TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM CHU THÚY CHINH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO CẮT CÂY VÀ THỜI GIAN NUÔI CỦ ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦ GIỐNG HOA LILY SOCBONNE VÀ HOA LAYƠN ĐỎ ĐÔ VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU THÚY CHINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO CẮT CÂY VÀ
THỜI GIAN NUÔI CỦ ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦ GIỐNG HOA
LILY SOCBONNE VÀ HOA LAYƠN ĐỎ ĐÔ VỤ ĐÔNG XUÂN
NĂM 2008 – 2 0 T Ạ I THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2009
CHU THÚY CHINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHIỀU CAO CẮT CÂY VÀ THỜI GIAN NUÔI CỦ ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦ GIỐNG HOA LILY SOCBONNE VÀ HOA LAYƠN ĐỎ ĐÔ VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008 – 2 0 T Ạ I THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LUÂN THỊ ĐẸP
Thái Nguyên, năm2 0
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Mọi việc giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn, các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tháng 4 năm 2009
Tác giả luận văn
Chu Thúy Chinh
Khoa Sau đại học, khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện về thời gian, địa điểm nghiên cứu, phương tiện vật chất cho tác giả
Lạng Sơn, 2009
Tác giả luận văn
Chu Thúy Chinh
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu 2
4.Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 3
1.1 Cơ sở khoa học 3
1.2 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại ảnh của hoa Lily và hoa Layơn 4
1.2.1 Hoa Lily 4
1.2.1.1 Nguồn gốc 4
1.2.1.2 Đặc điểm thực vật học 4
1.2.1.3 Kỹ thuật nhân giống lily 7
1.2.1.4 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh 9
1.2 2 Hoa Layơn 11
1.2.2.1 Đặc điểm hình thái 11
1.2.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh 12
1.2.2.3 Nhân giống Layơn 14
1.2.2 3.1 Nhân giống hữu tính( Nhân giống bằng hạt) 14
1.2.2 3.2 Nhân giống vô tính 15
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 16
1.3.1 Sản xuất và tiêu thụ hoa ở châu Á 23
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tại Việt Nam 25
1.3.3 Kỹ thuật sản xuất hoa ở Việt Nam 29
1.4 Tình hình nghiên cứu hoa lily & hoa layơn ở Việt Nam 31
CHƯƠNG 2- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 33
2.2.1 Nội dung 33
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 35
2.2.3.1 Các chỉ tiêu ở thời kỳ bảo quản 35
2.2.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng 35
2.2.3.3 Các chỉ tiêu về hoa 35
2.2.3.4 Độ bền hoa 36
2.2.3.5 Tình hình sâu bệnh 36
2.2.3.6.Hạch toán thu chi 36
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng củ giống hoa lily Socbonne vụ đông xuân năm 2008 – 2009 tại thành phố Lạng Sơn 37
3.1.1 Tình hình ra rễ, nảy mầm của củ Lily trong quá trình bảo quản 37
3.1.2 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức nảy mầm của giống lily 40
3.1.3.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến khả năng sinh trưởng của lily Socbonne 41
3.1.4 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống lily Socbonne 44
Trang 43.1.6.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến một số chỉ
tiêu về năng suất, chất lượng hoa lily socbonne 48
3.1.7.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến độ bền của hoalily Socbonne thí nghiệm 51
3.1.8 Tình hình sâu bệnh hại trên giống hoa lily Socbonne thí nghiệm 54
3.1.9 Sơ bộ hạch toán thu chi của các công thức thí nghiệm giống hoa lily Socbonne 55
3.2 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng củ giống hoa layơn đỏ đô vụ đông xuân năm 2008 - 2009 tại thành phố Lạng Sơn 56
3.2.1 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức nảy mầm của giống Layơn 56
3.2.2.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến khả năng sinh trưởng của layơn Đỏ đô 57
3.2.3 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của hoa layơn 60
3.2.4.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến một số chỉ tiêu về hình hoa thái hoa layơn đỏ đô 62
3.2.5.Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến một số chỉ tiêu về năng suất hoa 64
3.2.6 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến độ bền hoa layơn đỏ đô 68
3.2.7 Hạch toán thu chi 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5MỤC LỤC CÁC BẢNG VÀ PHỤ LỤC Bảng và đồ thị
Đồ thị 1.1 Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên thế giới 16
Đồ thị 1.2 Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 triệu Euro) của một số nước trên thế giới 18
Bảng 1.1: Giá trị xuất khẩu hoa một số nước năm 2002 19
Bảng 1.2: Giá trị nhập khẩu hoa một số nước năm 2002 20
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất hoa lily ở một số nước trên thế giới (ha) 21
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất hoa Hàn Quốc 24
Bảng 1.5 Diện tích và giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2003 26
Bảng 1.6: Diễn biến diện tích trồng hoa ở Việt Nam 29
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến tỷ lệ nảy mầm của giống lily Socbonne 37
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến tỷ lệ ra rễ của giống lily Socbonne 39
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức nảy mầm của giống Lily Socbonne 40
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến động thái ra lá của giống Lily socbonne 42
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Lily Socbonne 43
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống lily Socbonne 45
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến một số chỉ tiêu về hình thái của giống lil y Socbonne 47
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến năng suất giống lily Socbonne 49
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến phân loại hoa lily Socbonne 51
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến độ bền hoa của giống lily Socbonne 52
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến tình hình bệnh hại giống hoa lily Socbonne 54
Bảng 3.12 Sơ bộ hạch toán thu chi của các công thức thí nghiệm để giống hoa lily Socbonne 55
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức nảy mầm của giống Layơn đỏ đô 56
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ động thái ra lá của giống layơn Đỏ đô 57
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Layơn đỏ đô 59
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của giống layơn đỏ đô 61
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến một số chỉ tiêu về hình thái của giống layơn 63
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ năng suất của giống layơn đỏ đô 65
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến phân loại hoa layơn đỏ đô 67
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến độ bền hoa cắm giống layơn đỏ đô 68
Bảng 3.21: Sơ bộ hạch toán thu chi các công thức hoa layơn đỏ đô 71
Trang 6PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Sơ bộ hạch toán thu chi của các công thức thí nghiệm 77
Phụ lục 1: Tình hình thời tiết khí hậu vụ đông xuân năm 2007 – 2008 và vụ
đông xuân năm 2008 – 2009 tại thành phố Lạng Sơn 79
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hoa Lily và hoa Layơn là những loài hoa có nguồn gốc ôn đới, có vẻ đẹp sang trọng, được thị hiếu người tiêu dùng rất ưa chuộng và hiện đang là những loại hoa có giá trị kinh tế cao
Vào những dịp vui vẻ, lễ tết nhất là những ngày tết âm lịch nếu có được một bình hoa lily hoặc layơn thì hy vọng sẽ mang may mắn đến cả năm Cái vẻ rực rỡ, tràn đầy mầu sắc sang trọng, cùng với hương thơm chúng làm tăng vẻ đẹp cho nhau, làm cho cả gian phòng toát lên không khí tươi vui đầm
ấm
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp hiện nay ở Việt Nam, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất đai đang là một yêu cầu bức thiết của sản xuất
Thực tế trong những năm qua, ở hầu hết tất cả các địa phương trong cả nước đã có nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, trong đó phải kể đến là những mô hình trồng hoa có giá trị cao
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới ở phía bắc của tổ quốc, có khí hậu lạnh thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của hoa lily và hoa layơn Lạng Sơn
có đầy đủ mọi điều kiện để phát triển nghề trồng hoa, nhất là trồng lily và layơn để phục vụ nhu cầu tại chỗ và xuất khẩu Tuy nhiên, giống của hai loại hoa đều phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá đắt ( 14.000 – 15.000đ/củ lily và
800 – 1000đ/củ layơn) Mặt khác chủng loại hoa đơn điệu, chất lượng giống không đảm bảo cho nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Do vậy việc nghiên cứu sản xuất củ giống trong nước, nhằm hạ giá thành sản xuất, chủ động cung ứng giống cho thị trường là rất cần thiết Xuất phát từ
những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của
chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng củ giống hoa lily Socbonne và layơn đỏ đô tại Lạng Sơn"
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tận thu củ giống hoa Lily và layơn vụ trước để cung
cấp giống hoa cho sản xuất
3 Yêu cầu
- Xác định được chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ sau thu hoạch đến
tỷ lệ nảy mầm, khả năng sinh trưởng và chất lượng của giống hoa Lily
- Xác định được chiều cao cắt cây và thời gian để củ sau khi thu hoạch
hoa đến tỷ lệ nảy mầm, khả năng sinh trưởng và chất lượng của giống hoa
Layơn
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học: giúp học viên
phương pháp trong nghiên cứu khoa học như xác định vấn đề cần nghiên cứu,
phương pháp tiến hành và trình bày 1 báo cáo khoa học
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Xác định được một số biện pháp kỹ
thuật để giống trong sản xuất giống hoa lily và Layơn tại Lạng Sơn
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
Các giống hoa lily và layơn nhập nội có nguồn gốc từ các vùng khí hậu lạnh và ẩm được trồng ở Việt Nam trên các vùng cao nguyên (Đà Lạt, Sapa) Khi du nhập vào nước ta 2 loại hoa trên đã trở thành những loại hoa được ưa thích nhất, bởi nó có vẻ đẹp rất đặc trưng lại có hương thơm mát dịu, có nhiều mầu sắc khác nhau Chính vì vậy nhu cầu tiêu thụ 2 loại hoa này trên thị trường Việt Nam ngày càng tăng, đồng thời nó cũng đang được nghiên cứu đưa vào sản xuất với qui mô lớn để trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ngành trồng hoa Việt Nam Hoa Lily, layơn chủ yếu trồng ở Đà Lạt một vài năm gần đây đã trồng thành công ở Sapa và đặc biệt hiện nay đang trồng thử nghiệm ở Đồng bằng bắc bộ vào vụ Đông (thời tiết thích hợp để cây sinh trưởng và phát triển) Mặc dù vậy, trong thực tế sản xuất hoa ở nước ta còn rất hạn chế về diện tích canh tác cũng như năng suất, sản lượng, giá thành hoa cắt cành lại cao Một trong những lí do chính dẫn đến những hạn chế này là chúng ta vẫn hoàn toàn thụ động trong vấn đề giống Nguồn củ giống ở nước
ta phải nhập nội, chủ yếu ở Hà Lan và Trung Quốc nên giá thành cao Do vậy việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất củ giống nhằm chủ động giống
trong việc mở rộng sản xuất là rất cần thiết
Sau khi thu hoạch hoa, củ giống cần một thời gian để tích luỹ vật chất vào trong củ để đủ điều kiện nhân giống cho vụ sau Việc thời gian thu củ và chiều cao cắt cây ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ vật chất vào củ và sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển của hoa sau này Việc nghiên cứu chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ là một phương pháp dễ làm, sau khi cắt hoa ta để lại thân và củ trong đất với những quãng thời gian khác
Trang 8nhau với chiều cao thân khác nhau để đánh giá chất lượng củ sau này làm
Hoa Lily trên thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và đây cũng là
nước trồng hoa lily sớm nhất Những nghiên cứu cho rằng việc trồng lily để
lấy củ ăn làm thuốc bắt đầu từ đời nhà Đường ( Trung Quốc), nhưng trước đó
cũng có nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của hoa lily, như vậy hoa lily được trồng
lúc đầu với hai mục đích làm thuốc và thưởng thức vẻ đẹp Đến cuối thế kỷ
XVI các nhà thực vật học người Anh đã phát hiện và đặt tên cho các giống
lily, đến đầu thế kỷ XVII lily được di thực từ châu Âu sang châu Mỹ và đến
thế kỷ XVIII các giống lily của Trung Quốc di thực sang châu Âu nhờ vẻ đẹp
và hương thơm nên nó nhanh chóng phát triển và được coi là cây quan trọng
của châu Âu và châu Mỹ ( Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2005)[4]
1.2.1.2 Đặc điểm thực vật học
Lily là cây thân thảo lâu năm, phần dưới mặt đất gồm thân vẩy, thân
vẩy con, thân rễ và rễ Phần trên mặt đất gồm lá, cán thân, mầm hạt ( một số
không có mầm hạt)
a/ Thân vẩy
Thân vẩy là phần phình to của thân biến thành, trên đĩa thân vẩy có vài
chục vẩy hợp lại, có hình cầu dẹt, hình trứng, hình trứng dài, hình elip… Chất
đất, kỹ thuật trồng và tuổi của thân vẩy ảnh hưởng đến hình thái thân, không
có vỏ bao bọc Mầu sắc thân vẩy tuỳ theo loài, giống khác nhau có mầu trắng,
vàng, đỏ cam, đỏ tím…Độ lớn của thân vẩy khác nhau do loài, giống Loại
nhỏ chu vi 6 cm nặng 7 – 8g, loại to chu vi 24 – 25 cm nặng trên 100g, loại đặc biệt chu vi 34 – 35 cm nặng 350g
Độ lớn của thân vẩy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa Ví dụ giống lily loại Thơm chu vi 10 – 13cm có 1- 2 nụ, chu vi 12 – 14cm có 2- 4 nụ, chu
vi 14 – 16cm có trên 4 nụ
Vốn có hình elip, hình kim xoè ra có đốt hoặc không có đốt, mầm vẩy
to ở ngoài, nhỏ ở trong là nơi dự trữ của thân vẩy Trong đó nước chiếm 70%, chất bột 23%, một ít lượng protein, chất khoáng, chất béo Bóc bỏ lớp thân vẩy thì tốc độ nảy mầm của củ càng nhanh, nhưng giảm tốc độ hình thành và lớn lên của các cơ quan, giảm số lá và hoa, hoa ra muộn hơn
Việc lựa chọn củ giống to hay nhỏ phụ thuộc vào chất lượng của hoa
mà ta cần Theo nguyên tắc thông thường, củ giống càng nhỏ thì nụ hoa trên mỗi cành càng ít, thân càng ngắn thì cây càng nhẹ
Trong điều kiện thích hợp, tức là trong thời kỳ sinh trưởng của thực vật
mà có ánh sáng đầy đủ và nhiệt độ thấp vừa đủ thì tốt nhất nên trồng củ giống hoa lily loại nhỏ Nếu thời kỳ trồng là từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, do ánh sáng thiếu và ngắn (mùa Đông) hoặc ở giai đoạn nhiệt độ quá cao (mùa Hè) thì nên chọn loại củ giống hơi to một chút Chúng ta nên chú ý đến một số loại giống trong hệ lai châu Á và hệ lai Đông Phương nếu trồng củ giống quá to sẽ có nguy cơ bị cháy lá Bảng dưới đây sẽ thể hiện cỡ củ giống trong từng hệ lai hoa lily
Hệ lai châu Á 9-10cm, 10-12cm, 12-14cm, 14-16cm, 16cm và lớn hơn
Hệ lai Đông Phương
Trang 9b/ Rễ
Rễ Lily gồm 2 phần: rễ thân và rễ gốc Rễ thân còn gọi là rễ trên do
phần thân mọc dưới đất sinh ra có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh
dưỡng, tuổi thọ 1 năm Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốc thân vẩy, có nhiều
nhánh to khoẻ, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của lily, rễ lily có
tuổi thọ đến 2 năm
c/ Lá
Lily nhiều lá mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xoè, hình thuỗn,
hình giải đầu hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn, xanh, lá to hay nhỏ
tuỳ thuộc vào giống, điều kiện trồng và thời gian xử lý Lá có từ 1 – 7 gân,
gân giữa rõ ràng hơn, giữa lá lõm xuống, lá mầu xanh bóng mềm
d/ Củ con và mầm hạt
Đại bộ phận Lily có củ con ở gần thân rễ có đường chu vi 0,5 – 3cm số
lượng tuỳ thuộc giống và điều kiện trồng Giống lily Quyển Đan và các giống
tạp Giao mạch lá có mầm hạt hình cầu hoặc hình trứng Khi chín có mầu tím
tối, chu vi từ 0,5 – 1,5cm
e/ Hoa
Hoa Lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên hoa, bao hoa hình lá nhỏ Hoa
chúc xuống, vươn ngang hoặc hướng lên Hình dáng hoa là căn cứ chủ yếu để
phân loại lily như dạng hình loa kèn thì 1/3 phía trước cong ngược lên, dạng
hình phễu thì 1/3 phía trước cong ngược ra, dạng hình cái cốc, phía trước hơi
cong, dạng hình cầu có 6 cánh hoa thành 2 vòng nối nhau do 3 vòng đài và 3
cánh tạo thành, mầu sắc như nhau nhưng đài hoa hẹp hơn, cánh đều có hình
elip, gốc có tuyến mật Nhị đủ 6 cái giữa có cuống mầu xanh nhạt gắn với
nhau thành hình chữ T trục hoa nhỏ dài, đầu trục phình to có 3 khía, tử phòng
3 năm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2005) [4]
1.2.1.3 Kỹ thuật nhân giống lily
Có thể nhân giống Lily bằng cách cắm cành, tách củ, nuôi cấy mô, nhân bằng hạt, mầm hạt…
a/ Giâm vẩy
Thời gian giâm vào mùa Xuân và mùa Thu khi đào củ, chọn củ to mập bóc bỏ lớp vẩy khô hoặc thối bên ngoài, rồi bóc lấy vỏ lành khoẻ đem ngâm trong dung dịch Foocmalin 80 lần trong 20 phút, lấy ra dùng nước rửa sạch, hong khô Vườn ươm chọn nơi nhiệt độ ổn định thường xuyên duy trì từ 20 –
25oC, không có ánh sáng chiếu xạ Vườn giâm chiều rộng 40 – 100m, chiều dài tuỳ ý, chất nền có thể dùng cát thô, cục than bùn, tốt nhất là dùng than bùn
có đường kính 0,2 – 0,5cm, độ dày 8 – 10 cm Giâm vẩy bằng cách cắm nghiêng vẩy vào đất nền cách nhau 3cm, độ sâu cắm bằng 1/3 đến chiều dài vẩy Để kích thích ra rễ có thể dùng NAA nồng độ 100 mg/l phun vào vẩy tỷ
lệ ra rễ cao và củ ra rễ nhanh, cây sinh trưởng nhanh Khi chăm sóc dùng bình phun nước vào vẩy làm cho vẩy tiếp xúc tốt với đất nền, duy trì ở nhiệt độ 20 – 25oC, độ ẩm 30-35%, sau đó tưới ít nước đề phòng vẩy bị thối Sau 40 – 60 ngày ở vết thương của vẩy sẽ ra củ con có rễ, mỗi vẩy có thể đẻ ra 1 – 4 củ con, khi mỗi củ con có đường kính 0,3 – 1cm sẽ mọc ra 1 -5 rễ con, đợi khi củ con lớn có thể bứng cây con đi chăm sóc
Trang 10b/ Tách củ
Thường thực hiện vào mùa Xuân và mùa Thu Chọn củ không sâu bệnh
chu vi từ 8 – 10 cm ngâm trong dung dịch Foocmalin 1/80 trong 30 phút lấy
ra rửa sạch hong khô Lily là cây ưa khí hậu mát và ẩm nên đất trồng phải
chọn nơi nhiệt độ trung bình tháng 7 không quá 22oC, đất tốt tơi xốp có điều
kiện tưới nước, luống rộng từ 100 – 120cm, độ dài tuỳ ý Khoảng cách hàng
và cách cây 10x20cm, mỗi luống rạch 5-6 hàng sâu 12cm, rạch xong tưới đủ
nước đợi nước ngấm rồi đặt củ vào hàng cách nhau 10cm, sau đó lấp đất dày
8- 10cm Chăm sóc cây con sau khi cây mọc đều thì bón 1 ít đạm, có thể kết
hợp bón FeSO4 để điều chỉnh độ chua Mỗi ha bón 37kg (NH4)2HPO4, 74kg
ure, 3,75kg SO42- hoà phân vào nước để tưới Sau 20 ngày bón một lần nữa
giống như trên, đến giữa tháng 6 khi cây bắt đầu có nụ thì mỗi ha bón 75kg
(NH4)2HPO4, 22,5 kg KH2PO4 để củ lớn nhanh Cuối tháng 6 thì phun lên lá
dung dịch K2SO4, KH2PO4 và axit boric với lượng 22,5kg, 15kg, 30kg cho
mỗi ha Cứ 10 ngày phun 1 lần cho đến cuối tháng 7 để đảm bảo an toàn, nếu
hoà vào nước thì sử dụng với nồng độ phân là 0,3% nếu phun lên lá thì dùng
nồng độ 0,2% [4]
c/ Nhân giống bằng hạt
Nhân giống Lily bằng hạt thường hạn chế ở một số giống như: dòng
lily Thơm, lily Đài Loan, lily Vương Hạt lily ở trong 3 ngăn nhỏ, hạt chín có
mầu nâu, dẹt bằng mỗi quả có trên 100 hạt, có thể gieo hạt vào chậu hoặc vào
khay, đất gieo hạt được phối trộn theo tỷ lệ: đất vườn-mùn - cát nhỏ = 2 : 2 : 1
trộn thêm một lượng phân bón cho hoa Đáy chậu cần lót sỏi để thoát nước
Hạt gieo cách nhau 2 – 3cm, gieo hạt xong phủ 1 lớp đất mỏng Hạt mới thu
về thì nảy mầm nhanh bảo quản càng lâu sức nảy mầm càng kém Đặt chậu
gieo hạt vào trong nhà ấm, đậy kính hoặc nilon lên trên để giữ nhiệt Khi nảy
mầm trước hết mọc ra lá mầm giống như cỏ sau đó ra lá rất nhanh, gieo hạt
vào vụ xuân đến vụ thu đã có một số lớn cây ra hoa Nhân giống bằng hạt có nhiều ưu điểm, được nhiều cây khoẻ không bị bệnh, có thể được những loại hình mới do tạp giao Nhưng đối với đa số Lily từ gieo hạt cho đến khi ra hoa phải mất từ 3 đến 4 năm nên người ta ít sử dụng phương pháp này [4]
d/ Nhân giống bằng mầm hạt:
Có một số Lily nách lá có thể sinh ra nhiều mầm hạt đen tím, mầm hạt
là do một số vẩy hợp lại nó có thể ra rễ, ra lá nếu hái xuống rồi trồng có thể thành cây con
1.2.1.4 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh a/ Nhiệt độ
Lily là cây chịu rét khá chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 20 – 25oC ban đêm là 12oC Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lily, quan trọng nhất là ảnh hưởng đến nẩy mầm của hạt, đến phát dục của thân, đến sinh trưởng của lá Xử lý củ giống dòng tạp giao lily Thơm ở nhiệt độ 45oC trong 5 tuần, có thể kích thích
lá vươn dài, đốt dài và tỷ lệ sinh trưởng của cây (1.65 lá/ngày), nhưng làm cho thân nhỏ hơn, giảm số lá và nụ, sau khi xử lý 18 tuần làm giảm rõ rệt tỷ lệ sinh trưởng và số lá Từ khi xuất hiện nụ cho đến khi ra hoa nhiệt độ chênh lệch ngày/đêm ảnh hưởng đến sinh trưởng của thân, nếu nhiệt độ chênh lệch
từ -16oC đến 16oC thì độ cao của thân từ 14,2 đến 27cm Nhiệt độ còn là nhân
tố quan trọng điều tiết, khống chế sự phân hoá hoa Sự ra hoa của các giống thuộc dòng tạp giao châu á và tạp giao Lily Thơm đều cần một số ngày nhiệt
độ thấp nhất định để thực hiện việc xuân hoá thì mới có thể ra hoa được ( Trần Thế Truyền)[14]
b/ Ánh sáng
Lily là cây ưa sáng, nhưng ở môi trường hơi bị che sáng thì càng thích hợp, khoảng 70 – 80% ánh sáng tự nhiên là tốt nhất là với thời kỳ 20cm Lily
Trang 11là cây dài ngày, chiếu sáng dài hay ngắn không những ảnh hưởng đến phân
hoá hoa mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của hoa Boontpes 1973
phát hiện trong quá trình hoạt hoá, mỗi ngày tăng thêm 8 giờ chiếu sáng có
thể ra hoa sớm 5 tuần, xử lý dài ngày sẽ tăng tốc độ sinh trưởng và số lượng
hoa Miller (1984) nhận thấy ngày ngắn làm tăng chiều cao cây, cuống hoa và
đốt cũng dài thêm, chất lượng hoa giảm Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng
rõ rệt đến sự sinh trưởng phát dục của củ Suk (1960) nghiên cứu ảnh hưởng
của ánh sáng lam, đỏ, hồng ngoại đến sự hình thành củ con của Casabanca và
ConnecticutKing cho thấy tia hồng ngoại làm tăng số lượng củ con Nhưng
chất lượng ánh sáng không ảnh hưởng đến độ lớn của củ[4]
c/ Nước
Đất khô hoặc quá nhiều nước đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục
của Lily Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, giai đoạn ra hoa yêu cầu nước
giảm nhiều nước củ dễ bị thối và rụng nụ Ẩm độ thích hợp nhất cho lily sinh
trưởng, phát triển từ 80 – 85% Nếu ẩm độ biến động lớn sẽ dẫn đến cháy lá
d/ Không khí:
Độ nhạy cảm Ethylen ở các giống khác nhau Giống của dòng châu Á mẫn
cảm nhất, các dòng khác yếu hơn khi chiếu sáng bổ sung 200w/m2, nếu nồng
độ CO2 trong nhà vườn tới 1000u/g sẽ giảm mức độ nụ bị bại dục và tăng
được phẩm chất hoa (Bùi Bảo Hoàn)[1]
e/ Đất:
Lily có thể trồng trên mọi loại đất, nhưng tốt nhất là trồng trên đất
nhiều mùn, đất thịt pha cát và thoát nước Lily rất mẫn cảm với muối, đất
nhiều muối cây không hút được nước ảnh hưởng đến sinh trưởng, phân hoá
hoa và ra hoa Đất kiềm hút sắt, magiê, nhôm không đủ dẫn tới thiếu sắc tố
Các giống thuộc dòng tạp giao Á châu, lily Thơm yêu cầu pH = 6 – 7, các
giống thuộc dòng Phương Đông yêu cầu thấp hơn pH = 5,5 – 6,5 Đất thiếu canxi lily dễ bị vàng lá, không ngọn lá
các nước châu Phi nhiệt đới và vùng Trung Cận Đông (phía Tây của châu Á)
là loài cho hoa đẹp, nên được trồng rất rộng rãi ở khắp mọi nơi trên thế giới (trừ cực Bắc bán cầu và những nơi có khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh) với nhiều dạng lai, màu sắc khác nhau Layơn được nhập vào châu Âu 1850 và vào Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 Ở Việt Nam Layơn cũng được trồng rải rác
ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở những vùng chính như Đà Lạt, Hải Phòng Những vùng mát mẻ, trên núi cao Layơn được trồng quanh năm, còn vùng Đồng bằng chỉ trồng được vào vụ Đông – Xuân [5]
1.2.2.1 Đặc điểm hình thái a/ Thân
Cây hoa layơn có dạng thân thảo, thân giả được kết bởi các bẹ lá xếp chồng lên nhau, bẹ lá trước xếp chồng lên bẹ lá sau
b/ Lá
Lá cứng hình lưỡi kiếm có 7 đến 9 nếp gấp, cuống lá góc rộng và to thành hình như cái bao, bao lấy củ; lá dài 30 - 80 cm, rộng 4 - 5 cm có gân dọc Giữa phiến lá và bẹ lá không phân biệt rõ ràng Lá xếp thành 2 dãy mọc thẳng đứng, trên mặt lá phủ một lớp phấn sáp ít thấm nước
c/ Hoa
Trang 12Bên trong hoa có những cụm hoa hình sim Bao hoa dính nhau tạo
thành một khối gồm 2 vòng hoa, nhị còn lại 3 cái ở vòng trong hoa, bao phấn
hướng ngoài, màng bao phấn thường có một rãnh, bộ nhị lợp, lá noãn bầu
dưới Cánh hoa có loại bằng, lượn sóng…
d/ Củ và rễ
Layơn có bộ rễ chùm phát triển mạnh, phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt 0
- 15 cm Có 2 loại rễ: rễ mọc từ giống ban đầu (củ mẹ) gọi là rễ sơ cấp và rễ
mọc từ củ con do củ mẹ đẻ ra gọi là rễ thứ cấp Củ thực chất chính là thân
ngầm của cây layơn
e/ Quả
Quả có 3 ô, trong quả chứa nhiều hạt nhỏ (1 quả có từ 100 - 500 hạt)
Noãn có phôi tâm lục, nội nhũ nhẵn [5]
1.2.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh
a/ Nhiệt độ
Trong điều kiện nhiệt độ trung bình > 5oC, tổng tích ôn của layơn phụ
thuộc vào thời gian sinh trưởng của từng giống Giống ngắn ngày có thời gian
sinh trưởng 65 - 70 ngày; giống trung bình có thời gian sinh trưởng 70 - 75
ngày; giống dài ngày có thời gian sinh trưởng 80 - 100 ngày Kể từ khi gieo
trồng cho đến khi ra hoa tổng tích ôn từ 2300 - 2600oC Layơn ưa khí hậu mát
mẻ, không chịu được nắng nóng, ở vùng nhiệt đới nhiệt độ mùa hè cao quá sẽ
ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh trưởng của cây và chất lượng hoa, sâu bệnh
cũng thưòng hại nặng Trước khi cây phân hoá hoa và lúc cây có 5,6 lá cần
nhiệt độ mát mẻ 15 - 22oC nếu không hoa sẽ bị mù, tỷ lệ hoa nở hoa thấp
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng của giống layơn
đỏ đô như sau: Nếu nhiệt độ trung bình là 12oC thì thời gian sinh trưởng
khoảng 110 - 120 ngày, nhiệt độ tăng lên 15oC thì thời gian sinh trưởng chỉ
còn 90 - 100 ngày, nhiệt độ là 20oC thì thời gian sinh trưởng cũng giảm theo
còn 70 - 80 ngày, nhiệt độ tăng lên 25oC thì thời gian sinh trưởng giảm xuống
60 - 70 ngày, như vậy nhiệt độ càng tăng thì thời gian sinh trưởng càng giảm
b/Ánh sáng
Layơn là cây ưa sáng, giai đoạn đầu sau khi trồng cây sống nhờ vào dinh dưỡng ở củ, khi cây ra lá cây sống nhờ vào sản phẩm quang hợp của lá
Sự phân hoá mầm hoa bắt đầu từ khi xuất hiện lá thứ 3 cho đến khi ra lá thứ
6, thứ 7 thì kết thúc Trong thời kỳ này nếu ánh sáng không đủ thì sản phẩm quang hợp không đủ nuôi cây, ảnh hưởng đến chất lượng hoa Ngoài ra thiếu ánh sáng, Layơn rất dễ nhiễm bệnh Ngày ngắn, ánh sáng yếu cây thường bị bệnh héo rũ Cường độ ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, cường độ chiếu sáng dưới 3500 lux thì cường độ quang hợp và thoát hơi nước của cây giảm, cây dễ bị vống lên cành lá yếu ớt, mầu hoa nhạt Nếu trồng vào
vụ Đông thời gian chiếu sáng ngắn, cường độ ánh sáng yếu, cần phải chiếu sáng bổ sung để cho mầm hoa phân hoá tốt, nhiều, hoa tự dài, đồng thời tăng được chất lượng hoa Số giờ chiếu sáng tiêu chuẩn mỗi ngày từ 12 đến 16 giờ
và cường độ ánh sáng là 6000 lux là phù hợp nhất [5]
c/ Đất
Layơn có thể trồng được trên cả 3 loại đất là: đất pha cát, đất thịt và đất sét Đất pha cát có độ tơi xốp cao, độ hổng lớn, thông khí, thấm nước tốt nhưng độ phì kém Layơn trồng ở đất này cần bón nhiều phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho cây Đất sét có tỷ lệ hạt sét cao, đất dính canh tác khó,
độ xốp kém, chặt dính không thích hợp trồng hoa layơn Đất thịt có tỷ lệ hạt sét và hạt cát cân đối nên có ưu điểm của cả hai loại đất, là đất trồng layơn thích hợp nhất Layơn rất mẫn cảm với các loại muối kim loại nặng, đặc biệt
là ở đất có hàm lượng chì cao, rễ cây sinh trưởng kém ảnh hưởng đến ra hoa[5]
d/ Nước
Trang 13Layơn là cây rễ củ, khi nảy mầm cũng như quá trình sinh trưởng cần
phải có đủ nước Mỗi thời kỳ có nhu cầu nước khác nhau Sau khi trồng vài
ngày, rễ mầm nhú và phát triển, yêu cầu đất xung quanh củ phải đủ ẩm, vì vậy
trước khi trồng nên tưới nước Khi cây mọc nếu đất khô quá phải tưới nước
ngay Trong suốt thời kỳ sinh truởng layơn đều rất cần nước, đặc biệt là giai
đọan bắt đầu ra lá thứ 3 đến lá thứ 7 là thời kì cây có nhu cầu rất lớn về nước,
nếu thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến phân hoá hoa, đây cũng là giai đoạn cây
sinh truởng mạnh nhất do đó cần phải chú ý bổ sung nước cho đầy đủ.[5]
e/ Không khí
Layơn khá mẫn cảm với môi trường, đặc biệt là không khí Trong
không khí chứa rất nhiều loại khí thể khác nhau tuỳ thuộc vào môi trường và
tác nhân con người Nhìn chung mỗi loại cây trồng đều có sức đề kháng với
các loại khí gây hại khác nhau Layơn đề kháng mạnh với SO2- Cl-, kháng
trung bình với SH2 và đề kháng yếu với khí Flo [5]
1.2.2.3 Nhân giống Layơn
Đối với hoa Layơn nguồn vật liệu ban đầu để sản xuất hoa thương
phẩm là củ giống, chất lượng củ đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lớn đến
chất lượng hoa sau này Do đặc điểm củ layơn sinh sản tốt ở những vùng có
khí hậu mát mẻ, thời gian chiếu sáng dài, độ chênh lệch ngày đêm lớn ở
những vùng này củ layơn phát dục nhanh, sinh trưởng tốt là cơ sở cho năng
suất chất lượng hoa cũng như chất lượng củ cao Qua kết quả nghiên cứu thấy
những vùng như: Sapa, Đà Lạt, Tam Đảo, Mộc Châu là những vùng có điều
kiện khí hậu rất thích hợp để nhân giống layơn Có 2 hình thức nhân giống
layơn
1.2.2.3.1 Nhân giống hữu tính( Nhân giống bằng hạt)
Layơn là cây giao phấn ( một số ít tự thụ phấn), nếu để tự nhiên một số
quả sẽ kết hạt, khi thấy mầu sắc quả chuyển sang mầu vàng khô, ta hái đem
về bóc lấy hạt, phơi 1 - 2 nắng nhẹ để hạt khô đồng đều Bảo quản hạt trong vòng 3 - 4 tháng sau đó đem gieo Hạt gieo sẽ cho ra loại củ nhỏ, dùng củ nhỏ đem trồng sẽ được củ nhỡ, tiếp tục đem trồng sẽ được củ to sau đó sẽ thu hoa Như vậy từ khi gieo hạt đến lúc có hoa phải qua 3 - 4 thế hệ kế tiếp [5]
1.2.2.3.2 Nhân giống vô tính
Nhân giống layơn bằng các củ con, nhân cả củ hoặc nuôi cấy mô
* Nhân bằng củ con
Củ con là những củ mọc ra bên cạnh củ lớn Số luợng củ con phụ thuộc vào đặc tính di truyền của cây mẹ và điều kiện trồng Đào lấy củ con vào mùa Thu, dùng nước rửa sạch và hong khô rồi đưa vào bảo quản Vì chất lượng củ con liên quan đến chất lượng hoa cắt sau này, do vậy khi chọn củ con làm giống phải chọn củ không bị bệnh, giữ củ qua vụ Xuân sang năm có thể gieo nhân
* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
- Layơn nhân bằng củ có hệ số nhân giống thấp, mặt khác nếu nhân liên tục nhiều năm virut tích luỹ lại và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho cây sinh trưởng yếu hoa nhỏ Để khắc phục hiện tượng trên người ta sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
- Ưu điểm của phương pháp nuôi cấy mô:
+ Hệ số nhân giống nhanh;
+ Có thể tạo ra giống mới;
+ Có thể tạo ra cây con sạch bệnh virut;
+ Không bị hạn chế bởi thời tiết, có thể chủ động về giống;
+ Tiết kiệm đất lao động và thời gian
- Các phần lấy để nuôi cấy mô rất phong phú từ củ, lá, nụ, cuống hoa…nhưng lấy phần non của tai lá tốt hơn cả Vì chúng dễ lấy, dễ khử trùng, thời gian mọc thành cây ngắn
Trang 141.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Ngày nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ
và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa mang lại lợi ích to lớn
cho nền kinh tế các nước trồng hoa và cây cảnh
Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng
tăng lên Trên thế giới hiện nay sản xuất hoa để xuất khẩu đang trở thành một
ngành mũi nhọn, hầu hết các nước trên thế giới đều có đủ các điều kiện để trở
thành một nước trồng hoa chuyên nghiệp Các nước khác nhau ở những vùng
địa lý khác nhau có nhu cầu về hoa cũng khác nhau Nhu cầu thưởng thức hoa
của các nước trên thế giới đều cùng mong muốn được sở hữu những bông hoa
đẹp, thơm, để được thời gian dài, mầu sắc phong phú Tuy nhiên hoa là cây
trồng sống trong điều kiện tự nhiên có những loại hoa chỉ phù hợp với điều
kiện khí hậu, đất đai ở một nơi nào đó, cho nên không thể nhân ra để trồng
rộng rãi được Có những giống lại có điều kiện thích nghi cao có thể trồng được
ở khắp mọi nơi Tình hình xuất hoa trên thế giới được thể hiện ở đồ thị 1.1
Đồ thị 1.1 Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên thế giới
(ha)
0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000
Như vậy, diện tích trồng hoa tập trung chủ yếu ở các nước châu Âu và châu Á, một phần ở các nước châu Phi
Theo Roger và Alan, ba nước sản xuất hoa lớn chiếm khoảng 50% sản lượng hoa của thế giới là Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD; Hà Lan khoảng 3,558 tỷ USD; Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD
Trên thế giới có 3 thị trường tiêu thụ hoa chính là Mỹ, các nước châu Âu
và Nhật Bản
Hàng năm giá trị xuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD, đứng đầu trong 4 nước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD, Colombia 430 triệu USD, Kenya 70 triệu USD và Israel 135 triệu USD Đức là một trong những nước nhập khẩu hoa cắt lớn nhất thế giới, với giá trị nhập khẩu hoa cắt của Đức là 880 triệu Euro mỗi năm; Anh: 830 triệu Euro; Mỹ: 600 triệu Euro; Canada: 203 triệu Euro Hà Lan không chỉ là nước
Trang 15xuất khẩu nhiều hoa mà còn là một nước nhập khẩu hoa lớn, giá trị nhập khẩu
chiếm khoảng 25% xuất khẩu (Jo Wijnands, 2005) [23]
Tình hình tiêu thụ hoa trung bình/người và ước tính giá trị thị trường của
một số nước trên thế giới được thể hiện ở Đồ thị 1.2 như sau:
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Đồ thị 1.2 Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị
trường (100 triệu Euro) của một số nước trên thế giới
Nguồn: Jo Wijnands, 2005
Tiêu thụ hoa bình quân trên đầu người hàng năm của các nước trên thế
giới biến động trong phạm vi rất rộng từ vài Euro như ở Nga đến trên 90 Euro
như ở Thuỵ Sỹ Ước tính giá trị thị trường cao nhất là Mỹ, đạt trên 7.000 triệu
Euro; sau đó đến Nhật, đạt gần 4.000 triệu Euro; Đức trên 3.000 triệu Euro và
Anh trên 2.000 triệu Euro
Tính theo số lượng hoa cắt năm 2006, 11 nước châu Âu đã xuất khẩu
175,86 triệu cành hoa cắt, trong đó Lily: 6,19 triệu cành; nhập khẩu: 67,29
triệu cành, thì Lily là 543.900 cành Tiêu thụ hoa cắt ở châu Á cũng tăng
nhanh từ những năm 1993 trở lại đây, như : Inđonêxia năm 1993 tiêu thụ
33,93 triệu cành, năm 1999 tiêu thụ 58,99 triệu cành; Trung Quốc sản xuất và
tiêu thụ năm 1993 khoảng 400 triệu cành, đã tăng lên 1,09 tỷ cành vào năm
1996
Như vậy, thị trường hoa cắt trên thế giới là rất lớn, bên cạnh những thuận lợi để phát triển nghề trồng hoa, thì khó khăn cũng không nhỏ, nhất là những thách thức thị trường cho các nước xuất khẩu hoa (Jo Wijnands, 2005)[23]
Ngành sản xuất hoa hiện nay đang là ngành cho thu nhập cao nhất trong nền sản xuất nông nghiệp Từ trồng hoa cho thu nhập cao gấp 4 - 5 lần
so với trồng các cây trồng khác Hiện nay, trên thế giới đang có xu thế chuyển những diện tích đất trồng cây cho thu nhập thấp sang trồng hoa có giá trị kinh
Tổng
số Củ Cây
Hoa cắt
Lá cảnh Toàn thế giới 9.012 790 3.589 3.858 774 + 23
Trang 16Hungary, hoa Tuy lip Hà Lan là nổi tiếng trên toàn thế giới và không ở nơi
đâu trồng được loại hoa này đẹp như ở đất nước những chiếc cối xay gió
Ngoài ra còn phải kể đến một số nước có truyền thống trồng hoa ở châu Á
như Thái Lan chủ yếu trồng hoa phong lan để xuất khẩu, Trung Quốc nổi
tiếng với hoa đỗ quyên, cúc, các loại hoa trồng chậu Chi phí sản xuất hoa ở
châu Á thường rẻ hơn so với chi phí sản xuất hoa ở một số nước châu Âu, vì ở
đây giá nhân công rẻ, giá thành các loại vật tư thấp nên một số công ty trồng
hoa của nước ngoài đầu từ vào các nước này để trồng hoa bán thu được lãi
suất cao hơn
Bảng 1.2: Giá trị nhập khẩu hoa một số nước năm 2002
Nước
Giá trị nhập khẩu ( Triệu đôla ) Tỷ lệ thay đổi
năm 2002/2001 (%)
Tổng
số Củ Cây
Hoa cắt
Lá cảnh Toàn thế giới 7.694 682 2.704 3.686 622 - 3
Giá trị nhập khẩu hoa của các nước tương ứng với số phần trăm thị
trường nhập khẩu hoa nên nước Đức là nước có giá trị nhập khẩu hoa lớn nhất
thế giới
Sản xuất hoa trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu
Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa, cần hướng tới là giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao
Hoa lily cắt cành là một loài hoa đẹp, hiện đang là một trong sáu loại hoa cắt phổ biến và có giá trị nhất ( hồng, cúc, phăng, layơn, đồng tiền, lily) Tuy Lily là loại hoa mới phát triển gần đây, nhưng vì vẻ đẹp quyến rũ cùng hương thơm thanh nhã nên lily đã trở thành một trong những loại hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới [6]
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất hoa lily ở một số nước trên thế giới (ha)
TT Nước năm 1989-1990 Năm 1997-1998 Năm 1999-2001
Nguồn: Đặng Văn Đông, 2005
Năm 2001, Hà Lan có 5.000 ha lily, đứng thứ hai trong tổng diện tích hoa cắt trồng bằng củ (sau Tuy líp) Sở dĩ hoa lily được phát triển mạnh trong những năm gần đây là do người Hà Lan đã tạo ra rất nhiều giống mới có hoa đẹp, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao Ngoài ra, còn do kỹ thuật điều khiển hoa phát triển nhanh có thể cho hoa quanh năm Một nguyên nhân nữa
là do có sự đầu tư cơ giới hoá trong việc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành, vì vậy hiệu quả kinh tế từ việc trồng lily cao hơn hẳn trước đây
Trang 17Hà Lan là nước có công nghệ tạo giống và trồng lily tiên tiến nhất hiện
nay Mỗi năm Hà Lan tạo ra từ 15 - 20 giống mới, sản xuất 1,3 triệu củ giống
lily, cung cấp cho 35 nước khác nhau trên toàn thế giới
Công nghệ sản xuất hoa lily của Hà Lan tiên tiến, đầu tư cơ sở vật chất
lớn, như nhà kính năm 2003 có tới 266 ha (Jo Wijnands,2005) [18]
Hiện nay Hà Lan mỗi năm trồng 18.000ha hoa lily, trong đó xuất khẩu
70% Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là một trong
những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á (mỗi năm khoảng
500 triệu USD) Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát
triển nghề trồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc lớn nhất khu
vực Đông Bắc Á
Theo thống kê năm 2002, Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoa với 1,2
vạn người tham gia, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989
Trong đó, lily là loại cây có hiệu quả kinh tế cao nhất trong các loại hoa ở
Hàn Quốc[11]
Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là một trong
những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á, mỗi năm nhập
khẩu hoa giá trị khoảng 500 triệu USD Hoa lily đứng ở vị trí thứ 4 trong các
loài hoa ở Nhật
Kenia là nước sản xuất hoa chủ yếu của châu Phi và là nước xuất khẩu
hoa tươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, nước này có tới 3 vạn nông trường
với hơn 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa phăng, hoa lily, hoa hồng
Mỗi năm nước này xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó riêng hoa
lily chiếm 35%
Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ
canh tác còn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản, năm 2001 nước này đã có
490ha trồng lily, trong đó xuất khẩu lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD
Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước trồng lily lớn khác như: Italia, Mỹ, Đức, Mêhycô, Côlômbia, Israel
1.3.1 Sản xuất và tiêu thụ hoa ở châu Á
Châu Á có 134.000 ha trồng hoa chiếm khoảng 60% diện tích trồng hoa của thế giới nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ Tỷ lệ thị trường hoa chiếm 20% thị trường hoa thế giới Nguyên nhân do các nước châu Á có phần lớn diện tích đất trồng hoa trong điều kiện tự nhiên và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của nội địa
Nghề trồng hoa ở châu Á có từ lâu đời nhưng trồng hoa thương mại phát triển mạnh từ những năm 80 của thế kỷ XX Khi các nước châu Á mở cửa tăng cường đầu tư, đời sống nhân dân được nâng cao, yêu cầu hoa cho khách sạn, du lịch lớn nên thị trường hoa phát triển mạnh
Các loại hoa như cúc, layon, huệ đặc biệt hoa lan là sản phẩm hoa nhiệt đới, đặc sản hoa châu Á được thị trường châu Âu và châu Mỹ ưa chuộng Căn cứ vào số liệu lưu lại cho thấy con người biết trồng hoa hồng từ lâu Nước Ba Tư cổ đại đã có vườn hồng nổi tiếng vào thế kỷ thứ VI sau công
nguyên Loài Rosa Gallia là thuỷ tổ của hơn 5000 giống hồng mà ngày nay
đang trồng trên khắp thế giới (Vũ Phạm Hồng Oanh) [16]
Theo khảo sát của thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, tập quán tặng hoa
và chi tiêu mua hoa của người Nhật đang tăng mạnh trong các dịp kỷ niệm và các ngày lễ lớn trong năm Thói quen tặng hoa đang trở thành nếp sống văn hoá của người Nhật Bản Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Nhật Bản có thể tự trồng và cung cấp hầu hết nhu cầu hoa trong nước Tuy nhiên, do nhu cầu trong nước về các loại hoa khá phong phú và để giảm chi phí do nhân công tại Nhật khá đắt đỏ không thể cạnh tranh với các nước khác, kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật Bản ngày càng tăng trong các năm gần đây
Trang 18Hàng năm, nhu cầu nhập khẩu hoa của Nhật Bản khoảng 453 triệu
USD, do nhu cầu trong nước ngày càng tăng cao, năm 2005 kim ngạch nhập
khẩu hoa của Nhật đạt 500 triệu USD Hoa nhập chủ yếu là các loại hoa
không được trồng phổ biến ở Nhật Bản Hà Lan là nước cung cấp các loại hoa
hồng, hoa loa kèn và các loại hạt, củ hoa tulíp cho Nhật Bản Việt Nam, hàng
năm xuất khẩu hoa sang Nhật Bản khoảng 6,2 triệu USD chiếm 1,4% thị phần
nhập khẩu hoa Nhật Bản
Hàn Quốc là nước sản xuất hoa ở vùng Bắc Á, với các loại hoa nổi
tiếng: cúc, lily, và địa lan Diện tích trồng trọt tăng nhanh từ 2249 ha (1985)
lên 4.6.22 ha (2002) và thu lại lợi nhuận cao từ trồng hoa với 789 tỷ won
(tương đương 607 triệu USD) Tình hình sản xuất hoa ở Hàn Quốc được thể
Sản xuất hoa ở châu Á là một tiềm năng quan trọng thúc đẩy nghề
trồng hoa phát triển trong tương lai Tuy nhiên hiện nay sự phát triển hoa của
các nước Châu á gặp các điều kiện thuận lợi và hạn chế sau:
- Thuận lợi:
+ Có nguồn gen cây hoa phong phú, đa dạng
+ Khí hậu nhiệt đới, đất đai phù hợp với sinh trưởng và phát triển của
nhiều loài hoa
+ Lao động dồi dào, giá lao động thấp
+ Chính phủ đầu tư khuyến khích phát triển hoa
- Hạn chế:
+ Thiếu giống hoa đẹp, chất lượng cao + Chưa có kỹ thuật sản xuất hoa thương mại + Vốn đầu tư cao, vay vốn với lãi suất cao + Cơ sở hạ tầng cho sản xuất, bảo quản, vận chuyển còn thiếu + Thông tin về thị trường chưa đầy đủ
+ Thiếu vốn đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo cán bộ + Thuế cao, sự kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tại Việt Nam
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây hoa có thể gieo trồng quanh năm, chủng loại hoa phong phú đa dạng, có nhiều giống hoa quý như: hoa lan, hoa trà Do nhu cầu dùng hoa và thưởng thức hoa của người dân ngày càng được nâng cao nên trong thực tế sản xuất ta cũng có giống hoa nhập nội như: viôlet, layơn, lily, đồng tiền đều sinh trưởng phát triển tốt Đây là những điều kiện thuận lợi cho sản xuất hoa ở Việt Nam phát triển để không những cung cấp đủ hoa cho nhu cầu nội địa mà còn có hoa xuất khẩu Để thực hiện được điều này thì việc điều tra quy hoạch mở rộng diện tích trồng và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hoa là những vấn đề rất cần thiết Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, trong đó diện tích trồng hoa còn hạn chế chỉ chiếm khoảng 0,02 % diện tích trồng trọt Diện tích hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống như: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Gò Vấp, Hoóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh), Đà Lạt với tổng diện tích trồng hoa khoảng 3.500 ha
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2003 cả nước có 9.430 ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng được thể hiện ở bảng 1.5 như sau:
Trang 19Bảng 1.5 Diện tích và giá trị sản lượng hoa cây cảnh
ở Việt Nam năm 2003 STT Tên tỉnh Diện tích (ha) Giá trị sản lượng (triệu đồng)
Nguồn: Số liệu Cục Thống kê, 2003
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được
chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Điều kiện khí hậu và đất đai đa
dạng tạo điều kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống hoa
thâm canh được nhà nước quan tâm hỗ trợ Theo Viện Nghiên cứu rau quả thì
hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10 - 15 lần so với trồng
lúa, 7 - 8 lần so với trồng rau Các dịp lễ hội hàng năm thường tập trung vào
các thời điểm sau Tết Nguyên đán, khiến cho việc tiêu thụ hoa và giá trị hoa
cũng cao hơn, do vậy các thời vụ trồng hoa dao động từ tháng 11 trở đi (Đặng
văn Đông, Nguyễn Xuân Linh, 2000) [3]
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta được thực hiện bởi 2 đối tượng chính:
nông dân sản xuất tự phát theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi
các doanh nghiệp tư nhân trong nước liên doanh với nước ngoài hoặc 100%
vốn nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu Hoa tiêu thụ trong nước chủng loại đa dạng và cung cấp ra thị trường theo mùa vụ, chất lượng từ thấp đến cao, giá cả vừa phải hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ thiếu ổn định hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hoa hồng, phong lan, đồng tiền, layơn, lily… sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, ….Tuy nhiên số lượng xuất khẩu không nhiều với doanh thu hơn 10 triệu USD/năm Sở dĩ sản phẩm hoa cây cành Việt Nam khó thâm nhập vào thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế
Ở Việt Nam đã hình thành 3 vùng trồng hoa lớn sau:
- Vùng trồng hoa Đồng bằng sông Hồng: với khí hậu bốn mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa Hoa được trồng hầu hết ở các tỉnh trong đó tập trung ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Hoa ở vùng này chủ yếu phục
vụ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu sang Trung Quốc (cúc, hồng ) Hồng là loại hoa trồng phổ biến nhất chiếm 35%, hoa cúc chiếm 30%, hoa đồng tiền là 10%, các loại hoa khác 25%
- Vùng trồng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện thời tiết khí hậu rất phù hợp cho trồng các loại hoa, đây là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lượng tốt: lily, hồng, đồng tiền, lan Riêng phong lan, địa lan theo thống kê cho thấy Việt nam có 125 chi, 800 loài lan mọc ở thiên nhiên nước ta Họ lan
đã trở thành đối tượng cực kỳ phong phú, đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp - Trần Minh Tâm, 1994)[15]
- Vùng trồng hoa Đồng bằng sông Cửu Long: đây là vùng trồng hoa có khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với nhiều loại hoa nhiệt đới: hoa lan, đồng tiền Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới
Trang 20nhanh nhất trong cả nước, nhiều trang trại hoa lan được thành lập, kinh doanh
và phát triển mô hình theo trang trại hoa lan tại Thái lan
Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước
với khả năng sản xuất hầu như quanh năm Diện tích trồng hoa của Lâm Đồng
năm 2005 đạt 2027 ha chủ yếu tập trung ở thành phố Đà Lạt, sản lượng hoa
khoảng 640 triệu cành nghề trồng hoa ở Đà lạt dang có xu hướng phát triển
mạnh cùng với việc áp dụng những công nghệ mới
Những năm gần đây, nghề trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều địa
phương Theo điều tra của Viện Di truyền nông nghiệp, tại nhiều địa phương
hoa là cây trồng cho thu nhập khá Ở Hà Nội so với sản xuất 2 lúa 1 mầu,
trong cùng thời điểm trên cùng một diện tích thì trồng hoa có lợi nhuận cao
gần 12 lần Ở Thái Bình có doanh nghiệp trồng hoa đã thu lãi tới 160 triệu
đồng/ha/năm, hay ở Lâm Đồng bình quân cho mức lãi 250 - 300 triệu
đồng/ha/năm từ sản xuất hoa
Hiện nay, vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tích
trồng hoa mà còn là chất lượng và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng hoá
các loại hoa phục vụ nhu cầu trong nước, mặt khác chú trọng các loại hoa chất
lượng cao phục vụ xuất khẩu Ở Việt Nam một số công ty nước ngoài thiếu
đất, lập doanh nghiệp hoặc liên doanh hợp tác sản xuất hoa Chỉ tính riêng
tỉnh Lâm Đồng đã có 4 công ty: Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc; Đài Loan ở
Di Linh; Hasfasm ở Đà Lạt Họ rất chú trọng đến sản xuất các loại hoa chất
lượng cao Đây là một tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển ngành sản xuất
hoa ở Việt Nam nói chung, song cũng đáng lo cho những doanh nghiệp,
người sản xuất hoa nội địa, nếu không cố gắng vươn lên sẽ không thể cạnh
tranh được với các doanh nghiệp này (Đặng Văn Đông, 2000)[2]
Diện tích trồng hoa ở Việt Nam ngày một tăng nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu hoa trong nước và để phục vụ cho xuất khẩu Diễn biến diện tích trồng hoa của Việt Nam từ năm 2001 – 2010 thể hiện ở bảng số liệu 1.6
Bảng 1.6: Diễn biến diện tích trồng hoa ở Việt Nam
số nhân giống cao, làm tăng chất lượng hoa Nhưng phương pháp này đòi hỏi
có thiết bị, giá thành cây giống cao Hiện nay thị trường hoa nước ta chưa phát triển nên nhân giống bằng nuôi cấy mô chưa áp dụng rộng rãi
Trang 21Điều kiện bảo vệ cây hoa: phần lớn hoa ở Việt Nam trồng trong điều
kiện tự nhiên ngoài đồng ruộng, không có điều kiện che chắn bảo vệ cây hoa,
chỉ có một diện tích nhỏ làm vườn ươm, vườn thí nghiệm được che nilon,
lưới…để bảo vệ hoa khỏi các tác động xấu như nắng, mưa, sâu,bệnh…
1.3.4.Phương hướng phát triển sản xuất và xuất khẩu hoa tươi đến năm 2015
của nước ta:
a Về ứng dụng công nghệ cao: đã được cải thiện đáng kể như thay đổi
cơ cấu giống, nuôi cấy mô, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật tiên tiến, áp
dụng công nghệ nhà lưới có mái che sáng…Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra
không đồng đều giữa các vùng sản xuất vì có nhiều lí do ( khí hậu thời tiết,
trình độ thâm canh, khả năng đầu tư, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiến bộ và thị
trường), Đà lạt có thể coi là địa bàn có tiến bộ nhanh nhất trong cả nước về
phát triển sản xuất hoa cắt cành
b Kỹ thuật sản xuất hoa: ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
và phương pháp nhân giống cổ truyền như: gieo từ hạt, trồng từ củ, mầm
nhánh Các phương pháp này dễ trồng, giá thành cây giống thấp nhưng chất
lượng giống không cao, dễ bị thoái hóa, làm giảm chất lượng hoa Vì vậy tuy
chủng loại hoa của Việt Nam khá phong phú nhưng thiếu giống hoa đẹp, chất
lượng cao
c Về qui mô và tổ chức sản xuất: hầu hết những cơ sở sản xuất hoa cắt
cành ở nước ta còn ở qui mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ, với diện
tích trung bình từ 2000 - 3000 m2/hộ Hộ sản xuất hoa cũng chỉ từ 1 - 2ha Ở
qui mô sản xuất này không thể áp dụng những tiến bộ như nhà kính, nhà lưới,
sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản, vận chuyển lạnh…để đưa
sản xuất trở thành sản xuất công nghiệp Từng hộ nông dân sản xuất đơn lẻ,
thiếu hợp tác là trở ngại lớn cho việc tạo nguồn hàng hóa lớn và đa dạng với
chất lượng hoa cao, đồng nhất
d Nhìn chung sản xuất hoa ở nước ta bị hạn chế rất lớn về thời vụ do điều kiện khí hậu không thích hợp: ở phía bắc hầu hết các loại hoa có chất lượng cao chỉ có thể sản xuất được với chất lượng khá trong vụ đông xuân, còn ở các tỉnh phía nam khí hậu lại càng ít thuận lợi hơn (trừ một số vùng đặc thù).[16]
1.4 Tình hình nghiên cứu hoa lily & hoa layơn ở Việt Nam
Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về hai loại hoa lily và layơn, bước đầu đã thu được một số kết quả đáng khích lệ Trong đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu như: " Nghiên cứu nhân nhanh cây
hoa loa kèn mầu ( chỉ các giống lily nói chung ) bằng phương pháp tạo củ in vitro " Theo các kết quả nghiên cứu về tạo củ in vitro hoa loa kèn mầu thì
môi trường thích hợp cho quá trình tạo củ là môi trường MS có nồng độ đường Saccharose là 4 - 5%, chế độ ánh sáng là tối hoàn toàn, tuổi chồi đưa vào tạo củ là 8 tuần tuổi, bình nuôi không có sự trao đổi khí
Nghiên cứu nhân nhanh cây loa kèn mầu bằng phương pháp tạo hạt nhân tạo" Trong tạo hạt nhân tạo nồng độ Na -alginate là 3%, nồng độ dung dịch muối CaCl2 là 75 mM và bảo quản ở nhiệt độ 10oC thì khả năng sống và nảy mầm của hạt là tốt nhất
Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hoa lily tại Thành phố Thái Nguyên năm 2006 – 2007, do Bùi Bảo Hoàn làm chủ nhiệm đề tài
Nghiên cứu du nhập, tuyển chọn, sản xuất giống hoa Layơn chất lượng cao và bảo quản xử lý hoa layơn tại tỉnh Phú Yên" do TS Nguyễn Thị Diễm làm chủ nhiệm
"Sản xuất giống hoa Layơn đỏ bằng công nghệ nuôi cấy mô tại Hải Phòng"
Lily là loại hoa cắt cành cao cấp, có vẻ đẹp sang trọng, độ bền cao, hương thơm ngọt ngào, phong phú về mầu sắc, không chỉ để trang trí mà còn
Trang 22được sử dụng điều chế nước hoa, mỹ phẩm, kem chống lão hóa…Bởi rất nhạy
cảm nên lily dễ mắc các bệnh gây ra bởi nấm, vi khuẩn, virus…Để tạo cây
giống có khả năng kháng virus và các nguồn bệnh khác, một số nước đã
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tế bào thực vật nhằm nhân giống nhanh và
chọn tạo giống mới Tiêu biểu, Hà Lan có những phòng thí nghiệm mỗi năm
sản xuất cả chục triệu củ giống Lily để xuất khẩu
Ở Việt nam từ năm 1991 đến nay, TS Dương Tấn Nhựt cùng một số
thạc sĩ, kỹ sư, sinh viên (Phân viện sinh học Đà Lạt) triển khai nhiều đề tài
nghiên cứu nhân giống vô tính hoa lily
Thời gian gần đây Phân viện sinh học Đà lạt lại có bước đột phá khi
nghiên cứu sản xuất thành công củ giống hoa lily, có thể cung ứng cho thị
trường với giá 3.000 - 5.000 đồng (tùy theo loại, mầu sắc) chỉ bằng 1/2 hoặc
1/3 giá nhập ngoại [12]
Các nhà khoa học thuộc Phân viện Công nghệ sinh học Đà Lạt và
trường Đại học khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) đã cho ra đời
phương pháp nhân giống thành công cây hoa lily bằng kỹ thuật nuôi cấy
bioreactor Từ tế bào của củ hoa lily được nuôi cấy trong bình thủy tinh, được
thiết kế chuyên biệt và đặt trên máy lắc Sau 3 tháng nuôi cấy, tế bào mô sẽ ra
rễ và tạo củ Sau đó củ sẽ được nuôi cấy bằng kỹ thuật bioreactor Từ 1 củ con
ban đầu, sau 3 tháng nuôi cấy có thể tạo ra 3 - 4 củ mới Kỹ thuật nuôi cấy
này mở ra triển vọng mới trong nhân giống và sản xuất cây lily con giá rẻ,
chất lượng tốt [12]
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : gồm giống hoa Lyli Socbonne và giống Layơn Đỏ đô
- Thời gian, địa điểm và điều kiện tiến hành thí nghiệm
+ Địa điểm thí nghiệm: tại thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn + Thời gian: Vụ Đ ông Xuân năm 2007 – 2008 và vụ Đ ông Xuân 2008-
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) 10 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm là 1 m2
(1m x 1m) diện tích thí nghiệm là 60 m2
( hoa lily 30 m2 và hoa layơn 30 m2) (chưa
Trang 23*/ Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời
gian nuôi củ đến khả năng để giống hoa Lily
Công thức 10 (Đ/C): không xử lý, dùng củ thương mại được cung cấp
bởi công ty giống cây trồng
Mỗi công thức 15 củ, 3 lần nhắc lại tổng thí nghiệm là 450 củ
*/ Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời
gian nuôi củ đến khả năng để giống hoa Layơn
Công thức 10 (Đ/C): Không xử lý,, dùng củ thương mại được cung cấp
bởi công ty giống cây trồng
Mỗi công thức 15 củ, 3 lần nhắc lại tổng thí nghiệm là 450 củ
- Vụ Đông Xuân năm 2007 - 2008 trồng thí nghiệm để lấy củ cho thí nghiệm vụ Đông Xuân năm 2008 - 2009 Sau khi thu hoạch hoa, củ lily và layơn được xử lý theo các công thức thí nghiệm, sau đó đưa vào bảo quản ở nhiệt độ 4 - 6o
2.2.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng
10 ngày theo dõi một lần, mỗi lần nhắc lại chọn 10 cây, theo dõi các chỉ tiêu sau
- Động thái tăng trưởng chiều cao của cây (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất
- Chiều cao cây ra nụ (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây
- Động thái ra lá (lá/cây): đếm số lá trên một thân của cây
- Kích thước lá (cm): đo chiều dài, rộng của lá trưởng thành, mỗi cây
đo 3 lá, mỗi lần nhắc lại đo 10 cây, tính trung bình
- Đường kính thân (cm): mỗi lần nhắc lại đo 10 cây (đo ở vị trí cách mặt đất 20 cm), tính trung bình
Trang 24- Sức nẩy mầm của các giống (10%, 50% và 80%) Theo dõi toàn bộ số
củ trên từng công thức thí nghiệm (ngày) Sức nảy mầm là tỷ lệcủ có mầm lên
khỏi mặt đất
- Thời gian xòe lá thứ nhất: theo dõi ngày đạt 10%, 50%, 80% cây xòe
lá thứ nhất (ngày)
2.2.3.3 Các chỉ tiêu về hoa
- Ngày ra nụ đầu tiên: là ngày có 10%, 50%, 80% số cây ra nụ đầu tiên
- Số hoa trên cây (hoa/cây): mỗi lần nhắc lại đếm 10 cây
- Ngày hoa hé nở (ngày): theo dõi từ trồng đến 10 %, 50%, 80% số cây
có hoa hé nở trên từng công thức
- Ngày hoa thứ nhất nở hoàn toàn (ngày): theo dõi từ trồng đến 10%,
50%, 80% số cây có hoa nở hoàn toàn của từng công thức
- Ngày hoa thứ nhất có mầu (ngày): từ trồng đến 10 %, 50%, 80% số
cây có hoa thứ nhất có mầu của từng công thức
2.2.3.4 Độ bền hoa
- Hoa cắt: khi hoa đầu tiên hé nở, cắt vào cắm trong lọ nước sạch mỗi
ngày thay nước một lần, xác định số ngày hoa tồn tại ( nở, héo, tàn), số ngày
cả cành hoa tàn ( hoa cuối cùng tàn), mỗi nhắc lại cắm 3 cành
- Theo dõi độ bền hoa tự nhiên: khi hoa đầu tiên hé nở, xác định số
ngày một hoa tồn tại ( nở, héo, tàn), số ngày cả cành hoa tàn, mỗi nhác lại
2.2.3.6.Hạch toán thu chi
Tính toán thu, chi của từng công thức, tính toán lãi thuần thu được trên
một đơn vị diện tích
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến chất lượng
củ giống hoa lily Socbonne vụ Đông Xuân năm 2008 – 2009 tại thành phố Lạng Sơn
3.1.1 Tình hình ra rễ, nảy mầm của củ giống hoa Lily Socbonne trong quá trình bảo quản
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến
tỷ lệ nảy mầm của giống lily Socbonne
ĐVT: %
Công thức
Tỷ lệ nảy mầm sau thời gian bảo quản……… tháng
Trang 25Hoa lily được bảo quản trong giá thể (mùn cưa ẩm đã xử lý thuốc diệt
nấm bệnh) để trong kho lạnh với nhiệt độ 4 – 6oC sau một thời gian sẽ nảy
mầm và ra rễ Qua nghiên cứu thí nghiệm, kết quả về tỷ lệ ra rễ và nảy mầm
của các công thức thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.1, 3.2
Số liệu bảng 3.1 cho thấy sau bảo quản 1 tháng, các công thức thí
nghiệm khác nhau có tỷ lệ nảy mầm khác nhau, như vậy chiều cao cắt cây và
thời gian nuôi củ ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm của giống hoa lily Socbonne
Tuy nhiên trong thí nghiệm công thức 2 với công thức 3, 4, 5, 6, 7, 8 không
có sự khác nhau về tỷ lệ nảy mầm ở mức xác suất 95% Sau bảo quản từ 2 – 6
tháng thì chiều cao cắt cây khác nhau và thời gian để củ khác nhau có ảnh
hưởng khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm của các công thức sai khác có ý nghĩa ở
mức tin cậy 99 % Trong đó công thức 7, 8 và 9 có tỷ lệ nảy mầm cao hơn các
công thức khác và không có sự sai khác ở mức tin cậy 95 %, sau 5 tháng bảo
quản đã nảy mầm 100 % Sau 6 tháng bảo quản thì các công thức 4, 5, 6, 7, 8,
và 9 nảy mầm 100 % cao hơn công thức 1, 2 và 3 (So sánh Duncan)
Như vậy đối với củ giống hoa lily Socbonne có thể để chiều cao cây từ
10 cm, 20 cm, 30 cm và tốt nhất để từ 2 – 3 tháng sau đó đem bảo quản Với
thời gian bảo quản 2 – 3 tháng thì củ giống hoa có thời gian tích luỹ vật chất
khô vào củ để nuôi củ, thời gian để củ càng lâu thì vật chất khô tích luỹ vào
củ được càng nhiều
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến
tỷ lệ ra rễ của giống lily Socbonne
ĐVT: %
Công thức
Tỷ lệ ra rễ sau thời gian bảo quản……… tháng
Số liệu bảng 3.2 cho thấy sau bảo quản 1 tháng củ lily Socbonne đã ra
rễ với tỷ lệ biến động từ 0 – 33,3 % Trong thí nghiệm chiều cao cắt cây khác nhau và thời gian để củ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của các, tuy nhiên công thức 7, 8 và 9 có tỷ lệ ra rễ cao nhất cao hơn các công thức còn lại và không có sự sai khác ở mức tin cậy 95 %, công thức 1, 2, 3 chưa ra rễ không có sự sai khác ở mức tin cậy 95%, công thức 4, 5 và 6 cũng không có sự khác nhau về tỷ lệ ra rễ ở mức tin cậy 95% Sau 5 tháng bảo quản chiều cao cắt cây và thời gian để củ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm, tuy nhiên trong thí nghiệm 3 công thức 7 với công thức 8 , 9 có 100 % số củ đã ra rễ không có sự sai khác
ở mức tin cậy 95% Công thức 1 với công thức 4, 5 và 6 không có sự sai khác
Trang 26về tỷ lệ ra rễ ở mức tin cậy 95% Công thức 2 với 3 không có sự sai khác vể
tỷ lệ ra rễ ở mức tin cậy 95% Sau 6 tháng bảo quản thì chiều cao cắt cây khác
nhau và thời gian nuôi củ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ
của, tuy nhiên giữa công thức 4 với công thức 5, 6, 7, 8, 9 và công thức 1 với
công thức 2, 3 không có sự sai khác ở mức tin cậy 95% (So sánh Duncan)
Như vậy chiều cao cắt cây 10 cm, 20 cm, 30 cm và thời gian bảo quản
2 – 3 tháng đã làm cho củ ra rễ sớm hơn
3.1.2 Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức nảy mầm
của giống lily Socbonne
Sức nảy mầm là tỷ lệ củ nảy mầm lên khỏi mặt đất trong một khoảng
thời gian
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến sức
nảy mầm của giống Lily Socbonne
Ghi chú: ** sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 99%; *
sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%; ns – sai khác không
Qua theo dõi động thái ra lá của giống lily Socbonne từ trồng cho đến khi bộ lá ổn định chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.4
Trang 27Bảng 3.4: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến động
thái ra lá của giống Lily socbonne
Ghi chú: ** sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 99%; *
sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%; ns – sai khác không
có ý nghĩa
Số liệu bảng 3.4 cho thấy sau trồng 30 ngày các công thức thí nghiệm
bắt đầu ra lá và số lá tăng dần sau trồng 40, 50 và 60 ngày Giai đoạn 40 ngày
sau trồng số lá tăng nhanh nhất, biến động từ 1 – 1,48 lá/ngày, sau trồng 50
ngày tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm giảm dần biến động từ 0,58 –
0,74 lá/ngày Sau trồng 60 ngày số lá lily ổn định biến động từ 25,6 đến 28,7
lá/cây Tất cả các công thức thí nghiệm có số lá ít hơn so với công thức đối
chứng(đ/c: 48,9 lá) ở mức tin cậy 95%
Khả năng sinh trưởng của cây được thể hiện qua số lá và chiều cao cây
đối với hoa cắt cành chiều cao cây có ý nghĩa rất lớn đến giá trị của cành hoa
Động thái tăng trưởng chiều cao càng nhanh thì sức sinh trưởng càng mạnh và
cây nhanh chóng đạt được chiều cao tối đa Đối với hoa cắt cành chiều cao cây có ý nghĩa rất lớn đến giá trị của cành hoa Chiều cao chủ yếu là do giống quy định Nếu giống có nhiều lá, lóng dài thì chiều cao cây cao hơn giống ít lá
và chiều dài lóng ngắn Ngoài ra chiều cao cây còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, dinh dưỡng
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của chiều cao cắt cây và thời gian nuôi củ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Lily Socbonne
ĐVT: cm
Công thức Sau trồng ngày