1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam

95 727 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,18 MB
File đính kèm MO HINH TONG CAU.rar (198 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Sự cần thiết của đề tài Trong điều hành kinh tế vĩ mô, việc nắm bắt được bản chất, cấu trúc vận hành của nền kinh tế đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, khả năng dự báo và đánh giá tác động của chính sách kinh tế vĩ mô cũng là những yêu cầu hàng đầu đối với các nhà điều hành quản lý, các nhà lập chính sách cho nền kinh tế. Kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với những biến động phức tạp diễn ra cả trong lẫn ngoài nước. Trong bối cảnh đó, các yêu cầu nêu trên càng trở nên cấp thiết hơn đối với Việt Nam. Một trong những công cụ quan trọng để phân tích cấu trúc, thực hiện dự báo và đánh giá tác động chính sách đối với nền kinh tế là sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô (Macroeconometric modelling). Do đó, đề tài này tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đơn giản theo cách tiếp cận tổng cầu, nhằm đem lại những hiểu biết cơ bản nhất đối với cấu trúc vận hành cũng như tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu tổng quát của đề tài là đem lại cái nhìn căn bản và trực tiếp về cấu trúc vận hành của nền kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận tổng cầu. Mục tiêu cụ thể: Với mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài cố gắng thực hiện việc mô hình hoá thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam. Mô hình được thể hiện dưới dạng hệ thống các phương trình hành vi, các phương trình định dạng và định nghĩa. Đề tài cũng cố gắng ước lượng hệ số nhân tổng cầu, và ứng dụng hệ số nhân này để tìm hiểu tác động của chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ đối với biến số kinh tế cơ bản là sản lượng. 1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Vì mục tiêu của đề tài là đem lại cái nhìn cơ bản và trực tiếp về cấu trúc vận hành và tác động chính sách trong nền kinh tế nên đề tài chỉ thực hiện việc xấy dựng mô hình cấu trúc ở mức độ đơn giản. Mô hình được xây dựng theo cách tiếp cận tổng cầu, chỉ nhằm giải thích sự thay đổi của biến kinh tế cơ bản là sản lượng. Nội dung mô hình không nhằm giải thích toàn bộ các mối quan hệ trong nền kinh tế (ví dụ như khối sản xuất thực, khối ngân sách nhà nước, khối cán cân thanh toán quốc tế, v.v.) Đề tài chỉ tập trung vào phía Cầu của nền kinh tế với các lý do là sau: Thứ nhất, nền tảng lý thuyết của đề tài dựa trên lý thuyết Keynes. Theo đó, Cầu có vai trò quyết định trong nền kinh tế, vì Cầu quyết định Cung, tạo ra mối quan hệ cân bằng cungcầu trên thị trường. Thứ hai, dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất hạn chế, không đầy đủ. Do đó, việc xây dựng mô hình bao gồm tất cả các hoạt động của nền kinh tế sẽ gặp trở ngại rất lớn, và độ phù hợp của mô hình cũng khó được đảm bảo. Thứ ba, việc xây dựng một mô hình phức tạp vượt quá khả năng của một luận văn cử nhân. 1.4. Cấu trúc của luận văn Chương 1: Nêu lên sự cần thiết, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Tóm lược các lý thuyết kinh tế và các phương pháp kinh tế lượng dùng để ước lượng kiểm định mô hình. Chương 3: Nêu tổng quan về các tài liệu liên quan đến việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam; và tổng quan về các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay và các mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ tại Việt Nam. Chương 4: Mô tả quá trình xây dựng, ước lượng, kiểm định, đánh giá chất lượng mô hình và kết quả thử nghiệm chính sách kinh tế vĩ mô. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Giới thiệu về mô hình kinh tế lượng vĩ mô Mô hình kinh tế lượng vĩ mô là một hệ thống bao gồm các phương trình hành vi, cũng như các quan hệ định nghĩa, mô tả cấu trúc và cơ chế vận hành của một nền kinh tế, chủ yếu dựa vào hành vi của các tác nhân kinh tế (Abbas, 2005). Về lý thuyết, có năm dạng mô hình kinh tế lượng vĩ mô là: mô hình KK, mô hình PB, mô hình WJ, mô hình WL và mô hình MS. Mô hình KK dùng để giải thích các biến động kinh tế vĩ mô hướng về cầu của Keynes. Mô hình tập trung vào các vấn đề ổn định ngắn hạn của sản lượng và việc làm, chủ yếu sử dụng chính sách ổn định hoá. Phương pháp mô hình hoá này không nắm bắt đầy đủ vai trò của thị trường tiền tệ, mức giá tương đối và các kì vọng. Mô hình PB ứng dụng cả lý thuyết Keynes và tân cổ điển trong các mô hình thời gian động và liên tục, dùng để phân tích chính sách ổn định hoá. Việc ứng dụng mô hình này trong thực tế rất phức tạp, đặc biệt là đối với các mô hình có quy mô lớn. Mô hình WJ hay còn gọi là mô hình đa khu vực. Trong đó nền kinh tế được chia thành các thị trường phụ thuộc lẫn nhau, mỗi thị trường đạt đến trạng thái cân bằng thông qua hành vi tối đa hoá lợi nhuận của nhà sản xuất và tối đa hoá thoả dụng của người tiêu dùng trong các thị trường cạnh tranh. Mô hình WL kết hợp các bảng IO (bảng vàora) và hệ cân bằng tổng quát Walras, giúp các nhà phân tích nắm được đầu ra của các ngành kinh tế, giá trị gia tăng hoặc việc làm nếu cho trước các thành phần tổng cầu cuối cùng hoặc các thành phần nhu cầu theo ngành . Mô hình MS dựa vào lý thuyết kỳ vọng hợp lý. Trong mô hình này việc hình thành kỳ vọng không phải dựa vào giá trị quá khứ của biến phụ thuộc. Các biến kỳ vọng trong tương lai chỉ có thể đạt được nhờ vào việc giải toàn bộ mô hình. Mô hình kinh tế lượng vĩ mô đầu tiên cho nước đang phát triển do Narasimham(1956) xây dựng cho Ấn Độ dưới sự cố vấn của Tinbergen. Những mô hình đầu tiên dành cho các nước đang phát triển phần lớn là những phiên bản nhỏ của mô hình KK mô tả phía cầu của nền kinh tế. Tính sẵn có của nhiều dữ liệu trong hầu hết các nước đang phát triển là một yếu tố cản trở việc xây dựng mô hình, vì cơ sở dữ liệu không đáng tin cậy và thường xuyên bị điều chỉnh. Do đó chúng ta nên sử dụng phương pháp ước lượng đơn giản như phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn ít nhạy cảm đối với chất lượng của dữ liệu. Kể từ những năm cuối của thập niên 1970, việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đối mặt với nhiều lời chỉ trích. Những lời chỉ trích này tựu trung về 6 vấn đề: Thiếu tính dự báo, mâu thuẩn với lý thuyết kỳ vọng hợp lý, tính ổn định của cơ cấu (chỉ trích của Lukas), sự phân chia dữ biến nội sinh ngoại sinh trong mô hình để thông qua điều kiện về nhận dạng, và cuối cùng là vấn đề nghiệm đơn vị và đồng tích hợp cũng như tính chất chuổi thời gian cùa dữ liệu. Tuy nhiên Bodkin và Hsiao (1996) cho rằng mô hình kinh tế lượng vĩ mô rất hữu ích trong việc phân tích cơ cấu, dự báo và đánh giá chính sách với điều kiện là chúng phải được áp dụng các kiểm định thông số trước và sau khi công bố. Các loại kiểm định mà họ khuyến cáo bao gồm hai nhóm chính: kiểm định từng phương trình riêng lẽ trong mô hình và kiểm định toàn bộ hệ thống mô hình. Nhóm thứ nhất bao gồm bốn kiểm định nhỏ: kiểm định t va kiểm định F dùng để kiểm tra mức ý nghĩa thống kê của các hệ số ước lượng, kiểm tra dấu của hệ số ước lượng có đúng với lý thuyết hay không, các kiểm định phân tích dùng để kiểm tra các vi phạm giả thiết như tự tương quan, phương sai không đồng đều, đa cộng tuyến…, kiểm tra tính ổn định của các phương trình được ước lượng thông qua kiểm định Chow hoặc kiểm định RESET của Ramsey… Nhóm thứ hai bao gồm ba kiểm định nhỏ: Đánh giá toàn bộ mô hình thông qua các trị số thống kê về độ phù hợp như phần trăm sai số trung bình, hệ số Theil…, sai số động của toàn bộ mô hinh phải chấp nhận được, trước khi công bố kết quả mô hinh phải kiểm tra xem kết quả mô phỏng chính sách có phù hợp với kỳ vọng về mặt lý thuyết hay không. Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô phiên bản mới thường nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn con người, tính chất mở cửa thương mại và các yếu tố nhân khẩu học đối với tăng trưởng GDP. Guisan và Exposito (2001) đã khảo sát toàn diện tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước châu Á và châu Phi trong thời kỳ 19511999. Kết quả thực nghiệm của họ rõ ràng cho thấy các chính sách hướng đến việc phát triển vốn con người và mở cửa thị trường sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong một nghiên cứu khác, Guisan (2004) đã sử dụng dữ liệu chuaỗi thời gian hàng năm giai đoạn 1960 2002 đối với nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và nhận thấy rằng: Việc gia tăng trong vốn con người và vốn tư bản cũng như mức độ mở cửa thương mại cao hơn đều đóng góp vào mức tăng trưởng GDP cao hơn. Thật ra, kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra rằng mức độ mở cửa thương mại cao hơn không những làm tăng cầu nước ngoài như vậy làm tăng GDP mà còn giúp phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Love và Chandra (2004) sử dụng các kỹ thuật đồng tích hợp khác nhau và dữ liệu giai đoạn 19501992 nhận thấy việc mở cửa thương mại có quan hệ dài hạn với mức gia tăng trong thu nhập thực bình quân đầu người ở Ấn Độ. Vì vậy cần phải kết hợp các yếu tố này trong việc xây dựng mô hinh kinh tế lượng vĩ mô cho các nền kinh tế đang phát triển. 2.2. Giới thiệu hệ thống tài khoản quốc gia SNA Trong SNA, các chỉ tiêu phản ánh về kết quả sản xuất, về mức thu nhập mà nền kinh tế đạt được được chia thành hai nhóm: Nhóm chỉ tiêu tính theo lãnh thổ gồm: Tổng sản phẩm quốc nội GDP và Sản phẩm quốc nội ròng NDP. Nhóm chỉ tiêu tính theo quyền sở hữu gồm: Tổng sản phẩm quốc dân GNP, Sản phẩm quốc dân ròng NNP, Thu nhập quốc dân NI, Thu nhập cá nhân PI, Thu nhập khả dụng DI. 2.2.1 Phân biệt GDP và GNP GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sả phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước tính trong khoảng thời gian nhất định thường là một năm. GNP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng do công dân một nước sản xuất ra trong khoảng thời gian nhất định thường tính cho một năm. GNP = GDP + NIA Trong đó, NIA = thu nhập từ các yếu xuất khẩu – Thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu 2.2.2. Đo lường GDP GDP được tính theo 3 phương pháp: a) Phương pháp sản xuất: được xác định qua hai bước: Bước một: xác định giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế: Giá trị tăng thêm= Giá trị sản xuất Chi phí trung gian Bước hai: xác định GDP: GDP= Giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế+ Thuế nhập khẩu b) Phương pháp phân phối (còn gọi là phương pháp thu nhập) GDP được xác định theo công thức sau: GDP= Khấu hao +Tiền lương +Tiền thuê +Tiền lãi +Lợi nhuận +Thuế gián thu Khấu hao là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cố định. Tiền lương là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động. Tiền thuê là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai nhà cửa và các loại tài sản khác. Tiền lãi là thu nhập có được do cho vay tính theo một mức lãi suất nhất định. Lợi nhuận là khoản thu nhập còn lại của xuất lượng sau khi trừ đi chi phí sản xuất. Thuế gián thu là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập . c) Phương pháp chi tiêu cuối cùng GDP được xác định theo công thức sau: GDP= Tiêu dùng cuối cùng +Đầu tư +Xuất khẩu Nhập khẩu Tiêu dùng cuối cùng là một phần của tổng thu nhập quốc gia dùng để mua sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thần của dân cư và nhu cầu chung của xã hội. Tiêu dùng cuối cùng được chia thành: chi tiêu dùng của dân cư hộ gia đình, chi tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, chi tiêu dùng của các tổ chức không vị lợi phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của hộ gia đình. Đầu tư là lượng tiền dung để mua các loại tài sản tư bản như máy móc thiết bị, kho bãi, nhà xưởng… Số tiền này được gọi là tiền mua tư bản mới. Ngoài ra, đầu tư còn bao gồm phần chênh lệch tồn kho giữa cuối năm và đầu năm. Xuất khẩu là lượng tiền thu được do bán hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài. Nhập khẩu là lượng tiền dùng để mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài. 2.2.3. Giá cả trong SNA Trong mức giá của sản phẩm bán trên thị trường có chứa thuế gián thu. Theo các nhà kinh tế, thuế gián thu nhiều hay ít là do chính phủ tự định, nó không phản ánh được chi phí thực của quốc gia để sản xuất sản phẩm. Do đó, cần phải có một loại chỉ tiêu không bị tác động bởi sự thay đổi các khoảng thuế này. Đó là chỉ tiêu tính theo giá yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu tính theo = Chỉ tiêu tính theo Thuế gián thu giá yếu tố sản xuất giá thị trường Ngoài ra, khi so sánh các chỉ tiêu qua các năm, nếu sử dụng chỉ tiêu tính theo mức giá của từng năm thì có thể xảy ra trường hợp là: do giá tăng làm cho chỉ tiêu của năm này cao hơn năm khác, nhưng giá trị định lượng thực tế có thể không cao hơn đến mức như vậy. Để tránh trường hợp trên, người ta phân biệt hai loại chỉ tiêu tính theo giá hiện hành (gọi là chỉ tiêu danh nghĩa) và giá so sánh (gọi là chỉ tiêu thực) Chỉ tiêu thực = Chỉ tiêu danh nghĩa Chỉ số giá Nếu xét theo mốc thời gian, có hai loại chỉ số giá: chỉ số giá so với năm trước và chỉ số giá so với năm gốc. Chỉ số giá so với năm gốc là chỉ tiêu phản ánh mức giá trung bình ở một năm nào đó bằng bao nhiêu phần trăm so với năm được chọn làm gốc. 2.3. Mô hình ISLMBP Với mô hình ISLMBP, chúng ta có thể khảo sát được tác động của các chính sách tài khoá, tiền tệ và tỷ giá đối với cân bằng trên thị trường sản phẩm, tiền tệ và cán cân thanh toán. 2.3.1. Giới thiệu mô hình ISLMBP Đường IS (Investment equals Saving) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất r và sản lượng Y mà ở đó thị trường sản lượng cân bằng. Bất cứ mức sản lượng nào nằm trên đường IS cũng đều thoả mãn phương trình: Y= C +G +I +XM (1) Đường LM (Liquidity preference – Money supply) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa sản lượng và lãi suất mà ở đó thị trường tiền tệ cân bằng. Các mức lãi suất nằm trên đường LM luôn thoả mãn phương trình: Cung tiền = Cầu tiền (2) Đường BP (Balance of Payment) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà ở đó đảm bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán. Các điểm nằm trên đường BP luôn thoả mãn phương trình: Vốn đi vào Vốn đi ra = Nhập khẩu Xuất khẩu (3) Sự cân băng bên trong khi sản lượng và lãi suất được duy trì ở mức mà cả thi trường sản phẩm lẫn thị trường tiền tệ cân bằng. Sự cân bằng bên ngoài xảy ra khi cán cân thanh toán cân bằng. Như vậy nền kinh tế cân bằng toàn bộ cả bên trong lẫn bên ngoài tại điểm mà ở đó phải đồng thời thoả mãn ba phương trình (1), (2), (3). Đó chính là giao điểm của ba đường IS –LM – BP trên hình bên. 2.3.2 Tác động của chính sách tài khoá Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá mở rộng bằng cách tăng G hoặc giảm T. Đường IS dịch chuyển sang phải thành IS2, cho trạng thái cân bằng bên trong tại E’ nhưng lại mất cân bằng bên ngoài  cán cân thương mại thặng dư  cung ngoại tệ tăng lên  tỷ giá hối đoái giảm đồng tiền Việt Nam có giá hơn đồng tiền nước ngoài. Nền kinh tế điều chỉnh như sau: a) Trong cơ chế tỷ giá thả nổi Tỷ giá giảm làm sức cạnh tranh của hàng trong nước giảm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu dẫn đến hai kết quả: Lượng ngoại tệ đi vào giảm và lương ngoại tệ đi ra tăng làm đường BP dịch chuyển sang trái. Tổng cầu đối với hàng hoá và dịch vụ trong nước giảm làm cho đường IS dịch chuyển sang trái. Đường BP và IS dịch chuyển sang trái cho đến khi đạt đến điểm cân bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng cân bằng cùng tăng. b) Trong cơ chế tỷ giá cố định Ngân hàng trung ương phải dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào nhằm chống áp lực sụt giảm tỷ giá làm cho LM dịch chuyển sang phải cho đến khi tạo được điểm cân bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng đều tăng. 2.3.3. Tác động của chính sách tiền tệ Giả sử ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách tăng lượng cung tiền LM dịch chuyển sang phải thành LM2 cắt IS tại E’: Nền kinh tế cân bằng bên trong nhưng lại mất cân bằng bên ngoài, cán cân thanh toán thâm hụt ngoại tệ đi vào nhiều hơn ngoại tệ đi ra Tỷ giá tăng. a) Cơ chế tỷ giá thả nổi Tỷ giá tăng xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm tổng cầu trong nước tăng IS dịch chuyển sang phải. Lượng ngoại tệ đi vào tăng, ngoại tệ đi ra giảm đường BP dịch chuyển sang phải. Đường BP và IS dịch chuyển cho tới khi tạo thành điểm cân bằng mới tại E2 sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân băng có thể tăng giảm hoặc không đổi. b) Trong cơ chế tỷ giá cố đinh Ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ ra và thu nội tệ vào làm cho đường LM dịch chuyển sang trai. Đường LM2 dịch chuyển cho tới khi trở về vị trí LM cũ. Kết quả là sản lượng và lãi suất quay về mức cũ. 2.3.4. Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái Ngân hàng trung ương chủ động phá giá khi sản lượng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nền kinh tế bị thất nghiệp nhiêu. Khi sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềm năng, có lạm phát cao thi ngân hàng trung ương chủ động tăng giá để kéo lạm phát xuống. Một khi đã thực hiện chính sách phá giá hay nâng giá thì có nghĩa là quốc gia đang theo cơ chế tỷ giá cố định. Giả sử chính phủ thực hiện chính sách phá giá làm tăng tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu tăng tổng cầu và tăng lượng ngoại tệ đi vào đường IS và BP dịch chuyển sang phải. Ngoài ra khi phá giá ngân hàng trung ương phải bỏ nội tệ ra mua ngoại tệ vào đường LM dịch chuyển sang phải. Cả ba đường IS LMBP cùng dịch chuyển sang phải làm cho sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi. Tóm lại: Trong cơ chế tỷ giá thả nổi: Chính sách tài khoá có tác động yếu, chính sách tiền tệ có tác động mạnh. Trong cơ chế tỷ giá cố định: Chính sách tiền tệ không có tác dụng, chính sách tài khoá và chính sách tỷ giá có tác dụng hữu hiệu. 2.4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp sau: 2.4.1.Phương pháp kinh tế lượng: được áp dụng trong việc ước lượng, kiểm định phân tích mô hình, bao gồm:. Thủ tục Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (TSLS) Phương pháp TSLS cũng dựa trên nguyên tắc tương tự như trong phương pháp Bình phương tối thiểu thông thường (OLS) là cực tiểu tổng các phần dư bình phương. Tuy nhiên, nếu dùng thủ tục OLS để ước lượng các thông số của hệ thống các phương trình đồng thời, thì giá trị ước lượng sẽ bị thiên lệch và không nhất quán. Các dự báo dựa vào chúng cũng sẽ bị thiên lệch và không nhất quán, các kiểm định giả thuyết về các thông số không có hiệu lực. Để có thể khắc phục những vấn đề trên, một trong những phương pháp có thể thay thế là TSLS. Thủ tục TSLS được tiến hành qua hai giai đoạn như sau: Giai đoạn một: Trước tiên, ước lượng dạng rút gọn đối với tất cả các biến nội sinh xuất hiện ở vế bên phải của các phương trình. Lưu lại các giá trị ước lượng này. Giai đoạn hai: Ước lượng phương trình cấu trúc nhưng sử dụng công cụ là các biến nội sinh dự đoán thu được trong giai đoạn một Kiểm định t và pvalue Kiểm định t dùng để kiểm định ý nghĩa thống kê của từng hệ số ước lượng riêng lẽ. Các bước thực hiện như sau: Giả sử phương trình ước lượng là: Yt= α + ∑(βiXit) + ut Bước 1: Giả thiết H0: βi= β0, H1:βiβ0 Bước 2: Kiểm định thống kê tc= (β β0)sβ, được tính dựa trên mẫu. Theo giả thiết không, kiểm định thống kê có phân phối t với bậc tự do là nk (n là số quan sát, k là hệ số ước lượng). Bước 3: Chọn mức ý nghĩa α và xác định điểm tnk, α sao cho P(t>t)=α. Bước 4: Bác bỏ H0 nếu │tc│> t. Kiểm định t có thể được thực hiện theo một phương pháp khác tương đương. Trước tiên tính xác suất: pvalue = P(t>tc hoặc t β0 một cách đáng kể ở mức ý nghĩa α. Kiểm định hiện tượng tự tương quan Ta có thể sử dụng kiểm định DW để kiểm định hiện tượng tự tương quan . Tuy nhiên kiểm đinh DW có hạn chế trong nhiều trường hợp: Kiểm định cho các kết quả không thể kết luận được. Kiểm định DW không hợp lệ nếu các biến giải thích bao gồm biến phụ thuộc trễ. Kiểm định không thể áp dụng nếu các sai số từ hồi quy có bậc cao hơn 1. Trong những trường hợp nêu trên, một lựa chọn khác thay thế là kiểm định nhân tử LM. Tuy nhiên, kiểm định LM thường là kiểm định mẫu lớn. Các bước thực hiện kiểm định LM như sau: Bước 1: Ước lượng phương trình chính và tính toán các phần dư Bước 2: Hồi quy ut theo một hằng số, các biến giải thích trong phương trình chính và utk. Tính toán trị kiểm định LM = (nk)R2 từ hồi quy phụ này. Bước 3: Bác bỏ giả thuyết H0 cho rằng không có hiện tượng tự tương quan nếu LM > χk2(α). Kiểm định đặc trưng của mô hình Một trong những cách dùng để kiểm định xem mô hình đã được đặc trưng đúng hay chưa là sử dụng kiểm định RESET (kiểm định sai số đặc trưng hồi quy) do Ramsey (1969) đề ra. Cơ sở của thủ tục RESET là các phần dư ước lượng mà đại diện cho tác động của biến bị loại bỏ có thể được tính xấp xỉ bằng tổ hợp tuyến tính của các luỹ thừa của các giá trị được thích hợp. Nếu các luỹ thừa này có tác động có ý nghĩa thì mô hình gốc được coi như đã bị đặc trưng sai. Tuy nhiên, thủ tục RESET không chỉ ra được loại đặc trưng sai và cũng không gợi ý dạng hàm thích hợp cần sử dụng. Các bước thực hiện thủ tục RESET như sau: Bước 1: Ước lượng mô hình theo thủ tục OLS và lưu các giá trị được thích hợp Yt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔNG CẦU HÀNG HÓA

VÀ DỊCH VỤ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

VÕ HOÀNG QUÂN

LUẬN VĂN CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí MinhTháng 06/2006

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học khoa Kinh tế, trường Đại họcNông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận luận văn “Xây dựng mô hình tổngcầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam” do Võ Hoàng Quân, sinh viênkhóa 28, ngành Kinh tế, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vàongày .

TS Nguyễn Văn NgãiNgười hướng dẫn,

Ký tên, ngày tháng năm

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo

Ký tên, ngày tháng năm Ký tên, ngày tháng năm

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Luận văn này chứa đựng sự nổ lực rất lớn của bản thân tôi Tuy nhiên, để

có thể hoàn thành tốt bài luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của mọingười

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Nguyễn VănNgãi Thầy là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.Tôi đã nhận được rất nhiều lời đóng góp quý báu của thầy về nội dung chuyênmôn và hình thức trình bày luận văn Tôi cũng chân thành cảm ơn thầy NguyễnDuyên Linh đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc sử dụng phần mềm Eviews, mộtcông cụ chủ yếu phục vụ cho luận văn của tôi

Hơn hết, tôi xin được gởi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình Gia đình

đã luôn tạo điều kiện tốt nhất, và là nguồn động lực cho tôi hoàn thành tốt luậnvăn Bên cạnh đó, tôi cũng gởi lời cảm ơn thân thương đến những người bạn thânyêu Những lời động viên, chia sẽ đã giúp tôi vượt qua vô vàn khó khăn trongquá trình thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm tạ đến tất cả những người đã ủng hộ, giúp

đỡ tôi hoàn thành bài luận văn mà tôi không có điều kiện để gởi đến từng lời cảm

ơn nơi đây Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!

Võ Hoàng Quân

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

VÕ HOÀNG QUÂN, Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm Thành phố HồChí Minh Tháng 6 năm 2006 Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụnền kinh tế Việt Nam

Đề tài tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô phía tổng cầu củanền kinh tế Việt Nam Đề tài sử dụng dữ liệu hàng năm giai đoạn 1986-2004,được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, và áp dụng thủ tục Bình phương tốithiểu hai giai đoạn để ước lượng mô hình Kết quả cho thấy Khuynh hướng tiêudùng biên tại Việt Nam còn tương đối cao so với các nước trong khu vực Đốivới đầu tư, tính kém hiệu quả tăng lên cùng với số vốn Lãi suất có tác độngmạnh đối với đầu tư, trong khi lại tác động không đáng kể đối với tiêu dùng Vềkhía cạnh ngoại thương, nhập khẩu nhạy với tỷ giá hơn so với xuất khẩu với tỷgiá Kết quả ước lượng cũng khẳng định đặc điểm Việt Nam là một nền kinh tế

mở nhưng có quy mô nhỏ

Đề tài tính toán được số nhân tổng cầu K, còn gọi là nhân tử Keynes, cógiá trị khoảng 1.9 Trên cơ sở số nhân K, đề tài tiến hành thử nghiệm tác độngđối với sản lượng của các chính sách như: tăng chi tiêu chính phủ, áp dụng thuếthu nhập cá nhân, tăng lãi suất do áp lực của nhu cầu vốn đối với hệ thống ngânhàng, và tăng tỷ giá hối đoái để cải thiện cán cân thương mại Ngoài ra, đề tàicũng đưa ra một số gợi ý chính sách liên quan

Trang 5

VÕ HOÀNG QUÂN, Faculty of Economics, Nong Lam University – HoChi Minh City June 2006 An aggregate demand based macroeconometric modelfor the Vietnamese economy

The thesis models the Vietnamese economy on the base of aggregatedemand Annual data of period 1986-2004 collected from various sources andTwo Stage Least Square method are applied to estimate the model The resultsshow relatively high Marginal Propensity to Consume of Vietnam compared tosome other Asean countries With regards to investment, the increased capitalquantity is seemingly accompanied by the ineffectiveness Interest rates havestronger effect on investment than on consumption Concerning foreign trade,importing is more sensitive to foreign exchange rate than exporting In addition,the estimated results also verify the open but small-scaled characteristic of theVietnamese economy

The Keynes multiplier is calibrated as to 1.9 On the basis of themultiplier, policy experiments are conducted, including an increase ingovernment expenditure, application of personal income tax law, a rise in interestrates caused by the pressure of capital demand on the banking system and adevaluation to promote the trade balance In addition, relevant policyimplications are also given in the thesis

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 12

ĐẶT VẤN ĐỀ 12

1.1 Sự cần thiết của đề tài 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 12

1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 13

1.4 Cấu trúc của luận văn 13

CHƯƠNG 2 15

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Giới thiệu về mô hình kinh tế lượng vĩ mô 15

2.2 Giới thiệu hệ thống tài khoản quốc gia SNA 17

2.2.1 Phân biệt GDP và GNP 18

2.2.2 Đo lường GDP 18

2.2.3 Giá cả trong SNA 19

2.3 Mô hình IS-LM-BP 20

2.3.1 Giới thiệu mô hình IS-LM-BP 20

2.3.2 Tác động của chính sách tài khoá 21

2.3.3 Tác động của chính sách tiền tệ 21

2.3.4 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

Thủ tục Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (TSLS) 23

Kiểm định t và p-value 23

Kiểm định hiện tượng tự tương quan 24

Kiểm định đặc trưng của mô hình 24

Kiểm định nghiệm đơn vị 25

Kiểm định đồng tích hợp 25

CHƯƠNG 3 26

TỔNG QUAN 26

3.1 Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu 26

3.2 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam 27

vi

Trang 7

3.2.1 Tổng quan các giai đọan phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ

năm 1986 đến nay 27

3.2.2 Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam trong thời gian qua 31

CHƯƠNG 4 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Xây dựng mô hình 37

4.1.1 Mô tả tổng quát cấu trúc mô hình 37

4.1.2 Mô tả phương pháp ước lượng, các biến số và dữ liệu 38

4.1.3 Ước lượng và kiểm định mô hình 41

4.1.4 Đánh giá mô hình 47

4.2 Thảo luận về mô hình 54

4.2.1 Khuynh hướng tiêu dùng biên còn khá cao 54

4.2.2 Tăng số lượng vốn đi kèm với dấu hiệu cảnh báo về hiệu quả đầu tư 58

ĐVT: % 59

Nguồn: Tính toán tổng hợp 59

4.2.3 Nhập khẩu nhạy với tỷ giá hơn xuất khẩu với tỷ giá 61

Nhập khẩu 61

Nguồn: Số liệu từ GSO, ADB 64

4.3 Thử nghiệm và gợi ý chính sách 65

4.3.1 Tác động của Lãi suất 66 Thời gian gần đây, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp rất cao; đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện những chương trình trọng điểm của chính phủ, bên cạnh đó là nhu cầu không nhỏ của các doanh nghiệp tư nhân đang trỗi dậy Tuy nhiên, phần lớn nhu cầu vốn này đều đè nặng lên hệ thống ngân hàng Điều này tạo áp lực lên lãi suất, đẩy cả lãi suất huy động vốn lẫn lãi suất cho vay trong thời gian gần đây đều ở mức khá cao Từ đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng lên, hạn chế tính cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Do đó, việc nhanh chóng phát triển thị trường tiền tệ, thị trường vốn là yêu cầu cấp bách Khi doanh nghiệp đủ điều kiện có thể tự mình phát hành trái phiếu công ty hoặc tăng thêm lượng cổ phiếu bán ra để huy động vốn, thì lúc đó áp lực của nhu cầu vốn lên hệ thống ngân hàng sẽ được giảm đi đáng kể Thị

vii

Trang 8

trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển thì lãi suất trở thành công cụ hiệu quả phục vụ mục tiêu kích cầu tiêu dùng hoặc kích cầu đầu tư của

chính phủ 67

4.3.2.Tác động của Tỷ giá hối đoái 67

4.3.3 Tác động của Chi tiêu chính phủ và Thuế 69

Với phần thử nghiệm tác động của chi tiêu chính phủ và thuế nêu trên, đề tài đưa ra gợi ý đối với chính sách tài khóa như sau Giả sử, lãi suất được xác định trên thị trường tiền tệ, tỷ giá được xác định trên thị trường hối đoái Theo đó, lãi suất và tỷ giá đều có xu hướng tăng lên trong thời gian tới như khẳng định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Cụ thể, lãi suất tăng lên 1 điểm % và tỷ giá tăng lên 2% Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%, thì chi tiêu chính phủ và thuế cần thực hiện như sau: 71

4.3.4 Một số gợi ý khác 71

CHƯƠNG 5 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Kết luận 73

Sử dụng các hệ số ước lượng kết hợp với các nguồn tham khảo khác, đề tài đã tính được số nhân tổng cầu K=1.901 Với số nhân này, chúng ta có thể tìm hiểu được tác động của các chính sách như sau: 75

5.2 Hạn chế của đề tài 75

5.3 Kiến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

viii

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1: Cơ Cấu Nền Kinh Tế 2001-2005 29

Bảng 2: Ý Nghĩa Ký Hiệu Các Biến Số 40

Bảng 3: Kiểm Định Đồng Tích Hợp 42

Bảng 4: Các Hệ Số Ước Lượng ở Bước Đầu Tiên 43

Bảng 5: Kết Quả Cuối Cùng Của Các Hệ Số Ước Lượng 45

Bảng 6: Dấu Của Các Hệ Số Ước Lượng 46

Bảng 7: Kiểm Định Tương Quan Chuỗi các Phương Trình Ước Lượng Cuối Cùng 47

Bảng 8: Kiểm Định Ramsey RESET 47

Bảng 9: Số Đo MAPE của Các Giá Trị Dự Báo 1994-2004 53

Bảng 10: MPC Các Nước Trong Khu Vực 55

Bảng 11: Tỷ Lệ Đầu Tư/Sản Lượng 59

Bảng 12: Hệ Số ICOR của Việt Nam (giá ss 1994) 60

Bảng 13: Số Nhân Tổng Cầu Các Nước Trong Khu Vực 65

Các Giá Trị Tới Hạn Trong Kiểm Định DW Hồi Quy Đồng Tích Hợp 87

ix

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ CÁC HỘP

Trang

Hình 1: Cách Giải Tĩnh Và Độc Lập Của Các Phương Trình 49

Nguồn: Kết quả giải mô hình từ Eviews 4.1 49

50

Hình 2: Cách Giải Động Và Độc Lập Của Các Phương Trình 50

Hình 3: Cách Giải Động Và Đồng Thời Các Phương Trình 51

Hình 4: Tiêu Dùng Cuối Cùng Của Hộ Gia Đình Giai Đoạn 1986-1994 54

Hình 5: Tốc Độ Tăng Trưởng Sản lượng và Đầu tư 58

Hình 6: Tốc Độ Tăng Trưởng Tiêu dùng và Đầu tư 61

Hình 7: Cán Cân Thương Mại 64

Hình 7A: Theo Giá Thực Tế Hình 7B: Theo Giá So Sánh 64

x

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết Xuất Eviews về Kết Quả Ước Lượng Cuối Cùng Của Các Hệ SốPhụ lục 2: Kết Xuất Eviews về Kiểm Định Tương Quan Chuỗi Bằng Kiểm Định

Nhân Tử LM

Phụ lục 3: Kết Xuất Eviews về Kiểm Định Đặc Trưng Mô Hình Thông Qua

Kiểm Định Ramsey RESET

Phụ lục 4: Kết Xuất Eviews về Kiểm Định Đồng Tích Hợp Các Chuỗi Trong Các

Phương Trình Ước Lượng Cuối Cùng

Phụ lục 5: Kết Xuất Eviews về Dự Báo Trong Mẫu

Phụ lục 6: Ghi Chú Kỹ Thuật Về Thủ Tục Ước Lượng Bình Phương Tối ThiểuPhụ lục 7: Ghi Chú Về Cách Tính Số Nhân Tổng Cầu

Phụ lục 8: Chứng Minh Hệ Số Co Giãn Trong Mô Hình log-log

Phụ lục 9: Chuỗi Dữ Liệu Của Các Biến Số Trong Mô Hình

xi

Trang 12

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Sự cần thiết của đề tài

Trong điều hành kinh tế vĩ mô, việc nắm bắt được bản chất, cấu trúc vậnhành của nền kinh tế đóng vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh đó, khả năng dựbáo và đánh giá tác động của chính sách kinh tế vĩ mô cũng là những yêu cầuhàng đầu đối với các nhà điều hành quản lý, các nhà lập chính sách cho nền kinh

tế Kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với nhữngbiến động phức tạp diễn ra cả trong lẫn ngoài nước Trong bối cảnh đó, các yêucầu nêu trên càng trở nên cấp thiết hơn đối với Việt Nam

Một trong những công cụ quan trọng để phân tích cấu trúc, thực hiện dựbáo và đánh giá tác động chính sách đối với nền kinh tế là sử dụng mô hình kinh

tế lượng vĩ mô (Macroeconometric modelling) Do đó, đề tài này tiến hành xâydựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đơn giản theo cách tiếp cận tổng cầu, nhằmđem lại những hiểu biết cơ bản nhất đối với cấu trúc vận hành cũng như tác độngcủa các chính sách kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tổng quát của đề tài là đem lại cái nhìn căn bản và trực tiếp về

cấu trúc vận hành của nền kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận tổng cầu

Trang 13

1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Vì mục tiêu của đề tài là đem lại cái nhìn cơ bản và trực tiếp về cấu trúcvận hành và tác động chính sách trong nền kinh tế nên đề tài chỉ thực hiện việcxấy dựng mô hình cấu trúc ở mức độ đơn giản Mô hình được xây dựng theocách tiếp cận tổng cầu, chỉ nhằm giải thích sự thay đổi của biến kinh tế cơ bản làsản lượng Nội dung mô hình không nhằm giải thích toàn bộ các mối quan hệtrong nền kinh tế (ví dụ như khối sản xuất thực, khối ngân sách nhà nước, khốicán cân thanh toán quốc tế, v.v.)

Đề tài chỉ tập trung vào phía Cầu của nền kinh tế với các lý do là sau:

- Thứ nhất, nền tảng lý thuyết của đề tài dựa trên lý thuyết Keynes Theo

đó, Cầu có vai trò quyết định trong nền kinh tế, vì Cầu quyết định Cung, tạo ramối quan hệ cân bằng cung-cầu trên thị trường

- Thứ hai, dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất hạn chế, không đầy đủ

Do đó, việc xây dựng mô hình bao gồm tất cả các hoạt động của nền kinh tế sẽgặp trở ngại rất lớn, và độ phù hợp của mô hình cũng khó được đảm bảo

- Thứ ba, việc xây dựng một mô hình phức tạp vượt quá khả năng củamột luận văn cử nhân

1.4 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Nêu lên sự cần thiết, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đềtài

Chương 2: Tóm lược các lý thuyết kinh tế và các phương pháp kinh tếlượng dùng để ước lượng kiểm định mô hình

Chương 3: Nêu tổng quan về các tài liệu liên quan đến việc xây dựng môhình kinh tế lượng vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam; và tổng quan về các giaiđoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay và các mốc quantrọng trong việc thực hiện chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Chương 4: Mô tả quá trình xây dựng, ước lượng, kiểm định, đánh giá chấtlượng mô hình và kết quả thử nghiệm chính sách kinh tế vĩ mô

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu về mô hình kinh tế lượng vĩ mô

Mô hình kinh tế lượng vĩ mô là một hệ thống bao gồm các phương trìnhhành vi, cũng như các quan hệ định nghĩa, mô tả cấu trúc và cơ chế vận hành củamột nền kinh tế, chủ yếu dựa vào hành vi của các tác nhân kinh tế (Abbas, 2005)

Về lý thuyết, có năm dạng mô hình kinh tế lượng vĩ mô là: mô hình KK, mô hình

PB, mô hình WJ, mô hình WL và mô hình MS

Mô hình KK dùng để giải thích các biến động kinh tế vĩ mô hướng về cầucủa Keynes Mô hình tập trung vào các vấn đề ổn định ngắn hạn của sản lượng

và việc làm, chủ yếu sử dụng chính sách ổn định hoá Phương pháp mô hình hoánày không nắm bắt đầy đủ vai trò của thị trường tiền tệ, mức giá tương đối và các

kì vọng

Mô hình PB ứng dụng cả lý thuyết Keynes và tân cổ điển trong các môhình thời gian động và liên tục, dùng để phân tích chính sách ổn định hoá Việcứng dụng mô hình này trong thực tế rất phức tạp, đặc biệt là đối với các mô hình

có quy mô lớn

Mô hình WJ hay còn gọi là mô hình đa khu vực Trong đó nền kinh tếđược chia thành các thị trường phụ thuộc lẫn nhau, mỗi thị trường đạt đến trạngthái cân bằng thông qua hành vi tối đa hoá lợi nhuận của nhà sản xuất và tối đahoá thoả dụng của người tiêu dùng trong các thị trường cạnh tranh

Mô hình WL kết hợp các bảng IO (bảng vào-ra) và hệ cân bằng tổng quátWalras, giúp các nhà phân tích nắm được đầu ra của các ngành kinh tế, giá trị giatăng hoặc việc làm nếu cho trước các thành phần tổng cầu cuối cùng hoặc cácthành phần nhu cầu theo ngành

Trang 16

Mô hình MS dựa vào lý thuyết kỳ vọng hợp lý Trong mô hình này việchình thành kỳ vọng không phải dựa vào giá trị quá khứ của biến phụ thuộc Cácbiến kỳ vọng trong tương lai chỉ có thể đạt được nhờ vào việc giải toàn bộ môhình.

Mô hình kinh tế lượng vĩ mô đầu tiên cho nước đang phát triển doNarasimham(1956) xây dựng cho Ấn Độ dưới sự cố vấn của Tinbergen Những

mô hình đầu tiên dành cho các nước đang phát triển phần lớn là những phiên bảnnhỏ của mô hình KK mô tả phía cầu của nền kinh tế Tính sẵn có của nhiều dữliệu trong hầu hết các nước đang phát triển là một yếu tố cản trở việc xây dựng

mô hình, vì cơ sở dữ liệu không đáng tin cậy và thường xuyên bị điều chỉnh Do

đó chúng ta nên sử dụng phương pháp ước lượng đơn giản như phương phápbình phương tối thiểu hai giai đoạn ít nhạy cảm đối với chất lượng của dữ liệu

Kể từ những năm cuối của thập niên 1970, việc xây dựng mô hình kinh tếlượng vĩ mô đối mặt với nhiều lời chỉ trích Những lời chỉ trích này tựu trung về

6 vấn đề: Thiếu tính dự báo, mâu thuẩn với lý thuyết kỳ vọng hợp lý, tính ổnđịnh của cơ cấu (chỉ trích của Lukas), sự phân chia dữ biến nội sinh- ngoại sinhtrong mô hình để thông qua điều kiện về nhận dạng, và cuối cùng là vấn đềnghiệm đơn vị và đồng tích hợp cũng như tính chất chuổi thời gian cùa dữ liệu

Tuy nhiên Bodkin và Hsiao (1996) cho rằng mô hình kinh tế lượng vĩ môrất hữu ích trong việc phân tích cơ cấu, dự báo và đánh giá chính sách với điềukiện là chúng phải được áp dụng các kiểm định thông số trước và sau khi công

bố Các loại kiểm định mà họ khuyến cáo bao gồm hai nhóm chính: kiểm địnhtừng phương trình riêng lẽ trong mô hình và kiểm định toàn bộ hệ thống môhình Nhóm thứ nhất bao gồm bốn kiểm định nhỏ: kiểm định t va kiểm định Fdùng để kiểm tra mức ý nghĩa thống kê của các hệ số ước lượng, kiểm tra dấucủa hệ số ước lượng có đúng với lý thuyết hay không, các kiểm định phân tíchdùng để kiểm tra các vi phạm giả thiết như tự tương quan, phương sai khôngđồng đều, đa cộng tuyến…, kiểm tra tính ổn định của các phương trình được ướclượng thông qua kiểm định Chow hoặc kiểm định RESET của Ramsey… Nhómthứ hai bao gồm ba kiểm định nhỏ: Đánh giá toàn bộ mô hình thông qua các trị

Trang 17

số thống kê về độ phù hợp như phần trăm sai số trung bình, hệ số Theil…, sai sốđộng của toàn bộ mô hinh phải chấp nhận được, trước khi công bố kết quả môhinh phải kiểm tra xem kết quả mô phỏng chính sách có phù hợp với kỳ vọng vềmặt lý thuyết hay không

Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô phiên bản mới thường nhấn mạnh tầmquan trọng của nguồn vốn con người, tính chất mở cửa thương mại và các yếu tốnhân khẩu học đối với tăng trưởng GDP Guisan và Exposito (2001) đã khảo sáttoàn diện tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước châu Á và châu Phi trong thời kỳ1951-1999 Kết quả thực nghiệm của họ rõ ràng cho thấy các chính sách hướngđến việc phát triển vốn con người và mở cửa thị trường sẽ thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Trong một nghiên cứu khác, Guisan (2004) đã sử dụng dữ liệu chuaỗithời gian hàng năm giai đoạn 1960- 2002 đối với nhiều nước như Trung Quốc,

Ấn Độ, Nhật Bản và nhận thấy rằng: Việc gia tăng trong vốn con người và vốn tưbản cũng như mức độ mở cửa thương mại cao hơn đều đóng góp vào mức tăngtrưởng GDP cao hơn Thật ra, kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra rằng mức độ

mở cửa thương mại cao hơn không những làm tăng cầu nước ngoài như vậy làmtăng GDP mà còn giúp phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Love vàChandra (2004) sử dụng các kỹ thuật đồng tích hợp khác nhau và dữ liệu giaiđoạn 1950-1992 nhận thấy việc mở cửa thương mại có quan hệ dài hạn với mứcgia tăng trong thu nhập thực bình quân đầu người ở Ấn Độ Vì vậy cần phải kếthợp các yếu tố này trong việc xây dựng mô hinh kinh tế lượng vĩ mô cho các nềnkinh tế đang phát triển

2.2 Giới thiệu hệ thống tài khoản quốc gia SNA

Trong SNA, các chỉ tiêu phản ánh về kết quả sản xuất, về mức thu nhập

mà nền kinh tế đạt được được chia thành hai nhóm:

- Nhóm chỉ tiêu tính theo lãnh thổ gồm: Tổng sản phẩm quốc nội GDP vàSản phẩm quốc nội ròng NDP

- Nhóm chỉ tiêu tính theo quyền sở hữu gồm: Tổng sản phẩm quốc dânGNP, Sản phẩm quốc dân ròng NNP, Thu nhập quốc dân NI, Thu nhập cá nhân

PI, Thu nhập khả dụng DI

Trang 18

2.2.1 Phân biệt GDP và GNP

GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sả phẩm cuối cùngđược sản xuất ra trên lãnh thổ một nước tính trong khoảng thời gian nhất địnhthường là một năm

GNP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng

do công dân một nước sản xuất ra trong khoảng thời gian nhất định thường tínhcho một năm

GNP = GDP + NIA

Trong đó, NIA = thu nhập từ các yếu xuất khẩu – Thu nhập từ các yếu tốnhập khẩu

2.2.2 Đo lường GDP

GDP được tính theo 3 phương pháp:

a) Phương pháp sản xuất: được xác định qua hai bước:

- Bước một: xác định giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế:

Giá trị tăng thêm= Giá trị sản xuất- Chi phí trung gian

- Bước hai: xác định GDP:

GDP= Giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế+ Thuế nhập khẩu

b) Phương pháp phân phối (còn gọi là phương pháp thu nhập)

GDP được xác định theo công thức sau:

GDP= Khấu hao +Tiền lương +Tiền thuê +Tiền lãi +Lợi nhuận +Thuế gián thu

- Khấu hao là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cốđịnh

- Tiền lương là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động

- Tiền thuê là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai nhà cửa và cácloại tài sản khác

- Tiền lãi là thu nhập có được do cho vay tính theo một mức lãi suất nhấtđịnh

- Lợi nhuận là khoản thu nhập còn lại của xuất lượng sau khi trừ đi chi phísản xuất

- Thuế gián thu là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập

Trang 19

c) Phương pháp chi tiêu cuối cùng

GDP được xác định theo công thức sau:

GDP= Tiêu dùng cuối cùng +Đầu tư +Xuất khẩu -Nhập khẩu

- Tiêu dùng cuối cùng là một phần của tổng thu nhập quốc gia dùng đểmua sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thầncủa dân cư và nhu cầu chung của xã hội Tiêu dùng cuối cùng được chia thành:chi tiêu dùng của dân cư hộ gia đình, chi tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, chitiêu dùng của các tổ chức không vị lợi phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạtcủa hộ gia đình

- Đầu tư là lượng tiền dung để mua các loại tài sản tư bản như máy mócthiết bị, kho bãi, nhà xưởng… Số tiền này được gọi là tiền mua tư bản mới.Ngoài ra, đầu tư còn bao gồm phần chênh lệch tồn kho giữa cuối năm và đầunăm

-Xuất khẩu là lượng tiền thu được do bán hàng hoá và dịch vụ ra nướcngoài Nhập khẩu là lượng tiền dùng để mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài

2.2.3 Giá cả trong SNA

Trong mức giá của sản phẩm bán trên thị trường có chứa thuế gián thu.Theo các nhà kinh tế, thuế gián thu nhiều hay ít là do chính phủ tự định, nókhông phản ánh được chi phí thực của quốc gia để sản xuất sản phẩm Do đó, cầnphải có một loại chỉ tiêu không bị tác động bởi sự thay đổi các khoảng thuế này

Đó là chỉ tiêu tính theo giá yếu tố sản xuất

Chỉ tiêu tính theo = Chỉ tiêu tính theo - Thuế gián thu

Ngoài ra, khi so sánh các chỉ tiêu qua các năm, nếu sử dụng chỉ tiêu tínhtheo mức giá của từng năm thì có thể xảy ra trường hợp là: do giá tăng làm chochỉ tiêu của năm này cao hơn năm khác, nhưng giá trị định lượng thực tế có thểkhông cao hơn đến mức như vậy Để tránh trường hợp trên, người ta phân biệthai loại chỉ tiêu tính theo giá hiện hành (gọi là chỉ tiêu danh nghĩa) và giá so sánh(gọi là chỉ tiêu thực)

Chỉ tiêu thực = Chỉ tiêu danh nghĩa / Chỉ số giá

Trang 20

Nếu xét theo mốc thời gian, có hai loại chỉ số giá: chỉ số giá so với nămtrước và chỉ số giá so với năm gốc Chỉ số giá so với năm gốc là chỉ tiêu phảnánh mức giá trung bình ở một năm nào đó bằng bao nhiêu phần trăm so với nămđược chọn làm gốc.

2.3 Mô hình IS-LM-BP

Với mô hình IS-LM-BP, chúng ta có thể khảo sát được tác động của cácchính sách tài khoá, tiền tệ và tỷ giá đối với cân bằng trên thị trường sản phẩm,tiền tệ và cán cân thanh toán

2.3.1 Giới thiệu mô hình IS-LM-BP

Đường IS (Investment equals Saving) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữalãi suất r và sản lượng Y mà ở đó thị trường sản lượng cân bằng Bất cứ mức sảnlượng nào nằm trên đường IS cũng đều thoả mãn phương trình:

Y= C +G +I +X-M (1)

Đường LM (Liquidity preference – Money supply) phản ánh các tổ hợpkhác nhau giữa sản lượng và lãi suất mà ở đó thị trường tiền tệ cân bằng Cácmức lãi suất nằm trên đường LM luôn thoả mãn phương trình:

Cung tiền = Cầu tiền (2)

Đường BP (Balance of Payment) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãisuất và sản lượng mà ở đó đảm bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán Cácđiểm nằm trên đường BP luôn thoả mãn phương trình:

Vốn đi vào - Vốn đi ra = Nhập khẩu - Xuất khẩu (3)

Sự cân băng bên trong khi sản lượng và lãi suất được duy trì ở mức mà cảthi trường sản phẩm lẫn thị trường tiền tệ cân

bằng Sự cân bằng bên ngoài xảy ra khi cán cân

thanh toán cân bằng Như vậy nền kinh tế cân

bằng toàn bộ cả bên trong lẫn bên ngoài tại điểm

mà ở đó phải đồng thời thoả mãn ba phương

trình (1), (2), (3) Đó chính là giao điểm của ba

đường IS –LM – BP trên hình bên

BP

Eo

Yor

o

Trang 21

2.3.2 Tác động của chính sách tài khoá

Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá mở rộng bằng cách tăng Ghoặc giảm T Đường IS dịch chuyển sang phải thành IS2, cho trạng thái cân bằngbên trong tại E’nhưng lại mất cân bằng bên ngoài  cán cân thương mại thặng

dư  cung ngoại tệ tăng lên  tỷ giá hối đoái giảm đồng tiền Việt Nam cógiá hơn đồng tiền nước ngoài

Nền kinh tế điều chỉnh như sau:

a) Trong cơ chế tỷ giá thả nổi

Tỷ giá giảm làm sức cạnh tranh của hàng trong nước giảm tăng nhậpkhẩu và giảm xuất khẩu dẫn đến hai kết quả:

- Lượng ngoại tệ đi vào giảm và

lương ngoại tệ đi ra tăng làm đường

BP dịch chuyển sang trái

- Tổng cầu đối với hàng hoá và

dịch vụ trong nước giảm làm cho

đường IS dịch chuyển sang trái

Đường BP và IS dịch chuyển

sang trái cho đến khi đạt đến điểm cân

bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng

cân bằng cùng tăng

b) Trong cơ chế tỷ giá cố định

Ngân hàng trung ương phải dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào nhằm chống

áp lực sụt giảm tỷ giá làm cho LM dịch chuyển sang phải cho đến khi tạo đượcđiểm cân bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng đều tăng

2.3.3 Tác động của chính sách

tiền tệ

Giả sử ngân hàng trung ương thực

hiện chính sách tiền tệ bằng cách tăng

lượng cung tiền LM dịch chuyển sang

phải thành LM2 cắt IS tại E’: Nền kinh tế

BPE

o

Yo

BPE

or

o

E2IS2

Y2r2

E’

Trang 22

cân bằng bên trong nhưng lại mất cân bằng bên ngoài, cán cân thanh toán thâmhụt ngoại tệ đi vào nhiều hơn ngoại tệ đi ra Tỷ giá tăng.

a) Cơ chế tỷ giá thả nổi

-Tỷ giá tăng xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm tổng cầu trong nướctăng IS dịch chuyển sang phải

-Lượng ngoại tệ đi vào tăng, ngoại tệ đi ra giảm đường BP dịch chuyểnsang phải

Đường BP và IS dịch chuyển cho tới khi tạo thành điểm cân bằng mới tại

E2 sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân băng có thể tăng giảm hoặc không đổi

b) Trong cơ chế tỷ giá cố đinh

Ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ ra và thu nội tệ vào làm chođường LM dịch chuyển sang trai Đường LM2 dịch chuyển cho tới khi trở về vịtrí LM cũ Kết quả là sản lượng và lãi suất quay về mức cũ

2.3.4 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái

Ngân hàng trung ương chủ động phá giá khi sản lượng nhỏ hơn mức sảnlượng tiềm năng, nền kinh tế bị thất nghiệp nhiêu Khi sản lượng lớn hơn mứcsản lượng tiềm năng, có lạm phát cao thi ngân hàng trung ương chủ động tănggiá để kéo lạm phát xuống Một khi đã thực hiện chính sách phá giá hay nâng giáthì có nghĩa là quốc gia đang theo cơ chế tỷ giá cố định

Giả sử chính phủ thực hiện chính sách phá giá làm tăng tỷ giá để khuyếnkhích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu tăng tổng cầu và tăng lượng ngoại tệ đivào đường IS và BP dịch chuyển sang phải Ngoài ra khi phá giá ngân hàngtrung ương phải bỏ nội tệ ra mua ngoại tệ vào đường LM dịch chuyển sangphải Cả ba đường IS- LM-BP cùng dịch chuyển sang phải làm cho sản lượngcân bằng tăng, lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi

Trang 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp sau:

2.4.1.Phương pháp kinh tế lượng: được áp dụng trong việc ước lượng,

kiểm định phân tích mô hình, bao gồm:

Thủ tục Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (TSLS)

Phương pháp TSLS cũng dựa trên nguyên tắc tương tự như trong phươngpháp Bình phương tối thiểu thông thường (OLS) là cực tiểu tổng các phần dưbình phương Tuy nhiên, nếu dùng thủ tục OLS để ước lượng các thông số của hệthống các phương trình đồng thời, thì giá trị ước lượng sẽ bị thiên lệch và khôngnhất quán Các dự báo dựa vào chúng cũng sẽ bị thiên lệch và không nhất quán,các kiểm định giả thuyết về các thông số không có hiệu lực Để có thể khắc phụcnhững vấn đề trên, một trong những phương pháp có thể thay thế là TSLS Thủtục TSLS được tiến hành qua hai giai đoạn như sau:

- Giai đoạn một: Trước tiên, ước lượng dạng rút gọn đối với tất cả cácbiến nội sinh xuất hiện ở vế bên phải của các phương trình Lưu lại các giá trịước lượng này

- Giai đoạn hai: Ước lượng phương trình cấu trúc nhưng sử dụng công cụ

là các biến nội sinh dự đoán thu được trong giai đoạn một

Kiểm định t và p-value

Kiểm định t dùng để kiểm định ý nghĩa thống kê của từng hệ số ước lượngriêng lẽ Các bước thực hiện như sau:

Giả sử phương trình ước lượng là: Yt= α + ∑(βiXit) + ut

- Bước 1: Giả thiết H0: βi= β0, H1:βi#β0

- Bước 2: Kiểm định thống kê tc= (β^ - β0)/sβ^, được tính dựa trên mẫu.Theo giả thiết không, kiểm định thống kê có phân phối t với bậc tự do là n-k (n là

số quan sát, k là hệ số ước lượng)

- Bước 3: Chọn mức ý nghĩa α và xác định điểm t*n-k, α sao cho P(t>t*)=α -Bước 4: Bác bỏ H0 nếu │tc│> t*

Kiểm định t có thể được thực hiện theo một phương pháp khác tươngđương Trước tiên tính xác suất: p-value = P(t>tc hoặc t<-tc)=P (sai lầm loại I)

Trang 24

Xác suất này là phần diện tích bên phải tc trong phân phối t và là xác suất loại bỏgiả thuyết H0 Xác suất này cang cao cho thấy hậu quả của việc loại bỏ sai lầmgiả thuyết đúng H0 càng nghiêm trọng Như vây, nếu p-value nhỏ hơn α, ta có thểbác bỏ giả thuyết H0 và kết luận rằng: β > β0 một cách đáng kể ở mức ý nghĩa α.

Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Ta có thể sử dụng kiểm định DW để kiểm định hiện tượng tự tương quan Tuy nhiên kiểm đinh DW có hạn chế trong nhiều trường hợp:

- Kiểm định cho các kết quả không thể kết luận được

- Kiểm định DW không hợp lệ nếu các biến giải thích bao gồm biến phụthuộc trễ

- Kiểm định không thể áp dụng nếu các sai số từ hồi quy có bậc cao hơn 1.Trong những trường hợp nêu trên, một lựa chọn khác thay thế là kiểmđịnh nhân tử LM Tuy nhiên, kiểm định LM thường là kiểm định mẫu lớn Cácbước thực hiện kiểm định LM như sau:

- Bước 1: Ước lượng phương trình chính và tính toán các phần dư

- Bước 2: Hồi quy ut^ theo một hằng số, các biến giải thích trong phươngtrình chính và ut-k^ Tính toán trị kiểm định LM = (n-k)R2 từ hồi quy phụ này

- Bước 3: Bác bỏ giả thuyết H0 cho rằng không có hiện tượng tự tươngquan nếu LM > χk(α)

Kiểm định đặc trưng của mô hình

Một trong những cách dùng để kiểm định xem mô hình đã được đặc trưngđúng hay chưa là sử dụng kiểm định RESET (kiểm định sai số đặc trưng hồi quy)

do Ramsey (1969) đề ra Cơ sở của thủ tục RESET là các phần dư ước lượng màđại diện cho tác động của biến bị loại bỏ có thể được tính xấp xỉ bằng tổ hợptuyến tính của các luỹ thừa của các giá trị được thích hợp Nếu các luỹ thừa này

có tác động có ý nghĩa thì mô hình gốc được coi như đã bị đặc trưng sai Tuynhiên, thủ tục RESET không chỉ ra được loại đặc trưng sai và cũng không gợi ýdạng hàm thích hợp cần sử dụng Các bước thực hiện thủ tục RESET như sau:

- Bước 1: Ước lượng mô hình theo thủ tục OLS và lưu các giá trị đượcthích hợp Yt^

Trang 25

- Bước 2: Thêm các biến Yt^2,Yt^3 ,Yt^4 vào mô hình ở bước 1 và ướclượng mô hình mới

- Bước 3: Thực hiện kiểm định F-Wald cho việc loại bỏ ba biến mới trongbước 2 Nếu giả thuyết không cho rằng các biến mới không có hiệu ứng bị bác bỏthì đó chính là dấu hiệu của sai số đặc trưng

Kiểm định nghiệm đơn vị

Phương trình kiểm định có dạng:

∆Yt = α +λYt-1 + ∑θi∆Yt-i + ut

Kiểm định nghiệm đơn vị cho λ=0 cho mô hình này được biết đến với tênkiểm định Dickey-Fuller mở rộng (ADF) Các bước cụ thể như sau:

- Bước 1: H0: λ=0 (có nghiệm đơn vị), H1: λ<0

- Bước 2: Hồi quy ∆Yt theo một hằng số, Yt-1, ∆Yt-1, ∆Yt-p Tính trị thống

X và Y không đồng tích hợp

2.4.2 Phương pháp mô tả:: được dùng để mô tả quá trình phát triển kinh

tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, mô tả kết quả ước lượng mô hình, v.v

2.4.3 Phương pháp phân tích: được dùng để phân tích tính chất mô

hình, phân tích kết quả thử nghiệm các chính sách vĩ mô, v.v

Trang 26

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN

3.1 Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Hiện nay, việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô cho nền kinh tế ViệtNam được thực hiện ở mức thử nghiệm ban đầu ở các cơ quan nghiên cứu kinh

tế, các bộ ngành quản lý kinh tế Các tài liệu này chưa được phổ biến rộng rãi

Các tài liệu liên quan mà đề tài có thể tiếp cận được bao gồm: “National

Accounting Framework and A Macroeconometric Model for Vietnam” do Viện

nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) phối hợp với Viện nghiên cứu

kinh tế Đức (DIW) thực hiện, và “Macroeconomic Adjustment in A Transition

Economy: The Case of Vietnam”, luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thi Nhiem

độ tăng trưởng của các đối tác thương mại quan trọng, giá cả ở Mỹ, cung tiềnM2, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ, giá cả nông sản, dầu thô Môhình sử dụng dữ liệu giai đoạn 1990-1998 và sử dụng phương pháp OLS để ướclượng các hệ số Vì chuỗi dữ liệu khá ngắn nên chỉ hai hoặc ba biến giải thíchđược đưa vào mỗi phương trình Các tác giả sử dụng mô phỏng kiểm định (expost simulation) để đánh giá chất lượng mô hình trong việc giải thích quá trìnhphát triển kinh tế trong quá khứ Hai kịch bản được xây dựng với các giả địnhkhác nhau đối với các biến ngoại sinh để mô phỏng tác động của các chính sáchkinh tế và dự báo các biến nội sinh

Trang 27

Mô hình của tác giả Phan Thi Nhiem (2003) dùng để phản ánh quá trìnhcải cách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, bao gồm các chính sách cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước, tự do hóa thị trường tài chính và ngoại thương, tăng đầu tưchính phủ cho hạ tầng cơ sở kinh tế Mô hình này được xây dựng và phát triểndựa trên mô hình của Harvie và Lee (1996) và Harvie và kearney (1996) Các giảđịnh chủ yếu trong mô hình là: các tác nhân kinh tế đều có kỳ vọng hợp lý; thịtrường tài chính luôn trong tình trạng cân bằng liên tục vì các biến tài chính cóthể điều chỉnh ngay lập tức, trong khi các thị trường phi tài chính có thể trongtình trạng không cân bằng trong quá trình điều chỉnh do tiền lương được giả định

là cứng nhắc; ngoài ra, các chính sách cải cách được lựa chọn trong mô hình tácđộng lên nền kinh tế gián tiếp thông qua tỷ giá hối đoái thực, và trực tiếp thôngqua quá trình tích lũy vốn và cán cân thương mại; và giả định chủ yếu cuối cùng

là nền kinh tế vận hành trong cơ chế tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định và chínhphủ kiểm soát thị trường vốn ở mức độ cao Với mục tiêu và các giả định vừa

nêu, mô hình có các đặc điểm cơ bản như sau Thứ nhất, mô hình chia tổng cung trong nước thành hai nguồn chính là khu vực nhà nước và ngoài nhà nước Thứ

hai, mô hình có thể được dùng để đánh giá tác động của chính sách phá giá đồng

nội tệ và cắt giảm thuế quan đối với nền kinh tế Thứ ba, mô hình nhấn mạnh tầm

quan trọng của chi tiêu chính phủ, bao gồm hai thành phần: tiêu dùng chính phủ

và đầu tư của chính phủ

3.2 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam

3.2.1 Tổng quan các giai đọan phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Giai đoạn 1986-1990 Đây là giai đoạn đầu thời kỳ Đổi Mới với việc chủ

yếu là đổi mới cơ chế quản lý Tuy nhiên, trong những năm đầu của kế hoạch 5năm này, cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên Đổi Mới chưa

có hiệu quả đáng kể Cho đến những năm cuối thập kỷ 80, nền kinh tế mới bắtđầu có sự chuyển biến rõ rệt Năm 1988, Việt Nam đưa ra chế độ khoán nôngnghiệp, giúp Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất

Trang 28

khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới vào năm 1990 Một thành công lớn khác là siêulạm phát đă được kiểm soát tốt (năm 1986 lạm phát là 774,7 %, thì năm 1987 là223,1 %, 1989 là 34,7% và 1990 là 67,4 %) Nhìn chung, kết quả đạt được tronggiai đoạn này là sản xuất được phục hồi, kinh tế tăng trưởng, lạm phát bị đẩy lùi

Giai đoạn 1991-1995 Giai đoạn này nền kinh tế vẫn bị bao vây, cấm vận,

trong khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ rơi vào khủnghoảng trầm trọng Thương mại giữa Việt Nam với khu vực này giảm sút đột ngột(tổng mức lưu chuyển ngoại thương với khu vực này năm 1991 chỉ bằng 15,1%năm 1990) Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn Đổi Mới đã phát huy tác dụng :

- Cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi căn bản Nền kinh tế xuất hiện nhiềuthành phần, trong đó kinh tế ngoài quốc doanh chiến 60% tổng sản phẩm trongnước

- Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao Trong 5 năm 1991-1995, GDPbình quân tăng 8,2%/ năm Sản xuất trong nước đã có tích luỹ, đảm bảo trên 90%quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng hàng năm

- Đổi mới cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăngdần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nôngnghiệp

- Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại Ngày 28/07/1995, Việt Nam trởthành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).Cũng trong tháng 7/1995, Việt Nam bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ.Việt Nam cũng đă nộp đơn xin gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- TháiBình Dương (APEC) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Giai đoạn từ 1996-2000 Trong 2 năm 1996- 1997, nền kinh tế phát triển

tốt, GDP bình quân đạt hơn 9%/ năm Giá trị sản xuất nông- lâm- ngư nghiệptăng bình quân 4,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,8% Lạm phát tiếp tụcđược kiểm soát : năm 1996 là 4,5% và năm 1997 là 4,3% Tuy nhiên, từ giữanăm 1997, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á và ảnhhưởng nặng nề của thiên tai, nền kinh tế Việt Nam đă gặp nhiều khó khăn Tốc

Trang 29

độ tăng trưởng GDP liên tục suy giảm: năm 1996 đạt 9,34%; năm 1997 đạt8,15%; 1998 chỉ còn 5,83% và năm 1999 chỉ đạt 4,8%

Giai đoạn 2001-2005 Giai đoạn này Việt Nam đối mặt với nhiều thách

thức trong và ngoài nước như : thiên tai vẫn xảy ra hàng năm, dịch SARS, dịchcúm gia cầm tái phát từ năm 2003 đến nay, sự kiện khủng bố 11-9-2001 tại Mỹ,cuộc chiến tranh tại Irắc, v.v Tình hình thị trường và giá cả hàng hoá, dịch vụdiễn biến rất phức tạp như : giá xăng dầu, phôi thép tăng đột biến, thị trường xuấtkhẩu thu hẹp nhất là hàng dệt may, giày dép, nông sản, v.v do các vụ kiện bánphá giá Mặc dù bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thách thức như trên, tốc

độ tăng GDP vẫn tăng đều qua các năm (từ năm 2001 đến 2005, GDP tăng lầnlượt là 6,9%  7,08%  7,34%  7,7%  8,43%) Cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm thuỷ sản Tuy nhiên, sự chuyển dịchnày vẫn không thể hiện rõ ràng, tích cực trong giai đoạn 2001-2005, cụ thể nhưbảng sau :

Bảng 1: Cơ Cấu Nền Kinh Tế 2001-2005

Nguồn: Tổng cục thống kê và Thời báo kinh tế Việt Nam

Giai đoạn này, tỷ lệ tích lũy trong nước so với GDP đạt 29,4%/ năm, trong

đó tích lũy từ khu vực dân cư và doanh nghiệp khoảng 23,4%, khu vực nhà nước6%.Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng bình quân khoảng 10,3%/năm Tỷ lệhuy động nguồn vốn nội địa cho đầu tư phát triển trung bình hàng năm đạt 80%.Đối với vốn đầu tư nước ngoài, tổng số vốn đăng ký 5 năm đạt trên 19 tỷ USD(kể cả vốn đầu tư bổ sung), tổng số vốn thực hiện đạt 13,6 tỷ USD, tăng 4,5% sovới thời kỳ trước

Trang 30

Tuy giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành quả khích

lệ, nhưng vẫn còn nhiều dấu hiệu cảnh báo về sự tăng trưởng thiếu bền vữngnhư:

- Mức đầu tư cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp sẽ hạn chế khả năng tăngtrưởng trong dài hạn

- Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trì trệ hơn các thành phần khác,

và quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn diễn ra chậm

- Bất đồng giữa người lao động và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài về vấn đề lương bổng và điều kiện làm việc có dấu hiệu gia tăng

- Các doanh nghiệp trong nước phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế trong khiViệt Nam sẽ mở cửa nền kinh tế rộng lớn hơn khi được kết nạp làm thành viênchính thức của WTO trong năm 2006

- Tệ nạn tham nhũng đang diễn ra nghiêm trọng trong bộ máy hành chínhnhà nước Đây là một trong những lực cản nặng nề nhất đối với quá trình pháttriển kinh tế của Việt Nam

- Mối quan hệ cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường chưa được coi trọng đúng mức

Kế hoạch phát triển kinh tế 2006-2010 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu là:

Tổng sản phẩm trong nước năm 2010 theo giá so sánh gấp 2,1 lần so với năm

2000, GDP bình quân đẩu người khoảng 1050-1100 USD/ người; tốc độ tăngtrưởng GDP bình quân là 7,5-8%/ năm; cơ cấu kinh tế năm 2010 là nông-lâm-thuỷ 15-16%, công nghiệp-xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%; v.v

Dự báo quan hệ tích luỹ và tiêu dùng: Tổng quỹ tiêu dùng 5 năm đạt4496- 4548 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 68-69% GDP Tỷ lệ tiêu dùng trên GDP

có xu hướng giảm so với giai đoạn 2001-2005 là cần thiết để tăng tích luỹ chocông nghiệp hoá và thu hẹp tỷ lệ nhập siêu so với GDP Tuy nhiên do tốc độ tăngtrưởng sản xuất khá cao nên tốc độ tăng trưởng quỹ tiêu dùng 5 năm vẫn đạttrung bình 12,5-13,5%/ năm Tổng quỹ tích lũy 5 năm đạt 2645-2740 nghìn tỷ

Trang 31

đồng, bằng khoảng 40,4-40,9% GDP Khả năng huy động tiết kiệm nội địa vàođầu tư đạt khoảng 85%.

Dự báo cân đối cán cân thanh toán quốc tế: Cán cân thương mại trungbình mỗi năm thâm hụt khoảng 3 tỷ USD, do doanh nghiệp Việt Nam phải nhậpkhẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để mở rộng đầu tư và sản xuấttrong nước Thâm hụt cán cân dịch vụ và đầu tư dự kiến tiếp tục tăng nhẹ quatừng năm, tính chung thâm hụt 5 năm khoảng 12,1 tỷ USD Thặng dư cán cânchuyển tiền chính thức và tư nhân dự kiến sẽ tăng dần qua các năm, tính chungthặng dư 5 năm có thể đạt 16,8 tỷ USD Tóm lại, cán cân vãng lai (bao gồm 3loại cán cân nêu trên) dự kiến thâm hụt trung bình 2,1 tỷ USD/ năm giai đoạn2006-2010 Đối với cán cân vốn, trung bình sẽ thặng dư 3,6 tỷ USD/ năm.Do cáncân vốn thặng dư lớn nên cán cân thanh toán quốc tế tổng thể 5 năm sẽ thặng dưtrung bình 0,8 tỷ USD/ năm

3.2.2 Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam trong thời gian qua

Công cụ lãi suất

Trước năm 1988, chính phủ thực hiện chế độ hỗ trợ lãi suất thể hiện ở việclãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền gửi Các ngân hàng duy trì các mức lãi suấtcho vay khác nhau đối với cho vay nông nghiệp, công nghiệp và thương mại.Mức biến thiên lãi suất này thể hiện ưu tiên đầu tư vào những lĩnh vực cụ thể,thay vì phản ánh rủi ro tương đối của các dự án đầu tư Từ năm 1990, Ngân hàngNhà nước đưa ra trần lãi suất cho vay tối đa đối với cả nội tệ và ngoại tệ, phânbiệt theo khu vực kinh tế

Đến năm 1992, lãi suất cho vay đã được nâng lên cao hơn lãi suất tiền gửi

- một yêu cầu thiết yếu cho sự hoạt động thông thường của các ngân hàng Vào

Trang 32

năm 1993, việc phân biệt lãi suất cho vay theo khu vực kinh tế được loại bỏ vàchỉ còn được phân biệt theo cho vay đầu tư cố định và cho vay vốn lưu động.Tuy vậy, lãi suất cho vay đầu tư vốn cố định lại thấp hơn lãi suất cho vay vốn lưuđộng, tạo ra một cơ cấu lãi suất ngược không phù hợp Tức là, lãi suất dài hạnthấp hơn lãi suất ngắn hạn Chính sách này làm cho các ngân hàng không hề cóđộng cơ khuyến khích cho vay dài hạn Mãi cho đến năm 1996, lãi suất cho vayngắn hạn mới giảm xuống thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn.

Vào tháng 8 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đưa ra một cơ chế lãi suấtmới trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất

cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố Tuy nhiên, các ngân hàng không đượctính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản cộng 0,3%/tháng đối với vốn ngắnhạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất sovới lãi suất cơ bản về bản chất không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trướcđây Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộng biên độ) được định ởmức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều

Từ ngày 1/6/2002, Ngân hàng nhà nước chuyển từ cơ chế điều hành lãisuất cơ bản Đồng Việt Nam sang cơ chế lãi suất thỏa thuận Đồng Việt Nam củacác tổ chức tín dụng đối với khách hàng Cơ chế mới này tạo ra sự sôi động tronghoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, từng bước minhbạch hoá thị trường tài chính

Công cụ tỷ lệ dữ trữ bắt buộc Tháng 8/2003, Ngân hàng nhà nước đã

giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cả ngoại tệ và nội tệ để hạ nhiệt thị trường tiền tệ quánóng sau khi thực hiện cơ chế lãi suất tự do từ 6/2002 Đến tháng 7/2004 khi chỉ

số giá tiêu dùng những tháng đầu năm tăng cao, Ngân hàng nhà nước đã điềuchỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi dưới 24 tháng bằngĐồng Việt Nam và cả ngoại tệ Đồng thời, để khuyến khích các tổ chức tín dụng

sử dụng vốn có hiệu quả, tránh tăng lãi suất dẫn đến dư thừa vốn Đồng ViệtNam, Ngân hàng nhà nước đã thay đổi phương thức trả lãi đối với tiền gửi dự trữbắt buộc bằng Đồng Việt Nam Theo đó, Ngân hàng nhà nước chỉ trả lãi cho tiềngửi dự trữ bắt buộc mà không trả lãi cho phần tiền gửi dự trữ bắt buộc vượt

Trang 33

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở Ngày 12/7/2000, Ngân hàng thương

mại Việt Nam chính thức đưa công cụ nghiệp vụ thị trường mở vào hoạt động.Đây là sự chuyển biến quan trọng từ việc sử dụng các công cụ trực tiếp sang sửdụng các công cụ gián tiếp theo tín hiệu của thị trường trong điều hành chínhsách tiền tệ Trong các hình thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở thì việcngân hàng thương mại mua các giấy tờ có giá là chủ yếu Năm 2004, Ngân hàngnhà nước đã sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản với chi phí thấp qua các kênh nhất lànghiệp vụ thị trường mở, góp phần duy trì ổn định lãi suất thị trường

Công cụ tỷ giá hối đoái

Từ năm 1989-1992, tỷ giá được “thả nổi” Tuy nhiên với những mặt tồntại của việc thả nổi tỷ giá, chính phủ đã thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá Ngânhàng nhà nước quy định biên độ giao động của tỷ giá so với tỷ giá chính thứcđược công bố; tăng cường các biện pháp hành chính như buộc các đơn vị kinh tế

có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định Mặt khác, chính phủ giatăng mạnh quỹ dự trữ ngoại tệ, lập quỹ bình ổn giá để có thể can thiệo vào tỷ giá

Do đó, trong giai đoạn này, đồng Đô-la Mỹ có nhiều biến động trên thị trườngtiền tệ quốc tế nhưng lại khá ổn định tại thị trường tiền tệ Việt Nam

Vào tháng 7/1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á nổ ra đã

ít nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam Trong bối cảnh đó, chính sách tỷ giácủa Việt Nam có những điều chỉnh nhỏ như sau: ngân hàng nhà nước thườngxuyên điều chỉnh tỷ giá chính thức, biên độ giao dịch, nhằm đưa chế độ bán thảnổi về mức thả nổi hơn so với giai đoạn trước để góp phần hạn chế những cơnsốc xuất phát từ thị trường thế giói có thể xảy ra đối với nền kinh tế

Ngày 26/2/1999, ngân hàng nhà nước đã thay đổi cách xác định tỷ giáchính thức Trước đó, việc xác định tỷ giá không dựa vào tính hiệu thị trường Từtháng 2/1999, tỷ giá chính thức được công bố hằng ngày được xác định trên cơ

sở bình quân mua bán thực tế trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngàygiao dịch gần nhất trước đó Cơ chế này vẫn đang được áp dụng cho đến nay

Trang 34

3.2.2.2 Chính sách tài khóa

Những năm qua ngân sách nhà nước không ngừng tăng thu từ thuế và phítrong tổng các nguồn thu Chính sách thuế đổi mới theo hướng đa dạng hoá cơ sởthuế Mỗi năm thu thuế chiếm khoảng 13% GDP Quy mô thu ngân sách tăng cả

về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP mặc dù chính phủ thực hiện nhiều chínhsách ưu đãi, miễn giảm thuế như: miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, bỏ thu sửdụng vốn, để lại tiền trích khấu hao tài sản cho doanh nghiệp tái đầu tư, cắt giảmthuế quan trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, v.v Tốc độ tăng thu ngânsách năm sau so với năm trước luôn đạt mức tăng gấp 1,5 đến 2 lần tốc độ tăngGDP trong cùng năm Cơ cấu thu chuyển biến theo hướng tăng thu từ khu vựckinh tế ngoài nhà nước Thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới xuất hiện

từ năm 1994 nhưng đến nay đã chiếm 9,8% tổng thu ngân sách nhà nước Thu từthuế xuất nhập khẩu năm 1995 chiếm 24,9% tổng thu ngân sách, nhưng nay có

xu hướng giảm mạnh, năm 2005 chỉ chiếm 11,9% tổng thu ngân sách

Chi ngân sách chủ yếu do nhu cầu chi tiêu thường xuyên, chiếm 65% tổngchi ngân sách giai đoạn 2000-2002, và đến giai đoạn 2003-2005 giảm còn 60%.Chi đầu tư chiếm tỷ trọng thấp nhưng vẫn tăng qua các năm Cơ cấu chi ngânsách được thực hiện theo hướng tăng tỷ lệ chị cho đầu tư phát triển (năm 1991 tỷ

lệ này là 22,3% và đến năm 2004 tăng lên 30,1%), thực hiện cải cách tiền lươngkết hợp với tinh giản biên chế, giảm mạnh các khoản chi bao cấp như hỗ trợdoanh nghiệp nhà nước, cấp vốn lưu động, v.v Chi ngân sách cho phát triển sựnghiệp giáo dục giai đoạn 1991-2005 tăng bình quân 24,5%/ năm; chi cho hoạtđộng khoa học công nghệ năm 2000 tăng 22 lần so với năm 1991, v.v

Về cân đối ngân sách, tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở mức ổn định dưới 5%GDP như mục tiêu đề ra Nguồn tài trợ thâm hụt ngân sách tăng cường theohướng dựa vào nguồn trong nước Còn đối với vốn tài trợ nước ngoài thì chủ yếu

là vốn ODA từ các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài

34

Trang 35

3.2.2.3 Phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Phối hợp trong việc tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước

Đối với vay nước ngoài, thực hiện chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài

và vay dài hạn, không vay thương mại nước ngoài cho đầu tư phát triển Dư nợchính phủ hiện nay ở mức 35% GDP (năm 2005) là mức an toàn, đảm bảo anninh tài chính quốc gia Đối với vay nợ trong nước: hàng năm ngân sách phảihuy động một khoản tiền nhàn rỗi trong nước tương đối lớn để bù đắp bội chingân sách nhà nước Để việc huy động vốn không ảnh hưởng lớn đến thị trườngtiền tệ, việc vay vốn nhàn rỗi từ sẽ được thực hiện từ các quỹ tài chính nhà nướcnhư Quỹ bảo hiểm xã hội, v.v Phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu,tín phiếu chính phủ

Mặc dù có những thành công bước đầu như vậy, nhưng việc phối hợp haichính sách tài khóa và tiền tệ trong việc tài trợ thâm hụt ngân sách vẫn còn nhiềuhạn chế Ví dụ như, để tài trợ thâm hụt ngân sách, chính sách tiền tệ cần phải tínhtoán kỹ để xác định khối lượng tiền cần bơm hút, trong khi đó bộ tài chính lạiquy định tần suất tiến hành các phiên đấu thầu chứng khoán nợ, quy định lãi suấtchứng khoán chính phủ và lãi suất trái phiếu phát hành qua ngân hàng nhà nướcluôn bị đây lên tối đa; điều này gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền

tệ Ngoài ra, chính phủ thường xuyên phát hành trái phiếu, tín phiếu Theo đó,lượng tiền hút về hoặc bơm ra từ kênh tiền gửi chính phủ và cho vay chính phủtương đối lớn Trong khi đó, khoản tiền gửi của chính phủ tại các ngân hàngthương mại chiếm tới 80% tổng tiền gửi của chính phủ tại hệ thống ngân hàng đãhạn chế việc kiểm soát tiền tệ của ngân hàng nhà nước Tính độc lập của ngânhàng nhà nước trong bộ máy chính phủ còn rất hạn chế, tạo sự phụ thuộc củachính sách tiền tệ vào chính sách tài khóa Việc chính sách tài khoá đa mục tiêukéo theo chính sách tiền tệ đa mục tiêu, mà những mục tiêu này có khả năngxung đột với nhau trong trung và dài hạn, đặc biệt là ổn định giá trị đồng tiền vàtăng trưởng kinh tế Chính sách tiền tệ phải neo vào các mục tiêu ngắn hạn củachính phủ, tạo áp lực lớn lên việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhànước

35

Trang 36

Phối hợp trong kiềm chế lạm phát

Đầu những năm đổi mới, lạm phát xảy ra ở mức rất cao (lần lượt các năm

1986 đến 1988, tỷ lệ lạm phát là 774,7%  223,1%  349,4%) Để đẩy lùi lạmphát, đối với chính sách tài khoá, chúng ta thực hiện nguyên tắc bố trí chi ngânsách trên cơ sở thu ngân sách; bội chi ngân sách phần lớn thực hiện bằng nguồnvốn vay ngoài nước Đối với chính sách tiền tệ, giảm dần phát hành tiền để bùđắp và đến năm 1991, chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách.Ngoài ra, cuối năm 1989, lần đầu tiên chính sách lãi suất thực dương được thựchiện với mức lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại lên đến144%/năm Đến năm 1993, tỷ lệ lạm phát chỉ còn 5,2% và lạm phát một con sốđược duy trì trong thời gian dài

Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã làm tốc độ tăng trưởngkinh tế chậm lại, lạm phát có xu hướng tiểu phát Giải quyết tình trạng này, chínhsách tài khoá nới lỏng được thực hiện bằng việc ngoài phần bội chi hàng năm,phát hành nhiều tỷ đồng công trái để kích cầu đầu tư, thông qua đó giải quyếtkhó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Ngoài ra,chính phủ còn thực hiện một loạt các biện pháp xúc tiến thương mại, tìm kiếm thịtrường xuất khẩu cũng được tiến hành Đối với chính sách tiền tệ, ngân hàng nhànước chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và lãi suất cho vay, điều chỉnh tỷ lệ

dự trữ bắt buộc để đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý Về tỷ giá,ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá trên cơ sở tỷ giá bình quân liên ngân hàngcuối ngày hôm trước cho ngày hôm sau để đảm bảo tỷ giá cơ bản theo sát tỷ giáthực trên thị trường

36

Trang 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Xây dựng mô hình

4.1.1 Mô tả tổng quát cấu trúc mô hình

Như đã được trình bày trong Phạm vi nghiên cứu (xem Chương 1), đề tàichỉ tập trung vào phía Cầu của nền kinh tế Cụ thể, mô hình bao gồm các phươngtrình hành vi về Tiêu dùng hộ gia đình, Đầu tư, Xuất khẩu và Nhập khẩu Chitiêu chính phủ được xem là biến chính sách (biến ngoại sinh) trong mô hình

Lãi suất là biến số quan trọng của phía Cầu Tuy nhiên trong mô hình này,lãi suất được xem là biến ngoại sinh Điều Tại Việt Nam, lãi suất trên thị trườngtiền tệ không được quyết định bằng quan hệ cung-cầu tiền tệ, mà được kiểm soáttrực tiếp bằng các áp đặt hành chính của ngân hàng nhà nước trong một thời giandài Mãi đến tháng 6/2002, lãi suất mới được tự do hoá trên thị trường tiền tệ Do

đó, chuỗi dữ liệu lãi suất kể từ năm 2002 quá ngắn, không thể dùng để ước lượngphương trình hồi quy

Tiêu dùng hộ gia đình Có nhiều yếu tố tác động đến tiêu dùng của hộ

gia đình như thu nhập, của cải, giá cả hàng hóa dịch vụ, các kỳ vọng của người

tiêu dùng, v.v Mô hình này khảo sát hai yếu tố cơ bản là thu nhập khả dụng và

lãi suất tiền gửi 3 tháng Khi thu nhập tăng, chúng ta kỳ vọng tiêu dùng của hộ

gia đình cũng tăng Mối quan hệ với lãi suất thì ngược lại: khi lãi suất tiền gửităng lên sẽ tạo động cơ cho hộ gia đình hạn chế tiêu dùng, và tăng phần tiết kiệm

để cho vay hưởng lãi

Đầu tư Hai yếu tố quan trọng tác động đến đầu tư là sản lượng và lãi

suất (trong mô hình, lãi suất cho vay ngắn hạn được sử dụng ) Sản lượng và đầu

tư có quan hệ đồng biến Khi sản lượng tăng tức là doanh nghiệp bán được nhiềuhàng hóa, dịch vụ, thu được nhiều lợi nhuận và điều này tạo động lực cho doanhnghiệp gia tăng đầu tư nhằm tăng sản lượng bán ra và tăng lợi nhuận Trong khi

đó, lãi suất và đầu tư có quan hệ nghịch biến Lãi suất là chi phí vốn

Trang 38

Do đó khi lãi suất tăng cao tức là khoản chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên,ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp Điều này khiến doanh nghiệp khôngmuốn vay vốn với chi phí cao để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, và kết quả làđầu tư giảm.

Xuất khẩu Mô hình khảo sát xuất khẩu với hai yếu tố tác động là cầu thế

giới và và tỷ giá hối đoái Trong điều kiện nước ta có quan hệ thương mại với

các nước trên thế giới, thì khi cầu thế giới tăng lên, một phần cầu này rơi vàohàng sản xuất trong nước ta Do đó xuất khẩu sẽ tăng lên Tỷ giá hối đoái (trong

mô hình, tỷ giá hối đoái được định nghĩa là giá của một đồng ngoại tệ tính theođồng nội tệ, cụ thể là VND/USD) cũng có quan hệ đồng biến đối với xuất khẩu.Khi tỷ giá hối đoái tăng, tức là đồng nội tệ mất giá sẽ khiến cho hàng hóa trongnước rẽ hơn so với hàng hóa nước ngoài Do đó, hàng hóa trong nước sẽ tăngtính cạnh tranh so với hàng nước ngoài và thúc đẩy gia tăng xuất khẩu

Nhập khẩu Nhập khẩu của nước ta là xuất khẩu của thế giới Do đó, mô

hình cũng khảo sát hai yếu tố tác động quan trọng là cầu trong nước và tỷ giá hối

đoái Khi cầu trong nước tăng thì một phần cầu này rơi vào hàng hóa của các

nước khác và làm tăng nhập khẩu Khi tỷ giá hối đoái tăng thì hàng hóa trongnước rẻ hơn hàng hóa thế giới, do đó làm giảm nhập khẩu

4.1.2 Mô tả phương pháp ước lượng, các biến số và dữ liệu

4.1.2.1 Phương pháp ước lượng

Mô hình sử dụng phương pháp Bình phương tối thiểu hai giai đoạn(TSLS) để ước lượng các phương trình hành vi (Xem Chương 2) Đây là phươngpháp phổ biến dùng để ước lượng các phương trình đồng thời trong một hệphương trình Toàn bộ quá trình ước lượng và thử nghiệm chính sách đều đượcthực hiện trên phần mềm kinh tế lượng Eviews 4.1

Đề tài áp dụng cách tiếp cận mô hình hóa “Từ Tổng Quát đến Đơn Giản”

hay còn gọi là phương pháp Hendry/LSE Theo đó, mô hình bắt đầu với hìnhthức tổng quát động bao gồm nhiều biến số và độ trễ Sau đó, mô hình được đơngiản hóa dựa trên dữ liệu Thông qua kiểm định t và kiểm định độ thích hợp tổng

Trang 39

quát của mô hình, những biến nào có hệ số có ý nghĩa thấp nhất sẽ được loại bỏdần dần Cách tiếp cận này cho kết quả là mô hình có đặc trưng xúc tích hơn, dễhiểu hơn và làm tăng độ chính xác, độ tin cậy của các hệ số ước lượng và các trịthống kê kiểm định.

4.1.2.2 Mô tả biến số và dữ liệu

Phần lớn các biến số trong mô hình tổng quát đầu tiên được thể hiện ởdạng log Mô hình log-log có những ưu điểm như:

-Thứ nhất, các phương trình kinh tế thường không ở dạng tuyến tính (Fair,2006); các biến số ở dạng log thường giúp chuyển hoá dữ liệu tốt hơn, và nhưvậy tạo nên đặc trưng mô hình tốt hơn (mô hình có dạng hàm số phù hợp hơn)

- Thứ hai, trong mô hình log-log, các hệ số ước lượng cho ta ngay kết quảcủa hệ số co giãn, bởi có thể chứng minh bằng toán học rằng các hệ số ước lượngtrong mô hình log-log cũng chính là các hệ số co giãn (Xem Phụ lục 8)

Ngoài ra, các biến nội sinh trong mô hình tổng quát còn được giải thíchtheo biến trễ của chính nó và có thể có các biến giải thích trễ Lý do các biến trễđược đưa vào mô hình là vì các biến số kinh tế thường có tác dụng trễ sau mộthoặc một số thời đoạn nào đó (Fair, 2006)

Thành phần hằng số cũng được thêm vào các phương trình Việc épđường hồi quy đi qua gốc tọa độ có thể khiến mô hình bị đặc trưng sai Thànhphần hằng số cùng với sai số là đại diện cho các biến giải thích khác không đượcđưa vào mô hình

Mô hình sử dụng dữ liệu hàng năm giai đoạn 1986-2004, thu thập từ nhiềunguồn thứ cấp khác nhau, bao gồm: Tổng cục thống kê (GSO), Ngân hàng pháttriển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Cơ quan thống kê Liên hiệpquốc (UNSD) Các chuỗi dữ liệu phần lớn được tính theo giá so sánh năm 1994nhằm loại bỏ sự biến động giá ra khỏi dữ liệu, và như vậy các chuỗi kinh tế đềuđược thể hiện ở giá trị thực Điều này góp phần trong việc khảo sát đúng bản chấtcủa các biến số kinh tế

Trang 40

Mô hình tổng quát Các phương trình hành vi

log(CONS) = f {log(Yd), INTRATE_3M, log(CONS(-1)} (1)

log(INVEST) = f {log(GDP), log(INTRATE_SHORT), log(INVEST(-1)} (2)

Bảng 2: Ý Nghĩa Ký Hiệu Các Biến Số

Phương trình (1)

CONS Tiêu dùng cuối cùng

của hộ gia đình Tỷ đồng Giá so sánh 1994 GSO, ADB Biến phụ thuộc

Yd (a) Thu nhập khả dụng Tỷ đồng Giá so sánh 1994 Tính toán +INTRATE_3M Lãi suất tiền gửi 3

UNSD

+

EXRATE Tỷ giá hối đoái thực đồng/USD Tỷ giá trung bình

40

Ngày đăng: 09/08/2016, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ Cấu Nền Kinh Tế 2001-2005 - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 1 Cơ Cấu Nền Kinh Tế 2001-2005 (Trang 29)
Bảng 2 (tiếp theo) - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 2 (tiếp theo) (Trang 41)
Bảng 4: Các Hệ Số Ước Lượng ở Bước Đầu Tiên - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 4 Các Hệ Số Ước Lượng ở Bước Đầu Tiên (Trang 43)
Bảng 5: Kết Quả Cuối Cùng Của Các Hệ Số Ước Lượng - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 5 Kết Quả Cuối Cùng Của Các Hệ Số Ước Lượng (Trang 45)
Bảng 6: Dấu Của Các Hệ Số Ước Lượng - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 6 Dấu Của Các Hệ Số Ước Lượng (Trang 46)
Bảng 7: Kiểm Định Tương Quan Chuỗi các Phương Trình Ước Lượng Cuối - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 7 Kiểm Định Tương Quan Chuỗi các Phương Trình Ước Lượng Cuối (Trang 47)
Hình 1: Cách Giải Tĩnh Và Độc Lập Của Các Phương Trình - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Hình 1 Cách Giải Tĩnh Và Độc Lập Của Các Phương Trình (Trang 49)
Bảng 9: Số Đo MAPE của Các Giá Trị Dự Báo 1994-2004 - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 9 Số Đo MAPE của Các Giá Trị Dự Báo 1994-2004 (Trang 53)
Hình 4: Tiêu Dùng Cuối Cùng Của Hộ Gia Đình Giai Đoạn 1986-1994 - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Hình 4 Tiêu Dùng Cuối Cùng Của Hộ Gia Đình Giai Đoạn 1986-1994 (Trang 54)
Hình 5: Tốc Độ Tăng Trưởng Sản lượng và Đầu tư - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Hình 5 Tốc Độ Tăng Trưởng Sản lượng và Đầu tư (Trang 58)
Bảng 11: Tỷ Lệ Đầu Tư/Sản Lượng - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 11 Tỷ Lệ Đầu Tư/Sản Lượng (Trang 59)
Bảng 12: Hệ Số ICOR của Việt Nam (giá ss 1994) - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 12 Hệ Số ICOR của Việt Nam (giá ss 1994) (Trang 60)
Hình 6: Tốc Độ Tăng Trưởng Tiêu dùng và Đầu tư - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Hình 6 Tốc Độ Tăng Trưởng Tiêu dùng và Đầu tư (Trang 61)
Hình 7: Cán Cân Thương Mại Hình 7A: Theo Giá Thực Tế Hình 7B: Theo Giá So Sánh - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Hình 7 Cán Cân Thương Mại Hình 7A: Theo Giá Thực Tế Hình 7B: Theo Giá So Sánh (Trang 64)
Bảng 13: Số Nhân Tổng Cầu Các Nước Trong Khu Vực - khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam
Bảng 13 Số Nhân Tổng Cầu Các Nước Trong Khu Vực (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w