Tài liệu dạy học được biên soạn theo môđun là một trong những loại học liệu có thể giúp cho việc TCDH theo hướng tăng cường tính tự lực học tập của SV ở các trường CĐ và ĐH [99],[28].. M
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ có tác động đến mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có GD&ĐT Do đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn, được thể hiện ở tư tưởng chủ đạo là “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là: học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau và học để làm người (Learning to know, learning to do, learning to live together, learning to be), hướng tới xây dựng một
“xã hội học tập”[54, tr.8]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã ghi: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên” [42]
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa”, “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo nhu cầu phát triển của
xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” Theo đó, cần “thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội [3]
Nghị quyết chính phủ số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu: “Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học;
sử dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư
Trang 2liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng Internet Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước”, “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”[43]
Điều 40 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam, năm 2005, ghi rõ:
“Phương pháp đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”[38]
Hiện nay các trường Đại học đã chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, đây là một trong những hình thức đổi mới mang tầm chiến lược của giáo dục Đại học Việt Nam Đào tạo theo học chế tín chỉ có đặc điểm nổi bật như sau: 1 Thời lượng GV lên lớp trực tiếp giảng dạy SV ít, phần lớn thời gian SV phải tự nghiên cứu; 2 Là hệ thống đào tạo mở, nội dung chương trình theo tốc độ và khả năng của người học, đòi hỏi tính thích ứng cao, cập nhật thông tin thường xuyên, liên tục; 3 Khối lượng kiến thức lớn, việc KTĐG cần được tiến hành thường xuyên với các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận ; 4 Các PPDH được đa dạng hóa như thảo luận, seminar, thực tập, thực tế, cần được sử dụng nhiều Dạy học theo tín chỉ là một hình thức đào tạo mới đối với cả người dạy, người học và với các trường Đại học ở Việt Nam Hình thức dạy học theo tín chỉ, phát huy tính tích cực chủ động của người học, nhưng việc tổ chức SV tự học theo học chế tín chỉ còn gặp những khó khăn nhất định như: thời gian tự học; quản lý nội dung, chất lượng học tập; phương thức tổ chức phù hợp Từ những đặc điểm đó, để mang lại hiệu quả của từng học phần, nếu không có sự đổi mới hình thức TCDH phù hợp với đặc điểm của tín chỉ Dẫn đến tình trạng chỉ thay đổi tên gọi của hình thức đào tạo, chứ không làm thay đổi hoạt động dạy của GV và hoạt động học của SV Vì vậy, rất cần phải nghiên cứu đưa
ra tài liệu hỗ trợ dạy học và hình thức TCDH theo tín chỉ đáp ứng thực tiễn dạy học Đại học ở Việt Nam hiện nay Tài liệu dạy học được biên soạn theo môđun là một trong những loại học liệu có thể giúp cho việc TCDH theo hướng tăng cường tính tự lực học tập của SV ở các trường CĐ và ĐH [99],[28]
Vật lý đại cương đối với SV Đại học ngành kỹ thuật là một học phần cơ bản
Nó có nhiệm vụ trang bị cho SV những kiến thức và kỹ năng cơ bản về Vật lý ở bậc
Trang 3Đại học để tiếp tục học tập, nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật, đồng thời cũng góp phần hình thành nhân cách người kỹ sư trong tương lai Vì vậy, học phần yêu cầu SV phải nắm vững những kiến thức, và kỹ năng thuộc chương trình để học tập các môn kỹ thuật cơ sở và kỹ thuật chuyên ngành Tuy nhiên thời gian dành cho môn học này rất
ít Do đó, GV không đủ thời gian giảng hết cho SV ở trên lớp, nên SV phải chủ yếu tự học ở nhà Vì vậy, xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun học phần VLĐC cho SV Đại học NKT thuật là rất cần thiết[33]
Vấn đề tự học cho SV, tự học có hướng dẫn, tự học có hướng dẫn theo tiếp cận môđun đã có một số công trình nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn dạy học có tính khả thi như: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Thị Oanh, Phạm Văn Lâm, Nguyễn Thị Ngà, Dương Huy Cẩn, Ngô Quang Sơn Nhưng cho đến nay chưa có một luận án nào viết
về xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” Vật
lý đại cương cho SV Đại học NKT
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” Vật lý đại cương góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật” để làm nội dung
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học”- chương trình Vật lý đại cương và đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu đó nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học học phần Vật lý đại cương của
sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn
theo môđun phần “Điện học” Vật lý đại cương của sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập chung vào xây
dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện trường tĩnh”,
“Vật dẫn” của phần “Điện học” thuộc học phần Vật lý đại cương góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học”
và đề xuất được các hình thức sử dụng tài liệu, thì sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực tự
Trang 4học cho sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng dạy học học phần Vật lý đại cương cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học và năng lực tự học, hướng tiếp cận môđun trong dạy học và kết quả của việc tiếp cận môđun trong dạy học trên thế giới
5.4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và các hình thức sử dụng đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thực hiện việc nghiên cứu các tư liệu về
lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý, tập trung vào vấn đề tự học và năng lực tự học, đồng thời nghiên cứu hướng tiếp cận môđun trong dạy học
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thiết kế và phát phiếu điều tra đối với
giảng viên và sinh viên để đánh giá thực trạng tự học của sinh viên, thực trạng tài liệu
hỗ trợ sinh viên tự học học phần Vật lý đại cương nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực
tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở một
số trường Đại học để đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất trong luận án
6.4 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thống kê toán học và bằng
phương pháp nghiên cứu trường hợp: Theo dõi, phân tích và đánh giá kết quả tự học
của một số sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm, để thấy rõ hiệu quả của các tác
động sư phạm đối với các đối tượng sinh viên yếu, trung bình, khá và giỏi
7 Đóng góp của luận án
7.1 Đóng góp của luận án về mặt lí luận
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về tự học, năng lực tự học, môđun, môđun dạy học, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun Khẳng định vai trò quan trọng của
Trang 5việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực
tự học đối với sinh viên Đại học ngành kỹ thuật hiện nay
- Xây dựng được bộ tiêu chí để đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
- Đề xuất phương hướng, quy trình và nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
- Đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, để
hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học học phần Vật lý đại cương có hiệu quả, góp phần bồi dưỡng năng lực tự học, nâng cao chất lượng dạy học học phần Vật
lý đại cương
7.2 Đóng góp của luận án về mặt thực tiễn
- Làm rõ các yếu tố thực tiễn qua kết quả điều tra, phân tích việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học học phần Vật lý đại cương
- Xây dựng được tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện trường tĩnh” và “Vật dẫn”, đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu theo hướng giúp sinh viên tự học học phần Vật lý đại cương
- Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần “Điện học” là dạng tư liệu mới
hỗ trợ có hiệu quả cho việc dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho Sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
Chương 3 Xây dựng và sử dụng tài liệu theo môđun phần “Điện học” Vật
lý đại cương Đại học ngành kỹ thuật
Chương 4 Thực nghiệm sư phạm
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ ý tưởng lấy người học làm trung tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục đã hình thành các tiếp cận giáo dục là cơ sở nền móng cho việc xây dựng chương trình có cấu trúc môđun, và dạy học theo môđun sau này Cách tiếp cận đó là: Nội dung, chương trình cần hướng tới người học, tạo điều kiện cho người học tự giải quyết được vấn đề học tập của họ, phù hợp với điều kiện, năng lực, sở trường, nhu cầu của từng người học
1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
- Trong thế kỷ XX, vào những năm 20 các chương trình có cấu trúc môđun đã được sử dụng ở Mỹ, trong đào tạo bổ túc tức thời cho công nhân làm ở các dây chuyền của các hãng sản xuất ôtô General motor, và Ford Để đáp ứng công việc nhanh và hiệu quả trong các dây chuyền sản xuất, công nhân được đào tạo cấp tốc trong các khóa học ngắn (từ 2 đến 3 ngày) Người học được làm quen với mục tiêu công việc và được đào tạo ngay tại dây chuyền với nội dung không thừa, không thiếu, nhằm đảm nhận được một công việc cụ thể trong dây chuyền Khi có sự thuyên chuyển vị trí làm việc (nội dung công việc khác), người công nhân phải qua một khóa học ngắn hạn tương tự Phương pháp và hình thức đào tạo này đã nhanh chóng được phổ biến và áp dụng rộng rãi ở Anh và một số nước Châu Âu, do tính thực dụng, tiết kiệm thời gian
và kinh phí đào tạo Rất dễ nhận thấy đây là một kiểu đào tạo môđun đúng theo phong cách Mỹ “thực chất, bộc trực và hiệu quả”[80]
Tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp ở Viện ĐH Ohio của Mỹ, người ta đã sử dụng hệ thống bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, chương trình bổ túc
“năng lực cho GV” chương trình được cấu trúc từ 12 môđun đến 100 môđun[89]
Đặc điểm nổi bật của các chương trình có cấu trúc môđun ở Mỹ là nó được phân tầng rất chặt chẽ, chủ yếu là 2 tầng với các “môđun” đơn vị đào tạo cơ bản và các đơn vị thành phần là môđun bổ trợ
- Ở Pháp, những khóa học có cấu trúc môđun được tổ chức trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than Nhưng nó khác ở chỗ công nhân
Mỹ được đào tạo nhằm đáp ứng cho dây chuyền sản xuất, còn ở Pháp nhằm giải quyết công ăn việc làm cho công nhân mỏ, do tình trạng thất nghiệp tại các mỏ than,
Trang 7nhưng trong cả 2 trường hợp các khóa học đều mang tính “trọn vẹn” và “tích hợp”
rất cao [26]
- Ở Thụy Điển, chương trình đào tạo công nhân khai thác gỗ được cấu trúc theo trình tự và nội dung cơ bản qua các môđun đào tạo Hệ thống đào tạo ở Thụy Điển được đưa vào sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện Điều này cũng nói lên việc phân định giới hạn, và nội dung các môđun là
công việc rất phức tạp, nó quyết định hiệu quả của việc đào tạo theo môđun[85]
- Từ năm 1975, đào tạo môđun được áp dụng rộng rãi ở Australia Nét nổi bật của việc nghiên cứu, và ứng dụng môđun ở Australia là sự kế thừa, kết hợp các chương trình đào tạo truyền thống, với các chương trình đào tạo theo môđun, cũng như cách tổ chức đánh giá các chương trình đào tạo theo môđun Việc nghiên cứu, đào tạo nghề theo môđun tại Australia mang những nét đặc thù và quá trình vận dụng được thực hiện một cách linh hoạt, tạo ra sự khác biệt giữa các bang khác nhau Những công trình công bố của M.O.Donnell và R.Meyer tại bang Victoria đã chứng tỏ sự khác biệt này Đóng góp của M.O.Donnell và R.Meyer trong các quan niệm và giải pháp về cấu trúc chương trình có ý nghĩa rất quan trọng, đáng kể nhất là việc xây dựng chương trình có cấu trúc môđun kết hợp với chương trình có cấu trúc truyền thống Theo M.O.Donnell, tính “trọn vẹn” chính là dấu hiệu bản chất của môđun đào tạo Tính
“trọn vẹn” là “phần hồn” của một môđun, là tính chất có “ý nghĩa nhất” khi xem xét các chương trình đào tạo được cấu trúc theo môđun Các nghiên cứu của M.O.Donnell
đã làm phong phú lý luận về đào tạo theo môđun Chúng ta biết rằng “phương pháp tiếp cận theo người học”, “cá nhân hóa học tập” là một trong những điểm sáng lung linh nhất của tiếp cận môđun trong đào tạo nghề và vốn nó đã mang lại nhiều cảm
hứng cho các nhà phát triển chương trình từ trước tới nay [78], [79]
- Ở Liên Xô (cũ) việc áp dụng phương thức đào tạo theo môđun, được Viện khoa học dạy nghề nghiên cứu áp dụng thông qua nghiên cứu về các đơn vị kiến thức, hoặc đã được trung tâm phương pháp Liên bang nghiên cứu bằng hình thức các “phiếu công nghệ” trong các chương trình thực tập sản xuất, các phiếu lắp đặt [19]
- Ở nhiều nước khác như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philippin… cũng áp dụng môđun đào tạo nghề
Trang 8- Gần đây, trong sự cải tổ bậc trung học, ở nhiều nước như Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan,… đã đưa các chương trình đào tạo nghề theo môđun vào kế hoạch dạy học chính khóa ở các trường trung học phổ thông
- Tổ chức lao động quốc tế ILO(International Labour Organization) đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo môđun hoàn chỉnh Hệ thống này có ảnh hưởng lớn đến chương trình đào tạo nghề của nhiều quốc gia, và là hệ thống có nhiều thông tin nhất ở Việt Nam Chương trình đào tạo theo môđun trong lĩnh vực đào tạo
ĐH gắn với hình thức đào tạo theo “hệ thống tín chỉ” Hình thức đào tạo này bắt nguồn
từ khái niệm học tập của J.Deway, xem SV là nhân vật trung tâm, và họ cần được tự thể nghiệm bản thân thông qua việc học tập phù hợp với những lợi ích cá nhân Điều này đòi hỏi phải làm cho các môđun có nội dung thực tiễn, có mối quan hệ rõ rệt với thế giới hiện thực, người học phải được mở rộng khả năng trong việc lựa chọn phù hợp
và thiết thực [88]
- Hệ thống tín chỉ học tập xuất phát từ Viện ĐH Harvard, được Viện trưởng Eliot thực hiện vào năm 1872 Chương trình đào tạo cổ điển cứng nhắc được thay thế bởi sự lựa chọn rộng rãi các chương trình, các môn học đối với SV Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã phát triển rộng khắp, đặc biệt ở Mỹ Thực tiễn thực hiện mô hình đào tạo này cũng có những ưu điểm, và hạn chế nhất định Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có
ưu điểm là: Mang lại hiệu quả cao về phương diện quản lý, giảm giá thành đào tạo, hiệu quả học tập cao và tạo ra tính mềm dẻo, khả năng thích ứng cao của các chương trình đào tạo Bên cạnh đó, hệ thống tín chỉ cũng bộc lộ những nhược điểm: Kiến thức
bị cắt vụn làm ảnh hưởng đến động cơ học tập của SV, SV nhìn mức độ học vấn quy định cho một văn bằng như là sự tích lũy các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vì lợi ích cuối cùng của họ Hạn chế này đã được khắc phục bằng sự khởi xướng hệ thống
“tín chỉ theo Môđun” của Khoa Giáo dục - Viện ĐH Massachusetts (Mỹ) Hệ thống tín chỉ theo môđun, cho phép SV đạt được văn bằng ĐH qua việc tích lũy các loại tri thức
GD khác nhau, được đo lường bằng một đơn vị xác định Tín chỉ theo môđun được cấp cho SV thực hiện hoạt động học tập dưới sự điều khiển của giáo viên, nhưng cũng có thể cấp cho các SV làm việc độc lập khi đã ký kết một “hợp đồng học tập cá nhân” với giáo viên Những nghiên cứu về hệ thống tín chỉ, hay tín chỉ theo môđun tập trung chủ yếu vào phương diện quản lý, và xây dựng chương trình đào tạo Do đó, nó thiếu những chỉ dẫn đối với giáo viên khi họ tham gia vào quá trình phát triển chương trình
Trang 9đào tạo Mặc dù vậy, hệ thống tín chỉ đã rất phổ biến, và được áp dụng rộng rãi nhờ những ưu điểm có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao, đạt hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
- Ở Đông Nam Á các nước như Thái Lan, Singapo cũng đã tiếp thu, và vận dụng kỹ thuật môđun hóa nội dung dạy học, và tổ chức đào tạo theo môđun
- Hội nghị Quốc tế về “Triển khai áp dụng môđun trong đào tạo” được tổ chức tháng 12 năm 1977 tại Băng Cốc (Thái Lan), và tháng 1 năm 1985 tại Pari (Pháp) đã
có khuyến nghị “Sử dụng môđun là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo Các nước không có nền kinh tế phát triển, đầu tư tổng thể cho giáo dục bị hạn chế nên quan tâm tới đào tạo theo môđun Không nên sa đà vào tranh cãi, duy danh thuật ngữ,
mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm”[27]
- Đã có nhiều tài liệu biên soạn theo môđun như: “Khái niệm về môđun đào tạo kỹ năng cần thiết” của Ban đào tạo nghề thuộc Văn phòng lao động quốc tế;
“Cẩm nang cho giáo viên về quản lý giáo dục” của tổ chức UNESCO khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương và một số sách, giáo trình VLĐC ở Mỹ cũng đã biện soạn theo môđun [33]
Tóm lại, chương trình có cấu trúc môđun và phương pháp đào tạo theo môđun,
đã phát triển và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Việc xây dựng cấu trúc chương trình theo môđun ở mỗi quốc gia, trong từng lĩnh vực, và từng ngành nghề đã
có sự nghiên cứu, và ứng dụng một cách thận trọng trên cơ sở lý luận, và thực tiễn của mỗi nước Qua nghiên cứu cho thấy, quá trình tổ chức đào tạo nghề theo môđun ở các nước đã có những hiệu quả nhất định
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Chương trình đào tạo theo môđun đã có mặt từ những năm 70 của thế kỷ XX trong các chương trình của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc Việt Nam chương trình đào tạo theo môđun du nhập muộn hơn một chút cùng với các kỹ thuật và công nghệ mới chủ yếu từ các nước Đông Âu
- Từ năm 1988, Viện Nhiên cứu ĐH và Giáo dục Chuyên nghiệp đã bắt đầu nghiên cứu khả năng và điều kiện để áp dụng môđun dạy học trong đào tạo và tổ chức đào tạo theo môđun Đến năm 1989 đã công bố kết quả nghiên cứu của đề tài “Thí sinh tự học” Đề tài này mới chỉ phác thảo được khả năng tổ chức để SV học tập một
Trang 10cách tự lực đạt tới mục tiêu đào tạo, đồng thời kiến nghị một số hình thức đào tạo trên
cơ sở SV tự học [33]
- Trong ngành y tế có một vài tài liệu đề cập sơ bộ lý luận về dạy học theo môđun và thiết kế dạy học theo môđun như: “Sư phạm y học” NXB Y học - 1990;
“Học theo môđun” NXB Y học - 1992; Bệnh học đại cương - NXB Y học 1993[33]
- Người được coi là tiên phong nghiên cứu, và đã đưa ra khái niệm về môđun dạy học là Nguyễn Ngọc Quang, qua những nghiên cứu về môđun dạy học, tuy không nhiều nhưng đã đưa ra những cơ sở, giúp người đọc hình dung rõ nét, và ít nhiều có được những kỹ thuật cơ bản để có thể môđun hóa những nội dung dạy học cụ thể Từ những nghiên cứu, ý tưởng của tác giả, những năm gần đây đã có các công trình nghiên cứu, ứng dụng môđun dạy học trong giảng dạy đã được thực hiện Năm 1993 Nguyễn Ngọc Quang cùng giảng viên Đặng Thị Oanh đã đề xuất biện pháp vận dụng tiếp cận môđun vào việc đào tạo SV trường ĐHSP Hà Nội Đó là nghiên cứu tình huống mô phỏng hành vi, biên soạn theo tiếp cận môđun rèn luyện kỹ năng dạy học
cho SV[44],[48]
- Năm 1993, Nguyễn Minh Đường chủ biên cho ra cuốn “Môđun kỹ năng hành nghề - phương pháp tiếp cận và biên soạn” Đây là cuốn sách đầy đủ nhất về đào tạo nghề theo môđun, từ quan niệm đến cách thức biên soạn, đã cung cấp cho người đọc một cách có hệ thống về lý luận đào tạo nghề theo môđun Thành công nhất của công trình chính ở chỗ: lần đầu tiên các quan niệm của ILO đã được thể hiện qua các giải pháp xây dựng cấu trúc chương trình trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Tuy nhiên, do cuốn sách được biên soạn nhằm giúp cho đối tượng người học tiếp cận ngay chương trình có cấu trúc môđun nên phần quan niệm và cơ sở lý luận về cấu trúc chưa được các tác giả trình bày cặn kẽ [17]
- Năm 1995, tác giả Đỗ Huân bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học
sư phạm - Tâm lý “Tiếp cận môđun trong xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo nghề” Đây là luận án đầu tiên chọn vấn đề nghiên cứu về đào tạo nghề theo môđun, tác giả đã xây dựng một lý luận về tiếp cận môđun trong xây dựng chương trình đào tạo nghề trong điều kiện Việt Nam trên cơ sở triết học, tâm lý học sư phạm, lý luận dạy học hiện đại Tác giả đã chỉ ra những nội dung cơ bản của định hướng xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo môđun và đề xuất quy trình xây dựng chương trình có cấu tạo môđun trong lĩnh vực đào tạo nghề ở Việt Nam bao gồm 5 thành phần:
Trang 11xác định nhu cầu làm việc; phân tích việc làm thành các nhiệm vụ, các kỹ năng thực hiện cần thiết; xây dựng khả năng học tập của học sinh; xây dựng cấu trúc chương trình mô đun; biên soạn nội dung môđun, từ đó đi đến kết luận “vấn đề tiếp cận môđun trong xây dựng cấu trúc chương trình là vấn đề nghiên cứu có thực và cần thiết” Như vậy, dạy học theo môđun là một tiếp cận mới, mặc dù có nhiều triển vọng, song chưa
có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm trong lĩnh vực này [27]
- Cũng năm 1995, Giảng viên Nguyễn Thị Oanh tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu của mình, và đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm
- Tâm lý: “Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới cho SV khoa hóa học ĐHSP” Luận án đã nghiên cứu biên soạn nội dung dạy học theo tiếp cận môđun Theo tác giả để triển khai được một hệ thống dạy học kiểu mới “hệ tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn” thì việc biên soạn và
tổ chức dạy học phải thực hiện theo tiếp cận môđun Từ những đặc trưng cơ bản của một môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, tác giả đã tiếp cận môđun để xây dựng hệ thống kỹ năng thiết kế công nghệ bài dạy và rèn luyện kỹ năng dạy học cho
SV sư phạm hóa học Kết quả nghiên cứu thực nghiệm sư phạm cho thấy tài liệu biên soạn theo phương pháp môđun dùng cho sinh viên tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn cho phép SV phát huy các năng lực của bản thân Tuy nhiên luận án chưa đưa ra các phương hướng, nguyên tắc, quy trình biên soạn tài liệu và các hình thức sử dụng tài
liệu [44]
- Cũng theo hướng nghiên cứu này, năm 1995 Phạm Văn Lâm đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm - Tâm lý với đề tài: “Nâng cao chất lượng thực tập VLĐC ở trường ĐH kỹ thuật bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” Trong luận án tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận như: Các hệ thống dạy học; Các hình thức tổ chức dạy học ở đại học; Cộng nghệ dạy học hiện đại; Môđun dạy học; Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun Trong các hệ thống dạy học tác giả đã tổng hợp và phân tích về hệ dạy học “tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn” Còn trong các hình thức dạy học ở đại học (Bài giảng, Xêmina, ) tác giả đã quan tâm đến một hình thức mới đó là “hình thức tự học có hướng dẫn”, hình thức dạy học lấy tự học là chính, với sự hướng dẫn của GV và tài liệu Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận
về môđun, môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, phương pháp tự học có hướng theo môđun, ưu nhược điểm của phương pháp tự học có hướng dẫn theo
Trang 12môđun, nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học VLĐC nói chung và thực trạng dạy học thực tập VLĐC nói riêng, từ đó tác giả đã đưa đến nhận định ứng dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun là một giải pháp để nâng cao chất lượng thực tập VLĐC
Từ nghiên cứu cơ sở lý luận về môđun dạy học, phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun và thực tiễn dạy học thực tập VLĐC, tác giả đã thiết kế nội dung thực tập VLĐC theo môđun, thiết kế phương pháp dạy học và đưa ra những điều kiện cần thiết để dạy học thực tập VLĐC bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun Qua thực nghiệm sư phạm cho thấy: Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun có tính khả thi; SV chấp nhận và hứng thú học tập thực tập VLĐC hơn phương pháp cũ; Chất lượng thực tập VLĐC được nâng lên; Khẳng định được khả năng ứng dụng mở rộng của phương pháp dạy học này không những ở lĩnh vực thực tập VLĐC mà còn có thể ứng dụng mở rộng ở một số lĩnh vực khác
Tuy nhiên, ở nghiên cứu này tác giả đi sâu phân tích khả năng và triển vọng của việc ứng dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học học phần thí nghiệm VLĐC, còn bỏ ngỏ phần lý thuyết, bài tập VLĐC Tác giả cũng chưa đi sâu nghiên cứu về năng lực tự học, đặc điểm tự học của SV, đặc điểm hoạt động nhận thức của SV Đại học NKT, tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho SV Đại học NKT như thế nào, và chưa xây dựng bảng tiêu chí đánh giá năng lực tự học của SV, chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun [33]
Vấn đề tự học, tự học tiếp cận theo môđun, các năm gần đây cũng có một số tác giả nghiên cứu và đề cập đến như:
- Năm 2009, Dương Huy Cẩn trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học với đề tài:
“Tăng cường năng lực tự học cho SV hóa học ở trường ĐHSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” Luận án cũng đã nghiên cứu thực trạng vấn đề tự học của SV, trên cơ sở đó đã đưa ra các biện pháp tăng cường năng lực tự học cho SV Một trong những biện pháp mà tác giả sử dụng đó là “Tự học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun” Qua kết quả thực nghiệm sư phạm cho phép khẳng định việc nghiên cứu thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và tổ chức dạy học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là phù hợp, thiết thực góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học Tuy nhiên trong luận án tác giả chủ yếu đi sâu
Trang 13nghiên cứu các biện pháp nhằm tăng cường năng lực tự học cho SV sư phạm Hóa học,
mà chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun cũng như các hình thức sử dụng tài liệu sao cho hiệu quả [11]
- Năm 2010, trong đề tài luận án Tiến sĩ Giáo dục học của Nguyễn Thị Ngà với
đề tài: “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần kiến thức
cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh”[41] Tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu hệ dạy học “Tự học -
cá thể hóa - có hướng dẫn” là một hình thức dạy học hiện đại, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực tự học của học sinh, trên cơ sở đó đưa ra cơ sở lý luận để biên soạn,
tổ chức nội dung dạy học theo tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun Tác giả đã đưa ra được nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun cho đối tượng là học sinh chuyên hóa Qua thực nghiệm sư phạm cho thấy tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun đã có tác dụng rõ rệt nâng cao hứng thú học tập, lòng tự tin của học sinh vào khả năng học tập của bản thân, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng TH
cơ bản Tuy nhiên theo chúng tôi tác giả vẫn chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình chung để xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Tóm lại nghiên cứu về môđun và môđun dạy học đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau, nhưng các tác giả đều có chung một hướng khi nghiên cứu về môđun là làm rõ hơn bản chất, đặc trưng của môđun nhằm phát huy hiệu quả của môđun trong quá trình đào tạo Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có khung lý thuyết nào về tài liệu có hướng dẫn theo môđun được chấp nhận rộng rãi trong điều kiện hiện nay; chưa có công trình nghiên cứu nào về việc xây dựng các tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học cho SV đại học ngành kỹ thuật; chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ thống về phát huy năng lực tự học của
SV trong việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
1.3 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
Khi nghiên cứu, tìm hiểu về môđun các nhà khoa học đã có nhiều hướng đi và cách tiếp cận khác nhau theo các mục đích riêng của mỗi người Đặc biệt ở Việt Nam mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môđun và môđun dạy học, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ hơn khi xây dựng và sử dụng các tài liệu theo môđun trong việc bồi dưỡng năng lực tự học của SV
Trang 14Hiện nay, các trường ĐH trong cả nước đã chuyển toàn bộ từ đào tạo theo niên chế, sang đào tạo theo tín chỉ Từng trường ĐH được tự do biên soạn chương trình của riêng mình, tuy nhiên việc biên soạn tài liệu dạy học theo chương trình này mới chỉ bắt đầu, đa số tài liệu không khác gì so với hình thức đào tạo theo niên chế, ở một số học phần mà SV tự học là chủ yếu thì với các tài liệu này SV tự học rất khó khăn
Vì vậy, rất cần thiết phải có một tài liệu hướng dẫn tự học VLĐC dành cho SV Đại học NKT để góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho SV, và nâng cao chất lượng đào tạo Nhưng cho đến nay, đối với chương trình VLĐC chỉ có duy nhất một đề tài luận án của tác giả Phạm Văn Lâm viết về phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun cho phần thực tập VLĐC ở trường ĐH kỹ thuật Còn chưa có tác giả nào đề cập, biên soạn và tổ chức nội dung dạy học theo tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun với nội dung lý thuyết, bài tập VLĐC đối với SV Đại học NKT Vậy theo chúng tôi vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như sau:
- Tìm hiểu đặc điểm hoạt động nhận thức Vật lý đại cương của sinh viên đại học ngành kỹ thuật, cơ sở lý luận về phương pháp dạy học đại học theo tín chỉ để có thể khai thác, sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun vào dạy học VLĐC
- Xây dựng được bộ tiêu chí để đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành kỹ thuật
- Đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình chung xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
- Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tự học của SV Đại học nói chung và SV Đại học NKT nói riêng
- Đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu có hướng dẫn theo môđun sao cho phù hợp với điều kiện dạy học hiện nay và nhằm góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho
SV nói chung và SV Đại học NKT nói riêng
Đề tài “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần
“Điện học” VLĐC góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đại học ngành
kỹ thuật” là cấp thiết Đề tài theo hướng nghiên cứu này cần được tổ chức triển khai cho nhiều môn học ở các loại hình đào tạo, các chuyên ngành đào tạo khác nhau ở các trường CĐ và ĐH
Trang 15KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu tổng quan về vấn đề nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng, dạy học theo hướng tiếp cận môđun đã được nhiều nước có nền giáo dục phát triển quan tâm nghiên cứu, vận dụng và đã thu được kết quả tốt trong thực tiễn Các công trình nghiên cứu về môđun ở những nước này đã mở ra cho nền giáo dục hiện đại cách tiếp cận mới trong dạy học nhằm phát huy tính độc lập, sáng tạo của người học, giúp người học có hứng thú và hiệu quả học tập cao hơn
Trong dạy học ở THPT và ĐH ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu biên soạn tài liệu, tổ chức dạy học theo hướng tăng cường khả năng tự học cho
HS, SV theo hướng tiếp cận môđun và cũng thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra khi nghiên cứu tìm hiểu về môđun đòi hỏi cần phải tiếp tục làm sáng tỏ hơn trong các lý luận về mônđun, tự học theo môđun cũng như việc xây dựng và sử dụng các tài liệu có hướng dẫn theo môđun nhằm phát huy năng lực tự học cho người học
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN 2.1 Khái niệm tự học
lập của cá nhân để tự tìm lấy tri thức
- G.D.Sharma cho rằng: Một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp cá nhân lĩnh hội được những tri thức và kỹ năng khác nhau một cách thỏa đáng gọi là phương pháp
tự học [53] Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học diễn
ra dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người GV trong quá trình DH
- Khi nghiên cứu những phương hướng tổ chức hoạt động TH cho SV các trường quân sự dưới góc độ hình thức tổ chức tự học Trịnh Quang Từ cho rằng: “Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hoạt động của
chính mình, hướng tới những mục đích nhất định” [71, tr.21-22]
- Nguyễn Ngọc Bảo quan niệm: Tự học là việc người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình [5].Với quan điểm này tác giả coi tự học là một hoạt động hoàn toàn độc lập của bản thân người học, người học tự quyết định cách thức, phương pháp học mà không cần đến sự giúp đỡ, điều khiển của GV
- Lưu Xuân Mới quan niệm: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học[39]
Trang 17Theo tác giả, tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản, có tính độc lập cao và
mang đậm màu sắc cá nhân, nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học
- Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm: Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó [64], [66] Như vậy theo tác giả, tự học bao gồm nhiều thao tác, hành động tích cực, tự chủ và có ý thức cao của bản thân người học, tự học là hoạt động diễn ra ngoài giờ lên lớp và không có sự giáp mặt giữa thầy và trò
- Theo Nguyễn Đình Thước, Hà Văn Hùng cho rằng: “Tự học là một hình thức
tổ chức dạy học cơ bản nhất ở Đại hoc Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân” [63, tr.53] Ở quan điểm này các tác giả coi tự học là một hình thức tổ chức dạy học ở ĐH và đánh giá cao về tính độc lập của bản
thân người học, nhưng vẫn có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học
- Thái Duy Tuyên quan niệm: Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học [68] Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học dưới góc độ nhận thức của người học, người học hoàn toàn độc lập để có thể chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của xã hội
- Theo Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [6, tr.3] Tác giả trong quan điểm này lại coi tự học như là một biện pháp, cách thức để chiếm lĩnh tri thức
“Tự học có thể quan niệm như là một phương pháp dạy học bởi nó liên quan trực tiếp tới cách thức giảng dạy của thầy và cách thức học tập của trò Hiệu quả của hoạt động tự học phụ thuộc không nhỏ vào phương pháp dạy học của GV” [57, tr.17]
Sự khác biệt về quan niệm tự học nêu trên của các tác giả là do các góc độ nghiên cứu khác nhau về tự học Có tác giả nghiên cứu tự học là một hoạt động hoàn
Trang 18toàn độc lập, không có sự giúp đỡ của Thầy Có tác giả lại nghiên cứu sự tự học là hoạt động trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy
Các tác giả tuy có những lập luận khác nhau trong quan niệm tự học, nhưng đều
có điểm chung khi nói về tự học là: Tự học là hình thức hoạt động nhận thức độc lập, tích cực, tự giác ở mức độ cao; tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ, chân tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê của cá nhân; tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo,
đi đến một đáp số, một kết luận khác; tự học là tự mình tìm ra tri thức, tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình thông qua các hành động cụ thể và bằng vốn tri thức sẵn có, lòng ham học hỏi, ý chí quyết tâm của bản thân để đạt được mục đích
nhất định[8], [31], [53], [71]
Như vậy trong xã hội hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, học tập suốt đời là yêu cầu tồn tại của mỗi người và là cơ sở để hướng tới xây dựng một xã hội học tập Đồng thời nó cũng là chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thời đại, với bốn mục tiêu: “học để làm, học để biết, học để chung sống và học để làm người” Quan niệm
“học tập suốt đời” sẽ giúp con người đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thay đổi ngày một Điều mà “không thể thoả mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi người không học cách học” [2] Trong đó, học cách học chính là học cách TH
Tóm lại theo chúng tôi “Tự học là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân,
tự học là tự mình quyết định ý thức trách nhiệm đối với việc học, tự lựa chọn mục tiêu, nội dung, các phương pháp học, tự tổ chức, xây dựng tiến trình học tập và tự kiểm tra, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của nhân loại Tự học
có thể được hướng dẫn bởi GV, cũng có thể người học tự học trong quá trình dạy học có hướng dẫn, người học có thể tự học một cách độc lập thông qua các tư liệu(tài liệu dạng văn bản, dạng số hóa, ) Tự học là nền tảng để học tập suốt đời”
2.1.2 Quá trình tự học
Theo Thái Duy Tuyên [67], Trần Bá Hoành [23] quá trình tự học bao gồm các bước: 1 Hình thành động cơ tự học; 2 Lập kế hoạch học tập; 3 Thực hiện kế hoạch;
4 Tự kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
Từ các kết quả tự học của SV sẽ nảy sinh các động cơ tự học mới, làm khởi đầu cho hoạt động tự học tiếp theo Như vậy, quá trình tự học gồm nhiều quá trình đồng hóa và điều ứng kế tiếp nhau
Trang 19Để đúc kết kinh nghiệm trong việc học, người học đánh giá mình đã đạt được những mục tiêu đã đề ra ban đầu chưa và phương pháp thực hiện có hiệu quả không,
để qua đó họ tự điều chỉnh việc hoạch định và thực hiện kế hoạch học tập của mình, vì thế, tự học có liên quan chặt chẽ với việc học thông qua HĐ phân tích hành động Như vậy, ta có thể thấy rằng tự học sẽ phát huy năng lực độc lập học tập của người học
Hoạt động tự học có một số đặc trưng nổi bật: Tính độc lập cao; Động cơ tự học
có tính chất nội sinh; Có khả năng lựa chọn cao cả về nội dung, phương pháp, hình thức tự học; Phương pháp tự học mang tính cá nhân rất cao [64]; Trong tự học, vai trò người học được thể hiện ở việc: Tự quyết định lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các nội dung tự học; Tự lựa chọn các hình thức, phương pháp tự học; Tự lựa chọn phương thức đánh giá quá trình tự học của bản thân, để từ đó điều chỉnh tiến trình học tập với
ý thức trách nhiệm cao
Như vậy, để việc tự học đạt được mục đích, GV có các biện pháp phù hợp để
SV tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, tham gia các HĐ học tập và chủ động xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình tự học của cá nhân với ý thức trách nhiệm cao
2.1.3 Các hình thức tự học
* Căn cứ vào mức độ độc lập của người học TH có thể diễn ra dưới các hình thức tự học như sau [51]:
- Tự học độc lập không có sự hướng dẫn của thầy:
Với cách tự học này, người học hoàn toàn độc lập để hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình, mà không có sự hướng dẫn điều khiển của Thầy SV có thể tự học từ giáo trình, từ các phần mềm, các tài liệu đã có, SV tự tìm hiểu, tự nghiên cứu để tiếp cận và thu nhận kiến thức Qua tự học, SV phát triển về tư duy, về phẩm chất để chiếm lĩnh tri thức và thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của bản thân Đây là hình thức tự học ở mức độ cao, vì SV phải tự mình tổ chức toàn bộ hoạt động học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Đây là hình thức tự học ngoài tính tự chủ của
người học, còn có những tác động khách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn để việc học tập mang kết quả cao(như bài học trong các tài liệu hướng dẫn của thầy…) Người học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu để tìm kiếm, bổ sung kiến thức Ở hình thức tự học này, người học phải có tính tự giác và tính tích cực cao
Trang 20Hiệu quả của hoạt động học tập ở hình thức tự học này phụ thuộc vào vai trò tích cực, chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học, thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
- Tự học diễn ra dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy:
Đây là hình thức tự học diễn ra trực tiếp trên lớp, thông qua các bài giảng, với hình thức tự học này, SV có nhiều thuận lợi hơn so với các hình thức tự học ở trên, GV
sẽ điều khiển và hướng dẫn SV, nhằm đạt được các mục tiêu của bài học Kết quả tự học của SV phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa GV và SV Trong
đó, sự hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo của thầy đóng vai trò quan trọng, yếu tố đóng vai trò quyết định là tính tích cực, tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của SV Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là phải phát huy được tính tích cực, tính độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập của SV, hình thành phương pháp tự học cho SV, để SV có khả năng tự học và hoàn thành nhiệm vụ học tập
* Căn cứ vào không gian tiến hành tự học có các hình thức tự học như sau [56], [74], [25]:
- Tự học ở trên lớp: Là hình thức tự học mà trong đó, dưới sự hướng dẫn, tổ
chức, điều khiển của GV ở trên lớp, người học tự giác, tích cực tiến hành các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo học tập theo mục đích, mục tiêu dạy học đã đề ra Hình thức tự học ở trên lớp có nhiều điểm tương đồng với hình thức tự học có sự tổ chức, điều khiển trực tiếp của thầy
- Tự học ở nhà: Là hình thức người học tiến hành các hoạt động độc lập ở nhà,
để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu học tập đã đề ra Hình thức này đòi hỏi người học phải có tính tích cực, tự giác và phẩm chất ý chí cao độ vì lúc này, người học tiến hành học tập mà không có sự giáp mặt trực tiếp với thầy Đối với mỗi người học, học tập ở nhà là một hình thức quan trọng và diễn ra thường xuyên, đó có thể là sự chuẩn
bị trước cho tiến trình học tập trên lớp hoặc là sự tiếp nối một cách có hệ thống và sâu sắc việc học tập trên lớp với sự hướng dẫn của GV
- Tự học trong trung tâm thư viện: Đây là một địa điểm được thiết kế đặc biệt
bao gồm một lượng lớn các trang thiết bị phục vụ cho cá nhân hoặc từng nhóm nhỏ nghiên cứu những vấn đề độc lập trong quá trình học tập Hình thức này có thể hỗ trợ rất tốt cho việc tự học nhờ các trang thiết bị và tài liệu hữu ích, đa dạng
Trang 21Học ở thư viện là học với tài liệu, học không có thầy bên cạnh Hình thức học tập này đòi hỏi SV phải tự giác, tích cực huy động kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tra cứu và xử lý tài liệu để giải quyết vấn đề học tập đặt ra Học ở thư viện giúp SV hình thành thói quen và kỹ năng làm việc độc lập với sách, từ đó dần hình thành phẩm chất
và năng lực cần thiết để học tập suốt đời
- Tự học thông qua các câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa, hoạt động nhóm :
Với hình thức này, SV được gặp gỡ, tiếp xúc với bạn bè và những người có kinh nghiệm để trao đổi, giao lưu, chia sẻ những khó khăn, băn khoăn trong học tập Bên cạnh đó, mỗi SV còn hình thành cho mình kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác với bạn bè để cùng tháo gỡ khó khăn, vượt qua những thách thức trong môi trường học tập hiện đại
* Căn cứ vào các phương tiện hỗ trợ tự học có các hình thức [53]:
- Tự học với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm: Hình thức này thường
được triển khai bằng cách GV dựa trên những công cụ tin học, những phần mềm dạy học để tạo ra các bài giảng tích hợp âm thanh và hình ảnh sinh động Bài học được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Với cách này, vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và tự học được Tuy nhiên, điểm hạn chế của nó là thiếu hoặc rất ít có sự hướng dẫn của giảng viên
- Tự học qua Website: Là hình thức tự học thông qua các phương tiện điện tử,
dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Hình thức này khắc phục được hạn chế của việc tự học với sự hỗ trợ của máy tính và các phần mềm ở chỗ nó tạo ra sự tương tác tích cực giữa người học với tài liệu học tập, người học với GV và người học với người học thông qua các hình thức giao tiếp đồng bộ hoặc không đồng bộ trên mạng
Như vậy, có rất nhiều hình thức khác nhau để người học có thể tự học, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách bản thân
2.2 Năng lực tự học
2.2.1 Kỹ năng và kỹ năng tự học
* Bàn về kỹ năng có nhiều quan niệm khác nhau:
V.A.Krutetxki cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động, cái mà con người lĩnh hội được” [33, tr.78] Ở quan điểm này tác giả coi KN như một phương thức để thực hiện một hành động nào đó, tác giả mới chỉ nhấn mạnh về mặt kỹ thuật
mà chưa quan tâm đến kết quả
Trang 22J.N.Richard với định nghĩa: Kỹ năng là hành vi thể hiện hành động ra bên ngoài
và chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân[85] Ở quan điểm này, tác giả lại coi KN như một biểu hiện, một động tác thể hiện ra bên ngoài mà không
quan tâm nhiều đến mặt kỹ thuật, cũng như kết quả của nó
Đặng Thành Hưng cho rằng: “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện
tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học
- tâm lý khác của cá nhân(chủ thể có kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức
độ thành công theo chuẩn, hay quy định” [31, tr.25-27] Với quan điểm này tác giả đã chỉ ra kỹ năng là một dạng của năng lực, là hành động có ý thức, tự giác để đạt được kết quả theo những chuẩn mực
Theo Đỗ Hương Trà: “Kỹ năng là tổ hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp một cách hợp lí, nhằm đảm bảo hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất trong những điều kiện nhất định” Kỹ năng là hành động có ý thức, trong đó tiềm ẩn các biện pháp để đạt được mục đích Biểu hiện của kỹ năng: Tính đúng đắn khi thực hiện hành động; Chất lượng của các kết quả của hành động; Tốc độ thực hiện và hiệu quả của hành động; Mức độ ít mệt mỏi khi thực hiện hành động; Cách thức, phương thức tiến hành hành động Kỹ năng càng thành thạo thì tốc
độ của hành động càng nhanh, độ chuẩn xác và chất lượng của hành động càng cao, phương thức tiến hành càng đúng và càng ít mệt mỏi [69, tr.76]
Có nhiều quan niệm về kỹ năng, tuy nhiên các tác giả đều có chung một quan điểm khi nói về kỹ năng đó là: kỹ năng là những thao tác, những hành động cụ thể, tích cực của cá nhân dựa trên năng lực của bản thân để hoàn thành có kết quả công việc đã đề ra
Tóm lại theo chúng tôi: Kỹ năng là những hành động dựa trên cơ sở tri thức, ý chí tích cực của cá nhân, để vận dụng những thức kiến thức thu được nhằm thực hiện thành công một nhiệm vụ cụ thể
Quan điểm về kỹ năng tự học cũng có các ý kiến của các tác giả như: Theo Trần Thị Minh Hằng: “Kỹ năng tự học là những phương thức thể hiện hành động tự học thích hợp, tương ứng với mục đích và những điều kiện hành động, hình thành kỹ
xảo đúng trong hoạt động tự học đảm bảo cho hoạt động tự học của SV đạt kết quả”
[21, tr.47]
Trang 23Theo Ngô Quang Sơn: “Kỹ năng tự học bao gồm kỹ năng thu thập thông tin, huy động vốn tri thức đã có, sử dụng các phương pháp nhận thức và các thao thác tư duy để tự mình giải quyết được các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh được tri thức mới,
hình thành năng lực” [51, tr.62]
* Kỹ năng tự học bộc lộ ra bên ngoài là biểu hiện của nhận thức tự học và thái
độ tự học Kỹ năng tự học tùy theo trình tự công việc hay loại hình công việc bao gồm nhiều loại khác nhau
- Xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kỳ, cả khóa học
- Sử dụng có hiệu quả kỹ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin
- Lắng nghe thông tin tri thức và giải thích tài liệu cho người khác
- Phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin
- Kiểm tra và đánh giá chất lượng tri thức và kỹ năng của bản thân và bạn học
- Vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
2.2.2 Năng lực và năng lực tự học
* Năng lực
Khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách khác nhau:
F.E Weinert cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được, hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động
cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm
và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [91, tr.12] Ở quan điểm này tác giả chú
trọng tính thực hành của năng lực
Trang 24Howard Gardner khẳng định: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá, hoặc đo được”[81, tr.11] Tác giả lại đề cập đến tính định lượng của năng lực
Theo OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) cho rằng: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp, và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể ”[90] Ở quan điểm này năng lực lại được xem xét dưới khía cạnh
là nội lực bên trong, là cái vốn có để thực hiện thành công nhiệm vụ
Denys Tremblay, nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động, và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn
đề của cuộc sống” [77, tr.12] Tác giả cũng đề cập năng lực dưới góc độ là khả năng vốn có, là việc sử dụng, vận dụng tri thức để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong cuộc sống
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực Theo từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó” [45,
tr.660]
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy" [20, tr.145]
Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [58, tr.11]
Theo Nguyễn Văn Lê: “Năng lực (hay cũng có khi người ta gọi là khả năng, ví dụ: Khả năng văn nghệ, thể thao, khả năng tính nhẩm…) là một sự kết hợp linh hoạt
và độc đáo nhiều đặc điểm tâm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoàn thành hoạt
động đạt hiệu quả cao trong một lĩnh vực nào đó” [36, tr.7]
Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động, hoặc quan hệ với một đặc trưng tâm lý nhất định nào đó Theo Đặng Thành Hưng [30, tr.25-27] thì NL có cấu trúc gồm ba bộ phận cơ bản : Tri thức về lĩnh vực hoạt động, hay quan hệ đó; Kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; Những điều kiện tâm
Trang 25lý để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng trên trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng
Năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện, DH và giáo dục Việc hình thành, và phát triển các phẩm chất, nhân cách, là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực [58, tr.90]
Dưới góc độ tâm lí học, năng lực được hiểu: Năng lực là một cấu tạo tâm lí phức tạp, đó là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân, phù hợp với các yêu cầu của một hoạt động, và đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả
Dưới góc độ GD học: Năng lực là sau khi được đào tạo, một người nào đó có khả năng thực hiện những nhiệm vụ và công việc của nghề nghiệp chuyên môn Nói đến năng lực, là nói đến khả năng thực hiện thành công một hoạt động nào đó đảm bảo đúng những tiêu chuẩn, và yêu cầu đặt ra, đó chính là năng lực thực hiện Năng lực mang tính
cá nhân hoá, có thể hình thành, phát triển thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tự trải nghiệm thực tiễn [76]
Năng lực được biểu hiện ở nhiều trình độ khác nhau, nhưng thông thường người
ta phân chia một cách tương đối thành năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo Ở trình độ tái tạo, chủ thể thường chỉ tiến hành hoạt động có kết quả khi làm theo mẫu có sẵn, tức
là đã có tình huống tương tự để làm theo Khi có năng lực sáng tạo, chủ thể tiến hành hoạt động theo cách thức mới với hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, trong tái tạo có ít nhiều sáng tạo và trong sáng tạo không phải là không có những yếu tố tái tạo
Có nhiều cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất ở một số điểm:
- Năng lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động; nói đến năng lực tức là gắn với khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của một cá nhân
- Năng lực chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu mới, do đó nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ
- Năng lực có thể rèn luyện để phát triển được
- Với mỗi cá nhân khác nhau có các năng lực khác nhau
- Cấu trúc của năng lực là tổ hợp nhiều kỹ năng hoặc nhiều NL thành phần, thực hiện những hoạt động thành phần có liên hệ chặt chẽ với nhau
Trang 26*Năng lực tự học
Theo V.A Cruchetxki: “Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng, vì tự học là chìa khoá tiếp nhận tri thức với quan niệm của thời đại là học suốt đời Có năng lực tự học mới có thể tự học suốt đời được Năng lực tự học bao gồm tư duy tích cực,
độc lập, sáng tạo, năng lực hoạt động nhận thức độc lập, tự tiếp thu tri thức”[14, tr.88]
Theo Lê Hiển Dương: Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức
và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao[16]
Theo Trịnh Quốc Lập: Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình,
có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình, để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác[35]
Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng mà SV Đại học phải có, vì tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học tập suốt đời, xã hội học tập Có năng lực tự học mới có thể tự học, mới có thể học suốt đời được Vì vậy,
SV sẽ dễ dàng thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, có sự sáng tạo trong nghiên cứu khoa học để trở thành những kĩ sư có chuyên môn giỏi
2.2.3 Các năng lực thành phần của năng lực tự học
Trong các tư liệu về tự học, việc phân tích cấu trúc của NLTH chưa được đề cập chi tiết, do đó đây là vấn đề còn mang tính mở, cần được nghiên cứu Ở đây, chúng tôi xem NLTH bao gồm các năng lực thành phần sau:
Trang 272.2.3.1 Năng lực xác định mục tiêu và nhiệm vụ học tập
Năng lực xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập đòi hỏi SV phải biết quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp các hiện tượng, sự vật mà mình tìm hiểu, từ đó khái quát hóa nội dung, đề ra những nội dung kiến thức cần chiếm lĩnh trong mỗi phần học cụ thể để thực hiện nhiệm vụ học tập đã đề ra Việc thực hiện năng lực này thường xuyên giúp SV phát triển tri thức, rèn luyện các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu
Để xác định được nhiệm vụ tự học, trước tiên người học phải có năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề học tập cụ thể Đây là một trong những năng lực tiên quyết có một ý nghĩa rất quan trọng bởi lượng thông tin tri thức thì khổng lồ, nếu người học không có khả năng nhận biết, phát hiện vấn đề trọng tâm mình cần tìm hiểu thì sẽ không xác định được các nhiệm vụ và mục tiêu đúng, phù hợp với năng lực học tập của bản thân và hiệu quả của việc học sẽ không cao, SV chỉ lan man trong một khối lượng tri thức lớn
2.2.3.2 Năng lực lập kế hoạch học tập, và tiến hành học tập theo kế hoạch đã vạch ra
Có năng lực lập kế hoạch thì việc tự học, tự nghiên cứu của SV sẽ rất khoa học Lập kế hoạch học tập cụ thể, xác định đúng nội dung, SV sẽ biết được trình tự công việc cần làm, việc nào cần làm trước, việc phải làm sau, trong khoảng thời gian bao lâu thì hoàn thành công việc Trong năng lực lập kế hoạch tự học, SV phải xác định được nội dung, phương tiện, thời gian tự học, đồng thời xây dựng các biện pháp, cách thức tự học để thực hiện được nhiệm vụ học tập đề ra và phải luôn có sự điều chỉnh, bổ sung kế hoạch khi có nhiệm vụ học tập mới
Khi tiến hành việc học tập SV phải giải quyết các vấn đề học tập, SV phải có năng lực giải quyết vấn đề Theo Anderson [83] thì bản chất mọi hoạt động nhận thức đều là quá trình GQVĐ Mỗi quá trình GQVĐ đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đều có thể được chia nhỏ thành những mục tiêu thành phần GQVĐ chính là quá trình thực hiện các thao tác trí tuệ để chiếm lĩnh những mục tiêu thành phần và từ đó chiếm lĩnh mục tiêu cuối cùng Anderson nhấn mạnh vai trò của việc xác định và biểu đạt đúng vấn đề cần giải quyết.Năng lực lập kế hoạch và thực hiện việc học tập bao gồm khả năng trình bày vấn đề,
Trang 28xác định cách thức và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, cách thu thập thông tin, qua các thao tác nghe giảng, truy cập mạng Internet, đọc, ghi chép và xử lí thông tin liên quan đến vấn đề cần được giải quyết, đề xuất các giải pháp và phối hợp các phương pháp học sao cho đạt hiệu quả học tập cao nhất
2.2.3.3 Năng lực vận dụng kiến thức trong học tập và thực tiễn
Kết quả học tập của SV phải được thể hiện ở chính trong thực tiễn quá trình học tập và trong khả năng giải quyết các tình huống cụ thể Trên cơ sở đó SV có thể áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, để giải thích các hiện tượng Vật lý hoặc để học tập tốt những môn học của chuyên ngành, bằng cách đó năng lực vận dụng kiến thức của SV được vững chắc và liên tục tăng lên
2.2.3.4 Năng lực đánh giá và điều chỉnh việc học
Dạy học đề cao vai trò tự chủ động của SV, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội, kích thích, bắt buộc SV đánh giá và tự đánh giá Nhờ năng lực tự đánh giá mà SV có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, SV biết được mặt mạnh, yếu của bản thân mới có thể học tập tốt, có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học [7], [12] Như vậy rèn luyện cho SV năng lực đánh giá và tự đánh giá là giúp các em tự nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân từ đó SV
sẽ luôn nỗ lực cố gắng phát triển những mặt mạnh và khắc phục những nhược điểm yếu kém của mình từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc TH
Năng lực điều chỉnh việc học là một trong những năng lực rất quan trọng và cần thiết đối với một SV, khi có năng lực tự điều chỉnh việc học, tức là SV đã có thể tiến hành hoạt động tự học một cách thành thạo, chủ động, tự giác cao trong quá trình TH,
SV đã tự phân tích ưu, nhược điểm của bản thân, SV đã tự thu thập, tổng hợp xử lí thông tin liên quan đến môn học, tự đánh giá kết quả học tập, SV mạnh dạn và luôn tìm tòi, sáng tạo trong học tập và đã biết chủ động, tích cực tự điều chỉnh kế hoạch học tập, cải thiện phương pháp TH, nhằm nâng cao hiệu quả của TH
2.2.4 Tiêu chí đánh giá các năng lực thành phần của năng lực tự học
Sau khi xác định được các năng lực thành phần của năng lực tự học, căn cứ vào đặc điểm của SV Đại học NKT, chúng tôi thiết kế bảng tiêu chí đánh giá năng lực tự học thông qua các năng lực thành phần NLTH của SV cụ thể như sau:
Trang 29Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá năng lực tự học của SV
Kết quả đạt được Các thành tố
Xác định nhiệm vụ phù hợp với năng lực của bản thân
Phát hiện và trình bày các thắc mắc về môn học Tranh luận, phản bác, bảo vệ các ý kiến của cá nhân hoặc nhóm
Phối hợp các phương pháp học tập Hợp tác chia sẻ trong học tập
Vận dụng kiến thức lý thuyết để giải các bài tập cụ thể
Phát huy những thế mạnh của bản thân trong học tập
Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, khắc phục khó khăn trong học tập
Rút ra nhận xét về năng lực học tập của bản thân
Trang 30Như vậy, bảng tiêu chí đánh giá năng lực tự học cho SV bao gồm các tiêu chí
cụ thể cần đo để có thể đánh giá một các khách quan các thành tố của năng lực tự học cho SV, các tiêu chí này cũng là một trong những căn cứ để chúng tôi tiến hành xây dựng tài liệu có hướng dẫn theo môđun
2.3 Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
2.3.1 Khái niệm về môđun và môđun dạy học
* Khái niệm môđun được hiểu theo các nghĩa sau, tùy theo lĩnh vực nghiên cứu
- Môđun có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “modulus” với nghĩa đầu tiên là mực thước, thước đo Trong kiến trúc xây dựng La Mã nó được sử dụng như một đơn vị đo
Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của các thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt, có sự hỗ trợ và bổ sung cho nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập Môđun mở ra khả năng cho việc phát triển, hoàn thiện và sửa chữa sản phẩm Đặc điểm căn bản của môđun là: tính độc lập tương đối, tính tiêu chuẩn hoá và tính lắp
quá trình phát triển có một số quan niệm về môđun dạy học như sau[60]:
- Môđun dạy học là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các môn học lý thuyết, kỹ năng, các kiến thức liên quan để tạo ra một trình độ
- Môđun dạy học là một đơn vị học tập trọn vẹn, và có thể được thực hiện theo
cá nhân hoá, và theo một trình tự xác định trước để kết thúc môđun
Trang 31- Trong cuốn “Từ điển Bách khoa quốc tế về giáo dục” của nhóm G7 phát hành năm 1985 [71], thuật ngữ “môđun dạy học” được định nghĩa như sau: Môđun dạy học
là một đơn vị hướng dẫn học tập độc lập, và tập trung chủ yếu vào một số mục tiêu được xác định rõ ràng Nội dung của môđun bao gồm các tài liệu và hướng dẫn cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Giới hạn của một môđun chỉ có thể được xác định đối với các chỉ tiêu được nêu rõ Một môđun dạy học bao gồm các nội dung sau: Nêu rõ mục đích; Các chỉ tiêu tiên quyết; Các nội dung hướng dẫn; Kiểm tra, chuẩn đoán trước khóa học; Những người thực hiện môđun; Kiểm tra đánh giá sau khóa học; Đánh giá môđun
- Trong từ điển GDH đưa ra khái niệm: Môđun dạy học là đơn vị học tập thuộc một chương trình đào tạo, một chương trình môn học, chứa đựng cả mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học cùng với hệ thống công cụ đánh giá, điều khiển kết quả học tập, tạo thành một thể hoàn chỉnh [18]
- Trong lĩnh vực đào tạo Đại học và giáo dục thường xuyên, để nhấn mạnh tính chất hướng dẫn tự học của môđun dạy học người ta coi môđun là một tài liệu bao gồm mọi điều kiện cần thiết cho một người học để họ đạt được mục tiêu dạy học bằng cách
tự học Nhờ môđun dạy học, người học có thể tự lực vượt qua phần lớn nội dung học tập, giáo viên chỉ giúp đỡ họ khi cần thiết[82]
- Cho đến nay định nghĩa được coi là đầy đủ và cụ thể nhất là định nghĩa của L.D’Hainaut và của Nguyễn Ngọc Quang: Môđun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn
chỉnh [47], [33]
2.3.2 Đặc trưng của môđun dạy học
Ngoài một số đặc trưng của môđun trong kỹ thuật, môđun dạy học còn có một
số đặc trưng khác Môđun dạy học có các đặc trưng cơ bản sau đây [86], [33]
- Hàm chứa một tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xung quanh một chủ đề nội dung dạy học được xác định một cách tường minh
- Có một hệ thống các mục tiêu dạy học được xác định một cách xác đáng, cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi, có thể quan sát được, đo lường được Hệ thống mục tiêu này sẽ định hướng quá trình dạy học
Trang 32- Có một hệ thống những test điều khiển quá trình dạy học nhằm đảm bảo sự thống nhất hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra, đánh giá để phân hóa con đường lĩnh hội tiếp theo
- Chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội, theo những cách thức khác nhau để chiếm lĩnh cùng một nội dung dạy học, đảm bảo cho người học tiến lên theo những nhịp độ riêng để đi tới mục tiêu
- Có tính độc lập tương đối xét về nội dung dạy học Vì vậy, để học một môđun, người học phải có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ năng, thái độ Học xong một môđun, người học có khả năng ứng dụng những điều đã học được vào môi trường hoạt động
- Môđun dạy học có nhiều cấp độ: Môđun lớn, môđun thứ cấp, môđun nhỏ(tiểu môđun) Một môđun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc một vài chương
2.3.3 Chức năng của môđun dạy học
Theo [33], thì chức năng của môđun dạy học là:
- Mỗi môđun DH là phương tiện tự học hiệu nghiệm, vì nó chứa đựng với một chủ đề dạy học xác định, lại được phân chia thành từng phần nhỏ (tiểu môđun), với hệ thống mục tiêu chuyên biệt, và test đánh giá tương ứng Sau khi học xong tiểu môđun này người học tiến tới tiểu môđun tiếp theo và cứ thế mà hoàn thành được nhiệm vụ học tập
- Môđun dạy học có nhiều cấp độ Ở môđun lớn và môđun dạy học thứ cấp thường được dùng để thiết kế các chương trình dạy học Ở các môđun nhỏ là tài liệu tự học thuận tiện, có hiệu quả cho người học Khái niệm môđun dạy học ngoài ý nghĩa là một đơn vị chương trình dạy học, nó còn thể hiện đặc trưng của cách thiết kế và biên soạn tài liệu dạy học, đóng góp vào việc cải tiến phương pháp dạy học
2.3.4 Cấu trúc môđun dạy học
Theo L.D’Hainaut, một môđun dạy học gồm 3 bộ phận hợp thành: Hệ vào;
thân; hệ ra Ba bộ phận này là một chỉnh thể thống nhất [86]
Sơ đồ 2.1: Cấu trúc tổng quát của một môđun dạy học
* Hệ vào của môđun
Mang ý nghĩa giới thiệu, tạo tình huống dạy học, nêu rõ hệ thống các mục tiêu dạy học của môđun, nêu rõ điều kiện cần có để học môđun (về kiến thức Vật lý, về
Trang 33kiến thức toán học, về tài liệu tham khảo ) Tùy theo mức độ kiến thức, người học sẽ nhận được những khuyến cáo hữu ích dành cho họ
* Thân của môđun
Là bộ phận chủ yếu của môđun Nó chứa đựng đầy đủ nội dung dạy học, được trình bày theo cấu trúc rất rõ ràng, kèm theo những chỉ dẫn cần thiết về phương pháp học tập và cả phương tiện dạy học nhằm giúp người học tự chiếm lĩnh được nội dung, hình thành kỹ năng tự học
Thân môđun gồm một loạt các tiểu môđun (các đơn vị kiến thức) tương ứng với từng mục tiêu cụ thể đã xác định ở hệ vào của môđun Các tiểu môđun liên kết với nhau bởi các test trung gian và đều cần một thời gian học tập nhất định
Tiểu môđun gồm các phần:
- Bài kiểm tra kiến thức vào tiểu môđun: Bài kiểm tra này với mục đích kiểm tra kiến thức cũ có liên quan đến tiểu môđun Bài kiểm tra này yêu cầu phải đạt 80% trở lên thì người học mới được tiếp tục nghiên cứu kiến thức của tiểu môđun Nếu không đạt người học sẽ nhận được lời khuyên nên nghiên cứu lại phần kiến thức (tiểu môđun nào)
- Mục tiêu của tiểu môđun: Đây là phần cụ thể hóa nhiệm vụ học tập của một đơn vị kiến thức
- Hướng dẫn tự học: Bao gồm các câu hỏi mang tính chất định hướng học tập,
để SV trong quá trình tự học sẽ có mục tiêu trả lời các câu hỏi đó Các câu hỏi của phần này chủ yếu hỏi những kiến thức lý thuyết, được sắp xếp theo trình tự kiến thức của tiểu môđun Đồng thời có những hướng dẫn SV đọc những trang nào của tài liệu tham khảo nào, để có thể trả lời được các câu hỏi đó
- Nội dung lý thuyết cần nghiên cứu: Đây là phần hệ thống hóa toàn bộ lý thuyết của tiểu môđun, để người học có thể tiện tra cứu, tham khảo và trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn tự học
- Bài tự kiểm tra kiến thức lần 1: Bài kiểm tra này được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm, hoặc tự luận tùy vào nội dung của phần kiến thức Nhưng nên thiết kế dưới dạng trắc nghiệm để có thể bao quát được kiến thức, đồng thời cho phản hồi kết quả nhanh Với bài kiểm tra này thường có từ 10 - 15 câu, thời gian làm bài từ 10 - 15 phút, chủ yếu là các câu hỏi lý thuyết, bài tập định tính dạng cơ bản không quá khó để làm người học hoang mang, mà chủ yếu nhằm kiểm tra kiến thức vừa tự học Điểm bài kiểm tra này yêu cầu người học phải đạt được từ 80% trở lên
Trang 34- Nội dung bài tập cần nghiên cứu: Phần này sẽ giúp người học vận dụng kiến thức lý thuyết đã học Ở nội dung bài tập có các phần: Dạng bài tập và phương pháp giải; các bài tập dạng cơ bản; các bài tập dạng nâng cao; các bài tập tự luận và trắc nghiệm tự ôn tập, Vật lý và ứng dụng; phần hướng dẫn giải hoặc gợi ý các bài tập ở phần nội dung bài tập
- Bài tự kiểm tra kiến thức lần 2: Cũng tương tự như bài kiểm tra kiến thức lần
1 Tuy nhiên, số câu hỏi và độ khó tăng lên để kiểm tra được toàn bộ kiến thức của tiểu môđun như mục tiêu đã đặt ra Yêu cầu đặt ra của bài tự kiểm tra lần này người học phải đạt từ 70% trở lên mới đạt yêu cầu Nếu người học không đạt yêu cầu phải quay lại, học lại phần nội dung tự nghiên cứu, nếu đạt yêu cầu thì chuyển qua tiểu môđun tiếp theo
* Hệ ra của môđun
Hệ ra của môđun gồm một bài kiểm tra kết thúc, nhằm kiểm tra toàn bộ kiến thức môđun và một chỉ dẫn để tiếp tục học tập tùy theo kết quả tự học môđun của người học Nếu đạt tất cả mục tiêu của môđun, người học chuyển sang môđun tiếp theo Nếu có thiếu sót khi thực hiện bài kiểm tra kết thúc, thì học lại những tiểu môđun
Tóm lại, có thể hiểu môđun dạy học là một kiểu tài liệu dạy học, nhằm chuyển tải một đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt, chứa đựng cả mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá, kết quả lĩnh hội, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau
2.3.5 Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu đặc biệt, nó vừa mang đặc điểm chung như các tài liệu thông thường, nhằm mục đích cung cấp một lượng thông tin tri thức cho người đọc, bên cạnh đó tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun còn mang những đặc điểm riêng biệt Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun được biên soạn theo cấu trúc của một môđun dạy học, trong tài liệu cung cấp nội dung kiến thức có sự chọn lọc và trình bày rõ ràng những kiến thức cần thiết và nâng cao, phục vụ cho nhiệm vụ học tập ở một bài học, một phần chương trình học cụ thể, điều này giúp SV dễ dàng thu nhận được khối lượng kiến thức cần chiếm lĩnh, không bị hiện tượng lan man, ngập trong khối lượng kiến thức khổng lồ như các tài liệu thông thường, đồng thời còn xây dựng các tình huống, các vấn đề học tập, yêu cầu người học phải giải quyết, cùng hệ thống các bài test kiểm tra sau mỗi phần, nếu đạt mới tiếp tục
Trang 35học sang phần khác, chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung làm lại cho đến khi đạt được Trong tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun còn thể hiện được cả mục tiêu
SV cần phải có, và phải đạt cả về mặt kỹ năng, thái độ, giúp cho SV có một định hướng cụ thể khi nghiên cứu tài liệu
Như vậy tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là một dạng tài liệu được biên soạn theo hướng hướng dẫn hoạt động tự học cho người học, thông qua quá trình học tập, nghiên cứu tài liệu, người học tự trang bị cho mình không những tri thức, mà còn cả cách tiếp cận và con đường để chiếm lĩnh tri thức Thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun, người học biết mình cần phải học những gì, học như thế nào? cũng như tự kiểm tra kết quả việc học của bản thân Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun giúp người học chủ động, tích cực trong hoạt động học của mình, đồng thời có thể học theo nhịp độ riêng, phù hợp với năng lực và quỹ thời gian riêng, giúp rèn luyện, hình thành ngày càng vững chắc kỹ năng, năng lực tự học cũng như có thể tự
- VLĐC đối với SV Đại học NKT hiện nay đã được xây dựng chương trình có
số tiết(số tín chỉ) giảng dạy của các trường, các ngành khác nhau, có sự khác nhau Học phần VLĐC ở các trường thường được giảng dạy vào học kỳ 1 và 2 của năm học thứ nhất SV Đại học NKT, khi học VLĐC sẽ nắm vững được bản chất các hiện tượng, các quy luật vận động, các định luật, định lí đã được khoa học chứng minh SV sẽ có kiến thức sâu rộng làm cơ sở, áp dụng vào thực tiễn các chuyên ngành kỹ thuật, để có thể tiếp cận tốt nền khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại
- Đối với SV Đại học NKT thì học phần VLĐC là một trong những học phần cơ bản quan trọng Năm 1994 Trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã biên soạn chương trình VLĐC cho các Trường ĐH kỹ thuật theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Chương trình này đã được hội đồng thẩm định khối ĐH đại cương và Viện Vật lý kỹ thuật trường ĐH Bách Khoa Hà Nội thông qua Chương trình I gồm 12 đơn vị học trình (có
10 đơn vị học trình lý thuyết và 2 đơn vị học trình thực tập VLĐC) Chương trình II
gồm 8 đơn vị học trình lý thuyết và 2 đơn vị học trình thực tập VLĐC [33, tr.29]
Trang 36Học phần VLĐC đối với SV Đại học NKT kế thừa và phát triển môn Vật lý của phổ thông Sự kế thừa thể hiện trong cả nội dung và phương pháp dạy học Học phần VLĐC (cả lí thuyết, bài tập và thực hành) thường được giảng dạy trong học kỳ 1, 2, khi SV còn chưa quen với phương pháp học tập ở ĐH Kết quả dạy học này cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc dạy học học phần cơ sở ngành và chuyên ngành Cần thiết phải có sự phối hợp giữa dạy học VLĐC với các môn chuyên ngành
2.5 Mục tiêu dạy học Vật lý đại cương cho sinh viên Đại học ngành
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế
- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có năng lực sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân
Trên cơ sở mục tiêu chung của Quốc Hội đối với các trường ĐH, thì mỗi trường, nhóm trường lại đề ra những mục tiêu cụ thể đối với ngành nghề mà khối trường đào tạo
Các trường ĐH có ngành kỹ thuật hiện nay có mục tiêu chung là đào tạo những
kỹ sư tương lai, là những người có bản lĩnh chính trị, đạo đức, học vấn và sức khoẻ đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và phát triển ngành công nghiệp hiện đại của Việt Nam
SV Đại học NKT được trang bị những kiến thức cơ bản để phát triển toàn diện; có phẩm chất chính trị, đạo đức; có sức khỏe đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc và có kiến thức, năng lực thực hành nghề nghiệp; tiếp thu tri thức khoa học tiên tiến, được rèn luyện, nghiên cứu với các trang thiết bị hiện đại, được chuẩn bị kĩ năng nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia và quốc tế, sẵn sàng thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ, và mỗi một ngành nghề riêng trong trường có ngành kỹ thuật lại được định hướng bởi các mục tiêu cụ thể
Mục tiêu đào tạo SV Đại học NKT đã chi phối mạnh mẽ đến hoạt động dạy và học của GV, SV trong các nhà trường Học phần VLĐC là môn học cơ bản của SV Đại học NKT, mục tiêu dạy học VLĐC đối với SV Đại học NKT là dạy cho SV[33]:
Trang 37+/ Nắm được những hiện tượng, khái niệm, định luật, lý thuyết Vật lý cơ bản và các phương pháp nghiên cứu Vật lý ở trình độ đại học
+/ Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng của môn Vật lý để học tập các môn
kỹ thuật cơ sở của chuyên ngành và kỹ thuật chuyên ngành
+/ Rèn luyện tư duy nghiên cứu khoa học, con đường tìm kiếm chân lí mới dựa trên cách thức mà các nhà khoa học đã trải qua
+/ Tạo nền tảng vững chắc về kiến thức và kỹ năng cho SV tiếp tục học môn Vật lý với tư cách là một chuyên ngành(khoa học và công nghệ Vật lý)
2.6 Tổ chức hoạt động dạy học ở Đại học
2.6.1 Hoạt động dạy học ở Đại học
Dạy đại học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù bao gồm: mục đích và nhiệm vụ dạy học ở đại học, hoạt động của GV và SV, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, KQHT Dạy học đại học đó là quá trình tổ chức, điều khiển và tự tổ chức, tự điều khiển, trong đó người GV vừa là người thiết kế quy trình dạy học, vừa góp phần thi công Còn SV vừa thi công vừa thiết kế quy trình tự học nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học[24] Theo quan niệm
đó thì dạy tức là giúp người học (chứ không làm thay người học) biết cách chọn, nhập
và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh [56]
Học đại học là hoạt động khám phá và lĩnh hội kiến thức trong đó SV là chủ thể, kiến thức khoa học là đối tượng Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn, nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh mình,
tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành, biến đổi những tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân
Dạy học đại học là một hệ thống được liên kết bởi 3 cực: kiến thức, SV và môi trường học tập Obanya (1998) xem nó là một quá trình đem lại sự thay đổi tích cực trong người học [75] Môi trường học tập ở đây là tập hợp các nguồn nhân lực, vật lực
có thể để thực hiện quá trình dạy học Nó bao gồm nguồn con người như GV, học viên, quản trị viên, nhân viên phục vụ; nguồn cơ sở vật chất như giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, các cơ sở vật chất khác; nguồn tư liệu gồm tài liệu giảng dạy, thiết bị nghe nhìn
Bản chất của hoạt động dạy học đại học là quá trình tổ chức, điều khiển của GV giúp SV tự học, tự nhận thức, tự nghiên cứu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học ở
Trang 38đại học Trong quá trình đó, SV vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu
Dạy học ở đại học chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường xung quanh như: văn hóa, kinh tế, xã hội, nhà trường cả ở trong nước và quốc tế Để kết quả dạy học đạt chất lượng cao cần phải TCDH với nội dung, phương pháp, phương tiện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu chuẩn đầu ra, tiêu chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu các nhà tuyển dụng lao động Mặt khác cần lựa chọn đúng PPDH, KTĐG, đầu tư phương tiện phù hợp để TCDH theo hướng rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu [28]
Như vậy, hoạt động dạy học đại học là hoạt động giao tiếp đặc biệt giữa GV và
SV bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Những thành tố này được đặt trong mối quan hệ khăng khít phục vụ cho việc dạy và việc học Dưới ảnh hưởng của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, khi tác động vào dạy học chúng ta phải tác động vào chính những thành tố ở từng giai đoạn của quá trình dạy học Việc tác động này sẽ làm thay đổi tích cực người học nếu tác động đúng lúc, đúng quy luật
Thực hiện đổi mới trong đào tạo đại học, hiện nay ở các trường đại học đã chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tin chỉ, vì vậy hình thức tổ chức dạy học đại học cũng có những thay đổi cho phù hợp với hình thức đào tạo này
* Hình thức tổ chức hoạt động dạy học theo tín chỉ [28]
+/ Hoạt động dạy học theo tín chỉ là hoạt động dạy học ở các trường đào tạo đại học hay cao đẳng theo tín chỉ Trong đó, GV đóng vai trò là người tổ chức hoạt động nhận thức cho người học, định hướng mục tiêu học tập, hướng dẫn trợ giúp SV hoàn thành khối lượng học tập (tín chỉ)
Bản chất của học theo tín chỉ là cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục đại học cho số đông với triết lí là tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo Các triết lý làm nền tảng cho học theo tín chỉ là giáo dục hướng về người học, phát huy tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học và đề cao vai trò trách nhiệm của người học với KQHT của mình Do mục tiêu cá thể hóa hoạt động học tập, học chế tín chỉ có đặc điểm quan trọng nhất là làm sao cho mỗi người học có thể học theo năng lực và điều kiện riêng của mình[56] Đặc điểm này buộc người dạy phải sử dụng PPDH và tổ chức HĐDH sao cho phát huy tối đa tính chủ động của người học, giúp người học biết cách học để tự học
Theo Lê Công Triêm, hoạt động dạy học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình
thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này có hai
Trang 39hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV(GV giảng bài, hướng dẫn, SV nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của GV ), hình thức thứ ba không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV nhưng GV phải giao nội dung để SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và có kiểm tra kết quả của SV Ba hình thức dạy- học này tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lý thuyết, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học [70]
Hoạt động dạy học giờ tín chỉ lên lớp, do thời gian hạn chế GV không cần trình bày hết cho SV tất cả nội dung kiên thức mà GV đang có Điều quan trọng hơn là hướng dẫn SV con đường tiếp cận tri thức mới, hướng dẫn nguồn tài liệu và cách thức khai thác nguồn tài liệu đó, tức là hướng dẫn cho SV phương pháp tự học GV phải đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy- học, tạo cho SV thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, có kỹ năng giải quyết vấn đề, tự chủ động thời gian hoàn thành một học phần, một chương trình, điều đó khắc phục được việc học lệch, học tủ, dẫn đến quay cóp trong kiểm tra và các kỳ thi [100]
Đối với giờ thực hành, HĐDH phải được tổ chức theo nguyên tắc thỏa thuận giữa người dạy và người học để cả GV và SV đều tìm đến chân lý khoa học, chứ không phải GV dạy cho SV chân lý đã có sẵn GV cần vạch kế hoạch rõ ràng về nhiệm
vụ SV phải thực hiện, kết quả SV đạt được sau khi thí nghiệm, thực hành[22] Dựa vào
đó SV phải tự tìm ra cách tiến hành thí nghiệm, tự xử lý kết quả, viết báo cáo kết quả Trong các quá trình đó, SV có thể gặp những khó khăn cần được giải đáp, GV hướng dẫn ở mức độ vừa phải để SV tiếp tục hoàn thành
Đối với việc tự học, theo quan niệm đào tạo của tín chỉ, để tiếp thu được một tín chỉ SV ít nhất phải dành 30 giờ chuẩn bị cá nhân [4], tức là đảm bảo 1 giờ học trên lớp cần ít nhất 2 giờ cá nhân ở nhà Chính vì vậy, người học phải được tạo điều kiện để trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả với chính mình trong quá trình học tập
và với người dạy [101] Do đó, trong quá trình tự học SV phải đóng vai trò là người tự
tổ chức học tập, tự tổ chức KQHT của bản thân Để đạt kết quả tốt, SV phải tự lập kế hoạch học tập cho từng phần và cho cả quá trình học tập của mình
Theo Lâm Quang thiệp - tác giả đề án đào tạo theo học tín chỉ nhận xét: Để chuyển sang học tín chỉ, yêu cầu hàng đầu lúc này là phải đổi mới phương pháp dạy học theo 3C: GV chỉ hướng dẫn SV “cách học”, tăng cường hơn nữa quyền
“chủ động” của SV và khai thác tối đa ứng dụng “CNTT và truyền thông” vào nhà trường [56]
Trang 402.6.2 Phương pháp dạy học ở đại học
PPDH là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau Có thể nêu ra một số đặc điểm của PPDH như sau: [34, tr.18], [13, tr.27]
- PPDH định hướng thực hiện mục tiêu dạy học;
- PPDH là sự thống nhất của PP dạy và PP học;
- PPDH thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục;
- PPDH là sự thống nhất của lôgic nội dung và lôgic tâm lý nhận thức;
- PPDH có mặt bên trong và bên ngoài;
- PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học Theo chúng tôi: “PPDH là hình thức và cách thức hoạt động giữa GV và SV theo một trình tự nhất định, trong một môi trường dạy học, nhằm đạt được mục đích đã đặt ra, phát huy năng lực của người học”
Mỗi một phương pháp dạy học đều có những ưu và nhược điểm riêng phù hợp với mục tiêu, nội dung và đối tượng người học Theo [102] để lựa chọn PPDH đại học cần dựa trên các tiêu chí:
Thứ nhất: Quan niệm việc dạy cách học và học cách học để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là tiêu chí bao quát hàng đầu của việc dạy học ở đại học Mọi phương pháp dạy, phương pháp học, nội dung cần dạy, nội dung cần học đều phải xuất phát từ đó Trong chương trình đào tạo đại học nói chung phải chú trọng loại kiến thức nền tảng chứ không phải loại kiến thức về một qui trình cụ thể Vì vậy kỹ năng cơ bản là công cụ để học suốt đời chứ không phải kỹ năng sử dụng một cái máy
cụ thể, kỹ năng thao tác một qui trình cụ thể Ngoài ra, bằng cách khêu gợi sự tò mò, bằng cách tạo sự hấp dẫn của tri thức và bằng tấm gương học tập của chính bản thân mình, giảng viên cố gắng tạo nên niềm say mê học tập cho sinh viên
Thứ hai, tính chủ động của người học là tiêu chí về phẩm chất quan trọng cần tập trung phát huy khi dạy học ở đại học
Các quan điểm sư phạm như: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”; “Dạy học tương tác”, “Công nghệ dạy học”, đã được các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta bàn đến trong những năm gần đây, với mục tiêu là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập của người học
Cuối cùng, quan điểm về dạy học theo cách tiếp cận thông tin hay ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là tiêu chí về công cụ quan trọng cần triệt để khai thác trong dạy học ở đại học