghiệp
trong quá trình xây dựng VHDN
Tóm lại, trong quá trình hình thành và phát triển, xét về mặt lý
thuyết, VHDN được cấu thành và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong
đó có những yếu tố cơ bản như: nhóm các yếu tố hữu hình (phong trào,
nghi lễ, nghi thức, kiến trúc trụ sở văn phòng,biển hiệu trang phục của cán
bộ nhân viên, ấn phẩm, ngôn ngữ, khẩu hiệu và các qui định của doanh
nghiệp, ) và nhóm các yếu tố vô hình (triết lý và phương châm kinh
doanh, chất lượng ban lãnh đạo và nhân viên, hệ thống trao đổi thông tin và
các mối quan hệ trong doanh nghiệp, )
1.4 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ văn hóa kinh doanh ở các công ty Nhật Bản
1.4.1 Văn hóa doanh nghiệp ở Nhật Bản
Văn hóa kinh doanh được coi là cốt lõi trong hoạt động xây dựng và quản trị quan hệ trong mỗi doanh nghiệp hiện đại Trên thực tế, mỗi nền văn hóa khác nhau có thể đưa ra một hệ thống văn hóa doanh nghiệp khác nhau hay nói cách khác, văn hóa doanh nghiệp luôn mang tính đặc thù riêng Theo ông A Urata, văn hóa truyền thống của Nhật Bản, do hoàn cảnh sau chiến tranh thế giới đã tạo ra những nét đặc trưng Đó là những người lao động Nhật Bản thường làm việc suốt đời cho một công ty, công sở Họ được xếp hạng theo bề dày công tác Trong các công ty của Nhật Bản đều có tổ chức công đoàn Các quyết định sẽ được ra theo quyết định của tập thể và các hoạt động đặc trưng đó có tên là Kaizen
Chính văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật đã tạo cho công ty một không khí làm việc dựa trên cơ sở quan hệ với các thành viên như trong một gia đình, họ gắn bó với nhau chặt chẽ trong quá trình làm việc và sinh hoạt Lãnh đạo của công ty luôn quan tâm đến các thành viên về mọi mặt Thậm chí ngay
cả trong những chuyện riêng tư của họ như cưới xin, ma chay, ốm đau, sinh con cũng đều được lãnh đạo thăm hỏi chu đáo Vì làm việc suốt đời cho công ty nên người lao động sẽ được tạo điều kiện để học hỏi và đào tạo từ nguồn vốn của công ty Nâng cao năng suất, chất lượng và đào tạo con người được coi là hai đặc trưng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản
Có một sự khác bịêt cơ bản trong tư duy của người Nhật về doanh nghiệp Tại Mỹ và phương Tây, quyền lực cao nhất trong việc quyết định
số phận của một doanh nghiệp là các cổ đông Người quản lý doanh nghiệp
và vốn của doanh nghiệp tách hẳn nhau Cổ đông yêu cầu nhà quản lý phải nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời gian ngắn Chỉ số cổ tức là thước đo năng lực của nhà quản lý Tuy nhiên, người Nhật lại quan
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
niệm rằng doanh nghiệp tồn tại như một hoạt động mang tính đạo đức Mọi
người trong công ty phải kết nối với nhau trong mối quan hệ chung Doanh
nghiệp là một chủ thể thống nhất Người Nhật quan tâm đến lợi ích doanh
nghiệp và người làm trong doanh nghiệp, thay vì chỉ quan tâm đến lợi
nhuận như ở phương Tây Do đó, tại một doanh nghiệp Nhật Bản, người
lãnh đạo phải lo nâng cao đời sống cho người lao động và điều này ảnh
hưởng lớn đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp Nó cũng liên quan
mật thiết đến việc nâng cao chất lượng và năng suất lao động Sự thống
nhất giữa doanh nghiệp và người làm trong doanh nghiệp đã tạo cho mọi
thành viên sự trung thành cao Tất cả đều quan tâm đến sự sống còn của
doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao
Về triết lý và phương châm kinh doanh, người Nhật luôn coi trọng sáng
tạo trên cơ sở bảo đảm chiến lược kinh doanh; dành thị phần và nhấn mạnh
chất lượng và hiệu quả
Về nghi lễ, nghi thức và môi trường làm việc: Khiêm tốn lễ độ; Điều
chỉnh và tiếp thu; luôn biết cám ơn và xin lỗi đúng lúc đúng chỗ; tính kỷ luật
cao trong công việc; có lối uy nghĩ và tác phong rất công nghiệp.; Logo, khẩu
hiệu rất thuyết phục và có tính khích lệ Chẳng hạn logo khẩu hiệu của tập
đoàn fujitsu ban đầu là: “ Moị khả năng là vô tận”, sau đó từ tháng 4/2010 đến
nay là: “Cùng định hình tương lai với bạn”, Bên cạnh đó, người Nhật luôn
tôn trọng môi trường làm việc Khiếu hài hước không có nhiều đất dụng,
ngoại trừ trong giờ nghỉ Hầu như không có chuyện va chạm cơ thể giữa các
đồng nghiệp Còn vỗ lưng? Tuyệt đối không
Khi có các cuộc đàm phán thì Người lãnh đạo có chức vụ cao nhất
trong công ty của Nhạt Bản sẽ điều hành cuộc đàm phán Những thành viên
khác không được nói nhiều quá và thường chỉ đưa ra những lời bình hoặc
nhận xét dựa vào quan điểm hoặc thái độcủa người có cấp cao nhất đang hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
diện ở đó, và không ai bày tỏ sự bất đồng với người đó Nếu không làm như vậy sẽ bị coi là bất kính
Ở Nhật Bản, nhiều công ty thường bắt đầu ngày làm việc bằng một cuộc họp vào buổi sáng Tại đó, nhân viên sẽ xếp hàng và hô to các khẩu hiệu của công ty như một cách để truyền cảm hứng và động lực làm việc cũng như
sự trung thành Và đó cũng là một hình thức làm tươi mới các mục tiêu của công ty trong tâm trí từng nhân viên
Người Nhật thường làm việc hăng say, chơi nhiệt tình Chẳng hạn, sau một ngày thảo luận quyết liệt, các nhân viên Nhật Bản sẵn sàng tìm cách xả xì trét Đi đến các quầy bar là một hoạt động phổ biến nếu không muốn nói là truyền thống Nếu công sở là nơi đầy những lễ nghi hà khắc thì quầy bar lại là nơi để các doanh nhân Nhật Bản được trút hết bầu tâm sự Một điểm đến được ưa thích khác là các quán karaoke Tại đây mọi người được thoải mái hát hò với tiêu chí “hát hay không bằng hay hát” Các điểm đến về đêm như thế này ngoài việc giúp họ cân bằng công việc với giải trí thì còn là nơi để các đồng nghiệp chia sẻ thông tin, thắt chặt tình bạn hay củng cố tập thể Như vậy, một điều quan trọng cần phải nhớ là không được để công việc chiếm lĩnh cuộc sống riêng Giải trí cũng là một phần quan trọng không kém trong một ngày Nó giúp giải tỏa căng thẳng và làm vơi bớt lo âu Khi đi chơi
hoặc làm bất kỳ việc gì với đồng nghiệp, có một cam kết bất thành văn là luôn
là một phần của nhóm
Các mối quan hệ rất được coi trọng ở Nhật Bản Sự ủng hộ từ nhiều người sẽ tạo cho họ lòng tự tin và sức mạnh Thực tế, các doanh nhân Nhật thường sắp xếp một cuộc gặp gỡ cá nhân với cấp quản trị cao hơn để tranh thủ
sự tán thành và ủng hộ của cấp trên bên cạnh sự khích lệ từ đồng nghiệp Do
đó nếu có được sự tán thành của những người thành đạt, bạn sẽ trở nên đáng tin cậy trong con mắt của nhiều người và tạo nền tảng vững chắc để đảm nhận những vị trí cao hơn Nhiều người cho rằng đây là kỹ năng "PR bản thân" và
Trang 23không đánh giá cao nó Điều quan trọng trong hoạt động ngày là sự chân
thành và chân thật
1.4.2 Bài học rút ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam
- Đề cao mục tiêu làm việc và làm việc thật nghiêm túc, hăng say Bên
cạnh đó, hãy biết tận hưởng những thời gian nghỉ ngơi và tham dự các bữa
tiệc của công ty Biết cư xử xã giao và thoải mái với đồng nghiệp bên ngoài
nơi làm việc, bạn sẽ được sống với chính mình và cũng tạm thời hạ thấp
“khiên” của bạn một chút
- Nên có các buổi họp ngắn vào buổi sáng hàng ngày ở công ty kết hợp
với việc hô to khẩu hiệu của công ty, vì điều này nhằm nhắc nhở các nhân
viên một cách thường xuyên về những mục tiêu lâu dài của công ty Nếu
không, chắc chắn rằng những công việc lặt vặt hàng ngày sẽ xóa nhòa hoặc
làm lu mờ những mục tiêu ấy
- Kính trọng tiền bối trong nghề hay biết lắng nghe những người có
thâm niên hoặc có địa vị cao hơn bạn trong công ty Nếu bạn bất đồng với
người quản lý, hãy thể hiện điều đó với họ khi chỉ có hai người Không bao
giờ được tỏ ra nghi ngờ vai trò hay quyền lực của họ trước mặt các nhân viên
khác Bạn cần phải hiểu rằng họ có được địa vị cao như lúc này là nhờ khả
năng, kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân họ (dĩ nhiên không tính những
thành phần “con ông cháu cha”)
- Nên xây dựng các mối quan hệ chân thành và chân thật trong công ty
Mọi người trong công ty hãy quan tâm cả lợi nhuận của công ty lẫn với việc
quan tâm đến nhau, đặc biệt lãnh đạo nên quan tâm đến người nhân viên trong
công ty thay vì chỉ quan tâm đến lợi nhuận như ở phương Tây
Như vậy, văn hóa doanh nghiệp không phải là những chuẩn mực
nguyên tắc hà khắc và cũng không phải là sự thoải mái không giới hạn mà
văn hóa doanh nghiệp là sự dung hòa giữa công việc và tinh thần, là sự phù
hợp giữa cá nhân và tổ chức, giữa các cá nhân, tập thể với nhau Xây dựng và
nâng cao văn hóa doanh nghiệp là tạo nên một môi trường tổ chức chuyên
nghiệp và tạo nên những bản sắc riêng cho mỗi doanh nghiệp
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, một số các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Văn hoá doanh nghiệp là gì?
- Các yếu tố cơ bản nào cấu thành nên văn hóa doanh nghiệp?
- Thực trạng VHDN và những yếu tố cơ bản cấu thành VHDN của Công ty Điện lực Bắc Kạn?
- Để xây dựng VHDN cần những giải pháp nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu này, luận văn sẽ sử dụng những phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu
Bắc Kạn là một tỉnh nghèo trong số các tỉnh miền núi với cơ sở hạ tầng giao thông không thuận lợi Bên cạnh đó, với công nghệ và cơ sở vật chất chưa hiện đại nên việc cung cấp dịch vụ của Công ty Điện lực Bắc Kạn còn gặp nhiều khó khăn và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty
Ý thức được tầm quan trọng của VHDN đối với sự thành công của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay và với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong việc xây dựng và phát triển VHDN, tôi đã lựa chọn địa bàn nghiên cứu là Công ty Điện lực Bắc Kạn
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng thông tin thứ cấp:
+ Từ các tài liệu, báo cáo nội bộ của Công ty Điện lực Bắc Kạn + Từ các dữ liệu thứ cấp ở bên ngoài như: Sách, báo, tài liệu nghiên cứu, các văn bản, báo cáo, Nghị quyết, đề án, từ các kho lưu trữ, thư viện các đơn vị, cơ quan Nhà nước, đặc biệt từ những đơn vị nghiên cứu các vấn
đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến VHDN
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Tổng quan, nghiên cứu các tài liệu nghiên cứu trước đó liên quan đến
vấn đề VHDN và những yếu tố cấu thành VHDN
- Nghiên cứu giá trị các dữ liệu, thông tin thu thập được để xem xét
mức độ chính xác của dữ liệu thu thập, bởi vì có những dữ liệu xuất phát từ
những cuộc nghiên cứu với mục tiêu khác với mục tiêu nghiên cứu của đề tài
luận văn này
- Kết quả thu thập thông tin từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê,
quan sát thực tiễn tồn tại dưới hai dạng: thông tin định tính và thông tin định
lượng Trong đề tài luận văn này, việc nghiên cứu VHDN và các yếu tố cấu
thành VHDN chủ yếu sử dụng thông tin định tính, do đó khi các thông tin
định tính đã được thu thập qua các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn,
thảo luận, nghiên cứu tài liệu,…thì bước tiếp theo là xử lý logic đối với các
thông tin định tính trên cơ sở đưa ra những phán đoán về bản chất của các sự
kiện đồng thời thể hiện logic của các sự kiện cũng như hệ thống các sự kiện
đang được xem xét
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
Sau khi tổng hợp các thông tin thu thập được, chúng tôi sẽ đi sâu phân
tích một cách có hệ thống và logic, đánh giá và kế thừa những thông tin định
tính và định lượng trong các tài liệu nghiên cứu trước có liên quan đến chủ đề
nghiên cứu (kể cả tài liệu lý thuyết và thực tiễn ở địa phương để nghiên cứu,
giải quyết vấn đề đặt ra) Từ đó sẽ xem xét lập ra các bảng biểu, các biểu đồ
(nếu có), hoặc các đưa ra những nhận định trong quá trình nghiên cứu VHDN
và các yếu tố cấu thành VHDN
2.3 Các tiêu chí đánh giá văn hóa doanh nghiệp
Đã có rất nhiều nhà khoa học đưa ra những tiêu chí, những hệ tiêu chí
khác nhau để đánh giá văn hóa các doanh nghiệp; nhưng tựu trung lại, một
doanh nghiệp được coi là có văn hóa mạnh, văn hóa thúc đẩy năng lực cạnh
tranh cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Một là, kinh doanh có hiệu quả, có lợi nhuận, có tăng trưởng cao; đó
là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu chăm lo đời sống vật chất cho người lao động và thực hiện các nghĩa vụ xã hội;
- Hai là, xây dựng được cơ cấu tổ chức quản lý khoa học, phù hợp, cơ chế quản lý nội bộ doanh nghiệp minh bạch, hợp lý, có tác dụng khuyến khích, động viên tính tích cực và sáng tạo của người lao động;
- Ba là, xây dựng được tập thể lao động (bao gồm cả cán bộ quản lý và công nhân, cả chủ và thợ) đoàn kết, hợp tác, có tinh thần tương thân tương ái, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, cùng chung hưởng thành quả của doanh nghiệp, cùng chia sẻ khó khăn, cùng chung sức xây doanh nghiệp ngày càng phát triển, coi doanh nghiệp là gia đình lớn của mình;
- Bốn là, tuân thủ luật pháp, có đạo đức và văn hóa trong kinh doanh, tôn trọng khách hàng và có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn thiên nhiên Mỗi doanh nghiệp có thể dựa vào những yêu cầu này để tự đánh giá VHDN của mình đang ở mức nào, yêu cầu nào còn chưa đảm bảo để có kế hoạch, biện pháp thực hiện, bổ sung, hoàn chỉnh Một doanh nghiệp đã xây dựng thành công VHDN sẽ có ưu thế hơn những doanh nghiệp chưa xây dựng thành công trong thu hút nguồn nhân lực, những người có tâm, có tài về với doanh nghiệp mình, động viên được sức mạnh tinh thần để xây dựng và phát triển doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, nếu tất cả đều có mục tiêu chung phù hợp thì doanh nghiệp sẽ phát triển mạnh, còn nếu mỗi người có một mục tiêu riêng thì doanh nghiệp đó sẽ không phát triển được Xây dựng VHDN chính là để xác định mục tiêu chung và thực hiện các giải pháp để mục tiêu chung đó trở thành hiện thực
VHDN được cấu thành bởi hai nhóm giá trị chính là: giá trị vô hình và giá trị hữu hình Như vậy, giá trị VHDN cũng được xem xét và đánh giá theo hai nhóm yếu tố cơ bản đó
Trang 25- Một là, các tiêu chí đánh giá giá trị văn hóa hữu hình:
Các giá trị VHDN hữu hình trước hết là hệ thống cơ sở hạ tầng Hệ
thống này bao gồm nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị và khuôn viên của
doanh nghiệp Diện mạo bên ngoài cũng như bên trong của doanh nghiệp thể
hiện những giá trị văn hóa hữu hình của doanh nghiệp và sẽ được công chúng
và khách hàng đánh giá
Hệ thống sản phẩm của doanh nghiệp cũng là một giá trị văn hóa hữu
hình có tầm quan trọng đặc biệt Sản phẩm của doanh nghiệp có thể coi là
bằng chứng thể hiện những giá trị VHDN với thế giới bên ngoài Hầu hết, các
doanh nghiệp đều cố gắng hội tụ những giá trị văn hóa tốt nhất của mình trên
chính sản phẩm được chào bán ra thị trường Do vậy, có thể coi các yếu tố
liên quan đến sản phẩm như là những tiêu chí để đánh giá về giá trị văn hóa
của doanh nghiệp
- Hai là, các tiêu chí đánh giá giá trị văn hóa vô hình:
+ Thái độ của người lao động đối với doanh nghiệp: Tiêu chí này xem
xét thái độ của người lao động trong doanh nghiệp suy nghĩ như thế nào về
doanh nghiệp của mình, sự tuân thủ những quy định cũng như ý thức xây
dựng tập thể để trở thành doanh nghiệp vững mạnh Trong đó, lòng tự hào của
người lao động về hình ảnh, thương hiệu và các giá trị truyền thống của doanh
nghiệp là thước đo căn bản nhất
+ Những cư xử của doanh nghiệp với khách hàng: Khách hàng được
coi là tài sản của doanh nghiệp, là đối tượng để doanh nghiệp phục vụ và thu
về lợi nhuận Tiêu chí này xem xét cách thức người lao động đối xử với khách
hàng của mình như thế nào Sự tôn trọng và tất cả vì phục vụ lợi ích của
khách hàng sẽ trở thành nét văn hóa đẹp cho doanh nghiệp và sẽ tạo ra sự gắn
bó của khách hàng
+ Những ứng xử của doanh nghiệp với công chúng: Công chúng là một
phần của doanh nghiệp Trước sự đòi hỏi của sự phát triển bền vững thì chúng
ta hoàn toàn có thể khẳng định như vậy Doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển nếu như không có công chúng xung quanh ủng hộ Do vậy, cách mà doanh nghiệp ứng xử ra bên ngoài như thế nào sẽ được công chúng đánh giá Doanh nghiệp không thể vì lợi nhuận mà bắt công chúng phải gánh chịu những chất thải giống như trường hợp của công ty bột ngọt Vedan đã được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin không lâu
+ Cách ứng xử của người lao động với nhau: VHDN còn thể hiện qua cách mà người lao động trong DN ứng xử với nhau Nó được thể hiện như mối quan hệ của những thành viên trong gia đình, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau + Phương thức quản lý và bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp: Tiêu chí này khó lượng hóa được trong thực tiễn Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận hoặc có thể đánh giá thông qua cách thức tổ chức doanh nghiệp cũng như hệ thống tiêu chuẩn trong quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
để có được những đánh giá cuối cùng về họ
+ Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và giao tế với cộng đồng (nhân đạo, từ thiện): Đây là tiêu chí đánh giá về mức độ hòa đồng của doanh nghiệp với trào lưu của xã hội Những hoạt động này góp phần làm gia tăng hình ảnh về một doanh nghiệp năng động, khỏe mạnh và trẻ trung,
đồng thời cũng thể hiện sự thân thiện với xã hội
+ Các nguyên tắc, các hình thức đánh giá khen thưởng kỷ luật: Tiêu chí này giúp doanh nghiệp thể hiện được thái độ nghiêm túc và cầu thị trong việc hướng đến một môi trường làm việc công bằng và trong sạch hơn Việc khen thưởng hay kỷ luật biểu thị thái độ sâu sát với hoạt động, hành vi của người lao động Thể hiện sự kịp thời trong công tác quản lý người lao động nhằm tạo cho họ những điều kiện tốt nhất về cả vật chất lẫn tinh thần Đồng thời, cũng nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm kỷ luật gây ảnh hưởng chung đến giá trị của doanh nghiệp