M ỤC TIÊU , N Ộ I DUNG VÀ N H IỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀ I* M ục tiêu: Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các định hướng phát triển kinh tế biển và quản lý không gian khu vực quần đảo Trường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN ANH TUẤN
QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC
QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
T rần A nh T uấn
QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC
QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
C huyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Thế Tiệp
2 PGS TS Nhữ Thị Xuân
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam' đoan đđy (à công trình ntgAiên cứu của riêntg* tôi Cát-
công bè trong bô/t ấ'ỳ công trình -nào khác.
Tác giả luận án
Trần Anh Tuấn
Trang 4Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của NCVCC.TS Nguyễn T hế Tiệp và PG S.TS N hữ Thị X uân Tác giả xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo và đã có những
ý kiến đóng góp khoa học xác đáng về nội dung luận án Bên cạnh đó, luôn động viên tác giả nỗ lực hoàn thành luận án một cách tốt nhất
Trong quá trình học tập và thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và đóng góp ý kiến hết sức quý báu về nội dung luận án của các cơ quan, tổ chức, các quý thầy, cô và các nhà khoa học: Về phía Khoa Địa lý, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội là GS.TS Nguyễn Cao Huần, PGS.TS
Phạm Quang Tuấn, PGS.TS Đặng Văn Bào, PGS.TS Vũ Văn Phái, PGS.TS Nguyễn Hiệu, GS.TS Đào Đình Bắc, TS Phạm Quang Anh, PGS.TS Đinh Văn Thanh, PGS TS Đinh Thị Bảo Hoa, TS Nguyễn Thị Hà Thành, TS Nguyễn Thị Thúy Hằng,
TS Bùi Quang Thành; Về phía Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học
Quốc gia Hà Nội là GS TS Trương Quang Hải, TS Vũ Kim Chi; Về phía Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chương, TS Đ ỗ Văn
Thanh, TS Nguyễn Ngọc Á nh; Về phía Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam là GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, GS.TSKH Lê Đức An, PGS.TS Lại
Vĩnh Cẩm, PGS.TS Nguyễn Cẩm Vân, PGS.TS Lại Huy Anh, PGS.TS Nguyễn Trần Cầu, PGS TS Nguyễn Khanh Vân, PGS TS Uông Đình Khanh, Nhà cảnh quan học Nguyễn Thành Long; Về phía Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam là TS Nguyễn Quốc Thành; Về phía Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là TS Đ ỗ Huy Cường, TS Phan Đông
Pha, PGS.TS Nguyễn Như Trung; Về phía Viện Khoa học Xã hội vùng Trung Bộ,
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh; Về phía Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga là TS Nguyễn Đăng H ội; Về phía Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là TS D ư Văn Toán; Về phía
LỜI CẢM ƠN
Trang 5Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường là TS Nguyễn Hồng L â n Tác giả xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc về những ý kiến đóng góp hết sức quý báu đó
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Khoa Địa lý và các bộ môn trực thuộc, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; Ban lãnh đạo Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Phòng Viễn thám và GIS trực thuộc Viện và toàn thể cán bộ nghiên cứu trong Viện đã giúp
đỡ, tạo điều kiện về thời gian, trợ giúp tác giả về thiết bị, máy móc, dữ liệu khoa học để tác giả có thể hoàn thành tốt luận án
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, vợ, con, anh chị em trong gia đình và bạn bè, đồng nghiệp về sự trao đổi, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận án
H à Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận án
T rần A nh Tuấn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT
TẮT -iv-DANH MỤC H ÌN H
-v-DANH MỤC BẢN G
-vii-M Ở Đ Ầ U 1
1 Tính cấp thiết của đề t à i 1
2 Mục tiêu, nội dung và nhiệm vụ của đề tà i 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Những điểm mới của luận á n 4
5 Các luận điểm bảo v ệ 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
7 Cơ sở tài liệ u 5
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Cấu trúc luận á n 6
CHƯ Ơ N G 1 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PH Ư Ơ N G PH Á P N G H IÊN CỨU ĐỊA LÝ T Ự NH IÊN PHỤC VỤ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH HƯ ỚNG PH ÁT T R IỂN KHU VỰC q u ầ n đ ả o t r ư ờ n g s a 7
1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN Q U A N 7
1.1.1 Tổng quan các hướng nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển 7
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về khu vực quần đảo Trường Sa 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.2.1 Khái quát về nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển các vùng biển đảo 18
1.2.2 Tiếp cận cảnh quan biển trong nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển quần đảo Trường S a 22
1.2.3 Cơ sở khoa học cho việc quản lý và định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế khu vực quần đảo Trường Sa dựa trên đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý tự n h iên 29
Trang 71.3 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN C Ứ U 33
1.3.1 Các quan điểm nghiên c ứ u 33
1.3.2 Phương pháp nghiên cứ u 35
1.3.3 Nội dung các bước tiến hành nghiên c ứ u 40
Tiểu kết chương 1 42
CH Ư Ơ N G 2 ĐẶC Đ IỂ M CẢNH QUAN K H U V ự c QUẦN ĐẢO TR Ư Ờ N G SA 43
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO, ẢNH HƯỞNG TỚI CẢNH QUAN VÀ CÁC DẠNG TÀI N G U Y Ê N 43
2.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên vị th ế 43
2.1.2 Đặc điểm địa chất và tài nguyên liên quan 45
2.1.3 Đặc điểm địa mạo và tài nguyên địa h ìn h 52
2.1.4 Đặc điểm khí hậu, hải văn và tài nguyên liên quan 57
2.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng, sinh vật và tài nguyên liên q u a n 62
2.1.6 Hoạt động nhân sinh và các tai biến thiên n hiên 65
2.2 PHÂN LOẠI VÀ PHÂN VÙNG CẢNH QUAN KHU VỰC q u ầ n đ ả o TRƯỜNG SA 69
2.2.1 Tính đặc thù và sự phân hóa tự nhiên khu vực nghiên cứu 69
2.2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực quần đảo Trường Sa 70
2.2.3 Đặc điểm các đơn vị cảnh quan khu vực quần đảo Trường S a 73
2.2.4 Cảnh quan đảo Trường S a 81
2.2.5 Phân vùng cảnh quan quần đảo Trường S a 84
Tiểu kết chương 2 89
CH Ư Ơ N G 3 ĐÁNH G IÁ TỔ N G H Ợ P NGUỒN L ự c T ự N H IÊN VÀ TÀ I NGUYÊN, ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊN H H Ư Ớ N G QUẢN LÝ, PH Á T T R IỂ N K IN H TÉ BIỂN K H U V ự C QUẦN ĐẢO TR Ư Ờ N G S A 90
3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THUẬN LỢI c á c v ù n g c ả n h q u a n c h o MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG S A 90
3.1.1 Yêu cầu sinh thái, kỹ thuật của các loại hình phát triển 90
3.1.2 Đánh giá riêng các chỉ tiêu sinh thái, kỹ th u ậ t 95
Trang 8
-ii-3.1.3 Đánh giá tổng hợp và phân cấp mức độ thuận lợi các vùng cảnh
quan đối với các loại hình phát triển ở quần đảo Trường Sa 102
3.2 ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP k i n h t ế BIỂN VÀ QUẢN LÝ KHU VỰC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG S A 117
3.2.1 Các điều kiện thuận lợi, khó khăn đối với quản lý và phát triển kinh tế biển khu vực nghiên cứu 117
3.2.2 Định hướng phát triển tổng hợp khu vực quần đảo Trường Sa 121
3.2.3 Đề xuất các biện pháp quản lý khu vực quần đảo Trường S a 131
Tiểu kết chương 3 136
K É T LUẬN VÀ K IÉ N N G H Ị 137
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN Á N 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 1 Các bản đồ thành phần sử dụng trong đánh g iá i
PHỤ LỤC 2 Bảng kết quả đánh giá mức độ thuận lợi các vùng cảnh quan cho các mục tiêu phát triể n ix
PHỤ LỤC 3 Hình ảnh vệ tinh một số thực thể địa lý ở quần đảo Trường S a xvi
PHỤ LỤC 4 Một số hình ảnh thực địa tại quần đảo Trường S a xxvii
Trang 9AHP Analytical Hierarchy Process (Phương pháp phân tích cấp bậc do
Thomas Saaty đề xuất năm 1980)BSR Bottom Simulating Reflector (Mặt phản xạ mô phỏng đáy)
EIA Energy Information Administration (Cục Quản lý Thông tin
Năng lượng Hoa Kỳ)
EN English Nature (Cơ quan bảo tồn động vật hoang dã của Chính
phủ Anh)FAO Food and Agriculture Organization (Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc)GILGES Global Indicative List of Geological Sites (Danh sách Chỉ thị tạm
thời các Di sán Địa chất Toàn cầu)GIS Geographic Information System (Hệ thống Thông tin Địa lý)IMO International Maritime Organization (Tổ chức Hàng hải Quốc tế)JNCC Joint Nature Conservation Committee (Liên Ủy ban Bảo tồn
Thiên nhiên của Nước Anh)MCA Multi - Criteria Analysis (Phương pháp Phân tích đa Chỉ tiêu)
MPAs Marine Protected Areas (Khu Bảo tồn Biển)
MSP Marine Spatial Planning (Quy hoạch Không gian Biển)
PSSA Particularly Sensitive Sea Areas (Các vùng Biển Nhạy cảm Đặc biệt)UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)USGS United States Geological Survey (Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ)WCED World Commission on Environment and Development (Ủy ban
Thế giới về Môi trường và Phát triển)
Trang 10
-iv-DANH MỤC HÌNH
H ình 1.1 Các đới MT b i ể n 25
H ình 1.2 Quy trình đánh giá mức độ thuận lợi áp dụng cho Q Đ T S 31
H ình 1.3 Sơ đồ tóm tắt nội dung các bước nghiên cứu 41
H ình 2.1 Sơ đồ phạm vi không gian khu vực nghiên cứu 44
H ình 2.2 Cột địa tầng tổng hợp khu vực QĐ TS 46
H ình 2.3 Sơ đồ thạch học khu vực QĐTS và Tư Chính - Vũng Mây (thu nhỏ từ tỷ lệ:1:500.000) 47
H ình 2.4 Bản đồ cấu trúc kiến tạo khu vực QĐTS và Tư Chính-Vũng Mây (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:1000.000) 49
H ình 2.5 Bản đồ triển vọng dầu khí khu vực Q Đ TS 50
H ình 2.6 a) Sơ đồ phân bố các khu vực có biểu hiện thoát khí Biển Đông; b) Sơ đồ triển vọng băng cháy Biển Đ ô n g 51
H ình 2.7 Bản đồ độ sâu đáy biển khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 53
H ình 2.8 Bản đồ địa mạo đáy biển khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 54
H ình 2.9 Đảo Sinh Tồn và thềm bao quanh đ ả o 55
H ình 2.10 RSH vòng phức quy mô lớn Ba Bình - Nam Y ết 56
H ình 2.11 Các RSH vòng đơn Phan Vinh, Tốc Tan, Núi Le và Tiên N ữ 55
H ình 2.12 RSH mặt bàn đảo Trường Sa 57
H ình 2.13 Các mực địa hình đảo Song Tử T â y 57
H ình 2.14 Hoa gió trạm khí tượng Trường Sa tại các obs 1h, 7h, 13h và 19h 58
H ình 2.15 Mặt cắt nhiệt độ nước chiều thẳng đứng dọc theo kinh tuyến 1120 khu vực QĐTS vào mùa hè (trái) và mùa đông (phải) 62
H ình 2.16 Mặt cắt độ muối chiều thẳng đứng dọc theo kinh tuyến 1120 khu vực QĐTS vào mùa hè (trái) và mùa đông (phải) 62
H ình 2.17 Mật độ tàu thuyền khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương .66
H ình 2.18 Sơ đồ xu thế xói lở - bồi tụ khu vực đảo Trường S a 68
H ình 2.19 Bản đồ CQ khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 74
Trang
Trang 11H ình 2.20 Bản đồ CQ đảo Trường Sa tỷ lệ 1:5000 82
H ình 2.21 a) Ảnh vệ tinh Quickbird đảo Trường Sa ngày 13/6/2007; b) Bãi cát
di chuyển theo mùa phía ngoài bờ kè, tây nam đảo Trường S a 83
H ình 2.22 Bản đồ phân vùng CQ khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 85
H ình 3.1 Biểu đồ điểm ĐGTH cho thăm dò và khai thác TN khoáng sản 104
H ình 3.2 Bản đồ phân cấp mức độ thuận lợi các vùng CQ cho thăm dò và khai thác TN khoáng sản (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 104
H ình 3.3 Biểu đồ điểm ĐGTH cho khai thác nguồn lợi hải sản vào mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam 106
H ình 3.4 Bản đồ phân cấp mức độ thuận lợi các vùng CQ cho khai thác nguồn lợi hải sản (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 107
H ình 3.5 Biểu đồ kết quả giá tổng hợp đối với PT du lịch và PT bảo tồn b iể n 111
H ình 3.6 Bản đồ phân cấp mức độ thuận lợi các vùng CQ cho phát triển du lịch
và bảo tồn biển (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 113
H ình 3.7 Bản đồ tổng hợp kết quả đánh giá cho các mục tiêu PT khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 116
H ình 3.8 Bản đồ định hướng phát triển khu vực QĐTS (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:500.000) 122
H ình 3.9 Đảo Trường Sa: a) vị trí địa lý trong mối tương quan với các thực thể khác; b) Ảnh vệ tinh Đảo Trường S a 123
H ình 3.10 Thực thể địa lý Đá Tây: a) vị trí địa lý trong mối tương quan với các thực thể khác; b) Ảnh vệ tinh Đá T â y 124
H ình 3.11 Thực thể địa lý Đá Tốc Tan: a) vị trí địa lý trong mối tương quan với các thực thể khác; b) Ảnh vệ tinh Đá Tốc T a n 125
H ình 3.12 Đảo Song Tử Tây và Đá Nam: a) vị trí địa lý trong cụm đảo Song Tử; b) Ảnh vệ tinh Quickbird đảo Song Tử Tây ngày 28-3-2007; c) Ảnh vệ tinh Quickbird Đá Nam ngày 28-3-2007 127
H ình 3.13 Đảo Nam Yết: a) vị trí địa lý trong cụm Nam Yết; b) Ảnh vệ tinh đảo Nam Y ế t 128
H ình 3.14 Sơ đồ quy hoạch khu bảo tồn biển Nam Y ế t 133
Trang 12
-vi-B ảng 1.1 Các lợi ích của quy hoạch không gian b iể n 22
Bảng 1.2 So sánh chỉ tiêu các cấp phân vị trong hệ thống phân loại CQ tỷ lệ 1:500.000 của lục địa và biển, đảo 27
Bảng 1.3 Thang tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu theo phương pháp A H P 37
Bảng 1.4 Bảng giá trị hằng số ngẫu nhiên (R I) 38
Bảng 2.1 Số lượng loài sinh vật ở vùng nước quanh các đảo chủ y ế u 63
Bảng 2.2 Hệ thống và chỉ tiêu phân loại cảnh quan khu vực Q Đ T S 71
Bảng 2.3 Hệ thống phân vùng CQ khu vực Q Đ T S 85
Bảng 3.1 Số lượng công trình biển trên Thế giới và độ sâu làm việc tương ứng 91
Bảng 3.2 Phân bố đội tàu câu và sản lượng cá ngừ đại dương của 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa trong tháng 5/2004 tại các ngư trường và Trường S a 92
Bảng 3.3 Bảng đánh giá riêng các chỉ tiêu được lựa chọn đối với 3 loại hình PT chính ở QĐTS 101
Bảng 3.4 Ma trận so sánh các chỉ tiêu đối với thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản 103
Bảng 3.5 Ma trận tính trọng số của các chỉ tiêu đối với thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản 103
Bảng 3.6 Ma trận so sánh các chỉ tiêu đối với khai thác nguồn lợi hải sản 105
Bảng 3.7 Ma trận tính trọng số các chỉ tiêu đối với khai thác nguồn lợi hải sản 105
Bảng 3.8 Các chỉ tiêu đánh giá đối với PT du lịch và bảo tồn b iể n 108
Bảng 3.9 Chuẩn hóa các chỉ tiêu đánh giá cho định hướng PT du l ịc h 108
Bảng 3.10 Chuẩn hóa các chỉ tiêu đánh giá cho PT bảo tồn b iể n 109
Bảng 3.11 Ma trận so sánh các chỉ tiêu đối với PT du lịc h 109
Bảng 3.12 Ma trận tính trọng số của các chỉ tiêu đối với PT du lịc h 110
Bảng 3.13 Ma trận so sánh các chỉ tiêu đối với PT bảo tồn b iể n 110
Bảng 3.14 Ma trận tính trọng số của các chỉ tiêu đối với PT bảo tồn b iể n 110
Bảng 3.15 Kết quả ĐGTH đối với PT du lịc h 110
Bảng 3.16 Kết quả ĐGTH đối với PT bảo tồn b iể n 111
Bảng 3.17 Tổng hợp kết quả đánh giá theo các vùng cảnh q u an 115
DANH MỤC BẢNG
Trang
Trang 13M Ở ĐẦU
1 TÍN H CẤP T H IÉ T CỦA ĐỀ TÀI
Biển và đại dương có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội và an ninh, quốc phòng đối với mọi quốc gia có biển trên Thế giới Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã dựa vào những lợi thế về vị thế, điều kiện tự nhiên và tài nguyên biển để xây dựng chiến lược biển và tăng cường tiềm lực mọi mặt nhằm khai thác tài nguyên, không gian biển và đã đạt được trình độ phát triển rất cao Thực tế cho thấy, các đô thị lớn trên Thế giới chủ yếu tập trung ở các vùng ven đại dương và các vùng ven biển Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của dân số Thế giới, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến nhu cầu tiêu thụ và sử dụng tài nguyên biển ngày càng tăng cao Hậu quả là môi trường biển bị ô nhiễm, các dạng tài nguyên, hệ sinh thái biển bị suy thoái, một số dạng tài nguyên quý hiếm
có nguy cơ cạn kiệt và không thể phục hồi được Chính vì vậy, việc nghiên cứu cơ
sở địa lý tự nhiên để cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý, định hướng phát triển và sử dụng hợp lý không gian biển ngày càng trở nên cấp thiết đối với mỗi quốc gia có biển và cả cộng đồng quốc tế
Việt Nam là một quốc gia ven biển có vùng biển chiếm phần lớn diện tích Biển Đông bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Các vùng biển của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước đều gắn liền với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải, công nghiệp tàu thuỷ Trong Biển Đông, các đảo và quần đảo có vị thế quan trọng cả về
tự nhiên, kinh tế và chính trị, trong đó, quần đảo Trường Sa án ngữ tại khu vực biển trọng yếu ở xa bờ, là căn cứ an ninh, quốc phòng vững chắc trong phòng thủ chiến lược, chống lại sự xâm nhập của các thế lực từ bên ngoài Vị thế chiến lược của quần đảo này còn được sử dụng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại trên Biển Đông, mở rộng giao thương hàng hóa nội địa và quốc tế, xây dựng các cảng neo đậu, cảng cá, các khu dịch vụ hậu cần nghề cá làm cơ sở giúp ngư dân vươn khơi, bám biển, khai thác tài nguyên và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển Ngoài ra, quần đảo Trường Sa được đánh giá là vùng biển giàu tiềm năng về dầu khí, ngư
1
Trang 14trường lớn trong khai thác, đánh bắt thủy hải sản, một hệ sinh thái san hô có tính đa dạng sinh học cao, là trung tâm phát tán nguồn gen cho toàn bộ Biển Đông Với vai trò như vậy, quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang là đối tượng mà nhiều quốc gia khác trong khu vực tuyên bố chủ quyền Thêm vào đó, các dạng tai biến tự nhiên và các rủi ro lớn trên biển đã hạn chế sự phát triển của vùng biển, đảo này so với tiềm năng vốn có của nó.
Khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên biển, đảo là những vấn đề quan trọng và có ý nghĩa to lớn cả về khoa học cũng như thực tiễn Việc nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ cho mục đích phát triển các vùng biển, đảo nói chung và các vùng biển, đảo xa bờ như quần đảo Trường Sa nói riêng đang trở thành nhu cầu tất yếu khi mà các dạng tài nguyên trên lục địa đang dần cạn kiệt do nhu cầu khai thác và sử dụng quá mức Lĩnh vực nghiên cứu này trên lục địa và ở các vùng biển, đảo ven bờ - về cả lý luận và thực tiễn - vẫn đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện Đối với các vùng biển, đảo xa bờ, thì đây là vấn đề mới và chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu ở nước ta Nghiên cứu cơ sở địa lý
tự nhiên phục vụ mục đích phát triển theo hướng cảnh quan học và đánh giá cảnh quan trên lục địa thường dựa vào các bản đồ cảnh quan được xây dựng theo các hệ thống phân loại cảnh quan, hệ thống này là cơ sở cho việc sắp xếp trật tự logic và liên kết các cảnh quan Trong môi trường biển, còn thiếu một hệ thống phân loại thống nhất, do vậy, việc lập bản đồ cảnh quan biển là hết sức khó khăn Một vài công trình nghiên cứu có đề cập đến việc xây dựng các hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho vùng biển, song cũng mới chỉ là bước đầu mang tính khái quát, sơ lược và cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên, nhằm góp phần phát triển
cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan biển và cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc
gia trên quần đảo Trường Sa, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “N ghiên cứu cơ
sở địa lý tự nhiên p h ụ c vụ quản lý và định hướng p h á t triển khu vực quần đảo Trường S a”
Trang 152 M ỤC TIÊU , N Ộ I DUNG VÀ N H IỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀ I
*) M ục tiêu:
Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các định hướng phát triển kinh tế biển và quản lý không gian khu vực quần đảo Trường Sa dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý tự nhiên theo tiếp cận đánh giá cảnh quan
*) Nội dung:
- Cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá cảnh quan biển - hải đảo phục vụ quản
lý không gian và định hướng phát triển kinh tế biển khu vực quần đảo Trường Sa
- Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng khai thác các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm phân hóa cảnh quan khu vực quần đảo Trường Sa
- Đánh giá mức độ thuận lợi cảnh quan cho định hướng phát triển kinh tế biển và quản lý không gian biển khu vực quần đảo Trường Sa
- Phân tích và làm rõ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
và xác định các đặc trưng phân hóa mang tính quy luật của cảnh quan, xây dựng bản
đồ cảnh quan khu vực quần đảo Trường Sa
- Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và thực hiện đánh giá mức độ thuận lợi cảnh quan đối với các loại hình phát triển kinh tế biển ở quần đảo Trường Sa
- Đề xuất các định hướng phát triển kinh tế biển và các giải pháp quản lý không gian khu vực quần đảo Trường Sa
3 PH Ạ M VI N G H IÊN CỨU
*) Phạm vi không gian:
Khu vực nghiên cứu là vùng biển quần đảo Trường Sa bao gồm các đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và các vùng nước nối giữa chúng nằm trong giới hạn tọa độ là: 6050’ - 120 vĩ độ bắc và 1110 - 1180 kinh độ đông
3
Trang 16*) Phạm vi khoa học:/ • •
Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phân loại, phân vùng cảnh quan khu vực quần đảo Trường Sa và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá để đánh giá mức độ thuận lợi cho ba loại hình phát triển kinh tế biển là thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản; khai thác các nguồn lợi hải sản và phát triển du lịch, bảo tồn biển Từ đó, đề xuất quản lý và định hướng phát triển tổng hợp theo các vùng cảnh quan ở mức độ khái quát, tỷ lệ 1:500.000
*) Phạm vi thời gian:
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở tài liệu có được đến thời điểm 2013,
do vậy các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho định hướng phát triển không gian khu vực quần đảo Trường Sa đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
4 NHỮNG Đ IỂ M M Ớ I CỦA LUẬN ÁN
- Đã xác lập được cơ sở khoa học của việc nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên theo hướng cảnh quan và đánh giá cảnh quan phục vụ công tác quản lý không gian biển và định hướng phát triển kinh tế vùng biển, đảo quần đảo Trường Sa
- Đã làm nổi bật được đặc điểm tự nhiên, sự phân hóa cảnh quan theo kiểu loại và theo vùng thể hiện qua các bản đồ cảnh quan và phân vùng cảnh quan ở tỷ lệ 1:500.000 và bản đồ cảnh quan đảo san hô Trường Sa ở tỷ lệ 1:5000
5 CÁC LUẬN Đ IỂM BẢO VỆ
- L uận điểm 1: Cảnh quan quần đảo Trường Sa mang tính chất đặc thù của
m ột quần đảo san hô xa bờ, có sự thống nhất về không gian giữa hệ thống các đảo với khối nước biển xung quanh và thể hiện đầy đủ các quy luật phân hóa tự nhiên Trong đó, quy luật phi địa đới theo độ sâu đáy biển và khối nước biển chi phối chủ yếu đến sự phân hóa các đơn vị cảnh quan Hệ thống đảo, nền trầm tích, địa hình đáy và khối nước biển với các đặc trưng hải dương là những nhân tố hình thành cảnh quan biển - hải đảo ở khu vực quần đảo Trường Sa
- Luận điểm 2: Kết quả đánh giá cảnh quan dựa trên hệ thống chỉ tiêu đánh
giá được xây dựng là cơ sở khoa học để định hướng tổ chức hợp lý không gian theo các vùng cảnh quan cho phát triển các ngành kinh tế biển đặc thù ở khu vực quần đảo Trường Sa
Trang 176 Ý N G H ĨA K H O A H Ọ C VÀ TH Ự C TIỄN
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm sáng tỏ sự phân
hóa điều kiện tự nhiên và cảnh quan của khu vực quần đảo Trường Sa, góp phần vào việc phát triển cơ sở lý luận về cảnh quan biển và đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên phục vụ quản lý và định hướng phát triển các vùng biển, đảo xa bờ
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học quan
trọng phục vụ quản lý và định hướng phát triển không gian kinh tế biển, đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên quần đảo Trường Sa
- Tài liệu từ quá trình tham gia thực hiện các đề tài của Nghiên cứu sinh do Viện Địa chất và Địa vật lý biển chủ trì như: “Xây dựng tập bản đồ các điều kiện tự nhiên và môi trường quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phục vụ thực thi chủ quyền Quốc gia và quy hoạch phát triển kinh tế biển” năm 2006-2007; đề tài “Luận chứng khoa học cho việc xây dựng hệ thống quan trắc quốc gia các điều kiện tự nhiên và môi trường tại vùng quần đảo Trường Sa” năm 2006-2008 và đề tài “Điều tra đánh giá các loại hình tai biến tự nhiên khu vực quần đảo Trường Sa và đề xuất các giải pháp phòng chống làm giảm nhẹ những thiệt hại do chúng gây ra” năm 2008-2010, thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo Đề tài cấp cơ sở năm 2012 do Nghiên cứu sinh chủ trì: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ độ sâu đáy biển và bản đồ địa mạo khu vực quần đảo Trường Sa và Tư Chính - Vũng Mây tỷ lệ 1:250.000” Một số kết quả của luận án do Nghiên cứu sinh thực hiện như bản đồ địa hình đáy biển, bản đồ địa mạo, bản đồ cảnh quan và các bản đồ đánh giá đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc gia và các tuyển tập, hội nghị khoa học toàn quốc
- Tài liệu từ các chuyến khảo sát thực địa do Viện Địa chất và Địa vật lý biển thực hiện từ năm 1993 đến nay, trong đó có các chuyến khảo sát mà nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia trong các năm 2005 tại các khu vực đảo Trường Sa, Nam
5
Trang 18Yết và Song Tử Tây; năm 2009 tại các đảo, đá như Trường Sa, Đá Núi Le và các vùng nước thuộc quần đảo; năm 2010 tại các đảo, đá như Trường Sa, Đá Tây, Sinh Tồn, Nam Yết và Song Tử Tây (Hình ảnh thực địa được thể hiện trong Phụ lục IV) Các tài liệu thu thập được gồm các kết quả đo địa vật lý, khảo sát địa chất, địa mạo, nước ngầm và thổ nhưỡng
- Ngoài ra, các nguồn tài liệu từ các kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học khác, các công trình nghiên cứu được công bố trong các tạp chí quốc gia và quốc tế liên quan đến lĩnh vực và khu vực nghiên cứu cũng đã được Nghiên cứu sinh thu thập, tham khảo để thực hiện luận án
8 PH Ư Ơ N G PH Á P N G H IÊN CỨU
Luận án đã áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cả truyền thống
và hiện đại, bao gồm:
- Hệ phương pháp nghiên cứu và thành lập bản đồ cảnh quan gồm: Phương pháp điều tra tổng hợp với ba bước cơ bản là văn phòng trước thực địa, khảo sát thực địa và văn phòng sau thực địa; phương pháp phân tích liên kết các thành phần
tự nhiên; phương pháp phân tích nhân tố trội và phương pháp phân vùng cảnh quan
- Các phương pháp sử dụng trong đánh giá tổng hợp gồm: Phương pháp phân tích đa chỉ tiêu; phương pháp số của Odum và nhóm phương pháp bản đồ, hệ thông tin địa lý và viễn thám
9 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu địa lý tự nhiên phục vụ
quản lý và định hướng phát triển khu vực quần đảo Trường Sa
Chương 2: Đặc điểm cảnh quan khu vực quần đảo Trường Sa.
Chương 3: Đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên và tài nguyên, đề xuất các
định hướng quản lý, phát triển kinh tế biển khu vực quần đảo Trường Sa
Toàn bộ luận án được trình bày trong 150 trang đánh máy vi tính, trong đó
có 24 bảng số liệu, 39 hình gồm các sơ đồ, bản đồ và ảnh minh họa, kèm theo danh mục 8 công trình công bố của tác giả liên quan đến luận án và 138 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, tiếng Anh và các phụ lục
Trang 19C H Ư Ơ N G l
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ
TỰ NHIÊN PHỤC VỤ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KHU VỰC q u ầ n đ ả o t r ư ờ n g s a
1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Tổng quan các hướng nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp
Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp (ĐGTH) điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và tài nguyên (TN) phục vụ phát triển (PT) đã được thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu [29, 41, 47, 48, 82, 8б] và đã đạt được những thành tựu to lớn trong PT kinh tế - xã hội (KT-XH) của nhiều vùng lãnh thổ khác nhau Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp được đề cập nhằm xác định được mối quan hệ và sự thay đổi của các thành phần tự nhiên, môi trường (MT) với các hoạt động của con người trong quá trình khai thác, sử dụng lãnh thổ để đưa ra định hướng PT hợp lý và bền vững Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp được thể hiện trên một số lĩnh vực sau:
- Đánh giá đất và phân hạng đất đai phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp:
Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, công tác đánh giá đất đai đã phục vụtích cực cho việc quy hoạch, hoạch định chính sách và sử dụng hợp lý đất đai ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu Năm 1972, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đã đưa ra dự thảo đầu tiên về phương pháp đánh giá đất đai, sau đó dự thảo này được các chuyên gia hàng đầu của FAO biên soạn lại và hình thành phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên của FAO được công bố vào năm 1976 [124] Sau đó, nhiều tài liệu về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng đã được xuất bản Ở Việt Nam, từ khoảng năm
1980 đến nay, nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai phục vụ cho PT nông lâm nghiệp đã được thực hiện với việc sử dụng phương pháp của Thế giới, đặc biệt của FAO [64, 106] Theo hướng này, các đơn vị đất đai (land unit), sinh thái cảnh (site unit) là những địa tổng thể không đầy đủ dùng làm cơ sở để đánh giá phân hạng đất đai trong nông nghiệp, quy hoạch và PT cây trồng lâm nghiệp
- ĐGTH điều kiện địa lý cho P T du lịch:
Trên quan điểm địa lý tổng hợp, các nhà địa lý Liên Xô (cũ) đã thực hiện các các nghiên cứu về sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch, xây dựng các vùng
7
Trang 20nghỉ mát ven biển; Các nhà địa lý Pháp tập trung nghiên cứu sâu về các điểm du lịch, dòng du lịch hoặc chính sách không gian du lịch; các nhà địa lý Mỹ với các nghiên cứu về đề xuất các nguyên tắc, phương pháp vận dụng vào việc tổ chức không gian du lịch cho các lãnh thổ Ở Việt Nam, công tác đánh giá ĐKTN cho PT
du lịch cũng đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều vùng lãnh thổ Các nghiên cứu đều nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng (tốt, trung bình, kém) của các ĐKTN đối với hoạt động du lịch nói chung hay đối với từng loại hình du lịch, từng lĩnh vực hoạt động du lịch cụ thể nói riêng Phương pháp đánh giá không chỉ đơn thuần đánh giá ĐKTN, TN du lịch mà còn đánh giá cả các điều kiện để khai thác TN đó
- Các nghiên cứu địa lý tổng hợp ở các vùng biển, đảo:
Các nghiên cứu địa lý mang tính tổng hợp về biển, đảo cũng đã được thực hiện từ những năm 1960, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp Những công trình đánh giá cho các mục đích ứng dụng cụ thể mới chỉ bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây Nhìn chung, các nghiên cứu đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích an ninh quốc phòng, di dân kinh tế mới, du lịch, dịch vụ b iển [1] Nghiên cứu cơ sở lý luận về PT kinh tế
- sinh thái hải đảo cũng đã được đặt ra và bước đầu đã xây dựng được một mô hình kinh tế - sinh thái trên các đảo [102] Bên cạnh đó, vấn đề nghiên cứu ứng dụng theo hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp và áp dụng phương pháp ĐGTH cho các mục tiêu PT đối với một huyện đảo cũng đã được triển khai thực hiện [32, 33] Trong phạm vi khu vực nghiên cứu của luận án, đề tài: "Xây dựng luận cứ khoa học cho việc quy hoạch khai thác sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT phục vụ PT kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (QĐTS)", do Viện Địa lý chủ trì đã ĐGTH ĐKTN, tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và MT trên ba đảo lựa chọn là Trường Sa, Nam Yết và Đá Tây Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp khoa học - kỹ thuật khai thác sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT, góp phần giữ vững chủ quyền của Việt Nam trên QĐTS
1.1.1.2 H ướng nghiên cứu cảnh quan và đánh giá cảnh quan
Nghiên cứu cảnh quan (CQ) đã được đặt nền móng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu địa lý Sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái Đất của các nhà địa lý Nga và các nhà địa lý Anh, Mỹ, P háp dẫn đến việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lớp vỏ địa lý và lúc đó CQ được xác định như một đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới (A.G Ixatsenko, 1953, được trích dẫn trong Phạm Hoàng Hải
Trang 21và nnk, 1997 [29]) Trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về CQ khác nhau được áp dụng để chỉ các hình thức CQ khác nhau [49]: Theo quan niệm chung thì
CQ đồng nghĩa với tổng thể tự nhiên - lãnh thổ, địa tổng thể tự nhiên hay địa hệ tự nhiên của một cấp bất kỳ Theo quan niệm kiểu loại, CQ là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân bố Theo quan niệm cá thể, CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn
vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định Dù là quan niệm nào cũng đều nhằm phân chia tự nhiên - lãnh thổ thành những đơn vị địa tổng thể tự nhiên Tuy nhiên, hai quan niệm sau được các nhà nghiên cứu chuyên ngành CQ sử dụng, trong đó phổ biến là quan niệm kiểu loại đã
và đang được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu CQ [29]
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp áp dụng đối với CQ trong giai đoạn hiện nay đã cho thấy, sự PT của CQ học ứng dụng không chỉ đưa khoa học CQ dừng lại ở nghiên cứu cấu trúc CQ, vạch ra các đơn vị CQ mà còn tiến tới nghiên cứu cấu trúc, chức năng và đánh giá chúng để phục vụ PT kinh tế lãnh thổ, sử dụng hợp lý TN và bảo vệ MT [49] Điều này đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau [5, 85, 107]
Sự PT của công tác nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên (ĐLTN) theo hướng nghiên cứu CQ và đánh giá CQ cũng đi từ đơn giản đến phức tạp, từ đánh giá thành phần đến ĐGTH và được thực hiện theo các khía cạnh khác nhau: thích nghi sinh thái (mức độ thuận lợi), hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng MT và ảnh hưởng xã hội, trong
đó đánh giá thích nghi sinh thái được áp dụng rộng rãi hơn [42] Nội dung của đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ thích nghi hay phù hợp của các địa tổng thể hay các CQ đối với đối tượng quy hoạch PT Đánh giá kinh tế là xác định hiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư cho các dạng sử dụng CQ Đánh giá ảnh hưởng MT là xác định ảnh hưởng đến MT của các hoạt động sử dụng CQ đồng thời xem xét đến mức độ bền vững MT Đánh giá ảnh hưởng xã hội của việc sử dụng CQ bằng các phương pháp điều tra xã hội học nhằm phân tích truyền thống, tập quán sử dụng các
CQ và khả năng tiếp thu trình độ khoa học - kỹ thuật để lựa chọn các phương án sử dụng CQ và đầu tư thích hợp Từ những năm 1980, đặc biệt là từ 1990 đến nay, việc nghiên cứu tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến MT, kinh tế và xã hội đã được xem xét một cách đầy đủ nhất trong nhiều công trình nghiên cứu [40, 42, 107] v ề phương
9
Trang 22pháp sử dụng trong đánh giá, ngoài các phương pháp truyền thống còn có nhiều
phương pháp mới, hiện đại trên cơ sở ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS)
Nhìn chung, theo hướng nghiên cứu CQ, đa số các công trình được thực hiện
trên phần lục địa Đối với các vùng biển, đảo, việc nghiên cứu cơ sở ĐLTN phục vụ
mục đích PT còn hạn chế Ở các vùng biển, đảo ven bờ - về cả lý luận và thực tiễn -
công tác này đã mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng [31, 32, 33] Đối
với các vùng biển, đảo xa bờ, thì đây là một vấn đề mới và chưa thực sự được quan
tâm nghiên cứu do còn thiếu một hệ thống phân loại CQ thống nhất cho các vùng
biển, đảo Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến việc xây dựng các hệ thống
phân loại trong phân vùng tự nhiên và phân loại CQ áp dụng cho vùng biển [45, 50,
136], song cũng mới chỉ là bước đầu mang tính khái quát và sơ lược
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về khu vực quần đảo T rư ờ ng Sa
1.1.2.1 K hái quát chung về tổ chức hành chính và chủ quyền của Việt
N am tại quần đảo Trường Sa
Theo các văn bản chính thức của nhà nước Việt Nam, huyện đảo Trường Sa
được thành lập ngày 9/12/1982 theo quyết định số 193/HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng Theo quyết định này, toàn bộ QĐTS, trước đấy thuộc huyện Long Đất, tỉnh
Đồng Nai, trở thành đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Đồng Nai Ngày
18/12/1982, Nghị quyết của Quốc Hội khóa 7, phiên họp thứ tư sát nhập huyện
Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh Ngày 1/7/1989, tỉnh Phú Khánh được tách ra thành
hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa
Đến ngày 11/4/2007 Nghị định 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ đã quyết định thành
lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa Từ
thời điểm này, huyện đảo Trường Sa có ba đơn vị hành chính trực thuộc và là một
trong chín đơn vị hành chính của tỉnh Khánh Hòa
v ề lịch sử nghiên cứu và đấu tranh, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với
QĐTS có thể chia thành mấy giai đoạn sau:
- Trước năm 1909, quần đảo đã được phát hiện, tiếp liền việc phát hiện là ý chí chiếm hữu và làm chủ [51] Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa là một và luôn được quản lý hành chính bởi Quảng Nghĩa (hay Quảng
Ngãi) lúc là phủ, khi là trấn hay tỉnh tùy theo thời kỳ lịch sử [60] Như vậy, danh
nghĩa chủ quyền đã được khẳng định, duy trì và củng cố ít nhất từ thời kỳ các chúa
Nguyễn đến khi Pháp thiết lập chế độ bảo hộ năm 1884 Việc thành lập đội Hoàng
Sa là một mô hình tổ chức Nhà nước dưới thời các chúa Nguyễn, có nguyên tắc tổ
Trang 23chức và hoạt động rõ ràng, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời bấy giờ ở Biển Đông Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa trong khu vực phía nam của Biển Đông tức QĐTS [51, 60] Trước thời điểm này cũng đã có nhiều tư liệu liên quan đến chủ quyền, chủ yếu là sách địa lý và bản đồ
cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa (các tên này chỉ chung cho cả Hoàng Sa và Trường Sa) từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam [114] Bên cạnh đó, hầu như tất cả các bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây từ Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều vẽ chung quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, dưới cái tên Pracel, Parcel hay Paracels Năm 1787 - 1788, với những tiến bộ của khoa học và hàng hải, đoàn khảo sát Kergariou-Locmaria mới xác định được chính xác vị trí của quần đảo Hoàng Sa (Paracel) như hiện nay, từ đó phân biệt quần đảo này với QĐTS ở phía Nam [114]
Theo Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản đồ nước Việt Nam vẽ vào khoảng năm
1838 có ghi “Hoàng Sa - Vạn Lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam” [59]
- Giai đoạn 1909 - 1954, QĐTS bị các nước khác trong khu vực xâm phạm chủ quyền Thời gian này, các nghiên cứu về chủ quyền cũng chỉ mới là những bài báo được công bố, bên cạnh đó, Chính quyền thuộc địa Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng những hành động cụ thể một cách liên tục cho đến 1954
- Giai đoạn 1954 - 1975, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Hoàng Sa và Trường Sa
do chính quyền Sài Gòn kiểm soát Nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành
và công bố, trong đó, có hai công trình nổi bật hơn cả, đó là luận án tiến sĩ đệ tam cấp của Lê Thành Khê “Vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước luật pháp quốc tế” vào năm 1971 và luận văn tốt nghiệp của Đinh Văn Cư với đề tài
“Chủ quyền Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vào năm 1972 [60] Đây là những công trình tương đối có hệ thống và dày công sưu tầm các tư liệu nghiên cứu
- Sau năm 1975, nhiều nghiên cứu về vấn đề chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa đã được thực hiện, trong đó, đáng chú ý là công trình luận án tiến sĩ lịch
sử của tác giả Nguyễn Nhã, năm 2002 [60] Các nghiên cứu đều đã thu thập và tổng hợp một cách công phu các chứng cứ lịch sử, pháp lý trong và ngoài nước, bằng những luận điểm, luận cứ, luận chứng chắc chắn đã phản bác lại sự xâm phạm của nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đặc biệt, với những khám phá mới về tư liệu của người Trung Quốc như tấm bản
đồ cổ thời cận đại của Trung Quốc - “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” - của
11
Trang 24triều đình nhà Thanh xuất bản năm 1904 và nhiều bản đồ cổ trước đó của Trung Quốc cho thấy cực nam lãnh thổ nước này dừng lại tại Nhai Châu (tận cùng của đảo Hải Nam) Đây là những chứng cứ có ý nghĩa quan trọng, bổ sung vào hệ thống chứng cứ lịch sử, chứng minh đến đầu thế kỷ XX, Trung Quốc vẫn chưa hề có ý định xác lập chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Bên cạnh các hoạt động nghiên cứu, Nhà nước Việt Nam liên tục có những hoạt động để khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Trong đó có một số mốc đáng chú ý sau: Ngày 5 và 6-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa Tháng 9-1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” (năm
1979, 1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Biển Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 1/1/2013; Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo 6/2015; Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, 2013 v.v
Nhìn chung, qua các tư liệu lịch sử, pháp lý và các công trình nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam cho thấy, từ lâu nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi mà các quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và liên tục cho đến nay Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo
vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 251.1.2.2 Các khảo sát, nghiên cứu của nước ngoài
- Giai đoạn trước năm 1954: Các nghiên cứu của nước ngoài đáng chú ý
trong giai đoạn này là các khảo sát ở đảo Sinh Tồn, Nam Yết và xuất bản hải đồ IJN-H0810, 167, hải đồ cụm đảo Song Tử Tây, Ba Bình, Nam Yết và tây nam QĐTS do Nhật Bản xuất bản vào năm 1936; Nước Anh khảo sát tại vùng biển Trường Sa vào năm 1925 tại cụm đảo Song Tử, 1931 tại khu vực đảo Sinh Tồn,
1932 tại các Bãi ngầm Đồi Mồi, Trăng Khuyết Các khảo sát của Mỹ ở vùng biển Tiên Nữ, Chữ Thập, Trăng Khuyết vào năm 1935-1936; từ Đá Chữ Thập qua Bãi Trăng Khuyết vào 1936-1937 Các nguồn TN sinh vật vùng biển QĐTS cũng đã được tiến hành nghiên cứu và được đánh dấu bởi những tài liệu công bố đầu tiên về san hô của B.Smith (1890) và Bernard (1897) Các tài liệu về rong tảo của J Coster (1937), về động vật đáy của Dawydoff (1952) là những nghiên cứu giá trị về sinh vật biển vùng QĐTS trong giai đoạn này [114]
- Giai đoạn 1954-1975: Chỉ có một số công trình đo sâu đáy biển của Hải quân
Mỹ và Nga nhằm phục vụ cho công tác quân sự Các khảo sát liên quan tới nguồn TN dầu khí bắt đầu từ năm 1968 do tàu R/V F.V.Hunt của Marine Acoutical Service of Miami khảo sát 8900km tuyến địa chấn và từ ở Biển Đông Năm 1974, công ty Western Atlas của Mỹ đã khảo sát địa vật lý gồm địa chấn thăm dò, trọng lực và từ vùng biển Bắc Trung Bộ bao gồm cả QĐTS Toàn bộ kết quả khảo sát được giữ bí mật cho tới năm 1996, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam mới được tiếp cận [94]
- Giai đoạn từ 1975 đến nay: Các nghiên cứu bắt đầu thực sự phong phú và
đa đạng trên nhiều lĩnh vực Năm 1982, Hoa Kỳ xuất bản các hải đồ về khu vực Trường Sa Năm 1990 và 1992, tàu Gagarinsky đã tiến hành hai đợt khảo sát tổng hợp địa chất và địa vật lý trên các vùng biển Việt Nam, trong đó có QĐTS Năm
1995, một nghiên cứu chi tiết về địa lý và thống kê các cuộc khảo sát thủy văn ở QĐTS [124] được công bố Công trình này đã mô tả rất chi tiết về các đảo, đá, bãi cạn và bãi ngầm khu vực QĐTS và thống kê các cuộc khảo sát thủy văn trong khu vực và các hải đồ được công bố đã biết Năm 1976, Trung Quốc xuất bản hải đồ phần phía nam Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Nam Hải) bao gồm toàn bộ QĐTS, sau đó công bố tập Atlas địa chất và địa vật lý Biển Đông Năm 1988, Malaysia xuất bản nhiều tờ hải đồ các khu vực: Chữ Thập, Thuyền Chài, Suối Cát,
Kỳ Vân và sau đó vào năm 1991 xuất bản hải đồ MAL-6 (Sabah-Sarawak) bao trùm Bãi Tư Chính đến Đá Công Đo Giai đoạn 1976- 1984 các công ty như Amoco (Mỹ), Salen (Thụy Điển) đã khoan 7 giếng khoan tại khu vực Bãi Cỏ Rong (Reed Bank)
13
Trang 26Ngoài các kết quả khảo sát, thăm dò, các nghiên cứu cũng được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó đáng chú ý là các nghiên cứu về địa chất ở Biển Đông cũng như QĐTS [126, 127, 134, 135], nghiên cứu về tiềm năng dầu khí [123], các khu vực
ổn định băng cháy (gas hydrate) [138] và các công trình nghiên cứu về chế độ nhiệt, muối ở quy mô toàn cầu, trong đó có Biển Đông và QĐTS [120, 129] Một số công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn biển [119, 130] trong khu vực QĐTS, cũng đã được công bố
Nhìn chung, các khảo sát, nghiên cứu của nước ngoài ở Trường Sa chủ yếu
là các nghiên cứu cơ bản về địa chất, kiến tạo và các nghiên cứu thành lập các hải
đồ phục vụ cho hàng hải, tìm kiếm các luồng tàu, bến neo đậu Một số nghiên cứu tìm kiếm khoáng sản như dầu, khí, khoáng sản rắn, đa dạng sinh học và bảo tồn biển, song vẫn còn ở mức hạn chế
1.1.2.3 Các khảo sát, nghiên cứu của Việt N am
- Giai đoạn trước năm 1954: Các khảo sát với những nội dung về các rạn san
hô (RSH), khu hệ động vật, thổ nhưỡng đã được Viện Hải dương học Đông Dương thực hiện vào các năm 1927-1932 Năm 1925, tàu De Lanessan ra hai quần đảo để khảo sát hải dương học, nghiên cứu địa chất và sinh vật Năm 1927, nghiên cứu các RSH, phốt phát, năm 1931, xây dựng đèn biển ở đảo Song Tử Tây và năm 1938 xây đài khí tượng và đài vô tuyến ở đảo Ba Bình Trong giai đoạn này, nhìn chung các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện trên các đảo và các vùng nước lân cận
- Giai đoạn 1954 - 1975: Trong giai đoạn này, đất nước bị chia cắt và sau đó
cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc, do vậy công tác nghiên cứu biển nói chung gần như bị tê liệt Năm 1956, chính quyền Sài Gòn đặt QĐTS trực thuộc tỉnh Phước Tuy, các khảo sát về địa chất, thổ nhưỡng và khoáng sản lần đầu tiên được tiến hành vào năm 1973 ở đảo Nam Yết [59]
- Giai đoạn 1975 đến nay: Các nghiên cứu được thực hiện một cách liên tục
với nhiều nội dung nghiên cứu do nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau thực hiện, gồm:
*) Các công trình nghiên cứu, điều tra tổng hợp:
Kết quả nghiên cứu tổng hợp giai đoạn 1988-1989 [78] đã thu thập, xử lý tổng hợp các tư liệu đã có về Hoàng Sa và Trường Sa thành 41 công trình về đặc điểm địa lý tự nhiên, vật lý khí tượng thủy văn, địa chất và địa vật lý, sinh học Mặc dù chỉ hạn chế trên một số đảo và các vùng ngập nước lân cận, song cũng đã bước đầu đưa ra những nhận xét và kiến nghị về việc xây dựng công trình, sử dụng nguồn nước, bảo vệ MT cũng như nguồn lợi sinh vật biển Giai đoạn 1993-1997, đề
Trang 27án Trường Sa (TS-04) [71, 72], cùng với những công trình công bố vào năm 1998 [73, 74] đã xác định được đặc trưng các trường địa vật lý, vật lý khí quyển QĐTS
và xây dựng được bộ tư liệu địa chất, địa vật lý, các đặc điểm về cấu trúc vỏ Trái Đất và thành phần đất đá trên các đảo Giai đoạn 1996-2003, đề tài [53] đã thực hiện 7 khảo sát địa chấn nông phân giải cao trong phần ngập nước xung quanh các đảo Trường Sa, Đá Tây, Phan Vinh, Tốc Tan, Núi Le, Thuyền Chài và Bãi ngầm Vũng Mây và công bố về đặc điểm địa tầng, địa chấn và cấu trúc địa chất tầng nông khu vực QĐTS Giai đoạn 2001-2005, đề tài KC.09-02 [75] đã thành lập tập bản đồ các ĐKTN và MT vùng biển Việt Nam và kế cận và sau đó, đề tài KC.09-24
đã thực hiện việc biên tập và xuất bản Giai đoạn 2005-2007, đề tài [93] đã thành lập tập bản đồ với 3 nhóm gồm: nhóm các bản đồ về địa hình địa mạo địa chất và địa vật lý biển; nhóm bản đồ khí tượng - thuỷ văn biển và nhóm các bản đồ MT- sinh thái với tổng số 57 bản đồ cho cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Dựa trên các tài liệu đã điều tra thu thập trước đó, các chuyên khảo về QĐTS [89, 94, 118] đã tổng hợp nhiều kết quả nghiên cứu và đưa ra bức tranh tổng quát nhất về địa chất, địa vật
lý, nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
*) Các công trình nghiên cứu địa chất, địa mạo:
Cấu trúc kiến tạo, cũng như các hoạt động kiến tạo, địa động lực liên quan đã được thể hiện trong các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 cho toàn bộ Biển Đông [76, 104] và trong nhiều công trình nghiên cứu ở QĐTS [7, 62,
73, 105] Các nghiên cứu về địa chất dầu khí đã góp phần quan trọng làm rõ diện mạo của cấu trúc kiến tạo và lịch sử tiến hóa các bể trầm tích và đúc kết những vấn
đề cơ bản nhất về các bể trầm tích Kainozoi có tiềm năng chứa dầu khí trên các vùng biển Việt Nam trong đó có khu vực QĐTS [34, 35, 61, 96, 97] Các công trình
đề cập đến nghiên cứu đá vôi ám tiêu Đệ Tứ, mô hình cấu trúc các RSH và đặc trưng, cơ chế thành tạo các RSH cũng như đặc điểm địa chất, địa tầng QĐTS đã được nghiên cứu khá chi tiết [8, 9, 36, 37, 58, 79, 92] Đề tài KC.09.07/06-10 [56]
đã xây dựng được bộ số liệu về tính chất cơ lý của san hô và nền san hô vùng QĐTS phục vụ xây dựng các dự án tiền khả thi và thiết kế khả thi các công trình dân dụng và quốc phòng Bên cạnh đó là các nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật trong thiết kế các công trình trên đảo và quần đảo [20, 21, 24]
Về địa mạo, đáng chú ý là bản đồ địa mạo đáy Biển Đông tỷ lệ 1:1.000.000 [75] đã cho một bức tranh tổng quát về diện mạo đáy Biển Đông Bản đồ địa mạo
15
Trang 28QĐTS ở tỷ lệ lớn hơn như tỷ lệ 1:500.000 và tỷ lệ 1:250.000 [93, 110] đã được xây dựng dựa trên nguyên tắc nguồn gốc hình thái, liên hệ chặt chẽ với các quá trình thủy-thạch động lực Kết quả nghiên địa chất địa mạo ở một số đảo san hô [91], bước đầu đã làm sáng tỏ cơ chế hình thành, PT, tính ổn định của các bãi ngầm, đảo, RSH và xây dựng cơ sở khoa học cho việc mở luồng vào một số đảo, trong đó đã thực hiện chi tiết cho Đá Tây Trong giai đoạn 2006-2008, đề tài thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo [84] đã nghiên cứu chi tiết đặc điểm về ĐKTN, địa hình, địa chất, địa mạo, địa vật lý nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các đài trạm quan trắc tại khu vực QĐTS Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích chi tiết về đặc điểm địa mạo các đảo hoặc cụm đảo san hô cũng như địa mạo đáy biển toàn bộ khu vực QĐTS đã được công bố [2, 3, 4, 36, 92, 111].
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các điều kiện địa chất, địa mạo đáy biển nhằm phát hiện tiềm năng băng cháy [10, 38] và các nghiên cứu về TNTN, TN vị thế, vấn
đề bảo tồn di sản thiên nhiên và PT du lịch trên các vùng biển, trong đó có QĐTS [54, 66, 81] cũng đã được đề cập
*) Các công trình nghiên cứu khí hậu, vật lý hải dương và sinh vật:
Ngoài các công trình nghiên cứu tổng hợp trong đó có các vấn đề về khí hậu, hải dương đã được kể đến [71, 72, 93], còn có các công trình nghiên cứu về khí hậu khá chi tiết như nhiệt độ, gió, độ ẩm, mưa, bốc hơi, đặc điểm của trường bức xạ mặt trời và các nhiễu động khí quyển dựa trên chuỗi số liệu quan trắc tại trạm khí tượng Trường Sa từ năm 1977 đến 1985 [13] Các đặc điểm vật lý khí quyển và động lực trao đổi mặt biển cũng đã được đề cập nghiên cứu dựa trên nguồn số liệu trung bình các tháng giai đoạn 1995-2005 [99, 100] Một số ít công trình đã được thực hiện có
đề cập đến thành phần hóa học của nước biển khu vực QĐTS [44] và nghiên cứu các cấu trúc hải dương, xây dựng mô hình dự báo khai thác phục vụ đánh bắt xa bờ [115]
Các khảo sát sinh học, sinh thái, nguồn lợi sinh vật vùng biển Trường Sa, được thực hiện từ năm 1993 tới năm 2003 [12] với nội dung không chỉ giới hạn ở điều tra mô tả cấu trúc RSH, thống kê thành phần loài san hô, cỏ biển, mà đã bước đầu đi sâu nghiên cứu quần xã sinh vật rạn, chú trọng các nhóm cá san hô, các động vật ngoài cá, rong biển, cỏ biển, và nghiên cứu chuyên đề về tình trạng suy thoái, đề xuất biện pháp tăng cường QL, bảo vệ, phục hồi nguồn lợi sinh vật biển Trên cơ sở
đó, hướng nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, lập luận chứng khoa học kỹ thuật cho việc thành lập các khu bảo tồn biển, hoàn thiện qui hoạch xây dựng hệ thống
Trang 29các khu bảo tồn biển quốc gia thuộc QĐTS đã được thực hiện trong giai đoạn 2005
2008 [87] Việc xác định các vùng biển nhạy cảm đặc biệt (PSSA) cũng đã được đặt
ra nghiên cứu phục vụ cho QL và bảo vệ TN biển trên các vùng biển Việt Nam [101] Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu bộ phận về các hệ sinh thái, các nhóm sinh vật biển, hải sản có giá trị kinh tế và ý nghĩa đa dạng sinh học cũng đã được công bố [16, 22, 67, 70, 88, 90, 117]
*) Các công trình nghiên cứu thổ nhưỡng, nước ngầm:
Về thổ nhưỡng, một số công trình nghiên cứu đã mô tả một số đặc điểm về tự nhiên và các điều kiện hình thành đất trên các đảo [68, 113], trên cơ sở đó đã thiết lập
hệ thống phân vị đất QĐTS và xếp thành một đơn vị đất riêng biệt là Nhóm đất quần
đảo san hô nhiệt đới [69] Nước ngầm trên các đảo cũng đã được đề cập đến trong các
công trình nghiên cứu tổng hợp [53, 71] và một số công trình công bố khác [52, 80]
*) Các công trình nghiên cứu tai biến thiên nhiên và ứng dụng viễn thám:
Tai biến tự nhiên trong khu vực cũng rất đa dạng, và được thể hiện trong các công trình nhiều công trình nghiên cứu Với việc thực hiện 7 chuyến khảo sát từ 1993 đến 1997, hệ thống hóa các tư liệu khá đầy đủ về các yếu tố thủy thạch động lực, trên
cơ sở đó chỉ ra các quy luật biến đổi và tương tác giữa các yếu tố này nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật cho việc chống xói lở bờ biển đảm bảo ổn định và an toàn các công trình một số đảo thuộc QĐTS [18, 19] Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2008-2010 [95] cùng với đó là chuyên khảo về tai biến tự nhiên là công trình nghiên cứu tổng hợp, quy mô và chi tiết về tai biến tự nhiên trên QĐTS Đề tài này đã thực hiện điều tra hiện trạng các loại hình tai biến, nghiên cứu nguyên nhân hình thành
và đánh giá, dự báo các loại hình tai biến, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nhẹ những thiệt hại do chúng gây ra Bên cạnh đó, nhiều công trình khác đã nghiên cứu ảnh hưởng của các ĐKTN đến quy luật xói lở và đề xuất các giải pháp thiết kế công trình chống xói lở cho các đảo ở QĐTS [23, 28, 55] Các dạng tai biến tự nhiên khác như bão từ, tai biến động đất và sóng thần và ảnh hưởng của mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu ở khu vực nghiên cứu cũng đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu [77, 83, 108, 109, 116]
Công nghệ viễn thám đã được ứng dụng trong một số nghiên cứu ở QĐTS với việc sử dụng các tư liệu ảnh vệ tinh để nghiên cứu một số ĐKTN và xói lở bờ đảo [26] và vấn đề đo cao vệ tinh trong nghiên cứu cấu trúc địa chất Biển Đông [25] cũng như nghiên cứu trường nhiệt mặt biển và chlorophyll-a từ các tư liệu ảnh vệ tinh khác nhau
17
Trang 30Tóm lại: Các nghiên cứu về khu vực biển, đảo Trường Sa đã thực sự nở rộ
từ sau năm 1975 và được thực hiện trên nhiều lĩnh vực Đây là những thành quả to lớn, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác bảo vệ chủ quyền, khai thác TN
và PT kinh tế trên vùng biển QĐTS Tuy nhiên, chưa thấy có một công trình nào thực hiện ĐGTH các ĐKTN và TN phục vụ QL và định hướng PT khu vực QĐTS Đây chính là mục tiêu và nhiệm vụ của luận án được đặt ra để thực hiện, góp phần vào sự nghiệp PT kinh tế biển, đảo, bảo vệ MT và chủ quyền quốc gia
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Khái quát về nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển các vùng biển, đảo
1.2.1.1 Các khái niệm cơ bản
• Khái niệm ĐKTN: ĐKTN được hiểu theo nghĩa tương đối hẹp (Yvelin
Poncet và nnk, 1984, được trích dẫn trong Nguyễn Trần Cầu, 1994 [14]), đó là:
“Các thể và các lực thiên nhiên rất cần thiết cho đời sống và các hoạt động của xã
hội của loài người, trong các giai đoạn nhất định P T lực lượng sản xuất, nhưng không tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của con người" Việc đánh giá ĐKTN chính là phân loại các
tính chất chung của MT thiên nhiên hoặc các nhân tố, yếu tố của chúng theo mức độ phức tạp, theo mức độ thuận lợi, theo mức độ thích hợp cho một loại hình khai thác hoặc sử dụng lãnh thổ, cho đời sống, hay những phương hướng nhất định của những hoạt động của con người trên lãnh thổ đó [14]
• Khái niệm TN: Theo nghĩa chung là: “Tất cả những gì có trong thiên nhiên
và xã hội được con người sử dụng hay con người có thể khai thác, sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất và các hoạt động khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình” [63] TN được hiểu theo nghĩa không thuần túy thiên nhiên nữa,
mà theo nghĩa rộng “là tổng lượng một dạng thức sẵn có trong M T như đất đai, nhân
lực, tư liệu sản xuất, cơ hội, khả năng, tiền vốn, dữ liệu khoa học, thông tin được khai thác, sử dụng trong những điều kiện xã hội, kinh tế và công nghệ nhất định”
[112] Theo nghĩa này, có nhiều loại TN khác nhau như TNTN, TN xã hội, TN kinh
tế, TN khoa học, v.v Trong đó, TNTN mang ý nghĩa quan trọng đối với PT kinh tế
TNTN được định nghĩa: “TNTN là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên
(nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà loài người có thể khai thác và sử dụng trong sản xuất và đời sống), là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người Tất cả những dạng vật chất khi chưa được hiểu biết, khai thác, sử dụng
Trang 31thì chưa được gọi là TNTN mà chỉ là Đ KTN hay M T tự nhiên, cho nên TNTN mang tính chất xã hội, được xã hội hoá" [112] Như vậy, nguồn TNTN luôn được mở rộng
với sự PT của xã hội, chúng có thể thu được từ MT tự nhiên hay gián tiếp thông qua các quá trình khai thác và chế biến như các loại khoáng sản, cây lấy gỗ, đất đai
• Khái niệm QL và quản lý tổng hợp (QLTH): Có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, theo lý thuyết hệ thống: “QL là sự tác động có hướng đích của chủ thể
QL đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống" [98] QLTH cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau trong lý luận về QL
Tiếp cận từ khái niệm tổng quát có thể hiểu: “QLTH được xem là một tiến trình liên
tục, tương tác, có sự tham gia và đồng thuận thực hiện các nhiệm vụ QL đặt ra nhằm đạt được các mục đích và mục tiêu QL ở các cấp độ khác nhau'" [11] QLTH
TN và MT biển, hải đảo được định nghĩa “là QL liên ngành, liên vùng, bảo đảm lợi
ích quốc gia kết hợp hài hòa lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc QL, khai thác, sử dụng TN và bảo vệ M T biển, hải
đ ả o " [15] Về tính chất của “tổng hợp” trong QLTH, có thể phân biệt các dạng sau
[131]: Tổng hợp giữa các chính quyền là tổng hợp giữa các thể chế và cấp độ hành chính; tổng hợp giữa các lĩnh vực là tổng hợp giữa các ngành trong cùng một cấp độ hành chính; tổng hợp giữa các tổ chức phi chính phủ và tổ chức chính phủ; tổng hợp giữa khoa học và QL là tổng hợp giữa các lĩnh vực khoa học và chuyển giao khoa học tới những người sử dụng và những người lập kế hoạch; và tổng hợp quốc tế có thể xảy ra khi một vùng lại nằm trong biên giới của hai hay nhiều quốc gia
• Khái niệm PT: PT là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến
đổi đang diễn ra trong cả thế giới vật chất và tinh thần Trên quan điểm PT tổng hợp
vùng thì PT được định nghĩa là “xây dựng cơ cấu ngành tối ưu, kết hợp hài hoà giữa
các ngành chuyên môn hoá với các ngành phụ và các ngành phục vụ, phù hợp với điều kiện kinh tế và tự nhiên của vùng, trong đó các ngành chuyên môn hoá là cơ sở
để P T tổng hợp vùng" [112] Khi nói đến PT, khái niệm PT bền vững hay được
nhắc đến, đó là “sự P T để đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của cả thế hệ tương lai" Ủy ban Thế giới về MT và PT
(WCED) cho rằng có thể đạt được mục tiêu PT bền vững bằng cách chuyển giao một cách hợp lý các công nghệ, xây dựng năng lực về khoa học và quản lý, đồng thời với việc sử dụng một cách đúng đắn các nguồn TN phải tính đến việc duy trì hay đảm bảo nhu cầu cho các thế hệ tương lai
19
Trang 32Như vậy, việc ngiên cứu cơ sở ĐLTN dựa trên ĐGTH ĐKTN và TN không nhằm mục đích nào khác ngoài việc PT tổng hợp và bền vững, trong đó việc cơ cấu ngành một cách tối ưu phải phù hợp với ĐKTN và KT-XH của vùng hay lãnh thổ
đó Từ đó, đưa ra các hướng QL sử dụng các nguồn TN một cách hợp lý, có hiệu quả đảm bảo sự duy trì PT hiện tại đồng thời cũng phải đảm bảo cho thế hệ tương lai
1.2.1.2 Cơ sở địa lý tự nhiên đối với p h á t triển kinh tế - x ã hội
Theo đại từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết, địa lý học được định nghĩa là
“một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh
thổ tự nhiên, các thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và các thành phần của chúng" Như vậy, có thể thấy đối tượng nghiên cứu của ĐLTN chính là các thể tổng
hợp lãnh thổ tự nhiên (hay thể tổng hợp ĐLTN, địa tổng thể, địa hệ thống), đó là một sự kết hợp có quy luật của các hợp phần ĐLTN trong lớp vỏ địa lý bao gồm địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, hải văn, thổ nhưỡng và động, thực vật tạo nên không gian cho con người, các loài sinh vật sinh sống và cũng là nơi tiến hành các hoạt động xã hội và thực hiện các hoạt động sản xuất của con người dựa trên sự khai thác lợi thế không gian từ các ĐKTN mang lại hoặc các nguồn TNTN
Trong tự nhiên, tất cả hoặc từng phần của ĐKTN không phải là TN cho đến khi chúng có khả năng, hoặc được coi là có khả năng được nhận biết hay nói cách khác là khả năng được sử dụng bởi con người để nhằm thỏa mãn nhu cầu của chính con người [63] Như vậy, nguồn cung cấp TN cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người chính là các ĐKTN mà ở mức độ PT nhất định chúng được nhận biết và đưa vào quá trình sản xuất
Đối với nhiều quốc gia, nhờ có những ĐKTN thuận lợi và có nguồn TNTN phong phú nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn cho các mục tiêu PT bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu Tuy nhiên, trong quá trình tăng trưởng và PT kinh tế, các ĐKTN
và TNTN chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Chúng chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng TN phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém PT Ngược lại nhiều quốc gia có ít TN khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp PT
Như vậy, để khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả các ĐKTN và TNTN phục vụ cho các mục tiêu PT KT-XH và bảo vệ MT cần phải nghiên cứu và xác
Trang 33định mối quan hệ, sự tác động lẫn nhau giữa các hợp phần ĐKTN, TNTN trong một
thể tổng hợp ĐLTN cũng như giữa các thể tổng hợp ĐLTN một cách có quy luật
Kết quả nghiên cứu này nhằm hiểu rõ bản chất sự phân hóa của chúng trong một hệ
thống tự nhiên và tạo ra cơ sở khoa học vững chắc giúp cho các nhà quản lý có
những quyết định chính xác để bố trí các ngành sản xuất, các mô hình PT kinh tế
phù hợp Đó chính là mục đích cơ bản của việc nghiên cứu cơ sở ĐLTN phục vụ
cho các mục tiêu PT KT-XH
1.2.1.З Quản lý và kh a i thác tổng hợp tiềm năng không gian biển, đảo dựa vào quy hoạch không gian biển
Theo định nghĩa về QLTH TN và MT biển, hải đảo đã được nêu ở phần trên,
có thể thấy, để QLTH biển theo không gian cần phải có một cơ chế phối hợp liên
ngành, liên vùng nhằm giải quyết đồng bộ các quan hệ và kết hợp hài hòa về lợi ích
giữa các bên liên quan trong QL, khai thác, sử dụng TN và bảo vệ MT biển Một
trong những công cụ cơ bản của QLTH không gian biển cho PT bền vững là quy
hoạch không gian biển (MSP) [39]
Định nghĩa về quy hoạch không gian biển được sử dụng nhiều trên Thế giới
cho rằng: “Quy hoạch không gian biển là một quá trình phân tích và phân bổ (do cơ
quan nhà nước thực hiện) các hoạt động của con người theo không gian và thời
gian ở các vùng biển để đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và sinh thái mà thường do
các nhà chính trị xác định’" [27] Như vậy, quy hoạch không gian biển được hiểu là
việc QL các hoạt động của con người để tăng cường cách thức sử dụng thích hợp và
giảm mâu thuẫn giữa các hoạt động khai thác, sử dụng vùng biển, giữa tự nhiên và
hoạt động của con người Một quy hoạch tốt sẽ giúp chúng ta hình dung một tương
lai rõ ràng về sự PT tổng thể của một khu vực biển [39]
Mục đích quy hoạch không gian biển là đạt được sự hài hòa giữa mục tiêu
kinh tế, xã hội và MT Đạt được mục đích như vậy chính là sự thành công của hoạt
động QL TN và MT biển với các lợi ích cơ bản và lâu dài Các lợi ích phải đạt được
của quy hoạch không gian biển bao gồm cả lợi ích sinh thái, lợi ích kinh tế và lợi
ích xã hội được nêu trong bảng 1.1 Bên cạnh đó, các lợi ích khác của việc quy
hoạch không gian biển có thể đạt được là: một quy trình có thể ứng dụng ở các quy
mô khác nhau; tăng cường sự tham gia của các bên liên quan; có tính minh bạch hơn
về quy trình ra quyết định và mang lại sự trao đổi liên tục, thông tin được cung cấp
nhiều hơn giữa các bên liên quan; giúp tăng cường và ưu tiên thu thập và xử lý số liệu
bằng cách ưu tiên hóa nhu cầu thông tin, giám sát và giảm bớt các chi phí QL TN
21
Trang 34Bảng 1.1: Các lợi ích của quy hoạch không gian biển [39]
Lợi ích
sinh
thái
• Bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái
• T ạo điều kiện cho hoạt động của các khu bảo tồn thông qua việc
phân bổ không gian
• Tăng cường “hiệu ứng tràn” của các hoạt động bảo tồn biển
• Giảm thiểu tác động từ các hoạt động của con người lên hệ sinh thái biển
Lợi ích
kinh tế
• Đưa ra phương thức khai thác TN hợp lý và hiệu quả
• Tận dụng hợp lý khoảng không gian biển cho các hoạt động sử dụng
Lợi ích
xã hội
• Giảm thiểu xung đột giữa các nhóm sử dụng TN
• T ạo cơ hội cho cộng đồng tham gia nhiều hơn
• Xác định các khu vực bảo tồn các di sản văn hóa và duy trì, bảo tồn các
hoạt động mang giá trị tinh thần liên quan đến biểnNhìn chung, trong nhiều trường hợp, quy hoạch không gian biển và QLTH
vùng bờ được xem là tương tự như nhau vì cả hai đều mang tính tổng hợp, chiến
lược và đều nhằm tối ưu hóa sự phù hợp của các hoạt động PT và giảm thiểu mâu
thuẫn giữa các cách thức sử dụng và cả giữa con người với tự nhiên Tuy nhiên,
chúng khác nhau ở chỗ không gian QL trong QLTH vùng bờ là vùng bờ biển (hay
vùng bờ), trong khi đó, ranh giới của quy hoạch không gian biển mở rộng hơn, vượt
ra khỏi không gian vùng bờ biển, thậm chí ra đại dương Các giải pháp QL liên
ngành thường được chú trọng trong QLTH vùng bờ, trong khi đó quy hoạch không
gian biển chú trọng đến giải pháp phân bổ lại hoạt động sử dụng theo không gian và
thời gian theo cách tiếp cận liên ngành [39]
1.2.2 Tiếp cận cảnh quan biển tro n g nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng p h át triển quần đảo T rư ờ n g Sa
1.2.2.1 K hái quát chung về cảnh quan biển
Như đã biết, CQ học trên lục địa được đặt nền móng từ cuối thế kỷ XIX và
trở thành một khoa học theo đúng nghĩa của nó vào những năm 50 của thế kỷ XX,
còn đối với phân vùng và phân loại tự nhiên ở các vùng biển, các nhà nghiên cứu
còn phải do dự rất nhiều khi phải đụng chạm đến những yếu tố chưa biết hoặc biết
chưa đầy đủ [50] Công tác phân vùng biển và đại dương Thế giới đã có sự thống
nhất chỉ khi dừng lại ở các đơn vị cấp cao là đai và đới với tính chất khái quát và
mang ý nghĩa toàn cầu, còn đối với phân vùng biển ở quy mô nhỏ và các CQ biển
còn ít được chú ý Nghiên cứu CQ ngập nước ở trên Thế giới cũng như ở Việt Nam,
thực chất mới chỉ được tiến hành trong giới hạn độ sâu đến 20-30m nước, nghĩa là
mới chỉ thuộc phạm vi khu bờ hiện đại [63] Trong nghiên cứu vùng biển ven bờ
Trang 35biển Đen theo quan điểm cấu trúc - CQ, Petrov K.M đã đưa ra định nghĩa về CQ
ngập nước là “những bộ phận đáy biển cụ thể được đặc trưng bởi bình đồ cấu tạo
địa chất chung quyết định những quy luật hình thành địa hình ngập nước và tạo ra
các tướng địa chất (trầm tích) biển hiện đại, tương đối đồng nhất về chế độ thủy
văn, bởi sự đa dạng về thành phần và sự phân bố của các sinh vật đ á y " (Petrov
K.M., 1971, được trích dẫn trong Vũ Văn Phái, 2007 [63])
Trên thực tế, thuật ngữ ‘cảnh quan biển’ được đề xuất lần đầu tiên trong một
nghiên cứu bảo tồn thiên nhiên biển ở Canada [136] với việc sử dụng thuật ngữ
‘seascapes’ tương đương với thuật ngữ ‘landscapes’ trên lục địa Sau đó, dự án Thí
điểm ở Vùng biển Ailen [137], đã thông qua khái niệm ‘marine lansdcapes’ thay cho
‘seascapes’ Khái niệm CQ biển đã được chấp nhận và được thử nghiệm ở Vùng biển
Ailen rồi sau đó mở rộng cho toàn bộ lãnh hải của nước Anh trong dự án UKSeaMap
[121] Các nghiên cứu đã xác định ba nhóm chính của CQ biển [137] Bao gồm:
- CQ biển ven bờ (Coastal marine landscape) là nơi đáy biển và khối nước phía
trên có sự liên kết chặt chẽ với nhau Trong nhóm này, CQ biển được hiểu là cả đáy
biển và khối nước phía trên, ví dụ như các vịnh hẹp, các cửa sông
- CQ đáy biển (seabed marine landscape) là những nơi đáy biển của các vùng
biển khơi nằm ở cách xa bờ biển bao gồm cả đáy biển và lớp nước tiếp xúc với nền đáy
- CQ khối nước (Water column marine landscapes) của các vùng biển khơi,
bao gồm các khối nước phía trên của lớp nước tiếp xúc với nền đáy
1.2.2.2 Phân cấp quy mô không gian địa lý cho việc sử dụng hợp lý và bảo
vệ tài nguyên, m ôi trường các vùng biển, đảo
Việc xây dựng một hệ thống phân cấp về quy mô không gian mà ở mỗi cấp
khác nhau sẽ có các hành động khác nhau để phục vụ cho QL và sử dụng hợp lý,
bảo vệ TN, MT các vùng biển là rất cần thiết Năm 2000, dự thảo khung cho bảo
tồn thiên nhiên biển ở Anh đã được đề xuất bởi Cơ quan bảo tồn động vật hoang dã
của chính phủ Anh (EN) và Liên Ủy ban Bảo tồn Thiên nhiên (JNCC) [128] Theo
khung chương trình này, có bốn cấp quy mô không gian sau:
- Vùng biển mở rộng (Wider Sea): bao gồm lãnh hải, thềm lục địa và các
vùng nước lân cận thuộc quyền tài phán quốc gia theo luật pháp quốc tế Cấp quy
mô này được áp dụng để giải quyết các vấn đề như ô nhiễm MT, chất lượng nước,
bảo vệ các loài sinh vật biển phân bố trong phạm vi rộng và vấn đề biến đổi MT biển
- Vùng/tiểu vùng biển (Regional/subregional seas): là các vùng biển được
phân chia một cách hợp lý về mặt sinh thái trong phạm vi vùng biển mở rộng, đôi
23
Trang 36khi được mô tả là một ‘tiếp cận hệ sinh thái’ Cấp quy mô này được sử dụng cho
nhiều mục tiêu PT khác nhau như lập bản đồ mô tả đa dạng sinh học biển, xác định
ưu tiên bảo tồn và đánh giá TN biển, xác định các CQ biển, sinh cảnh và các loài
sinh vật cho việc bảo tồn các vùng biển có tầm quan trọng quốc gia và các vùng
biển nhạy cảm đặc biệt (PSSA), QL nghề cá cũng như các hoạt động của con người
phù hợp với các nguyên tắc PT bền vững
- CQ biển (Marine landscapes): là một quy mô thích hợp để phân loại một
cách toàn diện MT biển Các dữ liệu địa vật lý, thủy văn và dữ liệu sinh học (xác
định hoặc dự đoán) sẽ được sử dụng để lập bản đồ CQ biển Ở quy mô này, cần phải
QL các hoạt động của con người để bảo vệ từng CQ biển khác nhau và đánh giá tác
động của các hoạt động đó để đưa ra các biện pháp QL cần thiết
- Sinh cảnh và loài (Habitats and species): là những đối tượng đặc biệt nhạy cảm
với các hoạt động của con người và cần có những biện pháp bảo vệ đặc biệt Ở đây,
hoạt động bảo tồn sẽ được tập trung để đảm bảo các khu vực có giá trị đa dạng sinh học
cao cần được duy trì, bên cạnh đó cần điều chỉnh hoạt động của con người mà có thể
gây tổn hại cho các loài quan trọng Ở cấp độ này, hành động bảo tồn sẽ bao gồm việc
thành lập khu bảo tồn biển (MPAs)
Hệ thống phân cấp trên được sử dụng chủ yếu cho việc QL và các hoạt động
bảo tồn biển là chính, song hoạt động bảo tồn thường có liên quan chặt chẽ đến các
hoạt động PT khác Vì vậy, sự phân cấp này cũng có thể được sử dụng trong định
hướng PT các lĩnh vực nói riêng và PT bền vững tổng thể các vùng biển nói chung
ở từng cấp quy mô khác nhau Trong luận án, tiếp cận ở hai cấp quy mô là vùng và
CQ biển để đánh giá cho các mục tiêu PT khu vực QĐTS
I.2.2.3 Phân loại và phân vùng cảnh quan biển
* Tính phân đới theo độ sâu trong MT biển và vai trò của chúng đối với
sự thành tạo CQ biển
Trong các nghiên cứu biển và đại dương, hai MT là khối nước biển và đáy
biển thường được tách riêng Theo đó, theo không gian chiều ngang từ bờ ra được
chia thành 2 đới là: đới bờ (Coastal zone) và đới biển khơi (Oceanic zone) Theo
chiều thẳng đứng, MT nước biển được chia thành 2 đới lớn là đới ánh sáng (Photic
zone) và đới thiếu sáng (Aphotic zone) (xem hình 1.1)
- Các đới M T đáy biển: Trong phạm vi thềm lục địa tính từ trong bờ ra đến
độ sâu 200m nước tương ứng với thềm lục địa gồm có 3 đới: Đới trên triều
(Supralittoral) hay còn gọi là đới sóng vỗ bờ (Splash zone) là đới nằm ở phía trên
Trang 37mực thủy triều cao; Đới triều (Littoral or Intertidal zone) nằm trong phạm vi giữa
mực nước cao và mực nước thấp, đới này lộ ra khi thủy triều xuống thấp và ngập
nước khi thủy triều cao; Đới dưới triều (Sublittoral or Suptidal zone) nằm trong
khoảng từ mép mực nước thấp đến mép ngoài thềm lục địa (ở độ sâu 200m nước)
Trong phần đáy biển nằm phía ngoài đới dưới triều lại được chia thành các đới: Đới
biển sâu (Bathyal zone) phân bố trong phạm vi đáy biển từ độ sâu 200m đến 4000m,
đới này tương đương với sườn lục địa; Đới biển thẳm (Abyssal zone) nằm ở độ sâu
4000-6000m và đới siêu sâu (Hadal zone) phân bố ở độ sâu lớn hơn 6000m.
Hình 1.1 Các đới MT biển [122]
phân chia thành các đới MT khác nhau tùy thuộc khoảng cách gần hay xa bờ, độ
sâu cột nước và độ chiếu sáng Theo khoảng cách đến bờ gồm có hai đới là đới bờ
(Coastal zone) và đới biển khơi (Oceanic zone) Trong phạm vi đới bờ chỉ có một
khối nước không phân tầng được gọi là đới nước nông (Neritic zone) Đây là toàn bộ
khối nước phủ lên trên thềm lục địa và là nơi có năng suất sinh học cao nhất trên Trái
Đất Trong phạm vi đới biển khơi (Oceanic zone) theo độ chiếu sáng được chia thành
hai đới cơ bản là đới chiếu sáng (Photic zone) là vùng nước biển khơi ở độ sâu đến
200m và đới thiếu sáng (Aphotic zone) là vùng nước biển khơi ở độ sâu > 200m
Trong phạm vi đới chiếu sáng hay còn được gọi là đới biển khơi tầng mặt
(Epipelagic zone) là nơi giàu chất dinh dưỡng và sinh vật nhưng không bằng đới
nước nông Trong đới thiếu sáng lại được chia thành 4 đới theo chiều sâu cột nước
bao gồm: Đới biển khơi trung (Mesopelagic) trong khoảng độ sâu 200-1000m thuộc
25
Trang 38phạm vi trên cùng của đới thiếu sáng Trong đới này dinh dưỡng và sinh vật giảm so
với các đới trên; Đới biển khơi sâu (Bathypelagic), phân bố rộng nhất trong khoảng 1000-4000m, đây là đới nghèo sinh vật; Đới biển khơi sâu thẳm (Abyssopelagic) phân bố trong khoảng độ sâu 4000-6000m cũng là đới nghèo sinh vật; Đới biển khơi
sâu tăm tối (hadalpelagic) là vùng nước nằm giữa độ sâu 6000-10000m, là vùng sâu
nhất của đại dương
Nhìn chung, sự phân đới theo độ sâu của MT đáy biển và khối nước biển không phải hoàn toàn độc lập với nhau mà chúng có mối liên kết ràng buộc bởi các yếu tố tự nhiên trong biển và đại dương, đặc biệt là yếu tố sinh vật Tính phân đới này
có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở để phân chia các cấp CQ khác nhau
* Các hệ thống phân loại C Q biển và việc áp dụng cho QĐTS
Hệ thống phân loại CQ là cơ sở cho việc sắp xếp trật tự logic và liên kết các
CQ [45] Tương ứng với mỗi tỷ lệ nghiên cứu có một hệ thống các cấp phân vị của phân loại CQ Trên lục địa, hiện có nhiều hệ thống phân loại CQ khác nhau theo cả
ba quan niệm về CQ là quan niệm chung, quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể
Hệ thống phân loại CQ và phân vùng biển mới được đề cập đến trong một số ít công trình nghiên cứu ở Việt Nam [45, 50, 103] bằng cách áp dụng hệ thống phân loại trên đất liền cho MT biển Tuy nhiên, việc áp dụng các hệ thống này trong MT biển chưa được thống nhất do các chỉ tiêu được lựa chọn để phân chia đơn vị CQ các cấp còn nhiều điểm chưa tương đồng, hoặc còn gặp khó khăn so với các chỉ tiêu được áp dụng trong các hệ thống phân loại trên lục địa, đặc biệt là các đơn vị cấp thấp từ Kiểu CQ trở xuống Các nghiên cứu ở nước ngoài [121, 136, 137] đã đề xuất
hệ thống phân loại riêng MT biển gồm các cấp (Level) khác nhau với mỗi cấp sử dụng một hoặc một số chỉ tiêu nhất định có tính chất đặc thù của MT biển, hoàn toàn không liên quan đến các chỉ tiêu phân loại đã được áp dụng trên lục địa Đối chiếu hệ thống phân loại này với các hệ thống phân loại ở Việt Nam có thể thấy: cấp 1 tương đương với Hệ; cấp 2 tương đương với Lớp; cấp 3 tương đương với Phụ lớp; cấp 4 tương đương với Kiểu và cấp 5 tương đương với Hạng CQ
Từ việc nghiên cứu các hệ thống phân loại CQ đã nêu, trong điều kiện đặc thù của QĐTS, khi mà các nguồn dữ liệu điều tra ở khu vực nghiên cứu chưa đầy đủ
để có thể áp dụng hệ thống phân loại CQ riêng đối với MT biển, luận án đề xuất việc áp dụng hệ thống phân loại CQ trên lục địa cho khu vực QĐTS ở tỷ lệ 1:500.000 với 6 cấp gồm: Hệ, Phụ hệ, Lớp, Phụ lớp, Kiểu và Hạng CQ Ở mỗi cấp, tính chất tương đồng giữa các chỉ tiêu trên lục địa và biển được xác định, bên cạnh
Trang 39đó, ở những cấp mà không có chỉ tiêu tương đồng giữa lục địa và biển thì các chỉ tiêu đặc trưng của của MT biển được áp dụng (bảng 1.2).
Bảng 1.2 So sánh chỉ tiêu các cấp phân vị trong hệ thống phân loại CQ tỷ lệ 1:500.000 của lục địa và biển, đảo
Đơn
vị
Chỉ tiêu phân loại
Hệ
CQ
Nền bức xạ chủ đạo quyết định tính
đới Chế độ nhiệt - ẩm quyết định
cường độ lớn của chu trình vật chất
và năng lượng
Nền bức xạ chủ đạo trên bề mặt biển quyết định tính đới Nền nhiệt không khí bề mặt và hoàn lưu khí quyển quyết định cường độ lớn của chu trình vật chất và năng lượng
Phụ
hệ
CQ
Chế độ hoàn lưu gió mùa quyết
định phân bố lại nhiệt - ẩm gây ảnh
hưởng lớn đến chu trình vật chất
Điều kiện khí hậu và chế độ hoàn lưu nước mặt quyết định phân bố nhiệt - muối của khối nước
Lớp
cQ
Đặc điểm các khối địa hình lớn
quy định tính đồng nhất của hai
quá trình lớn trong chu trình vật
chất bóc mòn và tích tụ
Dựa vào đặc trưng MT, vật chất thành tạo và mối quan hệ giữa các quyển vật chất Đối với MT biển, đảo gồm 2 lớp là: Lớp CQ đảo và lớp CQ biển
Phụ
lớp
CQ
Sự phân tầng bên trong của lớp
Khoảng cách đến lục địa đối với các đảo và các khối cấu trúc lớn theo độ sâu của địa hình đáy đối với MT biển
Kiểu
CQ
Đặc điểm sinh khí hậu (kiểu thảm
thực vật phát sinh - kiểu đất)
Kiểu thực vật, kiểu đất đối với đảo và
sự phân tầng, các đặc trưng hải dương của khối nước đối với MT biển
Hạng
CQ Các kiểu địa hình phát sinh.
Các kiểu địa hình phát sinh và tính chất nham thạch của nền đáy
Sự khác biệt lớn nhất của CQ biển so với CQ lục địa là sự xuất hiện của khối nước biển Một mặt, sự tác động của nó đối với thành tạo CQ đáy biển cũng giống như tác động của khối không khí đối với bề mặt thạch quyển trên lục địa, mặt khác bản thân khối nước là một thành phần quan trọng của CQ biển Ở các cấp Hệ CQ, Phụ hệ CQ đối với MT lục địa chỉ tiêu phân chia chủ yếu dựa vào sự phân hóa nhiệt
- ẩm và tương tác giữa hoàn lưu khí quyển và địa hình Đối với MT biển, bên cạnh mối tương tác giữa chế độ hoàn lưu gió mùa và bề mặt nước, cần phải quan tâm đến đặc điểm của khối nước dẫn đến sự khác biệt giữa ranh giới nhiệt độ của các khối nước so với ranh giới nhiệt độ không khí Ở cấp Lớp CQ, đối với MT biển, đảo dựa
27
Trang 40vào đặc trưng MT, vật chất thành tạo và mối quan hệ giữa các quyển vật chất, theo
đó có 2 lớp: Lớp CQ đảo và lớp CQ biển Đối với môi trường lục địa, cấp Lớp CQ được phân chia theo tiêu chí đại địa hình với 2 Lớp: Lớp CQ núi và Lớp CQ đồng bằng, các Phụ lớp được phân chia theo sự phân hóa của các chỉ tiêu trong Lớp Tương tự với MT biển - đảo, các đơn vị hình thái phân hóa theo độ sâu còn rõ ràng hơn và mang tính quy mô toàn cầu gồm thềm lục địa, sườn lục địa và trũng biển thẳm, luận án xem các chỉ tiêu này mang tính đặc trưng trong phân chia Phụ lớp
CQ Ở cấp Kiểu CQ, trong MT lục địa, chúng thể hiện đặc trưng sinh khí hậu phản ánh qua kiểu thực vật phát sinh - kiểu đất, còn trong MT biển, sự phân tầng các khối nước với các điều kiện ánh sáng và hải dương như nhiệt, muối và dòng chảy là những yếu tố phân chia cấp kiểu vì chúng quy định sự phân bố của các hệ sinh thái
và các loài sinh vật biển khác nhau
Như vậy, chỉ tiêu phân loại giữa hai MT lục địa và biển vừa có tính tường đồng, vừa có sự khác biệt, đặc biệt ở cấp Lớp CQ và cấp Kiểu CQ Các cấp phân vị này có liên quan chặt chẽ đến tính phân đới theo độ sâu trong MT biển (xem hình1.1) Đối chiếu với chỉ tiêu phân loại CQ biển trong bảng 1.2 có thể thấy: Sự phân đới đối với MT đáy biển chính là sự phân hóa các khối cấu trúc lớn theo độ sâu của địa hình là cơ sở để phân chia Phụ lớp CQ biển, trong MT nước biển chính là sự phân tầng các khối nước và các đặc trưng hải dương tương ứng, đây là cơ sở để xác lập kiểu CQ biển
* P h ân loại cảnh quan các đảo san hô
Các đảo san hô thuộc quần đảo Trường Sa được hình thành trên các rạn san hô với diện tích hầu hết đều rất nhỏ (<0.5km2), do vậy để nghiên cứu CQ các đảo san hô thì các đơn vị cấu trúc hình thái CQ được xem là cơ bản [49], trên bản đồ thể hiện các đơn vị dạng và diện địa lý
- Diện địa lý được định nghĩa là “đơn vị địa lý tự nhiên nhỏ nhất, đặc trưng
bởi sự đồng nhất về địa thế, về vi khí hậu, về chế độ ẩm, về đá trên mặt, về biến chủng thổ nhưỡng và về sinh - địa quần thể'" [47] Như vậy, diện địa lý là một đơn
vị địa tổng thể nhỏ nhất, đơn giản nhất, đồng nhất nhất và có thể coi như không phân chia được nữa về phương diện địa lý
- Dạng địa lý là “tập hợp các nhóm diện địa lý ph á t triển trên mỗi một dạng
trung địa hình âm hoặc dương" [47] Như vậy, một dạng địa lý tương ứng với một
dạng trung địa hình, nếu có sự phân hóa về mặt nham thạch thì có thể có á dạng