1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

72 558 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các thể loại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 khác của văn học dân gian, ca dao đã phản ánh vai trò và vẻ đẹp của người phụ nữ tr

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

––––––––––––––––––––––––––––––––

LÊ THỊ NGUYỆT

NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG

CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên tháng 9 năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––

LÊ THỊ NGUYỆT

NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG

CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Thị Huế

Thái Nguyên tháng 9 năm 2008

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và

kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong mọi

công trình khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn

gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008

Tác giả luận văn

Lê Thị Nguyệt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Đóng góp của luận văn 10

8 Cấu trúc của luận văn 11

Nội dung luận văn 12

Chương 1 : NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN VÀ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 12

1.1 VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN . 12

1.1.1 Luật lệ " Tam tòng" 12

1.1.1.1 Ý thức " tại gia tòng phụ" 13

1.1.1.2 Ý thức " xuất giá tòng phu" 14

1.1.1.3 Ý thức " phu tử tòng tử" 15

1.1.2 Người phụ nữ với " Tứ đức" ( Công, Dung, Ngôn, Hạnh) 16

1.2 HÌNH ẢNH, VỊ THẾ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 16

1.2.1 Hình ảnh,vị thế người phụ nữ trong Văn học dân gian 16

1.2.2 Hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt 20

1.2.2.1 Nguyên nhân của vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền 20

1.2.2.2 Hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt 25

TIỂU KẾT 31

Chương 2: NÉT ĐẸP HÌNH THỨC VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 33

2.1 NÉT ĐẸP VỀ HÌNH THỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT.33 2.1.1 Quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền 33

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.1.2 Nét đẹp về thể chất của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền 35

2.1.2.1 Thống kê các hình ảnh về nét đẹp thể chất của người phụ nữ 35

2.1.2.2 Ca ngợi nét đẹp thể chất của người phụ nữ 37

2.1.2.3 Nét đẹp thể chất của người phụ nữ trong tình yêu lứa đôi 42

2.1.3 Nét đẹp trang phục của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền 52

2.1.3.1.Thống kê các hình ảnh về trang phục của người phụ nữ 52

2.1.3.2 Trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt 53

2.1.3.3 Nét đẹp trong trang phục của người phụ nữ 56

2.2 NÉT ĐẸP TINH THẦN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 70

2.2.1 Người phụ nữ thuở con gái và nét đẹp tinh thần 70

2.2.2 Người phụ nữ khi thành gia thất và nét đẹp tinh thần 78

TIỂU KẾT 89

Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 91

3.1 NHẬN THỨC VÀ HƯỚNG LÝ GIẢI 91

3.2 MỘT SỐ YẾU TỐ THI PHÁP. 92

3.2.1 Đặc điểm cấu trúc 93

3.2.1.1 Kết cấu đối đáp 94

3.2.1.2 Kết cấu gợi mở 96

3.2.1.3 Hiệu quả của thể lục bát 99

3.2.2 Thế giới biểu tượng 102

3.2.2.1 Một số biểu tượng biểu đạt nét đẹp của người phụ nữ 102

3.2.2.2 Biểu tượng hoa với vẻ đẹp người phụ nữ 107

3.2.3 Thời gian, không gian nghệ thuật 114

3.2.3.1 Thời gian nghệ thuật 115

3.2.3.2 Không gian nghệ thuật 117

TIỂU KẾT 120

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ TÀI LIỆU THAM KHẢO- PHỤ LỤC 125

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1 Lê Thị Nguyệt (2008), " Biểu tượng hoa với vẻ đẹp người phụ nữ trong ca dao cổ truyền của người Việt", Tạp chí Khoa học & công nghệ, Đại học Thái Nguyên (2), tr.3-9 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Trần Thị An (1990), “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu”,Tạp chí văn học (6), tr 54 -59 2 Đỗ Thị Bảy (1999), Sự Phản ánh quan hệ gia đình, xã hội trong tục ngữ, ca dao người Việt, ĐH Quốc Gia Hà Nội 3 Trần Đức Các (1978),“Tục ngữ với câu thơ lục bát trong ca dao dân ca”Tạp chí văn học ( 1), tr 91- 102 4 Mai Ngọc Chừ (1989), " Vần, nhịp, thanh điệu & sức mạnh biểu hiện ý nghĩa của lục bát biến thể", Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, Hà Nội 5 Cao Huy Đỉnh(1974),Tìm hiểu tiến trình VHDG Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội

Hà Nội

6 Nguyễn Thị Ngọc Điệp, (2001)“Thế giới biểu tượng sóng đôi trong ca dao

người Việt ", Văn hóa dân gian, số 3, Hà Nội

7 Vũ Tố Hảo (1986), “ Điểm lại quá trình sưu tầm nghiên cứu ca dao dân ca từ xưa đến trước Cách \mạng tháng tám”, Văn hóa dân gian (3) tr.45-52

8 Lê Như Hoa ( 1996), Phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội

9 Nguyễn Thị Huế (1986), “Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca”, Tạp chí văn học ( 3), tr 125 -136

10 Nguyễn Thị Huế- Trần thị An, (2001), Tuyển tập tục nữ- ca dao Việt Nam, Nxb

Văn học, Hà Nội

11 Trần đình Hượu (1996), Đến hiện đại từ truyền thống, NXB Văn hoá, Hà.Nội

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12 Đinh Gia Khánh chủ biên( 2003), Văn học dân gian Việt Nam- NXB Giáo dục,

Hà Nội

13.Đinh Gia Khánh chủ biên(1995),Ca dao Việt Nam, NXB Tổng hợp, Đồng Tháp

14 Đinh Gia Khánh (1996), “Nhận xét về đặc điểm của câu mở đầu trong thơ ca

dân gian”, Đại học Tổng hợp Hà Nội ( 2), tr 61 - 72

15 Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

16 Nguyễn Xuân Kính (2001), “ Một thế kỷ sưu tầm, nghiên cứu ca dao người

Việt”,Tạp chí văn học (1), tr 32 – 45

17.Nguyễn Xuân Kính (1998), “ Văn học dân gian thể hiện bản sắc văn hóa dân

gian”, Tạp chí văn hóa dân gian ( 2), tr 62 - 71

18 Nguyễn Xuân Kính ( 1983), “Qua ca dao, tục ngữ Hà Nội tìm hiểu công cuộc

xây dựng đất nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”, Văn hóa dân gian (3+4),

tr 57- 67

19 Nguyễn Xuân Kính (1987), “Ý nghĩa của hai từ trúc, mai trong văn chương

bác học và trong ca dao dân ca”, Văn hóa dân gian(4), tr 22- 29

20.Nguyễn Xuân Kính (1990),“Qua tục ngữ ca dao tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc

của người Hà Nội”, Văn hóa dân gian ( 2), tr 44 - 52

21 Nguyễn Xuân Kính (1992), “Thể thơ trong ca dao”, Văn hóa dân gian (4), tr

35 - 43

22.Nguyễn Xuân Kính (1996), "Hai khuynh hướng trong ca dao người Việt về sự

chính xác của các con số", Văn hóa dân gian (4), tr 32 -45

23 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người

Việt ( tập 1), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

24 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người

Việt ( tập 2), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

25 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người

Việt ( tập 3), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

26 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người

Việt ( tập 4), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

27 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên ( 2002), Tổng tập VHDG người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Việt ( tập 15), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

28 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên ( 2002), Tổng tập VHDG người Việt ( tập 16, quyển thượng), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

29 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên ( 2002), Tổng tập VHDG người Việt ( tập 16 quyển hạ), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

30.Nguyễn Xuân Kính- Phan Thị Hoa Lý (1999),"Ý nghĩa và cách dùng những con

số thường gặp trong ca dao, tục ngữ", Tạp chí văn hóa dân gian (3), tr 63 -78

31 Nguyễn Xuân Lạc ( 2005), "Con số "mười " trong ca dao và những bài ca dao có mô típ " một đến mười ",Nghiên cứu văn học (4), tr.48 -57

32 Nguyễn Xuân Lạc (1998), "Văn học dân gian với việc bồi đắp tâm hồn dân tộc cho thế hệ trẻ", Văn hóa dân gian (3), tr 73 -82

33 Trần Kim Liên (2002), "Góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong việc dậy- học văn học dân gian ở trường phổ thông",Văn hóa dân gian(1),tr 64 -75

34 Trần Kim Liên (2003), "Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao tình yêu", Văn hóa dân gian (2), tr 54 - 64

35 Nguyễn Tấn Long- Phan Canh (1970), Thi ca bình dân Việt Nam, NXB Sức

sống mới, Sài Gòn

36 Phạm Việt Long, (2000), Tục ngữ, ca dao và việc phản ánh phong tục tập quán người Việt, Đại học hoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội

37 Nguyễn Luân (1994), "Qua một bài ca dao, hiểu thêm về phẩm chất người phụ

nữ xưa", Văn hóa dân gian (4), tr 36 -45

38 Hồ Tuấn Niêm (1983), "Một truyền thống độc đáo và rực rỡ của văn học dân gian Việt Nam", Văn hóa dân gian (3), tr 64 -72

39 Lưu Thị Nụ (1992), Người phụ nữ qua những hình ảnh so sánh trong ca dao Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Đại học tổng hợp Hà Nội

40 Trần Đình Ngôn (1998), "Con mắt trong tục ngữ, ca dao với ngôn ngữ tạo diện hình ảnh", Văn hóa dân gian (3), tr.54 -57

41 Triều Nguyên (1996), "Thử khảo sát một số bài ca dao có mô hình cấu trúc một, hai- mười- thương ( yêu, lo ) = A", Văn hóa dân gian,(1), tr 43 -47

42 Triều Nguyên (1998), "Người khôn qua các góc nhìn của ca dao", Văn hóa dân

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

gian (3), tr.52- 60

43 Nguyễn Ánh Nguyệt ( 2001), Nghiên cứu đặc điểm thi pháp cấu trúc ca dao

trữ tình người Việt, luận văn thạc sĩ, đại học sư phạn, Thái Nguyên

44 Trương Thị Nhàn (1992), "Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín

hiệu thẩm mĩ", Văn hóa dân gian, (4), tr 38 -44

45 Trần Quang Nhật (1964), "Mấy ý kiến về việc giảng dạy ca dao tình yêu trong

chương trình lớp 8 phổ thông", Tạp chí văn học (6), tr 37 -42

46 Bùi Mạnh Nhị (1997), "Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca

dao- dân ca trữ tình", Tạp chí văn học (1), tr 21 -26

47 Vũ Ngọc Phan ( 1998), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB khoa học xã

hội, Hà Nội

48.Vũ Ngọc Phan (1997), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập I phần văn học dân

gian, NXB văn học, Hà Nội

49.Vũ Ngọc Phan(1968),"Sức truyền cảm của ca dao truyền thống",Báo văn hóa

(10)

50 Vũ Ngọc Phan (1966), "Tinh thần chống ngoại xâm của phụ nữ qua ca dao xưa

và nay", Tạp chí văn học (9), tr 34 -43

51 Nguyễn Hằng Phương (2003), "Hai phương thức nghệ thuật trong ca dao cổ

truyền người Việt", Tạp chí văn học (6), tr 63 -69

52 Nguyễn Hằng Phương ( 2001), "Cảm hứng chủ đạo trong ca dao ngườiViệt",

Văn hóa dân gian (3), tr 46 -53

53 Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội

54 Trần Đình Sử(1993), "Những tìm tòi mới về thi pháp ca dao", Tạp chí văn hóa

dân gian (2), tr 21 -33

55 Trần Ngọc Thêm ( 2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TPHCM

56 Nguyễn Văn Thông (2000), "Tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt qua tục

ngữ", Văn hóa dân gian (2), tr.34 -40

57 Đỗ Thị Thu Thủy (2003), Chủ đề gia đình trong ca dao cổ truyền người Việt,

Đại học sư phạm Thái Nguyên

58 Đặng Diệu Trang (2005), "Sinh hoạt diễn xướng- môi trường nảy sinh và phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

triển của ngôn ngữ ca dao", Văn hóa dân gian (5), tr 36 -45

59 Đỗ Bình Trị, (2000), Nghiên Cứu tiến trình lịch sử Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội

60 Đỗ Bình Trị- Trần Đình Sử (1998) Văn học- Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học hệ Cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2 tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội

61 Vũ Anh Tuấn (1994), Mấy vấn đề hiện nay về việc nghiên cứu và giảng dậy văn học dân gian trong nhà trường, Đại học Sư Phạm Thái Nguyên

62 Vũ Anh Tuấn- Nguyễn Xuân Lạc (1993), Giảng văn văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội

63 Tạ Đăng Tuyên (1998), "Tục ngữ, ca dao và lời ru với việc giáo dục giá trị đạo đức- nhân văn", Văn hóa dân gian (1), tr 23 -28

64 Phạm Thu Yến (1998), Những thế giới nghệ thuật ca dao NXB Giáo dục,

Hà Nội

65.Phương Yến" Lệ tục làng xã cổ truyền và những ảnh hưởng đối với người phụ nữ ở xã hội phong kiến, báo điện tử thongtinphapluatdansu.wrdpres

com, ngày 27-1-2008

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng

Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian Là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm

hồn Việt Nam qua bao thế hệ Từ cái thủa vẫn còn nằm nôi, chúng ta đã được

nghe những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà, của mẹ Có

thể nói ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt

Nam, bởi nó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn

tiếng nói hàng ngày của người lao động Trong kho tàng văn học dân gian, ca

dao trữ tình người Việt là nơi thể hiện rõ nhất "điệu tâm hồn dân tộc" (Tố Hữu),

bởi cảm hứng cội nguồn, chức năng chủ đạo và nội dung căn bản của ca dao là

sự phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm,

cảm xúc đa dạng của nhân dân Do đó một trong những nét chủ đạo của ca dao

truyền thống là sự thể hiện hết sức phong phú tư tưởng tình cảm của con người

nói chung, người phụ nữ nói riêng Ca dao viết về người phụ nữ là một vấn đề

hết sức hấp dẫn và lôi cuốn, bởi qua đó phần nào ta hiểu được đời sống tâm hồn,

tình cảm của họ trong xã hội xưa và nay

Ca dao viết về người phụ nữ, từ trước cho tới nay, đã có nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm và có những bài viết có giá trị đặc sắc Tuy nhiên các nhà

nghiên cứu mới chỉ tập trung vào phản ánh từng khía cạnh, yếu tố riêng lẻ về

hình ảnh người phụ nữ trong ca dao và hầu như mới chỉ tập trung làm rõ nỗi

khổ của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa

Qua việc tìm hiểu bước đầu, chúng tôi nhận thấy hình ảnh của người phụ

nữ được phản ánh trong ca dao cổ truyền khá đậm nét Điều đó cho thấy người

phụ nữ Việt Nam đã giữ một vai trò quan trọng đặc biệt trong lao động sản xuất

nông nghiệp và hoạt động xã hội Từ nghìn xưa người phụ nữ đã có một vị trí

xứng đáng trong các hoạt động xã hội của nền sản xuất đó, mặc dù chế độ

phong kiến đã cố tình đánh giá thấp kém vai trò của họ Cùng với các thể loại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2

khác của văn học dân gian, ca dao đã phản ánh vai trò và vẻ đẹp của người phụ

nữ trong sản xuất lao động, trong gia đình và trong những sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ không được coi trọng, họ không được tham gia vào các hoạt động xã hội Nhưng trong văn học dân gian, nhất là

ở ca dao người phụ nữ đã được ngợi ca cả về vẻ đẹp hình thức và tâm hồn Vẻ đẹp của người phụ nữ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của con người Việt Nam, khẳng định sức sống và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

Hơn nữa ca dao là thể loại được nghiên cứu và giảng dậy ở nhiều cấp học khác nhau Cho nên là một nhà giáo, tôi thấy việc đi sâu nghiên cứu nét đẹp của con người, nhất là nét đẹp của người phụ nữ sẽ có ý nghĩa thiết thực phục vụ

cho việc giảng dạy và giáo dục nhân cách của học sinh trong sự nghiệp "trồng người"

Ngoài ra, trong số những tài liệu mà chúng tôi bao quát được từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề này Do vậy chúng tôi đã chọn đề tài:

Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha Ca dao dân ca là kết tinh thuần

tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Do đó từ

lâu các nhà nghiên cứu folklore nước ta đã đặt vấn đề và chú tâm nghiên cứu về

ca dao dân ca Trong đó ca dao người Việt hết sức phong phú và đa dạng, nên từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3

Năm 1957 khi đề cập đến vấn đề hình tượng người phụ nữ trong ca dao,

với Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (đến năm 2008 đã tái bản nhiều lần), ông

Vũ Ngọc Phan khẳng định: trong cuộc đời người phụ nữ phải chịu nhiều nỗi

khổ quá và chịu nhiều thiệt thòi quá Mặc dù công sức đóng góp cho xã hội và

gia đình không thua kém gì đàn ông, nhưng trong thực tế người phụ nữ không

có quyền lực gì Lý do đẩy người phụ nữ vào địa vị thấp kém là vì " chế độ hôn

nhân đã xây dựng trên cơ sở kinh tế của xã hội cũ" [47,tr.231] Về mặt nghệ

thuật, ông Vũ Ngọc Phan nêu nhận xét rằng: những hình tượng ẩn dụ như hoa

quả, con cò thường được sử dụng để ví, để làm rõ nỗi khổ và vẻ đẹp của

người phụ nữ một cách hết sức tế nhị và kín đáo.[47,tr.254]

Năm 1969, ở tập chuyên luận Thi ca bình dân Việt Nam, hai tác giả

Nguyễn Tấn Long và Phan Canh đã phân tích một cách hết sức tỉ mỉ và sâu sắc

về nỗi khổ của người phụ nữ trong ca dao Hai ông khẳng định về nội dung:

Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi và áp bức nhất trong xã hội Họ bị lệ thuộc

vào người đàn ông và bị tước hết mọi quyền lực Họ phản ứng lại với những bất

công bằng nhiều cách khác nhau Họ dám chống lại luật lệ khe khắt, đi theo

tiếng gọi của tình yêu đích thực.[35]

Năm 1973, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ

biên và các tác giả Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn cũng đã được tái bản bổ

sung nhiều lần là một cuốn sách có đóng góp quan trọng cho việc học tập

nghiên cứu văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng Đặc biệt là chương 3:

Các thể loại văn học dân gian Việt Nam phần C; Các thể loại trữ tình dân gian

(phần II: Lịch sử và xã hội, đất nước và con người trong ca dao dân ca Việt

Nam ).Ở phần này các tác giả đã đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa :Ca dao

dân ca phản ánh lịch sử; Ca dao dân ca trữ tình về sinh hoạt gia đình-Nhân vật

chính là người phụ nữ lao động Việt Nam.[12,tr.445]

Năm 1974, trong công trình nghiên cứu Tìm hiểu tiến trình văn học dân

gian Việt Nam, Cao Huy Đỉnh khẳng định rằng : Vấn đề thân phận con người,

trước hết là số phận người dân nô lệ và người phụ nữ lao động là chủ đề chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4

của ca dao dân ca Cuộc đời người phụ nữ là một chuỗi những nỗi khổ đau dài dằng dặc Sống một mình cũng khổ, lấy chồng cũng khổ và khổ hơn nữa nếu như phải làm lẽ [5,tr.64]

Về nghệ thuật, Cao Huy Đỉnh cũng nêu một nhận xét: Hình tượng con cò thường được sử dụng để miêu tả hình ảnh người phụ nữ với một âm điệu buồn man mác [5,tr.78]

Năm 1978, trong cuốn Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam, nhà nghiên cứu văn học dân gian Đỗ Bình Trị cho rằng: hình

tượng người phụ nữ thường được gặp nhiều nhất trong hai dạng thức là bài ca

về sinh hoạt gia đình và bài ca trữ tình về tình yêu- hôn nhân( bài ca giao duyên) Những nội dung mà ông Đỗ Bình Trị đề cập đến trong công trình này là: Bài ca về sinh hoạt gia đình chủ yếu diễn tả sâu sắc nỗi đau khổ của người phụ nữ ở trong gia đình và ngoài xã hội Tác giả công trình đã khẳng định: sự phản kháng mãnh liệt đó bắt nguồn từ những mâu thuẫn với ách áp bức nặng nề của chế độ gia trưởng Song mặt khác nó còn có cơ sở ở cách nhìn nhận vấn đề

tình yêu và hôn nhân của người trong cuộc:" Đối với người phụ nữ, hôn nhân trên cơ sở tình yêu trong thời đó là viễn cảnh hạnh phúc của sự tự do tinh thần

và đời sống sung sướng" [59,tr.123]

Năm 1992 với Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã đi sâu nghiên cứu

một cách có hệ thống các yếu tố thi pháp về các mặt: Ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu thời gian không gian nghệ thuật, một số biểu tượng hình ảnh truyền thống trong

ca dao [15] Đây là cuốn sách có giá trị rất lớn, cung cấp cho độc giả những tri thức cụ thể và khái quát về nhiều vấn đề, giúp ích cho việc nghiên cứu ca dao Trên đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu có đề cập một cách khái quát nhất về hình tượng người phụ nữ trong ca dao

Ngoài ra có nhiều các bài viết của các nhà nghiên cứu viết về đề tài

người phụ nữ trong ca dao, trong đó có bài viết Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca, (1986) của Nguyễn Thị Huế Tác giả đã khẳng định: " có những bài ca dao dân ca đã nói lên vai trò phụ nữ trong sinh hoạt văn nghệ Những bài hát

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5

đó chứng tỏ tài năng của phụ nữ đã được đặt ở vị trí ngang bằng hoặc có khi

trội hơn cả nam giới trong sinh hoạt văn nghệ." [9,tr.125] Để rồi qua những

cuộc hát đối đáp nam nữ " có nhiều phụ nữ đã là những nghệ nhân tỏ ra xuất

sắc như một tài năng "thiên bẩm" trong lĩnh vực sinh hoạt dân ca" Ta thấy

được người phụ nữ trong sinh hoạt văn nghệ "đã góp phần phản ánh lối sống

lành mạnh, phóng khoáng của nhân dân lao động" "Giữ địa vị chủ yếu trong

việc diễn xướng lối hò hát tâm tình, người phụ nữ ở đây đã nói về mình nhiều

hơn, đã bộc lộ tâm trạng của mình một cách sâu lắng hơn".[9,tr.123] Nên

chính qua lời ca tâm tình ấy mà " chủ đề về thân phận người phụ nữ đã nổi lên

rõ rệt nhất".[9,tr.133] Ta thấy được tâm hồn của người phụ nữ " vừa rắn rỏi mà

dịu hiền, kiên nghị mà đằm thắm thiết tha" [9,tr.133] và " khi nhắc tới mỗi làn

điệu dân ca nổi tiếng nào, thường tình người ta hay nhớ tới hình ảnh những cô

gái của quê hương đó, như là biểu trưng cho vẻ đẹp, những nét đặc thù của các

làn điệu dân ca ấy".[9,tr.134] Tác giả Nguyễn Thị Huế đã khẳng định " Sự

nghiên cứu về lời ca đưa đến những hiểu biết về tâm hồn người phụ nữ, sự

nghiên cứu về hình thức diễn xướng dân ca cho ta thấy vai trò sáng tạo, sự

đóng góp phong phú của họ về mặt nghệ thuật trong lĩnh vực văn học dân gian"

[9,tr.135]

Những nhận định này đã hướng chúng tôi đi vào nghiên cứu nét đẹp của

người phụ nữ trong ca dao cổ truyền cả về hình thức và tâm hồn

Năm 1994, tác giả Nguyễn Luân Qua một bài ca dao, hiểu thêm về

phẩm chất của người phụ nữ xưa, đã cho thấy những phẩm chất cao đẹp của

người phụ nữ luôn tỏa sáng trong bất cứ hoàn cảnh nào: " Một trái tim yêu

thương nồng thắm, một tâm hồn cao thượng như vậy lại bị đối xử một cách phũ

phàng Cảnh ngộ trớ trêu khiến ai nghe cũng cảm thấy thương cho cô gái Càng

cảm thương cô gái, ta càng căm giận người chồng nhẫn tâm Nhưng xét đến

cùng thái độ của người chồng là sản phẩm của đạo lý ích kỷ của giai cấp thống

trị Trong hoàn cảnh đó, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ vẫn tỏa sáng,

càng tỏa sáng." [37,tr.38]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6

Năm 1996, tác giả Triều Nguyên trong bài Thử khảo sát một số bài ca dao có mô hình cấu trúc một, hai- mười- thương ( yêu, lo ) //, khi tìm hiểu

nhóm chủ thể trữ tình là nam giới trong nhóm những bài ca này đã thấy nét đẹp

của người phụ nữ có những điểm đáng yêu sau: "- Xinh đẹp, duyên dáng ( má lúm đồng tiền, răng nhánh hạt huyền kém thua ) - Trang phục đẹp ( cổ yếm đeo bùa, nón thượng quai tua; yếm đào, khăn thắm thêu hoa) - Ăn nói có duyên, có phẩm chất tốt, khôn khéo ( ăn nói mặn mà có duyên, nết ở khôn ngoan, miệng chào có duyên, nết na, hiền tài)- Còn độc thân ( để có thể cầu hôn) ( cô chửa có ai)" [41,tr.43] Còn ở nhóm chủ thể trữ tình là nữ giới, tác giả đã nhận xét:

" Tình yêu của người phụ nữ được bộc lộ bằng sự quan tâm, lo lắng cho người bạn tình Đối với người bạn tình, đàn ông chú ý nhiều đến cái đẹp bên ngoài, trong lúc phụ nữ lại quan tâm đến những khía cạnh thuộc về cuộc sống "[41,tr.45]

Bài viết này cũng đã định hướng cho chúng tôi tìm hiểu một cách hệ thống, toàn diện về nét đẹp người phụ nữ xưa trong ca dao người Việt

Năm 1998, trong Những thế giới nghệ thuật của ca dao, Phạm Thu Yến

cũng đã đã nêu lên cảm hứng về thân phận người phụ nữ trong ca dao truyền thống và trong thơ hiện đại Tác giả đã có cái nhìn khái quát về thân phận người phụ nữ trong ca dao truyền thống để nói lên nỗi khổ và vẻ đẹp tâm hồn của họ.[64]

Năm 2005, với bài viết Con số " Mười" trong ca dao và những bài ca dao có mô típ " Một đến mười ”, Nguyễn Xuân Lạc đã đưa ra nhận xét " Nếu

lễ giáo phong kiến quy định tứ đức của người phụ nữ là công, dung, ngôn, hạnh thì phải chăng bức tranh cô gái trong Mười thương là sự dân gian hóa cái tứ đức ấy theo quan niệm của người lao động Và cô gái hiện lên thật dễ thương biết bao khi cô có đủ cả " mười thương" [31,tr.50]

Ý kiến này đã gợi ý cho chúng tôi đi vào tìm hiểu cái nhìn của người xưa về nét đẹp hình thể của người phụ nữ luôn phù hợp với cuộc sống người lao động

và nét đẹp về hình thể lại rất hài hòa với vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7

Tiếp tục việc nghiên cứu về ca dao dân ca, phải kể đến các luận án tiến sĩ

luận văn thạc sĩ của các nghiên cứu sinh, học viên và luận văn, báo cáo khoa

học của sinh viên khoa ngữ văn các trường đại học Tiêu biểu có luận án Tiến sĩ

với đề tài Tục ngữ, ca dao và việc phản ánh phong tục tập quán người Việt, (

2000) của Phạm Việt Long đã cho thấy vẻ đẹp về phong tục tập quán của người

Việt trong sinh hoạt, lối sống, trang phục, quan hệ [36]

Luận văn thạc sĩ Chủ đề gia đình trong ca dao cổ truyền người Việt (2003)

của Đỗ Thị Thu Thủy Tác giả đã cho thấy những quan niệm và cung cách ứng

xử của người Việt trong phạm vi đời sống sinh hoạt gia đình Nổi bật là vai

trò,vị trí quan trọng của người phụ nữ ở cung cách ứng xử văn hóa gia đình

người Việt.[57]

Đáng chú ý có luận văn tốt nghiệp của Lưu Thị Nụ khoa ngữ văn ĐH tổng

hợp Hà Nội với đề tài Người phụ nữ qua những hình ảnh so sánh trong ca dao

Việt Nam ( 1992) Tác giả đã tìm hiểu hình tượng thơ ca là người phụ nữ với tất

cả các biểu hiện về ngoại hình, về tính cách, về thân phận và đặc biệt là về tâm

trạng của người phụ nữ được thể hiện qua thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca

dao như thế nào

Bên cạnh đó còn có luận văn Tìm hiểu thân phận người phụ nữ qua ca

dao với mô típ thân em ( 2001) của tác giả Lê Lan Anh (Đại học Khoa học xã

hội và nhân văn) Luận văn Thể thơ lục bát trong ca dao tình yêu người Việt (

2002) của tác giả Phạm Thanh Huyền( ĐHSP Thái Nguyên) và Luận văn Diễn

xướng ca dao tình yêu người Việt (2006) của tác giả Nguyễn Thị Huế (ĐHSP

Thái Nguyên).v.v

Qua các chuyên luận, các bài viết kể trên, chúng tôi có thể rút ra những

điểm sau: Hầu hết các tác giả nghiên cứu đều đề cập đến đề tài người phụ nữ

trong ca dao dân ca chủ yếu về phương diện nội dung phản ánh của hình tượng

này Thân phận khổ đau của người phụ nữ trong xã hội cũ được đề cập nhiều

nhất Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều đi đến một nhận định chung

thống nhất rằng :

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8

Qua ca dao, người phụ nữ Việt Nam hiện lên với một vẻ đẹp cao quý cả

về phẩm chất lẫn tâm hồn Họ luôn phải chịu những bất công, khổ cực trong xã hội cũ Nhưng họ đã chủ động bảo vệ tình yêu, hạnh phúc, đấu tranh với những

lề luật và những bất công mà chế độ phong kiến đã gây ra

Về phương diện nghệ thuật, ta thấy các tác giả đã chú ý đến các hình tượng để miêu tả người phụ nữ trong ca dao, những hình tượng này thường là đẹp mà buồn

Như vậy khám phá vẻ đẹp của con người nhất là người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt vẫn luôn là đề tài cần được khai thác

3 Mục đích nghiên cứu:

3.1 Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu quan điểm thẩm mĩ của nhân

dân lao động về vẻ đẹp của người phụ nữ xưa

3.2 Đề tài cũng khẳng định những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của người phụ nữ nói riêng và con người Việt Nam nói chung Từ đó phát huy những vẻ đẹp đó để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận văn của chúng tôi có tên là :" Nét đẹp của người phụ nữ

trong ca dao cổ truyền người Việt" Vì vậy đối tượng nghiên cứu của chúng

tôi là nét đẹp của người phụ nữ được phản ánh trong ca dao cổ truyền trước năm

1945 Nhìn chung nét đẹp của người phụ nữ rất phong phú, nhưng chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu những nét đẹp về hình thức và nét đẹp về tinh thần làm ngời sáng vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tư liệu về ca dao rất dồi dào, phong phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều công

trình Nhưng với đề tài Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền

người Việt, nên đối tượng khảo sát chính của chúng tôi là bộ phận ca dao cổ

truyền của người Việt Cụ thể tư liệu khảo sát được khai thác chủ yếu là: Tổng tập Văn học dân gian người Việt ( 2002), Nxb khoa học xã hội, H Đây là một

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9

công trình tập thể được biên soạn công phu gồm 19 tập về tất cả các thể loại của

văn học dân gian người Việt Chúng tôi sử dụng tập 15,16 (quyển thượng,

quyển hạ) là tập nói về ca dao người Việt

Ngoài ra chúng tôi có tham khảo thêm Kho tàng ca dao người Việt(1995),

4 tập, do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb văn hóa thông tin,

H; Tục ngữ ca dao dân ca (1957, tái bản 1998) của Vũ Ngọc Phan; Tuyển tập

tục ngữ ca dao Việt Nam ( 2001) do Nguyễn Cừ, Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An

biên soạn, Nxb Văn học, H v.v

Trong quá trình tiến hành thống kê và phân tích, đối chiếu, so sánh, chúng

tôi cũng có thể sử dụng thêm một số tư liệu có sẵn, được trích dẫn lại trong các

công trình có liên quan Các tư liệu này đều được chú thích rõ nguồn gốc, xuất

xứ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu :

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên

cứu của luận văn này là:

5.1 Tìm hiểu những tiền đề lý luận chung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

của luận văn Tìm hiểu vai trò vị thế của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền

5.2.Từ Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 15,16 ( quyển thượng, quyển

hạ) gồm 11.001 lời theo chín chủ đề lớn ( Đất nước và lịch sử; Quan hệ gia

đình, xã hội, Lao động và nghề nghiệp; Tình yêu lứa đôi; Sinh hoạt văn hóa văn

nghệ; Những lời bông đùa, khôi hài, giải trí; Những nỗi khổ, những cảnh sống

lầm than; Những thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội; Kinh nghiệm sống và

hành động), chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân loại để lựa chọn ra những lời

ca dao nói về nét đẹp hình thức và nét đẹp về tinh thần của người phụ nữ

5.3 Nghiên cứu nét đẹp hình thức và nét đẹp tinh thần của người phụ nữ trong

ca dao cổ truyền người Việt Trên cơ sở đó làm sáng rõ quan điểm thẩm mĩ ca

ngợi nét đẹp tự nhiên, đề cao nét đẹp tinh thần và sự kết hợp hài hòa giữa nét

đẹp hình thức với tinh thần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10

6 Phương pháp nghiên cứu :

Nhằm đạt được những mục đích đặt ra để triển khai đề tài này chúng tôi chú ý đến các phương pháp chủ yếu sau :

Phương pháp định lượng qua thống kê phân loại :

Trước hết chúng tôi tiến hành thống kê toàn bộ số lượng những lời ca nói

về người phụ nữ qua từng giai đoạn, thể hiện ở từng khía cạnh, sau đó chúng tôi phân loại, khảo sát cụ thể và cuối cùng định lượng về số lượng những lời ca ở từng khía cạnh Đó là cơ sở khoa học cho những nhận định, kết luận của luận văn Qua kết quả thống kê phân loại chúng tôi có thể rút ra những nhận xét một cách chính xác, khách quan và khoa học

Phương pháp phân tích, tổng hợp- bình:

Trên cơ sở của việc thống kê, phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích, hệ thống hóa Dựa vào kết quả của sự phân tích, chúng tôi sẽ tổng hợp để rút ra những kết luận khái quát

Trong quá trình đó chúng tôi có sử dụng phương pháp bình Đây không phải là phương pháp chủ yếu mà đây chỉ là cách tiếp cận sâu hơn khi cần khái quát tư duy của các tác giả dân gian

Ngoài những phương pháp cơ bản trên đây, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn vận dụng một số phương pháp liên ngành như: lí luận văn học, văn học sử, phong cách học, phương pháp so sánh.v.v

7 Đóng góp của luận văn

- Góp thêm một nhận thức về vẻ đẹp, quan điểm thẩm mĩ của nhân dân lao động trong ca dao

- Gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc để khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc trong nét đẹp người phụ nữ và con người Việt Nam

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11

8 Cấu trúc của luận văn :

Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Người phụ nữ trong xã hội phong kiến và trong

ca dao cổ truyền người Việt

Chương 2: Nét đẹp hình thức và tinh thần của người phụ nữ trong

ca dao cổ truyền người Việt

Chương 3: Nghệ thuật biểu đạt nét đẹp của người phụ nữ trong

ca dao cổ truyền người Việt

ngƯêi phô n÷ trong x· héi phong kiÕn vµ TRONG

ca dao cæ truyÒn ngƯêi ViÖt

1.1 VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN

Dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ ý thức hệ của tư

tưởng Trung Hoa, mà đối với người phụ nữ nặng nề nhất là đạo "Tam tòng" Nó

là ba trách nhiệm quy định cho người phụ nữ phải theo và coi đó như là bổn

phận Bên cạnh đó chuẩn mực "Tứ đức" là yêu cầu phẩm hạnh phải có của

người phụ nữ Những luật lệ, chuẩn mực của xã hội phong kiến đã hạn chế quyền hạn của người phụ nữ trong đời sống Đối với gia đình người phụ nữ bị lệ thuộc, đối với xã hội lại càng không được coi trọng Để thấy được vị trí của người phụ nữ trong xã hội phong kiến như thế nào, ta cùng đi vào tìm hiểu vài

nét về luật lệ "Tam tòng" và chuẩn mực "Tứ đức"

1.1.1 Luật lệ " Tam tòng "

"Ðiều bất bình đẳng đối với người phụ nữ xưa chính là việc họ bị "gạt" ra

khỏi cuộc sống rộng lớn của xã hội và "dồn" vào khuôn khổ chật hẹp của đời sống gia đình Xã hội phong kiến, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo đã thể chế hóa điều này bằng" Đạo tam tòng": Tại gia tòng phụ; Xuất giá tòng phu; Phu tử tòng tử ( Ở nhà theo cha; Lấy chồng theo chồng; Chồng chết theo con trai) Theo Ngô Quốc Đông Phụ nữ xưa và nay báo điện tử

nhândân.com.vn, ngày 22-10-2007

Thực chất sự ràng buộc tinh thần của " Đạo tam tòng" xuất phát từ cơ sở

kinh tế của nó Cơ sở ấy là quyền thừa kế tài sản Ðây cũng là khởi nguồn của quan niệm phu tử tòng tử Bị tước mất quyền thừa kế tài sản, tất cả tài sản đều thuộc sở hữu của người con trai, từ đó người phụ nữ bị rơi cảnh phụ thuộc,

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13

nương nhờ vào con trai để sống Không những thế quan niệm tòng tử còn trói

buộc hạnh phúc của nhiều người phụ nữ Trong khi "trai năm thê bảy thiếp" thì

"gái chính chuyên chỉ có một chồng" Ðôi khi sức sống, niềm khát khao của họ

bị cái "chính chuyên" kiềm tỏa mà không thể thoát ra được Tái giá được xem là

"phản bội", vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội Người tái giá đa số cũng chỉ

làm tôi thiếp, bị thiệt thòi, hiếm có được ý nghĩa thật sự của hai từ hạnh phúc "

Do pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc

của tư tưởng Nho giáo nên vị trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội rất

mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới

Đạo tam tòng đã buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt vô

hình" [65]

Cho nên "Đạo Tam tòng" là một nghiêm lệnh tước đoạt hoàn toàn quyền

hạn của người phụ nữ trong đời sống

1.1.1.1 Ý thức " tại gia tòng phụ"

Nói tòng phụ tức phụ quyền được đề cao Người cha có quyền uy tuyệt

đối trong gia đình Người con gái phải nghe theo cha, phục tùng mệnh lệnh của

cha mẹ mà ít có những chính kiến cá nhân " Khi còn tại gia, mẹ thường dạy con

gái ăn ở làm sao cho tử tế, cho được tiếng gái lành "Tứ đức" đặc biệt được chú

trọng đưa vào giáo dục con gái trong giai đoạn này Với Tứ đức, bao giờ người

con gái cũng phải thu mình với công, dung, ngôn, hạnh, luôn luôn phải giữ gìn

tiết hạnh làm câu sửa mình" [65] Người con gái trong gia đình xưa được giáo

dục rất bài bản cách ăn ở cư xử trước khi về nhà chồng Ý thức này bắt người

con gái trong gia đình khi lớn lên phải phục tùng tuyệt đối cha mẹ Sự phục tùng

ấy một mặt do guồng máy phong kiến áp đặt thành một luật lệ, một mặt do quan

niệm giáo điều của Nho giáo đã ăn sâu vào dân gian khiến cho mọi người con

gái lớn lên đều cảm thấy tự mình có nghĩa vụ như vậy và họ cho rằng sự định

đoạt của cha mẹ là cái gì đó thiêng liêng cao cả Khi đã tự mình cho không có

quyền hạn gì họ đem số phận của mình ủy thác vào cha mẹ Đặc biệt là vấn đề

hôn nhân Và rồi từ đó người con gái có cảm giác hôn nhân là sự may rủi, là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14

định mệnh trong đời mình : "Sự bất bình đẳng đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến thể hiện rõ nét trong việc hôn nhân và những phong tục về hôn nhân Con cái nói chung và người con gái nói riêng không có quyền tự do đối với việc hôn nhân của mình mà hoàn toàn do cha mẹ sắp đặt " Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy" Dù trai gái có thương nhau nhưng cha mẹ không bằng lòng thì hôn nhân cũng bị tan vỡ Và khi cha mẹ bằng lòng thì dù không thương nhau cũng phải lấy nhau".[65]

Hơn nữa pháp luật của Nhà nước phong kiến (được các làng tuân thủ thành lệ tục), người phụ nữ không phải là đại diện chính thức của quyền thừa

kế Ở hầu hết các làng, khi bố mẹ mất, những người con gái đã xuất giá không được chia và không có quyền đòi hỏi chia tài sản Đối với ruộng đất hương hoả (và cả nhà thờ họ), nếu ngành trưởng tuyệt tự thì phải chuyển cho con trai của ngành thứ quản lý, còn bản thân những người con gái của ngành trưởng không

có quyền sử dụng số tài sản đó

1.1.1.2 Ý thức " xuất giá tòng phu"

Rời nhà cha mẹ đẻ, phụ nữ bước vào cuộc đời xuất giá tòng phu Bên cạnh trách nhiệm người vợ, người phụ nữ còn làm thêm nghĩa vụ của người con trong gia đình mới Có thể nói, cô con dâu mới phải quán xuyến hầu hết những công việc, vừa tham gia lao động sản xuất với nhà chồng Đây là quy luật bắt buộc người phụ nữ có chồng phải đi theo chồng, tuân theo mệnh lệnh của chồng Ý thức này đã ăn sâu vào dân gian Nếu người con gái lúc ở nhà cha mẹ

đã không có một quyền hạn nào định đoạt lấy thân phận của mình thì lúc lấy chồng cũng không có quyền sống cho mình mà phải sống cho chồng, cho gia

đình chồng " Ý thức này gây cho phụ nữ một ấn tượng xem mình như kẻ phụ thuộc, sống nhờ vào người khác, có tư tưởng yếu đuối cầu an Họ chỉ biết làm sao cho chồng thương để nhờ vào sự che chở của chồng Hơn nữa tình trạng đa thê được pháp luật và tập tục công nhận: Trai khôn năm, bảy vợ - Gái chính chuyên chỉ một chồng Không phải chỉ khi vợ, chồng không có con hoặc không

có con trai, người vợ vẫn phải chấp nhận để chồng có thêm vợ lẽ hoặc nàng

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15

hầu" [65]

Tục đa thê đã gây nên rất nhiều khổ đau cho người phụ nữ trong xã hội

Chế độ "Tòng phu" đã làm cho người đàn ông không chỉ có đặc quyền được

người vợ phục tùng mà còn gây nhiều bất công như nạn chồng đánh vợ, nạn đàn

ông lấy vợ lẽ, mẹ chồng hành hạ nàng dâu.v.v

1.1.1.3 Ý thức " phu tử tòng tử"

Đây là quy luật biến người phụ nữ thành của riêng người đàn ông Chẳng

những họ phải thờ chồng như lúc sống mà cả đến lúc chết cũng phải một dạ thờ

chồng "Chế độ phụ quyền dùng đạo "Tam tòng" để bắt người phụ nữ phải

sống trong khuôn khổ lệ thuộc đàn ông Trong quan hệ hôn nhân, xã hội cũng ít

chấp nhận việc ly dị, nhất là khi phụ nữ là người chủ động" [65] Dư luận xã

hội luôn có ác cảm đối với những người phụ nữ gặp phải điều bất hạnh này

trong hôn nhân, dù trong nhiều trường hợp họ không phải là người có lỗi Nhiều

người phụ nữ đã phải cam chịu một cuộc hôn nhân không có hạnh phúc trong

suốt cả cuộc đời Lệ tục làng xã còn cư xử đầy nghiệt ngã đối với những phụ nữ

không chồng mà chửa, ngoài ra còn tước đi quyền làm mẹ chính đáng của nhiều

phụ nữ không may mắn có được một mái ấm gia đình, buộc họ phải suốt đời

sống trong cảnh cô đơn Nhiều người đã phải bỏ làng ra đi để giữ lấy thanh

danh của gia đình, dòng họ.v.v

Có thể nhận thấy rằng, trong pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng

xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên vị trí và vai trò của người

phụ nữ trong xã hội rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình

đẳng so với nam giới "Đạo tam tòng" đã buộc chặt người phụ nữ vào những

khuôn phép khắc nghiệt vô hình Chế độ phụ quyền với tư tưởng Nho giáo hà

khắc, nghiệt ngã thực sự đã gây ra cho người phụ nữ xưa vô vàn những nỗi khổ

đau cả về vật chất lẫn tinh thần Đồng thời người phụ nữ trong xã hội phong

kiến đã bị chế độ phụ quyền áp đảo làm mất hết quyền hạn và giá trị nên có một

vị trí thấp kém trong xã hội phong kiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16

1.1.2 Người phụ nữ với "Tứ Đức" (Công, Dung, Ngôn, Hạnh)

" Theo quan niệm xưa, Công là sự khéo léo của phụ nữ trong việc làm tại gia đình Họ phải biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, việc gì cũng cần chu đáo, không chỉ khéo léo về nữ công gia chánh, đảm đang nội trợ mà còn phải biết “đối nội, đối ngoại” khôn khéo, nuôi dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan Dung là sự hòa nhã trong sắc diện Đó là vẻ đẹp của sự hài hòa giữa hình thức

và tâm hồn Các cụ ta có câu “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang/Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”, lời nói có duyên bao giờ cũng gây được thiện cảm với người nghe Ngôn trong Tứ Đức là lời nói dịu dàng, có duyên Không thể phủ nhận sức thuyết phục của người phụ nữ mỗi khi lên tiếng khuyên chồng, dạy con

ở nhà, cho đến dàn xếp công việc, thương lượng trong kinh doanh, buôn bán Hạnh thể hiện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Đó là thương chồng, thương con, giàu lòng nhân ái, đức hy sinh, son sắt thủy chung" Theo Vũ Thanh Phúc, Đôi điều về Công, Dung, Ngôn, Hạnh của phụ nữ, báo điện tử bacninh.gov.vn/Story ngày 20/3/2007

Do đó trong thước đo của xã hội phong kiến, Công, Dung, Ngôn, Hạnh là

chuẩn mực quan trọng để đánh giá vẻ đẹp của người phụ nữ

Như vậy "Tứ đức" ngoài phần tích cực là khiến người phụ nữ tự rèn mình theo chuẩn mực để hướng tới cái đẹp, còn cùng với luật " Tam tòng" trói buộc

cuộc đời người phụ nữ vào những tư tưởng hà khắc của xã hội phong kiến, đồng thời đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém trong xã hội

1.2 HÌNH ẢNH, VỊ THẾ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

1.2.1 Hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong văn học dân gian

"Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay".[12,tr.7]

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17

Từ khái niệm trên ta thấy văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật

Nói đến văn học dân gian là nói đến một thế giới nghệ thuật được sáng tạo

nhằm phản ánh sinh động cuộc sống thực tế Chất liệu chủ yếu để tạo nên tác

phẩm văn học dân gian là ngôn từ Ngôn từ đóng vai trò quan trọng tạo nên nội

dung ý nghĩa tác phẩm Văn học dân gian ra đời, tồn tại và phát triển nhờ truyền

miệng Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể Văn học dân

gian gắn bó mật thiết với các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng

Do đó nội dung của văn học dân gian vô cùng phong phú, không bị bó hẹp trong

phạm vi phản ánh các hoạt động cụ thể của con người mà thường mở rộng ra

những vấn đề của đời sống tự nhiên và xã hội liên quan đến cộng đồng, dân tộc,

thậm chí toàn nhân loại Cho nên bản sắc văn hóa của con người Việt Nam, đặc

biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ đã được in đậm trong văn học dân gian

Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân

tộc khác trên thế giới, có những thể loại chung và những thể loại riêng, hợp

thành một hệ thống Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và

cách thức riêng Khác với hình ảnh thực trong xã hội phong kiến, hình ảnh

người phụ nữ được phản ánh trong các thể loại của văn học dân gian luôn xuất

hiện với giá trị, vẻ đẹp và được tôn vinh thể hiện khát vọng tự do, khát vọng

được đề cao của người phụ nữ

Trong kho tàng thần thoại và truyền thuyết của người Việt, hình ảnh

người phụ nữ luôn được đề cao Truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ kể về sự ra

đời của loài người, trong đó coi bà Âu Cơ là Mẹ ( Mẹ Tiên) Quan niệm của

người xưa cho rằng phụ nữ là mẹ của muôn loài, người đàn bà kết hợp với tự

nhiên để sinh ra con người Với hình tượng bà Âu Cơ, rõ ràng là trong ý thức

của người dân Việt Nam luôn luôn tồn tại hình tượng một người phụ nữ được

coi như người sinh thành ra dân tộc Việt Bên cạnh hình tượng Mẹ Âu Cơ, thần

thoại dân tộc Việt còn có hình tượng Mẹ Lúa Nữ thần lúa nước ở trên trời là

người đầu tiên dạy người dân đồng bằng làm lúa nước, ổn định cuộc sống lâu

dài Thần thoại Mẹ Luá ghi lại công lao của người phụ nữ này, đánh dấu sự ra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18

đời của một phương thức sản xuất mới Mẹ Lúa cũng mang dòng dõi tiên Cũng

có thể giả thuyết rằng hình tượng Mẹ Lúa được xây dựng vào những công đoạn của nghề trồng luá phần nhiều do bàn tay người phụ nữ đảm nhiệm Hình tượng này đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, hiển nhiên được coi như là nguồn gốc của nghề nông ở nước ta Cùng với hình tượng Mẹ này là hình tượng Phật Bà được thờ cúng ở khắp các chùa chiền trên mọi miền đất nước Hình tượng Phật

Bà nghìn tay nghìn mắt ngồi trên tòa sen là hình tượng hết sức đẹp đẽ, tức là Phật của người Việt cũng là phụ nữ Những hình ảnh này in dấu ấn rõ rệt của chế độ mẫu hệ

Thực tế trong lịch sử dân tộc cũng xuất hiện rất nhiều hình tượng người phụ nữ trung liệt, tiêu biểu cho cái đẹp đã được ghi lại trong truyền thuyết như hình tượng Hai Bà Trưng Đây là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

đã đứng lên lãnh đạo nhân dân giành độc lập tự do cho dân tộc Hình tượng hai

bà đã được nhiều sử sách ghi lại và nhân dân nhiều nơi thờ phụng Cùng với Hai

Bà Trưng, lịch sử đấu tranh giữ nước của người Việt xuất hiện hình tượng Bà

Triệu tiêu biểu cho ý chí, nghị lực : " Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông" Rất nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam đã ru

con bằng những lời ngợi ca người phụ nữ này:

Con ơi con ngủ cho ngoan

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi Muốn coi lên núi mà coi Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.[27,tr.251]

Vẻ đẹp của bà Triệu là vẻ đẹp của một nữ tướng xông pha trận mạc Những hình tượng đẹp đẽ này đã được các thế hệ phụ nữ đời sau phát huy với những gương phụ nữ anh hùng mà trung hậu như hình tượng bà vợ Ba cai Vàng,

bà Ba Đề Thám, giúp chồng đánh giặc Họ trở thành những nhân vật huyền thoại trong lịch sử của người Việt Nam

Trong văn học dân gian, truyện cổ tích là hiện thân về những giấc mơ đẹp của người Việt cổ hướng tới một xã hội công bằng, con người được sống trong

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19

no ấm, dân chủ và hạnh phúc Các tác giả dân gian đã thể hiện những ước mơ

đó qua hai tuyến nhân vật rõ ràng đó là cái Thiện và cái Ác Trong truyện cổ

tích, tiêu chí về cái thiện nằm ở chính nghĩa Có chính nghĩa thì sẽ gặp được

người tốt giúp đỡ, nhận được những phép màu kì diệu Còn cái ác (phi nghĩa)

thì nhất định sẽ bị trừng phạt thích đáng Bởi thế nhân vật nữ trong cổ tích

người Việt thường có sự phân tuyến rõ ràng theo tiêu chí “tuyệt đối” Tuyệt đối

tốt hoặc tuyệt đối xấu, không có nhân vật nào phức tạp, bí ẩn Nhân vật nữ đại

diện cho lí tưởng tốt đẹp của nhân dân thường có số phận bi thảm, tiêu biểu cho

những con người “thấp cổ bé họng” Đó thường là những kẻ mồ côi, không nơi

nương tựa, bị tước đoạt mọi quyền lợi, có khi phải chết đi sống lại nhiều lần như

cô Tấm (Tấm Cám) Hình tượng cô Tấm , tiêu biểu cho quan niệm " Ở hiền gặp

lành" của cha ông ta Cô Tấm gặp nhiều gian khổ nhưng cuối cùng được sống

sung sướng Hình tượng này sống với bao thế hệ người Việt Nam, tiêu biểu cho

đức tính hiền thảo của người phụ nữ Chính sự quan tâm đến số phận những con

người nhỏ bé đã thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện cổ tích Phẩm

chất người phụ nữ trong cổ tích chính là đại diện cho những phẩm chất cao quý

của nhân dân Họ là những người phụ nữ giàu lòng nhân hậu, bao dung Cô Út

lấy Sọ Dừa (Sọ Dừa), Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử (Chử Đồng Tử), cô Tấm lấy

Vua (Tấm Cám) đó chính là thể hiện ước mơ về sự công bằng và dân chủ, theo

quan điểm của người Việt xưa kia Các nhân vật phụ nữ trong truyện cổ tích

dường như luôn được tác giả dân gian nâng niu, trân trọng và có đời sống nội

tâm phong phú Đoạn đầu đời, họ có thể gặp rất nhiều sự bất công, bị đe doạ,

trắc trở, song cuối cùng bằng sự kiên trì nhẫn nại họ đều chiến thắng và hạnh

phúc đã mỉm cười với những người phụ nữ ấy Tấm mỗi lần hồi sinh lại duyên

dáng hơn xưa (Tấm Cám), cô Út chui ra từ bụng cá vẫn hồn nhiên tươi tắn (Sọ

Dừa), người vợ của anh học trò nghèo khi trút bỏ lốt cóc là một cô gái thật xinh

đẹp (Lấy vợ Cóc).…

Bên cạnh đó ở truyện cổ tích sinh hoạt còn có chuyện Gái ngoan dậy

chồng, Giết chó khuyên chồng, Truyện vợ chàng Trương, đề cao vai trò người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 20

phụ nữ Những nhân vật nữ trong truyện tiêu biểu cho ý chí, nghị lực của người phụ nữ Việt Nam đã cảm hóa được những người chồng từ chỗ xấu đến chỗ tốt,

từ chỗ nghi ngờ, không tin đến chỗ thương yêu, kính phục

Ở thể loại sân khấu dân gian cũng xuất hiện hình tượng những người phụ

nữ với nhiều khía cạnh tình cảm khác nhau Đặc biệt hơn cả là trong chèo

"Quan âm thị Kính", tập trung ba hình tượng phụ nữ Thị Kính là người con

gái ngoan nhưng gặp nhiều oan ức đến phải đi tu rồi gặp rất nhiều rắc rối Thị Kính là hình tượng tiêu biểu cho đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam Thị Mầu, một cô gái táo tợn, khát vọng yêu đương nồng nhiệt, lại là hình tượng người phụ nữ dám chống lại tục lệ cổ hủ, lên tiếng đòi tự do yêu đương, sống cho bản thân mình Bên cạnh hai hình tượng này còn có hình tượng Mẹ Đốp, người đàn bà sắc sảo, dùng lời nói của mình đánh vào bọn quan lại thống trị, lột trần bộ mặt thật của chúng

Như vậy trong văn học dân gian Việt Nam, hình tượng người phụ nữ rõ ràng có một vị thế vô cùng quan trọng, họ được đề cao, được nói lên tiếng nói khát vọng tự do, khát vọng hạnh phúc của mình Mặc dù số phận, vị trí ,cuộc đời người phụ nữ trong xã hội cũ, xã hội phong kiến thường chịu nhiều bất công, oan khổ nhưng trong văn học dân gian hình tượng người phụ nữ vẫn là một hình tượng đẹp, thể hiện cái nhìn ưu ái của các nghệ sĩ dân gian

1.2.2.Hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

1.2.2.1.Nguyên nhân của vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Việt Nam, ca dao có một vị trí hết sức quan trọng Hơn bất cứ một thể loại nghệ thuật dân gian nào khác, ca dao là tiếng nói tâm hồn của những người bình dân Việt Nam

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi: "Ca dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bái hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu" và " do tác động của hoạt động sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần chuyển nghĩa Từ một thế kỉ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 21

ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ ( phần lời thơ) của dân ca (

không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này, ca dao là

thơ ca dân gian truyền thống"

Các tác giả của bộ sách Tổng tập Văn học dân gian người Việt do Nguyễn

Xuân Kính chủ biên đã xác định rõ thuật ngữ ca dao, dân ca:

"Dân ca bao gồm phần lời ( câu hoặc bài), phần giai điệu ( giọng hoặc làn

điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát

Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta nghĩ đến

lời ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát

nhất định" [ 27,tr.20]

Khi xem xét kho tàng ca dao cổ truyền trên một nguồn tư liệu rộng lớn,

phong phú và đa dạng, chúng ta sẽ thấy sự xác định nội dung khái niệm ca dao

được giới thuyết như trên về cơ bản là hoàn toàn có cơ sở thực tế Có thể nói:

Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng bậc nhất của thơ ca dân gian có

phong cách riêng, có thi pháp riêng đặc trưng trong sự đối chiếu với thơ bác

học Qua ca dao đời sống tâm tư tình cảm của người lao động hiện lên với một

vẻ đẹp giản dị và sinh động Nhà nghiên cứu folklore Đỗ Bình Trị đã từng

khẳng định: " Lĩnh vực nêu lên vấn đề con người một cách trực tiếp, sinh động

và cảm động hơn cả là thơ ca dân gian, đặc biệt là ca dao"[59,tr.123] Về vấn

đề thân phận con người, nói như Cao Huy Đỉnh: " trước hết là số phận người

dân nô lệ và người phụ nữ lao động" [5,tr.42]

Những yếu tố nào đã làm nên vị thế quan trọng của người phụ nữ Việt

Nam trong ca dao như vậy? Ta sẽ đi phân tích và đánh giá một số những nguyên

nhân cơ bản có ảnh hưởng đến vấn đề này

Trải qua các thời đại, ở lĩnh vực nào, người phụ nữ Việt nam đều có những

đóng góp đáng kể cho sự tồn tại, phát triển và tiến bộ của dân tộc, vì thế họ đã

chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm thức của mọi người dân Việt

Nam Trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phụ nữ

Việt Nam cũng giữ vai trò quan trọng và tích cực Đối với xã hội phong kiến thì

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 22

người phụ nữ có địa vị thấp kém, bị kinh rẻ, bị trói buộc bởi những luân lý hà khắc còn trong sinh hoạt xã hội của người Việt Nam từ thời xưa, sự tôn trọng

nể vì người phụ nữ xuất phát từ vai trò và địa vị thực tế của họ trong gia đình và ngoài xã hội Bất kỳ người Việt Nam nào cũng ghi nhớ trong lòng:

-Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.[27,tr.509]

Người mẹ Việt Nam có vai trò quan trọng và quyết định đối với sự phát triển, sự trưởng thành của người con cả về thể chất lẫn tinh thần cũng như về

nhân cách Nghĩa mẹ thường được đặt cao hơn: "Cha sinh không tày mẹ dưỡng", "Phúc đức tại mẫu", "Đức hiền tại mẹ".v.v

Ngay từ khi còn trong bào thai của mẹ, đến khi ra đời, các thế hệ người Việt Nam đã nhận lấy bầu sữa mẹ cùng với sự dạy dỗ của mẹ Qua những lời hát ru, những người bà, người mẹ, người chị dạy con em mình tình yêu đất

nước, lòng biết ơn đối với tổ tiên: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/ Ăn gạo nhớ kẻ đâm, say, giần, sàng"[27,tr.1084], hay "Làm trai đứng ở trên đời/ Sống cho xứng đáng giống nòi nhà ta"[27,tr.1092] Mẹ dạy con phải thương yêu đoàn kết:

"Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại lên hòn núi cao".[27,tr.1156] Mẹ dạy con cách sống của người Việt Nam: " Tiền tài nay đổi mai dời/ Nghĩa nhân gìn giữ trọn đời với nhau"[27,tr.1126] Mẹ dạy con phải yêu lao động như lẽ sống ở đời, không được lười lao động: "Trời nào có phụ ai đâu/ Hay làm thì giàu có chí thì nên".[27,tr.1106] Đối với con gái, mẹ cũng là người dậy con:" Con đừng học thói chua ngoa/ Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười".[27,tr.755], hay " Giàu đâu những kẻ ngủ trưa/ Hay đâu những gái đong đưa đến giờ".[27,tr.1104]

Những lời ru ngọt ngào, đầm ấm, thiết tha của những người bà, người mẹ,

người chị là một hình thức giáo dục rất độc đáo, không những giúp cho quá trình hình thành nhân cách của con người mà còn truyền thu những bài học,

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 23

những kinh nghiệm được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử

Lớn lên, trước khi vào đời và nhận những bài học của cộng đồng, quê

hương làng xóm, của xã hội, tất cả các thế hệ trẻ đều do mẹ dạy dỗ ở gia đình,

nhận lấy từ mẹ những bài học bằng lời, bằng ý, bằng tình và bằng chính hành

động của mẹ, vì vậy đã góp phần tạo nên tình cảm, tâm lý, đạo đức, thái độ,

phong cách của người con, đồng thời làm phong phú thêm nền văn hóa của xã

hội, từ thế hệ này qua thế hệ khác

Trong nền văn hóa vật chất, việc ăn mặc của phụ nữ bao giờ cũng là nhân

tố phản ánh trung thực, đậm nét tính chất dận tộc Là những người tự dệt ra vải

lụa, tạo ra màu sắc, tự cắt may theo kiểu cách của mình, người phụ nữ đã thể

hiện tâm hồn, tình cảm, nhận thức về tự nhiên và xã hội trên các sản phẩm mà

họ làm ra Từ chiếc khăn đội đầu đến màu áo yếm, cách ăn mặc, kiểu trang phục

của người phụ nữ đã tạo nên những tình cảm đẹp, có ảnh hưởng tích cực trong

đời sống xã hội: "Bao giờ cho hương bén hoa/ Khăn đào bén túi thời ta lấy

mình"[28,tr.22], hay " Hỡi cô mặc áo yếm hồng/ Đi trong đám hội có chồng hay

chưa?"[29,tr.200]

Đối với gia đình, người phụ nữ còn phải đảm đương công việc nội trợ Từ

tương cà dưa muối thanh đạm, đến cua ốc, cá thịt đều là các món ăn đậm đà

hương vị dân tộc, đã được nâng lên thành nghệ thuật, trở thành phong tục và

kinh nghiệm trong những cuộc thi ở các hội làng Những công việc thường ngày

mà người phụ nữ đảm nhiệm như nấu ăn, dệt vải, thêu thùa, may vá v v tưởng

như rất đơn giản, nhưng lại góp phần tích cực vào việc bảo tồn và phát triển nền

văn hóa vật chất của dân tộc

Bên cạnh đó phụ nữ Việt Nam còn là những người tích cực trong việc bảo

vệ và phát triển nền văn hóa tinh thần của dân tộc Các bài ca dao, tục ngữ mà

người phụ nữ truyền khẩu không chỉ là sự phản kháng chế độ phong kiến, đả

kích bọn vua chúa quan lại cường hào, châm biếm những thói hư tật xấu trong

xã hội, mà còn tổng kết những tri thức về sản xuất, chiến đấu và trao đổi tình

cảm, lối ứng xử trong cuộc sống đời thường tạo nên nét đặc sắc trong kho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 24

tàng văn chương bình dân Từ lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng, phụ nữ còn là những nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn những điệu múa dân tộc uyển chuyển, mềm mại, hát các làn điệu dân ca trong sáng, bình dị, thiết tha và tham gia xây dựng nền nghệ thuật sân khấu cổ truyền tài hoa, hiếm có Những người phụ nữ có điều kiện được học hành đã đem tài nghệ và tâm hồn hòa chung vào các dòng văn thơ, góp phần vào việc phát triển nền văn chương của dân tộc Tiêu biểu là Nàng Điểm Bích đời Trần Anh Tông với bài thơ nổi tiếng và duy nhất bằng tiếng mẹ đẻ Nữ học sĩ Ngô Chi Lan đời Lê Thánh Tông, nổi tiếng

với chùm thơ "Tứ thời" (Vịnh bốn mùa); Nguyễn Thị Du, người làng Kiệt Đặc,

Hải Dương cải trang nam giới đi thi Hội đã đỗ thủ khoa Triều Mạc (Tiến sĩ), làm đến chức Lễ sư ở triều đình nhà Hậu Lê; Bà Trịnh Thị Ngọc Trúc, giữa thời

Lê Trịnh nhiễu nhương đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quí để miệt mài hoàn thành

bộ từ điển Hán - Việt cổ nhất của Việt Nam: "Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa"

Đặc biệt trong nền văn chương Việt Nam ở các thế kỷ XVIII, XIX đã nở rộ một

chùm hoa đẹp của "Văn học phụ nữ" với những cây bút nổi tiếng như Hồ Xuân

Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và Ngọc Hân Công chúa Do

đó trên cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, người phụ nữ xưa đã biểu lộ sức sống dẻo dai, tinh thần dân tộc đậm đà, sức sáng tạo tinh tế và năng khiếu thẩm mỹ đặc biệt của họ

Trải qua hàng nghìn năm, các thế lực ngoại bang thù địch của dân tộc đã bao đời mưu toan thủ tiêu các giá trị văn hóa Việt Nam bằng cách truyền văn hóa nước ngoài vào Việt Nam: từ những giáo hóa về hôn nhân gia đình của quan lại nhà Hán, đến chính sách đồng hóa về y phục, phong tục của quan lại nhà Minh v.v Cùng với toàn dân tộc, phụ nữ Việt Nam không những cố gắng bảo vệ mà còn phát triển bản sắc của mình, bằng cách học và tiếp thu, biến thành của mình nhiều điều hay lẽ phải của người Bằng cách đó, những thế hệ phụ nữ Việt Nam đã góp phần tích cực bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống của dân tộc

Do đó nói tới bản sắc văn hóa cổ truyền người Việt không thể không

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 25

khẳng định vị thế quan trọng của người phụ nữ trong ca dao Bởi vì người phụ

nữ trong ca dao vừa là đối tượng của cái đẹp, vừa sáng tạo ra cái đẹp, vừa giữ

gìn cái đẹp vừa phát huy cái đẹp vào cuộc sống

1.2.2.2 Hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

Từ khái niệm chung về ca dao ta hiểu rằng ca dao cổ truyền là những

câu hát, bài hát dân gian được sáng tác theo phương thức tập thể, được lưu

truyền và tái sáng tạo thông qua các hình thức diễn xướng ca hát khác nhau, để

"phô diễn tâm tình" của quần chúng, theo quan điểm thẩm mỹ của nhân dân Ca

dao trữ tình người Việt về bản chất thẩm mỹ thể loại chính là những bài ca trữ

tình trò truyện- khác với chất trữ tình của thơ bác học Theo đó có thể nói, ca

dao đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹp của loại hình trữ tình của văn học dân

gian Là thứ nghệ thuật hướng nội, ca dao đã phản ánh, đã diễn tả một cách

nhuần nhụy và tinh tế thế giới tâm hồn của con người Trong ca dao "tư tưởng

tình cảm được chắp đôi cánh kỳ diệu của tưởng tượng, thể hiện được đầy đủ

hơn tất cả sự phong phú và tầm rộng lớn, cao cả của tâm hồn" [56,tr.34]

Ca dao cổ truyền là hình thức để người xưa thổ lộ tâm tình Mà phụ nữ

thường hướng nội và có nhu cầu tâm tình, có lẽ vì thế trong ca dao những cung

bậc về cõi lòng người phụ nữ thường được giãi bày nhiều hơn nam giới Trong

ca dao, nhân vật phụ nữ hiện lên thông qua những tâm trạng, những nỗi niềm

riêng tư và mang dấu ấn xã hội rất rõ nét Hai tình cảm nổi bật trong những lời

ca của người phụ nữ xưa có thể tập trung trong hai từ “than” và “thương” Xã

hội phong kiến với quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã xô đẩy nhiều phụ nữ

đến với sự bất hạnh và đắng cay Họ phải sống trong cảnh phụ thuộc và không

tự quyết định được số phận của mình, họ than: "Thân em là gái chưa chồng/Tơ

duyên có chắc như dòng nước không?"[28,tr.1010], hoặc "Thân em như tấm lụa

đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"[28,tr.796], và: "Thân em như trái bòng

trôi/ Gió đánh sóng dồi, nương tựa vào đâu".[28,tr.1011].v.v…

Ca dao cổ truyền còn miêu tả thật thấm thía tâm trạng đau đớn của những

cô gái bị ép duyên, những người vợ có chồng ăn chơi, bạc tình bạc nghĩa, cảnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 26

làm lẽ, cảnh những nàng dâu có mẹ chồng ác nghiệt v.v Chú ý đi sâu mô tả những nỗi niềm riêng, những khổ sở bất hạnh của người phụ nữ, ca dao xứng đáng là những bài ca mẫu mực về giá trị nhân đạo Người phụ nữ trong ca dao

còn là biểu tượng của vẻ đẹp truyền thống, họ ý nhị và kín đáo: "Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen"[29,tr.107] Đặc biệt vẻ đẹp tâm hồn (biết hi sinh vì hạnh phúc gia đình, biết “thương" ) của người phụ

nữ luôn được ca dao đề cao Khi đang yêu, họ biết thương bạn tình, khi làm vợ

họ tiếp tục thương chồng - thương đến cháy lòng: "Bồng con ngồi tựa trên non/Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông" [27,tr.316] Trong tình yêu lứa đôi

họ yêu thiết tha, say đắm, chân chất và biết vượt khó: "Lên non thiếp cũng lên theo/ Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau" [27,tr.407] Đặc biệt trong hôn nhân, họ là những người nhân hậu, vị tha và chung thuỷ hết mực:" Trồng cây cũng muốn cây xanh/ Gá duyên cũng muốn với anh trọn đời".[27,tr.466], hoặc:

"Bông gì thơm bằng bông hoa lí/ Nghĩa nào thâm thúy bằng nghĩa thiếp với chàng".[28,tr.531]

Trong sinh hoạt dân gian nhất là ca hát thì người phụ nữ có một vị thế rất

quan trọng Đi vào cụ thể của sinh hoạt dân ca trữ tình ta thấy hầu hết các bài

ca dao cổ truyền đều được sáng tác trong quá trình lao động, vì vậy nó in đậm

dấu ấn của người sáng tác ra nó "Phần lớn thơ ca trữ tình dân gian là những lời hát giao duyên nam nữ Hình thức là hát đối đáp" [12,tr.431]

Hát đối đáp ra đời một phần do quan điểm của cha ông ta từ xưa, quan điểm lưỡng hợp, mọi vật trên trái đất đều phải có đôi Có con trống thì phải có con mái: Nghê đá đình làng cũng phải một đôi; voi phục cổng chùa cũng là hai con Quan niệm này tạo ra sự tương xứng, cân bằng trong mọi lĩnh vực, dẫn đến những yếu tố tự nhiên cho sự ra đời của hát đối : có nam thì phải có nữ Trong quá trình lao động người dân thường hát lên những câu ca có khi là có sẵn, cũng

có khi tự họ sáng tác, và bao giờ cũng thế nếu bên nam lên tiếng trước thì bên

nữ sẽ đối lại hoặc ngược lại Lực lượng tham gia hát đối chủ yếu là thanh niên

nam nữ "Họ là hương vị của thôn quê, là linh hồn của những đêm

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 27

trăng"[35,tr.97] Cũng từ những cuộc hát đối đáp này mà tình yêu trai gái ra đời

lại làm phong phú thêm cho ca dao Lối hát đối đáp này còn in rõ dấu ấn trong

kết cấu của nhiều bài ca dao, kiểu như :

- Gặp đây Mận mới hỏi Đào:

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? Mận hỏi thì Đào xin thưa : Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.[29,tr.529]

Căn cứ vào cả nội dung và nghệ thuật, câu trên đây tiêu biểu cho lối hát đối

đáp Từ hát vặt, hát đối đến hát phường, hát hội, bất kỳ đâu cũng có sự tham gia

của người phụ nữ Người phụ nữ trong sinh hoạt dân ca vừa là đối tượng của cái

đẹp, vừa sáng tạo ra cái đẹp, vừa giữ gìn cái đẹp vừa phát huy cái đẹp vào cuộc

sống

Tác giả Nguyễn Thị Huế trong bài viết Người phụ nữ trong sinh hoạt dân

ca đã cho thấy người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt dân ca và

bộc lộ tâm tình của mình :"Giữ địa vị chủ yếu trong việc diễn xướng lối hò hát

tâm tình, người phụ nữ ở đây đã nói về mình nhiều hơn, đã bộc lộ tâm trạng của

mình một cách sâu lắng hơn ở lối hát đối đáp nam nữ Với lối hát tự tình này họ

đã gửi gắm lòng mình tới nhiều đối tượng, nhiều người để nhằm gián tiếp nói

tới nhiều vấn đề xã hội Họ nhắn tới những người xa vắng như bạn tình hay cha

mẹ những tình cảm yêu thương, mong, nhớ, họ nhắn với chồng con những điều

khuyên nhủ, dặn dò, họ nói về thân phận của họ, cùng với những ước mong một

cuộc sống tốt đẹp hơn " [9,tr.133]

Cho nên trong các lễ hội dù của một làng hay là của cả một miền thì tiếng

hát về người phụ nữ bao giờ cũng ngân vang Người phụ nữ qua những lời ca

câu hát trong hội hè luôn luôn được tôn trọng, yêu thương dưới con mắt của các

chàng trai- bạn hát của họ

Những yếu tố của sinh hoạt trữ tình dân gian khẳng định vị trí của người

phụ nữ trong ý thức của nhân dân là rất quan trọng Hát đối đáp giao duyên nam

nữ là một trong những hình thức sinh hoạt văn nghệ được yêu thích nhất của trai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 28

gái nông thôn xưa kia Loại hát này có thể xuất hiện lẻ tẻ trong cuộc sống hàng ngày hoặc có thể được hát có tổ chức trong những dịp hội hè đình đám Khi tham gia vào cuộc hát, thành phần tham gia bao giờ cũng là một bên nam và một bên nữ, hoặc ít nhất là từ hai người trở lên Họ bất chợt gặp nhau giữa đường hay trong lúc cầy cấy, gặt hái, người con gái có thể hát đối đáp với người con trai dăm ba câu hay nhiều hơn nữa Đó chính là những cuộc hát lẻ Bên cạnh những cuộc hát đối đáp tình cờ trong đời sống lao động, sinh hoạt thường ngày là những cuộc hát đối nam nữ có tổ chức, có lề lối Những cuộc hát đó ở mỗi điạ phương mang những tên gọi khác nhau như : hát Quan họ Bắc Ninh, hát Ghẹo Vĩnh Phú, hát Phường vải Nghệ Tĩnh, hát Đúm Hải Phòng, hát Trống Quân Hải Hưng, Thanh Hóa, hát hò đáp Mái Nhì, Mái Đẩy, hò Giã Gạo, hò Đâm Vôi, hò Đạp Xe nước.v.v

Dù dưới bất kỳ hình thức nào, khi hát đối đáp rõ ràng là vai trò phía nam

và phía nữ về căn bản đều phải cân bằng nhau Trong một cuộc hát, nếu bên nam đưa ra một câu hát để hỏi thì bên nữ bắt buộc phải có ngay một câu đáp, hoặc ngược lại Câu hát hay sẽ gây được hứng khởi và cuộc hát tiếp tục, câu hát đáp dở thì cuộc hát sẽ khó mà tiếp tục được Chẳng hạn bất chợt gặp nhau giữa đường, chàng trai đã nắm tay chặn cô gái hỏi :

- Gặp đây anh nắm cổ tay

Ai nặn nên trắng ai day nên tròn [28,tr.534]

- Sang đây anh nắm cổ tay Hỏi rằng duyên ấy tình này làm sao?

Cái gì là mận là đào Cái gì là nghĩa tương giao hỡi nàng.[29,tr.198]

Trong hoàn cảnh đó, muốn để chàng trai buông tay mình ra, người con gái

sẽ buộc phải hát, những câu tha thiết :

- Xin chàng bỏ tay em ra Ngày mai em sẽ lại qua chốn này Chàng mà nắm mãi cổ tay

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 29

Ngày mai em biết chốn này là đâu.[28,tr.534]

- Chàng là mận thiếp là đào Chúng mình kết nghĩa tương giao ở đời.[29,tr.198]

Trong các cuộc hát, để làm cho các chàng trai buộc phải đối lại, nếu các chàng

trai hát hỏi một cách bóng bẩy :

- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?.[29,tr.554]

thì các cô gái nếu đồng tình sẽ trả lời bằng câu hát rất duyên dáng:

- Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non đủ lá, non chăng hỡi chàng ?.[29,tr.554]

Nếu các chàng trai hỏi với giọng trách móc sỗ sàng :

- Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở Anh đến tìm đò đò đã sang sông Anh đến tìm em em đã có chồng.[29,tr.664]

thì các cô gái sẽ đáp lại khá đanh đá :

- Hoa đến thì hoa phải nở

Đò đã đầy đò phải sang sông Đến duyên em phải lấy chồng

Em yêu anh thế còn mặn nồng tùy anh ![29,tr.664]

Với một số trường hợp được dẫn ra trên đây, chúng ta thấy rằng bên nữ đã

không kém bên nam trong việc đối đáp bằng văn nghệ cũng như sáng tác và lưu

truyền dân ca Những cuộc hát như vậy đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa đối và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 30

đáp, giữa cá nhân và tập thể

Tác giả Nguyễn Thị Huế tìm hiểu qua những cuộc hát đối đáp nam nữ đã

nhận xét : "có những nghệ nhân nổi lên do tài thuộc được nhiều câu hát và tài ứng đối thông minh của họ, trong đó có nhiều phụ nữ đã là những nghệ nhân tỏ

ra xuất sắc như một tài năng "thiên bẩm" trong lĩnh vực sinh hoạt dân ca Chẳng hạn trong cuốn sưu tầm "Hát dặm Nghệ Tĩnh" của Nguyễn Đổng Chi có hơn 30 nghệ nhân dân gian, những "tay kể chuyện" có tiếng, thì nữ nghệ nhân lại chiếm đa số và có người còn trên tài nam giới như dì Tương, Tiu Hào và o Sĩ " [ 9,tr.133]

Vì thế qua hình thức sinh hoạt đối đáp người phụ nữ quả đã góp phần hình thành trong thơ ca dân gian một quy luật cấu tứ thơ trữ tình Đó là quy luật cấu

tứ theo lối đối đáp- phản ánh phương thức sáng tác thơ ca mà trong đó thi hứng

đã nẩy ra do nhu cầu trao đổi tình cảm trực tiếp Người phụ nữ cũng đã góp phần phản ánh lối sống lành mạnh, phóng khoáng của của nhân dân lao động

Việt Nam Họ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giáo lý "nam nữ thụ thụ bất thân"

của phong kiến, tích cực đáp ứng nhu cầu đòi giải phóng tình cảm con người, và phần nào đó thể hiện lý tưởng dân chủ được nẩy sinh ra trong thực tiễn lao động

và cuộc sống

Chính từ sự tham gia vào các hình thức diễn xướng dân ca đối đáp trên đây mà người phụ nữ còn góp phần tham gia vào truyền thống hò hát tâm tình như hò Mái Nhì, Mái Đẩy, hát Đò Đưa, hát Ví trên đồng, hát Ru, hát Lý đã xuất hiện nhiều nơi trên đất nước ta Lối hát này thường được phụ nữ hát lên khi

họ đảm nhiệm những công việc như: chở đò trên sông, cấy gặt trên đồng, nuôi dậy trẻ nhỏ trong nhà đó chính là hò hát tâm tình Trên sông nước giọng hò phải ngân vang, trong suốt, bay bổng Có lẽ vì thế mà những giọng hò trên thuyền đi ngược về xuôi thường là của các cô gái Trên sông Lam giọng hát Đò Đưa êm đềm thường là các cô gái miền Nghệ Tĩnh, còn trên sông Hương phẳng lặng có giọng hò Mái Nhì, man mác của những cô gái Huế, trên sông Hậu, sông Tiền là giọng hò Đồng Tháp, hò Cần Thơ của các cô gái Nam Bộ thanh

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 31

nhẹ Loại hát Ví trên đồng, cũng là một lối hát tâm tình của người phụ nữ trong

lúc lao động như loại hò hát trên sông nước Hát ru đó là loại hát hầu như của

riêng phụ nữ Đấy là lối hát trong gia đình, được những người phụ nữ hát lên

khi họ dỗ con, dỗ cháu ngủ Hát ru là lối hát vốn rất phổ biến ở nước ta, nhưng

ở mỗi địa phương, có những giai điệu khác nhau và có những tên gọi khác nhau

như hát Khúc Tĩnh Gia (Thanh Hóa), hát Dặm, hát Lý miền Trung và hát Đưa

em, hát ầu ơ Nam Bộ

Do đó vì giữ địa vị chủ yếu trong việc diễn xướng lối hò hát tâm tình,

người phụ nữ ở đây đã nói về mình nhiều hơn, đã bộc lộ tâm trạng của mình

một cách sâu lắng hơn ở lối ca hát đối đáp nam nữ Với lối hát tự tình này họ đã

gửi gắm lòng mình tới nhiều đối tượng, nhiều người để nhằm gián tiếp nói tới

nhiều vấn đề xã hội đồng thời cũng là khẳng định cả vẻ đẹp hình thức và tâm

hồn của họ Bằng ca dao đối đáp giao duyên và những lối hát tâm tình, người

phụ nữ đã góp cho thơ ca truyền thống tiếng nói của tình yêu, mang yếu tố dân

chủ, và thể hiện được sự bình đẳng nam nữ trong một chừng mực nhất định

Nhà thơ Xuân Diệu có nói: " Không ở đâu bằng trong văn học dân gian, trong

ca dao, người phụ nữ đã ngang nhiên và dĩ nhiên thi hành cái quyền tự do diễn

đạt tâm tình của mình" Và văn học bình dân, không biết từ bao lâu, đã là một

nền văn học dân chủ, bình đẳng giữa nam và nữ Với những điệu hò hát tâm

tình, những lời hát ru, hát lý người phụ nữ đã khẳng định nét đẹp của chính

mình và còn góp thêm vào đó tiếng nói trữ tình, sâu lắng của người dân lao

động trước cuộc sống Trong những tiếng nói ấy có cả tiếng nói đấu tranh cho

một số phận vốn bị đè nén trong xã hội cũ

TIỂU KẾT

Bằng việc tìm hiểu những nét cơ bản về vị trí của người phụ nữ trong xã

hội phong kiến và hình ảnh, vị thế người phụ nữ trong văn học dân gian, ca dao

cổ truyền người Việt, chương viết đã cho thấy: Đối với pháp luật phong kiến

cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên vị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 32

trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội xưa là rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới và bị đẩy xuống địa vị thấp

kém Các giáo lý cổ điển như "Tam tòng", "Tứ đức" đã xác định vị trí tối thượng

của người cha, người chồng trong gia đình và trói buộc người phụ nữ vào một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc, không có tự do và nhất là không được làm chủ chính cuộc đời mình

Ngược lại, hình ảnh người phụ nữ được phản ánh trong các thể loại của văn học dân gian luôn xuất hiện với giá trị, vẻ đẹp và được tôn vinh Mặc dù số phận, cuộc đời người phụ nữ được phản ánh trong các tác phẩm dân gian rất đúng với hiện thực của xã hội cũ, xã hội phong kiến Họ vẫn phải chịu nhiều nỗi khổ, bất công, oan trái, nhưng họ được các tác giả dân gian đồng cảm, đề cao và nhất là họ được nói lên tiếng nói khát vọng tự do, khát vọng hạnh phúc chính đáng của mình

Trong văn học dân gian và trong ca dao cổ truyền người Việt vẻ đẹp của người phụ nữ đã được phản ánh một cách toàn diện nhất cả về hình thức và tâm hồn Bởi vì ca dao là hình thức để con người thổ lộ tâm tình mà người phụ nữ thường hướng nội và có nhu cầu bày tỏ tình cảm Do giữ địa vị chủ yếu trong việc diễn xướng lối hò hát tâm tình, người phụ nữ ở đây đã nói về mình nhiều hơn, đã bộc lộ tâm trạng của mình một cách sâu lắng hơn ở lối ca hát đối đáp nam nữ Cho nên cùng với những lời ca đối đáp khi giao duyên là lời ca tự tình của những khúc hát Ru, hát Ví, hát Lý.v.v người phụ nữ đã gửi gắm lòng mình tới nhiều đối tượng, nhiều người để nhằm gián tiếp nói tới nhiều vấn đề xã hội đồng thời cũng là khẳng định cả vẻ đẹp hình thức và tâm hồn của họ

Như vậy vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của những lời ca nên trong ca dao cổ truyền người Việt, vẻ đẹp của người phụ nữ luôn được khẳng định, trân trọng và ngợi ca

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 33

Chương 2

NÉT ĐẸP HÌNH THỨC VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI

PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

2.1 NÉT ĐẸP VỀ HÌNH THỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ

TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

2.1.1.Quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền

Từ xa xưa sự đề cao sắc đẹp người phụ nữ vẫn là câu chuyện hàng đầu

được đề cập tới Điều này được biểu hiện rõ rệt trong văn chương bình dân đặc

biệt là ca dao Nhưng thế nào là một phụ nữ đẹp, điều này thiết nghĩ khó mà đưa

ra một mẫu số chung của tiêu chuẩn, bởi thẩm mỹ quan mỗi người một khác

nhau Hơn nữa mỗi thời đại người ta nhận định khác nhau về định mức sắc đẹp

Nhưng dù xưa hay nay quan niệm người phụ nữ đẹp, đương nhiên cả tinh thần

lẫn thể xác, người ta dường như vẫn không sai khác quan niệm mấy:

-Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.[27,tr.1170]

Trong văn chương bình dân, hình ảnh người con gái có nhan sắc đã được

các tác giả dân gian diễn tả bằng những câu đơn sơ nhưng thắm đượm ý tình,

khơi gợi nơi mỗi con người những ý niệm ngút ngàn lan tỏa:

Cô kia má đỏ hông hồng

Cô chửa lây chồng còn đợi chờ ai.[29,tr.105]

Bài ca dao nói về "Mười Thương ", đã phác họa cho chúng ta thấy quan

niệm về nhan sắc của người phụ nữ xưa như thế nào:

- Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua

Năm thương cổ yếm đeo bùa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 34

Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng Bảy thương nết ở khôn ngoan Tám thương miệng nói lại càng thêm xinh Chín thương cô ở một nơi Mười thương con mắt hữu tình với ai.[29,tr.238]

Xem như vậy tóc dài mới thật đẹp Phải nuôi tóc sao cho dài, quấn quanh đầu trong mảnh khăn nhung hay nhiễu Tam giang vẫn còn ló ra ngoài một đoạn gọi là tóc bỏ đuôi gà, cho đúng thời và hợp ý thích của các chàng trai thời bấy giờ Nhan sắc của người thiếu nữ đẹp lộng lẫy, kiêu sa bao nhiêu, bản thân họ

đã tự cảm nhận thấy, bởi vậy họ không dễ gì chấp nhận ở đối tượng mọi sự dễ dàng, họ đã có điều kiện rõ rệt:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng

Bõ công trang điểm má hồng răng đen.[27,tr.405]

Ngươì phụ nữ xưa thường nhuộm răng đen, một phong tục cổ mà ngày nay ít ai còn áp dụng:

-Răng đen nhoẻn miệng em cười Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng.[29,tr.307]

Người phụ nữ phải kín đáo, giữ được sự đoan trang những khi ăn nói, không cười toe toét, dễ bị người ta chê cười :

- Vô duyên chưa nói đã cười

Có duyên hỏi chín hỏi mười chưa thưa.[28,tr.183]

Nói đến thân hình người phụ nữ thì từ xưa cho đến nay người ta đều ưa

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 35

“lưng ong” thường lây lan sang vẻ đẹp tâm hồn và tính cách, biểu hiện ở hai

phẩm chất đẹp nhất của người đẹp Việt Nam: " chiều chồng", " nuôi con" Rồi

nữa, người đã lưng ong xinh, thì cái gì cũng xinh: Người xinh cái bóng cũng

xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn.[24,tr.1620] Chưa hết, người xinh

cũng là người khỏe mạnh, đầy sức sống, được ca ngợi: Trúc xinh trúc mọc bờ

ao/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh.[25,tr.2280] Và người phụ nữ có cái

nết đẹp phải là: Gái thì giữ việc trong nhà/ Khi vào canh cửi khi ra thêu

thùa.[24,tr.2156]

Chính vì thế các tác giả dân gian trong ca dao đã ca ngợi nét đẹp hình

thức người phụ nữ, nhưng họ cũng luôn chú trọng tới vẻ đẹp của tâm hồn, phẩm

chất bên trong theo quan điểm" Cái nết đánh chết cái đẹp"[10,tr.22]

2.1.2 Nét đẹp về thể chất của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người

Việt

2.1.2.1 Thống kê các hình ảnh về nét đẹp thể chất của người phụ nữ

Bộ sách Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 15, 16 (quyển

thượng, quyển hạ) do Nguyễn Xuân Kính ( chủ biên) là tư liệu chính chúng tôi

dùng để khảo sát nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

Bộ sách này, theo các tác giả, có 11.001 lời ca dao, chúng tôi đã lựa chọn ra

1.612 lời ca dao nói về nét đẹp thể chất của người phụ nữ, chiếm tỷ lệ 14,6%

Dưới đây là sự thống kê cụ thể nét đẹp về thể chất của người phụ nữ trong ca

dao cổ truyền người Việt:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 36

Bảng thống kê nét đẹp về thể chất người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

rõ nhất ở trên khuôn mặt với 3 hình ảnh nổi bật " Tóc- Răng- Mắt " Cụ thể

ta thấy các hình ảnh này tương đối đồng đều nhau:

+ Tóc: 153 hình ảnh/ 1.612 lời ca = 9,49 % + Răng: 129 hình ảnh/1.612 lời ca = 8,0 % + Mắt : 125 hình ảnh/1.612 lời ca = 7,75 % Các hình ảnh này tương đương, sóng đôi nhau, còn các hình ảnh khác như : Má: 81 hình ảnh/1.612 lời ca = 5,0 %, còn Mũi; Tai; Ngực chiếm số lượng ít; Chân có 142 hình ảnh/ 1.612, bằng 8,8 % và nhiều nhất là Tay có 539 hình

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 37

ảnh/1.612, bằng 33%, được mô tả như những hình ảnh đẹp nhưng chủ yếu mang

nghĩa gợi tả để diễn tả hành động, góp phần thể hiện tình cảm yêu thương của

người phụ nữ

2.1.2.2 Ca ngợi nét đẹp thể chất của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền

Ca dao là khúc hát tâm tư sâu lắng của người bình dân Xuất phát từ quan

điểm thẩm mĩ của người bình dân xưa: "Cái răng cái tóc là góc con

người"[10,tr.23], nên trong việc thể hiện nét đẹp thể chất của người phụ nữ, ca

dao thường chú ý nhiều tới vẻ đẹp của Mái tóc- Hàm răng- Đôi mắt, sau là Má

hồng và các dáng vẻ khác Do đó nét đẹp về thể chất của người phụ nữ trong

cuộc sống thường được ca dao mô tả qua vẻ đẹp của " Ánh mắt- mái tóc- nụ

cười" Vẻ đẹp của đôi mắt được diễn tả:

- Nghe đồn cặp mắt long lanh

Ai ai không ngó cứ anh em nhìn [25,tr.1710]

- Trời xanh con mắt là gương Người ghét ngó ít người thương ngó hoài [28,tr.318]

- Nhác trông con mắt đáng trăm

Miệng cười đáng chục, hàm răng đáng nghìn

Nhác trông con mắt ưa nhìn Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua.[28,tr.223]

Đó là vẻ đẹp của mái tóc thề ngang vai hay mái tóc dài trong duyên gặp gỡ :

- Duyên là tóc, tóc là tơ

Xe tơ kết tóc, tóc đà ngang vai [29,tr.644]

- Tóc em dài em cài hoa lý

Miệng em cười có ý em thương [29,tr.347]

Còn đây là vẻ đẹp của nụ cười :

- Năm quan mua lấy miệng cười Mười quan chẳng tiếc tiếc người răng đen Răng đen ai nhuộm cho mình Cho răng mình đẹp cho tình anh say.[29,tr.236]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 38

- Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình.[25,tr.1667]

Đi sâu vào tìm hiểu, khám phá lối miêu tả, biểu hiện trực tiếp của ca dao

ta thấy rõ vẻ đẹp của lối diễn tả giản dị, ngôn ngữ bình dân, quan niệm thẩm mĩ dân gian sâu sắc, đặt bên cạnh vẻ đẹp ý nhị, ngầm ẩn và đa nghĩa Chẳng hạn ca ngợi đôi mắt đẹp của người con gái :

-Những người con mắt lá dăm Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.[27,tr.1160]

Từ thực tiễn cuộc sống, người nghệ sĩ dân gian đã dùng hình ảnh" lá dăm" để

so sánh với hình tượng đôi mắt mà không cần đến những từ "như", "tựa",

"hơn"," kém"," bằng" mà vẫn đạt được những dụng ý nghệ thuật sâu sắc." Mắt

lá răm" theo quan niệm của nhân dân ta là mắt dài và đẹp Hình ảnh chiếc lá rau

răm xinh tươi, hay lá liễu dài mềm mại thường được ví tương ứng với con mắt, lông mày của người thiếu nữ

Hay khi miêu tả miệng cười :

Nhác trông thấy một bóng người Răng đen nhưng nhức miệng cười như hoa.[29,tr.610]

Câu ca thật cụ thể, rõ ràng dễ hiểu Ví miệng cười như hoa nở thì không gì hay hơn Đồng thời còn biểu đạt một thái độ trân trọng, ngưỡng mộ và yêu thương Người nghệ sĩ dân gian còn sử dụng gam màu thật đậm, thật sắc nét đặt

trong thế tương phản "trắng phau phau" và "đen nhưng nhức"để miêu tả vẻ đẹp

của người phụ nữ :

- Hai má nàng trắng phau phau

Răng đen nhưng nhức như màu hạt dưa[29,tr.188]

Bên cạnh đó chúng ta cũng phải thấy rằng con mắt của người đương đại không hoàn toàn giống với con mắt của người nghệ sĩ dân gian xưa từ góc độ thẩm mĩ tới góc độ tâm lí Do đó mà ta phải hiểu răng đen là tiêu chuẩn cái đẹp của người xưa khi nói về người phụ nữ đẹp về thể chất Còn trong quan niệm

của người bình dân thời đó ai có "răng trắng " là không đẹp và bị lên án :

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 39

-Cô kia răng trắng hạt bầu Hẳn cô ở khách bên Tàu mới sang

Cổ cô đeo chuỗi hạt vàng Bây giờ cô lại vơ quàng vơ xiên.[29,tr.425]

Ngược lại trong thời đại ngày nay, hàm răng trắng bóng lại là tiêu chí của

cái đẹp Nếu ngày xưa răng đen nhánh nhai trầu môi đỏ thì ngày nay răng trắng

lại giúp con người làm đẹp Sự thay đổi trong quan niệm từ "răng đen đến răng

trắng" là cả một quá trình thay đổi về nhận thức Ngày nay vẫn còn nhiều mái

tóc dài đen mượt của hoa lý mà còn có thêm những mái tóc cắt tỉa gọn gàng,

phù hợp với thời đại công nghiệp Không còn nụ cười răng đen lấp lánh mà thay

vào đó là một hàm răng trắng bóng Nhưng ta cũng nhận thấy rằng tất cả sự thay

đổi đó dù nhằm mục đích gì đi chăng nữa thì cái tồn tại mãi với thời gian vẫn là

nét duyên dáng, vẻ đẹp nữ tính dịu dàng, bình dị của người phụ nữ Việt Nam

Chẳng hạn nét đẹp nụ cười là yếu tố quan trọng giúp người con gái luôn tươi

trẻ, ca ngợi nụ cười cũng hàm ý khen vẻ đẹp trẻ trung đầy sức sống:

-Anh chỉ quen một cô nàng da trắng tóc dài Miệng cười như nhánh hoa nhài nở nang.[29,tr.46]

Hoa nhài là loài hoa đẹp nhưng nhẹ nhàng bình dị, nó không cáo quý như

hoa cúc, hoa lan mà gần gũi với cuộc sống, cho nên nói "Miệng cười như nhánh

hoa nhài nở nang" là muốn nói đến vẻ đẹp khỏe khoắn bình dị của người lao

động Nụ cười bình dị ấy lấp lánh vẻ đẹp của sắc màu cuộc sống, cho nên không

chỉ được so sánh với hoa nhài mà còn là " hoa quế" hay " tai hoa hồng" :

- Miệng em cười như cánh hoa nhài

Như nụ hoa quế như tai hồng.[29,tr.162]

Hình ảnh tóc- răng- mắt được khắc họa nhiều khi nói về nét đẹp thể

chất của người phụ nữ ngoài lí do là theo quan niệm của người bình dân, còn do

phương thức hát đối giao duyên nặng tình Vào những đêm trăng thanh gió mát,

những câu hò câu hát chứa chân tình cảm đã được cất lên Trai- gái gặp nhau

nơi " đầu mày cuối mắt", họ ấn tượng về nhau với một ánh mắt tha thiết, một nụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 40

cười của hàm răng đen, một mái tóc, để rồi nhớ, rồi thương, rồi yêu nhau Lẽ

vậy nên khi nhớ nhau, họ thường ấn tượng nhất với một nét ngoại hình nào đó Hình ảnh đôi mắt vừa mang lại nét đẹp, vừa mang lại giá trị cho người phụ nữ :

-Những người con mắt lá răm Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.[25,tr.1675]

Đôi mắt được đề cao "đáng trăm quan tiền" vì là " lá răm, lá liễu " và còn

bởi đôi mắt ấy đã thể hiện cho tất cả nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ:

- Trời xanh con mắt là gương Người ghét ngó ít người thương ngó nhiều.[28,tr.318] Cho nên thông qua các cuộc hát giao duyên mà ấn tượng khó phai về mái tóc- hàm răng - nụ cười - ánh mắt trao thương gửi nhớ đã được nói nhiều để ca ngợi

vẻ đẹp của người phụ nữ Mỗi người phụ nữ lại có một nét duyên, một sự hấp dẫn riêng để làm say đắm lòng người khác phái Nhưng tựu trung, nhan sắc của người phụ nữ cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng Có người phụ nữ đẹp nhờ mái tóc rậm dài, bồng bềnh, và đôi chân mày cong vòng như viền trăng non :

-Chân mày vòng nguyệt có duyên Tóc mây gợn sóng đẹp duyên tơ hồng.[23,tr.879]

Có khi là một mái tóc dài :

Có người phụ nữ lại đẹp nhờ hai má có hai lúm đồng tiền, mỗi khi nói nói,

cười cười tạo nên một cái duyên hấp dẫn lạ thường:

- Hai má có hai đồng tiền Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.[29,tr.379]

- Mắt xanh tươi thắm môi trầu

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 41

Miệng cười lúm má, cho cầu thêm xinh.[23,tr.372]

Hay vì có nước da trắng nõn, đôi gò má đỏ au, đôi môi hồng hào và chiếc

cổ cao ba ngấn làm nét mặt trở nên tươi thắm vô ngần, khiến các chàng trai vừa

thoáng thấy đã phải chú ý rồi đem lòng trộm dấu thầm yêu:

-Ai xui má đỏ, môi hồng

Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.[29,tr.21]

- Cổ cao ba ngấn cổ cao

Răng đen hột đỗ miệng chào có duyên.[29,tr.107]

Sau hết phải kể tới vóc dáng Người phụ nữ đẹp là người có thân hình thon

thả, thanh tú :

-Người thanh tiếng nói cũng thanh Chuông kêu kẽ đánh bên thành cũng kêu.[27,tr.1160]

Người thanh tất nhiên sẽ không phải là người béo, cũng không phải là

người gầy, vì người đẹp phải là người có da, có thịt, cổ tay phải tròn lẳn:

-Cổ tay em trắng lại tròn

Để cho ai gối đã mòn một bên Gối chăn gối chiếu không êm Gối lụa không mềm bằng gối tay em.[29,tr.107]

Cộng vào đó người phụ nữ đẹp phải có eo thon, tạo nên sự cân đối và làm

nổi bật được những đường nét yêu kiều cho vóc dáng :

- Hỡi người tóc tốt xanh non Lưng ong thắt đáy như con tò vò.[29,tr.148]

- Những người thắt đáy lưng ong Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.[27,tr.1160]

Như vậy, ta thấy rằng khi khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao

cổ truyền người Việt, người bình dân đã chú trọng nhiều tới nét đẹp trên khuôn

mặt: tóc- răng- mắt- má - miệng rồi mới đến giọng nói , vóc dáng, làn da

Qua đôi mắt yêu thương trìu mến của những người khác phái, người phụ nữ

hiện lên không phải với vẻ đẹp yểu điệu ước lệ như trong văn học viết kiểu :

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 42

" Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da"

( Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Cái đẹp thể chất của người phụ nữ trong ca dao là cái đẹp khỏe mạnh, tươi tắn, bình dị, gần gũi, tự nhiên và gắn bó với cuộc sống lao động Khi miêu tả nét đẹp

về thể chất của người phụ nữ nhân dân ta đã xuất phát từ quan niệm rất lành

mạnh: Cái đẹp phải gắn với lao động, với thiên nhiên đất nước " Cái đẹp chính

là cuộc sống" (Tsecnưsepxk)

2.1.2.3 Nét đẹp thể chất của người phụ nữ trong tình yêu lứa đôi

Trong tình yêu đôi lứa nét đẹp của người phụ nữ về thể chất được khắc họa nhiều nhất Bởi vì theo quy luật tâm lý, các chàng trai khi yêu thường chú ý đến nhan sắc của người con gái :

Đầu năm ăn quả chanh yên Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng

Vì cam cho quýt đèo bòng

Vì em nhan sắc cho lòng anh thương.[29,tr.129]

Trong buổi đầu gặp gỡ làm quen thì ánh mắt, nụ cười, mái tóc luôn để lại ấn

Hơn thế nữa nét đẹp về thể chất trên khuôn mặt của người con gái đã làm xao xuyến trái tim của các chàng trai:

Gặp em thấy khéo miệng cười Thấy xinh con mắt thấy tươi má hồng Gặp nhau giữa cánh đồng này

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 43

Bốn mắt liếc lại lông mày đưa ngang.[29,tr.291]

Từ việc ca ngợi nét đẹp tự nhiên về thể chất của người con gái mà có chàng trai

đã tỏ tình thật mạnh bạo:

Nhìn em đôi má ửng hồng Răng đen nhưng nhức mà lòng anh say.[29,tr.278]

Vẻ đẹp thể chất tự nhiên của người con gái còn bất chấp cả thời gian :

Má hồng còn có khi phai Răng đen da trắng mái tóc dài anh yêu.[29,tr.221]

Các chàng trai khi yêu không ngại ngần khi bầy tỏ sự ngưỡng mộ vẻ đẹp

thể chất của người con gái :

Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.[29,tr.107]

Ấn tưọng bởi những nét đẹp về thể chất của người phụ nữ, cho nên vì yêu

cái duyên trời mà có chàng trai đã đưa ra mười tiêu chuẩn:

-Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua Năm thương cổ yếm đeo bùa Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng Bảy thương nét ở khôn ngoan Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh Chín thương cô ở một mình Mười thương con mắt có tình với ai [29,tr.238]

Trong mười tiêu chuẩn yêu thương ở bài ca dao trên thì tiêu chuẩn của

hình thức cũng chiếm phần đa số 7câu /10 câu ( 1,2,3,4,5,6,8) Đi vào tìm hiểu

một số bài ca dao, ta thấy rằng các chàng trai khi yêu bao giờ cũng có cảm tình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 44

từ hình thức của người mình yêu nên dân gian mới nói " Con trai yêu bằng mắt" Họ xao xuyến tâm hồn và muốn kết duyên cùng người đẹp mỗi khi có sự

gặp gỡ :

-Thấy em hân hấn má đào Thanh tân mày liễu dạ nào chẳng thương.[10,tr.741] Trước nhan sắc của người phụ nữ họ còn táo bạo thổ lộ :

- Nước trong ai chẳng rửa chân Cái má trắng ngần ai chẳng muốn thơm.[24,tr.1521]

- Cô nào mặt ngọc má hồng Tôi đây muốn kết làm chồng nên chăng?[29,tr.310]

Tình yêu lứa đôi lại cũng vô cùng kỳ diệu, như có phép mầu làm nhan sắc

của người phụ nữ thêm duyên dáng, đôi mắt thêm long lanh, nét mặt thêm rạng

rỡ, mái tóc thêm mềm mại xanh mướt :

- Vì chưng ăn miếng trầu anh Cho nên má đỏ, tóc xanh đến giờ.[28,tr.859]

- Nhấp nhánh là nhấp nhánh ơi Mắt người lấp lánh như sao trên trời.[28,tr.226]

Hơn nữa, theo bản tính tự nhiên, người phụ nữ Việt Nam xưa cũng biết cách làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của mình Họ được bác mẹ dậy rằng "Cái răng cái tóc là góc con người " nên luôn gắng gìn giữ và làm đẹp thêm vẻ đẹp

tự nhiên Suối tóc xanh trẻ trung được họ ướp hương bằng bông hoa lý thơm ngát :

-Tóc em dài em cài hoa lý Miệng em cười có ý anh thương.[29,tr.347]

Còn đây là nụ cười, ai cũng biết nụ cười, khóe mắt là hai yếu tố tạo nên vẻ linh động, duyên dáng nhất trên khuôn mặt người phụ nữ Và nhiều cô gái cũng sớm biết cho mình một cái duyên bằng nụ cười:

-Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng Thương ai chúm chím cười duyên một mình.[25,tr.2102]

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 45

- Gặp em thấy khéo miệng cười Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng.[29,tr.291]

Đó là nụ cười đầu môi như nụ hoa ngâu nhỏ xíu, khum khum hàm tiếu:

- Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.[29,tr.107]

Hay như búp hoa sen hồng, như ánh bình minh tinh khôi :

-Ngó lên lỗ miệng em cười Như búp hoa sen nở, như mặt trời mới lên.[29,tr.258]

Nụ cười duyên dáng ấy chẳng những dễ dàng gây được thiện cảm với các

chàng trai ngay trong buổi đầu gặp gỡ, mà còn mãi lưu lại tình quyến luyến

trong ký ức của người yêu dấu:

-Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình.[25,tr.1667]

Trong tình yêu khi trao thương gửi nhớ bao giờ cũng bắt đầu từ ánh mắt

Người ta thường nói rằng :" Con mắt là cửa sổ tâm hồn", cửa sổ tâm hồn ấy là

nơi giãi bày tâm sự tình cảm một cách ý tứ và kín đáo Theo số liệu thống kê

tìm được gần 125 hình ảnh để diễn tả về đôi mắt Có " đôi mắt lim dim, mắt lừ

đừ, mắt bồ câu, mắt lá răm, mắt xanh màu liễu, mắt thần, mắt tình, mắt đen sì,

mắt ưa nhìn, mắt lóng lánh, mắt phượng " Mỗi hình ảnh đôi mắt lại mang

hình dáng và sắc thái biểu hiện nét đẹp khác nhau Đó là đôi mắt đẹp bởi chất

chứa nỗi nhớ thương trong tình yêu :

-Thương em con mắt lá răm Lông mày lá liễu thương năm nhớ mười [25,tr.2119]

Đôi mắt đẹp cũng chính là nơi để bộc lộ trao thương gửi nhớ của người con gái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 46

Con mắt liếc lại bằng ba đứng gần.[24,tr.1460]

Khi đã mạnh dạn trao lời, ánh mắt nhìn nhau tâm đầu ý hợp :

Ngọn đèn dọi tỏ lơ phơ Mắt tình hơi liếc lòng ngơ ngẩn lòng.[24,tr.1579]

Ánh mắt làm say đắm lòng người:

- Hoa thơm hoa ở trên cây Đôi con mắt em lúng liếng dạ anh say lừ đừ.[29,tr.190] Khi " mắt tình liếc " chính là lúc người ta yêu, ý tứ và mê đắm trong đôi mắt ấy Bởi đôi mắt đã ẩn chứa bao điều Còn đây là "mắt bồ câu, mắt phượng, con mắt sắc như dao":

- Con mắt bồ câu Làm cho phải khổ.[29,tr.347]

- Thấy em mắt phượng môi son Mày ngài da tuyết đào non trên trời.[29,tr.330]

- Con mắt sắc như dao cau Quả cau tiện chũm chào nhau ăn cùng.[29,tr.542]

Đó là con mắt mô tả hình thức, để rồi khi tình cảm đến đôi mắt gợi tả đã nhường chỗ cho đôi mắt tâm trạng Tác giả Trần Đình Ngôn với" Con mắt trong tục ngữ, ca dao với ngôn ngữ tạo hình điện ảnh", nhận xét: " Khác với tục ngữ, thành ngữ, con mắt trong ca dao thì lại đặc biệt thiên về biểu hiện tâm tư tình cảm của con người, nhất là trong tình yêu đôi lứa." [40,tr.56]

Cho nên hình ảnh đôi mắt " lim dim, lừ đừ, lửng lơ" là con mắt của tâm

trạng nhớ thương, hồi tưởng:

- Nhớ ai con mắt lim dim

Chân đi thất thểu như chim tha mồi.[25,tr.1660]

- Thương ai con mắt lừ đừ Sầu riêng nhớ mãi đến giờ chưa nguôi.[25,tr.2118]

- Nhớ chàng mắt lửng lơ trông

Dạ bồi hổi tưởng chân rong rã hoài.[25,tr.1665]

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 47

Nỗi nhớ tình yêu đong đầy trong đôi mắt xanh đó và cả những âu lo, trăn

trở cũng được bộc bạch và giãi bầy :

- Ngồi nhà dựa bóng đèn xanh Mắt xanh xanh biếc, nhớ ngày thanh xuân.[25,tr.1715]

Tác giả Trần Đình Ngôn còn chỉ ra:" Con mắt xuất hiện nhiều nhất vẫn là

để biểu lộ tình cảm nhớ thương, buồn tủi, giận hờn, khao khát trong tình quê,

tình nhà, tình yêu đôi lứa Và trước các đối tượng giao tiếp, sức truyền cảm của

con mắt thật là mạnh mẽ: Yêu nhau đứng ở đằng xa/Con mắt liếc lại bằng ba

đứng gần So với chuyện " ra đụng vào chạm để mà nhớ thương" thì con mắt

liếc lại còn mãnh liệt hơn nhiều, cuốn hút hơn nhiều Chả thế mà có người đã

phải thốt lên: Gớm ghê thay con mắt hữu tình/Làm cho đổ quán xiêu đình như

chơi, hay :Lúng liếng là lúng liếng ơi/ Xiêu đình đổ quán như chơi cũng là! "

[40,tr.56] Tác giả khẳng định nét đẹp về thể chất của người phụ nữ Việt được

mô tả qua ánh mắt hiện lên thật đẹp, vì " cái nhìn của con mắt trong ca dao

chẳng những thể hiện các trạng thái tâm tư, tính cách con người mà còn chứa

đựng phần nào cái bản sắc dân tộc nơi tâm hồn Việt Nam." [40,tr.58]

Cái nhìn ban đầu qua ánh mắt trao thương gửi nhớ khiến biết bao chàng

trai và cô gái nhớ nhung rồi yêu nhau Trong nỗi nhớ đằm sâu ấy, ngoài ánh mắt

nụ cười còn có hình ảnh của mái tóc "Mái tóc" trong quan niệm của người bình

dân đó là sự dịu dàng, duyên dáng- một vẻ đẹp chân mộc của người phụ nữ xưa

Qua thống kê chúng tôi thấy có 153 hình ảnh nói về mái tóc Đây là nét đẹp về

thể chất được mô tả nhiều nhất trên khuôn mặt người phụ nữ Những hình ảnh

về mái tóc được lặp lại nhiều lần là: "Tóc đuôi gà, tóc xanh, tóc dài, tóc ngang

vai, tóc mai, tóc kết, tóc búi, tóc mây xanh, tóc tơ, tóc bạc, tóc sương" Điều đó

chứng tỏ rằng mái tóc của người phụ nữ đã trở thành một nét đẹp, sự quyến rũ

rất ấn tượng Chẳng hạn dùng hình ảnh "tóc xanh" để nói về sự trẻ trung, về tình

yêu chung thủy của người con gái:

- Đèn năm canh, ngày cũng năm canh Thương người tuổi trẻ tóc xanh lỡ chừng.[23,tr.453]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 48

Mái tóc dài thể hiện cho vẻ đẹp nữ tính, duyên ngầm của người con gái và

cũng là mẫu chuẩn cho sự hiền từ, đằm thắm chung tình của người phụ nữ Lẽ vậy mà bao chàng trai bị hút hồn theo sự duyên dáng chân mộc ấy :

- Anh gặp em đây rồi lại hỏi hờ

Ai xuôi mái tóc đợi chờ trao duyên.[28,tr.577]

- Thấy cô tóc bỏ đuôi gà

Anh về anh bán cửa nhà anh theo.[29,tr.329]

Không gọi tên mà chỉ nhờ hình dáng của mái tóc người con gái mình yêu

nên người con trai đã rất mạnh bạo tỏ tình :

-Hỡi người tóc đến ngang vai Lại đây tôi kết làm hai vợ chồng.[28,tr.149]

Hình ảnh "mái tóc dài" là một đặc trưng rất riêng cho người phụ nữ Nói như nhà Mĩ học ( Anh) Luxpaenick : "Mái tóc dài tha thướt của nàng đã hút hồn tôi ngay từ buổi ban đầu", với các thi sĩ, mái tóc là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận: " Ngày xưa tôi thầm yêu một nàng thiếu nữ- Tóc em dài như gió mùa thu " (Mối tình đầu- Thế Duy) Còn với ca dao mái tóc thể hiện cho tâm

trạng Mỗi biểu hiện lại là một hình ảnh mới của mái tóc:

Mái tóc dài làm chàng trai bối rối không yên lòng:

Tóc ngang lưng nửa chừng em búi

Để chi dài bối rối dạ anh [29,tr.347]

Mái tóc ngang vai làm các chàng trai xao xuyến nhớ thương :

Tóc em mới chấm ngang vai Cha mẹ thương ít con trai thương nhiều.[25,tr.1942]

Mái tóc đuôi gà trở thành tiêu chí đầu tiên của nỗi nhớ thương trong tình yêu đôi lứa:

-Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên [29,tr.238]

Không chỉ có mái tóc dài, tóc đuôi gà làm duyên làm dáng- mái tóc còn

được dùng là hình ảnh của sự thủy chung chờ đợi Vì vậy mà ta mới biết đến

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 49

"tóc mai" để kết tóc xe tơ:

- Tóc mai ngắn lắm không dài Lời thề nặng lắm nhớ hoài không quên [28,tr.297]

- Đôi ta đã thốt lời thề Con dao lá trúc đã kề tóc mai.[23,tr.721]

Sự thề nguyền thủy chung lấy hình ảnh "tóc bạc"minh chứng cho tình cảm

Khi yêu người con gái cũng tỏ rõ tình yêu của mình mãnh liệt bằng hình

ảnh mái tóc dài chắc khỏe trong hành động "cuốn tóc kèo nhà" của cha mẹ,

không thể chia lìa được tình yêu giữa họ :

Em thương anh dù cho cha mẹ có cuốn tóc kèo nhà

Đánh bằng roi sắt xa mà không xa.[25,tr.1898]

Sự phong phú trong những lời ca dao nói về nét đẹp của Mái tóc, khiến ta

không chỉ cảm nhận được nét đẹp về thể chất mà cả về tâm hồn của người phụ

nữ

Nếu như ánh mắt gây ấn tượng, mái tóc là sự nữ tính duyên ngầm thì hàm

răng nụ cười chính là điểm nhấn để giúp mọi người gần gũi nhau hơn Nụ cười-

với hàm răng đen nhuộm trầu là nét duyên của người phụ nữ xưa Theo thống

kê ở trên, chúng tôi thấy có 125 hình ảnh diễn tả hàm răng: Răng đen, răng đen

nhưng nhức, răng hạt na, răng hạt dưa, răng lánh hạt huyền, răng đen nhưng

nhức,răng đen nhay nháy, răng đen lấp lánh, răng lổ đổ hạt cườm, răng hạt

đỗ.v.v Răng đen - Theo quan niệm của người xưa là đẹp là duyên là quý phái,

răng đẹp thể hiện cho người phụ nữ trẻ trung xuân sắc :

- Gặp người má đỏ hây hây

Răng đen rưng rức tóc mây rườm rà.[24,tr.936]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 50

- Hai má nàng trắng phau phau Răng đen nhưng nhức như màu hạt dưa.[29: 188]

Hàm răng đẹp, nụ cười tươi của người phụ nữ sẽ mang lại niềm hạnh phúc:

-Má hồng còn có khi phai Răng đen da trắng mái tóc dài anh yêu Răng đen nhoẻn miệng em cười Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng.[24,tr.1299]

Vì nụ cười luôn là một trong những vẻ đẹp quyến rũ của người phụ nữ :

-Miệng em cười anh thấy muốn xem Phải chi có giấy anh đem họa hình.[29,tr.232]

Và lạ chưa, nhìn qua nụ cười , người ta có thể đoán được người phụ nữ đó

có chồng hay chưa :

-Răng đen nhưng nhức hạt dưa Miệng cười tủm tỉm như chưa có chồng.[24,tr.1078]

Chính nụ cười với hàm răng đen nhánh ấy đã đem đến biết bao nhiêu thi

hứng trong ca dao, tạo ra nhiều từ ngữ, hình ảnh đẹp Biết bao nhiêu chàng trai

đã vì chúng, sau cuộc vui ra về còn ôm mãi mối tương tư :

-Mình về mình nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười Răng đen ai khéo nhuộm cho cô mình

Để duyên cô mình đẹp Cho cái tình chúng anh yêu.[24,tr.1386]

Hình ảnh " mắt -tóc- răng" những nét thể chất nổi bật đã khắc họa rất ấn

tượng về nét đẹp của người phụ nữ Việt Góp phần khẳng định chân giá trị thẩm

mĩ của người bình dân xưa : Vẻ đẹp thể chất khỏe khoắn, bình dị, hài hòa với tự nhiên, gắn bó với cuộc sống lao động.Từ việc tìm hiểu các câu ca dao trên, ta thấy rằng các hình ảnh về nét đẹp thể chất của người phụ nữ trong đề tài tình yêu đôi lứa là một cách bày tỏ tế nhị, kín đáo nỗi niềm của người xưa về khát vọng hạnh phúc gia đình Sự ẩn ý trong mỗi hình ảnh là nét duyên dáng của vẻ

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 51

đẹp tự nhiên, tiếp là sự gặp gỡ nhớ thương để kết nghĩa- kết tình thủy chung

Tuy nhiên, trong ca dao cũng có nhiều lời ca dùng hình ảnh về thể chất để

lên án phê phán những người phụ nữ thiếu thủy chung, cười cợt kẻ dâm tục,

nhận định về tính cách của con người:

- Mặt rỗ như tổ ong bầu

Cái răng khấp khểnh như cầu rửa chân.[24,tr.1319]

- Cô gái Sơn Tây yếm thủng tày dần Răng đen hạt nhót chân đi cù lèo Tóc rễ tre chải lược bồ cào

Xù xì da cóc hắc lào tứ tung Hai nách cô thơm như ổ chuột chù Mắt thì gián nhấm chân đi cù lèo.[23,tr.480]

Sự phê phán xen lẫn yếu tố cười nhạo tạo nên bài ca dao riêng biệt Nếu

như trước đó ta bắt gặp mười tiêu chuẩn của vẻ đẹp hình thức thì ở bài ca dao

sau mười cái xấu được gói gọn lại với nhau Trí sáng tạo của người bình dân

khá tài tình khi vận dụng vào vần điệu của ca dao :

-Một yêu mắt toét ba vành Hai yêu miệng nói cười tình hơn ma

Ba yêu cái bộ răng hà Bốn yêu miệng nói tựa hồ lợn kêu Năm yêu cái tính chúa điêu Sáu yêu cơm ít quà nhiều cũng no Bảy yêu ngủ ngáy như bò

Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày Tám yêu con mắt liếc trai Chín yêu tài ngủ suốt đời dậy trưa Lại còn cái thói chanh chua Mưòi yêu đẹp quá chẳng vừa mắt ai.[27,tr.926]

Có những lời ca dao còn dùng những đặc điểm riêng về thể chất để giễu cợt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 52

những người phụ nữ có thói xấu đáng lên án:

- Thôi tôi biết vợ anh rồi Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.[25,tr.1948]

- Thôi tôi biết vợ anh rồi

Vợ anh toét mắt bán xôi chợ Dừa.[25,tr.2074]

Mái tóc dài xanh mượt là đẹp nhưng chưa hẳn đã quyết định cho chuẩn

mực về cái đẹp, cái cao cả :

- Tóc dài những búi mà trưa Ham chi người đẹp mà thưa việc làm.[25,tr.1941]

-Tóc dài thì tốn tiền chanh Nào ai bán tóc nuôi anh bao giờ.[25,tr.1941]

Đôi mắt lá răm làm xao xuyến trái tim chàng trai khi yêu lại cũng làm nên

thói xấu trong những người phụ nữ lẳng lơ:

Những người con mắt lá răm

Ve trai như chớp hay nằm với trai.[25,tr.1675]

Với một số lời ca dao miêu tả về hình thức người phụ nữ với hàm ý phê

phán, chúng tôi nhận thấy quan niệm về cái đẹp của nhân dân ta xưa không tách rời giữa vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp bên trong Như vậy trong tình yêu đôi lứa cũng như trong cuộc sống của con người những nét đẹp về hình thức chỉ được ngợi ca khi vẻ đẹp thể chất kết chặt với vẻ đẹp tâm hồn, tạo nên sự hài hòa và hoàn hảo ở người phụ nữ

2.1.3 Nét đẹp trang phục của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

2.1.3.1.Thống kê các hình ảnh về trang phục người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt

Dưới đây là sự thống kê số lượng các câu ca dao nói về trang phục của

người phụ nữ được phản ánh trong ca dao cổ truyền người Việt :

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 53

Bộ Tổng tập Văn học dân gian người Việt, tập 15,16( quyển thượng,

quyển hạ) có 11.001 lời ca dao, chúng tôi đã lựa chọn ra 259 lời ca dao nói về

trang phục của người phụ nữ, chiếm 2,35% Qua bảng thống kê ta thấy hình ảnh

của chiếc áo: 68 hình ảnh /259 lời ca, chiếm 26,2%; Cái khăn: 44 hình ảnh / 259

lời, bằng 16,9%; Cái yếm: 59 hình ảnh /259 lời ca, bằng 22,7% ;Cái nón: 46

hình ảnh/259 lời ca, bằng 17,7% Đây là những trang phục được nhắc tới nhiều

hơn cả vì là trang phục cổ truyền và quen thuộc thường nhật của người phụ nữ

Việt, làm tôn lên nét đẹp của họ Trong đồ trang sức đi cùng thì chiếc nhẫn

được nói tới nhiều hơn Nhưng chủ yếu chiếc nhẫn được nhắc tới như một kỷ

vật của tình yêu để ca ngợi sự vẹn tròn chung thủy trong khát vọng hạnh phúc

lứa đôi

Nếu so với những hình ảnh nói về nét đẹp thể chất, ta thấy hình ảnh về nét

đẹp trang phục xuất hiện ít hơn Tần xuất đó cho thấy được một quan niệm thẩm

mĩ của nhân dân từ xưa đã rất coi trọng nét đẹp thể chất tự nhiên sẵn có của con

người Tuy nhiên các tác giả dân gian cũng khẳng định trang phục đã tôn thêm

vẻ đẹp cho con người "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân."[10:128] Do đó khi ca

ngợi nét đẹp hình thức của người phụ nữ, các tác giả dân gian đã chú ý đến nét

đẹp của người phụ nữ trong những trang phục truyền thống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 54

2.1.3.2 Trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt

Trang phục là nét văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi vùng, miền Nó

không chỉ gói gọn trong yếu tố “ăn chắc mặc bền” mà còn là một nghệ thuật

Từ xa xưa, phụ nữ đã biết may mặc các kiểu trang phục truyền thống, khéo léo

sử dụng nhiều màu sắc tự nhiên gần gũi với cuộc sống, biểu hiện một xu hướng thẩm mỹ Đồng thời trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất

(ăn, ở, mặc) "Ðó là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người Trang phục cũng được thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử Ba nét nổi bật trong trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam là chiếc áo yếm, chiếc áo dài và nón lá"[55,tr 576]

Theo Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam: " thời

phong kiến, trang phục của phụ nữ là váy đen, yếm trắng, áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý Bộ lễ phục gồm ba chiếc áo, ngoài cùng là áo dài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo Bên trong là chiếc yếm thắm Ðầu đội nón trông rất duyên dáng và kín đáo"[55,tr.578]

Khi nói về " Cách thức trang phục qua các thời đại và tính linh hoạt trong cách ăn mặc của người Việt, tác giả Trần Ngọc Thêm đã giúp ta thấy được : Yếm: Áo yếm là trang phục không thể thiếu của phụ nữ Việt xưa Nó là

một tấm vải hình thoi hoặc hình vuông, có sợi dây để quàng vào cổ, được dùng như một dạng áo để che ngực Áo yếm thường được mặc chung với áo tứ thân

Cô thôn nữ tóc vấn khăn, yếm cổ xây hoặc cổ viền với quần sồi, quần lĩnh mộc mạc là hình ảnh tiêu biểu cho lối ăn mặc xưa Cái yếm xuất hiện từ xa xưa và được định hình vào thế kỷ XII đời Lý Đến năm 1696, phụ nữ lao động thường mặc yếm cổ xây, được khoét tròn và viền một cách tỉ mỉ Nếu khóet chữ V gọi

là yếm cổ xẻ, nếu xẻ xuống sâu nữa gọi là yếm cánh nhạn, mới hơn là yếm cổ kiềng Chiếc cổ áo tưởng chừng như quá đơn giản này lại tôn thêm vẻ đẹp của chiếc cổ thiếu nữ ba ngấn Với phụ nữ quý tộc thì trước yếm có thêm một vài

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 55

đường tết lại với nhau thành hình lưới quả trám Đến năm 1802 trở đi, yếm là

một miếng vải vuông đặt chéo lên ngực người mặc Những dải yếm với màu sắc

khác nhau từ hai mép yếm buộc choàng sau lưng, dải thừa buông xuống váy

Các cô gái thị thành thích mặc yếm trắng, yếm hồng, còn ở nông thôn mặc yếm

nâu, hoa hiên, khi lễ hội là yếm đào, yếm đỏ Thông thường, yếm mặc trong áo

buông vạt, nên một phần yếm trước phô thấp thóang sau hai tà áo Sau khi mặc

yếm, các cô gái mặc ra ngòai chiếc áo trắng không cài cúc cổ làm tôn màu yếm

hoa hiên hay đỏ thắm Khi ra ngòai mặc thêm chiếc áo dài, bên dưới mặc váy

lưỡi trai bằng lĩnh hay sồi đen dài chấm gót Lưng có dải yếm thắt màu gà, phía

cạnh sườn đeo xà tích bạc, chân đi dép, đầu vấn khăn nhiễu hay nhung, trùm

ngòai là chiếc khăn mỏ quạ, tóc để đuôi gà, đội chiếc nón quai thao, Tất cả

những thứ đó kết hợp với chiếc yếm làm nên vẻ đẹp duyên dáng mà kín đáo của

người phụ nữ

Áo dài : Áo tứ thân miền Bắc là chiếc áo dài đầu tiên của Việt Nam Áo tứ

thân được tạo ra từ thế kỷ XII và được sử dụng như trang phục hàng ngày đến

đầu thế kỷ XX Ngày nay, áo tứ thân chỉ được mặc trong các dịp lễ tết Áo nâu

với hai vạt trước buộc chéo thả xuống đi với quần lĩnh đen và thắt lưng lụa Rồi

áo tứ thân biến đổi thành áo mớ ba mớ bảy – áo dài ba chiếc, ngòai cùng là áo

năm thân bằng the màu thâm hoặc màu nâu hay tam giang, hai chiếc trong màu

mỡ gà, cánh sen, vàng chanh hay hồ thủy Cổ áo cao khỏang 2cm, tay may bó

khít cổ tay, chiều rộng ngực eo bằng nhau Điểm đặc biệt là ngòai vạt chính còn

có vạt phụ (vạt con) dài sát gấu áo Khuy áo được tết vải, cài cúc cạnh sườn Cổ

áo lật chéo để lộ ba màu áo (hoặc bảy màu áo) Phụ nữ miền Trung mặc áo dài

năm thân, kín cổ Người nhiều tuổi hay mặc áo màu đậm, các cô gái mặc áo

màu nhẹ, xanh da trời hoặc trắng Màu tím được dùng nhiều ở Huế Đôi khi

mặc áo mớ ba nhưng khác miền Bắc là cái cúc kín, cổ áo trong cao hơn cổ áo

ngòai để lộ ba màu khác nhau Tà áo khép kín nhưng mép tà vẫn lộ ba màu Phụ

nữ miền Trung thường mặc quần trắng chít ba (nghĩa là hai bên mép cạp quần

được may ba lần gấp, mỗi bên khỏang 1cm, để khi đi lại ống quần xòe ra cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 56

đẹp, hãn hữu lắm mới mặc quần đen

Càng về sau chiếc áo dài càng được cải tiến và mang sắc thái riêng của từng miền, ở những chi tiết nhỏ để đáp ứng sở thích và yêu cầu thẩm mỹ của thời đại Áo dài không chỉ tôn vinh vẻ đạp bên ngoài của người phụ nữ mà còn phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc

Khi lao động hay trong những họat động bình thường, phụ nữ cũng thường mặc áo ngắn có hai túi phía trước, có thể xẻ tà hoặc bít tà Ngoài Bắc gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba Áo có đính cúc nhưng phụ nữ thường không cài cúc cho mát, vừa để hở cái yếm trắng làm duyên Áo bà ba là sản phẩm đặc trưng của vùng Nam bộ Phụ nữ miền Nam, các cô gái mặc áo bà ba

trắng, có việc, mặc áo dài phủ lên chiếc quần lĩnh đen

Bên cạnh quần áo, trang phục phụ nữ Việt còn có những bộ phận khác không kém phần quan trọng như như thắt lưng và đồ đội đầu.Thắt lưng ban đầu

có mục đích giữ cho đồ mặc dưới khỏi tuột (có thể là một sợi dây, gọi là dải rút), rồi phát sinh thêm mục đích giữ áo dài cho gọn và tôn tạo cái đẹp trên cơ thể phụ nữ Các bà, các cô còn dùng thắt lưng bao còn gọi là ruột tượng để kiêm nhiệm thêm mục đích thứ tư là làm túi đựng đồ vật (tiền, trầu cau, ).Trên đầu thường đội khăn, khăn có nhiều kiểu và tên gọi khác nhau Ở miền Bắc có khăn

mỏ quạ vì khi đội lên đầu có hình giống “mỏ qua” Còn ở miền Nam, lọai khăn

ăn sâu vào tâm hồn và đặc trưng nhất là khăn rằn quấn cổ Trên khăn hoặc thay cho khăn là nón để che mưa nắng Việt Nam là quê hương của ba lọai nón: nón

ba tầm, nón quai thao và nón bài thơ Cái nón là hình ảnh và âm hưởng của quê hương, góp thêm một nét đậm đà, khó quên trong nền văn hóa truyền thống [55]

Có thể nói trang phục là thứ không thể thiếu được trong mục đích trang điểm, làm đẹp của người phụ nữ Mỗi dân tộc có cách ăn mặc khác nhau, vì vậy trang phục trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc Và người phụ nữ Việt Nam muôn đời vẫn vậy, luôn làm đẹp một cách tế nhị và kín đáo

2.1.3.3 Nét đẹp trong trang phục của người phụ nữ ở ca dao cổ truyền

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 57

Bên cạnh sắc đẹp về thể chất, trang phục cũng giúp người phụ nữ thêm

duyên dáng, xinh đẹp Trong bộ y phục của người phụ nữ Việt xưa, cái yếm che

ngực lại được để ý hơn cả Nó được để lộ ra sau lớp áo cánh xẻ nách, có cổ thìa

mổ trễ xuống gần lũng ngực và tấm áo dài không gài nút Cả hai đều màu nhã,

do đó cái yếm mặc trong thường được chọn màu cho thật nổi :

Khi thì là yếm trắng tinh :

Hỡi cô yếm trắng lòa xòa Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu Hay là lụa bạch bên Tầu Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài.[29,tr.202]

Khi thì là yếm đào "Hỡi cô mặc yếm hồng đào [29,tr.200], khi lại là yếm

thắm"Hỡi cô yếm thắm bao xanh".[29,tr.200] Và bao giờ người phụ nữ cũng

biết thắt thêm chiếc thắt lưng khác với màu yếm, thường là màu xanh hoa lý cho

tăng phần duyên dáng " Cô kia thắt dải lưng xanh".[29,tr.200]

Theo thống kê, con số 58 hình ảnh/ 259 lời ca, bằng 22,7%, cho thấy chiếc

yếm chính là một nét trang phục đẹp, truyền thống của người phụ nữ Việt trong

ca dao cổ truyền Một số nhà nghiên cứu cho rằng chiếc yếm được ra đời là để

tôn lên cái lưng ong vốn được xem là một nét đẹp của người phụ nữ trong văn

hóa Việt Nam Hình ảnh người phụ nữ thôn quê giữa ngày hè nóng bức mặc

yếm không, để cả phần lưng và lườn hở từng đươc coi là đẹp "Đàn bà yếm thắm

hở lườn mới xinh."[10,tr.62] Vì theo quan niệm truyền thống của người Việt,

một người phụ nữ đẹp là phải có cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn như cái lưng

ong Người Việt xưa cho rằng những cô gái với cái lưng ong không chỉ mang

một dáng hình đẹp mà còn có đầy đủ tất cả những đức hạnh của một người vợ,

người mẹ:

-Những người thắt đáy lưng ong Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con [27,tr.1160]

Nhưng áo yếm không chỉ đơn giản là một thứ trang phục mà còn có

những ý nghĩa và giá trị về tinh thần cũng như nghệ thuật Lãng mạn trong các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 58

câu ca dao, chiếc yếm ấm áp tình người đã trở thành một hình ảnh đẹp, trong sáng của tình yêu:

- Ước gì sông hẹp chừng gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.[24,tr.1264] Hình ảnh chiếc yếm đã đi sâu vào ca dao Việt Nam Nó đã trở thành một

chủ đề quán xuyến quen thuộc, tạo nên sự lãng mạn và đáng yêu cho những câu

ca dao tình tứ của dân tộc Từ những câu tỏ tình của các chàng trai trong các cuộc gặp gỡ:

- Hỡi cô yếm thắm đeo bùa Bác mẹ có bán anh mua nửa người.[29,tr.200]

- Hỡi cô yếm trắng kia là Lại đây anh gửi lược ngà cùng gương.[29,tr.201]

Cho đến câu nhớ nhung, mong đợi của kẻ xa quê:

Mình về mình có nhớ chăng

Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình

Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao.[29,tr.594] Rồi chiếc yếm lại trở thành vật trao tình của các cô gái trẻ:

- Ở gần mà chẳng sang chơi

Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu

Mồng tơi chẳng bắc được đâu

Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang.[24,tr.1257]

Hay dải yếm lại trở thành một biểu tượng cho tình yêu giữa đôi trai gái:

-Trời mưa gió rét kìn kìn Đắp dôi dải yếm hơn nghìn chăn bông.[29,tr.371]

Tình yêu có biết bao điều kỳ diệu Chính vì vậy, người ta không thể mang

những thực tế logic thường ngày để đánh giá nó Chỉ một đôi "dải yếm" thôi

cũng có thể sưởi ấm lòng người vượt qua sự giá lạnh đáng sợ của mùa

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 59

đông Đối với những đôi trai gái không được nên duyên nên phận vợ chồng như

mong ước, chiếc yếm lại hiện lên trong câu thơ xót thương tiếc nuối của các

chàng trai:

-Kiếp sau đừng hóa ra người Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân.[29,tr.205] Tính phi thực tế của cách nói ngoa dụ trong ca dao mới tài tình, mới tuyệt

diệu làm sao khi chàng trai mượn đôi dải yếm để kéo đò mắc cạn còn nàng

thôn nữ lấy đôi dải yếm để bắc chiếc cầu qua con sông tình cảm cho người

mình yêu:

-Thuyền anh mắc cạn lên đây

Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền.[29,tr.334]

- Ước gì sông hẹp chừng gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.[24,tr.1264]

Vì sao chàng trai hay cô gái không thích bắc cầu bằng một thứ khác? Dải

lụa? Hay chiếc khăn buộc đầu? Mà cứ khư khư bắc cầu bằng dải yếm? Có lẽ

vì cả chàng trai và cô gái đều ngầm hiểu một sự thật bí mật, tế nhị mà vô cùng

táo bạo rằng, dải yếm chính là thứ mà chàng trai khát khao được chiêm ngưỡng

nhất trong trang phục, trên cơ thể người thiếu nữ Sự ngăn sông cách núi trong

cách nói và trong thơ ca cổ xưa chính là sự xa cách của những tâm hồn, những

nỗi lòng mong nhớ Nỗi niềm trong câu ca dao cũng giống như một ước nguyện

khó có thể và nói đúng hơn là không thể nào thực hiện được Dòng sông sao có

thể "chừng gang" và "dải yếm" sao có thể trở thành cây cầu Đó là lối nói thậm

xưng quen thuộc trong dân gian Dòng sông này cũng có thể là tồn tại trên thực

tế nhưng có thể chính là dòng sông ngăn trở trong lòng của mỗi người Câu ca

dao này đã vượt qua khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Chiếc cầu dải yếm là

một sự tượng hình ý nhị đầy ẩn ý Nó cũng như là lời bày tỏ tình cảm của một

cô gái ẩn chứa sự thẹn thùng trong mỏng manh của "cầu dải yếm" Nó vừa rất

gần mà cũng rất xa Bước qua cây cầu "dải yếm" là ngưỡng cửa của những tâm

hồn, của những thể xác đang rạo rực, đang yêu Ý nhị và trữ tình hơn khi cô gái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 60

muốn mượn dải yếm nơi mình, ấp ủ tình cảm trong sáng muốn gửi gắm tới chàng trai:

Trầu em têm tối hôm qua

Buộc trong dải yếm mở ra mời chàng.[28,tr.764]

Không chỉ gợi cho người ta một vẻ đẹp cao quý, trong sáng mà hình ảnh

"áo yếm" còn là một cái gì đó hết sức thực tế và trần tục Yếm dùng để che

ngực bởi vậy xung quanh chiếc yếm này là những câu chuyện trữ tình Theo quan niệm xưa những màu chói như màu đào, màu thắm chỉ các cô gái bạo dạn mới dám mặc, và khi đã mặc thì đến nhà tu hành cũng không thể nào tránh khỏi những đam mê trần tục:

-Ba cô đội gạo lên chùa Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

Sư về sư ốm tương tư

Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu.[27,tr.830]

Ý nghĩa biểu cảm của chiếc áo yếm cũng giống như cái duyên đằm thắm,

mặn mà của người con gái Với một mảnh vải vát nhọn ở phía dưới được vòng quanh cổ và ngang ngực bằng những dây buộc mảnh, kín đáo mà hết sức tự nhiên chân thực nó đã góp phần tạo ra một cái đẹp hoàn hảo, làm say lòng bao nhiêu quân tử:

-Nhác trông cái yếm cũng xinh Khen ai khéo dệt ra hình hoa mai Khen người khâu yếm cũng tài

Cổ thêu con nhạn có hai đường viền

Cổ thì em ngả màu hiên Thắt lưng màu huyền dải yếm cũng xinh Khen ai khâu yếm cho mình Đường lên đường xuống ra hình lưng ong [29,tr.273]

Lời ca thật trữ tình tha thiết, bắt đầu từ chiếc yếm chàng trai đã không chỉ

ca ngợi được tài may vá mà còn khéo thể hiện sự ngưỡng mộ, yêu thương nét

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 61

đẹp cả về thể chất và tâm hồn của người con gái mình yêu thương Hơn thế,

chiếc áo yếm còn hàm chứa trong nó bao nhiêu tình, bao nhiêu ý:

-Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím

Em có chồng rồi trả yếm cho anh Hoa cúc vàng nở ra hoa xúc xanh Yếm em em mặc, yếm chi anh đòi.[10,tr.535]

Lời đối đáp của những người có tình, rất thật, rất nhẹ nhàng, mà lại bông

đùa Hoa tình yêu giờ đã đổi màu, không vàng, không tím cũng giống như tình

yêu đã không cập được đến bến bờ hạnh phúc Vẫn là người con gái ấy, vẫn áo

yếm duyên dáng chỉ khác rằng hoa cúc đã màu xanh và chiếc áo yếm như lời

ước hẹn nay đã thành lỗi hẹn Sự trách móc mang chút dỗi hờn chưa dứt giữa

hai người Dải yếm mỏng manh không thể níu người ở lại nhưng cũng đủ làm

vương vấn một chút tình Con người mang theo cuộc sống trong mình luôn

luôn chuyển động nhưng sự độc đáo và đặc sắc của áo yếm dường như là một

vẻ đẹp vĩnh hằng Yếm có mặt từ thuở trong nôi tới khi có sự gặp gỡ Đông

Tây, để từ đó người phụ nữ lựa chọn, nhập thân chiếc yếm cổ truyền vào chiếc

nịt ngực hiện đại Ngày nay, trong cuộc sống hàng ngày, người ta không còn

mặc yếm nữa Nhưng không phải vì thế mà giá trị nghệ thuật của nó bị mất đi

Ta có thể thấy những người phụ nữ áo yếm với áo tứ thân, nón quai thao tại

những ngày hội hoặc nghe hát chầu văn Vẫn là nó, vẫn đơn giản mà cuốn hút

kỳ lạ không gì thay thế được Và cũng chính vì vậy mà nó vẫn tiếp tục là

nguồn cảm hứng sáng tác không chỉ cho thơ ca hiện đại mà còn cho các nhà

tạo mẫu Những bộ trang phục cách tân dựa trên hồn của chiếc áo yếm luôn

luôn đầy sự khám phá và sáng tạo Ở một nơi nào đó rất xa, có lẽ chiếc áo yếm

vẫn còn tồn tại ngay cả trong cuộc sống thường ngày

Cùng với chiếc yếm là cái áo Ngày xưa, người phụ nữ bước chân ra khỏi

nhà là phải mặc áo dài Chiếc áo dài của người phụ nữ Việt miền Bắc thường là

áo tứ thân ( áo phía sau nối suốt dọc sống kể là hai thân, áo phía trước có hai vạt

rời dài bằng nhau không có nút gài mà buộc chéo trước bụng rồi thả thõng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 62

xuống) Nhiều người phụ nữ vì phải gánh gồng buôn bán, vai áo chóng rách, để khỏi bỏ phí cả chiếc áo, người phụ nữ đã khéo léo thay nửa thân áo trên bằng loại vải có màu xẫm hoặc nhạt hơn, gọi là áo vá vai hay vá quàng:

- Có chồng rồi bớt áo thay vai [23,tr.401]

- Nhác trông em cái áo vá vai

Thầy mẹ em vá hay tài vá nên.[28,tr.273]

-Thương em thuở áo mới may Bây giờ áo rách hai vai vá quàng.[28,tr.339]

Áo vá quàng vì thêm màu sắc trông lại có duyên, nhiều phụ nữ thường

mặc, trở thành nét duyên, nét đẹp chung:

-Áo em áo vải Trong lót lụa hồng Ngoài thêu chỉ thắm [28,tr.509]

Nếu là phụ nữ hàng phố thường mặc áo năm thân, còn gọi là áo năm tà Họ thường mặc để đi chơi hay khi phải tiếp khách (vạt trước và vạt sau đều nối dọc

ở giữa thành mỗi vạt kể là hai thân, lại thêm một vạt con để cài khuy) :

-Vải nâu may áo, kìa áo năm tà

Ai may cho cô mình mặc Xem hội cái đêm hôm rằm, rằm tháng giêng.[10,tr.854] Trong những ngày lễ tết chắc hẳn người phụ nữ mặc những chiếc áo đó rất

đẹp nên có chàng trai đã không cầm lòng được :

-Thấy người đẹp áo xinh quần Lòng tôi muốn kết yên phần gia cư.[28,tr.220]

- Nhác trông mùi áo như in Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua.[28,tr.224] Hình ảnh cái áo xuất hiện nhiều nhất trong ca dao cổ truyền khi nói về

trang phục của người phụ nữ 68 hình ảnh /259 lời ca bằng 26,2% Sở dĩ hình ảnh chiếc áo xuất hiện nhiều như vậy là vì trong ca dao cổ truyền người Việt chiếc áo đã trở thành tín hiệu giao duyên để trao thương gửi nhớ Mà độc đáo

Ngày đăng: 09/08/2016, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê nét đẹp về thể chất người phụ nữ   trong ca dao cổ truyền người Việt - NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT
Bảng th ống kê nét đẹp về thể chất người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt (Trang 23)
12  Thắt lưng        6  hình ảnh  /   11.001 lời ca - NÉT ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT
12 Thắt lưng 6 hình ảnh / 11.001 lời ca (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w