Dương Thị Hồng Hiếu[6]… Các bài viết này đã cung cấp những cơ sở lý luận về phương pháp DH DTDA cũng như tiến trình thực hiện và cách đánh giá kết quả của việc học theo dự án.. Theo cục
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
SƯ PHẠM VĂN KHÓA 38
**********
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
Khóa luận tốt nghiệp ngành: Sư phạm Ngữ văn
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THỊ THANH MAI
MSSV: K38.601.073
Thành phố Hồ Chí Minh, 5 – 2015
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Dương Thị Hồng Hiếu, cô
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Nguyễn Hữu Cầu và thầy Nguyễn Mạnh Lâm đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi
để em thực nghiệm khóa luận tại trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè và gia đình đã động viên và tạo điều kiện để em thực hiện tốt khóa luận
Cuối cùng em xin kính chúc mọi người dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp
Ngày 14 tháng 5 năm 2016
Người viết
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ngày 14 tháng 5 năm 2016
Người viết
Trang 4Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu khóa luận 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Cơ sở lý luận về DH DTDA 9
1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của DH DTDA 9
1.1.2 Bản chất của hoạt động DH DTDA 11
1.1.3 Mục tiêu của DH DTDA 17
1.1.4 Vai trò của người học và người dạy trong DH DTDA 19
1.1.5 Điều kiện để có thể DH DTDA 19
1.1.6 Quy trình thiết kế hồ sơ bài dạy 21
1.1.7 Tiến trình thực hiện DH DTDA 29
1.1.8 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp DH DTDA 30
1.2 Phân môn Làm văn trong chương trình Ngữ Văn ở trường trung học 31 1.2.1 Vai trò, vị trí, đặc điểm của phân môn Làm văn trong chương trình ngữ văn 31
Trang 5học 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2:ỨNG DỤNG DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN VÀO THIẾT KẾ HỒ SƠ BÀI DẠY LÀM VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC 44
2.1 Môn Làm văn và các kiểu dự án phù hợp 44
2.1.1 Dự án theo cụm văn bản 46
2.1.2 Dự án phối hợp các cụm văn bản 61
2.2 Quy trình thiết kế hồ sơ bài dạy cụm bài văn thuyết minh học kỳ II ở lớp 1062 2.2.1 Chọn bài học thích hợp 62
2.2.2 Thiết kế hồ sơ bài dạy 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích thực nghiệm 74
3.2 Đối tượng thực nghiệm 74
3.3 Tổ chức thực nghiệm và thu thập dữ liệu 74
3.3.1 Tiến hành thực nghiệm 74
3.3.2 Thu thập dữ liệu thực nghiệm 78
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 81
3.4.1 Kết quả sản phẩm của dự án 81
3.4.2 Đánh giá kết quả của việc thực hiện dự án 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1: DỰ ÁN “CỤM VĂN THUYẾT MINH” 91
PHỤ LỤC 2: CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN 98
Trang 7Viết tắt Viết đầy đủ
DHDTDA Dạy học dựa trên dự án
Trang 8Bảng 1.1 Điều kiện cần thiết của GV trong PP DHDTDA 20
Bảng 1.2.Điều kiện cần thiết của HS trong DHDTDA 20
Bảng 1.3 Các công cụ đánh giá dự án 27
Bảng 1.4 Ưu điểm và nhược điểm của PP DHDTDA 30
Bảng 1.5.Kế hoạch giáo dục THCS 32
Bảng 1.6 Kế hoạch giáo dục THPT 33
Bảng 1.7 Các bài Làm văn trong chương trình Ngữ văn trung học 38
Bảng 2.1 Hệ thống câu hỏi nội dung 65
Bảng 3.1 Điểm kiểm tra văn thuyết minh lần 1 80
Bảng 3.2 Điểm kiểm tra văn thuyết minh lần 2 81
Bảng 3.3 Kết quả sản phẩm HS 81
Trang 9ỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Phân loại dự án 46
Sơ đồ 2.2 Mô hình dự án 1 46
Sơ đồ 2.3 Mô hình dự án 2 48
Sơ đồ 2.4 Hệ thống câu hỏi bài học 65
Sơ đồ 2.5 Các giai đoạn thực hiện dự án 68
Trang 10để đạt được hiệu quả cao nhất
Tuy nhiên, trong nhà trường hiện nay thì các phương pháp dạy học truyền thống vẫn là phổ biến Nghĩa là người thầy đóng vai trò là trung tâm trong việc truyền đạt kiến thức từ sách giáo khoa cho HS , còn HS là người thụ động tiếp thu những kiến thức ấy Trong môi trường học tập đó sự hoạt động của HS còn bị hạn chế, các em làm việc cá nhân là chính mà chưa chú ý đến sự cộng tác với những thành viên khác Thực tế cho thấy rằng, kĩ năng làm việc trong một môi trường tập thể, có sự cộng tác giữa các thành viên, mỗi người một nhiệm vụ để hướng đến mục đích chung - lĩnh hội kiến thức - là vô cùng cần thiết
Những phương pháp dạy học truyền thống chủ yếu quan tâm đến việc tích lũy kiến thức để các em vượt qua các kì thi, cũng có một số phương pháp đã đề cập đến mối tương quan giữa kiến thức sách vở và cuộc sống thực tế Tuy nhiên đa phần các phương pháp ấy chưa tạo ra một môi trường thật sự thuận lợi để hướng cho HS đến việc áp dụng những kiến thức trong sách vở vào thực tế Vô hình trung đã tạo ra sự khập khiễn giữa môi trường sách vở với môi trường thực tế và tạo nên những áp lực cho HS khi rời khỏi ghế nhà trường Các em sẽ khó khăn trong việc đưa những kiến thức đã được học trong chương trình học vào cuộc sống, bởi lẽ bất kì một kiến thức nào dù nhỏ đến đâu thì luôn luôn tồn tại sự khác biệt giữa chúng trong sách vở và chúng trong cuộc sống hằng ngày
Trang 11Theo phương pháp dạy học truyền thống thì quan trọng nhất là giúp HS tiếp nhận những nội chuẩn kiến thức trong sách giáo khoa vì thế thầy cô thường truyền đạt những kiến thức được quy định trong sách giáo khoa là chính mà ít mở rộng thêm kiến
thức bên ngoài Tuy nhiên, dưới tốc độ thay đổi đến chóng mặt của khoa học và xã hội thì sách giáo khoa chỉ có thể cập nhật kiến thức một cách tương đối cho dù có được cập nhật thay đổi hằng năm đi nữa Chính vì những mặt hạn chế này mà đòi hỏi giáo
dục phải có những phương pháp giảng dạy tích cực và hiệu quả hơn
Theo kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại cho thấy thì HS chỉ có thể nhớ được 5% nội dung kiến thức thông qua đọc tài liệu Nếu ngồi thụ động nghe thầy giảng thì nhớ được 15% Nếu quan sát có thể nhớ được 20% Kết hợp nghe và nhìn thì nhớ được 25% Thông qua thảo luận với nhau thì có thể nhớ 55% Nhưng nếu HS được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì có khả năng nhớ tới 75% Còn nếu giảng lại cho người khác thì có thể nhớ được 90% Điều này cho thấy tác dụng tích cực của việc dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Vì thế, có thể thấy phương pháp học thông qua hoạt động, hướng vào hoạt động của HS là một phương pháp hiệu quả và phù hợp Phương pháp này là con đường ngắn để cung cấp kiến thức cho HS và giúp HS vận dụng những kiến thức vào những vấn đề của cuộc sống thực tế Việc hướng vào hoạt động của HS cũng chính là khơi gợi cho các em sự tò mò khám phá kiến thức, từ đó các em sẽ thấy ý nghĩa của việc học, môn học mà duy trì ngọn lửa đam mê của mình
Một trong những phương pháp dạy học hiện nay hướng vào hoạt động của HS
và thu được hiệu quả cao là phương pháp (PP) Dạy học dựa trên dự án (DH DTDA) Phương pháp DH DTDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, đào tạo năng lực làm việc tự lực sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác của người học Phương pháp này được đặt nền tảng ở Mỹ từ đầu thế kỷ XX và được phát triển, sử dụng qua nhiều nước khác nhau Ở nước ta, DH DTDA được chú trọng nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng nhiều hơn trong những năm gần đây nhưng việc ứng dụng vào thiết kế và giảng dạy các bài, cụm bài trong chương trình Ngữ Văn, cụ thể là chương trình Làm văn ở trường trung học vẫn còn hạn chế
Trang 12Với mong muốn có thể hệ thống những hiểu biết về cơ sở lý luận – thực tiễn của
DH DTDA, qua đó đề xuất cách ứng dụng DH DTDA vào dạy học Làm văn ở trường trung học nên người viết đã chọn đề tài nghiên cứu “VẬN DỤNG DH DTDA VÀO DẠY LÀM VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC”
J Dewey và Charles Perice là hai người đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành cơ sở lý thuyết cho DH DTDA Họ đã đưa ra những lý thuyết cơ sở cho dạy học dự trên dự án và khẳng định rằng: tất cả mọi người dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua mối quan hệ với môi trường thực tế Đây chính là những viên gạch đặt nền móng cho một phương pháp dạy học tích cực, nhấn mạnh vào vai trò của người học nhằm cung cấp một cách nhanh chóng, toàn diện và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của người học
Có thể chia quá trình lịch sử nổi bật của phương pháp DH DTDA thành 4 giai đoạn:
Từ 1590 – 1765: DH DTDA được hình thành ở Ý trong các trường dạy nghề kiến trúc
Từ 1765 – 1880: Dự án đã trở thành một phương pháp dạy học phổ biến Tư tưởng dạy học này đã được kế tục tại các trường kỹ thuật mới thành lập ở Pháp, Đức
và Thụy Điển sau đó lan rộng đến ở Mỹ
Từ 1880 – 1918: Calvin M Wooward đã đưa phương pháp DH DTDA vào các trường nghề Tại các trường này sinh viên thường giới thiệu các dự án mà họ thiết kế
Trang 13Ý tưởng DH DTDA đã được chuyển dần vào đào tạo thủ công và sang giáo dục nghề nghiệp và khoa học nói chung
Từ 1918- 1965: William Kilpatric định nghĩa lại DH DTDA và đưa nó từ Mỹ quay lại châu Âu
Từ 1965 đến nay: Các nhà giáo dục khám phá lại ý tưởng về phương pháp DH DTDA và phổ biến nó trên toàn cầu Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như thực nghiệm như: Tổ chức giáo dục George Lucas đưa ra bài tóm tắt về nghiên cứu DH DTDA cùng với gian trưng bày các mẫu dự án ở dạng ấn phẩm và video Vào tháng 11 năm 2001, John W Thomas đã tiến hành khảo sát cơ sở lý luận cho nghiên cứu về DH DTDA
Ở Việt Nam, để hướng đến một nền giáo dục mới thì việc đòi hỏi cần có những phương pháp hiệu quả và tích cực hơn trở thành một nhu cầu cấp thiết Chính vì thế
mà DH DTDA nhanh chóng được nghiên cứu, phổ biến để đưa vào vận dụng trong thực tế dạy và học
Năm 2004, với sự tài trợ của công ty Intel, phương pháp DH DTDA đã được bồi dưỡng cho GV và tiến hành thí điểm qua chương trình “Dạy học hướng tới tương lai” Chương trình nhằm mục đích giúp GV sử dụng DH DTDA trên nền công nghệ máy tính để phát huy năng lực của HS và cuối cùng là dẫn dắt các em đến một phương pháp học tập hiệu quả hơn Chương trình đã tạo ra sự thay đổi tích cực trong thực tiễn dạy và học trong các trường học ở Việt Nam
Bên cạnh chương trình của Intel, DH DTDA còn xuất hiện trong chương trình
“Partner in learning” của Microsoft Chương trình Partners in Learning là một thành phần trong hệ thống các chương trình giáo dục của Microsoft, góp phần hiện thực hóa cam kết lâu dài của Microsoft nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triển trên thế giới Kết thúc giai đoạn 1 (2005 – 2009), gần 50 nghìn GV và gần 2 triệu HS Việt Nam đã được tiếp cận với các khóa đào tạo của chương trình Partners in Learning Chương trình Partners in Learning gồm ba cấu thành chính là trường học sáng tạo, GV sáng tạo và HS sáng tạo Chương trình không chỉ đào tạo mà
Trang 14còn tổ chức cả cuộc thi “GV sáng tạo” thu hút sự tham gia của khá nhiều GV trên cả nước
Ngoài ra, DH DTDA cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều GV, sinh viên tìm hiểu để vận dụng linh hoạt hiệu quả vào các môn học cụ thể ở nước ta Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến DH DTDA ở Việt Nam trong thời gian gần đây như:
D ạy học trong dự án và vận dụng trong đào tạo GV THCS môn công nghệ là luận
án của tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009) [38] Trong luận án, tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học dự án trong đào tạo kinh
tế gia đình, xây dựng cơ sở khoa học cho việc vận dụng DH DTDA trong dạy học kinh tế gia đình vào một số chủ đề cụ thể Sau đó, tác giả tiến hành thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của vấn đề nghiên cứu
V ận dụng phương pháp Dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa học phi kim chương trình hóa học Trung học phổ thông là luận án của tác giả Phạm Hồng Bắc
(2013).[43] Trong luận án, tác giả cũng trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của DH
DTDA trong dạy học Hóa học, đề xuất quy trình vận dụng DH DTDA trong học phần Hóa học phi kim THPT, quy trình đánh giá trong Dạy học dự án và xây dựng bộ công
cụ đánh giá Sau đó, tác giả cũng tiến hành thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của vấn đề nghiên cứu
Ngoài 2 luận án tiến sĩ trên thì còn nhiều luận văn thạc sĩ hay khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về phương pháp DH DTDA ở nhiều môn học khác nhau như Hóa học có luận văn của các tác giả Nguyễn Xuân Qui [42], Trần Thị Huyền Trang [49], Bùi Thị Minh Dương[3], Phạm Ngọc Thùy Dung [44],…Vật lý học có luận văn của các tác giả Nguyễn Thị Yến Nhi [40], Lại Thùy Phương [16], Nguyễn Đăng Thuấn [36],… Địa lý
có luận văn của các tác giả Ngô Thị Lệ Hằng [20], Mai Thị Chuyên [17],… Trong các luận văn này, các tác giả đều đưa ra cơ sở lý luận của DH DTDA, phân tích những điểm tích cực của phương pháp DH DTDA so với những phương pháp dạy học truyền thống Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra những định hướng cơ bản để thiết kế một dự
án cụ thể và tiến hành thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của dự án, sự cần thiết của phương pháp DH DTDA đối với các môn học Bên cạnh đó còn có các bài viết
Trang 15khoa học của các tác giả TS Trịnh Văn Biều, ThS Phan Đồng Châu Thủy, ThS Trịnh
Lê Hồng Phương [51], TS Dương Thị Hồng Hiếu[6]… Các bài viết này đã cung cấp những cơ sở lý luận về phương pháp DH DTDA cũng như tiến trình thực hiện và cách đánh giá kết quả của việc học theo dự án
Riêng đối với bộ môn Ngữ Văn thì có các luận văn như: “Vận dụng phương pháp
dạy học “dạy học dự án” trong môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông” là đề tài
luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Hương (2010) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tập trung trình bày những vấn đề cơ bản của DHTDA, khảo sát, phân tích các dạng bài học của môn Ngữ văn THPT, chỉ ra khả năng vận dụng DHTDA đối với những dạng bài học này Đồng thời, tác giả cũng xây dựng được quy trình áp dụng phương pháp DHTDA trong môn Ngữ Văn ở trường THPT mà đặc biệt
là có tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với một số đơn vị bài học cụ thể Luận văn
“T ổ chức dạy học theo dự án phần Văn học nước ngoài chương trình Ngữ văn trung học phổ thông” là luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thúy Chinh (2010) Trên cơ
sở nghiên cứu thực tế dạy học phần văn học nước ngoài hiện nay, tác giả đã chỉ ra khả năng vận dụng DHTDA đối với phần văn học nước ngoài, cụ thể trong chương trình Ngữ văn 11 Tác giả xây dựng được quy trình thực hiện và tiến hành thực nghiệm DHTDA đối với một số đơn vị bài học và cuối cùng tác giả khẳng định:“giờ học thực nghiệm bước đầu cũng được chấp nhận và được đánh giá cao, có sức thuyết phục đối với đội ngũ thầy cô giáo có kinh nghiệm giảng dạy và tâm huyết với nghề” Luận văn:
“Vận dụng dạy học dựa trên dự án trong dạy học làm văn ở trường THPT” của Nguyễn Thị Ngợi (2013) đã đi sâu nghiên cứu khả năng vận dụng, xác lập quy trình
vận dụng DHTDA vào một trong ba phân môn của chương trình Ngữ văn THPT Hơn thế, trong đó nổi bật là các tiêu chí, thang đánh giá dự án được xây dựng khá cụ thể và hợp lí Tuy nhiên, cũng như các trường hợp nghiên cứu ứng dụng DHTDA vào dạy học trước đó, tác giả chỉ dừng lại ở việc thiết kế bài dạy dự án cho riêng từng đơn vị bài học riêng lẻ tách rời phân phối chương trình nên vẫn chưa khắc phục được những hạn chế cơ bản của DHTDA
Bên cạnh đó còn có những dự án được tổ bộ môn hoặc GV bộ môn thiết kể để đem đến cho HS một môi trường học tập và một phương pháp học tập mới Có thể kể đến
Trang 16những dự án đã được một số tổ bộ môn, GV bộ môn giảng dạy trong thời gian gần đây như:
Dự án Học văn để sống 1, trường THCS&THPT Đinh Thiện Lý (Quận 7,TPHCM), 2013
Dự án Học văn để sống 2, trường THCS&THPT Đinh Thiện Lý (Quận 7,TPHCM), 2014
Dự án Học văn để sống 3, trường THCS&THPT Đinh Thiện Lý (Quận 7,TPHCM), 2015
Dự án Những con số biết nói, trường THCS&THPT Đinh Thiện Lý (Quận 7,TPHCM), 2015
Dự án Cuộc sống qua ống kính phóng viên, trường THCS&THPT Đinh Thiện Lý (Quận 7,TPHCM), 2014
Dự án Văn học dân gian trong tâm thức người Việt, trường THPT Phú Nhuận (Quận Gò Vấp, TPHCM), 2014
Dự án Ô nhiễm môi trường, trường THPT Trần Khai Nguyên (Quận 5, TPHCM),
Dự án Xuân Quỳnh trường THPT Trần Đại Nghĩa ( Quận 1, TPHCM), 2014
Dự án Quang Dũng trường THPT Trần Đại Nghĩa ( Quận 1, TPHCM), 2014
Dự án Học văn từ cuộc sống với chủ đề Sài Gòn - Những góc nhìn trẻ trường THPT Bùi Thị Xuân (Quận 1, TPHCM), 2014
Dự án Nguyễn Minh Châu trường THPT Trần Đại Nghĩa (Quận 1, TPHCM), 2014
Trang 17Các dự án trên đã góp phần đưa phương pháp DH DTDA đến gần hơn với bộ môn Ngữ văn Các dự án đã tạo ra một không khí mới trong giờ học Văn, đưa những kiến thức trong sách giáo khoa đến gần hơn với thực tế cuộc sống Từ đó, thu hút sự chú ý
của học sinh, nâng cao thái độ học tập đối với môn học và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống
Nh ận xét chung:
Qua các nghiên cứu trên ta thấy được khá đã có khá nhiều nghiên cứu có đề cập đến cơ sở lý luận của DH DTDA, những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng DH DTDA và khẳng định tính khả thi của hình thức dạy học này ở Việt Nam
Trên thực tế, phương pháp DH DTDA đã ngày càng được áp dụng nhiều hơn trong quá trình dạy và học trong các trường Tiểu học, Trung học ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các bộ môn khác việc vận dụng phương pháp DH DTDA đối với môn Ngữ Văn vẫn còn khá ít và chỉ mới xuất hiện gần đây trong các chương trình dạy thử nghiệm ở một số trường THPT và cũng chưa có công trình nghiên cứu lý thuyết cụ thể nào Vì thế, nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp DH DTDA đối với bộ môn Ngữ Văn,
cụ thể là phân môn Làm văn là một nhu cầu thật sự cần thiết
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: DH DTDA trong dạy Làm văn ở trường trung học
- Th ời gian nghiên cứu: 10/2015 – 4/2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trang 18- Đọc và nghiên cứu tài liệu: người viết đã đọc, nghiên cứu các tài liệu tham
khảo có liên quan về PP DH DTDA để có được những kiến thức cơ bản về cơ
sở lý luận của PP dạy học này
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp thực nghiệm: người viết đã tiến hành thiết kế dự án cụ thể trong
chương trình Làm văn và giảng dạy tại trường phổ thông Dựa trên kết quả thu được để khẳng định tính khả thi của PP DH DTDA đối với phân môn Làm văn
ở trường trung học
6 K ết cấu khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Ứng dụng Dạy học dựa trên dự án vào thiết kế hồ sơ bài dạy Làm văn ở trường trung học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận về DH DTDA
1.1.1 Khái ni ệm, nguồn gốc của DH DTDA
Cụm từ “Dạy học dự án” trong nguyên bản tiếng Anh là “project based learning” (viết tắ là PBL); còn được gọi bằng nhiều cách khác nhau như: “DH
DTDA”, “học theo dự án”, “dạy học theo dự án”, … Phương pháp DH DTDA có
nguồn gốc từ châu Âu (thế kỉ XVI, ở Ý và Pháp) Đến đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward, Richard, J.Dewey,…) đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp DH DTDA và coi đó là Phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống - xem người dạy là trung tâm Ban đầu phương pháp DH DTDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học về kỹ thuật, sau đó được dùng trong hầu hết các môn học khác Phương pháp DH DTDA đã được sử dụng phổ biến trong các trường Phổ thông và Đại học trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển Hiện nay, phương pháp DH DTDA đang nhận được sự quan tâm của nhiều cá nhân và các tổ chức giáo dục Cũng chính vì thế mà xuất hiện nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về phương pháp DH DTDA
Theo tổ chức hoạt động giáo dục Oracle (Mỹ): “DH DTDA là một phương
pháp h ọc tập mang tính xây dựng, trong đó HS tự đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra những nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể” [41]
Theo Intel (Mỹ): DH DTDA là một hình thức dạy học, trong đó HS thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn liền với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành
và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả Dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được.[4, 1.13]
Bộ giáo dục Singapore cho rằng: “Học theo dự án là hoạt động học tập nhằm
t ạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” DH DTDA là một chuỗi hoạt động dựa trên động cơ bên trong c ủa HS nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (thông qua các
Trang 20chuỗi hoạt động thực tế: Thực hiện nghiên cứu; khám phá các ý tưởng theo sở thích; tìm hiểu và xây dựng kiến thức; học liên môn; giải quyết các vấn đề; cộng tác với các thành viên trong nhóm; giao tiếp; phát triển các kĩ năng thái độ và sự đam mê) [1,125-126]
Theo cục Giáo dục Hồng Kông: Dạy học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu
sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để HS thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời.[5]
Theo tác giả Đỗ Hương Trà: Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy hoạt
động của HS là trung tâm Kiểu dạy này phát triển kiến thức kĩ năng của HS thông qua quá trình HS gi ải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng những kiến thức theo nội dung môn học – được gọi là dự án Dự án đặt HS vào vai trò tích
c ực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo Thường thì HS sẽ làm việc theo nhóm và hợp tác với chuyên gia bên ngoài
và cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của bài học
H ọc theo dự án đòi hỏi HS phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông qua cả sản phẩm lẫn phương thức thực hiện [8, 246 - 247]
Những quan điểm trên tuy có một số điểm khác nhau nhưng đều đảm bảo được những nội dung cơ bản của phương pháp DH DTDA Chúng ta có thể hiểu DH DTDA
là một phương pháp hay một hình thức dạy học, trong đó người học giữ vai trò trung tâm th ực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập Làm việc nhóm là hình thức
cơ bản của dạy học dự án, dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ, cộng tác của GV Dự án đặt HS vào vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo,… Chủ yếu HS sẽ làm việc theo nhóm và hợp tác với các chuyên gia và c ộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của bài học
Trang 211.1.2 B ản chất của hoạt động DH DTDA
HS là trung tâm c ủa DH DTDA
1.1.2.1
Phương pháp DH DTDA không giống như các phương pháp dạy học truyền thống, người dạy là trung tâm Phương pháp dạy học này chú ý đến nhu cầu, hứng thú của người học, đặt người học làm trung tâm Người học được trực tiếp tham gia chọn
đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng hứng thú của cá nhân thông qua sự hỗ
trợ của GV, các chuyên gia và quá trình hoạt động nhóm
Phương pháp này yêu cầu người học phải tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Khác với phương pháp học tập truyền thống, người học không chỉ nghe, ghi nhớ, nhắc lại mà
người học cần thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau rồi phân tích, tổng
h ợp, đánh giá và rút ra tri thức cho mình Người học không chỉ tiếp thu kiến thức về các sự kiện mà còn phải áp dụng lý thuyết vào thực tế, rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề [10]
Trong học theo dự án, các hoạt động học tập được thiết kế mang tính thiết thực liên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức, lấy người học làm trung tâm và gắn liền kiến
thức của nhà trường với những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại Xuất phát từ nội dung học, GV sẽ đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấp dẫn, kích thích người học tham gia thực hiện Dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung bài học Học theo dự án đặt người học vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyết vấn đề đòi hỏi sự tự lực cao của người học Khi người học được lựa chọn nội dung/tiểu chủ đề và tự đặt ra vấn đề cần tìm hiểu nghiên cứu, người học sẽ hoàn toàn chủ động tích cực trong việc lập kế hoạch nghiên cứu, tìm kiếm, tổng hợp, xử lý thông tin để giải quyết vấn đề được đặt ra
Những gì xảy ra bên ngoài trường học sẽ đem lại nhiều cơ hội học tập Điều này có nghĩa là cách tiếp cận theo dự án sẽ đem đến các cơ hội phát triển năng lực và những kiến thức chuyên sâu Nếu bắt đầu từ thực tế chúng ta có thể đưa cuộc sống hằng ngày vào bên trong môi trường lớp học, có thể tái hiện lại thông qua các hình thức khác nhau Cách tiếp cận này sẽ đem lại những điều mới mẻ, một khởi đầu mới
Trang 22và những cơ hội học tập độc đáo Sau một thời gian làm việc tích cực, HS thấy được kết quả công việc của mình GV có thể đánh giá được kết quả học tập của HS theo mục tiêu bài học Và sau đó HS có được cái nhìn rõ hơn về những gì mình nhận thức được
1.1.2.2 Dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn
Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy hoạt động của HS là trung tâm Kiểu dạy này phát triển kiến thức kĩ năng của HS thông qua quá trình HS giải quyết
m ột bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng những kiến thức theo nội dung môn học – được gọi là dự án [8, 247] Trong quá trình thực hiện dự án: người học tiếp thu
kiến thức, hình thành kĩ năng thông qua các hoạt động thực tiễn Vì thế, chủ đề dự án luôn phải gắn liền với những tình huống của thực tiễn xã hội, với những nghề nghiệp
cụ thể để cung cấp cho người học những kiến thức cần thiết và giúp họ hình thành những kĩ năng thiết yếu trong cuộc sống Đó cũng chính là lý do vì sao khi thực hiện một dự án người học thường phải đóng vai để hoàn thành nó Vì chỉ khi đóng vai, thâm nhập và trải nghiệm thực tế, thì người học mới chiếm lĩnh được kiến thức một cách trọn vẹn và trau dồi kĩ năng một cách tốt nhất
1.1.2.3 Hoạt động học tập phong phú và đa dạng
Khác với các phương pháp dạy học truyền thống, các hoạt động học tập thường chỉ gói gọn trong môn học hoặc tính chất liên môn còn thể hiện một cách hạn chế thì đối với phương pháp DH DTDA các hoạt động học tập đa dạng và phong phú hơn bởi nội dung của một dự án thường có sự kết hợp tri thức nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề có thực mang tính thách đố Một dự án của môn học nào, cũng phải đòi hỏi kiến thức của nhiều môn học để giải quyết Đặc điểm này giúp dự án gần với thực tế hơn vì trong cuộc sống ta cần kiến thức tổng hợp để làm việc Trong quá trình thực hiện dự án luôn có sự kết hợp giữa nghiên cứu và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng
cố, mở rộng vốn hiểu biết về lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động tích lũy kinh nghiệm thực tiễn
Học theo dự án mang các vấn đề thực tế vào môi trường lớp học, không đơn thuần chỉ là sự tập hợp của các nhân tố riêng lẻ, mà là một hệ thống các hoạt động
Trang 23được kết nối tới các lĩnh vực khác nhau của việc học Các hoạt động này được liên kết với nhau theo một cách có tính quá trình (và không chỉ mang tính logic đơn thuần) Kết quả là học theo dự án sẽ vượt qua các ranh giới của mỗi môn học đơn lẻ, động lực được tạo ra từ bên trong HS sẽ lựa chọn dự án của mình và sẽ tự phân tích, khám phá các chủ đề dự án đó vì các vấn đề thường vô cùng thú vị đối với sự tò mò của các em
Hoạt động trong học theo dự án gồm các hành động, việc xây dựng các công việc, sự sáng tạo, tham gia thảo luận, thái độ cởi mở, trao đổi thông tin… trong một
dự án học tập, các hoạt động được HS thức hiện không chỉ giới hạn trong việc đọc, nghiên cứu và viết mà các hoạt động được trải dài trong một khoảng thời gian (từ vài ngày đến vài tuần) để có thể hoàn thành quá trình cơ bản áp dụng kiến thức vào thực
tế
Bên cạnh đó, việc kiểm tra đánh giá trong DH DTDA cũng đa dạng hơn so với các phương pháp dạy học truyền thống mà kiểm tra kiến thức thuần túy và kiểm tra viết là chủ yếu DH DTDA giúp cho GV không chỉ đánh giá được các kiến thức HS tích lũy được mà còn có thể đánh giá được các kĩ năng như kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thu thập – xử lý thông tin,… hay thái độ học tập, tinh thần sáng tạo, niềm yêu thích đối với môn học và quan điểm sống của từng HS
Trong DH DTDA các phương tiện học tập đa dạng hơn, công nghệ thông tin
được tích hợp vào quá trình học tập [51] Chính việc áp dụng các phương tiện học tập
đa dạng và áp dụng công nghệ thông tin đã khơi gợi cho HS hứng thú hơn với bài học, với dự án Điều này, giúp cho việc học tập gần gũi hơn với cuộc sống thực tiễn, không những giúp HS có được kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn cập nhật được những kiến thức mới về công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển, đưa những kiến thức từ sách vở trở nên gần gũi với cuộc sống hằng ngày
1.1.2.4 Kết hợp làm việc theo nhóm và làm việc cá nhân
Trong các phương pháp dạy học truyền thống, người GV là trung tâm của giờ học, HS lắng nghe và hoàn thành các yêu cầu mà GV đặt ra Và hầu như đó là những kiến thức đã được vạch ra từ trước theo định hướng của GV Tuy nhiên, đối với những bài học có kiến thức nặng và nhiều khi mà khả năng của một cá nhân không thể tiếp thu một cách trọn vẹn thì kĩ năng làm việc nhóm là vô cùng quan trọng Trong quá
Trang 24trình dạy học, GV cũng nhận thấy ưu thế của việc hoạt động nhóm, hợp tác giữa các
cá nhân, cũng có không ít GV đã chia nhóm trong mỗi giờ học để HS có thể chiếm lĩnh được kiến thức một cách tốt nhất Tuy nhiên, vì thời lượng của một tiết học khá
hạn chế mà kiến thức thì lại nhiều nên việc hoạt động nhóm không phát huy được hết thế mạnh của mình, đa phần vẫn còn cứng nhắc, làm theo thủ tục Phương pháp dạy học theo dự án ra đời đã giải quyết được nhu cầu cấp thiết cho giáo dục vì phương pháp này đã phát huy tối đa thế mạnh của hoạt động nhóm, hợp tác giữa các nhân trong một tập thể
Các dự án thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự phân công và cộng tác giữa các thành viên bên cạnh những hoạt động tự lực của cá nhân Một dự án thành công thì trong đó phải có được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các bộ phận Điều này đòi hỏi GV trong quá trình thực hiện dự án cần phải tiến hành khảo sát chọn nhóm
và phân nhóm cho hợp lý Một nhóm dự án sẽ phải tiến hành thu thập thông tin, xử lý thông tin, đề ra những ý tưởng và hoàn thành sản phẩm, chính vì thế mà sự phân chia công việc là vô cùng quan trọng Một nhóm dự án tốt sẽ là nhóm dự án có sự phân công nhiệm vụ một cách hợp lý và thống nhất, trong đó trưởng dự án là người quan trọng, có tầm nhìn khái quát và ý tưởng tốt Các thành viên trong nhóm dự án cần được phân chia hợp lý theo khả năng để công việc được thực hiện đúng theo tiến độ
đã được đặt ra một cách hợp lý nhất
1.1.2.5 Quan tâm đến sản phẩm của hoạt động
Trong học theo dự án HS được tự chọn các chủ đề dự án Để một dự án có được mức độ khoa học cần thiết, HS phải rất nghiêm túc khi thực hiện Các em phải được giao trách nhiệm cũng như tạo cơ hội để thể hiện các sáng kiến và được tham gia vào quá tình ra quyết định lựa chọn dự án
Khi bắt đầu dự án, HS sẽ có xu hướng tìm hiểu, khám phá Nhu cầu để lựa chọn một chủ đề, câu hỏi hay vấn đề nghiên cứu tạo ra sự gợi mở Sự gợi mở này sẽ khiến hoạt động học tập trở nên khó đoán trước, vốn là một đặc trưng cơ bản của việc học theo dự án Thông qua việc tìm hiểu và khám phá, HS sẽ tiếp thu các kĩ năng nhận thức: phân tích vấn đề mới, tìm kiếm và lựa chọn thông tin, tóm tắt, báo cáo, đi đến kết luận,… và tạo ra các sản phẩm phù hợp với chủ đề đã chọn lựa Sản phẩm
Trang 25được đánh giá dựa trên tính thực tế, tính hữu ích và sự kết hợp làm việc giữa các cá nhân trong nhóm Dựa vào thời gian thực hiện dự án, chủ đề dự án, nội dung dự án mà quyết định đến số lượng, hình thức của sản phẩm Những sản phẩm đem lại nhiều lợi
ích xã hội thường được đánh giá cao Chúng có thể được công bố, giới thiệu rộng rãi
và đưa vào sử dụng trong thực tế [51]
1.1.2.6 Cấu trúc của dự án
DH DTDA có nhiều thành tố liên quan rất mật thiết với nhau như: HS , GV, phương tiện dạy học, môi trường và thời gian thực hiện dự án
Trong đó, HS : là trung tâm của DH DTDA, người học không hoạt động độc
lập mà làm việc theo nhóm, đóng vai là những người thuộc các hoạt động cần tiến hành để giải quyết vấn đề Như vậy, HS phải tự quyết định cách tiếp nhận vấn đề và các hoạt động cần tiến hành để giải quyết vấn đề Người học cần hoàn thành nhiệm vụ
v ới những sản phẩm cụ thể có ý nghĩa và giá trị nhất định đối với bản thân và xã hội.[51]
Trong DH DTDA người GV không đóng vai trò trung tâm, quyết định việc
h ọc nhưng lại là người định hướng, tổ chức, tư vấn, giám sát, giúp đỡ, tạo điều
ki ện thuận lợi cho người học thực hiện dự án Một dự án thành công đòi hỏi người
GV phải có tầm nhìn bao quát, có sự tìm tòi, nghiên cứu, đưa những kiến thức trong sách vở và kiến thức ngoài xã hội hòa quyện vào nhau Người GV phải tạo điều kiện cho người học lựa chọn và thể hiện vai trò phù hợp với nội dung chủ đề học, tạo ra một môi trường học tập, gợi lên những nghi vấn, thúc đẩy sự hiểu biết sâu hơn của
người học Đồng thời, người GV cũng phải cho phép, khuyến khích người học tự kiến
tạo kiến thức cho mình.[51]
H ọc tập theo dự án là học tập trong hành động Vì vậy HS không tiếp thu thông tin một cách thụ động mà là người tích cực giành lấy kiến thức Như vậy, mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với HS vì đó là những vấn đề có thật trong cuộc sống [51] Vì thế, trong DH DTDA thì nội dung dạy học rất quan trọng Nội dung dạy
học sẽ được HS tiếp thu trong quá trình thực hiện dự án Nội dung dạy học cần phải
theo sát chương trình học và phải có phạm vi kiến thức liên môn Khi thiết kế dự án,
c ần phải chọn những nội dung dạy học có mối liên hệ với cuộc sống ở môi trường
Trang 26ngoài lớp học, hướng tới những vấn đề của thế giới thật [51] Trong DH DTDA cần
tránh để nội dung dự án là kiến thức trong sách vở xa rời với cuộc sống thực tại Một
dự tốt là dự án mà nội dung kiến thức rộng, liên quan trực tiếp đến những vấn đề mà người học cũng như xã hội đều quan tâm Khi thực hiện dự án người học sẽ phải tự tìm tòi, học hỏi và tích lũy kiến thức cho bản thân, nếu nội dung dự án quá hẹp, bó gọn trong sách giáo thì không thể hấp dẫn người học thực hiện dự án Nếu nội dung
dự án không tiếp cận với thực tiễn thì sẽ làm cho người học cảm thấy vô ích sinh ra chán nản, không có hứng thú để làm, cũng như những sản phẩm mà dự án đó tạo ra cũng không có giá trị thực tiễn cao Nhưng nếu như nội dung của dự án quá rộng sẽ khiên cho người học bị áp lực, dự án sẽ vô tình trở thành gánh nặng không cần thiết cho người học
Hiện nay, phương pháp dạy học được GV áp dụng vào quá trình dạy học là rất
đa dạng Mỗi một phương pháp được sử dụng đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng của nó Chính vì thế mà trong một giờ học, người GV thường sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học với nhau để tạo nên hiệu quả dạy và học cao nhất Tùy vào kiến thức của mỗi bài học mà GV sử dụng phối hợp các phương pháp khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ khá giới hạn của một giờ học, người GV không thể phát huy được tối đa sự phối hợp này Một tiết học người GV chỉ có thể phối hợp 2 hoặc 3 phương pháp, điều này ít nhiều làm cho giờ học trở nên tẻ nhạt, nhàm chán, gây cảm giác nặng nề làm giảm hiệu quả của quá trình dạy và học Tuy nhiên, trong phương pháp DH DTDA, người GV có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác
nhau như : thuyết trình, đàm thoại, nghiên cứu, dạy học nêu vấn đề, làm việc theo
nhóm,… Chính sự phối hợp này đã hạn chế được nhược điểm của một số phương pháp dạy học và phát huy mặt tích cực của chúng Từ đó, quá trình dạy học đạt được hiệu quả cao nhất, người GV có thể phối hợp nhiều phương pháp khác nhau trong một dự
án, đồng thời gây được hứng thú, tự tìm tòi, học hỏi của HS trong mỗi giờ dạy
Trong DH DTDA thì phương tiện dạy học cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nội dung dự án có tính chất liên môn, sát với thực tế nên phương tiện được sử dụng trong học tập không chỉ là sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo của riêng một
bộ môn, mà còn có nguồn tham khảo từ Internet, sách, báo, phương tiện truyền thông
Trang 27đại chúng,… Ngoài ra, các sản phẩm được thực hiện trong một dự án cũng đa dạng, phong phú phát huy tối đa tính sáng tạo của HS nên phương tiện dạy học cũng cần được chú ý nâng cao, phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội Một trong những phương tiện quan trọng để đưa dự án đến thành công, tạo ra các sản phẩm hấp dẫn, thú
vị và thực tế đó chính là công nghệ thông tin HS không những tìm kiếm được những tài liệu có liên quan đến dự án trên Internet, mà còn có thể sáng tạo ra những sản phẩm liên quan trực tiếp đến công nghệ như trang web, phần mềm, thiết kế vi tính –
đồ họa, đa phương tiện,… Chính vì thế mà HS cần được tạo điều kiện sử dụng công nghệ thông tin một cách tối đa trong DH DTDA, như khi sản xuất một ấn phẩm, khi trình bày v ấn đề [51]
Bên cạnh những thành tố đã nói ở trên thì môi trường và thời gian thực hiện
dự án cũng là một thành tố quyết định đối với một dự án học tập Một dự án có thể
ch ỉ giới hạn trong phạm vi lớp học và có độ dài khoảng 1 – 2 tiết, cho đến 1 tuần hoặc nhiều hơn, hoặc cũng có thể vượt ra ngoài phạm vi lớp học và kéo dài trong suốt năm
h ọc [51] Đối với dự án được giới hạn trong phạm vi lớp học, có thời gian thực hiện
ngắn thường là những dự án có nội dung kiến thức hẹp, thường là kiến thức của 1 hoặc 2 bài học có liên quan đến nhau, có thể tiến hành ngay trong lớp, tạo ra sản phẩm bằng những hiểu biết có sẵn và sự sáng tạo của HS Còn đối với những dự án vượt qua ngoài phạm vi lớp học và kéo dài từ một tháng đến vài tháng hay có thể là cả một học kì hay cả một năm học thường là những dự án có nội dung kiến thức rộng, nhiều,
có tính chất liên môn như: một chương, một phần của một môn học, nhiều môn có chung một nội dung liên kết lại với nhau hay nội dung môn học và vấn đề lớn có tính thực tiễn cao như lòng yêu nước, hướng nghiệp, đạo đức, cách sống,…(được tổ chức như một buổi học ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp) Vì thế, tùy vào nội dung của bài học, tính chất của môn học và thời gian cho phép mà GV sẽ hình thành các ý tưởng để xây dựng một dự án phù hợp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy học và kích thích sự sáng tạo của HS
1.1.3 M ục tiêu của DH DTDA
Mục tiêu của giáo dục là hướng tới phát triển tư duy bậc cao (phân tích – tổng
h ợp, đánh giá – sáng tạo).Tuy nhiên, GV chỉ áp dụng phương pháp dạy học truyền
Trang 28thống thì khó thực hiện được Bởi dạy học truyền thống chỉ giúp tư duy của HS phát triển một cách tuần tự do kiến thức bài sau được xây dựng dựa trên nền tảng kiến thức
bài trước, nhìn chung HS chỉ dừng lại ở mức độ biết, hiểu, vận dụng chủ yếu trong
giải bài tập
Ta có thể thấy hầu như những mục tiêu cần đạt của các giáo án giảng dạy trên lớpchỉ dừng lại ở mức độ biết, hiểu và vận dụng mà chưa đạt được mục tiêu cao nhất của giáo dục Vì thế, điều quan trọng là cần phải khắc phục vấn đề này để giáo dục có thể phát triển đúng so với mục tiêu đã đề ra nhằm giúp người học có thể phát triển một cách hoàn thiện nhất Trong DH DTDA, HS phải thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp và để thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp đó, HS cần phải biết chọn lọc thông tin, phân tích – tổng hợp, vận dụng một cách sáng tạp, có tư duy phê phán, đánh giá Do đó mà khi học theo dự án, HS có nhiều cơ hội để phát triển tư duy bậc cao của mình
Mục tiêu của giáo dục còn hướng tới phát triển kĩ năng sống, các năng lực cần thiết cho HS (năng lực hợp tác, giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều hành, ra quyết định,
sử dụng công nghệ thông tin,…) DH DTDA có ưu thế trong việc hiện thực hóa mục tiêu này HS tham gia vào dự án phải biết tổ chức học tập, hợp tác với nhau, biết lắng nghe, tôn trọng nhau, tìm kiếm và chọn lọc thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin
Đối với một tiết học bình thường, HS không thể đối diện nhiều với những vấn
đề mang tính thử thách, chính vì thế mà làm giảm đi sự hứng thú, say mê đối với bài học Mục tiêu của DH DTDA đã khơi dậy sự hứng thú, say mê, tích cực, tự chủ của
HS trong học tập Dự án đưa ra những vấn đề mang tính thách thức, gắn liền với thực tiễn, không thể giải quyết bằng cách học vẹt nên dễ khơi dậy dự hứng thú, say mê của
HS Để hoàn thành một dự án cần có sự tích cực, tự chủ của HS , nhờ đó mà việc học của HS trở nên có ý nghĩa Đây cũng chính là mục tiêu mà giáo dục hướng tới, quá trình dạy học không chỉ cung cấp cho người học kiến thức mà còn phải tạo ra một không khí học tập tích cực, rèn luyện ý thức và thái độ của người học Từ đó, giúp HS
đảm bảo đầy đủ cần đạt trong quá trình dạy học đó là: kiến thức – kĩ năng – thái độ - năng lực
Trang 291.1.4 Vai trò c ủa người học và người dạy trong DH DTDA
Khác với các phương pháp dạy học truyền thống, người dạy là người truyền đạt các kiến thức còn người học tiếp nhận và ghi nhớ những kiến thức đó Trong DH DTDA người học và người dạy đều có vai trò quan trọng trong việc hoàn thành dự án Một dự án thành công là một dự án có sự sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy và trò Người
th ầy tuy không đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình học nhưng là người
lên ý tưởng thực hiện dự án, quyết định nội dung, phạm vi và thời gian thực hiện dự
án, lập ra kế hoạch chung cho toàn bộ dự án Đồng thời cũng là người tổ chức, theo dõi và hướng dẫn cho HS trong suốt quá trình của dự án, tạo sức hấp dẫn, niềm hứng thú để HS thực hiện và hoàn thành tốt sản phẩm dự án Bên cạnh đó, GV phải hướng dẫn HS chọn nhóm, đề xuất tiểu chủ đề, hình thức sản phẩm, cũng như hướng dẫn cho các em xác định mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch thực hiện cho từng sản phẩm Và
GV phải luôn là người kiểm soát tiến độ dự án, hoạt động của HS ; kiểm tra và đánh giá HS thông qua các hoạt động thực hiện dự án và chất lượng sản phẩm
Trong DH DTDA, người học đóng vai trò trung tâm, là người chủ động trong ho ạt động chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các kĩ năng, năng lực cho bản thân chính vì th ế mà hoạt động của người học cũng vô cùng đa dạng, phong phú
Hoạt động học tập của người học có thể được chia thành 2 quá trình: quá trình lý
thuy ết và quá trình thực hành Để học được các lý thuyết cơ bản của bài học, HS
vừa phải chú ý nghe những hướng dẫn của GV, vừa phải tìm hiểu thêm qua tài liệu thu thập được, hay do GV cung cấp, qua Internet Sau khi có được nền tảng kiến thức,
HS thực hiện tiếp tục quá trình còn lại bằng các hoạt động thực tiễn để tạo ra các sản phẩm phù hợp, có tính thực tiễn cao Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án, người học cũng cần phải chủ động về thời gian, không để ảnh hưởng đến các môn khác và phải chú ý đảm bảo an toàn
1.1.5 Điều kiện để có thể DH DTDA
Như đã đề cập cụ thể ở phần trước DH DTDA có nhiều thành tố liên quan rất
m ật thiết với nhau như: HS , GV, phương tiện dạy học, môi trường và thời gian
th ực hiện dự án Vì thế, để đảm bảo dự án có thể thành công thì đòi hỏi phải có sự
Trang 30phối hợp chặt chẽ giữa các thành tố này mà để đảm bảo được sự phối hợp đó thì mỗi thành tố phải đảm bảo những điều kiện nhất định
GV
Bảng 1.1 Điều kiện cần thiết của GV trong PP DHDTDA
GV có những kiến thức cơ bản về DH DTDA:
- Khái ni ệm, bản chất, đặc điểm của phương
- Các phương pháp, kỹ thuật dạy học và công
cụ bổ trợ cho phương pháp dạy học dự án
- GV ph ải có kinh nghiệm trong việc tổ chức, điều khi ển các hoạt động trong giờ học
- GV c ần biết cách sử dụng các công c ụ công nghệ thông tin: tìm kiếm thông tin trên internet, sử dụng các
ph ần mềm ứng dụng, thiết kế website, Microsoft word, Excel, powerpoint,…
- GV có k ỹ năng về làm việc hợp tác, xây dựng kế hoạch
- GV bi ết các kỹ năng giao tiếp trực tuyến qua mạng như yahoo, gmail, facebook, blog, Twitter, wordpress,…
GV phải có những kiến thức vững vàng, sâu sắc về
bộ môn giảng dạy
GV ph ải có kiến thức trên nhiều lĩnh vực, am hiểu
th ực tế trên nền tảng chuyên môn sâu
GV phải thường xuyên cập nhật thông tin từ nhiều
nguồn tài liệu liên quan đến kiến thức bài dạy
Trang 31th ức ở cấp học dưới
- HS đã được tiếp xúc hoặc
được cung cấp những kiến
th ức về DH DTDA
đối với môn học
-HS có nhu cầu khám phá những vấn đề có liên quan đến cuộc sống xung quanh, những vấn
đề mang tính cộng đồng,
xã hội
-HS có sự hứng thú với phương pháp DH DTDA
những kỹ năng làm vệc cộng tác, kỹ năng tư duy độc lập
-HS có kỹ năng CNTT nhất định như: sử dụng máy tính, biết tìm kiếm tài liệu trên internet, biết sử dụng các phần mềm soạn thảo văn bản, tính toán, làm phim ảnh,… (Đây là những
kĩ năng hỗ trợ cho quá trình thực hiện dự án, không bắt buộc học sinh phải có
Cơ sở vật chất của trường:
Phương pháp DH DTDA cần những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất và hạ tầng trường học cụ thể:
- Khuôn viên trường có diện tích đủ lớn để tổ chức các hoạt động học tập đa dạng
- Bàn gh ế, các thiết bị trong phòng học cần phải được thiết kế, sắp xếp linh hoạt
- Phòng h ọc dự án cần có: máy tính, máy chiếu, màn hình, loa, micro,…(nếu dự
án có liên quan đến CNTT)
- Có phòng đọc, phòng tư liệu với số lượng ấn phẩm đa dạng, phong phú
- Có đầy đủ văn phòng phẩm, đồ dùng học tập, đồ dùng trực quan
1.1.6 Quy trình thiết kế hồ sơ bài dạy
1.1.6.1 Chọn bài học thích hợp
Hệ thống kiến thức trong sách giáo khoa đều được sắp xếp theo từng phần, từng chương, và theo từng bài Trong mỗi bài học thì lượng kiến thức và nội dung cũng sẽ không giống nhau Vì thế, tùy theo từng bài học mà GV có thể lựa chọn xem
có nên thực hiện DH DTDA hay không Ví dụ như với các bài học có lượng kiến thức
Trang 32nhiều nhưng chủ yếu là lý thuyết và các định nghĩa thì không nên áp dụng DH DTDA
GV có thể xem xét để thiết kế dự án học tập phù hợp cho các bài học sau:
- Bài h ọc có nội dung kiến thức nhiều mà HS có thể hiểu được khi tự đọc sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo
- Bài h ọc có nội dung kiến thức gắn liền với thực tế
- Bài h ọc có nội dung mà HS có thể vận dụng các kiến thức được học vào tình hình thực tế của địa phương – nơi HS đang sinh sống
- Bài h ọc nằm trong khoảng thời gian thích hợp để HS có đủ thời gian thực hiện đề tài và báo cáo kết quả
Bước 1: Định hướng nội dung
Để có một dự án thành công thì việc định hướng cho nội dung của dự án là vô
cùng quan trọng Vì thế mà GV phải tìm hiểu về các ứng dụng của bài học vào thực tế
để tìm ra một vai trò thích hợp cho HS của mình Khi để HS vào vai, GV phải chú ý đến năng lực và nguyện vọng của HS để vai trò ấy phát huy hết khả năng của mình
GV cần tránh trường hợp HS bị bắt buộc, gượng ép hoặc vì không hiểu hết vai trò mà mình đang đóng dẫn đến kết quả của sản phẩm không được thành công như ý muốn
Trong một bài hoặc một chương, GV có thể phân ra từng phần nhỏ và với mỗi
phần đó, GV sẽ cho HS đóng những vai khác nhau để thực hiện dự án Như thế, trong một bài, GV có thể nghĩ ra nhiều vai để học trò đóng khi tìm hiểu cùng một chương với các phần nội dung được chia nhỏ ra Với cách này, GV đã giúp cho HS khai thác sâu nội dung của bài học, đồng thời tránh được sự trùng lập trong ý tưởng thực hiện sản phẩm Tuy nhiên, GV cũng có thể chọn chung cho HS một vai trò để các nhóm thực hiện dự án của cùng một chương hoặc một nội dung bài học Với cách này, GV
có thể so sánh kết quả làm việc giữa các nhóm với nhau và đánh giá một cách khách quan hơn Đồng thời, GV cũng đã tạo ra một môi trường cạnh tranh nhỏ để các nhóm thi đua lành mạnh từ đó tạo cho HS sự hứng thú với dự án làm động lực tốt để hoàn thành các sản phẩm của mình
Bước 2: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng bài dạy
Trang 33Bộ câu hỏi định hướng là những câu hỏi được GV đặt ra để định hướng cho nội dung của bài học và yêu cầu HS phải trả lời trong quá trình thực hiện dự án Bộ câu
hỏi định hướng bao gồm một câu hỏi khái quát, một hoặc hai câu hỏi bài học và các câu hỏi nội dung Chúng ta dùng bộ câu hỏi này để kích thích sự quan tâm của HS ,
gi ữ cho bài học đi đúng trọng tâm và đào sâu nhận thức [41]
Câu h ỏi khái quát:
Trong một dự án thì câu hỏi khái quát là câu hỏi mở, có phạm vi rộng, có tính liên môn Câu hỏi khái quát:
- Nh ắm đến những khái niệm lớn và lâu dài
- Có s ức thu hút và có ý nghĩa
- Kích thích s ự khám phá
- Đòi hỏi các kĩ năng tư duy bậc cao
- Có nhi ều câu trả lời
- Liên quan đến nhiều bài học hoặc nhiều lĩnh vực môn học khác nhau, do
đó thường có tính chất liên môn và giúp HS nhìn thấy mới liên hệ giữa các môn h ọc
Câu hỏi khái quát có nhiều cách trả lời hợp lý khi đứng ở các góc độ các môn
học khác nhau Nó giúp cho HS phát triển hiểu biết vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung, kích thích và thu hút sự chú ý của HS
Một số lưu ý khi viết câu hỏi khái quát là: Khi xây dựng câu hỏi khái quát
trước hết hãy viết câu hỏi theo ngôn ngữ của người lớn để bao hàm những kiến thức thi ết yếu, sau đó viết lại theo ngôn ngữ của HS , đừng bận tâm vào câu chữ, chỉ nên tập trung vào suy nghĩ; tránh xa các câu hỏi định nghĩa hoặc kiến thức về một quá
trình đơn giản [41]
Câu h ỏi bài học
Câu hỏi bài học là các câu hỏi mở nhưng có phạm vi hẹp hơn câu hỏi khái quát Một câu hỏi bài học thường có những đặc điểm sau:
- Liên h ệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể
Trang 34- D ựa trên các mục tiêu học tập
- Đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao
- Giúp HS t ự xây dựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin
mà chính các em thu thập được
- Đây cũng là những câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chương hoặc một bài học cụ thể, đưa ra tình huống có vấn đề nhằm hỗ trợ câu hỏi khái quát
S ự khác biệt giữa câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học không quá rõ ràng, ngược lại chúng như một thể thống nhất Điểm mấu chốt không phải là để ngụy biện
về việc cho một câu hỏi, đó là câu hỏi bài học hay câu hỏi khái quát mà là để chú
tr ọng đến mục đích lớn hơn của nó, đó là: định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và
hướng dẫn khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng [41]
Câu h ỏi nội dung
Các câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng và có những đặc điểm:
- Có s ố lượng những câu trả lời đúng được xác định rõ ràng
- Thường liên quan đến các định nghĩa và yêu cầu nhớ lại thông tin (như các câu hỏi kiểm tra)
- Giúp tr ả lời các câu hỏi bài học
Các câu hỏi nội dung thường là những câu hỏi về lý thuyết, khái niệm, định nghĩa Các câu hỏi nội dung có câu trả lời rõ ràng, đúng và cụ thể GV có thể rút ra một số câu hỏi nội dung từ chuẩn kiến thức của bài học Chình vì dựa trên tiêu chuẩn
về nội dung, mục tiêu dạy học của bài học nên các câu hỏi nội dung thường dùng để kiểm tra khả năng ghi nhớ của HS , đòi hỏi các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đọc hiểu để trả lời
Câu hỏi nội dung bổ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách
nh ấn mạnh vào việc hiểu các chi tiết trong bài Các câu hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin xác thực cần phải tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí về nội dung và những mục tiêu học tập [41]
Trang 35Bước 3: Định hướng sản phẩm
Với mỗi sản phẩm của HS , GV phải xây dựng một tiêu chí và một thang điểm
để đánh giá kết quả làm việc của nhóm Các tiêu chí đánh giá được xây dựng thành nhiều phần nhỏ (phần nội dung, phần hình thức, phần làm việc nhóm, phần trình bày,…) và mỗi sản phẩm sẽ có một số điểm nhất định để quyết định kết quả cuối cùng của HS
Các ấn phẩm của HS sẽ được đánh giá 4 mức độ: giỏi, khá, trung bình, yếu Tùy theo điều kiện, thời gian và năng lực của HS mà GV sẽ linh hoạt trong việc đánh giá các sản phẩm và chủ động cho HS thực hiện các bài tập khác nhau Nhưng bắt buộc các em phải hoàn thành bài viết thể hiện kết quả dự án của mình
1.1.6.2 Thiết kế hồ sơ bài dạy
Sau khi đã tạo xong dự án, GV sẽ phải lập một bộ hồ sơ bài dạy Trong hồ sơ
bài dạy phải nêu đầy đủ những gì mà GV và HS phải hoàn thành trong quá trình thực hiện dự án Chúng ta có thể xem bộ hồ sơ bài dạy như một giáo án hoàn chỉnh của phương pháp DH DTDA mà trong đó GV thiết lập các kế hoạch các công việc đầy đủ
và chi tiết cho quá trình thực hiện dự án
Bộ hồ sơ bài dạy gồm:
• K ế hoạch thực hiện: bao gồm những dự kiến và tiến trình thời gian
thực hiện chi tiết của tất cả những hoạt động cần thiết cho dự án; dự trù kinh phí, k ế hoạch kiểm tra đánh giá; các điều kiện thực hiện (cơ sở vật chất, phương tiện, người cộng tác, người tham dự, )
Như vậy kế hoạch thực hiện là văn bản chi tiết của hồ sơ bài dạy, được
GV l ập ra trước như một hoạch định để đảm bảo dự án tiến hành thành công
• Tình hu ống xuất hiện dự án – các ý tưởng dự án
Chuẩn bị tình huống thảo luận để có thể từ đó xuất hiện các ý tưởng dự án là một giai đoạn quan trọng trong DH DTDA Bởi chỉ có những ý tưởng tốt, được thống nhất giữa GV và HS mới đủ sức lôi cuốn HS tích cực, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập với tinh thần trách nhiệm cao nhất Ý tưởng dự án có thể do GV đề xuất
Trang 36nhưng đôi khi cũng xuất phát từ sự sáng tạo của HS Nhưng dù thế nào, đi kèm với tình huống thảo luận, GV cũng phải chuẩn bị một số ý tưởng, kịch bản để HS thảo luận và lựa chọn dự án phù hợp với khả năng nhận thức, kĩ năng và điều kiện thực tế
của HS Để lựa chọn được một tình huống thảo luận có chất lượng, thu hút được sự quan tâm của đa số HS , người GV phải xuất phát từ chính những nội dung cần học, phải phù hợp với lứa tuổi và khả năng của các em
• K ế hoạch tổ chức nhóm
Hoạt động nhóm là hoạt động cơ bản của DH DTDA Nhóm được phân chia thế nào phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng dự án và phải phù hợp với nhiệm vụ đặt ra, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và phải đảm bảo nguyên tác công bằng, tạo không khí thoải mái trong nhóm Người GV phải có kế hoạch dự trù phân chia nhóm
từ trước, số lượng thành viên, số lượng nhóm, nhóm trưởng phải được cân nhắc dựa trên các yếu tố đã nói ở trên GV có thể tìm hiểu năng lực, sở thích của các em để phân nhóm cho phù hợp GV cần có sự theo dõi thường xuyên định hướng các nhóm hoạt động hiệu quả
• Các công c ụ đánh giá
Một dự án tốt là dự án phải định ra được kết quả cuối cùng ngay trong ý tưởng Điều đó có nghĩa là dự án phải được khởi đầu bằng mục đích, xác định được HS muốn biết gì, chỉ ra được cách đánh giá sự hiểu bài của HS
Phương pháp đánh giá trong môi trường lớp học truyền thống như kiểm tra miệng và kiểm tra viết có những hạn chế Phương pháp này tuy được triển khai nhanh chóng và dễ dàng nhưng chỉ cung cấp thông tin hạn chế về sự tiến bộ của người học
và tính hiệu quả của việc dạy Cách đánh giá liên tục và mở rộng kết hợp với các công
cụ đánh giá sẽ cung cấp được nhiều thông tin có ý nghĩa hơn:
- Đánh giá kiến thức có sẵn của người học
- Định nghĩa và truyền đạt mục tiêu học tập cho người học một cách rõ ràng
- Cung c ấp những phản hồi mang tính dự báo đến GV và HS
- Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của người học
- Tăng cường hiểu biết của người học về quá trình học tập
Trang 37- Khuy ến khích người học tự đánh giá và giao tiếp trong học tập
Bảng 1.3 Các công cụ đánh giá dự án
Thời điểm sử dụng Mục đích đánh giá Phương pháp và công
cụ đánh giá
Trước dự án Đánh giá nhu cầu HS ,
biết được kiến thức nền tảng, những mong muốn
c ủa các em
Giúp kết nối những kiến thức HS đã biết và
nh ững điều các em sắp được học
D ựa trên việc đặt câu hỏi và sử dụng biểu đồ K–W– L
Trong d ự án Ki ểm tra, giúp đỡ, điều
chỉnh HS đi đúng hướng, theo dõi tiến bộ Giúp các em có tinh thần trách nhiệm trong
h ọc tập, tự đánh giá công việc, kĩ năng của bản thân để hoàn thiện
Thông qua vi ệc quan sát, đặt câu hỏi và dựa trên ghi chép kế hoạch của nhóm, báo cáo tiến
độ
Cuối dự án Đưa ra chứng cứ trực
tiếp về khả năng tiếp thu
và hi ểu kiến thức của
HS Đánh giá tính tích cực, tinh th ần hợp tác của
HS Công nhận thành quả,
s ự nổ lực của HS Đánh giá quá tình thực
Đáng giá thông qua các bài kiểm tra viết
Đánh giá sản phẩm và
sự thể hiện dựa trên tiêu chí đánh giá sản phẩm
và s ự thể hiện, tiêu chí đánh giá bài thuyết trình, tiêu chí đáng giá
c ộng tác
Dựa trên phiếu thăm dò
Trang 38hi ện dự án và rút kinh nghiệm
Đánh giá thành phần: phần lớn công việc đánh giá trong dự án là đánh giá
thành phần Thay vì đánh giá kết quả, việc đánh giá thành phần cho phép cải thiện việc học tập của HS và điều chỉnh việc dạy của GV Đánh giá thành phần được tiến hành thường xuyên và được lồng ghép vào các hoạt động trong suốt dự án
Đánh giá tổng thể: việc đánh giá tổng thể được thực hiện vào cuối dự án thông
qua kết quả thực hiện sản phẩm của mỗi nhóm
Đánh giá thường xuyên: Việc đánh giá thường xuyên giúp cho GV nhận biết
được sự tiếp thu nội dung bài học của HS và khuyến khích HS thực hiện tốt các sản phẩm theo định hướng
Các phương thức đánh giá cũng như chỉ tiêu đánh giá, các công cụ đánh giá phải được đưa ra cho HS từ trước khi thực hiện dự án Bởi lẽ các tiêu chí đánh giá cũng là sự thể hiện cụ thể mục đích cần đạt được Một dự án có sự đánh giá tốt, đảm bảo công bằng và chuẩn xác sẽ tăng cường thêm trách nhiệm của học tập của HS
Kết quả đánh giá có thể từ nhiều nguồn: từ phía GV, từ phía nhóm trưởng hoặc các thành viên khác (đánh giá đồng đẳng) từ sự tự đánh giá của HS , từ sự phản hồi
của xã hội… chính nhờ sự đa dạng đó, DH DTDA mang lại cơ hội đánh giá đúng hơn
về thực chất năng lực học tập, khả năng giải quyết vấn đề của HS , đặc biệt là khả năng làm việc phối hợp và sự thích nghi với những tình huống mang tính thử thách của HS
Trong đánh giá dự án, HS cần được tham gia nhiều hơn trong quá trình đánh giá Người GV cần thiết lập trước các yêu cầu và tiêu chí đánh giá cũng như nội dung đánh giá:
- HS c ần chú trọng những kiến thức nào?
- Nh ững hoạt động chính nào cần được thực hiện?
- HS c ần phải tham gia hoạt động nhóm như thế nào là tích cực?
Trang 39- S ản phẩm của HS cần đạt những yêu cầu gì?
- Có th ể tạo những biểu mẫu đánh giá như thế nao?
• Các công c ụ trợ giúp – nguồn tư liệu tham khảo
Với sự trợ giúp của công nghệ, nhất là internet, nguồn tài liệu tham khảo trở nên phong phú đa dạng cả về nội dung và thể loại Tuy nhiên, GV phải có sự chuẩn bị trước một số tài liệu tham khảo và các công cụ trợ giúp HS
Tài liệu tham khảo có thể chia thành tài liệu in, ebook, phim, hình ảnh, website,…
Các công cụ trợ giúp là các phần mềm, các biểu mẫu về lập kế hoạch dự án, phân công nhiệm vụ, các sản phẩm mẫu, nhật kí dự án, biểu mẫu theo dõi và báo cáo
tiến độ thực hiện dự án
1.1.7 Ti ến trình thực hiện DH DTDA
Theo tác giả Đỗ Hương Trà phương pháp DH DTDA có thể chia thành 5 giai
đoạn: [8]
Giai đoạn 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề
Việc lựa chọn chủ đề dự án tùy thuộc vào hứng thú, quan tâm, kinh nghiệm của
HS GV đề xuất một số đề tài để hướng HS chọn lựa GV cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên
hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống
Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch dự án
Với sự hướng dẫn của GV, HS xây dựng kế hoạch dự án, trong đó xác định những công việc cần làm, nguồn lực cần thiết (vật liệu, kinh phí, tài liệu tham khảo, chuyên gia), thời gian dự kiến, phương pháp tiến hành, sự phân công công việc
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Các thành viên thực hiện công việc như kế hoạch Trong giai đoạn này HS thực hiện hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này
Trang 40xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kết thúc giai đoạn này nhóm phải có được sản phẩm của dự án
Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm dự án
Các nhóm giới thiệu sản phẩm dự án Các sản phẩm có thể được trình bày dưới dạng bài trình chiếu, bài thu hoạch, văn bản, áp phích hay tờ rơi,… trong nhiều dự án sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các hoạt động xã hội
Giai đoạn 5: Đánh giá
Trong dạy học tích cực nói chung và DH DTDA nói riêng, đánh giá đóng một vài trò quan trọng Không phải sản phẩm dự án mà chính quá quá trình làm việc vủa
HS mới cần được có một sự đánh giá đúng đắn, từ đó HS rút được kinh nghiệm cho mình Do đó cần có đánh giá sản phẩm và đánh giá quá trình với nhiều hình thức như:
GV đánh giá, HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng,
1.1.8 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp DH DTDA
Bất cứ một phương pháp dạy học nào khi áp dụng vào thực tiễn cũng có những
ưu điểm và nhược điểm riêng của nó Phương pháp DH DTDA cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng
B ảng 1.4 Ưu điểm và nhược điểm của PP DHDTDA
- G ắn lý thuyết với thực tiễn