Có một cuộc tranh luận về những biến đổi trong gia đình và giá trị gia đình dựa trên một loạt các đề tài nghiên cứu, từ các bà mẹ chưa lập gia đình xây dựng chu trình sống của họ với nhữ
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MẠNH TUẤN
KHÁC BIỆT QUAN NIỆM GIỮA VỢ - CHỒNG
TRONG GIA ĐÌNH TRẺ VỀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương)
Trang 2Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô Học viện Khoa học Xã hội – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các cô chú, anh chị tại hai địa bàn khảo sát Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Học viện Khoa học Xã hội, Khoa Xã hội học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Ngọc Văn – Viện Gia đình và Giới, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn các cô, chú lãnh đạo và các hộ gia đình trẻ tại phường Phú Lợi,
xã Tương Bình Hiệp thành phố Thủ Dầu Một đã hợp tác và cung cấp cho tôi những thông tin quý giá để nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em và người vợ yêu quý đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Đỗ Mạnh Tuấn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ xã hội học “KHÁC BIỆT QUAN NIỆM GIỮA VỢ - CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH TRẺ VỀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong
luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
ĐỖ MẠNH TUẤN
Học viên cao học khóa I [2010 – 2012]
Chuyên ngành: Xã hội học
Học viện Khoa học Xã hội – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4Mục lục
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các cụm từ viết tắt iii
Danh mục các bảng biểu, hình ảnh sử dụng trong đề tài iv
Mở đầu 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 16
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 17
6 Phương pháp nghiên cứu 18
6.1 Nghiên cứu tài liệu sẵn có 19
6.2 Nghiên cứu định lượng 19
6.3 Nghiên cứu định tính 21
7 Khung lý thuyết 22
8 Giả thuyết nghiên cứu 23
Chương 1: Cơ sở lý luận 24
1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
1.2 Một số khái niệm cơ bản 25
1.2.1 Gia đình 25
1.2.2 Gia đình trẻ 26
1.2.3 Giá trị 27
1.2.4 Giá trị gia đình 28
1.3 Cách tiếp cận nghiên cứu 28
1.3.1 Quan điểm cấu trúc - chức năng 28
1.3.2 Quan điểm nữ quyền 32
Trang 51.3.3 Lý thuyết hiện đại hóa 34
Chương 2 Quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị gia đình 38
2.1 Quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị của hôn nhân 39
2.2 Quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị liên quan đến vị trí, vai trò của người vợ, người chồng trong gia đình 46
2.3 Quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị liên quan đến con cái 53
2.4 Quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị của bữa cơm gia đình 63
Chương 3 Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị gia đình 68
3.1 Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị của hôn nhân 68
3.2 Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị liên quan đến vị trí, vai trò của vợ chồng trong gia đình 75
3.3 Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị liên quan đến con cái 78
3.4 Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về giá trị của bữa cơm gia đình 90
Kết luận 96
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 104
Phụ lục 1: Bảng hỏi 104
Phụ lục 2: Bảng hỏi phỏng vấn sâu 118
Phụ lục 3: Các bảng số liệu phản ánh quan niệm về một số giá trị gia đình của các cặp vợ chồng trẻ 122
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Hình 1.1: Bản đồ hành chính thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương 24
Bảng 2.1: Giới tính người trả lời 38
Bảng 2.2: Phân bố mẫu của nghiên cứu 39
Bảng 2.3: Tuổi của người trả lời 39
Biểu đồ 2.1: Quan niệm về phân chia các vai trò trong gia đình (ĐVT: điểm) 52
Biểu đồ 2.2: Mong muốn, kỳ vọng của cha mẹ đối với con trai và con gái (ĐVT: %) 58
Phụ lục 3: Các bảng số liệu phản ánh quan niệm về một số giá trị gia đình của vợ chồng trẻ (ĐVT: %) 122
Biểu đồ 3.1: Tương đồng và khác biệt về mục đích kết hôn (ĐVT: %) 69
Biểu đồ 3.2: Tương đồng và khác biệt về những mong muốn, kỳ vọng đối với gia đình (ĐVT: %) 70
Biểu đồ 3.3: Tương đồng và khác biệt về các tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời (ĐVT: %) 71
Biểu đồ 3.4: Tương đồng và khác biệt về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời được lựa chọn lại sau khi kết hôn (ĐVT: %) 72
Biểu đồ 3.5: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những yếu tố cần thiết để có một gia đình hạnh phúc (ĐVT: %) 73
Biểu đồ 3.6: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về người có vai trò quan trọng nhất trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình (ĐVT: %) 74
Biểu đồ 3.7: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về phẩm chất của người giữ vai trò trụ cột gia đình (ĐVT: %) 76
Biểu đồ 3.8: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về người nắm giữ vai trò trụ cột trong gia đình (ĐVT: %) 76
Biểu đồ 3.9: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về người đóng góp mặt kinh tế nhiều nhất cho gia đình (ĐVT: %) 77
Trang 8Biểu đồ 3.10: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
tầm quan trọng của việc có con (ĐVT: %) 78 Biểu đồ 3.11: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về ý nghĩa của
con cái với đời sống hôn nhân gia đình (ĐVT: %) 79 Biểu đồ 3.12: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
số con mong muốn (ĐVT: %) 80 Biểu đồ 3.13: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
nhu cầu con cái (ĐVT: %) 81 Biểu đồ 3.14: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
tầm quan trọng của việc có con trai (ĐVT: %) 81 Biểu đồ 3.15: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
lý do mong muốn có con trai (ĐVT: %) 82 Biểu đồ 3.16: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những kỳ vọng,
mong muốn đối với con cái nói chung (ĐVT: %) 83 Biểu đồ 3.17: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những kỳ vọng,
mong muốn đối với con trai (ĐVT: %) 84 Biểu đồ 3.18: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những kỳ vọng,
mong muốn đối với con gái (ĐVT: %) 85 Biểu đồ 3.19: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về tầm quan trọng
của giáo dục gia đình đối với con cái (ĐVT: %) 85 Biểu đồ 3.20: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về môi trường
giáo dục tốt nhất đối với con cái (ĐVT: %) 86 Biểu đồ 3.21: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những
nội dung cha mẹ cần phải giáo dục con cái (ĐVT: %) 87 Biểu đồ 3.22: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
phương pháp giáo dục con cái (ĐVT: %) 88 Biểu đồ 3.23: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
tầm quan trọng của bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 90
Trang 9Biểu đồ 3.24: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về ý nghĩa
của bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 91 Biểu đồ 3.25: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về người đóng
vai trò chính trong việc tổ chức bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 92 Biểu đồ 3.26: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
địa điểm tổ chức bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 92 Biểu đồ 3.27: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về những
yêu cầu trong việc tổ chức bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 93 Biểu đồ 3.28: Tương đồng và khác biệt trong quan niệm về
sự cần thiết phải giữ gìn, phát huy giá trị của bữa cơm gia đình (ĐVT: %) 94
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Gia đình từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
xã hội, trong đó có xã hội học, nghiên cứu xã hội học về gia đình đã được các nhà
xã hội học phương Tây quan tâm nghiên cứu với tư cách là một thiết chế xã hội cơ bản và một nhóm xã hội đặc thù Trong tiếp cận gia đình là một thiết chế xã hội, các nhà xã hội học xem xét gia đình trong mối quan hệ với xã hội và các thiết chế xã hội khác Trong tiếp cận gia đình là một nhóm xã hội đặc thù, các nhà xã hội học quan tâm đến mối quan hệ giữa các thành viên bên trong nhóm nhỏ của gia đình, nền tảng của các mối quan hệ ấy là những giá trị gia đình chi phối hành động xã hội của mỗi cá nhân trong gia đình và ngoài xã hội
Ở Việt Nam, những biến đổi sâu sắc của gia đình dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) và toàn cầu hóa đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội, của các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý Nhiều vấn đề mới nảy sinh của gia đình đòi hỏi phải được lý giải một cách khoa học Trong số đó, phải kể đến sự suy yếu của các giá trị gia đình truyền thống và xuất hiện của những giá trị gia đình mới Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu có hệ thống về sự biến đổi của hệ giá trị gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
Ở Việt Nam, những người trẻ tuổi sinh ra và trưởng thành trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) chính là đối tượng chịu sự chi phối nhiều nhất của những biến đổi giá trị và giá trị gia đình Đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam chỉ ra tính thiếu bền vững của hôn nhân trong các gia đình trẻ, ở đó sự khác biệt về mặt lối sống, quan niệm là nguyên nhân chính gây đổ vỡ hôn nhân gia đình Theo thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, năm 2010, nước ta có gần 88.000 vụ ly hôn, tăng hơn 9.700 vụ so với năm 2009 Trong đó, số cặp vợ chồng trẻ dưới 40 tuổi ly hôn chiếm khoảng 30% [32] Theo kết quả nghiên cứu khoa học về tình trạng ly hôn của thanh niên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn Độ tuổi ly hôn dưới 30 chiếm tỷ lệ cao và năm sau luôn tăng hơn năm
Trang 11trước (Nguyễn Ngọc Tài, 2012) [39] Cũng theo một kết quả nghiên cứu khác, tỷ lệ
ly hôn/kết hôn ở thành phố Hồ Chí Minh là 31,4% Con số này cho thấy, gần 3 đôi kết hôn thì có một đôi ly hôn Ly hôn trong gia đình trẻ đang gia tăng, từ 18-30 tuổi
là 34,7%, từ 30-dưới 50 là hơn 55%, hơn 50 tuổi là 8,7% (Nguyễn Minh Hòa, 2008) [32] Ba nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn là: mâu thuẫn về lối sống, ngoại tình và kinh tế khó khăn [1, tr 21]
Xuất phát trên những cơ sở đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề giá trị gia đình Việt Nam hiện nay cần phải được quan tâm nghiên cứu nhằm phát hiện và lý giải về những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống gia đình, đặc biệt là đối với các
gia đình trẻ Đó là lý do chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Khác biệt quan niệm giữa vợ - chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị gia đình hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương)
Trong đề tài này, chúng tôi đặt ra hai câu hỏi chính để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu: 1/ Những giá trị gia đình nào đang được các cặp vợ chồng trẻ đề cao, xem là quan trọng đối với họ? 2/ Sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng về một
số giá trị gia đình được lựa chọn nghiên cứu biểu hiện như thế nào, mức độ khác biệt ấy ra sao?
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần tìm hiểu và vận dụng một số lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học nói chung và nghiên cứu xã hội học gia đình nói riêng vào nghiên cứu giá trị gia đình Việt Nam Đó là quan điểm chức năng – cấu trúc; quan điểm nữ quyền
và lý thuyết hiện đại hóa trong nghiên cứu về giá trị gia đình Các quan điểm lý thuyết này sẽ được vận dụng để lý giải về quan niệm và sự khác biệt trong quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ liên quan đến một số giá trị gia đình trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ quan niệm của vợ chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị gia đình và chỉ ra sự khác biệt giữa vợ và chồng
Trang 12trong quan niệm về một số giá trị gia đình tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực về gia đình và giá trị gia đình, những người giảng dạy về xã hội học gia đình, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý ở địa phương và trung ương trong lĩnh vực văn hóa, gia đình và pháp luật về hôn nhân gia đình, và những ai quan tâm đến lĩnh vực gia đình và giá trị gia đình
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về các giá trị gia đình trên thế giới
Nghiên cứu về các giá trị gia đình ở Hoa Kỳ xuất hiện sự khác biệt bởi các
đặc điểm chính trị (Thuật ngữ giá trị gia đình đã được sử dụng thường xuyên trong
các cuộc tranh luận chính trị,[họ] tuyên bố rằng thế giới đã nhìn thấy một sự suy giảm trong các giá trị gia đình kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai) [33] David Popenoe, một nhà xã hội học gia đình tại Mỹ, lập luận rằng gia đình truyền thống và những giá trị truyền thống sẽ được khôi phục ở Mỹ Popenoe (1988) đưa
ra giả thuyết gia đình của những năm 1950, bao gồm cha mẹ và con cái của họ như gia đình điển hình lý tưởng ở Mỹ, và lập luận rằng các gia đình bị tan rã là do ly hôn tăng trong cuối thế kỷ 20, ông ta biện luận nó dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong xã hội Mỹ (dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2] Có thực sự là các nghiên cứu cho thấy những tác động tiêu cực của những sự cố gia đình đối với trẻ em (Waite & Gallagher, 2000; Marquardt, 2005 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2] Những người khác trong một quan điểm tự do hơn đã phản đối quan điểm như vậy, khẳng định rằng gia đình và giá trị gia đình truyền thống của những năm 1950 trong thực
tế chỉ là một sai lầm trong lịch sử nước Mỹ (Coontz, 1992; Skolnick, 1991 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007), và một cách tiếp cận đa phương phải được thực hiện cho một sự hiểu biết đúng đắn về thực tại (Skolnick và Skolnick, 1997 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2] Tuy nhiên, những người khác cho rằng những năm 1950 xã hội Mỹ coi gia đình phụ hệ là chuẩn mực và đó là một thiếu sót, và rằng nước Mỹ phải đi từ những hình ảnh của một gia đình lấy nam giới làm trung tâm bị phê phán (Thorn,
Trang 131992 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2] Stacey (1990) lập luận rằng xã hội hậu công nghiệp làm cho gia đình truyền thống bị tan rã, và rằng các hình thức mới của gia đình không nên được xem như rối loạn chức năng, đó là sự thích ứng của gia đình với sự thay đổi thời gian và môi trường xã hội, với các giá trị gia đình mới chúng ta nên chấp nhận và tôn trọng nó (dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2]
Có một cuộc tranh luận về những biến đổi trong gia đình và giá trị gia đình dựa trên một loạt các đề tài nghiên cứu, từ các bà mẹ chưa lập gia đình xây dựng chu trình sống của họ với những quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng gia tăng (Furstenberg, Brooks Gunn & Morgan, 1987 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) đến những nghiên cứu về việc làm của phụ nữ, dưới ảnh hưởng của các giá trị gia đình bảo thủ, bắt đầu làm công việc nhà một khi họ về nhà từ nơi làm việc (Hochschild,
1989 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007), đến những nghiên cứu thảo luận về những hình ảnh hoàn toàn mới của gia đình so với gia đình trước đây, hoặc liệu chúng ta nên xem xét chúng như là một dấu hiệu cho sự chấm dứt của gia đình như là một thiết chế xã hội (Goldscheider & Waite, 1991 - dẫn lại Ki-Soo Eun, 2007) [30: p.2-3]
Rajkai Zsombor Tibor (2011) trong bài viết về Biến đổi gia đình ở Hungary
cho thấy những vấn đề của gia đình và giá trị gia đình ở Hungary trong bối cảnh của
xã hội chuyển đổi Bài viết phân tích và tìm kiếm lời giải cho những thắc mắc xung quanh sự khác biệt trong quan niệm về hôn nhân - gia đình, sự quay trở lại của các vai trò giới truyền thống và sự trái ngược rõ ràng giữa các giá trị truyền thống với các hành vi nhân khẩu học thực tế Từ sau thay đổi chính trị năm 1989, biến đổi xã hội dễ nhận thấy nhất liên quan đến cái gọi là phi tiêu chuẩn hóa cuộc sống cá nhân
và kèm theo đó là sự đa dạng hóa các lối sống Khái niệm hôn nhân và gia đình ngày càng tách rời trong nhận thức mỗi người, đi kèm với xu hướng này là sự xuất hiện của một số lượng lớn những gia đình đa màu sắc, nơi một cặp đôi có thể có con riêng, con chung và chung sống không cần kết hôn Trong gia đình Hungary xuất hiện xu hướng đó là sự quay trở lại của các giá trị truyền thống trong đó nhấn mạnh vai trò của nam giới như một trụ cột về kinh tế trong gia đình trong khi vai trò của
nữ giới là đảm trách các công việc nội trợ và chăm sóc con cái Sự đa dạng trong lối
Trang 14sống và khoảng cách ngày càng lớn trong nhận thức về hôn nhân và gia đình cũng như sự quay trở lại của các giá trị truyền thống liên quan đến vai trò giới đã tạo nên nét đặc trưng của xã hội Hungary thời kỳ chuyển đổi Sự đối lập này không chỉ liên quan đến vai trò giới mà còn liên quan đến xu hướng quay trở lại của các giá trị gia đình truyền thống và sự xuất hiện của những yếu tố mang tính cá nhân xét về hành
vi nhân khẩu học (phi tiêu chuẩn hóa đời sống cá nhân và đa dạng hóa các lối sống
cá nhân) Theo các nhà nghiên cứu Hungary, ở đây tồn tại một sự tụt hậu về văn hóa, khi mà những biến đổi về mặt nhân khẩu học diễn ra trước những biến đổi về mặt giá trị (dẫn lại Đào Hồng Lê, 2012) [38]
Nghiên cứu giá trị gia đình ở khu vực Đông á, Ki-Soo Eun (2007), trong bài viết “Các giá trị gia đình ở Hàn Quốc: Một phân tích so sánh”, tác giả đã xem xét sự khác biệt thế hệ trong gia đình về giá trị gia đình và sự khác biệt tiếp theo của giá trị gia đình trong xã hội Xã hội Hàn Quốc đã trải qua những thay đổi nhanh chóng trong một khoảng thời gian ngắn, và nó vẫn còn tiếp tục biến đổi Dựa trên phân tích so sánh các dữ liệu từ cuộc khảo sát chung của các nước tham gia trong Chương trình khảo sát xã hội quốc tế (ISSP) và các dữ liệu của Hàn Quốc, tác giả
đã nhận xét giá trị gia đình truyền thống vẫn chiếm ưu thế Hơn nữa, thái độ đối với hôn nhân và vấn đề chung sống được tìm thấy là rất truyền thống, giống với Philippin, nơi mà nền kinh tế khác về chất so với Hàn Quốc Xem xét vấn đề ly hôn, cho thấy các giá trị Hàn Quốc cũng tương tự như các nước châu Á khác và tương đối bảo thủ so với các nước Mỹ Latinh và Bắc, Nam, Tây và Đông Âu Về vai trò giới trong gia đình, ở Hàn Quốc cho thấy thái độ truyền thống tương đối ít hơn so với vấn đề chung sống, hôn nhân và ly hôn, nhưng nó vẫn mang nhiều nét truyền thống hơn so với các xã hội khác K.S Eun tìm thấy sự khác biệt tuổi tác dựa trên giá trị gia đình không chỉ ở Hàn Quốc mà còn ở các nước khác Nói cách khác, thế
hệ trẻ đã cởi mở hơn trong quan niệm về ba lĩnh vực giá trị gia đình với ngoại lệ là thái độ đối với ly hôn Trong mỗi quốc gia, thế hệ trẻ cho thấy thái độ tiến bộ hơn
và hiện đại hơn hơn so với các thế hệ trước K.S Eun khẳng định rằng chúng ta
Trang 15đang sống trong một xã hội vẫn còn rất bảo thủ và truyền thống trong thái độ đối với gia đình [30, p.19-20]
Min Suk (2008), trong bài viết “Nhận thức về hôn nhân và biến đổi giá trị gia đình ở Đông á: Một quan điểm so sánh” đã nhận xét ở Đông á việc gìn giữ các giá trị gia đình truyền thống được coi trọng, những thay đổi trong hôn nhân, tình dục có
xu hướng biến đổi chậm Dựa trên dữ liệu thu thập trong năm 2006 từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc về "giá trị giữa các thế hệ" Kết quả cho thấy rằng, đối với thế hệ trẻ ở cả ba nước việc lựa chọn đối tác hôn nhân và các giá trị liên quan đến hôn nhân đang thay đổi, họ có quan niệm cởi mở hơn trong vấn đề chung sống, hôn nhân [31, p.113]
Emiko Ochiai (2011), nhận xét hôn nhân ở Đông á vẫn là một giá trị quan
trọng, với một tỷ lệ kết hôn cao, hôn nhân ở Đông á là một thiết chế không hề bị sứt
mẻ của trách nhiệm và nghĩa vụ hơn là sự lựa chọn của cá nhân Khác với ở châu
Âu, nơi mà việc chung sống như vợ chồng đang dần thay thế hôn nhân, thì thiết chế hôn nhân ở Đông á tuy thế lại rất vững chắc Đây có thể coi là một dấu hiệu của tính hiện đại bị kìm nén Việc giảm mức sinh đã khiến người dân trong các xã hội Đông
á sử dụng các công nghệ mới để kiểm tra giới tính thai nhi và nạo phá thai có chọn lọc giới tính Đây là một ví dụ điển hình của tính hiện đại bị kìm nén Các cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài xuất hiện ở Đông á dường như nhằm vào việc bảo lưu những lề lối của một gia đình truyền thống Đây cũng được xem là một biểu hiện của tính hiện đại bị kìm nén Kết quả thu được từ Khảo sát về Xã hội Đông á tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan năm 2006 cho thấy một số quan niệm của các cá nhân về giá trị gia đình (Iwai và Yasuda, 2009), ở đó xu hướng vì gia đình là rất mạnh mẽ Các trách nhiệm liên thế hệ không chỉ đến từ quan hệ cha
mẹ với con cái, mà còn vì “con cái phải nỗ lực để cha mẹ có thể tự hào” Hôn nhân
ở Đông á không còn là ý muốn của cá nhân mà là trách nhiệm và nghĩa vụ Ở Đông
á, hiện tượng sống chung gia tăng là do xã hội đã loại bỏ những người có học vấn thấp và nguồn thu nhập không ổn định, hơn là do lựa chọn của cá nhân nhằm thoát khỏi thiết chế hôn nhân (dẫn lại Đào Hồng Lê, 2012) [37]
Trang 16Nghiên cứu về các giá trị gia đình ở Việt Nam
Trong những năm qua, đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây, vấn đề gia đình và vấn đề giới ở Việt Nam đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có xã hội học Các công trình nghiên cứu
xã hội học gia đình và giới đã góp phần cung cấp một bức tranh nhận diện tương đối đầy đủ, tổng quát về các vấn đề quan trọng nhất của gia đình và vấn đề giới ở Việt Nam thời kỳ đổi mới như: các chủ đề lý thuyết trong nghiên cứu gia đình và giới, các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu gia đình và giới, sự biến đổi gia đình, mối quan hệ giới từ truyền thống sang hiện đại, sự phân công lao động theo giới trong gia đình, kinh tế hộ gia đình, phúc lợi gia đình, chính sách xã hội liên quan đến gia đình, xung đột gia đình, hôn nhân và ly hôn… Trong những công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học đã được công bố chúng tôi nhận thấy vấn đề nghiên cứu về các giá trị gia đình mà đề tài này quan tâm đã được các nhà nghiên cứu triển khai lồng ghép vào trong các nội dung nghiên cứu mà họ đã thực hiện Việc nhìn nhận, xem xét về các giá trị gia đình cho đến nay vẫn chưa có một chương trình nghiên cứu độc lập được triển khai nghiên cứu riêng biệt Các dữ liệu
và những phân tích về các giá trị gia đình được phản ánh khá rộng ở nhiều báo cáo khác nhau, ở đây chúng tôi sẽ điểm qua một số vấn đề chính về các giá trị gia đình
ở Việt Nam đã được phản ánh trong các chương trình nghiên cứu trong thời gian qua
- Về một số giá trị liên quan đến hôn nhân
Trong quyết định hôn nhân, đó là xu hướng ngày càng xem trọng quyền tự
do lựa chọn bạn đời, tự do kết hôn của con cái Tuy nhiên, ở đó cha mẹ vẫn tiếp tục
là người giữ vai trò tư vấn, đồng ý với quyết định của con cái, vẫn tiếp tục phổ biến
mô hình con cái quyết định hôn nhân nhưng có bàn bạc và thống nhất với cha mẹ (Vũ Tuấn Huy & Barbieri, 1995; Nguyễn Hữu Minh, 1999; Đỗ Thị Bình, 2002; Nguyễn Đức Chiện, 2008; Lê Thi, 2009; Đặng Ánh Tuyết, 2010; Lê Ngọc Văn, 2011)
Trang 17Trong các tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời các giá trị được đề cao là sự tương đồng về mặt cá nhân, kết hôn vì tình yêu, các tiêu chuẩn tình cảm, tinh thần, biết cư xử/tư cách đạo đức tốt, biết cách làm ăn, nghề nghiệp ổn định, có sức khỏe được đề cao hơn so với các giá trị như gia đình môn đăng hộ đối, lý lịch gia đình, ngoại hình
cá nhân (Nguyễn Thị Ngân Hoa, 1996; Đỗ Thị Bình, 2002; Lê Thi, 2009; Đặng Ánh Tuyết, 2010; Lê Ngọc Văn, 2011)
Trong quan niệm về hạnh phúc gia đình, Bùi Kim Quỳ (1992) cho rằng sự hòa hợp giữa các thành viên trong gia đình là yếu tố hàng đầu của hạnh phúc gia đình Trong các nghiên cứu gần đây của Phùng Thị Kim Anh (2009) và Lê Thi (2009) cũng chỉ ra quan niệm của người dân về hạnh phúc gia đình, kết quả nghiên cứu cho thấy: kinh tế đủ đáp ứng nhu cầu gia đình, vợ chồng bình đẳng, con cái ngoan ngoãn, quan hệ nội – ngoại yên ấm, đoàn kết yêu thương nhau giữa các thành viên gia đình được xem là những yếu tố của hạnh phúc gia đình và nó quan trọng hơn so với các yếu tố khác như gia đình giàu có, phải có con trai, chồng là trụ cột gia đình
- Về một số giá trị liên quan đến vị trí, vai trò của người chồng, người vợ trong gia đình
Trong quan niệm về trụ cột gia đình, trong xã hội Việt Nam truyền thống khi nói đến vai trò trụ cột trong gia đình đó chính là nói đến vai trò của người đàn ông trong gia đình, vợ, con phải tuân theo sự điều hành của người đàn ông gia trưởng
Theo Vũ Tuấn Huy (2002) trong bài viết Vai trò của người cha trong gia đình, tác
giả đã chỉ ra rằng, cho đến trước giai đoạn công nghiệp hóa, một quan niệm phổ biến khi nói đến cha mẹ là thường nhấn mạnh đến người vợ, người mẹ là người có trách nhiệm chủ yếu trong việc chăm sóc con cái: “Cha sinh không bằng mẹ dưỡng”
và xem đó như là “thiên hướng” của phụ nữ Còn người cha là người chủ gia đình, người trụ cột về kinh tế [11] Qua một số nghiên cứu gần đây cho thấy sự bảo lưu khá sâu sắc của giá trị này nơi người dân, mặc dù các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa đã thay đổi khá nhiều Trong quan niệm của nữ công nhân chưa lập gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy người đàn ông vẫn được quan niệm là trụ cột
Trang 18trong gia đình (Nguyễn Thị Ngân Hoa, 1996) [8] Trần Thị Minh Đức & Đỗ Hoàng
(2001), trong bài viết Áp lực xã hội đối với vai trò “trụ cột” của người đàn ông đã
cho thấy mặc dù phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động bên ngoài xã hội nhưng họ vẫn chưa xóa bỏ được quan niệm về vai trò trụ cột của nam giới Phần lớn người trả lời (cả nam giới và nữ giới) đều cho rằng nam giới là trụ cột trong gia đình (80,5%); đa số họ cho rằng người chồng là người đầu tiên đương đầu với khó khăn (70,4%); nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cả nam giới và nữ giới đang cố gắng duy trì cái uy cho chính người đàn ông, định kiến về vai trò trụ cột áp đặt vào người đàn ông ở khía cạnh văn hóa, tinh thần nhiều hơn là kinh tế, một thực tế là phụ nữ vẫn
có khả năng đảm nhiệm vai trò trụ cột, nhưng họ vẫn dành quyền đó cho người
chồng Điều này cho thấy mặc dù thực tế về hành vi đã thay đổi [đặc biệt ở phụ nữ tham gia vào lao động và hoạt động xã hội nhiều hơn] nhưng những định kiến, giá
trị lại thay đổi rất chậm, ở đây chính là quan niệm về vai trò trụ cột của người đàn
ông trong gia đình [5] Theo Vũ Mạnh Lợi (2009) trong bài viết Chủ hộ gia đình Việt Nam là ai?, đã cho thấy, "chủ hộ" là một khái niệm đa diện, bao gồm cả các
khía cạnh về quyền lực kinh tế, lẫn uy tín, quyền ra quyết định quan trọng, quyền đại diện cho gia đình, và phản ánh khuôn mẫu văn hóa trọng xỉ và trọng nam truyền
thống [15] Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (Bộ VH-TT&DL, TCTK,
Viện Gia đình và Giới, Unicef, 2008) cũng cho thấy quan niệm về người chủ gia đình thay đổi chậm, người đàn ông vẫn là người chủ gia đình; công việc lớn của gia đình quyền quyết định vẫn còn thuộc về đàn ông [1]
Về vị trí, vai trò của người chồng, người vợ trong gia đình, trong xã hội Việt Nam truyền thống sự phân chia các vị trí, vai trò giữa vợ và chồng trong gia đình là rất rõ ràng, ở đó người chồng (người cha) sẽ phải là trụ cột kinh tế, giao tiếp với bên ngoài, là người quyết định mọi việc trong gia đình, người phụ nữ chủ yếu đảm nhận vai trò tái sản xuất, chăm sóc con cái, giáo dục con cái, ít có tiếng nói trong gia đình Qua nhiều công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã cho thấy sự biến đổi trong quan niệm về vị trí, vai trò của người vợ người chồng trong gia đình,
ở đó là xu hướng phân chia ngày càng công bằng hơn các vị trí, vai trò trong gia
Trang 19đình Tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy những sự bảo lưu nhất định về mặt quan niệm của người dân về vị trí, vai trò của người chồng người vợ trong gia đình theo các quan niệm truyền thống Nguyễn Thị Ngân Hoa (1996) đã chỉ ra trong quan niệm của nữ công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh về việc chia sẻ công việc trong gia đình
họ kỳ vọng chồng mình chỉ cần chia sẻ một phần [8] Vũ Tuấn Huy (2002) đã chỉ ra người cha trong vai trò nuôi dưỡng không được nhấn mạnh trước hết phản ánh một tâm thế chung đánh giá thấp vai trò của người cha trong các hoạt động này và mặt khác nhấn mạnh đến vai trò là người trụ cột về kinh tế Coi phụ nữ nên là người chăm sóc chính đối với con cái, người cha chỉ là người tham gia hỗ trợ vợ mình trong chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, vai trò của người cha được kỳ vọng nhiều hơn
ở vai trò là nguồn cung kinh tế hơn là vai trò nuôi dưỡng con cái Người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ, người mẹ là một quan niệm phổ biến [11]
Nguyễn Linh Khiếu (2002), trong bài viết Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình, đã nhận xét, vai trò của người phụ nữ trở nên hết sức quan
trọng trong việc thực hiện những công việc nhằm nuôi dưỡng và tái sản xuất sức lao động của các thành viên gia đình Số liệu điều tra cũng cho thấy, mặc dù trên thực
tế người phụ nữ có vai trò khá quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình nhưng xã hội nói chung và nam giới nói riêng vẫn chưa đánh giá đúng vai trò của
họ Định kiến giới này, một mặt xuất phát từ các quan niệm truyền thống “trọng nam khinh nữ” và những quan niệm hẹp hòi này lại được dư luận xã hội phần nào ủng hộ nên nó trở thành một hệ thống đồng bộ cản trở sự phát huy những tiềm năng vốn có của người phụ nữ trong đời sống gia đình [12]
Trong cuốn Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đỗ Thị Bình – Lê Ngọc Văn – Nguyễn Linh
Khiếu, 2002), các tác giả nhận xét, vẫn còn dáng dấp của những định kiến truyền thống trong các quyết định trọng đại và việc lớn của gia đình, người nam giới vẫn chủ động hơn Vị thế của người phụ nữ trong gia đình mặc dù đã có nhiều sự chuyển biến, bình đẳng hơn so với trước đây nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là
Trang 20trong việc ra quyết định các công việc quan trọng của gia đình, khuôn mẫu giới vẫn còn áp đặt, đè năng lên người phụ nữ trong các công việc của gia đình [3]
Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (Bộ VH-TT&DL, TCTK, Viện Gia đình và Giới, Unicef, 2008), cho thấy trong quan hệ gia đình, phân công
lao động theo giới vẫn được duy trì, mặc dù có sự bình đẳng hơn; công việc lớn của gia đình quyền quyết định vẫn còn thuộc về đàn ông Số liệu cũng cho thấy đã có sự thay đổi quan niệm về sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào những công việc vốn trước đây được quan niệm là của giới này hay giới kia Trong thực tế, khi người phụ nữ tham gia vào các công việc sản xuất và hoạt động xã hội thì công việc gia đình hầu như được chia sẻ nhiều hơn giữa vợ và chồng Bản thân người phụ nữ và nam giới cũng đã sẵn sàng cho việc thay đổi vai trò truyền thống của mình [1]
- Về một số giá trị liên quan đến con cái
Có con đối với người Việt Nam vẫn là một giá trị quan trọng, là yếu tố để
đảm bảo cho hạnh phúc gia đình Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (Bộ
VH-TT&DL, TCTK, Viện Gia đình và Giới, Unicef, 2008), đã khẳng định con cái vẫn là một giá trị của gia đình và gia đình ít con; Giá trị của con trai cũng đã thay đổi, mặc dù vẫn còn một tỷ lệ đáng kể người dân ủng hộ quan niệm nhất thiết phải
có con trai [1] Theo Lê Thi (2009), việc có con là thực hiện nghĩa vụ đối với ông
bà, cha mẹ, dòng họ, để duy trì nòi giống, thờ cúng tổ tiên sau này Đồng thời đó cũng là nhu cầu thực tế và tình cảm của đôi vợ chồng Qua nghiên cứu tác giả cũng chỉ ra thứ tự các giá trị gắn liền với đứa con: là niềm vui, hạnh phúc cho gia đình (99,5%); để góp phần củng cố mối quan hệ vợ chồng (97,3%); để có người chăm sóc khi tuổi già (87,5%); có người để duy trì nòi giống (82%); để làm hài lòng ông
bà hai bên nội ngoại (70,6%); để có người lao động (46,5%) [25]
Quan niệm muốn đẻ con trai vẫn còn trong một bộ phận người dân, kết quả
Điều tra gia đình Việt Nam 2006, chỉ ra có gần 37% đối với những người từ 18 – 60
tuổi, lý do chủ yếu phải có con trai là “để có người nối dõi tông đường” (85,7%);
“để có nơi nương tựa lúc tuổi già” (54,2%); “để có người làm việc lớn, việc nặng” (23,4%) [1, tr 29] Tác giả Lê Thi (2009), cũng chỉ ra trong nghiên cứu của mình có
Trang 2116,4% người dân cho rằng nhất thiết phải có con trai và lý do phải có con trai là “để nối dõi tông đường” được lựa chọn nhiều nhất [25]
Về những mong muốn, kỳ vọng đối với con cái, kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006 cho thấy phần lớn cho rằng con trai và con gái trong gia đình đều có
cơ hội học tập ngang nhau, song việc đi học còn tùy thuộc vào khả năng học tập của trẻ Về cơ bản, người dân đều mong đợi vai trò ngang nhau giữa con trai và con gái
Ba mong đợi lớn nhất của cha mẹ đối với trẻ em gái là có nghề nghiệp ổn định (75%), có cuộc sống gia đình hạnh phúc (56,7%) và có trình độ học vấn cao (40,1%) Ba mong đợi đối với trẻ em trai cũng có tỷ lệ gần tương tự là 78%, 42,4%
và 42,2% [1, tr 33] Một nghiên cứu gần đây của Lê Thi (2009) cũng đã chỉ ra những mong muốn lớn nhất đối với cả con trai và con gái là: có nghề nghiệp ổn định (68%); có cuộc sống gia đình hạnh phúc (47,8%) đặc biệt với con gái là (63,8%); có tư cách đạo đức tốt (49%); có sức khỏe (20,9%), những giá trị như có địa vị xã hội, làm ăn giỏi được mong muốn ít nhất [25, tr 251]
Về giáo dục con cái, kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006, cho thấy khi
con cái mắc lỗi cha mẹ nhắc nhở, phân tích đúng sai (74,2%); quát mắng (42,6%), đánh đòn (11,2%), liên hệ nhà trường (5,1%), làm ngơ lỗi của trẻ (8,8%) và đau khổ bất lực (0,5%) [1] Kết quả này được tác giả Lê Thi (2009) khẳng định lại một lần nữa về nguyên tắc giáo dục ngày nay đó là quán triệt tinh thần bình đẳng và dân chủ giữa cha mẹ và con cái, qua khảo sát tác giả chỉ ra khi con phạm lỗi cha mẹ thường nhắc nhở, phân tích đúng sai Việc quát mắng, đánh đòn chiếm tỷ lệ nhỏ Nhiều bậc cha mẹ có nhận thức đúng đắn là: không phải đầu tư cho con cái tiền bạc, đất đai, điều quan trọng hơn là tạo cho chúng có kiến thức, được học hành và có nghề [25,
tr 243 – 245]
- Nghiên cứu về giá trị bữa cơm gia đình
Qua tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu xã hội học chúng tôi nhận thấy vấn đề bữa cơm gia đình chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến Việc nhận diện về bữa cơm gia đình trong truyền thống và hiện đại chủ yếu tiếp cận dưới góc độ của văn hóa học Điển hình cho cách tiếp cận này có thể nói đến bài viết của tác giả Trương
Trang 22Thị Lam Hà (2008), Bữa cơm gia đình trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, thông
qua bài viết của mình tác giả đã đưa ra định nghĩa về bữa cơm gia đình, phân tích về bữa cơm gia đình gắn với trục giá trị văn hóa và phân tích sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới bữa cơm gia đình Ngoài ra tác giả cũng tiến hành phân tích về giá trị văn hóa của bữa cơm gia đình và giải pháp giữ gìn bữa cơm gia đình [36] Bài viết cho thấy một cách tiếp cận văn hóa học đối với bữa cơm gia đình của người Việt, các phân tích đã khẳng định bữa cơm gia đình là một giá trị văn hóa quan trọng Tuy nhiên, bài viết cũng cho thấy sự hạn chế khi mà các phân tích này chưa
có được các số liệu nghiên cứu thực nghiệm hỗ trợ cho các phân tích và kết luận
- Về mặt phương pháp nghiên cứu
Trong các đề tài đã được triển khai nghiên cứu về vấn đề gia đình chúng tôi nhận thấy các tác giả lựa chọn phổ biến hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là tiếp cận nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính Từ các cuộc nghiên cứu lớn ở cấp độ mẫu quốc gia cho đến các nghiên cứu trường hợp ở từng địa phương, có thể kể đến các nghiên cứu ở quy mô mẫu cấp quốc gia như: Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và
phụ nữ, Đỗ Thị Bình [cn], 2001), nhóm tác giả tiếp cận bằng cả nghiên cứu định
lượng và định tính Nghiên cứu định lượng được tiến hành với 1.497 hộ gia đình ở khu vực miền Bắc Việt Nam, phương pháp chọn mẫu được sử dụng là phân cụm theo vùng địa lý - kinh tế - xã hội và chọn mẫu ngẫu nhiên tại cơ sở Trong nghiên cứu định tính nhóm tác giả đã lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm tập trung, với mỗi địa bàn nghiên cứu thực hiện 10 phỏng vấn sâu cá nhân và
4 phỏng vấn nhóm [3]. Trong Dự án Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 (Bộ
VH-TT&DL, TCTK, Viện Gia đình và Giới, Unicef, 2006), cuộc điều tra được tiến hành bằng cả nghiên cứu định lượng (phiếu hỏi) và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm), với quy mô mẫu là 9.300 hộ gia đình trên cả nước [1] Ngoài ra, có thể thấy trong một nghiên cứu lớn gần đây về gia đình nông thôn Việt Nam thông qua dự án điều tra Gia đình Nông thôn Việt Nam trong Chuyển đổi (Viện Xã hội học, Viện
Trang 23Gia đình và Giới, Viện Dân tộc học, 2004 – 2006) thực hiện tại 4 tỉnh Yên Bái, Hà Nam, Thừa Thiên Huế, và Tiền Giang, nhóm tác giả sử dụng một bảng câu hỏi toàn diện cho 900 hộ gia đình, cùng với 220 phỏng vấn sâu đã được thực hiện với người dân địa phương [16]
Sự kết hợp tiếp cận nghiên cứu định lượng và định tính còn được các tác giả
khác triển khai trong các nghiên cứu trường hợp, cụ thể như: đề tài “Tình trạng gia đình của nữ công nhân tại một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (Trung tâm
Nghiên cứu phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh,1994) được tiến hành bằng cả nghiên
cứu định lượng (phiếu hỏi) và định tính (phỏng vấn sâu) [8]; đề tài Những áp lực của một số định kiến xã hội đối với người đàn ông (Trần Thị Minh Đức & Đỗ
Hoàng, 1999), nhóm tác giả thực hiện phỏng vấn sâu và điều tra bằng bảng hỏi trên
558 người tại Hà Nội, Lạng Sơn và Thái Bình [5]; trong đề tài “Tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống tại các khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa tại tỉnh Vĩnh Phúc” (Đặng Ánh Tuyết, 2010) tác giả đã lựa
chọn tiếp cận nghiên cứu trên cả hai phương diện nghiên cứu định lượng (bảng hỏi)
và định tính (phỏng vấn sâu) [27]; trong đề tài Một số vấn đề về mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn - nghiên cứu trường hợp tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (Trịnh Thái Quang, 2007),
tác giả đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu là khảo sát định lượng (bảng hỏi) và định tính (phỏng vấn sâu) [21]; hay như trong một nghiên cứu gần đây của Lê Thi
(2008) về Quan niệm, nhận thức của các thế hệ Việt Nam về hôn nhân và gia đình,
tiến hành điều tra ở 4 điểm thuộc tỉnh Hưng Yên và thành phố Hà Nội, tác giả đã lựa chọn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi), khảo sát về mặt định tính bằng phỏng vấn sâu và tọa đàm nhóm [25]
Tóm lại, thông qua cái nhìn tổng quan về những nghiên cứu liên quan đến
chủ đề gia đình và giá trị gia đình đã đề cập ở trên, chúng tôi xin nêu ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, chủ đề nghiên cứu về giá trị gia đình đã được quan tâm nghiên cứu
ở nhiều quốc gia khác nhau, các nghiên cứu này phân tích các giá trị gia đình và sự
Trang 24biến đổi của chúng gắn liền với bối cảnh của sự chuyển đổi từ một xã hội truyền thống sang một xã hội hiện đại Một mặt các giá trị hiện đại đang ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống các gia đình, thì ở một mặt khác cũng cho thấy sự tồn tại khá bền vững của một số giá trị gia đình truyền thống, những giá trị này tiếp tục có những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến việc định hướng hành vi xã hội của các cá nhân trong gia đình Sự đan xen, pha trộn những giá trị truyền thống và hiện đại nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền văn hóa mà hệ thống giá trị ấy tồn tại Việc nghiên cứu các giá trị gia đình được triển khai trên nhiều khía cạnh, từ những nghiên cứu riêng lẻ các tác giả đi đến những sự so sánh liên văn hóa về các giá trị gia đình Trong những nghiên cứu về giá trị gia đình ở các khu vực khác nhau trên thế giới chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu ở Đông á là rất đáng chú ý vì giữa các nước Đông á và Việt Nam có những nét tương đồng rất lớn về mặt văn hóa Ở đó đang chứng kiến một quá trình thâm nhập, đồng hóa của những giá trị hiện đại tác động đến đời sống gia đình, đồng thời với đó là những giá trị truyền thống về gia đình vẫn tiếp tục được khẳng định là còn nhiều ý nghĩa Sự bảo lưu của các giá trị gia đình truyền thống trong các xã hội Đông á được coi là còn khá mạnh
Thứ hai, qua phân tích, tìm hiểu các nghiên cứu về xã hội học gia đình ở Việt
Nam trong những năm gần đây chúng tôi nhận thấy vấn đề nghiên cứu về giá trị gia đình đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, trong các nghiên cứu đó họ đều dành một phần quan tâm nhất định đối với những vấn đề về giá trị gia đình Việt Nam trong bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi ở những khía cạnh khác nhau Những kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra những điểm chính trong hệ thống giá trị gia đình Việt Nam đương đại, đó là một bộ khung với sự đan xen, pha trộn giữa những giá trị truyền thống và hiện đại trong hệ thống các giá trị gia đình Một mặt các giá trị hiện đại đang thâm nhập và ngày càng trở nên phổ biến trong tư duy, nhận thức của người Việt Nam, mặt khác chúng tôi cũng nhận thấy ở đó vẫn còn sự bảo lưu khá bền vững của một số giá trị gia đình truyền thống, đặc biệt là trong vấn đề hôn nhân, vai trò giới và vấn đề con cái Trong các nghiên cứu đó, nổi bật lên là nghiên cứu của Lê Thi (2008) về quan niệm và nhận thức của các thế hệ người Việt Nam
Trang 25về hôn nhân và gia đình, tác giả đã lựa chọn so sánh giữa các thế hệ Việc nghiên cứu so sánh sự khác biệt giữa vợ chồng trong quan niệm về các giá trị gia đình còn thiếu những nghiên cứu độc lập đề cập đến
Thứ ba, về mặt phương pháp nghiên cứu, qua tìm hiểu, phân tích các nghiên
cứu xã hội học gia đình ở Việt Nam trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy một sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu có kết hợp giữa tiếp cận nghiên cứu định lượng và định tính Điều này cho thấy một sự kết hợp phổ biến về mặt phương pháp nghiên cứu hiện nay trong lĩnh vực xã hội học nói chung và xã hội học gia đình nói riêng ở Việt Nam, đó là mô hình kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính điển hình Sự kết hợp này đưa lại kết quả tối đa cho nghiên cứu, nghiên cứu định lượng bổ sung cho tính chính xác của nghiên cứu định tính và nghiên cứu định tính làm rõ hơn ý nghĩa của nghiên cứu định lượng Thông qua nghiên cứu định lượng đối tượng nghiên cứu được khái quát hóa và nghiên cứu định tính giúp giải thích sâu hơn các ý nghĩa mà kết quả nghiên cứu định lượng đã chỉ ra
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
a, Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu được về quan niệm và sự khác biệt trong quan niệm giữa vợ vàchồng trong gia đình trẻ ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về một số giá trị gia đình
Trang 264.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, phân tích các thông tin có sẵn về quan niệm và sự khác biệt quan niệm giữa vợ chồng về các giá trị trong gia đình
- Trình bày cơ sở lý luận nghiên cứu quan niệm và sự khác biệt quan niệm về giá trị gia đình giữa vợ chồng trong gia đình trẻ
- Điều tra xã hội học về thực trạng quan niệm và sự khác biệt quan niệm giữa
vợ và chồng trong các gia đình trẻ về một số giá trị gia đình
- Phân tích làm rõ quan niệm và sự khác biệt quan niệm giữa vợ và chồng trong các gia đình trẻ tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về một số giá trị gia đình
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khảo sát quan niệm và sự khác biệt trong quan niệm giữa vợ - chồng về một số giá trị gia đình
Khách thể nghiên cứu là các cặp vợ chồng trong gia đình trẻ tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi tiếp cận nghiên cứu quan niệm và sự khác biệt trong quan niệm giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ về một số giá trị gia đình trên các khía cạnh sau:
+ Một số giá trị về hôn nhân: mục đích tiến tới hôn nhân; những mong
muốn, kỳ vọng đối với gia đình; những giá trị trong lựa chọn bạn đời; quan niệm về hạnh phúc gia đình
+ Một số giá trị về vị trí, vai trò của vợ chồng trong gia đình: quan niệm
về trụ cột gia đình; đóng góp của vợ chồng cho gia đình
+ Một số giá trị về con cái: giá trị của con cái; giá trị con trai; những mong
muốn, kỳ vọng về con cái; những giá trị trong giáo dục con cái
+ Một số giá trị về bữa cơm gia đình: tầm quan trọng, ý nghĩa của bữa cơm
gia đình, việc tổ chức bữa cơm gia đình, gìn giữ bữa cơm gia đình
Trang 27Việc chúng tôi lựa chọn một số giá trị gia đình như đã nêu ở trên để nghiên cứu xuất phát từ việc chúng tôi nhận định đây là những giá trị cốt lõi liên quan đến mối quan hệ hôn nhân và việc tổ chức đời sống gia đình Nghiên cứu về giá trị là một vấn đề hết sức khó khăn, chúng ta chỉ có thể cảm nhận về giá trị, chúng ta không thể nhìn thấy hay chạm được vào nó, giá trị mang hàm ý đánh giá về cái gì nên làm và không nên làm Ở Việt Nam việc nghiên cứu và chỉ ra bảng giá trị gia đình là một vấn đề còn chưa được nghiên cứu đầy đủ, hay nói đúng hơn là còn chưa
có những công trình nghiên cứu có hệ thống về bảng giá trị gia đình Và trong đề tài này, chúng tôi không có tham vọng chỉ ra một cách đầy đủ bảng giá trị gia đình, vì đây là công việc không dễ dàng Tuy nhiên, về cơ bản đời sống gia đình được vận hành bằng những giá trị về vật chất và những giá trị về tinh thần Trong phạm vi của
đề tài này, chúng tôi chỉ chủ yếu đề cập đến các giá trị tinh thần và cũng chỉ chọn một số giá trị tình thần đang chi phối mối quan hệ gia đình và việc tổ chức đời sống gia đình trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội hiện nay
- Địa bàn nghiên cứu được chọn là thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Trong đó, chúng tôi chọn nghiên cứu một phường và một xã của thành phố Thủ Dầu Một
- Thời gian nghiên cứu: tháng 04/2012 – tháng 9/2012
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng ba phương pháp nghiên cứu cơ bản:
- Nghiên cứu tài liệu sẵn có
- Nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định tính
Trong đó, chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để bổ sung chuyên sâu cho một số vấn đề nghiên cứu mà bằng phương pháp nghiên cứu định lượng khó thu thập được hết các khía cạnh của vấn đề Phương pháp nghiên cứu tài liệu sẵn có để thu thập, phân tích các thông tin có sẵn về cơ sở lý luận của nghiên cứu và những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến sự khác biệt quan niệm giữa vợ chồng về các giá trị trong gia đình
Trang 28Chọn mẫu địa bàn nghiên cứu:
Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên: 11.866,61
ha, dân số: 244.277 người Thành phố Thủ Dầu Một có 14 đơn vị hành chính, gồm:
11 phường là: Hiệp Thành, Phú Lợi, Phú Cường, Phú Hòa, Phú Thọ, Chánh Nghĩa, Định Hòa, Phú Mỹ, Hiệp An, Phú Tân, Hòa Phú và 3 xã là: Tân An, Tương Bình Hiệp, Chánh Mỹ [34]
Sau khi bốc thăm ngẫu nhiên để chọn 1 phường trong số 11 phường, chúng tôi chọn được phường Phú Lợi; bốc thăm ngẫu nhiên để chọn 1 xã trong 3 xã, chúng tôi chọn được xã Tương Bình Hiệp
Như vậy địa bàn khảo sát sau khi lựa chọn bốc thăm ngẫu nhiên là phường Phú Lợi và xã Tương Bình Hiệp thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
6.1 Nghiên cứu tài liệu sẵn có
Với phương pháp này chúng tôi thu thập các tài liệu sẵn có đã nghiên cứu về vấn đề, trên cơ sở đó tìm hiểu về mặt lý luận, những bài học kinh nghiệm rút ra cho nghiên cứu này Đồng thời một số dữ liệu sẽ được sử dụng làm khung so sánh với nghiên cứu thực nghiệm của đề tài
6.2 Nghiên cứu định lượng
Công cụ chủ yếu để thu thập được những thông tin cần thiết là bảng hỏi Bảng hỏi được thiết kế theo mục tiêu, nội dung, lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
mà đề tài đã lựa chọn, và được phát cho những mẫu nghiên cứu đã được chọn Đây
là bảng câu hỏi phỏng vấn cá nhân dành cho các cặp vợ chồng trong các gia đình trẻ trên địa bàn nghiên cứu
Bảng hỏi được thiết kế với 49 câu hỏi để thu thập thông tin: nhân khẩu của người trả lời (11 câu hỏi), các quan niệm của người trả lời về giá trị liên quan đến hôn nhân (9 câu hỏi); vị trí, vai trò của người chồng – người vợ trong gia đình (8 câu hỏi); về con cái (13 câu hỏi); về bữa cơm gia đình (8 câu hỏi) Quá trình phỏng vấn người vợ và người chồng được tách riêng để đảm bảo tính khách quan cho thông tin thu thập được
Trang 29- Chọn mẫu nghiên cứu định lượng: mẫu nghiên cứu định lượng được chọn
theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất Đơn vị mẫu được chọn là các cá nhân, đó là những người vợ người chồng trong các hộ gia đình trẻ Việc chọn mẫu được lựa chọn căn cứ trên danh sách các cặp vợ - chồng có độ tuổi dưới 35 do khu phố/ấp cung cấp Trên cơ sở danh sách mẫu ở từng khu phố/ấp thực hiện chọn mẫu trên bước nhảy đã chọn trước Lấy đến đủ số mẫu cần thiết ở mỗi khu phố/ấp
- Xác định cỡ mẫu: do sự hạn chế về mặt thời gian, kinh phí thực hiện, nhân
lực hiện có, địa bàn nghiên cứu Ở đây chúng tôi sử dụng phương pháp ước lượng
cỡ mẫu, tức là xác định một dung lượng mẫu đủ lớn để có thể khảo sát hiệu quả Ở đây, số lượng đơn vị mẫu được chọn là 200 mẫu, trong đó bao gồm: 100 mẫu là người vợ và 100 mẫu là người chồng Để có sự so sánh chính xác chúng tôi sẽ cố gắng phỏng vấn cả vợ và chồng trong cùng một gia đình Tuy nhiên, do thực tế có thể sẽ có những mẫu không phải là đến từ cùng một cặp vợ chồng do yếu tố khách quan sự vắng mặt của một trong hai người tại thời điểm khảo sát Vì vậy, số mẫu được khảo sát có thể sẽ lớn hơn 200 mẫu, số mẫu cần thiết để xử lý và phân tích trong đề tài là 100 cặp vợ chồng trong cùng một gia đình Số mẫu không phải của một cặp vợ chồng sẽ bị loại ra, không đưa vào xử lý và phân tích trong đề tài này
- Phân bố mẫu nghiên cứu định lượng
+ Phường Phú Lợi: 100 mẫu, trong đó 50 mẫu người vợ và 50 mẫu người chồng Phường Phú Lợi có 9 khu phố như vậy sẽ có 5 khu phố có số mẫu được chọn
là 12 mẫu và 4 khu phố có số mẫu được chọn là 10 mẫu
Khu phố 1, 2, 3, 4, 5: 12 mẫu/mỗi Khu phố x 5 = 60 mẫu (30 mẫu nam và
Ấp 1, 2: 14 mẫu/mỗi Ấp x 2 = 28 mẫu (14 mẫu nam và 14 mẫu nữ)
Trang 30Ấp 3, 4, 5, 6, 7, 8: 12 mẫu/mỗi Ấp x 6 = 72 mẫu (36 mẫu nam và 36 mẫu nữ)
- Chọn mẫu phỏng vấn sâu: phương pháp được sử dụng là chọn mẫu không
xác suất dựa trên sự phán đoán Trong số mẫu nghiên cứu định lượng sẽ có một số mẫu được chọn để thực hiện phỏng vấn sâu
- Xác định cỡ mẫu: do các hạn chế trong nghiên cứu đã nêu ở phần phương
pháp nghiên cứu định lượng, chúng tôi cũng xác định cỡ mẫu phỏng vấn sâu theo phương pháp ước lượng cỡ mẫu: trong đó số mẫu cần có của phỏng vấn sâu là 8 mẫu, bao gồm: 4 mẫu là người chồng và 4 mẫu là người vợ Những người này không nhất thiết là cùng một gia đình với nhau
- Phân bố mẫu phỏng vấn sâu
Phường Phú Lợi: 4 mẫu, trong đó có 2 mẫu là người chồng và 2 mẫu là người vợ trong các gia đình trẻ
Xã Tương Bình Hiệp: 4 mẫu, trong đó có 2 mẫu là người chồng và 2 mẫu là người vợ trong các gia đình trẻ
Trang 317 Khung lý thuyết
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ tập trung khai thác biến số “giới” để phân tích về sự khác biệt trong quan niệm giữa vợ - chồng về một
số giá trị gia đình
Ghi chú: : Hướng nghiên cứu chính của đề tài
SỰ KHÁC BIỆT QUAN NIỆM VỀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH
- Một số giá trị về hôn nhân: mục đích
tiến tới hôn nhân; giá trị trong lựa chọn bạn đời; những mong muốn, kỳ vọng đối với gia đình; quan niệm về hạnh phúc gia đình
- Một số giá trị về vị trí, vai trò của vợ chồng trong gia đình: quan niệm về trụ
cột gia đình; đóng góp của vợ chồng cho gia đình
- Một số giá trị về con cái: giá trị của
con cái; giá trị con trai; những mong muốn, kỳ vọng về con cái; những giá trị trong giáo dục con cái
- Một số giá trị về bữa cơm gia đình:
tầm quan trọng, ý nghĩa của bữa cơm gia đình, việc tổ chức bữa cơm gia đình, gìn
NGƯỜI VỢ NGƯỜI CHỒNG
- Tình trạng con cái
Trang 328 Giả thuyết nghiên cứu
1 - Trong quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về một số giá trị gia đình được lựa chọn nghiên cứu, họ có xu hướng chịu ảnh hưởng bởi cả hai hệ thống giá trị gia đình, đó là các giá trị gia đình hiện đại và các giá trị gia đình truyền thống Ở đó là
sự đan xen, pha trộn giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại tạo nên bộ khung giá trị gia đình Việt Nam đặc trưng trong bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi
2 - Giữa vợ và chồng trong gia đình trẻ có sự khác biệt trong quan niệm về một số giá trị gia đình được lựa chọn nghiên cứu Nổi bật là sự khác biệt trong quan niệm về một số giá trị liên quan đến hôn nhân và con cái
Trang 33Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Thành phố Thủ Dầu Một là thành phố trung tâm tỉnh của tỉnh Bình Dương, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km Hiện thành phố Thủ Dầu Một là một trong 10 thành phố trực thuộc tỉnh có số dân đông nhất tại Việt Nam Trước 1975, Thủ Dầu Một thuộc quận Châu Thành, tỉnh Bình Dương Thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương được thành lập ngày 27/6/2012 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một theo nghị quyết số 11/NQ-CP và chính thức hoạt động vào ngày 1/7/2012 Theo đó thành phố Thủ Dầu Một có diện tích tự nhiên 11.866,61 ha và 244.277 nhân khẩu, gồm 14 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 11 phường: Phú Cường, Hiệp Thành, Chánh Nghĩa, Phú Thọ, Phú Hòa, Phú Lợi, Hiệp
An, Định Hòa, Phú Mỹ, Hòa Phú, Phú Tân và 3 xã: Chánh Mỹ, Tương Bình Hiệp, Tân An [43]
Hình 1.1: Bản đồ hành chính thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương [34]
Trang 34Tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thủ Dầu Một nói riêng ngày nay
đã trở thành một trung tâm công nghiệp, đô thị quan trọng của khu vực Đông Nam
bộ Tính từ thời điểm tách ra từ tỉnh Sông Bé cũ (1997) đến nay Bình Dương đã có bước phát triển vượt bậc về kinh tế - văn hóa – xã hội, đánh dấu bước chuyển quan trọng từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh công nghiệp Bình Dương hiện đang là một trong những tỉnh có tỷ suất nhập cư cao nhất cả nước hiện nay (chiếm hơn 50%), điều này xuất phát từ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh trong hơn 10 năm qua Cùng với quá trình công nghiệp hóa và sự tác động của quá trình di cư có thể thấy Bình Dương là một tỉnh thành có các yếu tố kinh tế - xã hội mang nhiều nét đặc trưng của quá trình đổi mới kinh tế - xã hội toàn diện ở Việt Nam hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
đa dạng và phức tạp của các hình thái, các cấu trúc gia đình khác nhau trong những nền văn hóa khác nhau Đúng như Mai Huy Bích đã nhận xét: “Không có định nghĩa phổ biến về gia đình do gia đình hết sức đa dạng theo thời gian và không gian” [2, tr 14]
Trong một cố gắng tổng hợp về các định nghĩa gia đình Lê Ngọc Văn đã xác
định 5 tiêu chí để định nghĩa gia đình trong bối cảnh Việt Nam hiện nay: “Gia đình
là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung Trong 5 tiêu chí này, quan hệ hôn nhân và huyết thống là tiêu chí
cơ bản nhất để nhận diện gia đình” [29, tr 38] Theo tác giả đây là một định nghĩa
Trang 35phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nó thể hiện được tất cả các đặc trưng của gia đình Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay Trong phạm vi tiếp cận của đề tài này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về gia đình của Lê Ngọc Văn (2011) để triển khai nghiên cứu
1.2.2 Gia đình trẻ
Trong nghiên cứu xã hội học, gia đình được đặc trưng ở hai trạng thái tĩnh và động Xem xét gia đình như là một cấu trúc động, các nhà xã hội học coi gia đình là một quá trình theo nghĩa là nó phát triển và biến đổi với thời gian: theo lứa tuổi của các thành viên, theo thời gian chung sống Các nhà xã hội học cho rằng có thể chia đường đời gia đình của một cá nhân từ khi kết hôn đến khi chết đi thành ít nhất bốn (hoặc năm) giai đoạn lớn như sau: thành lập, mở rộng, chia tách và tan rã [2] Gia đình trẻ trong nghiên cứu này được quan niệm là một giai đoạn trong sự phát triển đường đời của gia đình Gia đình của các cặp vợ chồng này đang ở giai đoạn mới thành lập hoặc đang mở rộng với việc sinh con, đẻ cái
Kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở Việt Nam của nam là 26,2 và của nữ là 22,8 (TCTK, 2009) Tuổi kết hôn ở thành thị cao hơn ở nông thôn (2,8 năm đối với nam và 2,2 năm đối với nữ) [1] Điều này tiếp tục cho thấy xu hướng kết hôn muộn, đặc biệt ở khu vực thành thị Vì vậy mà quá trình thành lập gia đình, cũng như bắt đầu sinh con, mở rộng gia đình cũng diễn ra muộn hơn Điều này đặt ra vấn đề xác định độ tuổi của cặp vợ chồng là bao nhiêu thì được gọi là vợ chồng trẻ? Từ kết quả nghiên cứu trên và với địa bàn đặc thù là nghiên cứu ở khu vực đô thị, chúng tôi xác định độ tuổi của cặp vợ chồng trong nghiên cứu này là 35 tuổi trở xuống thì được gọi là vợ chồng trẻ, các gia đình có cặp vợ chồng có độ tuổi từ 35 trở xuống được gọi là gia đình trẻ
Tóm lại, cũng như khái niệm gia đình, khái niệm gia đình trẻ là một thuật
ngữ chưa được xác định một cách rõ ràng trong khoa học, trong phạm vi tiếp cận đề tài này chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Lê Ngọc Văn (2011) về gia đình và
có xác định về mặt độ tuổi của cặp vợ chồng Như vậy, trong đề tài này khái niệm
gia đình trẻ có thể được hiểu như sau: “Gia đình trẻ là một nhóm người trong đó có
Trang 36một cặp vợ - chồng có độ tuổi dưới 35, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung”
1.2.3 Giá trị
“Giá trị” là một khái niệm được dùng ở tất cả các ngành khoa học nhân văn nhưng định nghĩa lại không thống nhất [6, tr 156] Trong xã hội học, năm 1951, Cl.Kluckhohn đã nêu lên một định nghĩa nay đã trở nên kinh điển và cho ta nhất trí
cách hiểu khái niệm Theo đó “giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” (dẫn lại Endruweit và
Trommsdorff, 2002) [6 tr 156]
Theo quan điểm xã hội học, những giá trị có thể được định nghĩa như là những tiêu chuẩn theo đó đoàn thể hoặc xã hội phê phán về tầm quan trọng của những con người, những khuôn mẫu, mục đích và các đối tượng văn hóa khác (Fichter, 1973) [7, tr 174] Theo Fichter (1973), giá trị là những tiêu chuẩn mang lại ý nghĩa cho văn hóa toàn bộ và cho xã hội Mô tả đầy đủ hơn, những giá trị mà các nhà xã hội học chú ý tới gồm những đặc tính sau đây: những giá trị được chia sẻ: một số đông người đồng thuận về vấn đề ấy; những giá trị không tùy thuộc vào
sự phê phán của một cá nhân riêng rẽ Những giá trị được coi là thực sự quan trọng; con người nối liền những giá trị đó với sự bảo tồn công ích và sự thỏa mãn những nhu cầu xã hội Những giá trị bao hàm những tình cảm Con người sẵn sàng hy sinh,
kể cả tranh đấu và chết cho những giá trị cao nhất Sau hết vì những giá trị đòi hỏi một sự thỏa thuận hay thỏa hiệp giữa nhiều người, nên nó có thể trừu tượng hóa thành khái niệm từ những đối tượng đã được lượng giá [7, tr 174]
Giá trị là tiêu chuẩn qua đó thành viên của một nền văn hóa xác định điều gì
là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay xấu, đẹp hay xấu
(Williams, 1970) Giá trị không phải là phát biểu mô tả mà là đánh giá và phán đoán, từ quan điểm văn hóa về những gì nên làm Những nguyên tắc bao quát này
Trang 37được phản ánh hầu hết từng khía cạnh trong cách sống của một người (dẫn lại Macionis, 2004) [17, tr 89]
1.2.4 Giá trị gia đình
Theo từ điển American Heritage thuật ngữ “giá trị gia đình” (family values)
được định nghĩa là các giá trị đạo đức và xã hội truyền thống được duy trì và khẳng định trong một gia đình [40]
Theo từ điển Macmillan thuật ngữ “giá trị gia đình” được định nghĩa là
những nguyên tắc dựa trên nền tảng cơ bản của các nguyên tắc trong gia đình truyền thống, nhất là tầm quan trọng của hôn nhân Từ này được sử dụng chủ yếu bởi các chính trị gia [41]
Theo từ điển Oxford thuật ngữ “giá trị gia đình” được định nghĩa là những
giá trị đã được học trong một đơn vị gia đình truyền thống, thường là các tiêu chuẩn cao về đạo đức và kỷ luật [42]
Trong phạm vi đề tài này thuật ngữ “giá trị gia đình” theo cách hiểu của
chúng tôi, đó là “quan niệm về những điều được mong muốn, những nguyên tắc, các giá trị đạo đức và xã hội đang được duy trì và khẳng định trong một gia đình,
có ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động.”
1.3 Cách tiếp cận nghiên cứu
1.3.1 Quan điểm cấu trúc - chức năng
Lịch sử lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như: August Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Arthur Radcliffe Brown, Bronislaw Malinowski, Talcott Parsons, Robert Merton, Peter Blau và nhiều người khác Các tác giả của lý thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều
có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững [10, tr 217]
Các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc – chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một xã hội
Trang 38tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ một sự thay đổi ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hóa, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của chủ thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị, hệ chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định, trật tự xã hội [10, tr 222]
Quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội Quan điểm cấu trúc chức năng nhấn mạnh sự ổn định và hài hòa của gia đình Và chính sự ổn định của gia đình góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội Vì thế mâu thuẫn, xung đột,
ly hôn là điều không đáng mong muốn trong cuộc sống gia đình Tiếp cận cấu trúc chức năng nghiên cứu gia đình như một hiện tượng xã hội trên hai bình diện: 1/ quan hệ giữa gia đình với xã hội; 2/ các mối quan hệ bên trong gia đình Hai bình diện nghiên cứu này tương ứng với hai hướng nghiên cứu: nghiên cứu gia đình như một thiết chế xã hội và nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù [29, tr 157] Trong khuôn khổ tiếp cận của đề tài này chúng tôi lựa chọn bình diện thứ 2 đó
là nghiên cứu các mối quan hệ bên trong gia đình, nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù
Khi nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù, người ta nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân trong đời sống gia đình như quan hệ
vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, những mối quan hệ tiền hôn nhân, những nhân
tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn bạn đời, địa vị, vai trò của các thành viên gia đình, phân công lao động theo giới trong gia đình, mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên gia đình, những nguyên nhân tan rã của mối quan hệ hôn nhân và gia đình, v.v… [29, tr 158]
Trang 39Các nhà xã hội học trường phái chức năng cho rằng gia đình là có tính phổ biến G Murdock (1949) giải thích tính phổ biến của gia đình do gia đình thực hiện bốn chức năng cơ bản không thể thiếu được cho sự tiếp nối thành công của xã hội
Đó là các chức năng: tình dục, tái sinh sản, giáo dục và kinh tế Ông cho rằng những chức năng này là hoàn toàn cần thiết cho cả cá nhân và xã hội Và chỉ có gia đình mới có thể thực hiện thành công những chức năng này Vì thế gia đình là tất yếu và phổ biến – chúng ta không thể tồn tại mà không có gia đình [29, tr 159]
W Goode (1982) cho rằng nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt được Khi cấu trúc gia đình thay đổi thì mô hình gia đình cũng biến đổi phù hợp để đáp ứng các nhu cầu xã hội [29, tr 159]
Dưới tác động của công nghiệp hóa, cấu trúc gia đình thay đổi và chức năng gia đình bị thu hẹp lại Một số chức năng của gia đình trong xã hội tiền công nghiệp hóa được chuyển sang cho các tổ chức xã hội khác đảm nhận Mặc dù vậy, gia đình vẫn thực hiện những chức năng cơ bản không tổ chức nào có thể thay thế được T.Parsons tin rằng trong xã hội công nghiệp hóa, mỗi gia đình trong mỗi xã hội đều
có hai “chức năng cơ bản và không thể giảm bớt được”, đó là: xã hội hóa ban đầu trẻ em, và ổn định nhân cách người lớn [29, tr 160]
Một khía cạnh khác Parsons cho rằng trong gia đình có sự phân công theo giới, đó là sự phân công lao động “tự nhiên” bên trong gia đình hạt nhân Trong gia đình người chồng đảm nhiệm vai trò công cụ, người vợ đảm nhiệm vai trò biểu cảm Trong gia đình, chồng là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập, và vợ ở nhà chăm sóc con cái và lo việc nhà Hai vai trò này bổ sung cho nhau, thúc đẩy sự liên kết, ổn định nhân cách người lớn trong bối cảnh biến đổi của xã hội công nghiệp hóa Vai trò giới, sự phân công lao động trở thành tính tất yếu cho sự tồn tại gia đình Nó chế định hóa các thành viên vào những vị trí và vai trò nhất định trong gia đình, cái mà chúng ta vẫn gọi là vai trò giới truyền thống
Quan điểm của Parsons rất thịnh hành vào cuối những năm 1940, nhưng bị tấn công kịch liệt từ cuối những năm 1960, nhất là với lý thuyết nữ quyền Theo đó:
Trang 401 Ông bị lên án là đã lý tưởng hóa gia đình, khi vẽ nên bức tranh toàn màu hồng
2 Bức tranh của ông phần lớn về giai cấp trung lưu, song ông cho rằng nó đại diện cho gia đình Mỹ nói chung
3 Parsons không xem xét những thể chế có thể thay thế các chức năng của gia đình
4 Parsons có quan điểm một chiều, phiến diện về xã hội hóa, coi đứa trẻ là đối tượng thụ động tiếp nhận văn hóa và nhân cách từ những người cha, người mẹ đầy sức mạnh
5 Các tác giả nữ quyền cho rằng việc ông gắn vai trò “tình cảm” cho phụ nữ
là biện minh cho nguyên trạng, điều đó chỉ có lợi cho nam giới thông qua việc duy trì một khuôn mẫu của sự bất bình đẳng trong gia đình
6 Về mặt phương pháp luận, phép phân tích chức năng của Parsons có tính chất chính trị chứ không phải khoa học Nghĩa là ông dựa vào những quan niệm khuôn sáo về gia đình hơn là vào những bằng chứng thu thập được bằng phương pháp khoa học [2, tr 137]
Cách tiếp cận cấu trúc chức năng mang tính chất bảo thủ ở một mức độ nào đấy vì nó cho rằng có sự đồng thuận hoặc cân bằng Nó ít khi xem xét mâu thuẫn, xung đột gia đình; sự bất bình đẳng giới được coi là thực hiện những chức năng cần thiết cho toàn bộ hệ thống xã hội Do vậy, nó không đủ linh hoạt để phân tích sự phát triển của gia đình [2, tr 138]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi sử dụng quan điểm cấu trúc - chức năng trong việc lý giải việc thực hiện các chức năng của gia đình và ảnh hưởng của việc thực hiện các chức năng đó đến quan niệm của vợ chồng về một số giá trị gia đình, trong đó bao gồm có quan niệm về hôn nhân, vai trò giới trong gia đình, về giá trị của con cái và bữa cơm gia đình Sự biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình trong bối cảnh một xã hội đang chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại đã
có những tác động đến hệ thống giá trị gia đình Một mặt các giá trị gia đình truyền thống có nhiều ý nghĩa tiếp tục được khẳng định Mặt khác là sự xuất hiện của