ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Sự cần thiết của đề tài Hiện nay đất nước ta đang trên con đường CNH – HĐH, các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng trong cao trong GDP của nước ta. Định hướng phát triển kinh tế của nước ta là sẽ giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ trong GDP của quốc gia. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không quan tâm đến việc phát triển ngành nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn đang là mặt trận hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, nó vẫn đang chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của quốc gia. Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ phát triển nông nghiệpnông thôn giai đoạn 2001 – 2010 là đẩy mạnh quá trình CNHHĐH nông nghiệp đồng thời với việc tăng cường đầu tư phát triển xây dựng nông thôn, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, trong đó có việc từng bước đưa chăn nuôi bò thành ngành sản xuất hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Các sản phẩm từ bò như sữa bò, thịt bò đều có giá trị dinh dưỡng rất cao và thị trường cho những loại sản phẩm đó ngày càng được mở rộng đặc biệt là sữa bò. Theo điều tra của chi cục thú y Tp.Hồ Chí Minh thì lượng sữa sản xuất ra trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu tiêu dùng sữa của người dân. Trong những năm gần đây, sản lượng sữa bò và thịt bò được tiêu thụ trên cả nước nói chung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng tăng lên. Do vậy ngành chăn nuôi bò đang cần sự đầu tư nhiều hơn để có thể phát triển hơn nữa. Tp.Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu trong chăn nuôi bò, các địa phương nuôi nhiều là: Hoóc Môn, Củ Chi, quận 12, quận Thủ Đức... Nhưng như chúng ta đều biết, Tp.Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh chóng, rất nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất thi nhau mọc lên, các dự án đầu tư trong và ngoài nước đang đổ vào khu vực này. Điều này làm cho diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng giảm xuống, ảnh hưởng đến các ngành trồng trọt và chăn nuôi trong đó có chăn nuôi bò. Thủ Đức là một quận thuộc địa phận của Tp.Hồ Chí Minh và tất nhiên Thủ Đức cũng chịu những tác động của quá trình đô thị hóa. Như vậy diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp nói chung và chăn nuôi bò nói riêng sẽ như thế nào ở quận Thủ Đức? Với tình hình như vậy thì loại hình chăn nuôi bò nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi? Hay chăn nuôi bò có còn phù hợp với tình hình đô thị hóa đang diễn ra như ở Thủ Đức? Với những lý do nêu trên, được sự đồng ý của khoa kinh tế trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, UBND quận Thủ Đức tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của Mô Hình Chăn Nuôi Bò Tại Quận Thủ Đức – Tp.Hồ Chí Minh”. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu _ Tìm hiểu tình hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức như: quy mô chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, giống bò được nuôi phổ biến, mục đích nuôi, lao động tham gia chăn nuôi bò… _ Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận. _ Đưa ra một số ý kiến đề xuất để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận. 1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Về không gian Đề tài tiến hành nghiên cứu tại quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh. Về thời gian Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 20032006 đến 20062006. 1.4. Cấu trúc của đề tài Để tiện cho việc nghiên cứu và theo dõi, luận văn được chia làm 5 chương như sau: Chương 1: Giới thiệu chung Trình bày lý do thực hiện đề tài, nêu khái quát về mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài, thời gian thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, nêu lên các phương pháp nghiên cứu, các công thức để tính toán và đánh giá kết quả hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện, giới thiệu chung về tổng quan của quận Thủ Đức, tình hình chăn nuôi bò trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh và quận Thủ Đức trong những năm vừa qua. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Từ những số liệu điều tra được, đề tài tập trung phân tích và đánh giá kết quả hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Dựa vào những kết quả tính toán được trong chương 4 để đưa ra các kết luận và đề xuất một số kiến nghị đối với các nông hộ chăn nuôi bò cũng như đối với địa phương. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý luận 2.1.1. Khái niệm kinh tế hộ Hộ nông dân là đơn vị sản suất cơ bản, là đơn vị kinh tế xã hội khá đặc biệt. Bản thân mỗi hộ nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng. Là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp, hộ có mục đích tối đa hóa nguồn thu trên cơ sở sử dụng toàn bộ các nguồn lực và nâng cao phúc lợi gia đình. 2.1.2. Đặc điểm kinh tế hộ Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ, họ cũng có đầy đủ các yếu tố, các tư liệu phục vụ sản xuất. Đó là các nguồn lực sẵn có của nông hộ như: lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, công cụ… Từ các yếu tố sản xuất đó nông hộ sẽ tạo ra các sản phẩm cung cấp cho gia đình và xã hội. Do sản xuất với quy mô nhỏ nên số lượng hàng hóa tạo ra của từng hộ là không lớn. Tư liệu sản xuất không đầy đủ nên chất lượng của sản phẩm làm ra cũng chưa cao. Hộ nông dân là đơn vị tiêu dùng. Các sản phẩm tạo ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình họ là chính, nếu còn dư họ sẽ cung cấp ra thị trường bằng cách trao đổi hoặc buôn bán. Cũng có một số nông hộ chuyên sản xuất để cung cấp ra thị trường. Hoạt động sản xuất chính của các nông hộ là trồng trọt và chăn nuôi. Trước kia, hầu hết các nông hộ đều sản xuất để cung cấp cho nhu cầu của gia đình họ. Đó là đặc tính tự cung tự cấp của các hộ nông dân. Nhưng trong quá trình phát triển của đất nước, các hộ nông dân cũng đã có những bước đổi mới khá quan trọng. Họ đã tiến hành sản xuất chuyên canh để cung cấp sản phẩm cho xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là họ phải hoàn thiện tư liệu sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Do đa số các hộ nông dân đều thiếu tư liệu sản xuất: thiếu vốn, thiếu đất đai, kỹ thuật... nên họ thường đầu tư sản xuất thấp, họ luôn tránh rủi. Cũng vì vậy nên hiệu quả kinh tế mang lại của nông hộ thường không cao. Chỉ có một số nông hộ mạnh dạn đầu tư với quy mô lớn, năng suất lao động cao nên thu nhập của họ cũng khá cao nhưng mức độ rủi ro cũng khá lớn. Đa số các nông hộ đều chọn cho mình cách sản xuất khá an toàn đó là họ luôn trồng nhiều loại cây khác nhau trong cùng một thời kỳ hoặc chăn nuôi nhiều vật nuôi một lúc. Điều này làm cho sản phẩm của họ luôn đa dạng nhưng số lượng thì không nhiều. Điều đó đồng nghĩa với việc họ tránh được rủi ro, nếu giá cả hàng hóa này giảm xuống thấp thì còn có hàng hóa khác. Nhưng cách sản xuất này không mang lại hiệu quả cao cho nông hộ. 2.1.3. Vai trò kinh tế hộ Tuy các hộ nông dân còn sản xuất một cách nhỏ lẻ, quy mô không lớn, năng suất chưa cao, hiệu quả kinh tế chưa cao... nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp. Các hộ nông dân đã sử dụng những điều kiện sẵn có để sản xuất, ổn định cuộc sống. Điều đó cũng giải quyết được một số lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội. Ngoài việc tạo ra các thành phẩm phục vụ cho nhu cầu của gia đình và xã hội, kinh tế hộ nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ, là cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất lớn đến với người tiêu dùng. Vì mô hình kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư không lớn, công tác quản lý khá dễ dàng so với các loại hình sản xuất khác nên kinh tế hộ thường được chọn làm điểm khởi đầu. Mô hình kinh tế hộ rất phù hợp với những nông hộ có ít vốn, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, tư liệu sản xuất còn hạn chế. Nó cũng là tiền đề cho sự phát triển các loại hình sản xuất khác. 2.1.4. Loại hình chăn nuôi bò sữa Đây là loại hình chăn nuôi bò để lấy sữa. Các nông hộ thường nuôi các giống bò sữa như: Bò Hà Lan, bò lai Hà Lan, bò Lai Sind, bò Nâu Thụy Sỹ... Sản lượng sữa, chu kỳ cho sữa sẽ tùy thuộc vào từng giống bò, cách chăm sóc, lượng thức ăn, kỹ thuật nuôi... của nông hộ. Người chăn nuôi sẽ vận chuyển sữa đến các trạm thu mua sữa của các công ty sữa để bán. Giá sữa mà các trạm thu mua, các công ty sữa trả cho nông hộ sẽ phụ thuộc vào độ béo, độ khô, thời gian vắt sữa. Ngoài sản phẩm chính là sữa, loại hình chăn nuôi bò sữa còn có các sản phẩm phụ như: bê đực, phân bò. 2.1.5. Loại hình chăn nuôi bò thịt Đây là loại hình chăn nuôi bò để bán thịt. Các giống bò được nuôi thường là bò Ta Vàng và bò Lai Sind. So với phương thức chăn nuôi bò sữa, phương thức chăn nuôi bò thịt đơn giãn hơn về kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn, chuồng trại... Thông thường nông hộ sẽ mua bò cái mẹ về nuôi, sau khi bò cái sinh sản thì nông hộ sẽ nuôi bê con đến một thời điểm thích hợp rồi bán cho thương lái. Một số hộ chăn nuôi theo phương thức vỗ béo, họ mua bò gầy về nuôi vỗ béo, sau khi bò béo lên thì họ sẽ bán cho thương lái. Giá bò thịt phụ thuộc nhiều vào trọng lượng của bò. Ngoài sản phẩm chính là bò thịt, loại hình chăn nuôi bò thịt còn có sản phẩm phụ là phân bò. 2.1.6. Khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một đại lượng quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, nó dùng để xác định kết quả hoạt động sản xuất thu được với toàn bộ chi phí sản xuất bỏ ra để đạt kết quả đó. Kết quả Hiệu quả = Chi phí Hiệu quả kinh tế thể hiện trong mối tương quan giữa thu và chi, có các trường hợp sau: + Thu tăng nhưng chi không đổi. + Tăng thu, tăng chi nhưng tốc độ tăng thu nhanh hơn tốc độ tăng chi. + Thu không đổi nhưng chi giảm. 2.1.7. Các chỉ tiêu đo lường Chỉ tiêu kết quả. Giá trị tổng sản lượng (GTTSL): giá trị tổng sản lượng là chỉ tiêu tổng hợp được tính bằng tiền phản ánh kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh. GTTSL = Tổng sản lượng đơn giá sản phẩm Chi phí (CP): chi phí là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ khoản chi phí bỏ ra đầu tư vào quá trình sản xuất kể cả chi phí vật chất để dành từ chu kì trước (giống, phân chuồng ...) và phần lao động gia đình, trong đó có cả thuế nông nghiệp. Chỉ tiêu này nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào quy mô canh tác, trình độ kỹ thuật canh tác từng hộ. CP = Chi phí vật chất + chi phí lao động Lợi nhuận (LN): Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng trong sản xuất. Đây là khoản chênh lệch giữa giá trị tổng sản lượng và chi phí bỏ ra. LN = GTTSL – tổng chi phí sản xuất (CP) Chỉ tiêu hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (LNCP): chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Lợi nhuận Tỷ suất LNCP = Chi phí Tỷ suất thu nhập trên chi phí (TNCP): chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. Thu nhập Tỷ suất TNCP = Chi phí Tỷ suất doanh thu trên chi phí (DTCP): Chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ một đồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Tổng doanh thu Tỷ suất DTCP = Chi phí 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả Đây là phương pháp thu thập thông tin, số liệu để nhằm đánh giá tổng quát đặc trưng về một mặt nào đó của tổng thể cần nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài này, phương pháp được sử dụng để trình bày về thực trạng của mô hình chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh. 2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu Trong phạm vi đề tài này tôi tiến hành thu thập số liệu theo 2 nguồn: nguồn sơ cấp và nguồn thứ cấp. Các vấn đề cần điều tra nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu bao gồm: quy mô chăn nuôi của các nông hộ, thu nhập của các hộ chăn nuôi bò, chi phí chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, giống bò được nuôi, chuồng trại ... Thu thập số liệu sơ cấp: thu thập số liệu sơ cấp theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức bằng cách lập bảng câu hỏi để điều tra. Trong quá trình điều tra nông hộ chăn nuôi, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của phòng kinh tế quận Thủ Đức và hội nông dân của các phường có nông hộ chăn nuôi bò. Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, phương tiện đi lại, kinh phí, tổng thể điều tra khá lớn (bò được nuôi chủ yếu ở 10 phường trong tổng số 12 phường của quận) nên tôi không thể tiến hành điều tra toàn bộ các hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận mà chỉ điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên. Phương pháp điều tra chọn mẫu là phương pháp điều tra không toàn bộ, chỉ tiến hành điều tra một số mẫu được chọn ngẫu nhiên trong tổng thể đối tượng nghiên cứu, sau đó suy rộng ra cho tổng thể. Trong phạm vi đề tài này tôi đã tiến hành điều tra 65 hộ chăn nuôi bò, trong 65 hộ này thì có 35 hộ chăn nuôi bò sữa và 30 hộ chăn nuôi bò thịt. Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập các thông tin, số liệu sẵn có từ các phương tiện thông tin đại chúng, báo cáo, tạp chí, niên giám thống kê, Sở NNPTNT TP.HCM; từ các cơ quan ở địa phương như: phòng kinh tế quận, phòng thống kê quận... và một số nguồn khác có liên quan. 2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu Sau khi tiến hành thu thập số liệu tôi tiến hành phân tích chúng qua các chỉ tiêu đã được đặt ra. Dựa trên kết quả phân tích đó để đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức. Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng các phần mềm: MS Excel, MS Word, SPSS.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH
CHĂN NUÔI BÒ TẠI QUẬN THỦ ĐỨC
TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN THU
LUẬN VĂN CỬ NHÂNNGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 06/2006
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường
Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận luận văn “Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức – Tp.Hồ Chí Minh” do Nguyễn
Xuân Thu, sinh viên khóa 28, ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành côngtrước hội đồng vào ngày _
Thái Anh HòaNgười hướng dẫn,
Ký tên, ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
_ _
Ký tên, ngày tháng năm Ký tên, ngày tháng năm
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên cho con gởi tất cả lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cha mẹ, làngười đã sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục, động viên để con có được như ngàyhôm nay
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thànhphố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa và tất cả các thầy cô khoa Kinh Tế đãtruyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, những bài học bổ ích trong thời giantôi học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn thầy Thái Anh Hòa, người đã tận tình giúp đỡ,hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng Kinh Tế quận Thủ Đức – Tp.HồChí Minh, đặc biệt là anh Quý và anh Hoài Anh đã tận tình giúp đỡ tôi trong thờigian thực tập tại địa phương
Xin chân thành cảm ơn toàn thể các hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận đãcung cấp những thông tin quý báu để tôi hoàn thành đề tài này
Xin cảm ơn tất cả bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian qua
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN XUÂN THU, Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh Tháng 6 năm 2006 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chănnuôi bò tại quận Thủ Đức – Tp.Hồ Chí Minh
Đề tài tìm hiểu về hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên cơ sởphân tích số liệu điều tra 65 nông hộ chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức, Tp.Hồ ChíMinh Trong 65 hộ điều tra, có 35 hộ nuôi bò sữa và 30 hộ chăn nuôi bò thịt Đềtài đã sử dụng phương pháp mô tả, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp
sử lý số liệu để xác định hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bànquận Thủ Đức Ngoài ra, đề tài cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận đãđem lại nguồn thu nhập khá ổn định cho người chăn nuôi Chăn nuôi bò thịtmang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với chăn nuôi bò sữa Nhưng do quá trình
đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh nên loại hình chăn nuôi bò thịt rất khó pháttriển Nhìn chung các nông hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận đang gặp nhiềukhó khăn, do vậy các chính sách mà địa phương đã đưa ra: cho vay vốn ưu đãi,giúp đỡ về kỹ thuật nhằm hỗ trợ cho các nông hộ chăn nuôi bò là hết sức cầnthiết
Trang 5NGUYEN XUAN THU, Faculty of Economics, Nong Lam University –
Ho Chi Minh City June, 2006 Evaluation of economic efficiency of cattleproduction in Thu Duc district – Ho Chi Minh City
The study investigated economic efficiency of cattle production byanalysing data of 65 farm households in Thu Duc district, Ho Chi Minh City In
65 samples, there were 35 households raising milk - cow and 30 householdsraising fattening cattle The study used description method, data collection andanalysis method to determine economic efficiency of the cattle raising in ThuDuc district Besides, the study proposed some solutions to improve economicefficiency for cattle producers
The study results showed that cattle production brought stable income forfarm households The economic efficiency of fattening production is higher thanmilk - cow production The urbanisation process is happening very quickly, sothe fattening production is very difficult to develop On the whole, the cattle farmhouseholds in Thu Duc district face many difficulties, so the policies which localgoverment offered such as: loan with favorable interest rate, provision oftechnique advises to support for cattle producers is very neccessary
Trang 6CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
3.1 Giới thiệu về các tài liệu nghiên cứu liên quan đã thực hiện 103.2 Một số đặc điểm tổng quát của quận Thủ Đức 11
Trang 73.2.4 Nhận định chung về tổng quan 183.3 Vài nét về tình hình chăn nuôi bò tại Tp.Hồ Chí Minh
3.3.1 Tình hình chăn nuôi bò tại Tp.Hồ CHí Minh 193.3.2 Tình hình chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức 21
4.1 Tình hình chung của nông hộ chăn nuôi bò 23
4.2.6 Nguồn vốn sử dụng cho chăn nuôi 31
4.3 Các biện pháp hỗ trợ của địa phương đối với các hộ chăn nuôi bò 334.4 Những thuận lợi và khó khăn đối với các hộ chăn nuôi bò 34
4.6 Tình hình tiêu thụ sản phẩm từ bò thịt 38
4.7.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò sữa 47
4.8.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò thịt 554.9 So sánh hiệu quả kinh tế giữa bò sữa và bò thịt 574.10 Các nguồn thu khác của các nông hộ chăn nuôi bò 59
Trang 84.11 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình và kết quả chăn nuôi bò 614.12 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả ngành chăn nuôi bò
4.12.1 Chú trọng trong khâu chọn giống 684.12.2 Duy trì và phát triển mô hình tổ chăn nuôi hợp tác 694.12.3 Chuyển giao nhanh chóng các kỹ thuật mới 69
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 1 Tình Hình Chăn Nuôi Gia Súc, Gia Cầm ở Quận Thủ Đức 14
Bảng 3 Tình Hình Biến Động Đất tại Quận Thủ Đức 17Bảng 4 Tình Hình Phát Triển Đàn Bò của Tp.Hồ Chí Minh qua Các Năm 20Bảng 5 Phân Bố Đàn bò của Quận Thủ Đức Năm 2005 21
Bảng 7 Độ Tuổi Lao Động của Chủ Hộ Chăn Nuôi Bò 24
Bảng 10 Một Số Ngành Nghề Khác của Các Nông Hộ Chăn Nuôi
Bảng 12 Kinh Nghiệm Chăn Nuôi của Các Nông Hộ 28
Bảng 15 Tình Hình Vay Vốn của Các Nông Hộ Năm 2005 32Bảng 16 Tình Hình Tham Gia Hoạt Động Khuyến Nông của Nông Hộ 33Bảng 17 Tình Hình Tiêu Thụ Sữa của Các Nông Hộ Điều Tra 36Bảng 18 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bê (Con/Ngày) 40Bảng 19 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bò Hậu Bị (Con/Ngày) 41Bảng 20 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bò Cạn Sữa (Con/Ngày) 42Bảng 21 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bò Đang Cho Sữa (Con/Ngày) 43Bảng 22 Tổng Chi Phí Bình Quân của Mô Hình Chăn Nuôi bò Sữa
Bảng 23 Tổng Doanh Thu Bình Quân của Mô Hình Chăn Nuôi Bò Sữa
Bảng 24 Các Chỉ Tiêu Kết Quả - Hiệu Quả Tính Bình Quân của Mô Hình
Trang 11Bảng 25 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bê (Con/Ngày) 50Bảng 26 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân của Bò Trưởng Thành (Con/Ngày) 51Bảng 27 Chi Phí Thức Ăn Bình Quân Cho Bò với Loại Hình Chăn Nuôi
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
TrangHình 1 Sơ Đồ Phương Thức Tiêu Thụ Sữa của Các Nông Hộ Điều Tra 38Hình 2 Biểu Đồ Phân Phối Thu Nhập của Các Nông Hộ Ngoài Nguồn Thu
từ Chăn Nuôi Bò Năm 2005 (Phân Theo Các Nguồn Thu) 61Hình 3 Biểu Đồ Biến Động Giá Sữa Bò qua Các Năm tại Các Trạm Thu
Hình 4 Biểu Đồ Biến Động Giá Thịt Bò qua Các Năm (2001 – 2005) 66
Trang 13DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Bảng Câu Hỏi Điều Tra Nông Hộ
Trang 14CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trên con đường CNH – HĐH, các ngành côngnghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng trong cao trong GDP của nước ta.Định hướng phát triển kinh tế của nước ta là sẽ giảm dần tỷ trọng của ngành nôngnghiệp và tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ trong GDP của quốcgia Điều đó không có nghĩa là chúng ta không quan tâm đến việc phát triểnngành nông nghiệp Nông nghiệp vẫn đang là mặt trận hàng đầu trong quá trìnhphát triển kinh tế của nước ta hiện nay, nó vẫn đang chiếm vị trí quan trọng trong
cơ cấu kinh tế của quốc gia Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ phát triểnnông nghiệp-nông thôn giai đoạn 2001 – 2010 là đẩy mạnh quá trình CNH-HĐHnông nghiệp đồng thời với việc tăng cường đầu tư phát triển xây dựng nông thôn,chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, trong đó có việc từng bước đưa chăn nuôi
bò thành ngành sản xuất hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhậpcho lao động nông thôn
Các sản phẩm từ bò như sữa bò, thịt bò đều có giá trị dinh dưỡng rất cao
và thị trường cho những loại sản phẩm đó ngày càng được mở rộng đặc biệt làsữa bò Theo điều tra của chi cục thú y Tp.Hồ Chí Minh thì lượng sữa sản xuất ratrong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu tiêu dùng sữa của ngườidân Trong những năm gần đây, sản lượng sữa bò và thịt bò được tiêu thụ trên cảnước nói chung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng tăng lên Do vậy ngànhchăn nuôi bò đang cần sự đầu tư nhiều hơn để có thể phát triển hơn nữa
Tp.Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu trong chăn nuôi
bò, các địa phương nuôi nhiều là: Hoóc Môn, Củ Chi, quận 12, quận Thủ Đức Nhưng như chúng ta đều biết, Tp.Hồ Chí Minh là một trong những trung tâmkinh tế lớn của cả nước Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa diễn ra rấtnhanh chóng, rất nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất thi nhau mọc lên, các dự
Trang 15án đầu tư trong và ngoài nước đang đổ vào khu vực này Điều này làm cho diệntích đất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng giảm xuống, ảnh hưởng đến cácngành trồng trọt và chăn nuôi trong đó có chăn nuôi bò Thủ Đức là một quậnthuộc địa phận của Tp.Hồ Chí Minh và tất nhiên Thủ Đức cũng chịu những tácđộng của quá trình đô thị hóa Như vậy diện tích đất sử dụng cho nông nghiệpnói chung và chăn nuôi bò nói riêng sẽ như thế nào ở quận Thủ Đức? Với tìnhhình như vậy thì loại hình chăn nuôi bò nào sẽ mang lại hiệu quả kinh tế chongười chăn nuôi? Hay chăn nuôi bò có còn phù hợp với tình hình đô thị hóa đangdiễn ra như ở Thủ Đức?
Với những lý do nêu trên, được sự đồng ý của khoa kinh tế trường ĐạiHọc Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, UBND quận Thủ Đức tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của Mô Hình Chăn Nuôi Bò Tại Quận Thủ Đức – Tp.Hồ Chí Minh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
_ Tìm hiểu tình hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức như: quy
mô chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, giống bò được nuôi phổ biến, mục đích nuôi,lao động tham gia chăn nuôi bò…
_ Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận._ Đưa ra một số ý kiến đề xuất để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế củacác hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh
Về thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 20/03/2006 đến 20/06/2006
1.4 Cấu trúc của đề tài
Để tiện cho việc nghiên cứu và theo dõi, luận văn được chia làm 5 chươngnhư sau:
Trang 16Chương 1: Giới thiệu chung
Trình bày lý do thực hiện đề tài, nêu khái quát về mục tiêu nghiên cứu,phạm vi nghiên cứu của đề tài, thời gian thực hiện đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trình bày các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, nêulên các phương pháp nghiên cứu, các công thức để tính toán và đánh giá kết quả -hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò
Chương 3: Tổng quan
Giới thiệu một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện,giới thiệu chung về tổng quan của quận Thủ Đức, tình hình chăn nuôi bò trên địabàn Tp.Hồ Chí Minh và quận Thủ Đức trong những năm vừa qua
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Từ những số liệu điều tra được, đề tài tập trung phân tích và đánh giákết quả - hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Dựa vào những kết quả tính toán được trong chương 4 để đưa ra cáckết luận và đề xuất một số kiến nghị đối với các nông hộ chăn nuôi bò cũng nhưđối với địa phương
Trang 17CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm kinh tế hộ
Hộ nông dân là đơn vị sản suất cơ bản, là đơn vị kinh tế xã hội khá đặcbiệt Bản thân mỗi hộ nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất vàtiêu dùng Là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp, hộ có mục đích tối đahóa nguồn thu trên cơ sở sử dụng toàn bộ các nguồn lực và nâng cao phúc lợi giađình
2.1.2 Đặc điểm kinh tế hộ
- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ, họ cũng có đầy
đủ các yếu tố, các tư liệu phục vụ sản xuất Đó là các nguồn lực sẵn có của nông
hộ như: lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, công cụ… Từ các yếu tố sản xuất đónông hộ sẽ tạo ra các sản phẩm cung cấp cho gia đình và xã hội Do sản xuất vớiquy mô nhỏ nên số lượng hàng hóa tạo ra của từng hộ là không lớn Tư liệu sảnxuất không đầy đủ nên chất lượng của sản phẩm làm ra cũng chưa cao
- Hộ nông dân là đơn vị tiêu dùng Các sản phẩm tạo ra nhằm đáp ứng chonhu cầu tiêu dùng của gia đình họ là chính, nếu còn dư họ sẽ cung cấp ra thịtrường bằng cách trao đổi hoặc buôn bán Cũng có một số nông hộ chuyên sảnxuất để cung cấp ra thị trường Hoạt động sản xuất chính của các nông hộ làtrồng trọt và chăn nuôi Trước kia, hầu hết các nông hộ đều sản xuất để cung cấpcho nhu cầu của gia đình họ Đó là đặc tính tự cung tự cấp của các hộ nông dân.Nhưng trong quá trình phát triển của đất nước, các hộ nông dân cũng đã cónhững bước đổi mới khá quan trọng Họ đã tiến hành sản xuất chuyên canh đểcung cấp sản phẩm cho xã hội Điều đó cũng có nghĩa là họ phải hoàn thiện tưliệu sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế
- Do đa số các hộ nông dân đều thiếu tư liệu sản xuất: thiếu vốn, thiếu đấtđai, kỹ thuật nên họ thường đầu tư sản xuất thấp, họ luôn tránh rủi Cũng vì vậy
Trang 18nên hiệu quả kinh tế mang lại của nông hộ thường không cao Chỉ có một sốnông hộ mạnh dạn đầu tư với quy mô lớn, năng suất lao động cao nên thu nhậpcủa họ cũng khá cao nhưng mức độ rủi ro cũng khá lớn Đa số các nông hộ đềuchọn cho mình cách sản xuất khá an toàn đó là họ luôn trồng nhiều loại cây khácnhau trong cùng một thời kỳ hoặc chăn nuôi nhiều vật nuôi một lúc Điều nàylàm cho sản phẩm của họ luôn đa dạng nhưng số lượng thì không nhiều Điều đóđồng nghĩa với việc họ tránh được rủi ro, nếu giá cả hàng hóa này giảm xuốngthấp thì còn có hàng hóa khác Nhưng cách sản xuất này không mang lại hiệu quảcao cho nông hộ.
2.1.3 Vai trò kinh tế hộ
- Tuy các hộ nông dân còn sản xuất một cách nhỏ lẻ, quy mô không lớn,năng suất chưa cao, hiệu quả kinh tế chưa cao nhưng không thể phủ nhận vaitrò quan trọng của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp Các hộ nông dân đã sửdụng những điều kiện sẵn có để sản xuất, ổn định cuộc sống Điều đó cũng giảiquyết được một số lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội
- Ngoài việc tạo ra các thành phẩm phục vụ cho nhu cầu của gia đình và
xã hội, kinh tế hộ nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấpnguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ, là cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất lớnđến với người tiêu dùng
- Vì mô hình kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư không lớn,công tác quản lý khá dễ dàng so với các loại hình sản xuất khác nên kinh tế hộthường được chọn làm điểm khởi đầu Mô hình kinh tế hộ rất phù hợp với nhữngnông hộ có ít vốn, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, tư liệu sản xuất còn hạnchế Nó cũng là tiền đề cho sự phát triển các loại hình sản xuất khác
2.1.4 Loại hình chăn nuôi bò sữa
Đây là loại hình chăn nuôi bò để lấy sữa Các nông hộ thường nuôi cácgiống bò sữa như: Bò Hà Lan, bò lai Hà Lan, bò Lai Sind, bò Nâu Thụy Sỹ Sảnlượng sữa, chu kỳ cho sữa sẽ tùy thuộc vào từng giống bò, cách chăm sóc, lượngthức ăn, kỹ thuật nuôi của nông hộ Người chăn nuôi sẽ vận chuyển sữa đến cáctrạm thu mua sữa của các công ty sữa để bán Giá sữa mà các trạm thu mua, cáccông ty sữa trả cho nông hộ sẽ phụ thuộc vào độ béo, độ khô, thời gian vắt sữa
Trang 19Ngoài sản phẩm chính là sữa, loại hình chăn nuôi bò sữa còn có các sản phẩmphụ như: bê đực, phân bò.
2.1.5 Loại hình chăn nuôi bò thịt
Đây là loại hình chăn nuôi bò để bán thịt Các giống bò được nuôi thường
là bò Ta Vàng và bò Lai Sind So với phương thức chăn nuôi bò sữa, phươngthức chăn nuôi bò thịt đơn giãn hơn về kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn, chuồng trại Thông thường nông hộ sẽ mua bò cái mẹ về nuôi, sau khi bò cái sinh sản thì nông
hộ sẽ nuôi bê con đến một thời điểm thích hợp rồi bán cho thương lái Một số hộchăn nuôi theo phương thức vỗ béo, họ mua bò gầy về nuôi vỗ béo, sau khi bòbéo lên thì họ sẽ bán cho thương lái Giá bò thịt phụ thuộc nhiều vào trọng lượngcủa bò Ngoài sản phẩm chính là bò thịt, loại hình chăn nuôi bò thịt còn có sảnphẩm phụ là phân bò
2.1.6 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, nódùng để xác định kết quả hoạt động sản xuất thu được với toàn bộ chi phí sảnxuất bỏ ra để đạt kết quả đó
Kết quảHiệu quả =
Chi phíHiệu quả kinh tế thể hiện trong mối tương quan giữa thu và chi, có cáctrường hợp sau:
+ Thu tăng nhưng chi không đổi
+ Tăng thu, tăng chi nhưng tốc độ tăng thu nhanh hơn tốc độ tăng chi.+ Thu không đổi nhưng chi giảm
2.1.7 Các chỉ tiêu đo lường
Chỉ tiêu kết quả.
- Giá trị tổng sản lượng (GTTSL): giá trị tổng sản lượng là chỉ tiêu tổnghợp được tính bằng tiền phản ánh kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinhdoanh
GTTSL = Tổng sản lượng * đơn giá sản phẩm
Trang 20- Chi phí (CP): chi phí là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ khoản chi phí bỏ ra đầu
tư vào quá trình sản xuất kể cả chi phí vật chất để dành từ chu kì trước (giống,phân chuồng ) và phần lao động gia đình, trong đó có cả thuế nông nghiệp Chỉtiêu này nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào quy mô canh tác, trình độ kỹ thuật canhtác từng hộ
CP = Chi phí vật chất + chi phí lao động
- Lợi nhuận (LN): Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng trong sản xuất Đây làkhoản chênh lệch giữa giá trị tổng sản lượng và chi phí bỏ ra
LN = GTTSL – tổng chi phí sản xuất (CP)
Chỉ tiêu hiệu quả.
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (LN/CP): chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ mộtđồng chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tổng doanh thu
Tỷ suất DT/CP =
Chi phí
Trang 212.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Đây là phương pháp thu thập thông tin, số liệu để nhằm đánh giá tổng quátđặc trưng về một mặt nào đó của tổng thể cần nghiên cứu Trong phạm vi đề tàinày, phương pháp được sử dụng để trình bày về thực trạng của mô hình chănnuôi bò tại quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Trong phạm vi đề tài này tôi tiến hành thu thập số liệu theo 2 nguồn:
nguồn sơ cấp và nguồn thứ cấp Các vấn đề cần điều tra nhằm phục vụ cho mụctiêu nghiên cứu bao gồm: quy mô chăn nuôi của các nông hộ, thu nhập của các
hộ chăn nuôi bò, chi phí chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, giống bò được nuôi,chuồng trại
- Thu thập số liệu sơ cấp: thu thập số liệu sơ cấp theo phương pháp phỏngvấn trực tiếp nông hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức bằng cách lậpbảng câu hỏi để điều tra Trong quá trình điều tra nông hộ chăn nuôi, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ của phòng kinh tế quận Thủ Đức và hội nông dân của cácphường có nông hộ chăn nuôi bò Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, phươngtiện đi lại, kinh phí, tổng thể điều tra khá lớn (bò được nuôi chủ yếu ở 10 phườngtrong tổng số 12 phường của quận) nên tôi không thể tiến hành điều tra toàn bộcác hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận mà chỉ điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
Phương pháp điều tra chọn mẫu là phương pháp điều tra không toàn bộ,chỉ tiến hành điều tra một số mẫu được chọn ngẫu nhiên trong tổng thể đối tượngnghiên cứu, sau đó suy rộng ra cho tổng thể Trong phạm vi đề tài này tôi đã tiếnhành điều tra 65 hộ chăn nuôi bò, trong 65 hộ này thì có 35 hộ chăn nuôi bò sữa
và 30 hộ chăn nuôi bò thịt
- Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập các thông tin, số liệu sẵn có từ cácphương tiện thông tin đại chúng, báo cáo, tạp chí, niên giám thống kê, SởNN&PTNT TP.HCM; từ các cơ quan ở địa phương như: phòng kinh tế quận,phòng thống kê quận và một số nguồn khác có liên quan
Trang 222.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi tiến hành thu thập số liệu tôi tiến hành phân tích chúng qua cácchỉ tiêu đã được đặt ra Dựa trên kết quả phân tích đó để đánh giá hiệu quả kinh
tế của mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn quận Thủ Đức
Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng các phần mềm: MS Excel,
MS Word, SPSS
Trang 23CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN
3.1 Giới thiệu về các tài liệu nghiên cứu liên quan đã thực hiện
Với đặc thù là nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nông nghiệp, trongnhững năm qua sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí
Minh đã tiến hành nghiên cứu rất nhiều đề tài liên quan đến nông nghiệp Trong
đó ngành chăn nuôi cũng chiếm một số lượng rất lớn Các nghiên cứu có liênquan đến ngành chăn nuôi trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh ngày một phong phú và
đa dạng Nói đến ngành chăn nuôi trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh chúng ta khôngthể không nhắc tới loại hình chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa Số lượng bò sữa ởđây chiếm tới 60 – 70% số lượng bò sữa trên cả nước Sản lượng sữa mà Tp.HồChí Minh cung cấp ra thị trường rất lớn, nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầutiêu thụ của người tiêu dùng Các khu vực nuôi bò nhiều nhất là: huyện Củ Chi,huyện Hoóc Môn, quận Bình Thạnh, quận 12, quận Thủ Đức Có rất nhiều đềtài sinh viên nghiên cứu về tình hình chăn nuôi bò trong những năm qua Chỉ tính
từ năm 2001 – 2005 các sinh viên khoa kinh tế trường Đại Học Nông Lâm Tp.HồChí Minh đã có 4 đề tài nghiên cứu về tình hình chăn nuôi bò sữa ở huyện CủChi, 3 đề tài nghiên cứu về tình hình chăn nuôi bò sữa tại huyện Hoóc Môn, vàmột số đề tài nghiên cứu tại quận 12, quận Bình Thạnh… Ngoài ra trên thịtrường còn có các loại sách nghiên cứu về ngành chăn nuôi bò
Quận Thủ Đức cũng là địa phương nuôi bò khá nhiều, nhưng hiện naytrong khoa kinh tế của trường chỉ mới có 1 đề tài sinh viên nghiên cứu về tìnhhình chăn nuôi bò sữa ở đây Tên đề tài là: ”Khảo sát thực trạng và giải phápnhằm phát triển ngành chăn nuôi bò sữa trên địa bàn quận Thủ Đức – Tp.Hồ ChíMinh” (Nguyễn Hoài Phương, 2004) Nhưng trong đề tài này chỉ nghiên cứu,khảo sát về ngành chăn nuôi bò sữa; không nghiên cứu, đánh giá về chăn nuôi bòthịt nên chưa có sự so sánh chính xác được hiệu quả của 2 mô hình chăn nuôitrên Do đó đề tài này được thực hiện nhằm cho chúng ta một cái nhìn tổng quan
Trang 24về tình hình chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức Từ đó có thể so sánh hiệu quả kinh
tế của mô hình chăn nuôi bò sữa và mô hình chăn nuôi bò thịt
3.2 Một số đặc điểm tổng quát của quận Thủ Đức
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý Quận Thủ Đức được thành lập theo nghị định 03/NĐ – CP
của chính phủ từ ngày 01/04/1997 Tổng diện tích của quận khoảng 4.776,23 ha,bao gồm 12 phường
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương
- Phía Đông giáp quận 9
- Phía Nam giáp quận 2 và quận Bình Thạnh
- Phía Tây giáp quận 12
Địa hình Địa hình ở đây chia làm 2 vùng:
- Vùng gò địa hình cao trên 1,5m chiếm tỷ trọng hơn 46% diện tíchđất tự nhiên Cơ cấu địa chất vững chắc, rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạtầng
- Vùng bưng địa hình dưới 1,5m chiếm tỷ trọng trên 53% diện tíchđất tự nhiên Cơ cấu địa chất yếu, phù hợp cho việc sản xuất nông nghiệp, nuôitrồng thủy sản, lập nhà vườn
Gò, đồi là nơi cỏ tự nhiên mọc rất nhiều nên các nông hộ chăn nuôi bò(đặc biệt là bò thịt) sẽ gặp thuận lợi trong việc chăn thả gia súc vì các nông hộchăn nuôi bò thịt thường chăn thả gia súc ở những nơi có diện tích rộng Khichăn thả ở các vùng gò, đồi như vậy nông hộ sẽ giảm được lượng thức ăn cho bò
Thổ nhưỡng Quận Thủ Đức có 3 loại đất chính:
- Đất vàng xám diện tích khoảng 1130 ha chiếm tỷ lệ 23% diện tíchđất tự nhiên
- Đất xám diện tích khoảng 1180 ha chiếm tỷ lệ 25% diện tích đất tựnhiên
- Đất phèn diện tích khoảng 2045 ha chiếm tỷ lệ 44% diện tích đất tựnhiên
Với điều kiện thổ nhưỡng như trên thì các nông hộ chăn nuôi bò sẽ gặpthuận lợi trong việc trồng cỏ cho bò ăn Cỏ là một loại thức ăn quan trọng trong
Trang 25việc chăn nuôi bò, vì vậy nếu trồng được cỏ cho bò thì nông hộ sẽ giảm bớt đượcchi phí chăn nuôi.
Khí hậu Hầu hết các khu vực ở phía nam đều nằm trong khu vực nhiệt
đới gió mua, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt Quận Thủ Đức cũng không ngoại lệ
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 Lượng mưa chủ yếu tập trung vào các8,9,10 Vào các tháng 6,7,8 thường xảy ra hạn Bà Chằng gây khó khăn cho sảnxuất nông nghiệp
Mùa nắng bắt đầu từ khoảng tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ thường xuyên có sự biến động, có lúc nhiệt độ lên đến 38-390cvào những tháng mùa khô Còn vào các tháng mùa mưa nhiệt độ khoảng 22-240c.Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 27,60c
Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 2190mm/năm nhưng có sựphân bố không đồng đều Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 8,9,10 thườnggây ra ngập úng ở 1 số phường như: Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp BìnhChánh
Gió phân bố như sau: từ tháng 2 đến tháng 5 gió có hướng Đông và ĐôngNam Từ tháng 6 đến tháng 9 gió có hướng Tây và Tây Nam Ngoài ra từ tháng
10 đến tháng 1 năm sau thường có gió hướng Đông Bắc khi khối không khí lạnh
từ phương Bắc tràn xuống
Số giờ nắng trung bình khoảng 2564 giờ
Nhìn chung, quận Thủ Đức có 2 mùa mưa, nắng rõ rệt Vào những thángtrời mưa nông hộ chăn nuôi bò thường giồng bò tại các gò để bò tự tìm cỏ vìtrong những tháng này cỏ mọc rất nhiều Còn những tháng nắng thì nông hộ phảicho bò ăn thêm rơm vì lượng cỏ tự nhiên không đủ cho bò ăn
Nguồn nước Quận Thủ Đức được cung cấp nước mặt từ hệ thống sông
Sài Gòn thông qua các kênh rạch Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóadiễn ra rất nhanh chóng điều đó làm cho tốc độ ô nhiễm môi trường tăng lên Hệthống sông Sài Gòn đã bị ô nhiễm nặng, nhất là ô nhiễm các chất thải côngnghiệp, rác sinh hoạt thêm vào các tháng mùa khô, sông Sài Gòn thường bịnhiễm mặn nên đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như đờisống của người dân
Trang 26Ngoài hệ thống sông Sài Gòn còn có các nguồn nước ngầm ở các vùng gò.Nước ngầm có trữ lượng khá lớn, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu sinh hoạtcủa người dân trong quận
Nguồn nước dùng để cho bò uống cũng rất quan trọng, nếu cho bò uốngnước không đảm bảo vệ sinh thì bò sẽ mắc bệnh Do vậy, các nông hộ chăn nuôi
bò ở quận thường cho bò uống nước từ giếng, điều này là rất cần thiết để hạn chếbệnh tật cho gia súc
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư – lao động Theo thống kê của quận tại thời điểm ngày
31/12/2004, toàn quận có 89.773 hộ với dân số là 346.116 người, trong đó có170.495 nữ Số người ở độ tuổi lao động là 196.788 người chiếm tỷ lệ 56,86%dân số Tỷ lệ sinh là 1,0%; tỷ lệ tăng tự nhiên là 0,77% Mật độ dân số trung bình
là 6.912 người/km2 Lao động trong ngành nông nghiệp là 4096 người chiếmkhoảng 1,2% dân số So với năm 2003 thì số người lao động trong ngành nôngnghiệp giảm 2004 người (năm 2003 số người lao động nông nghiệp là 6100người)
Tiềm năng lao động của quận là khá lớn, số người trong độ tuổi lao độngcao Song phần lớn lao động ở đây có tay nghề chưa cao, họ chủ yếu lao độngphổ thông là chính Với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao như hiện nay thì số hộlàm nông nghiệp sẽ ngày càng giảm, do đó lực lượng lao động sẽ chuyển sangcác lĩnh vực phi nông nghiệp ngày càng lớn Hiện nay có rất nhiều lao động đanglàm công nhân cho các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn quận
Sản xuất nông nghiệp Trong những năm trở lại đây, diện tích đất trồng
trọt ngày càng giảm xuống Hầu hết các hộ nông dân đã chuyển sang chăn nuôihoặc trồng trọt kết hợp với chăn nuôi để đảm bảo nguồn thu nhập cho gia đình vìchăn nuôi không cần diện tích lớn như trồng trọt lại mang lại hiệu quả kinh tếcao Tính đến hết năm 2004, tổng diện tích lúa trên địa bàn quận chỉ còn lại 79ha; tổng diện tích hoa màu còn lại 10,6 ha; tổng diện tích cây thực phẩm còn lại902,95 ha; tổng diện tích cây công nghiệp còn lại 29,7 ha Tổng diện tích sử dụngtrong ngành trồng trọt đã giảm đi rất nhiều so với những năm trước Do vậy hiệnnay chăn nuôi là ngành chủ lực trong nông nghiệp của quận Trước năm 2003,
Trang 27khi đại dịch cúm gia cầm chưa xảy ra thì số lượng gia cầm trên địa bàn quận làkhá lớn khoảng 54.853 con bao gồm gà, vịt, cút Khi đó chăn nuôi gia cầm, chănnuôi heo và chăn nuôi bò đều mang lại nguồn thu nhập khá ổn định cho ngườidân Nhưng sau khi đại dịch cúm bùng phát, lãnh đạo địa phương đã có nhữngbiện pháp hạn chế nuôi gia cầm để kiểm soát dịch nên hiện nay số lượng gia cầmcòn lại không đáng kể, các hộ chăn nuôi gia cầm đã chuyển sang một số ngànhnghề khác để sinh sống Hiện nay trên địa bàn quận chỉ có các hộ chăn nuôi heo
và bò là khá ổn định Song loại hình chăn nuôi bò và heo cũng đang gặp một sốkhó khăn nhất định, do đó sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan chuyên trách đốivới những nông hộ chăn nuôi là rất quan trọng
Bảng 1 Tình Hình Chăn Nuôi Gia Súc, Gia Cầm ở Quận Thủ Đức
Công nghiệp Ngành công nghiệp của quận trong những năm gần đây
phát triển rất mạnh mẽ Các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng phát triển
cả về số lượng lẫn chất lượng Đều này đã phản ánh được tốc độ đô thị hóa trênđịa bàn quận Thủ Đức là rất nhanh chóng Theo thống kê của quận thì tính đếnđầu năm 2005, trên địa bàn quận có 1.061 cơ sở công nghiệp chế biến, doanh thucủa các cơ sở công nghiệp chế biến đạt được là 1.953.794 triệu đồng Cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp, số lượng lao động tham gia vàongành công nghiệp cũng tăng lên Nếu như năm 2003, số lao động tham gia trong
Trang 28ngành công nghiệp là 19.527 người thì đến đầu năm 2005 số người tham gia vàongành công nghiệp trên địa bàn quận là 20.384 người Qua đó ta thấy được vaitrò của ngành công nghiệp là rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của quận, đặcbiệt là ngành công nghiệp chế biến Hiện nay các cơ sở chế biến thức ăn gia súctrên địa bàn quận khá hạn chế, điều này đã gây một số khó khăn cho các nông hộchăn nuôi bò trong việc mua thức ăn Do vậy, việc phát triển các cơ sở chế biếnthức ăn gia súc ngay trên địa bàn quận là hết sức cần thiết
Giáo dục Hiện nay trên địa bàn quận có 39 trường mẫu giáo, 28 trường
tiểu học, 4 trường phổ thông trung học, 9 trường đại học và cao đẳng, 4 trườngtrung học, trung cấp dạy nghề
Nguồn tin: Phòng thống kê quận Thủ Đức
Y tế Hiện nay ở tất cả các phường đều có trạm y tế, toàn quận có 1 đội
phòng chóng dịch, 1 phòng khám trung tâm và 1 bệnh viện đa khoa với 45 bác sĩ,
40 y sĩ, 25 y tá, 70 giường bệnh đảm bảo cho nhu cầu khám chữa bệnh thườngxuyên cho người dân
Hệ thống giao thông Hệ thống đường nhựa, đường giao thông cấp phối
ngày càng được mở rộng bên cạnh hệ thống Quốc Lộ 1, xa lộ Hà Nội và đườngxuyên Á Quận còn có hệ thống đường sắt đi qua với 2 ga Sóng Thần và ga BìnhTriệu Hệ thống đường thủy trên sông Sài Gòn rất thuận tiện cho việc chuyên chởhàng hóa, đi lại trên sông Với những đặc điểm như vậy, có thể nói hệ thống giaothông của quận Thủ Đức khá hoàn chỉnh
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất
Cơ cấu sử dụng đất Hiện nay tổng diện tích đất tự nhiên của quận Thủ
Đức là 4.776,23 ha trong đó:
Trang 29- Diện tích đất nông nghiệp là 1.261,24 ha chiếm tỷ trọng 26,47% diệntích đất tự nhiên.
- Diện tích đất chuyên dùng là 1.674,26 ha chiểm tỷ lệ 35,05% diện tíchđất tự nhiên
- Diện tích đất nhà ở là 1.405,41 ha chiếm tỷ lệ 29,42% diện tích đất tựnhiên
- Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá là 435,3 ha chiếm tỷ lệ9,11% diện tích đất tự nhiên
Tình hình biến động đất Trong những năm gần đây, sự biến động trong
việc sử dụng đất diễn ra rất thường xuyên do quá trình đô thị hóa diễn ra rấtmạnh mẽ Diện tích đất sử dụng cho ngành công nghiệp ngày càng nhiều, diệntích đất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng giảm xuống Hiện nay trên địa bànquận xây dựng rất nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất do đó diện tích sử dụngcho ngành công nghiệp cũng tăng lên tương ứng Dân số quận tăng lên kèm theo
đó là diện tích đất sử dụng để xây dựng nhà ở cho người dân cũng tăng lên Bảng
số liệu sau sẽ cho thấy tình hình biến động về mục đích sử dụng đất tại quận ThủĐức trong năm 2004 và 2005:
Bảng 3 Tình Hình Biến Động Đất tại Quận Thủ Đức
Trang 30Tình hình sử dụng đất nông nghiệp Diện tích sử dụng cho ngành nông
nghiệp của quận Thủ Đức là 1.261,24 ha trong đó:
- Diện tích trồng lúa, màu chỉ còn khoảng 485,5 ha chiếm 38,49% diệntích đất nông nghiệp
- Diện tích đất trồng hoa kiểng, đất canh tác hàng năm khác khoảng248,43 ha chiếm 19,7% diện tích đất nông nghiệp
- Diện tích vườn tạp, cây lâu năm khoảng 252,11 ha chiếm 19,99% diệntích đất nông nghiệp
- Diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 78 ha chiếm 6,18% diện tích đấtnông nghiệp
Qua quá trình điều tra thực tế và số liệu tổng hợp cho thấy diện tích đấtnông nghiệp ngày càng giảm, số hộ trồng lúa và hoa màu không còn nhiều nhưnhững năm trước Một số hộ nông dân đã chuyển từ trồng trọt sang chăn nuôi cácloại vật nuôi có giá trị kinh tế cao để cải thiện đời sống gia đình như: heo, bò sữa,
bò thịt, cá Một số hộ đã chuyển sang các ngành nghề khác như: làm công nhân,làm dịch vụ, buôn bán
3.2.4 Nhận định chung về tổng quan
Vì đề tài nghiên cứu liên quan đến việc chăn nuôi bò của các nông hộ trênđịa bàn quận nên tôi chỉ nêu lên những thuận lợi, khó khăn về tổng quan đối vớinghề chăn nuôi bò
Trang 31sữa lớn là: Vinamilk và Duch Lady Hầu hết các nông hộ chăn nuôi bò sữa ở đâyđều bán sữa cho 2 công ty sữa này.
- Diện tích nhà ở của các hộ ở quận Thủ Đức còn khá lớn, điều này rấtthuận lợi cho việc chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa vì chuồng trại cho bò thườngđược xây dựng ngay trên diện tích đất thổ cư của gia đình
- Thiếu những đồng cỏ lớn để chăn nuôi bò do quá trình đô thị hóa Vì thếcác nông hộ phải đi tìm mua cỏ tươi cho bò ăn nên chi phí chăn nuôi của nông hộ
sẽ tăng lên
- Ngành công nghiệp chế biến thức ăn tại chỗ chưa phát triển nên giá thức
ăn tinh và phụ phẩm cung cấp cho bò tăng cao, đặc biệt là thức ăn cho bò sữa.Hầu hết các nông hộ phải mua thức ăn tinh ở rất xa nhà, do vậy chi phí sẽ tănglên Giá của thức ăn liên tục tăng lên, trong khi giá thu mua sữa và giá thịt bò thìkhông tăng tương ứng Đây là khó khăn mà tất cả các hộ chăn nuôi bò đều gặpphải
3.3 Vài nét về tình hình chăn nuôi bò tại Tp.Hồ Chí Minh và quận Thủ Đức 3.3.1 Tình hình chăn nuôi bò tại Tp.Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đứng đầu cảnước về chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa Chăn nuôi bò sữa là một trong nhữngchương trình kinh tế trọng điểm của thành phố hiện nay Chăn nuôi bò đã đónggóp một phần rất quan trọng trong tỷ trọng của ngành nông nghiệp thành phốtrong nhiều năm qua Những khu vực chăn nuôi bò với số lượng lớn của thànhphố là: quận 12, huyện Hoóc Môn, huyện Củ Chi, quận Thủ Đức Đây là nhữngkhu vực nằm khá xa trung tâm thành phố, có nhiều điều kiện thuận lợi để pháttriển mô hình chăn nuôi bò Hầu như các hợp tác xã chăn nuôi bò ở thành phố HồChí Minh đã không còn hoạt động nữa vì hiệu quả của các hợp tác xã này không
Trang 32cao Do vậy mô hình chăn nuôi bò hộ gia đình ngày càng phát triển, giải quyếtviệc làm cho một số lượng lớn lao động nhàn rỗi tại địa phương, góp phần ổnđịnh cuộc sống cho các nông hộ chăn nuôi.
Bảng 4 Tình Hình Phát Triển Đàn Bò của TP.Hồ Chí Minh qua Các Năm
Số lượng bò thịt (con) 25.118 27.329 31.894 35.474 37.560Sản lượng thịt bò (tấn/năm) 4.563 4.461 7.146 7.916 8.214
Nguồn tin: Niên giám thống kê và Sở NN&PTNT TP.HCMNhìn vào bảng số liệu tổng hợp trên ta dễ dàng nhận thấy tổng đàn bò củathành phố liên tục tăng qua các năm Nếu như năm 2001, tổng đàn bò sữa củathành phố chỉ có khoảng 30,8 ngàn con thì đến năm 2005 số lượng bò sữa của cảthành phố đã lên đến 54,32 ngàn con Cùng với sự tăng lên của tổng đàn bò sữa,sản lượng sữa cũng đã tăng lên rất nhanh chóng Chỉ trong vòng 5 năm, sảnlượng sữa đã tăng lên gấp đôi (từ 57,15 ngàn tấn/năm lên 125 ngàn tấn/năm).Tuy sản lượng sữa đã tăng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụcủa người tiêu dùng Không chỉ có tổng đàn bò sữa tăng lên mà tổng đàn bò thịtcủa thành phố cũng có xu hướng tăng lên nhưng số lượng tăng không nhiều bằng
bò sữa Nếu như năm 2001 tổng đàn bò thịt của thành phố khoảng 25,12 ngàncon thì đến năm 2005 tổng đàn bò thịt của thành phố đã là 37,56 ngàn con Sảnlượng thịt bò cũng đã tăng lên đáng kể; từ 4,6 ngàn tấn/năm của năm 2001 đãtăng lên 8,2 ngàn tấn vào năm 2005 Theo thống kê của Chi cục thú y TP.HCMthì TP.HCM là nơi tiêu thụ thịt bò lớn nhất cả nước, bình quân khoảng 60tấn/ngày chiếm trên 20% tổng lượng thịt các loại Nhưng trên thực tế “thịt trâugiả bò” là chủ yếu Trong tổng lượng trâu, bò đưa vào giết mổ trên địa bànTP.HCM thì trâu chiếm từ 88 – 90%, bò chỉ chiếm 10 – 12 % Vì vậy, thị trườngtiêu thụ thịt bò và cả sữa bò của thành phố là một thị trường rất lớn và nhiềutiềm năng (cả về sữa bò và thịt bò) Đây là một điều kiện thuận lợi để các nông
hộ chăn nuôi bò trên địa bàn thành phố phát triển
3.3.2.Tình hình chăn nuôi bò tại quận Thủ Đức
Trang 33Hiện nay trên địa bàn quận Thủ Đức chỉ còn nuôi bò sữa và bò thịt, loạihình chăn nuôi bò cày kéo đã không còn nữa Trong vài năm trở lại đây, số lượng
bò nuôi có xu hướng giảm đặc biệt là bò thịt do quá trình đô thị hóa diễn ra ngàycàng nhanh Các nông hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận gặp khá nhiều khó khăntrong việc chăn nuôi Một lý do khác làm cho các nông hộ chăn nuôi bò gặp khókhăn đó chính là thức ăn cho bò Giá thức ăn cho bò ngày càng tăng lên, điều đólàm cho chi phí chăn nuôi của nông hộ ngày càng tăng; trong khi đó giá sữa bòtại các trạm thu mua sữa và giá thịt bò tăng lên không tương ứng với sự tăng giácủa thức ăn cho bò Mặc dù vậy, với các chính sách hỗ trợ của chính quyền địaphương các nông hộ chăn nuôi bò ở đây vẫn đang duy trì loại hình chăn nuôi bòcủa gia đình Sau đây là tình hình phân bố đàn bò trên địa bàn quận trong năm2005:
Bảng 5 Phân Bố Đàn Bò của Quận Thủ Đức Năm 2005
Trang 34đô thị hóa như hiện nay họ đã chuyển đàn bò đến các khu vực nằm xa trung tâmquận, có nhiều hộ đã chuyển đàn bò đến các quận huyện khác của thành phố:Hoóc Môn, Củ Chi Còn các nông hộ chăn nuôi bò thịt chỉ tập trung ở một sốphường: Bình Chiểu, Hiệp Bình Chánh, Linh Trung, Linh Xuân và Trường Thọ.Hiện nay, trên địa bàn quận còn khoảng 85 hộ chăn nuôi bò sữa và khoảng 102
hộ chăn nuôi bò thịt Tuy số hộ chăn nuôi bò thịt lớn hơn số hộ chăn nuôi bò sữanhưng các nông hộ chăn nuôi bò thịt chủ yếu nuôi với quy mô nhỏ lẻ (từ 2 đến 5con chiếm một tỷ lệ khá lớn) nên tổng đàn bò thịt ở đây không nhiều như tổngđàn bò sữa
Giống bò sữa được các nông hộ chọn nuôi ở đây chủ yếu là giống lai HàLan ở thế hệ F3 Chỉ có một số hộ nuôi bò giống Hà Lan và bò lai Sind Năngsuất sữa bình quân từ 17 đến 18 kg/ngày, chu kỳ cho sữa bình quân từ 9 đến 10tháng/chu kỳ Còn đối với các nông hộ chăn nuôi bò thịt thì giống bò được chọnnuôi phổ biến là giống bò ta vàng, một số hộ chọn giống bò lai Sind để chănnuôi
Trang 35CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chung của nông hộ chăn nuôi bò
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn 65 hộ chăn nuôi bò trong đó có 35 hộ chănnuôi bò sữa và 30 hộ chăn nuôi bò thịt trên địa bàn quận Thủ Đức Đề tài đã điềutra ở 8 phường trong tổng số 10 phường còn chăn nuôi bò đó là: Linh Xuân, BìnhChiểu, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh, Tam Bình, Linh Đông, Linh Trung,Trường Thọ
Bảng 6 Số Hộ Điều Tra theo Phường
Nguồn tin: Kết quả điều tra
- Về lao động: Trong tổng số 65 hộ điều tra thì hầu hết lao động tham giachăn nuôi bò đều là lao động trong gia đình, chỉ có một số ít hộ là thuê thêm laođộng ngoài vì quy mô chăn nuôi của các hộ này khá lớn, cần nhiều lao động đểchăm sóc bò Hầu hết chủ hộ trong gia đình đều là lao động chính trong chănnuôi bò
Bảng 7 Độ Tuổi Lao Động của Chủ Hộ Chăn Nuôi Bò
Trang 3640 - 50 tuổi 39 60,00
Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợp
Độ tuổi chủ yếu của các chủ hộ chăn nuôi bò là từ 40 – 50 tuổi chiếm tỷ lệ60% Đây có thể nói là một ưu thế vì họ có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi Ở
độ tuổi này họ cũng có thể tiếp thu các kỹ thuật mới một cách dễ dàng
- Trình độ văn hóa của người lao động trên địa bàn cũng là một vấn đềđáng quan tâm
Bảng 8 Trình Độ Văn Hóa của Chủ Hộ
lệ 64,6%; 13 chủ hộ có trình độ cấp III chiếm tỷ lệ 20% trong tổng số 65 hộ điềutra Với trình độ văn hóa như vậy việc tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến trongchăn nuôi sẽ có nhiều thuận lợi
- Trong số 65 hộ tiến hành điều tra thì 100% là dân tộc kinh Chính điều
này cũng là một thuận lợi cho việc tuyên truyền, hướng dẫn các kỹ thuật chănnuôi cho các nông hộ Họ nắm bắt thông tin một cách dễ dàng và hiệu quả
- Đặc điểm tiếp theo là về đất đai: Quá trình CNH – HĐH đang diễn ramột cách nhanh chóng ở hầu hết các phường trên địa bàn quận, chính vì vậy nêndiện tích đất của các nông hộ nói chung và các hộ chăn nuôi bò nói riêng đều có
xu hướng giảm xuống Tùy thuộc vào loại hình chăn nuôi bò mà nông hộ cầndiện tích lớn hay nhỏ Nếu chăn nuôi bò thịt thì cần diện tích đất lớn hơn chănnuôi bò sữa vì bò thịt cần hoạt động ở những nơi rộng rãi, còn bò sữa thì chỉ cầncột ở 1 nơi trong chuồng
Bảng 9 Tổng Diện Tích Đất của Các Nông Hộ
Diện tích (m 2 ) Số hộ (hộ) Quy mô chăn nuôi (con) Tỷ lệ (%)
Trang 37< 700 m2 38 2 -13 58,46
Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợp
Số hộ có diện tích đất lớn là rất ít, chỉ có 3 hộ có diện tích trên 1.500 m2
Số hộ có diện tích dưới 700 m2 là rất nhiều, có đến 38 trong tổng số 65 hộ điềutra có diện tích dưới 700 m2 Đây là một khó khăn cho các hộ chăn nuôi bò.Ngoài ra, các nông hộ cũng cần có diện tích đất lớn để trồng cỏ cho bò vì thức ăntươi rất cần thiết cho bò Nhưng có rất ít hộ trồng được cỏ cho bò vì diện tích đấtnhà không đủ lớn Trong 65 hộ thì chỉ có 8 hộ trồng được cỏ để nuôi bò nhưngdiện tích trồng cỏ cũng không lớn, dao động từ 200 – 400 m2 Chỉ có 1 hộ nuôi
bò sữa có diện tích đất trồng cỏ lớn là 2000 m2 Tổng diện tích đất cũng ảnhhưởng lớn đến quy mô chăn nuôi của nông hộ Đối với các nông hộ có tổng diệntích dưới 700 m2 thì quy mô chăn nuôi là từ 2 con đến 13 con (hộ nuôi ít nhất là 2con và hộ nuôi nhiều nhất là 13 con) Các nông hộ có diện tích đất từ 700 m2 đếndưới 1.500 m2 thì quy mô chăn nuôi từ 10 con đến 36 con (hộ nuôi ít nhất là 10con và hộ nuôi nhiều nhất là 36 con) Còn các nông hộ có diện tích đất trên 1.500
m2 thì quy mô chăn nuôi từ 36 con đến 50 con (hộ nuôi ít nhất là 36 con và hộnuôi nhiều nhất là 50 con) Qua đó ta có thể thấy diện tích đất của nông hộ cànglớn thì quy mô chăn nuôi họ càng lớn (quan hệ tỷ lệ thuận)
- Ngoài chăn nuôi bò các nông hộ còn có tham gia lao động trong một số
ngành nghề khác Đối với các nông hộ chăn nuôi bò, ngoài chủ hộ thường chỉ có
2 - 3 người tham gia chăn nuôi Số lao động còn lại trong gia đình thường làmnhững ngành nghề khác như: làm công nhân, buôn bán, trồng trọt, công nhânviên hoặc vẫn còn đang đi học Những người trong độ tuổi lao động trẻ (dưới30) thường chọn những nghề phi nông nghiệp để làm Điều này cũng dễ hiểu vìvới tốc độ dô thị hóa như hiện nay thì việc thay đổi cơ cấu ngành nghề theohướng công nghiệp hóa là xu thế tất yếu Hàng năm các lao động này mang lạinguồn thu nhập khá ổn định cho gia đình Ngoài hoạt động chính là chăn nuôi,một số nông hộ còn kết hợp chăn nuôi với trồng trọt (chủ yếu là trồng hoa màu).Những phụ phẩm trong trồng trọt cũng có thể làm thức ăn thêm cho bò, và ngược
Trang 38lại nông hộ dùng phân bò để bón cho cây trồng Thu nhập từ trồng trọt thườngkhông lớn vì diện tích dùng cho trồng trọt không nhiều.
Bảng 10 Một Số Ngành Nghề Khác của Các Nông Hộ Chăn Nuôi Bò Điều Tra
có nhiều kinh nghiệm trong việc chăn nuôi bò Điều này cũng dễ hiểu vì cácngành nghề phi nông nghiệp thường mang lại cho người lao động nguồn thu nhậpkhá cao
4.2 Thực trạng chăn nuôi bò
4.2.1 Quy mô chăn nuôi
Quy mô chăn nuôi của các hộ là khác nhau, có hộ nuôi ít, có hộ nuôinhiều Hầu hết các nông hộ chăn nuôi trên địa bàn quận đều nuôi theo hình thức
hộ gia đình
Bảng 11 Quy Mô Đàn của Các Hộ Điều Tra
Trang 39> 15 con 9 13,85 222
Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợpTrong tổng số 65 mẫu điều tra thì có 35 hộ chăn nuôi bò sữa và 30 hộchăn nuôi bò thịt Quy mô đàn từ 2- 5 con thường là quy mô của các hộ chănnuôi bò thịt Trong số 30 hộ điều tra thì có khoảng 7 hộ chăn nuôi theo hình thứcnuôi vỗ béo, số còn lại thì nuôi theo hình thức nuôi sinh sản Đối với các hộ chănnuôi bò sữa thì quy mô chăn nuôi đa số từ 6 con trở lên Qua bảng số liệu trên tathấy, nhóm hộ nuôi từ 1 đến 7 con (quy mô nhỏ) có 30 hộ, chiếm tỷ lệ 46,15%;nhóm hộ nuôi từ 8 đến 15 con (quy mô vừa) có 26 hộ, chiếm tỷ lệ 40%; nhóm hộnuôi với quy mô lớn (trên 15 con) có 9 hộ, chiếm tỷ lệ 13,85% Tùy thuộc vàođiều kiện cụ thể của từng hộ (vốn, lao động, đất đai ) mà họ sẽ chọn quy mônhỏ, vừa hay lớn để chăn nuôi Như vậy, nhóm hộ chăn nuôi với quy mô nhỏchiếm tỷ lệ lớn nhất
4.2.2 Kinh nghiệm chăn nuôi
Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến kết quả chăn nuôicủa nông hộ Hầu hết các hộ chăn nuôi bò trên địa bàn quận đều có nhiều kinhnghiệm trong chăn nuôi bò vì đa số những hộ này đều bắt đầu nuôi bò từ khá lâu.Với tốc độ đô thị hóa như ngày nay thì rất ít nông hộ lựa chọn trồng trọt hay chănnuôi để bắt đầu sự nghiệp, họ thường chọn các ngành nghề có liên quan đến côngnghiệp hay dịch vụ - thương mại Do vậy hầu hết các nông hộ chăn nuôi bò trênđịa bàn quận là những nông hộ đã chăn nuôi từ lâu, họ đang cố gắng duy trì vàphát triển nghề chăn nuôi bò của gia đình vì chăn nuôi bò cũng mang lại nguồnthu nhập khá ổn định cho các nông hộ chăn nuôi
Bảng 12 Kinh Nghiệm Chăn Nuôi Bò của Các Nông Hộ
Số năm chăn nuôi bò (năm) Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Trang 40Qua bảng thống kê trên ta thấy tất không có hộ nào chăn nuôi dưới 5 năm.
Số năm chăn nuôi bò từ 5 đến 10 năm có 51 hộ, chiếm tỷ lệ 78,46% Có 14 hộ đãchăn nuôi bò trên 10 năm, chiếm tỷ lệ 21,54%
4.2.3 Cơ cấu giống đàn bò
Tùy thuộc vào mục đích nuôi của từng nông hộ mà họ sẽ chọn lựa congiống thích hợp Đối với các hộ chăn nuôi bò sữa, loại con giống mà họ thườngnuôi là giống bò Hà Lan, bò lai Hà Lan, bò Lai Sind Còn đối với các nông hộchăn nuôi bò thịt, loại con giống mà thường nuôi là bò Ta Vàng, bò Lai Sind.Mỗi loại giống có những đặc điểm khác nhau về khẩu phần thức ăn, về năng suất,
về kỹ thuật nuôi đòi hỏi nông hộ phải hiểu rõ
Bảng 13. Cơ Cấu Giống Đàn Bò Thịt
Bảng 14. Cơ Cấu Giống Đàn Bò Sữa
bò lai Hà Lan và bò lai Sind
4.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi