Đặc biệt ở khu vực nông thôn, vai trò của người phụ nữ được đánh giá cao hơn nữa trong phát triển kinh tế hộ gia đình, họ hoạt động trong nhiều ngành nghề để tăng thu nhập, cải thiện đời
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ HIÊM
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ HIÊM
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ LÝ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn "Nâng cao vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ
nông dân ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên" Luận văn sử dụng những
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc,
có một số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được
tổng hợp và xử lý
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc
trích dẫn rõ ràng
Thái Nguyên, ngày tháng……năm 2014
Tác giả luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS Phạm Thị Lý người trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện, các phòng chức năng của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên và các hộ nông dân đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện luận văn
Đồng thời, Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp và những cộng tác viên đã giúp đỡ, chia sẻ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ……tháng……năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hiêm
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN 4
1.1 Cơ sở lý luận về vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giới tính 4
1.1.2 Hộ gia đình và kinh tế hộ nông dân 7
1.1.3 Vị trí và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân 10
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân 13
1.1.5 Những thách thức đối với lao động nữ ở nông thôn 16
1.2 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 25
1.2.1 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ ở một số nước trên thế giới 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.2.2 Vai trò lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam 26
1.2.3 Tình hình lao động nữ ở Tỉnh Thái Nguyên 32
1.3 Một số bài học kinh nghiệm cho Huyện Võ Nhai 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 37
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin 40
2.2.5 Phương pháp phân tích 40
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40
2.3.1 Nhóm các chỉ tiêu chung 40
2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu về xã hội 40
2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vai trò của lao động nữ 40
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN VÕ NHAI 42
3.1 Đặc điểm của Huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên 42
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 49
3.2 Thực trạng vai trò của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ 61
3.2.1 Khái quát thực trạng về lao động nữ trên địa bàn huyện Võ Nhai 61
3.2.2 Thực trạng, vai trò của lao động nữ trong các hộ điều tra 66
3.3 Những tồn tại và nguyên nhân làm hạn chế vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân 88
3.3.1 Những lý do làm hạn chế vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ 88
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3.2 Dùng phương pháp phân tích SWOT để phân tích vai trò của lao
động nữ trong phát triển kinh tế hộ 89
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÕ LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN VÕ NHAI 92
4.1 Quan điểm phương hướng, mục tiêu nâng cao vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Võ Nhai 93
4.1.1 Quan điểm nâng cao vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân của huyện Võ Nhai 93
4.1.2 Mục tiêu của việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội huyện Võ Nhai 95
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Võ Nhai 95
4.2.1 Giải pháp nâng cao vai trò lao động nữ trong tiếp cận và quản lý các nguồn lực của hộ 95
4.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực lao động nữ 98
4.2.3 Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp và nghề phụ 100
4.2.4 Giải pháp trong vấn đề ra quyết định 100
4.2.5 Tăng cường tạo quyền và tăng khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với các hoạt động ở các hội ban ngành đoàn thể ở địa phương 101
4.3 Kiến nghị 102
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
NN &PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ phụ nữ tham gia công tác Đảng, Chính quyền các cấp
giai đoạn 2011- 2016 28
Bảng 1.2: Tỷ lệ lao động nữ đang làm việc phân theo ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên, năm 2012 32
Bảng 1.3: Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2011 - 2016 33
Bảng 2.1: Lựa chọn địa điểm điều tra 38
Bảng 3.1: Dân số của huyện Võ Nhai, năm 2013 50
Bảng 3.2: Lao động nữ phân theo các ngành của huyện Võ Nhai Trong giai đoạn 2011- 2013 52
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng quỹ đất của huyện Võ Nhai năm 2013 54
Bảng 3.4: Tình hình sản xuất lương thực của huyện Võ Nhai năm 2012-2013 58
Bảng 3.5: Cơ cấu kinh tế huyện Võ Nhai năm 2011-2013 60
Bảng 3.6: Trình độ chuyên môn của lao động nữ huyện Võ Nhai, năm 2013 64
Bảng 3.7: Lực lượng lao động phân theo các ngành huyện Võ Nhai, năm 2013 65
Bảng 3.8: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý và điều hành sản xuất trong các hộ điều tra huyện Võ Nhai, năm 2013 67
Bảng 3.9: Phân công lao động sản xuất và người ra quyết định trong trồng trọt của các nhóm hộ điều tra 69
Bảng 3.10: Phân công lao động sản xuất và người ra quyết định trong Chăn nuôi của các nhóm hộ điều tra 72
Bảng 3.11 Phân công công việc hàng ngày trong nhóm hộ điều tra huyện Võ Nhai, năm 2013 73
Bảng 3.12: Tiếp cận thông tin sản xuất của lao động nữ trong các hộ điều tra huyện Võ Nhai, năm 2013 78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Bảng 3.13: Phụ nữ với việc tiếp cận các kênh thông tin và Các quan hệ xã hội huyện Võ Nhai, năm 20013 80
Bảng 3.14: Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ điều tra huyện Võ Nhai năm 2013 81
Bảng 3.15: Quyền quản lý tài chính và ra quyết định trong các hộ điều tra huyện Võ Nhai, năm 2013 82
Bảng 3.16: Vai trò của lao động nữ trong việc tạo ra thu nhập trong các hộ điều tra tại huyện Võ Nhai năm 2013 86
Bảng 3.17: Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển 91
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản Đồ hành chính Huyện Võ Nhai 43
Hình 3.2: Tỷ lệ dân tộc huyện Võ Nhai năm 2013 51
Hình 3.3: Cơ cấu sử dụng đất của huyện Võ Nhai 54
Hình 3.4: Phân loại lao động nữ huyện Võ Nhai theo tiêu chí dân tộc 61
Hình 3.5: Biểu đồ phân loại lao động nữ huyện Võ Nhai theo nhóm tuổi 62
Hình 3.6: Biểu đồ phân loại lao động nữ huyện Võ Nhai theo trình độ học vấn 63
Hình 3.8: So sánh tỷ lệ biết chữ giữa lao động nam và lao động nữ 84
Hình 3.9: So sánh thời gian chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình 85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử loài người, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận lao động quan trọng trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giầu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người, đặc biệt quan trọng trong sản xuất xã hội và tái sản xuất sức lao động, bảo đảm cho xã hội loài người không ngừng phát triển Họ có mặt và tham gia hoạt động trong mọi lĩnh vực xã hội Phụ nữ là người quản lý, người chăm lo cuộc sống cho cả gia đình Cuộc sống của người phụ nữ chịu ảnh hưởng sâu sắc đến sự tiến bộ của chế độ chính trị, xã hội, sự phát triển kinh tế văn hoá và cũng gắn liền với trình độ văn minh của thời đại
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đến nay, những chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ban hành đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân cả nước, từ thành thị tới nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược Với trình độ học vấn và năng lực chuyên môn không ngừng được nâng cao, người phụ nữ đã có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,
xã hội Đặc biệt ở khu vực nông thôn, vai trò của người phụ nữ được đánh giá cao hơn nữa trong phát triển kinh tế hộ gia đình, họ hoạt động trong nhiều ngành nghề để tăng thu nhập, cải thiện đời sống Họ đã và đang tích cực tham gia vào các hoạt động sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế ở nông thôn, làm thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn Việt Nam
Là một huyện miền núi làm nông nghiệp là chính, lao động nữ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động toàn huyện Phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong lao động sản xuất, nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình và hoạt động cộng đồng Tuy nhiên, sự đóng góp của họ chưa được công nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình Qua quá trình nghiên cứu, vấn
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đề vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân nói chung và ở
huyện Võ Nhai nói riêng là vấn đề ít được các nhà quản lý quan tâm, trên cơ sở
đó có những giải pháp thích hợp để khẳng định, ghi nhận và tăng cường vai trò
của người phụ nữ ở khu vực nông thôn Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nâng cao vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên"
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm chỉ ra được vai trò quan trọng của người phụ nữ nông
thôn ở huyện Võ Nhai, trên cơ sở đó có những kiến nghị với các cấp chính
quyền, địa phương nhằm nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ nông dân nói riêng và trong các hoạt động xã hội nói chung
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề “giới” Vị trí, vai trò
khả năng đóng góp của lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói
riêng trong phát triển kinh tế hộ nông dân
- Đánh giá năng lực và vai trò của lao động nữ nông thôn ở huyện Võ
Nhai trong phát triển kinh tế hộ những năm qua
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò và khả năng đóng góp của
lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của lao động nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế hộ, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã
hội trên địa bàn huyện Võ Nhai trong những năm tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đối tượng nghiên cứu là vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế
hộ nông dân trên địa bàn huyện Võ Nhai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Võ Nhai
- Về thời gian: Các số liệu nghiên cứu đề tài được thu thập trong giai đoạn 2011-2013
- Về nội dung: Phụ nữ nông thôn có vai trò rất quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội, nhưng vì điều kiện thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vai trò của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Võ Nhai
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu tham khảo giúp cho huyện Võ Nhai xây dựng nâng cao vai trò của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
5 Bố cục luận văn
4 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài Chương 3: Thực trạng về vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế
hộ nông dân ở huyện Võ Nhai Chương 4: Quan điểm và những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Võ Nhai
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG
NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ
nông dân
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giới tính
1.1.1.1 Một số khái niệm về giới
Khái niệm về “Giới” xuất hiện ban đầu tại các nước nói tiếng Anh vào
khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Đến thập kỷ 80 nó xuất hiện tại Việt Nam
Giới là yếu tố luôn luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã
hội của nữ giới và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục
thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể Giới là
sản phẩm của xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ giữa nam
và nữ, nó là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và nâng cao địa vị của
người phụ nữ trong xã hội Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt hai phạm trù
giới và giới tính
Giới tính(Sexual): Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của
nữ giới và nam giới trong tự nhiên Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam
giới và phụ nữ Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh
ra đã có và không thể thay đổi được
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền (Ví dụ: trong sự di truyền giống nòi, người nào có cặp nhiễm
sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có nhiễm sắc thể giới tính
XY thì thuộc về nam giới) Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới Các đặc trưng giới tính là kết quả của một quá trình tiến hoá rất lâu dài của loài người trong lịch sử Do vậy, các biến đổi giới tính cũng đòi hỏi phải tốn rất nhiều thời gian với những điều kiện và sự can thiệp rất đặc biệt Sự khác nhau
về giới tính không hàm chứa sự bất bình đẳng, tức là vị thế sinh học của nam và
1.1.1.2 Đặc điểm và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm về giới
- Không tự nhiên mà có mà nó được hình thành từ những quan hệ xã hội Chỉ có giới tính là hình thành tự nhiên từ khi hình thành bào thai của người mẹ
- Các hành vi, vai trò, vị thế được hình thành thông qua dạy dỗ về mặt
xã hội và được coi là thuộc tính thuộc về trẻ em gái và trẻ em trai;
- Đa dạng (khác nhau giữa các xã hội);
- Có thể thay đổi (Ví dụ: Trong các công tác tưởng trừng chỉ có phụ nữ
có thể tham gia còn nam giới thì không và ngược lại như: Phụ nữ có thể làm Tổng thống, làm Chủ tịch nước còn nam giới có thể làm đầu bếp giỏi, may vá thêu thùa….)
* Những khác biệt về giới
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho
việc tái sản xuất con người và xã hội Sự khác biệt về giới đã quy định thiên
chức của họ trong gia đình và trong xã hội
Bắt đầu từ khi sinh ra là đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là bé trai hay
bé gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố mẹ Đứa trẻ
được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình như bé
trai thích đá bóng còn bé gái thích nhảy dây…
Những tri thức xã hội cũng hướng theo sự khác biệt về giới khi trẻ lớn
lên bắt đầu đi học Chẳng hạn như nam giới được hướng theo những ngành kỹ
thuật, phải có thể lực tốt và tư duy cao Còn nữ giới có thể lực yếu hơn
thường được hướng theo các ngành nữ công và những ngành cần có sự khéo
léo, tỉ mỉ…Tất cả các tác động vô tình hay hữu ý của xã hội đều làm tăng sự
khác biệt về giới trong xã hội Tuy nhiên, người ta lại thường lấy sự khác biệt
về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới
Phụ nữ thường được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm,
họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của
phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, dường như họ phải gắn bó với con cái, gia đình
hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn
nam giới
Nam giới thường được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình vì họ cứng
rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng
về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc
xã hội và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Chính điều này đã làm
tăng thêm khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Để thay đổi quan
hệ giới các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là
cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã
hội về giới và quan hệ giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau
để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội
đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với giới cũng có sự khác nhau
Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nước trên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội, kết quả là thực hiện các mục tiêu “Bình đẳng nam nữ” để giải phóng sức lao động
và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức độ bình đẳng đó tuỳ thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của sự phát triển đối với mỗi nước trên thể giới
1.1.2 Hộ gia đình và kinh tế hộ nông dân
1.1.2.1 Khái niệm hộ gia đình và khái niệm kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm hộ gia đình
Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi đưa ra khái niệm Hộ gia đình:
(1) Có quan hệ huyết thống và hôn nhân (2) Cư trú chung
(3) Có cơ sở kinh tế chung Gia đình là khái niệm dựa trên tiêu thức thứ nhất Hai tiêu thức sau không nhất thiết phải có trong khái niệm gia đình Bởi vì một số thành viên trong gia đình khi trưởng thành có thể tách ra cư trú và làm ăn ở nhiều nơi khác nhau và có cơ sở kinh tế riêng Tuy vậy, họ vẫn được coi là người trong một gia đình
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khái niệm hộ còn có những quan niệm khác nhau Theo một số từ điển
chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: Tất cả
những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng
huyết thống và những người làm công - tức là lấy tiêu thức (1) làm chính
Khi nghiên cứu về phát triển kinh tế hộ gia đình ở một số nước Châu Âu,
Megree (1989) cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ
là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở
chung cùng một ngôi nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân
quỹ” Về phương diện thống kê các nhà nghiên cứu Liên hiệp quốc cho rằng:
“Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung một ngân quỹ” Những quan điểm này đề cập chủ yếu đến tiêu thức (2)
và (3) Tiêu thức (1) không phải là điều nhất thiết Tuy vậy, một số quan điểm
khác lại chú trọng đến tính huyết thống trong khái niệm hộ Đại diện cho quan
điểm này là các giáo sư trường Đại học Lisbon khi nghiên cứu cộng đồng
nông dân trong quá trình quá độ tại một số nước Châu Á cho rằng: “Hộ là tập
hợp những người có chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá
trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” Đại
đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc
thân tộc Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình,
nhiều khi được gộp thành một khái niệm chung là hộ gia đình
* Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong
đó các nguồn lực để tiến hành sản xuất: Đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu
sản xuất được coi là của chung Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn
chung một nồi, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy
thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh
tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông- lâm- ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp
Theo quan niệm của Frank Ellis (1988) “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”
1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân và vai trò của phụ nữ Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành
viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: Kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ
tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa
Về đất đai: Là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ
Về lao động: Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn
để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác
Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
Về vốn: Do họ tự tạo ra chủ yếu là từ sức lao động của họ Mục đích sản xuất chủ yếu là phục vụ yêu cầu cần tiêu dùng trực tiếp của hộ, không phải là
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lợi nhuận, hộ không quan tâm đến giá trị thặng dư Có lúc hộ nông dân phải
duy trì mức tiêu dùng tối thiểu, đầu tư sản xuất với chi phí rất cao để đảm bảo
cuộc sống của gia đình
Sự hiểu biết về kinh tế hộ nông dân được thông qua các đặc trưng của hộ
nông dân nói chung Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng mà
nông hộ có những đặc trưng cụ thể Tóm lại, kinh tế hộ nông dân luôn gắn liền
với đất đai và sử dụng lao động gia đình là chủ yếu Mục đích chủ yếu nhất của
sản xuất trong nông hộ là đáp ứng cho tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó mới là
sản xuất hàng hoá
1.1.3 Vị trí và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân
1.1.3.1 Vị trí của lao động nữ trong gia đình và xã hội
Trên toàn thế giới lao động nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về
khả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm hơn 50% trong tổng số lao động;
số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra
1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công
việc khác, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Lao động
nữ là người sáng tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình Một phần
từ số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải
phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ Tuy vậy sự bất bình đẳng vẫn còn tồn
tại ở rất nhiều các nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ
bị hạn chế về mọi mặt: Đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị
trong xã hội thấp kém Trong 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo
khổ thì có đến 70% là lao động nữ Có ít nhất 1/2 triệu lao động nữ tử vong do
các biến chứng về mang thai, sinh đẻ
Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc: “ Lao động nữ chiếm 13% trong
Quốc hội, 14% trong cương vị lãnh đạo, quản lý hay cán bộ cao cấp của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
doanh nghiệp” Theo điều tra của Văn phòng quốc tế về việc làm thì lao động
nữ nhận tiền ít hơn nam giới 25% Ngân hàng thế giới nghiên cứu về “bạo lực trên cơ sở giới” tại Việt Nam cho thấy: 80% các gia đình điều tra có bà vợ bị chồng mắng chửi và 15% các bà vợ bị chồng đánh
Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam và được thể hiện qua Tám chứ vàng mà người đã tặng cho những người phụ nữ Việt Nam: “ Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Những phẩm chất ấy được thể hiện qua sự anh hùng chống giặc ngoại xâm, đảm việc nước giỏi việc nhà, cần cù chịu khó, hết lòng vì chồng con vì gia đình và vì xã hội Trong những thời kỳ khác phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam cũng được phát huy mạnh mẽ dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào Ngày nay,
so với các nước khác trong khu vực thì người phụ nữ Việt Nam có điều kiện hơn để tiếp cận với giáo dục, học tập, việc làm và tham gia vào lĩnh vực quản
lý Hiện nay họ đã giữ một số vị trí quan trọng trong xã hội như: Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng, Thứ tưởng, Vụ trưởng, Tổng giám đốc, giám đốc, …Tuy nhiên so với quốc tế thì tỷ lệ phụ nữ là đại biểu quốc hội của Việt Nam còn thấp và có xu hướng giảm dần Theo số liệu của Văn phòng Quốc Hội thì tỷ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia vào Quốc hội khoá IX (1992 - 1997) là 18,5%; Khoá X (1997 - 2002) là 26%; Khoá XI (2002- 2007) là 27,3%; Khoá XII (2007 - 2012) là 25,76% (Văn phòng Quốc hội, 2010) Ở các cấp địa phương phụ nữ hiện tại chiếm 16% số đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã Điều này cho thấy giữa chính sách và thực tế còn nhiều bất cập
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội Nghĩa vụ công dân và chức năng làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Trình độ học vấn của phụ nữ cũng ngày
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được nâng cao hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết Tỷ lệ phụ nữ tốt nghiệp đại
học là 36,24%; Thạc sĩ là 33,95%; Tiến sĩ 25,69% Điều này cho thấy phụ nữ
ngày càng có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của xã hội
1.1.3.2 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân
Trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng lao động nữ luôn
đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước, Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) đã công nhận
quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trên mọi phương diện Sự nghiệp
giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và
ngày càng được phát triển Lao động nữ là người đóng góp chính cho nền
kinh tế và đấu tranh chống đói nghèo bằng cả những công việc được trả công
và không được trả công ở gia đình, ngoài cộng đồng và nơi làm việc; Tỷ lệ
lao động nữ tham gia các ngành nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng cao Nhiều
khâu trong sản xuất nông nghiệp do lao động nữ đảm nhiệm Việc trao quyền
sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân đã cho phép kinh tế gia đình
phát triển thuận lợi và đa dạng Ngoài sản xuất nông nghiệp nhiều gia đình đã
làm thêm các ngành nghề khác và theo đó thu nhập của các hộ cũng được
tăng thêm Người lao động nữ được chủ động hơn trong sắp xếp công việc
đồng áng, chăm lo con cái và thu vén nhà cửa
Lao động nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã
hội nguồn nhân lực với trí lực và thể lực dồi dào phát triển ngày càng cao
Lao động nữ đóng vai trò chính trong nền kinh tế, vai trò của họ trong sự phát
triển kinh tế nông thôn thể hiện qua các mặt sau:
- Trong lao động sản xuất: Trong cơ cấu dân số, gần 80% phụ nữ Việt
Nam sống ở nông thôn Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú,
đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau và
sinh sống ở những vùng nông thôn khác nhau Họ hoạt động ở mọi ngành nghề
- kể cả những ngành nghề nặng nhọc và độc hại Theo thống kê, lao động nữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nông thôn chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp (riêng nông nghiệp, lao động nữ chiếm 56,29%) và họ, hiện đang sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp Phụ nữ nông thôn là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọng nhất mang lại thu nhập cho các hộ gia đình
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, lao động nữ còn đảm nhiệm chức năng làm vợ, làm mẹ - đó chính là thiên chức của họ Họ phải làm hầu hết công việc không tên và không được trả lương, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội Họ phải lo từng bữa cơm cho gia đình, chăm sóc dạy bảo con cái - là những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước sau này đang ngày càng tốt hơn trong trường học đầu đời đó chính là gia đình mà người phụ nữ, người mẹ là người thầy tận tâm, tận lực dạy bảo chăm lo
- Trong sinh hoạt cộng đồng: Lao động nữ tham gia hầu hết các hoạt động diễn ra ở xóm, làng, thôn, bản như: Việc họ hàng, việc làng, việc xóm… góp phần giữ gìn và phát triển giá trị cộng đồng
Như vậy, dù được thừa nhận hay không được thừa nhận, thực tế trong cuộc sống hàng ngày và những gì lao động nữ làm đã khẳng định vai trò của
họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại Lao động nữ cũng phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được nam giới chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, xã hội cũng cần có những chương trình trợ giúp để lao động nữ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân
* Những yếu tố thuộc về quan niệm xã hội: Quan niệm về giới, những
phong tục, tập quán trong xã hội là những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến vai trò của lao động nữ trong việc phát triển kinh tế hộ Lao động nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì thì việc nội trợ vẫn là thuộc
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trách nhiệm về người phụ nữ, đây là quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm
nay Sự tồn tài của những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài
năng sáng tạo của chị em, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia
đình Họ không thể đi xa, vắng nhà lâu ngày hay phó mặc việc nhà cho chồng
hay cho gia đình được Gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và
nội trợ gia đình đè nặng nên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn làm cho
họ không thể tập trung sức lực, thời gian và trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và
các hoạt động xã hội Chính sự tồn tại của những quan niệm, hủ tục trên đã khiến
nhiều chị em trở nên không mạnh dạn trong việc làm ăn, không năng động sáng
tạo bằng nam giới và họ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Như vậy,
quan niệm về giới, sự bất bình đẳng nam nữ và phong tục tập quán đã là một
nguyên nhân cơ bản cản trở sự tiến bộ và vai trò của lao động nữ trong việc phát
triển kinh tế - xã hội
* Những yếu tố thuộc về nhận thức và thông tin tuyên truyền: Trình độ
học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế:
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi, phương tiện thông tin nghe nhìn và sách
báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận
và nắm bắt các thông tin khoa học liên quan đến kiến thức, phát triển sản
xuất, chăn nuôi và trồng trọt gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian sản xuất
nông nghiệp, chăn nuôi thì người phụ nữ dường như có rất ít thời gian dành
cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết
kiến thức xã hội mà phần lớn họ dành thời gian còn lại cho các công việc của
gia đình Do vậy, lao động nữ bị hạn chế về trình độ kỹ thuật và chuyên môn,
có sự hiểu biết bị hạn chế Theo giáo sư Lê Thi đưa ra kết quả nghiên cứu thì
phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%; còn nam
giới tỷ lệ này là 10% Theo thông báo của LHQ thì hiện nay trên thế giới còn
840 triệu người mù chữ trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số đó 180 triệu trẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
em không được đi học vì có tới 70% là trẻ em gái Còn Việt Nam, thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo rất cao, chiếm tới gần 90% tổng
số lao động không qua đào tạo trong cả nước Chỉ có 0,63% nữ công nhân kỹ thuật có bằng, trong khi ở nam giới thì đạt 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình
độ Đại học và trên Đại học chỉ là 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ) Điều này đã cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của lao động nữ là rất thấp và thấp hơn nhiều so với nam giới
Do đó, số lao động nữ làm công ăn lương cũng thấp hơn nam giới Lương trung bình của lao động nữ chỉ bằng 72% mức lương của nam giới
Lao động nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt thông tin pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới, các phương tiện hiện đại vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ luôn thấp hơn so với nam giới
- Sức khoẻ: Sự hạn chế về sức khoẻ do đặc thù của nữ giới và thời gian
làm việc cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Đặc biệt với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là mang thai, sinh đẻ, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém
đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm cho vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp kém hơn
- Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ: Thiếu thông tin không chỉ
làm phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh mà còn làm cho phụ nữ bị hạn chế cả về tầm nhận thức và hiểu biết xã hội Phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn trong mỗi ngày và chiếm gần hết thời gian của họ Do vậy cơ hội để phụ nữ giao tiếp rộng rãi, tham gia hội họp để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm Theo báo cáo của Chính phủ thì 80% lượng báo chí
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phát hành được tập trung ở thành thị, có nghĩa là 80% dân số nông thôn chỉ tiếp
cận được 20% lượng báo chí phát hành Đây cũng chỉ là con số lý thuyết, trên
thực tế có nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, người dân còn chưa hề được
tiếp xúc với báo chí và các hình thức chuyền tải thông tin khác
* Những yếu tố thuộc về thiên chức, ngộ nhận: Yếu tố không thể nhắc
đến có ảnh hưởng tới vai trò của phụ nữ chính là nguyên nhân chủ quan do
chính họ gây ra Phụ nữ thường cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc
gia đình, con cái… là việc của họ Họ cũng tỏ ra không hài lòng về người đàn
ông thạo việc nội trợ Vì lẽ đó, họ đã vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho
mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình và sản xuất càng đè nặng nên
người phụ nữ khiến họ càng mệt mỏi, làm họ tự đánh mất dần vai trò của
mình trong gia đình cũng như trong xã hội
Qua các yếu tố bao gồm cả khách quan lẫn chủ quan đã tác động không
tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn
của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì thế cần phải tiến tới quyền bình đẳng
đối với phụ nữ trên khắp thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao
động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
1.1.5 Những thách thức đối với lao động nữ ở nông thôn
1.1.5.1 Về chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia
vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được
huy động vào quá trình lao động Cũng giống như nguồn lực khác, số lượng
và đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong công
việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
Người phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ ở khu vực nông thôn nói
riêng phải chịu nhiều thiệt thòi Do quan niệm định kiến về vai trò giới, về
năng lực của người phụ nữ và cho rằng phụ nữ cần có nhiều thời gian để làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
việc nhà, các gia đình ở nông thôn thường đầu tư ít hơn cho việc học của em gái Trình độ của phụ nữ từ đó mà bị ảnh hưởng rất nhiều và chất lượng nguồn lực của lao động nữ ở khu vực nông thôn cũng thấp
1.1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con người, đối với phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa con khoẻ mạnh Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phương tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con người Mặc dù những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, như nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “Đến năm 1992 Việt Nam đã đứng hàng thứ hai về tỷ lệ người lớn biết chữ và là một trong những nước đứng đầu về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong các nước ASEAN” (tr.22), tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khỏe của phụ nữ nông thôn
* Về sức khoẻ thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu trên đã phản ánh một thực tế: Sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc biệt là sức khoẻ của phụ nữ tại các vùng nông thôn So với phụ nữ thành thị, phụ nữ nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% so với 63,7% Tỷ lệ đau ốm của phụ nữ nông thôn chênh lệch theo các vùng dân cư, cao nhất là vùng Tây Nguyên (89,5%), Duyên Hải Miền Trung (78,6%) và thấp nhất là miền núi trung du (62,8%) Điều tra mức sống dân cư lần hai (năm 2000) cho thấy: Tỷ
lệ đau ốm của người dân khá cao, nông thôn cao hơn đô thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% so với 38%) Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lao động thì ở một vài nhóm tuổi được xem là “Sung sức” hơn cả như từ 25-
29; 30- 34; 40- 44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn cao hơn nam giới từ 10%
đến 12% (tr.34) Sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số
yếu tố sau đây:
- Lao động vất vả: Người phụ nữ đảm nhiệm khối công việc gấp đôi
nam giới Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh
đó, phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong cả thời gian mang thai, rồi
sinh con và trong thời gian này họ vẫn phải lao động bình thường Có hơn
một nửa phụ nữ không nghỉ trước khi sinh con, họ vẫn làm việc ngoài đồng
cho đến khi sinh đẻ kể cả những công việc nặng như làm đất, có đến 67,6% số
người được trả lời “làm đất khi mang thai đến khi đẻ”, 80% trả lời “gánh nặng
từ khi mang thai đến khi sinh nở”, trong đó có 75% trả lời “gánh nặng” khi
thai nhi 1-3 tháng Tính trung bình, một phụ nữ mỗi ngày làm việc từ 12 đến
16 giờ và chỉ có 3 giờ dành cho việc ăn uống và các sinh hoạt cá nhân khác
Tổng thời gian nghỉ ngơi tỷ lệ nghịch với thời gian sản xuất Điều này cho
thấy, gánh nặng của công việc nội trợ và các hoạt động sản xuất đã ảnh hưởng
không tốt tới sức khoẻ của người phụ nữ
- Môi trường ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm
là rất nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn
nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Nghiên cứu mới đây
(2000-2001) cho thấy: Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, có nhiều ao hồ, ao tù với
những lùm cây xum xuê bao bọc xung quanh Đây là nguồn nước chủ yếu để
người dân nông thôn dùng làm nước sinh hoạt hàng ngày, đồng thời tại các
nguồn nước này cũng là nơi tạo điều kiện cho muỗi, các ký sinh trùng sinh
sống và phát triển Đây cũng chính là nguyên nhân gây lên một số bệnh truyền
nhiễm như: Sốt rét, tiêu chảy, cúm, sởi, sốt xuất huyết….Nước bị ô nhiễm
nhiều thì người chịu hậu quả nhiều nhất chính là phụ nữ và trẻ em Theo các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ công cộng thì “Phụ nữ và trẻ em đặc biệt dễ bị mắc những bệnh có liên quan đến nước không sạch” (tr.25)
- Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều, chế độ dinh dưỡng kém, thiếu kiến thức
về chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Có một điều dễ nhận thấy là ở Việt Nam còn
có hiện tượng tảo hôn Mấy năm gần đây, ở các vùng nông thôn, hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân văn hoá
- xã hội trong đó nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng vì chính sách giao ruộng dài hạn (từ 15 đến 20 năm) Tảo hôn lấy chồng sớm, người phụ nữ chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con…Trong bối cảnh như vậy, cần tuyên truyền giáo dục cho nhân dân nhất là nam, nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn thấy rõ hậu quả của việc kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều chẳng những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ mà còn hạn chế những cơ hội phát triển của
họ, đồng thời nó còn là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói bởi vì số con và khoảng cách sinh con thường tỷ lệ nghịch với sức khoẻ của phụ nữ và thu nhập bình quân của họ
- Dinh dưỡng không đảm bảo: Năm 1995, một cuộc khảo sát quốc gia
về mức độ thiếu Vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu protein đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng I (chỉ số về khối lượng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Hiện nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng Do vậy, cần đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em
* Về sức khoẻ tinh thần
- Đời sống văn hoá nghèo nàn: Nếu như trong quá trình chuyển sang
nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của người dân nói chung và người dân ở nông thôn nói riêng đã được cải thiện khá tốt thì đời sống văn hoá tinh
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thần ở nông thôn lại chưa tương xứng với quá trình tăng trưởng kinh tế đó,
nếu không nói là nghèo nàn Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu thông
tin thời sự chính trị văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế là hiện tượng dễ
thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Đời sống văn hoá nghèo nàn là một lý
do làm thanh niên rời bỏ làng Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống
văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nông
thôn, đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới,
đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về pháp luật, lối sống
văn hoá
- Áp lực do nam giới dời nông thôn: Mở rộng kinh tế thị trường tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân tự do di chuyển để tìm việc làm, kiếm sống
Điều này dẫn tới hiện tượng di cư của người nông thôn ra đô thị hoặc các khu
công nghiệp để làm thuê, tăng thu nhập cho bản thân và gia đình họ Dẫn đến
xu hướng nam giới ly hương ngày càng nhiều nên ở nông thôn chủ yếu còn lại
phụ nữ và trẻ em Mọi việc sản xuất, công việc gia đình dồn nên đôi vai người
phụ nữ, tạo nên sức ép đối với người phụ nữ trong hoạt động sản xuất và gia
đình Vì vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn càng
nhanh sẽ không những góp phần giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ trong các
hoạt động sản xuất và tái sinh sản
Mặc dù có những đóng góp lớn cho xã hội, trên thực tế phụ nữ nông thôn
còn nhiều thiệt thòi và hiện đang đối mặt với những thách thức lớn, đó là:
- Tình trạng lao động quá tải thường xuyên để đảm bảo đời sống gia đình
- Thiếu việc làm theo thời vụ và hiệu quả lao động chưa cao
- Thiếu thông tin và ít được tham gia hoạt động văn hoá, thể thao
- Ảnh hưởng của phong tục, tập quán và sự ràng buộc trong quan hệ gia
đình, làng xóm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nghèo nàn, điều kiện ăn, ở và vệ sinh môi trường thiếu bảo đảm
- Gia đình đông con và phân công lao động bất hợp lý
Những vấn đề nổi cộm được nêu ở trên là thực tế hiện đang tác động tới mọi người dân, cả nam giới cũng như phụ nữ nông thôn Tuy nhiên, với vị thế của mình, phụ nữ nông thôn rõ ràng chịu tác động mạnh hơn, thiệt thòi lớn hơn so với nam giới và đặc biệt là so với phụ nữ ở thành thị
1.1.5.3 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện lao động trong sản xuất, kinh doanh Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phần lớn lao động ở nông thôn nói chung và lao động nữ nói riêng trong sản xuất vẫn còn dựa vào thói quen, kinh nghiệm và họ chưa tiếp cận nhiều với kỹ thuật mới, phương thức sản xuất mới theo cơ chế thị trường Đi lên trên con đường công nghiệp hoá không thể chỉ có lòng nhiệt tình và sự chịu khó, cần
cù, mà còn cần một yếu tố quan trọng hơn, đó là: Kiến thức về chuyên môn,
kỹ thuật liên quan đến sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp nông thôn Quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới
Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ
có một ưu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.5.4 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Một nghiên cứu về vấn đề giới trên phạm vi toàn cầu (Ngân hàng thế
thời, 2001) cho rằng: “Trong những thập niên vừa qua, tuy đã có những tiến bộ
vượt bậc về bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt
của đời sống và trên khắp thế giới Bản chất và mức độ phân biệt đối xử ở các
nước và các khu vực là rất khác nhau, nhưng hình thái phân biệt đối xử thì nổi
bật Không một khu vực nào của các nước đang phát triển, phụ nữ lại có quyền
bình đẳng hoàn toàn với nam giới”
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất
bình đẳng giới là: Sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất
như đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng Phụ nữ ít được tham gia
trong bộ máy lãnh đạo các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực
của đời sống gia đình, xã hội ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc
lợi về y tế, giáo dục Đó chính là nhân tố cản trở những đóng góp của lao động
nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
Tiếp cận đất đai: Đối với người dân Việt Nam, dù sống ở đâu, thì nhà cửa,
đất đai bao giờ cũng có giá trị lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống
gia đình tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay điều này là đặc biệt quan trọng khi
mà gần 80% dân cư sống ở nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai chính
là tư liệu sản xuất chính của họ Việc xem xét người đứng tên trong giấy sở hữu
đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cần thiết để phân biệt rõ về người
tiếp cận và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác là quyền của
mỗi người nam và nữ trong gia đình
Tiếp cận pháp luật: Ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình
đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp 1992 và những bộ luật liên
quan đến quyền sở hữu như luật Đất đai (1993), Bộ luật Dân sự (1995), Luật
Hôn nhân và gia đình (2000)…Tuy nhiên những khía cạnh nhất định của các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
luật này khi thực hiện có xu hướng trái ngược với cam kết ban đầu về sự bình đẳng giữa nam và nữ Ở nước ta, có 78,3% số hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ, còn hộ do nữ làm chủ hộ chỉ chiếm 21,7% (kết quả điều tra cơ bản về gia đình và vai trò của người phụ nữ của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ năm 1998 - 2000) Như vậy có đến 78,3% hộ do nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Mặc dù trong các văn bản pháp luật hoàn toàn không có hàm ý phân biệt đối xử nào giữa nam và nữ, xong trên thực tế, do không được đứng tên giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất nên từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ rơi xuống vị trí thừa hành không có quyền quyết định Việc không có quyền tương đương với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tư liệu sản xuất quan trọng của
hộ gia đình nông thôn đã ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới
Tóm lại, thiếu cơ hội trong việc quản lý và sử dụng tài sản, trong điều hành việc sản xuất đã ảnh hưởng đến quyền bình đẳng về kinh tế, xã hội của người phụ nữ Sự phân biệt quyền hạn theo giới đã hạn chế những cơ hội lựa chọn dành cho phụ nữ trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ sự phát triển
Tiếp cận giáo dục và đào tạo: Đầu tư cho giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định tương lai của con người, tạo ra cơ hội nghề nghiệp, việc làm và thu nhập Nếu phụ nữ có được trình độ học vấn thì khi làm mẹ sẽ chăm sóc con cái tốt hơn, góp phần đáng kể vào việc làm giảm tỷ
lệ tử vong ở trẻ em Trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh đẻ Phụ
nữ càng có học vấn cao thì càng có ít con Trong năm 1999 chỉ có hơn 3% trên tổng số phụ nữ nông thôn trên 13 tuổi có trình độ chuyên môn, Điều này hạn chế đáng kể khả năng tham gia vào quá trình phát triển của phụ nữ
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việc làm và thu nhập của phụ nữ: Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò
của nam và nữ trong kinh tế thị trường phản ánh một thực tế là ở hai khu vực
lao động được trả lương và không trả lương, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn
nam giới
Mặc dù pháp luật quy định “công việc như nhau, tiền lương như nhau”
nhưng trong khu vực có lương do thường làm công việc giản đơn nên tiền
công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam giới Nguyên
nhân chủ yếu do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi hỏi
tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lương thấp Trừ khu
vực dịch vụ và may mặc, còn hầu hết các ngành khác, lương của phụ nữ thấp
hơn của nam giới do không làm quản lý Trong nông nghiệp tiền công bình
quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền công của nam giới (tr.22)
Ra quyết định: Sự bất bình đẳng nam nữ trong gia đình không chỉ biểu
hiện ở quyền sử dụng đất và quyết định đối với đất đai, nó còn được thể hiện
ở quyền ra quyết định đối với những lĩnh vực khác của đời sống gia đình Tìm
hiểu vấn đề quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng
nhà cửa, những khoản chi tiêu lớn liên quan đến thành quả lao động của gia
đình ta thấy có nhiều bất cập Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung
với tư cách là người giữ tiền của gia đình trong những quyết định quan trọng
nhưng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu
Tóm lại, việc ít điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu
nhập kém cùng với việc không có tiếng nói trong các quyết định quan trọng
của đời sống gia đình dẫn đến địa vị kinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so
với nam giới Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào
việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở một
số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ ở một số nước trên thế giới
Lao động nữ nông thôn chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Lao động nữ nông thôn luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong lực lượng lao động điều này đúng trong hầu hết các nhóm tuổi Những nghiên cứu từ các quốc gia trong khu vực Châu Á cho thấy: Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh
tế của phụ nữ theo các nhóm tuổi khác nhau thường rất cao Một vài số liệu thống kê sau sẽ chứng minh cho nhận thức đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới.Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%).Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30- 49, tiếp đó là các nhóm tuổi 60 - 64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng độ tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động (tr.26)
Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao
nhất ở độ tuổi 20 - 29, tiếp đó là nhóm tuổi 30 - 39 và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Điều tương đồng với Bangladesh là ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 - 64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi (tr.25)
Ấn Độ: Tỷ lệ phụ nữ nông thôn tham gia sản xuất ngoài quốc doanh
cao hơn tỷ lệ nữ tham gia trong nền sản xuất quốc doanh vì trong thời kỳ này
số hộ gia đình không có đất sản xuất và nghèo đói tăng lên ở nông thôn Nguồn nhân lực tham gia sản xuất trong các thành phần kinh tế ở nông thôn
có sự phân chia không đều, phụ nữ nông thôn chiếm đa phần trong các lao động có tính chất không căn bản, chủ yếu là do phân công lao động trong gia
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đình, đặc biệt là do không làm chủ được tình trạng nghèo đói đã hạn chế khả
năng lao động của phụ nữ vì tính cạnh trong công việc, phụ nữ sẽ không thể
có năng suất lao động cao như nam giới nếu họ vừa phải đảm nhận công việc
nuôi con và nội trợ Do địa vị của mình trên thị trường thấp kém hơn so với
nam giới đã ảnh hưởng đến chỉ số về giáo dục, y tế và dinh dưỡng của phụ nữ
Ở các nước phát triển, hầu hết các phụ nữ không tham gia sản xuất
nông nghiệp thì tham gia vào các công việc dịch vụ Như ở các nước đang
phát triển, lực lượng nữ tham gia sản xuất trong các nhà máy đang tăng lên
ngang bằng với phụ nữ làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Phụ nữ tham gia sản
xuất trong các lĩnh vực công nghiệp thường tập trung ở một số ngành như: 2/3
lực lượng lao động trong ngành may mặc trên thế giới là phụ nữ, số lượng
phụ nữ tham gia lĩnh vực may mặc chiếm 1/5 số lượng phụ nữ lao động trong
các lĩnh vực công nghiệp Trong khi đó nam giới lại chiếm tỷ lệ cao hơn ở các
ngành như: Mỏ, cơ khí, xây dựng, giao thông…
1.2.2 Vai trò lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam
1.2.2.1 Thực trạng lao động nữ nông thôn ở Việt Nam
Ở bất kỳ một xã hội nào, trong thời đại nào, gia đình cũng có vị trí hết
sức quan trọng Là một tế bào của xã hội do đó gia đình luôn là một vấn đề
được quan tâm Đối với Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế hiện
nay, vị trí gia đình càng trở nên quan trọng bởi gia đình là một bộ phận khăng
khít, là động lực của sự phát triển Trong mỗi gia đình, lao động nữ chính là
người chăm lo mọi việc thường gọi là quản lý “Tay hòm chìa khoá” Điều này
chứng tỏ phụ nữ có vị trí kinh tế không nhỏ đối với gia đình Xã hội hiện đại
đã hình thành nhiều kiểu gia đình, nhưng dù cho ở loại hình gia đình nào, vai
trò của phụ nữ cũng không thể thiếu Không phải ngẫu nhiên mà con người
hiện đại đã khẳng định rằng “Giáo dục một người đàn ông - được một người
đàn ông, giáo dục một người đàn bà - được cả một gia đình” (Theo R.Tagor)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội cũng chính là đề cao vai trò của người phụ nữ
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Một là, do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó lao động nữ chiếm 55%
- Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Ba là, do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm
90, khiến cho các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất thị trường tiêu thụ hàng hoá, đa số lao động nữ làm nghề này lại chuyển về làm nông nghiệp
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
- Bên cạnh đó, dòng người từ nông thôn ra thành phố làm việc phần đông là nam giới Phụ nữ, nhất là những người có gia đình, do truyền thống gắn chặt với công việc gia đình, chăm lo cho con cái và trình độ học vấn, năng lực, hiểu biết thấp, khả năng do điều kiện, hoàn cảnh hạn chế đã ở lại nông thôn thay chồng con làm các khâu trong sản xuất nông nghiệp và quản
lý gia đình cũng như giải quyết các vấn đề xã hội khác trong thôn bản và trong dòng tộc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ
nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ đã được ghi trong Hiến pháp Việt
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nam năm 1946 và Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm
2001) một lần nữa đã khẳng định: “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau
về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều
kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của
mình trong xã hội” (Điều 63)
Bảng 1.1: Tỷ lệ phụ nữ tham gia công tác Đảng, Chính quyền
các cấp giai đoạn 2011- 2016
(%)
2 Tỷ lệ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ
2011-2016
26,00
Nguồn số liệu: Ban Tổ chức Trung ương, 2012
Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã được khẳng
định trong Nghị quyết 04/BTC ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị TW Đảng về
“Đổi mới tăng cường công tác vận động nữ trong thời kỳ đổi mới”: “…Phụ nữ
Việt nam đã có tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế - chính trị xã hội của đất nước Phụ nữ vừa là người lao động, người công
dân vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người…” Hiện nay, lao
động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động của xã hội
Vai trò và những đóng góp của lao động nữ Việt Nam còn thể hiện qua
tỷ lệ phụ nữ tham gia trong mọi lĩnh vực của xã hội Đại diện của phụ nữ ở
các cấp ra quyết định trong toàn ngành còn rất ít Hiện nay có quá ít cán bộ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chủ chốt là nữ trong toàn ngành NN &PTNT Tính chung tất cả các Cục, Vụ, Viện, Tổng Công ty và các trường trong ngành chỉ có 5,9% cán bộ lãnh đạo (cấp phó và tương đương) là nữ Trên toàn quốc phụ nữ chỉ chiếm 3,42% lãnh đạo các UBND tỉnh, huyện, xã.Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc
ra quyết định là yếu và chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm mà họ gánh vác
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, lao động nữ đã khẳng định vai trò của mình trong vai trò nhà quản lý Tuy nhiên so với lao động nam, tỷ lệ nữ quản lý vẫn thấp hơn, điều này chủ yếu do trình độ học vấn của người lao động nữ vẫn còn thấp chưa đáp ứng được các yêu cầu cao cùng với sự phát triển của xã hội
Bên cạnh việc tham gia trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, lao động nữ Việt Nam còn phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ làm vợ, làm mẹ gánh vác công việc nội trợ gia đình Trong hoàn cảnh sống còn nhiều thiếu thốn đặc biệt đối với đông đảo lao động nữ nông thôn họ phải lo lắng cho gia đình
đủ cơm ăn đủ áo mặc, con cái được học hành và khoẻ mạnh Người phụ nữ còn là người giữ gìn truyền thụ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy lao động nữ nói chung và lao động nông thôn nói riêng đã đóng góp to lớn vào phúc lợi gia đình và xã hội Họ kinh doanh, sản xuất, làm ruộng, mang lại thu nhập cho gia đình, chăm sóc con cái và làm công việc nội trợ Thực tế trong khi phụ nữ phần lớn làm việc nội trợ và còn phải chăm sóc cho những người phụ thuộc bao gồm trẻ em và người già, trong khi họ nhận được sự giúp đỡ của nam giới thật là ít ỏi nhưng sự đóng góp vào sản xuất của
họ cho gia đình gần bằng nam giới
1.2.2.2 Vai trò của Lao động nữ nông thôn ở Việt Nam
a Vai trò trong xã hội
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong một xã hội văn minh, người phụ nữ đóng vai trò đặc biệt quan
trọng Phụ nữ không chỉ giỏi trong việc nhà mà còn tích cực tham gia và gặt
hái nhiều thành công trong các lĩnh vực xã hội
Phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước càng khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết Trước
tiên, chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của phụ nữ trong gia đình
Họ có ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Họ được ví
như người giữ lửa trong gia đình Họ không chỉ biết chăm lo cho chồng con mà
còn biết giúp đỡ chia sẻ, đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp đỡ chồng trong
công việc Họ là những người mẹ sẵn sàng hy sinh không màng đến bản thân để
chăm sóc dạy bảo con cái
Trong thời kỳ CNH - HĐH, người phụ nữ càng phải chịu nhiều đòi hỏi
khắt khe của xã hội hiện đại Bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình,
người phụ nữ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội Phụ nữ có mặt trên
hầu hết các công việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng Ngày càng có nhiều
người phụ nữ trở thành chính trị gia, các nhà khoa học nổi tiếng, những nhà
quản lý, kinh doanh năng động Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người
phụ nữ là không thể thiếu được như ngành công nghiệp may mặc, công
nghiệp dệt, ngành dịch vụ… Đôi khi chính những người phụ nữ đã khiến cho
nam giới phải “ganh tị” về những thành công mà người phụ nữ đạt được
Không thể kể hết những gì mà người phụ nữ đã đóng góp cho gia đình
và cho xã hội Chắc chắn rằng thế giới không thể tồn tại dù chỉ một ngày nếu
thiếu người phụ nữ Chúng ta luôn cảm thấy tự tin và an tâm hơn khi biết bên
cạnh chúng ta luôn có những người mẹ tận tâm, người vợ thuỷ chung và các
nữ đồng nghiệp thông minh
b Vai trò trong gia đình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình và suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng Nếu gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào này Đồng thời, gia đình là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người phụ nữ
Tuy vậy, đã có một thời chúng ta có quan niệm sai lầm đánh giá không đúng vị trí của gia đình trong sự phát triển của xã hội Chúng ta chỉ tập trung vào giải quyết những vấn đề xã hội nói chung còn vấn đề gia đình ngày càng trở nên nhỏ bé Nói đến giải phóng phụ nữ, người ta dường như quên mất rằng, gánh nặng gia đình còn đè nặng lên vai các bà, các mẹ
Người phụ nữ chịu sự tác động của môi trường xã hội và ngược lại, người phụ nữ cũng tác động tới sự vận động của xã hội Sự tác động của xã hội đối với phụ nữ bao gồm cả hai mặt: Tích cực và tiêu cực Người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với thực tế gia đình và xã hội Bởi chính tại hai môi trường này người phụ nữ mới thể hiện, thực hiện được những chức năng của mình Điều cần ở đây là làm sao để gia đình và xã hội tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho người phụ nữ phát huy được khả năng của mình, có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề Có thời gian tham gia các hoạt động văn hoá, hoạt động xã hội và có chút thời gian cho riêng mình Hiện nay, những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại đã góp phần hỗ trợ phần nào cho người phụ nữ trong công việc nội trợ, giảm bớt sức lao động của họ trong gia đình Song, phụ nữ vẫn là người làm chính công việc nhà, từ việc bếp núc tới việc dạy bảo con cái, chăm lo đồi sống tinh thần cho các thành viên trong gia đình Cùng với công việc gia đình là công việc xã hội làm cho quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ của người phụ nữ là rất hiếm, thậm chí đối với một số đối tượng lao động nữ thì thời gian này hầu như là không có Bên cạnh đó, nguy cơ bạo lực gia đình đang là mối đe doạ cho một
số không nhỏ phụ nữ Trong khi đó, ở đâu đâu bạo lực gia đình cùng xuất hiện làm cho đời sống vật chất lẫn tinh thần của người phụ nữ bị tổn thương
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.3 Tình hình lao động nữ ở Tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi, sản xuất chủ yếu là nông
nghiệp, vì vậy lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, đặc biệt là
các ngành yêu cầu sự tỉ mỉ, khéo léo, chăm chỉ như nông nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp,… Sau đây là tình hình về lao động nữ phân theo ngành kinh tế
của tỉnh Thái Nguyên trong một số năm vừa qua:
Bảng 1.2: Tỷ lệ lao động nữ đang làm việc phân theo ngành kinh tế tỉnh
Thái Nguyên, năm 2012
Tổng số Lao động nữ
Số lao động
Tỷ lệ (%)
Số lao động
Tỷ lệ (%)
7 Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe
có động cơ khác
20 Hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình, sản
xuất SP vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nguồn số liệu: Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2012
Về tỷ lệ lao động nữ đang làm việc và phân theo ngành kinh tế năm
2012 tại Tỉnh Thái Nguyên, cụ thể tại bảng 1.2 Thái Nguyên có tổng số lao động toàn tỉnh năm 2012 là 665.652 người, trong đó lao động nữ là 335.522 người chiếm 50,4% Lao động nữ tập trung nhiều ở các ngành gồm: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 245.573 người chiếm 73,2%; buôn bán, sửa chữa ô tô,
mô tô 24.870 người, chiếm 7,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo 19.806 người chiếm 5,9%; giáo dục và đào tạo 17.203 người chiếm 5,1%; dịch vụ lưu trú và
ăn uống 8.491 người chiếm 2,5%
Hiện nay, lao động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động của xã hội, vai trò và những đóng góp của lao động nữ tỉnh Thái Nguyên thể hiện qua các số liệu tại bảng 1.3
Bảng 1.3: Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2011 - 2016
Nguồn số liệu: Báo cáo của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên, 2012
Theo bảng thống kê trên cho thấy, tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2011 - 2016 chiếm tỷ lệ rất thấp: Trong tổng số đại biểu toàn tỉnh là 5048 người thì số nữ đại biểu là 1114 người chiếm 22,07% còn số còn lại là nam giới (trong đó cấp tỉnh chiếm 28,57%; cấp huyện, thành phố chiếm 27,38%; cấp xã, phường chiếm 21,58%) Nếu so sánh với nhiệm kỳ 2004 - 2009 thì tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở tỉnh Thái Nguyên đã tăng hơn nhiều (nhiệm kỳ 2004- 2009 thì tổng số đại biểu là nữ là 1026 người chiếm 21,1% trong 5048
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tổng đại biểu của tỉnh Thái Nguyên) Như vậy qua đây thấy rằng tỷ lệ phụ nữ
tham gia vào Hội đồng nhân dân đã tăng lên (tăng lên 0,97% so với nhiệm kỳ
2004 - 2009)
1.3 Một số bài học kinh nghiệm cho Huyện Võ Nhai
Từ những thách thức đã nêu ở trên, để nâng cao vai trò của lao động nữ
trong phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Võ Nhai, nhất thiết phải nâng
cao vị thế của lao động nữ trong các hoạt động kinh tế, xã hội và đặc biệt là
trong việc ra quyết định
- Xây dựng, hoàn thiện chiến lược và quy hoạch phát triển nông nghiệp,
nông thôn một cách toàn diện vừa mang tính trước mắt vừa mang tính lâu dài;
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trước hết phải vì sự phát triển của nông
thôn, của người dân nông thôn Cần tạo việc làm phù hợp với lao động nữ và
sử dụng lao động tại chỗ
- Phát triển các khu công nghiệp phù hợp với tính chất và chất lượng lao
động nông thôn, nhất là lao động nữ, tạo ra việc làm tại chỗ có thu nhập phù
hợp, từng bước điều chỉnh và hạn chế xu hướng lao động nông thôn di cư tự
do tìm kiếm việc ở các đô thị, các khu công nghiệp
- Có chính sách ưu đãi giúp cho các gia đình nông thôn có điều kiện phát
triển kinh tế gia đình - phát triển kinh tế tại chỗ Đó là chính sách hỗ trợ vốn,
thành lập tổ sản xuất hoặc công ty, phát triển trang trại, ngành nghề và sử
dụng tốt nhất các nguồn lực địa phương, như lao động, đất đai, mặt nước,
rừng, khoáng sản
- Có chính sách phù hợp hướng vào tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất cho
người phụ nữ nông thôn thực hiện tốt các thiên chức của họ Đồng thời, có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển hệ thống dịch vụ xã hội ở nông
thôn vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho người phụ nữ vừa san sẻ bớt gánh
nặng công việc nội trợ gia đình Qua đó, từng bước thay đổi quan niệm của xã
hội về công việc nội trợ gia đình, và xã hội cần phải thừa nhận lao động nội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trợ là một dạng lao động xã hội và mang giá trị xã hội như lao động sản xuất, kinh doanh
- Có chính sách nâng cao trình độ dân trí nói chung, trình độ văn hóa, trình độ nhận thức và hiểu biết xã hội của người phụ nữ nông thôn, để họ có điều kiện và cơ hội ngày càng thực hiện tốt hơn vai trò và chức năng quan trọng của mình trong đời sống xã hội nông thôn, đồng thời có điều kiện chủ động và tích cực tham gia vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Để người phụ nữ nông thôn ngày càng phát huy được tiềm năng sáng tạo to lớn của mình, ngày càng trở thành chủ nhân đích thực của xã hội nông thôn thời kỳ CNH, HĐH vấn đề mang ý nghĩa quyết định là những chính sách, những chương trình, kế hoạch về phát triển nông nghiệp, nông thôn, về gia đình và người phụ nữ nông thôn cần thấm nhuần quan điểm giới Quan điểm giới hơn lúc nào hết đó là chìa khóa cho sự tiến bộ và phát triển thực sự của phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Vai trò của lao động nữ ở nông thôn trong phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên đã được nhìn nhận như thế nào?
(2) Những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc nâng cao vai trò của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Võ Nhai như thế nào? Nguyên nhân của các kết quả trên là gì?
(3) Giải pháp nào có thể phát huy và nâng cao vai trò của phụ nữ ở huyện Võ Nhai trong sản xuất, nuôi dưỡng và hoạt động cộng đồng?
(4) Để nâng cao vai trò của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Võ Nhai cần phải thực hiện những giải pháp gì?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
2.2.1.1 Chọn vùng nghiên cứu
Huyện Võ Nhai được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng phía Bắc là các xã miền núi đá hiểm trở, chủ yếu sản xuất Lâm nghiệp và khai thác khoáng sản; vùng phía Nam là các xã thuộc vùng núi thấp chủ yếu sản xuất nông nghiệp; vùng trung tâm bao gồm các xã và thị trấn nằm dọc theo đường Quốc lộ 1B, có các dịch vụ và kinh tế phát triển nhất trong huyện
Số lượng mẫu điều tra: Do chưa có các đề tài điều tra trước đó do vậy theo
lý thuyết thống kê để đảm bảo cho các mẫu có lượng đủ lớn mỗi một nhóm nên
có số lượng mẫu n >30 Theo mục đích của đề tài sẽ phân tổ ra làm 2 nhóm: Nhóm hộ có thu nhập khá; Nhóm hộ có thu nhập trung bình và thấp Để dễ dàng so sánh và phân tích nhằm tìm hiểu những tác động và ảnh hưởng của vấn
đề nghiên cứu chúng tôi tiến hành điều tra tại mỗi xã là 40 mẫu
Cụ thể, các xã được lựa chọn như bảng sau:
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 2.1: Lựa chọn địa điểm điều tra
1 Thị trấn Đình Cả 40 Đại diện cho khu vực trung tâm của huyện
khoáng sản phía Bắc
2.2.1.2 Chọn hộ nghiên cứu
Đây là bước hết sức quan trọng có liên quan trực tiếp tới độ chính xác của
các kết quả nghiên cứu Vì vậy, hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã được
chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng và được lựa chọn
Phương pháp lựa chọn mẫu điều tra theo 3 cấp:
+ Đầu tiên lựa chọn các xã đại diện cho cho 3 vùng kinh tế của huyện
+ Trên cơ sở các xã đã lựa chọn sẽ lựa chọn các thôn
+ Cuối cùng tại mỗi thôn sẽ tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên để
đảm bảo tính đại diện và có thể suy rộng của mẫu điều tra
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Nguồn số liệu:
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan: Phòng thống kê, sở
Lao động - TBXH, sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên
- Hội phụ nữ các xã chọn điều tra, hội phụ nữ huyện Võ Nhai
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phương pháp thu thập: Thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
2.2.3.2 Thu Thập thông tin sơ cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra thuộc cấp xã và cấp hộ đã chọn tiến hành phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin
Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal) - “Cùng tham gia đánh giá nông thôn PRA là quá trình cùng chia sẻ, phân tích thông tin và hành động giữa các bên tham gia Trong đó, người dân đóng vai trò chủ đạo
để xác định những khó khăn của cộng đồng, thảo luận các giải pháp và lập kế hoạch hành động để giải quyết các khó khăn đó Xác định khó khăn, các yếu
tố ảnh hưởng đến lao động hộ nông dân - Thảo luận nguyên nhân - giải pháp - Lập kế hoạch hành động
Điều tra bằng bảng hỏi: Ghi nhận từ các câu hỏi chuẩn bị sẵn từ phiếu phỏng vấn hộ từ quan sát thực địa Số liệu điều tra sơ cấp được tác giả thu trên thực địa thông qua các phương pháp sau:
* Phương pháp phỏng vấn cấu trúc: Phương pháp phỏng vấn cấu trúc là phương pháp phỏng vấn mà bảng câu hỏi được chuẩn bị trước và có thang đánh giá Các câu hỏi được phát triển xung quanh những yêu cầu, vấn đề quan trọng
Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tôi đã tiến hành điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về nông nghiệp và các công việc chính của gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Bảng câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục
vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ
4 Nhóm thông tin về nguồn thu nhập, chi phí của hộ
5 Nhóm thông tin về nghề nghiệp của các thành viên trong hộ
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6 Nhóm thông tin ghi nhận những ý kiến của chủ hộ về tỷ lệ tham gia
các công việc thường xuyên của các thành viên trong gia đình
7 Nhóm thông tin về thừa kế tài sản
2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật
và tính toán tuỳ theo mục đích nghiên cứu, phân tích của đề tài trên chương
trình Excel 2007 của Microsoft
2.2.5 Phương pháp phân tích
2.2.5.1 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân loại thu thập và tiêu dùng theo các mức khác
nhau: Nhóm hộ có thu nhập khá và nhóm hộ có thu nhập TB và thấp, phân
loại lao động theo dân tộc theo ngành nghề, theo lứa tuổi, văn hoá …
2.2.5.2 Phương pháp thống kê so sánh, mô tả
Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp, chúng tôi phân tích các chỉ
số bình quân để thấy được sự khác nhau về tư liệu sản xuất, thu nhập, tiêu
dùng… giữa các nhóm hộ, giữa các dân tộc
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Nhóm các chỉ tiêu chung
* Tổng số hộ, số nhân khẩu, tỉ lệ nam, nữ
* Tổng số lao động và cơ cấu lao động
* Diện tích đất đai và cơ cấu đất đai
* Thu nhập và cơ cấu thu nhập
2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu về xã hội
* Số hộ khá, trung bình, nghèo, tỷ lệ…
* Số hộ do phụ nữ làm chủ gia đình và lao động chính là nữ giới
* Số hộ do nam giới là chủ gia đình và lao động chính là nam giới
2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vai trò của lao động nữ
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vai trò trong sản xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Tỷ lệ phụ nữ làm chủ gia đình hộ nông dân
* Tỷ lệ lao động nữ trên tổng số lao động
* Tỷ lệ hộ có lao động chính là phụ nữ
* Thu nhập bình quân của hộ có phụ nữ làm chủ hộ
* Thu nhập bình quân của hộ có phụ nữ là lao động chính
* So sánh với tổng số, so sánh với hộ mà nam giới là chủ gia đình và lao động chính là nam giới
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vai trò trong nuôi dƣỡng, chăm sóc gia đình
* Tỷ lệ người chăm sóc sức khỏe cho người thân trong gia đình
* Tỷ lệ người phụ nữ quản lý tài chính trong gia đình
* Phân công công việc hàng ngày trong gia đình
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vai trò trong các hoạt động xã hội cộng đồng
* Trình độ văn hóa và chuyên môn của phụ nữ so với nam giới
* Mức độ tiếp cận thông tin sản xuất của lao động nữ
* Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NỮ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN VÕ NHAI
3.1 Đặc điểm của Huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Võ Nhai là một huyện vùng cao nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái
Nguyên, huyện nằm trong toạ độ 21036’ - 21056’ độ vĩ Bắc và 105045’ -
106017’ độ kinh Đông
+ Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn)
+ Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương
+ Phía Nam giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang)
+ Phía Bắc giáp huyện Na Rì (tỉnh Bắc Kạn)
Thị trấn Đình Cả cách thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 3 và quốc lộ 1B là
120km, cách thành phố Thái Nguyên 37km và cách thị trấn Đồng Đăng -
Lạng Sơn 80km
Với vị trí địa lý như vậy, nếu sử dụng hết lợi thế trong giao lưu hàng
hoá, du lịch sẽ thúc đẩy nhanh sản xuất và có thể đưa Võ Nhai trở thành một
huyện trung tâm vùng cao Việt Bắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Phần lớn là diện tích vùng núi dốc và núi đá vôi (chiếm 92%) những vùng đất bằng phẳng, tiện cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chủ yếu chạy theo các khe suối, các triền sông và các thung lũng ở vùng núi
đá vôi
Toàn huyện có độ cao bình quân từ 100 đến 800m so với mặt biển, đất
nông nghiệp phân bố ở độ cao bình quân từ 100 đến 450m Căn cứ vào địa hình,
địa mạo và đất đai huyện chia làm 3 tiểu vùng là những đặc điểm như sau:
Tiểu vùng 1: Gồm 6 xã, địa hình núi cao dốc, phần lớn là núi đá vôi Một
số vùng phân bố dọc theo các khe suối và thung lũng có độ dốc từ 00 - 250 là
vùng thích hợp để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
Tiểu vùng 2: 3 xã dạng địa hình thung lũng tương đối chạy dọc theo
quốc lộ 1B với hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn Đất đai của vùng hai
bên đã sử dụng hầu hết vào nông nghiệp
Tiểu vùng 3: Gồm 5 xã, có địa hình bát úp bị chia cắt nhiều bởi các khe
suối, sông và xen lẫn núi đá vôi, các soi bãi ven sông địa hình thấp và tương
đối bằng phẳng hơn các xã vùng 1 Có thể sử dụng phát triển cây hàng năm,
cây lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả
Tóm lại, địa hình của huyện rất đa dạng, phức tạp cho phép phát triển
một nền nông lâm nghiệp đa dạng và phong phú, song đây cũng là điều kiện
bất lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, và sự giao
lưu hàng hoá trong và ngoài huyện
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Khí hậu của huyện Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi
Bắc bộ chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô
Nhiệt độ
Võ Nhai nằm trong vùng lạnh của tỉnh Thái Nguyên Phía Đông Bắc
thuộc vùng lạnh nhất của tỉnh, phía Tây Nam ở mức trung bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhiệt độ trung bình năm 22,40C, các tháng 6,7,8 là các tháng nóng, nóng nhất tháng 7, có nhiệt độ trung bình 27,80C tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt
độ trung bình 14,90C các tháng mùa đông từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau.Với chế độ nhiệt như trên rất thích hợp để phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, Á nhiệt đới, đặc biệt là các loại cây ăn quả: Hồng, táo, na, cam, quýt, vải, nhãn… đối với cây ngắn ngày có thể trồng 2 - 3vụ/năm
Có địa hình nằm gọn giữa hai dãy núi cao, dãy núi đá vôi cao phía Bắc
và dãy núi sa phiến thạch ở phía Nam tạo nên khí hậu ẩm ướt, ít mưa, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc có thể thích hợp trồng cây lâu năm như vải, xoài…
Chế độ mưa
Huyện chịu ảnh hưởng của chế độ mưa vùng núi Bắc Bộ Mùa mưa từ tháng 4 - 10, mùa khô từ tháng 11 - 3 năm sau Lượng mưa bình quân năm 1.941,5mm, thấp hơn so với các vùng khác của tỉnh Thái Nguyên (2050 - 2.500mm) và phân bố không đồng đều, lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa với 1.765mm, chiếm 41% tổng lượng mưa cả năm Tháng có mưa lớn nhất là tháng 8, tới 372,2mm Mưa lớn và tập trung chủ yếu thường gây sói mòn, lũ lụt ảnh hưởng tới cây trồng, độ phì của đất có các công trình thuỷ lợi, đặc biệt với khu vực 3 và khu vực 1 có địa hình phức tạp Độ dốc cao, bị chia cắt nhiều
Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước lại cao, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất là với cây hàng năm So sánh số ngày có mưa, mưa phùn và số ngày có sương muối trong năm là các tháng 11, 12, 1, 2, 3 Mặt khác trong tháng 12, 1 thường có những đợt rét đậm kéo dài, là điều kiện khí hậu rất thích hợp cho các loại cây
ăn quả như vải, nhãn, hồng, na,…
Chế độ ẩm
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Độ ẩm bình quân của huyện dao động từ 80 đến 87% Các tháng mùa
khô, nhất là các tháng cuối năm 11, 12, độ ẩm thấp gây khó khăn cho việc
phát triển cây vụ đông muộn, nhưng cùng tạo điều kiện cho thu hoạch và bảo
quản nông sản trong thời kỳ này
* Thủy văn
Võ Nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi các dãy
núi đá và núi đất nên nguồn nước khá phong phú, nhưng phân bố không
đồng đều
Ngoài nguồn nước mặt từ những dòng sông suối còn có các nguồn nước
ngầm từ các hang động trong núi đã vôi, hiện đã và đang sử dụng vào sản
xuất và sinh hoạt
Trong huyện có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông cầu
và sông thương, được phân bố ở hai vùng Bắc và Nam huyện
- Hệ thống sông Nghinh Tường: Phân bố ở phía Bắc huyện là nhánh
của Sông cầu bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng
Sơn), chạy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Xa và
đổ ra sông cầu
- Hệ thống sông Rong: Phân bố ở phía Nam huyện là nhánh của sông
thương Bắt nguồn từ xã Phú Thượng chảy qua Thị trấn Đình Cả, Tràng Xá,
Dân Tiến, Bình Long và chảy qua tỉnh Bắc Giang Trong những năm gần
đây, do nạn chặt pháp rừng, khai thác rừng bất hợp pháp đã làm giảm nguồn
sinh thuỷ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước về mùa khô và gây lũ lụt vào mùa
mưa làm pháp huỷ công trình giao thông, thuỷ lợi và phá hoại sản xuất, làm
ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Biện pháp cấp bách là trồng và bảo
vệ rừng tái sinh ở các vùng thượng nguồn để điều tiết nguồn nước phục vụ
cho nhân dân
3.1.1.4 Tài nguyên đất đai của huyện Võ Nhai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Qua biểu đồ 3.1 ta thấy, trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện thì chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp với 61.758,07 ha chiếm 73,56% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện; đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ với 11.473,09 ha chiếm 13,67% Ngoài ra, huyện còn có một diện tích lớn đất chưa sử dụng với 7.808,12 ha chiếm 9,3% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tuy nhiên, diện tích đất chưa sử dụng này lại chủ yếu là đất núi đá không có rừng cây, ít có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân Kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/50.000 của huyện do Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp xây dựng, toàn huyện có 4 nhóm đất chính:
- Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,16% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện
- Đất đen: 935,5 ha chiếm 1,11% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện
- Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 76,13% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, phân bố ở các thung lũng trên địa bàn tất cả các xã trong huyện
- Đất đỏ: 3.770,8 ha chiếm 4,49% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện
- Các loại đất khác: 13.570,44 ha chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện
Nhìn chung đất thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, đất có phản ứng chua, đến chua mạnh (pH = 4 - 4,5), nghèo các chất dinh dưỡng dẫn tiêu, Cation kiềm trao đổi, độ no Bagơ và dung dịch hấp thụ thấp Đất bị rửa trôi xói mòn mạnh làm phân dị phẫu diện đất theo thành phần cơ giới: Phần trên phẫu diện đất có phong hoá bị sét nghèo và Sesquioxit Hiện tượng này đặc biệt rõ ở nhóm đất xám
Diện tích đất có tầng canh tác dày chỉ chiếm 8,3%, tầng canh tác dày trung bình 35,5% và tầng mỏng chiếm 50% diện tích tự nhiên của huyện
Về độ dốc của đất, độ dốc từ 0o-8o chiếm 6%; từ 8o-15o chiếm 13%; từ 15o
-25o chiếm 32,8%; độ dốc lớn hơn 25o chiếm 41,22% diện tích đất của huyện
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Về độ cao: Đất bằng chiếm 6%; đất đồi và đất thấp (25-200 m) chiếm
31%; đất núi ở độ cao trên 200 m chiếm 60% diện tích đất tự nhiên của huyện
Tóm lại, quỹ đất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp thực tế rất ít, phần
lớn diện tích đất chỉ có thể phục vụ mục đích lâm nghiệp Việc sử dụng và cải
tạo đất phải được đặt ra và giải quyết trong chiến lược phát triển lâu bền
3.1.1.5 Tài nguyên nước
Nước là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống và sản xuất của con
người Đối với địa bàn huyện Võ Nhai hiện nay có 2 hệ thống sông nhánh
trực thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố đều ở hai vùng
phía Nam và phía Bắc của huyện
- Sông Nghinh Tường: Là sông lớn nhất chảy qua phía Bắc huyện, là
nhánh của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy
qua các xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và đổ vào
sông Cầu
- Sông Rong: Phân bổ ở phía Nam của huyện, là nhánh sông của sông
Thương bắt nguồn từ xã Phú Thượng chay qua thị trấn Đình Cả, xã Tràng Xá,
Dân Tiến, Bình Long và chảy vào tỉnh Bắc Giang
Ngoài ra trên địa bàn huyện có khá nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác nhau,
nguồn nước ngầm cũng tương đối phong phú, chất lượng nước phần lớn là
nước ngọt, mềm, chưa bị ô nhiễm là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông
nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, mực nước mặt hạ thấp vào mùa khô và
hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu của huyện còn nhiều hạn chế nên tuy có
nguồn nước khá phong phú nhưng vẫn dẫn đến tình trạng thiếu nước trong
sản xuất nông nghiệp, nhất là trong vụ Đông - Xuân
3.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Võ Nhai nằm trong tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng sinh khoáng Đông Bắc
- Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Do vậy Võ Nhai
có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và trữ lượng
- Kim loại màu:
+ Chì, Kẽm: Được tìm thấy ở vùng Thần Sa, quy mô nhỏ, các mỏ quặng không được tập trung
+ Vàng: Có ở khu vực Thần Sa, chủ yếu là vàng sa khoáng, với hàm lượng thấp
- Khoáng sản phi kim loại: Phốtphorít ở La Hiên trữ lượng được đánh giá vào loại khá, dự kiến có khoảng 60.000 tấn
- Toàn huyện có nhiều dải núi đá vôi kéo dài và có nguồn đất sét với trữ lượng lớn, đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng
Tuy nguồn khoáng sản có trữ lượng lớn nhưng đến nay huyện Võ Nhai khai thác vẫn chưa đáng kể, tài nguyên khoáng sản vẫn nằm ở dạng tiềm năng
là chính
3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
3.1.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
* Đặc điểm về dân số Dân số của huyện Võ Nhai năm 2013 là 65.583 người, chiếm 5,7% dân
số của cả tỉnh Thái Nguyên Mật độ dân cư bình quân năm 2013 là 78 người/
km2, bằng 5,05% so với mật độ trung bình của tỉnh và bằng 83,5% so với trung bình của cả nước Mật độ dân số thấp là điều kiện thuận lợi cho Huyện trong quy hoạch phát triển đô thị, các khu, cụm (điểm) quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp quy mô lớn
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo số liệu từ bảng ta thấy tổng dân số của toàn huyện là 65.583 người,
trong đó dân số trong khu vực thành thị là 3.673 người chiếm 5,60% dân số
của huyện, còn 94,40 % dân số của huyện lại tập trung ở khu vực nông thôn
Như vậy dân cư của huyện chủ yếu tập trung trong khu vực nông thôn Đây
cũng là một điểm khó khăn trong việc phân công lao động nông thôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.1: Dân số của huyện Võ Nhai, năm 2013
Số lượng (người) Cơ cấu (%)
1.Chia theo khu vực
2.Chia theo giới tính
4.Tỷ suất sinh tự nhiên
Nguồn số liệu: Phòng thống kê huyện Võ Nhai, năm 2013
* Đặc điểm về dân tộc Toàn huyện có 8 dân tộc anh em là: Dân tộc Kinh chiếm 37% dân số của huyện; Dân tộc Tày chiếm 32%; Dân tộc Nùng chiếm 16%; Dân tộc Dao chiếm 14%, Các Dân tộc khác Như H- Mông, Cao Lan, Sán Chay, Hoa chiếm 1% được thể hiện qua biểu đồ 3.2:
Hình 3.2: Tỷ lệ dân tộc huyện Võ Nhai năm 2013
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nguồn số liệu: Niên giám thống kê Huyện Võ Nhai, năm 2013
* Đặc điểm về lao động
Về số lượng lao động: Năm 2013 huyện Võ Nhai có 39.794 lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế, chiếm 60,68% dân số và chiếm 5,7%
tổng số lao động của tỉnh Thái Nguyên Trong đó, lao động nông, lâm, và
thủy sản là 25.014 người (chiếm 5,70% lao động nông, lâm và thủy sản của
toàn tỉnh Thái Nguyên); ngành công nghiệp- xây dựng là 6.872 người (chiếm
5,69% lao động công nghiệp- xây dựng của toàn tỉnh); ngành dịch vụ có số
lao động là 7988 người (chiếm 5,74% lao động ngành dịch vụ của tỉnh)
Bảng 3.2: Lao động nữ phân theo các ngành của huyện Võ Nhai
trong giai đoạn 2011- 2013
Nguồn số liệu: Theo Niên giám Huyện Võ Nhai năm 2011, 2012, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Qua bảng số liệu phân tích tình hình lao động của huyện Võ Nhai phân theo các ngành ta thấy, lực lượng lao động của huyện qua các năm có sự biến động Tổng lao động nữ của huyện qua các năm có sự biến động Tổng lao động nữ của huyện năm 2012 so với năm 2011 đã tăng 234 lao động tức là tăng 1,21% Lao động nữ năm 2013 tăng lên 301 lao động so với năm 2012 tức là tăng lên 1,54% Cụ thể lao động chủ yếu tăng trong hai ngành Công nghiệp - xây dựng (năm 2012 so với năm 2011 tăng 5,30%, năm 2013 so với năm 2012 tăng 8,08%) và ngành Dịch vụ (năm 2012 so với năm 2011 tăng 5,05%, năm 2013 so với năm 2012 tăng 9,97%) Còn ngành Nông nghiệp thì lực lượng lao động lại giảm qua 3 năm cụ thể năm 2012 so với năm 2011 đã giảm đi 97 lao đông, tức là giảm 0,75%; năm 2013 so với năm 2013 đã giảm
đi 312 lao động, tức là giảm 2,44%
3.1.2.2 Tình hình phân bổ, sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai năm 2013
Năm 2013, Huyện Võ Nhai có tổng diện tích tự nhiên là 83.950,24 ha,
có cơ cấu sử dụng được thể hiện qua biểu đồ 3.3:
Đất nông nghiệp 87,5%
Đất Phi nông nghiệp 3,2%
Đất chưa sử dụng 9,3%
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 3.3: Cơ cấu sử dụng đất của huyện Võ Nhai
Nguồn số liệu: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai, năm 2013
Tình hình cụ thể về việc sử dụng đất của huyện Võ Nhai năm 2013
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng quỹ đất của huyện Võ Nhai năm 2013
(ha)
Cơ cấu (%)
III Đất chưa sử dụng 7.808,12 9,30
Nguồn: Phòng Tài nguyên - môi trường huyện Võ Nhai, năm 2013
Qua bảng số liệu ta thấy, trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện thì
chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp với 61.758,07 ha chiếm 73,56% tổng diện
tích đất tự nhiên của huyện; đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ với
11.473,09 ha chiếm 13,67% Ngoài ra, huyện còn có một diện tích lớn đất
chưa sử dụng với 7.808,12 ha chiếm 9,3% tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện Tuy nhiên, diện tích đất chưa sử dụng này lại chủ yếu là đất núi đá
không có rừng cây, ít có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.2.3 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của huyện Võ Nhai còn thấp kém Trong những năm gần đây được sự đầu tư của nhà nước bằng các chương trình, dự án như chương trình 135, chương trình 134, nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung, chương trình kiên cố hoá trường học … nên bộ mặt cơ sở hạ tầng của huyện cũng đã
có những phát triển mạnh mẽ Tuy vậy so với nhu cầu thực tế thì vẫn còn nhiều công trình hạ tầng cần được đầu tư để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế của địa phương
Đường giao thông: Toàn huyện Võ Nhai có 638,7 km đường giao thông,
trong đó đường Quốc lộ 1B dài 28 km; đường tỉnh lộ 265 có chiều dài 23,5
km kéo dài từ thị trấn Đình Cả đến xã Bình Long; có 98,9 km đường giao thông liên huyện; có 486,4 km đường giao thông liên xã, đường nội thị Đình
Cả 1,4 km
Một số tuyến đường chính của huyện Võ Nhai như sau:
- Đường Quốc lộ 1B: Qua các xã La Hiên - Lâu Thượng - Đình Cả - Phú Thượng
- Đường tỉnh lộ 265: Từ thị trấn Đình Cả - Tràng Xá - Dân Tiến - Bình Long - xã Quyết Thắng (huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) Đây là tuyến đường đã được trải nhựa năm 2002 và hiện nay đã có một số điểm bị hư hỏng Tuy nhiên đã giải quyết rất nhiều khó khăn trong việc đi lại của nhân dân trong và ngoài huyện
- Tuyến đường từ xã Tràng Xá đi xã Liên Minh và ra Hợp Tiến (Đồng Hỷ) đã được đầu tư nâng cấp rải cấp phối và cơ bản cũng đã đảm bảo cho việc
đi lại của nhân dân được thuận tiện
- Các tuyến đường từ Quốc lộ 1B - Thần Sa - Cúc Đường - Thượng Nung - Sảng Mộc - Vũ Chấn - Nghinh Tường đã được rải nhựa, xây dựng cầu
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cống năm 2010, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân nói riêng
và nhiệm vụ phát triển kinh tế nói chung của vùng
- Các tuyến giao thông liên xã, liên thôn xóm cơ bản vẫn là các tuyến
đường mòn, việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa
Các tuyến giao thông này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giao
lưu, thông thương, phát triển kinh tế nông thôn của huyện Tuy nhiên do địa
hình vùng cao, cấp đường thấp nên mỗi lần mưa to đã gây hư hỏng nặng ở
nhiều nơi nên đã ảnh hưởng rất lớn đến sự giao lưu kinh tế giữa các vùng
trong huyện
Hệ thống điện: Võ Nhai là huyện vùng cao, dân cư sống không tập trung
vì vậy việc cung cấp điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân còn
gặp nhiều khó khăn Hiện nay trên dịa bàn huyện có 59 trạm biến áp, 126,1
km đường điện 0,4 KV Đang đầu tư xây dựng 2 trạm biến áp, 7km đường
dây trung áp, 12km đường dây 0,4 KV tại xã Bình Long Hiện nay còn nhiều
xóm bản chưa có điện lưới quốc gia nhu cầu xây dựng lưới điện của các xã
trên địa bàn huyện trong thời gian tới còn rất lớn: 35 trạm biến áp, đường dây
trung áp 92,8 km, đường dây 0,4 KV là 196,2 km
Hệ thống thuỷ lợi: Được sự hỗ trợ của nhà nước và sự đóng góp của
nhân dân, huyện Võ Nhai đã đầu tư xây dựng một số công trình thuỷ lợi vừa
và nhỏ nhằm phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp Hiện có 8 hồ chứa,
36 đập tràn và 14 trạm bơm, có tổng số 94,2 km kênh mương dẫn nước, trong
đó kênh xây kiên cố là 29,8 km, kênh đất là 64,3 km Các công trình thuỷ lợi
tập trung đa số ở các vùng trung tâm và một số xã phía nam của huyện
Lượng nước của 8 hồ chứa với các công trình thuỷ lợi được xây dựng gần đây
đã hỗ trợ rất lớn cho việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, đảm bảo tưới
cho 894,8 ha trong 2 vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Y tế: Hệ thống y tế của huyện về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu khám,
chữa bệnh của nhân dân, toàn bộ 15/15 xã, thị trấn đã có trạm y tế Toàn huyện có 165 giường bệnh với 151 cán bộ y tế Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm ngay từ tuyến cơ sở Nhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân trên đại bàn huyện Võ Nhai là tốt, tuy nhiên bên cạnh đó ngành y tế còn gặp nhiều khó khăn nhất là tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một số
trạm y tế xã
Giáo dục: Trong những năm gần đây, các trường học trên địa bàn huyện
đã được kiên cố hoá, cơ sở vật chất dần được hoàn thiện và mở rộng, phòng học kiên cố cấp 4 chiếm 76% Tại thời điểm thống kê năm 2010 ở các cấp học toàn huyện có 63 trường với 743 lớp học, 1.163 giáo viên và 14.584 học sinh Giáo dục hướng nghiệp cũng dần được mở rộng và đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và đào tạo nghề cho người lao động
Cơ sở vật chất khác: Hệ thống nước sạch, hệ thống trụ sở làm việc các
xã, thị trấn, hệ thống các phương tiện vận tải, cơ sở chế biến nông, lâm sản … cũng có những bước phát triển trong thời gian qua, tuy nhiên so với yêu cầu phát triển thì còn ở mức rất khiêm tốn cần tiếp tục được đầu tư phát triển Tóm lại, cơ sở vật chất huyện Võ Nhai trong những năm gần đây đã được quan tâm đầu tư xây dựng, tuy nhiên vẫn còn tương đối nghèo nàn, chưa đủ điều kiện phục vụ yêu cầu kiến thiết cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Võ Nhai
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, tuy những năm qua được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước nhưng cho đến nay mặt bằng chung của huyện vẫn là một huyện nghèo nhất tỉnh Thái Nguyên Trong những năm qua huyện Võ Nhai đã đạt được một số kết quả quan trọng trong phát triển