Trong khi đó các doanh nghiệp xây dựng có mặt hầu hết tại tất cả các nơi trong tỉnh từ trung tâm thành phố tới vùng sâu vùng xa nhất của tỉnh, đối tượng sử dụng lao động cũng đông đảo nh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN NGỌC PHẨM
NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN NGỌC PHẨM
NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn Khoa học: PGS.TS Lê Trung Thành
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu sử dụng để nghiên cứu trong Luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học hàm, học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đã đều được chỉ rõ
nguồn gốc./
Thái nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Khoa sau đại học của Trường cùng các thầy cô giáo, những người đã mang hết tâm sức
và trí tuệ để truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hướng dẫn các bước viết Luận văn tốt nghiệp
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư - Tiến sỹ Lê Trung Thành Giám đốc Trung tâm đào tạo từ xa Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, người thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Sở Lao Động Thương binh Xã Hội tỉnh Tuyên Quang, Cục Thuế tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Chi cục bảo vệ môi trường và các doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh
đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành Luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, Luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc Xin trân trọng cảm ơn./
Tuyên Quang , ngày 25 tháng 11 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Phẩm
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5 Kết cấu của Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Các lý luận liên quan đến doanh nghiệp 5
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 5
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp 5
1.1.2 Các lý luận liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 9
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 9
1.1.2.2 Lợi ích của thực hiện trách nhiệm xã hội 11
1.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp trong đóng góp trách nhiệm với xã hội 14
1.1.2.4 Nội dung của trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp 16
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.2.1 Kinh nghiệm của các Doanh nghiệp ở địa phương khác đối với vấn đề nghiên cứu 29
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Tổng công ty bia Hà nội 29
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Tổng công ty Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa 30
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Tập đoàn Viettel - Chi nhánh Tuyên Quang 32
1.2.2 Bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các doanh nghiệp ở các địa phương trên 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Chọn địa bàn nghiên cứu 37
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.2.1 Thông tin thứ cấp 37
2.2.2.2 Thông tin sơ cấp 38
2.2.2.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 39
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 41
3.1 Đặc điểm của các dn xây dựng tỉnh Tuyên Quang 41
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang 41
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của Tuyên Quang 42
3.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Tuyên Quang 44
3.2.1 Thực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong tỉnh thời gian qua 44
3.2.1.1 Khái quát về thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 44
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.1.2 Thực trạng về thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 45
3.2.2 Đánh giá mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội của các DNXD trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 50
3.2.2.1 Khái quát về các doanh nghiệp được điều tra 50
3.2.2.2 Đánh giá mức độ thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn 52
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng 62
3.3.1 Nhân tố quy định pháp luật 62
3.3.2 Nhân tố nhận thức của xã hội 63
3.3.3 Nhân tố sức mạnh thị trường 64
3.3.4 Nhân tố lợi nhuận 64
3.3.5 Nhân tố ý thức, đạo đức của chủ doanh nghiệp 65
3.4 Đánh giá về các hoạt động xã hội của các doanh nghiệp xây dựng 65
3.4.1 Những kết quả đạt được 65
3.4.2 Những tồn tại 66
3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại 67
3.4.4 Ý kiến của các cơ quan quản lý về việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp XD trên địa bàn tỉnh 68
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 71
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu của vấn đề nghiên cứu 71
4.1.1 Quan điểm 71
4.1.2 Định hướng 72
4.1.3 Mục tiêu 72
4.2 Giải pháp để nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4.2.1 Giải pháp từ chính doanh nghiệp 72
4.2.1.1 Nâng cao nhận thức về CSR 73
4.2.1.2 Có chiến lược dài hạn trong xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn CSR với những bước đi thích hợp 73
4.2.1.3 Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh 75
4.2.2 Một số giải pháp khác đưa ra 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 82
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSR Corporate Social Responsibility
ĐĐKĐ Đạo đức kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
QTKD Quản trị kinh doanh
LĐ- TBXH Lao động - thương binh xã hội
TNHH Trách nhiệm Hữu hạn
TNLĐ Tai nạn lao động
DNXD Doanh nghiệp xây dựng
TNXH Trách nhiệm xã hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả việc làm và các chính sách cho người lao động tại các
DN xây dựng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2013 46
Bảng 3.2 Các khoản đóng góp ngân sách của doanh nghiệp xây dựng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2013 47
Bảng 3.3 Hoạt động hỗ trợ cộng đồng của các DNXD tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2013 49
Bảng 3.4 Thông tin chung về mẫu điều tra 51
Bảng 3.5 Các loại hình doanh nghiệp được điều tra 52
Bảng 3.6 Tình hình tham gia các hoạt động trách nhiệm xã hộicủa các DN điều tra 53
Bảng 3.7 Lao động và các chính sách cho người lao độngtheo loại hình DNXD 54
Bảng 3.8 Chi phí phúc lợi của DN cho người lao động 55
Bảng 3.9 Chi phí cho đào tạo và bảo hộ lao động 56
Bảng 3.10 Các hoạt động bảo vệ môi trường mà cácDNXD tham gia 57
Bảng 3.11 Chi cho hoạt động bảo vệ môi trường 58
Bảng 3.12 Chi cho các hoạt động xã hội, từ thiện 58
Bảng 3.13 Các hoạt động xã hội, từ thiện 59
Bảng 3.14 Các hoạt động thực hiện trách nhiệm đối với người tiêu dùng của các DNXD 60
Bảng 3.15 Các hoạt động thực hiện trách nhiệm đối với cổ đôngcủa các DNXD loại hình cổ phần 61
Bảng 3.16 Thống kê mô tả ý kiến DN về nhân tố pháp luật 62
Bảng 3.17 Thống kê mô tả ý kiến DN về nhận thức xã hội 63
Bảng 3.18 Thống kê mô tả ý kiến DN về sức mạnh thị trường 64
Bảng 3.19 Thống kê mô tả ý kiến DN về lợi nhuận 64
Bảng 3.20 Thống kê mô tả ý kiến DN về ý thức, đạo đức của chủ doanh nghiệp 65
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây kinh tế xã hội phát triển nhanh, nhiều doanh
nghiệp tham gia vào nền kinh tế chung làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng miền,
đem lại cuộc sống đầy đủ thu nhập cao hơn cho người dân các vùng sâu, vùng
xa, các doanh nghiệp ngoài đóng góp cho ngân sách còn trực tiếp đóng góp
vào các hoạt động xã hội, hỗ trợ an sinh xã hội tại các vùng có dự án Tuy
nhiên còn không ít doanh nghiệp còn có nhiều hoạt động ảnh hưởng đến
người dân và xã hội như khai thác khoáng sản, vận chuyển khoáng sản vật
liệu làm hư hỏng hạ tầng, ô nhiễm khói bụi, nước thải mà không phải doanh
nghiệp nào cũng có ý thức trách nhiệm với cộng đồng để giảm thiểu các tác
động trên Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp vì quá coi trọng lợi nhuận
của mình nên đã coi nhẹ quyền lợi của người lao động, không đóng bảo hiểm
xã hội, không đảm bảo các điều kiện làm việc cho người lao động Đặc biệt
đối với các doanh nghiệp trong ngành xây dựng với đặc thù là công việc
không ổn định, địa điểm làm việc không ổn định, lực lượng lao động cũng
không ổn định thậm chí nhiều doanh nghiệp xây dựng không có ý định đầu tư
hoạt động lâu dài, tham gia thi công xây dựng mang tính ăn xổi, chụp giật,
tham gia thị trường trong một giai đoạn ngắn sau đó chuyển hướng kinh
doanh khác nên bằng mọi giá cắt giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tối đa
hóa lợi nhuận
Tuyên Quang là một tỉnh nằm ở Trung du miền núi phía Bắc có điều
kiện kinh tế xã hội không được thuận lợi như các tỉnh khác Cụ thể không có
cửa khẩu biên giới, không có cảng biển, đường sắt, đường hàng không, giao
thông duy nhất chỉ có hệ thống đường bộ và đường thủy chỉ có tàu nhỏ đi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được Nằm cách xa các trung tâm kinh tế như Hà Nội, Hải Phòng… nên kinh
tế chậm phát triển Do đó các doanh nghiệp tại Tuyên Quang đa phần là doanh nghiệp nhỏ, quy mô và doanh số đều thấp chủ yếu trong các ngành nghề xây dựng hạ tầng, dịch vụ thương mại Doanh nghiệp sản xuất hàng hóa chỉ có một vài doanh nghiệp như Thủy điện Tuyên Quang, Mía đường Sơn Dương, Xi măng Tân Quang, Bột giấy và Giấy An Hòa các doanh nghiệp này tuy có doanh thu lớn nhưng họ chỉ ở một khu vực nhất định, có ảnh hưởng đến một số lao động nhất định và môi trường sống khu vực xung quanh nhà máy và các doanh nghiệp này đều hầu hết có doanh thu cao đời sống tốt đóng góp xã hội cũng nhiều không cần phải nghiên cứu Trong khi đó các doanh nghiệp xây dựng có mặt hầu hết tại tất cả các nơi trong tỉnh từ trung tâm thành phố tới vùng sâu vùng xa nhất của tỉnh, đối tượng sử dụng lao động cũng đông đảo nhất, nhiều thành phần nhất và thực hiện trách nhiệm xã hội với bên trong doanh nghiệp cũng như bên ngoài còn nhiều vấn đề phải bàn nhất, từ việc ký hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm, thanh toán lương, bậc lương và nâng lương…, ảnh hưởng môi trường sống cũng rất nhiều
Thu ngân sách hàng năm của tỉnh cũng ở mức thấp chỉ trên dưới 1.000
tỷ đồng/năm Năm 2013 thu ngân sách đạt trên 1.200 tỷ đồng, do đó kinh phí cho các hoạt động phúc lợi xã hội bị hạn chế nhiều và rất cần sự tham gia gánh vác trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Chính vì tính quan trọng như vậy nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên
cứu Luận văn Thạc sỹ quản lý kinh tế về đề tài: “Nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang" để
góp phần tìm ra các giải pháp tích cực nhằm giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng có thể phát triển một cách bền vững và đóng góp nhiều hơn cho
xã hội
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu nội dung trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao trách nhiệm xã
hội của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh
+ Đánh giá được thực trạng về trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh, mức đóng góp hàng năm cho các hoạt động an sinh
xã hội, việc đảm bảo quyền lợi người lao động, mức độ ảnh hưởng của các
hoạt động của doanh nghiệp đối với cộng đồng
+ Đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp xây dựng như yếu tố việc làm, doanh thu, lợi nhuận, địa bàn
hoạt động…
+ Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp xây dựng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu về nội dung trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh
- Về thời gian: nghiên cứu trong 3 năm 2011-2013
- Về không gian: Phạm vi các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Ý nghĩa đối với thực tiễn: nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
- Đối với khoa học: cụ thể hóa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận văn gồm có 04 Chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm xã hội của DN Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các DN xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Chương 4: Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các lý luận liên quan đến doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Điều 4 của Luật doanh nghiệp có định nghĩa rằng: "Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh"
Theo định nghĩa pháp lý đó thì doanh nghiệp phải là những đơn vị tồn
tại trước hết vì mục đích kinh doanh Những thực thể pháp lý, không lấy kinh
doanh làm mục tiêu chính cho hoạt động của mình thì không được coi là
doanh nghiệp
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
* Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp
Công ty cổ phần:
1 Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của
Luật này
2 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh (Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty);
chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
3 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát
hành cổ phần (Điều 63 - Luật Doanh nghiệp 2005)
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:
a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;
b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Đều 43, 44 và 45 của Luật này
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
3 Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần
(Điều 38 Luật Doanh nghiệp 2005)
Công ty hợp danh:
1 Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh);
ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
2 Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh
3 Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào (Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005)
Doanh nghiệp tư nhân:
1 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp
2 Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng
khoán nào
3 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
(Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2005)
* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh
tế quốc dân
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp được phân thành các loại:
- Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây,
con Hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc
rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những
thiết bị máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành
phẩm Trong công nghiệp có thể chia ra: công nghiệp xây dựng, công nghiệp
chế tạo, công nghiệp điện tử v.v
- Doanh nghiệp thương mại: là những doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực thương mại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phối hàng hóa cho người tiêu dùng tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời Doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức dưới hình thức buôn bán sỉ hoặc buôn bán lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuất nhập khẩu
- Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: cùng với sự phát triển của nền kinh
tế, lĩnh vực dịch vụ càng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà còn ở tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như: Ngân hàng, Tài chính, Bảo hiểm, Bưu chính viễn thông, Vận tải, Du lịch, Khách sạn, Y tế v.v
Đề tài nghiên cứu về TNXH của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang do đó ở đây có thể nêu khái niệm doanh nghiệp xây dựng bao gồm:
- Các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, điện
- Các doanh nghiệp xây dựng dân dụng, sản xuất VLXD
- Các doanh nghiệp khai thác mỏ sản xuất vật liệu cát đá xây dựng
- Các doanh nghiệp duy tu bảo dưỡng, quản lý xây dựng đô thị, cấp thoát nước
* Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp
Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại:
- Doanh nghiệp quy mô lớn
- Doanh nghiệp quy mô vừa
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ
Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựa vào những tiêu chuẩn như:
- Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp
- Số lượng lao động trong doanh nghiệp
- Doanh thu của doanh nghiệp
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Lợi nhuận hàng năm
Trong đó tiêu chuẩn tổng số vốn và số lao động được chú trọng nhiều
hơn, còn doanh thu và lợi nhuận được dùng kết hợp để phân loại Tuy nhiên,
khi lượng hóa những tiêu chuẩn nói trên thì tùy thuộc vào trình độ phát triển
sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành cụ thể ở các thời kỳ khác nhau
mà số lượng được lượng hóa theo từng tiêu chuẩn giữa các quốc gia không
giống nhau
1.1.2 Các lý luận liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Doanh nghiệp không có trách nhiệm gì
đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của
doanh nghiệp, còn Nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã
có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho Nhà nước;
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Với tư cách là một trong những chủ thể
của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã
hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những
tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên Vì vậy, ngoài việc đóng thuế,
doanh nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng,
người lao động v.v
Nước ta có Bộ Luật lao động, Luật bảo vệ môi trường và những nghị
định hướng dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một
cách rõ ràng việc thực hành những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu
chuẩn kiểm định và công bố hiệu quả thực hiện Ở các nước khác, mối quan
tâm của lãnh đạo doanh nghiệp về lao động và môi trường được gom chung
vào một khái niệm gọi là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện
có tầm nhìn về phát triển bền vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh Khái niệm này bao gồm những tác động liên quan đến xã hội, môi trường và kinh tế
Thực ra hiện nay các tổ chức quốc gia và quốc tế cũng như những tổ chức phi chính phủ chưa có quan điểm thống nhất về nội dung của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Các nước Liên hiệp Anh biểu hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với khái niệm PPP bao gồm ba lĩnh vực: con người (People), hành tinh (Planet) và lợi nhuận (Pprofit) Trong quy chế và tiêu chí xét tặng giải thưởng của Giải thưởng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Việt Nam năm 2009, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã giới hạn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai lĩnh vực lao động và môi trường và cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả kinh tế” Nói cách khác, VCCI cũng dùng khái niệm PPP như đa số các tổ chức và doanh nghiệp quốc tế
Quan điểm của cá nhân tôi là một lãnh đạo doanh nghiệp khi chưa nghiên cứu về TNXH cũng chỉ hiểu một cách mơ hồ rằng trách nhiệm xã hội
là một chút ủng hộ cho quỹ này quỹ kia, đóng góp cho địa phương, làm nhà cho đồng bào nghèo, tặng sách bút giấy vở cho trẻ em, tặng chăn ấm cho đồng bào vùng cao… Tuy nhiên khi bắt tay nghiên cứu về trách nhiệm xã hội thấy những hiểu biết nhận thức của mình còn quá nhỏ bé, sơ sài Theo tôi trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp phải có được về những vấn đề sau: + Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với bên trong tức là chế độ chính sách cho người lao động, các quỹ phúc lợi, các hoạt động phúc lợi chăm sóc sức khỏe đời sống tinh thần cho người lao động trong doanh nghiệp
+ Trách nhiệm với cộng đồng bên ngoài đó là đóng góp ngân sách cho địa phương, cho các quỹ xã hội từ thiện, các phong trào xây nhà tình nghĩa, tặng quà…
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Trách nhiệm với các cổ đông của doanh nghiệp: về sự phát triển bền
vững của doanh nghiệp
+ Trách nhiệm với khách hàng: về chế độ bảo hành sản phẩm, giải
quyết khiếu nại thắc mắc, đền bù
+ Trách nhiệm bảo vệ môi trường: thi công công trình không ảnh hưởng
đến môi trường thiên nhiên và môi trường sống của người dân xung quanh
1.1.2.2 Lợi ích của thực hiện trách nhiệm xã hội
- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần điều chỉnh hành vi của
chủ thể kinh doanh
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là cam kết đạo đức của
giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách
nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang
lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội Thực tế cho thấy, khi thực hiện tốt
trách nhiệm xã hội, sẽ cải thiện tình hình tài chính, giảm chi phí hoạt động,
nâng cao uy tín, quản lý rủi ro và giải quyết khủng hoảng tốt hơn, thúc đẩy
cam kết với người lao động, quan hệ tốt với Chính phủ và cộng đồng, tăng
năng suất Bên cạnh đó nếu người lao động có các điều kiện môi trường làm
việc thuận lợi sẽ thúc đẩy họ làm việc tốt hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp
tiếp cận với thị trường thế giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình”
Xét trong phạm vi môi trường kinh doanh thì những gì doanh nghiệp nhận
được ngày mai là kết quả tất yếu của những quyết định kinh doanh của ngày
hôm nay Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ do chất lượng của bản
thân các sản phẩm dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu do phong cách kinh
doanh của doanh nghiệp Hành vi ứng xử của các doanh nghiệp trong mối
quan hệ với cán bộ, công nhân viên, người lao động, cổ đông, với môi trường,
với cộng đồng sẽ thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác
động trực tiếp đến sự thành bại của tổ chức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để đảm bảo lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp ý thức rằng không thể phát triển mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng, công nhân viên hoặc cả đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế Các nhà quản lý doanh nghiệp quốc tế không những biết cách làm tăng tối đa lợi nhuận của công ty, mà còn ý thức rất rõ việc tạo nên những điều kiện để duy trì và phát triển bền vững những lợi ích Và trong chiều hướng ấy, việc thực hiện CSR trở thành một nhân tố chiến lược có tính định hướng trong việc phát triển doanh nghiệp
- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp, doanh nhân, từ đó doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều lợi nhuận kinh tế - xã hội cho họ, nhưng không có lợi ích về chính trị Tuy nhiên, cũng không nên đồng nhất việc cứ làm từ thiện giỏi đã là thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, cho dù làm từ thiện là một hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thực tế là đã có doanh nghiệp tích cực làm từ thiện nhưng vẫn vì chạy theo lợi nhuận mà vi phạm pháp luật, vi phạm sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội
CSR có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng
kể Uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư,
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những doanh nghiệp thành công nhất chính là các doanh nghiệp nhận thấy
được vai trò quan trọng của CSR và áp dụng nó vào thực tiễn sản xuất
Đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao
động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn, và nhờ đó tăng doanh thu
- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần thu hút nguồn lao động giỏi
Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản
phẩm Ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao
động đạt chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được
nhân viên có chuyên môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với
các doanh nghiệp Những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo
cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có
khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt
- Trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia
Trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện
trách nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không
mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Vai trò của Chính phủ trong
việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường
pháp luật hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; cung
cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến
khích đối với doanh nghiệp; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện
tốt hơn các yêu cầu của Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư;
quản lý, nâng cao tiêu chuẩn lao động và thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện
hoàn thiện và nâng cao tiêu chuẩn lao động theo xu hướng quốc tế Còn vai
trò của Thanh tra lao động là giúp doanh nghiệp hiểu đúng pháp luật lao
động; thực hiện phương thức thanh tra viên lao động phụ trách vùng và
phiếu tự kiểm tra pháp luật lao động; tăng tần suất thanh tra, xử lý nghiêm
các doanh nghiệp không chấp hành tự kiểm tra, báo cáo; tổ chức đào tạo,
huấn luyện cho chủ sử dụng lao động về quản lý rủi ro trong sản xuất và tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chức triển khai công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp Những kết quả này sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, đồng thời tăng cường vai trò như liên kết nỗ lực của tất cả các bên liên quan, tạo nền tảng cho việc xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng bền vững trong tương lai Tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lại càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế đang phát triển trong quá trình mở cửa
và hội nhập
1.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp trong đóng góp trách nhiệm với xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, theo cách đó có lợi cho doanh nghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội Các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… và thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy tắc ứng xử (CoC) và các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 14000,… Điều quan trọng là ý thức về trách nhiệm xã hội phải là kim chỉ nam trong hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, bất kể họ tuân thủ bộ quy tắc ứng
xử nào, hay thậm chí thực hiện trách nhiệm xã hội theo các quy tắc đạo đức
mà họ cho là phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xã hội chấp nhận Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy rào cản và thách thức cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm: nhận thức về khái niệm trách nhiệm xã hội còn hạn chế; năng suất bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ quy tắc ứng xử; thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ); sự nhầm lẫn do khác biệt giữa qui định của bộ quy tắc ứng xử và Bộ Luật Lao động; và những quy định trong nước ảnh hưởng tới
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử Như vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp là một vấn đề không dễ dàng Tuy nhiên, trong bối cảnh
hiện nay, các doanh nghiệp cần phải quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã
hội, vì người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức
phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc
toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng
đồng Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có thể sẽ
không còn cơ hội tiếp cận thị trường
Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều khía
cạnh hơn Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một doanh nghiệp hiện đại chỉ
được xem là có trách nhiệm xã hội khi: đảm bảo được hoạt động của mình
không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện
sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của mình, đây là một
tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến người
lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt
tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp
giúp họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không
được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương
mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân
biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị
khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản
phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây
cũng là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối
với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các
hoạt động trợ giúp cộng đồng Vì cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng
đồng đang là một mục tiêu mà các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội đang
hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình, như các chương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trình hỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú Bill Gates là một ví dụ tiêu biểu Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em được cứu sống hơn, nhiều trẻ em được đến trường hơn…, nếu các doanh nghiệp sẵn sàng chia sẻ lợi ích với cộng đồng
1.1.2.4 Nội dung của trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
a Nội dung của trách nhiệm xã hội
CSR có thể được hiểu như một gánh vác tự giác các trách nhiệm khác, ngoài những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý Cụ thể hơn, là các trách nhiệm được thể hiện ở sự lựa chọn các mục tiêu của doanh nghiệp và đánh giá kết quả thực hiện, không chỉ đơn thuần dựa vào các tiêu chí lợi nhuận và phúc lợi của đơn vị mà còn dựa vào những tiêu chí về đạo đức hay tính chính xác đáng
so với mong muốn của xã hội CSR không chỉ đơn thuần là các hành động nhân đạo, từ thiện đối với cộng đồng mà yếu tố cấu thành nên CSR rộng hơn rất nhiều, đó là sự tổng hợp, kết hợp, bổ sung của nhiều yếu tố liên quan khác,
mà thiếu một trong các yếu tố này thì không thể coi là một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội Theo như mô hình yếu tố cấu thành CSR dưới đây thì mô hình CSR là một “cái tháp” với các nghĩa vụ nằm ở các tầng khác nhau và thứ
tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ đáy tháp lên đỉnh tháp Việc thực hiện CSR phải bắt nguồn từ các nghĩa vụ kinh tế, bởi đây là mục tiêu, bản chất là lý do tồn tại của doanh nghiệp và cũng là cơ sở để thực hiện các nghĩa vụ tiếp sau của CSR Doanh nghiệp hoạt động và chịu sự quản lý bởi hệ thống pháp luật quốc gia vì thế để tồn tại lâu dài thì doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định
ấy Không dừng ở đó, doanh nghiệp cũng cần tạo ra một môi trường công bằng, trung thực, có tình có nghĩa trong mối quan hệ với nhân viên và điều đó thể hiện trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp Ngoài nghĩa vụ kinh tế, pháp
lý, đạo đức doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ nhân văn Điều này
có nghĩa các hoạt động của doanh nghiệp phải nhằm mục đích cải thiện tình hình của mỗi người, mọi người và cộng đồng Và khi đưa ra quyết sách, doanh nghiệp phải cân bằng các nghĩa vụ đó để đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 1.1: Mô hình yếu tố cấu thành CSR ( nguồn tk internet)
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là những nghĩa vụ một doanh nghiệp
hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những
tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội Trách
nhiệm xã hội có thể được coi là một sự cam kết của doanh nghiệp hay cá nhân
đối với xã hội; trong khi đó đạo đức kinh doanh đề cấp đến những quy tắc
ứng xử được cân nhắc kỹ lưỡng về mặt tổ chức của doanh nghiệp làm cơ sở
cho việc ra quyết định trong quan hệ kinh doanh Về cơ bản, trách nhiệm xã hội
bao gồm những nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn
Nghĩa vụ kinh tế là nghĩa vụ đầu tiên và cơ bản nhất của doanh nghiệp
thực hiện CSR liên quan đến cách thức phân bổ trong hệ thống xã hội, các
nguồn lực được sử dụng để làm ra sản phẩm dịch vụ
Nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ những quy định
về pháp lý chính thức đối với những người hữu quan, trong cạnh tranh đối với
môi trường tự nhiên do pháp luật hiện hành quy định
Nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp được định nghĩa là những hành vi
hay hoạt động được xã hội mong đợi nhưng không được quy định thành các
nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ đạo đức chính là nền tảng của nghĩa vụ pháp lý
Nghĩa vụ pháp lý
Nghĩa vụ kinh tế
Nghĩa vụ đạo đức Nghĩa vụ nhân văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nghĩa vụ nhân văn của doanh nghiệp bao gồm những hành vi và hoạt
động mà xã hội muốn hướng tới và có tác dụng quyết định chân giá trị của tổ chức hay doanh nghiệp Nghĩa vụ nhân văn thể hiện những mong muốn hiến dâng của doanh nghiệp cho xã hội
b Các công cụ thực hiện và đánh giá hiệu quả hoạt động của trách
nhiệm xã hội
*) Các công cụ thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Đạo đức thường được hiểu là những ràng buộc bất thành văn, CSR đã được cụ thể hóa thành các văn bản cho các doanh nghiệp tùy nghi áp dụng Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử thể hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến các nội dung: an toàn vệ sinh lao động nơi sản xuất, chăm sóc sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường như một chứng chỉ phổ biến: SA 8000 - tiêu chuẩn lao động trong các nhà máy sản xuất; WRAP- trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc; FSC - bảo vệ rừng bền vững; ISO 14 001 - hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp…
Ví dụ SA 8000 là một trong 3 tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu Theo đánh giá của các chuyên gia, áp dụng tiêu chuẩn SA 8000 sẽ nâng cao chất lượng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các tác động như: thu hút sự nhìn nhận, tin tưởng
và trung thành của khách hàng; Đưa ra các tiêu chuẩn chung trên quy mô toàn cầu về ứng xử của doanh nghiệp nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh công bằng; Tăng cường khả năng mở rộng mạng lưới kinh doanh toàn cầu và tiếp cận những khách hàng đòi hỏi cao về giá trị đạo đức của sản phẩm và giúp doanh nghiệp đỡ mất thời gian phiền hà vì không phải trải qua các đợt kiểm tra liên
ngành, kiểm tra chéo và cuộc thanh tra về lao động Tiêu chuẩn SA 8000 có quy định về trách nhiệm xã hội theo các chỉ tiêu như sau: “1 Lao động trẻ em; 2 Lao động cưỡng bức; 3 An toàn và vệ sinh lao động; 4 Tự do hiệp hội
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và quyền thỏa ước lao động tập thể; 5 Phân biệt đối xử; 6 Xử phạt; 7 Giờ
làm việc; 8 Trả công; 9 Hệ thống quản lý” Khi các doanh nghiệp tuân thủ
tiêu chuẩn này sẽ mang lại lợi ích kinh tế và các sản phẩm của doanh nghiệp đó
được người tiêu dùng đón nhận, đằng sau đó thì doanh nghiệp rất dễ dàng thu
hút được nguồn lao động giỏi vì họ hiểu được vai trò, lợi ích của mình khi làm
việc trong doanh nghiệp chú ý nhiều tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
*) Công cụ đánh giá Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bước
đầu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp: đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp
quốc gia; Bảo đảm cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh
doanh lâu dài, bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập;
Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, giảm các rủi ro trong kinh doanh
quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá giá,… Do đó, doanh nghiệp thực
hiện CSR không đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế mà còn có lợi ích xã hội
và chính trị Bên cạnh, mặt tích cực thì doanh nghiệp thực hiện CSR theo các
Bộ Quy tắc cũng gặp phải không ít khó khăn
Hiện nay trên thế giới có trên 2000 Bộ Quy tắc ứng xử, chia làm ba
nhóm chính:
- Quy tắc ứng xử của các tổ chức quốc tế như: ISO, Công ước ILO,
GC, OECD
- Quy tắc ứng xử của của các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức hiệp
hội ngành nghề: Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas
(Tập đoàn thời trang), FTA (Hiệp hội Ngoại thương)
- Quy tắc ứng xử của các tổ chức độc lập như: SAI (Tổ chức Trách
nhiệm xã hội Quốc tế), FLA (Nhượng quyền Thương mại)
Đối với các doanh nghiệp xây dựng hoạt động tuân thủ Luật bảo vệ môi
trường của Việt Nam và các Quy chuẩn kỹ thuật về thi công công trình xây
dựng trong đó quy định rõ về công tác đảm bảo an toàn cho người và phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiện lưu thông trên đường khi thi công trên đường đang khai thác, các quy định về vệ sinh môi trường, an toàn lao động
Các doanh nghiệp sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình Bộ luật ứng xử BSCI: ra đời nhằm đảm bảo tuân thủ với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cụ thể BSCI là Bộ Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh BSCI ra đời năm 2003 từ đề xướng của Hiệp Hội ngoại thương (FTA) với mục đích thiết lập một diễn đàn chung cho các quy tắc ứng
xử và hệ thống giám sát ở Châu Âu về CSR Các công ty cung ứng phải đảm bảo rằng Bộ luật ứng xử này cũng được xem xét bởi các nhà thầu phụ có liên quan đến các quy trình sản xuất của giai đoạn sản xuất sau cùng được thực hiện thay cho các thành viên của BSCI Các yêu cầu sau đây là đặc biệt quan trọng và phải được thực hiện theo một cách tiếp cận mang tính phát triển:
1 Tuân thủ pháp luật: Tuân theo tất cả các quy luật và quy định được
áp dụng, các tiêu chuẩn công nghiệp tối thiểu, các thỏa thuận Tổ chức lao động quốc tế và Liên Hiệp quốc và những yêu cầu khác do luật pháp quy định,
áp dụng luật nào nghiêm ngặt hơn
2 Tự do lập Hội và Quyền thương lượng tập thể: quyền của mọi cá
nhân để hình thành và tham gia các tổ chức đoàn thể theo ý họ và để thương lượng tập thể cũng sẽ được tôn trọng Trong những tình huống hoặc tại những quốc gia mà các quyền về tự do lập hội và thương lượng tập thể bị luật pháp giới hạn, các biện pháp tương đương của tổ chức độc lập và tự do cũng như việc thương lượng sẽ được hỗ trợ cho mọi cá nhân Các đại diện của cá nhân
sẽ được đảm bảo tham gia vào vai trò thành viên của họ tại nơi làm việc
3 Cấm phân biệt: không cho phép một hình thức phân biệt nào trong
việc thuê mướn, trả thù lao, được tham gia đào tạo, đề bạt, chấm dứt hợp đồng hoặc nghỉ hưu dựa trên giới tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, địa vị xã hội, bối cảnh xã hội, sự tàn tật, nguồn gốc dân tộc và quốc gia, quốc tịch, thành
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viên trong tổ chức của người lao động, bao gồm các hiệp hội, sự gia nhập
chính trị, định hướng giới tính hoặc bất cứ một đặc điểm cá nhân nào khác
4 Đền bù: lương trả cho giờ làm việc thông thường, giờ làm thêm và
các chênh lệch thêm giờ sẽ phải đạt đến hoặc vượt qua lương tối thiểu và/
hoặc các tiêu chuẩn ngành Không được khấu trừ lương trái phép hoặc không
đúng quy định Trong các trường hợp lương theo quy định của pháp luật hoặc
theo tiêu chuẩn ngành không đủ để chi trả chi phí sinh hoạt và cung cấp thu
nhập cho các chi phí phát sinh, các công ty cung ứng sẽ cố gắng để cung cấp
cho nhân viên một khoản bồi thường đủ để chi trả cho các nhu cầu này Cấm
khấu trừ lương dưới dạng biện pháp kỷ luật Các công ty cung ứng phải đảm
bảo rằng lương và các cơ cấu quyền lợi được liệt kê chi tiết một cách rõ ràng
và thường xuyên cho người lao động; công ty cung ứng cũng sẽ phải đảm bảo
rằng lương và các quyền lợi đó được thực hiện và tuân thủ đầy đủ các luật
thích hợp và việc trả thù lao đó sẽ được thực hiện theo cách thuận tiện cho
người lao động
5 Giờ làm việc: Công ty cung ứng phải tuân thủ các luật quốc gia thích
hợp cũng như các tiêu chuẩn ngành về giờ làm việc Giờ làm việc tối đa cho
phép trong một tuần được quy định bởi luật quốc gia sẽ không được vượt quá
48 giờ và số giờ làm thêm tối đa cho phép trong một tuần không được vượt
quá 12 giờ Giờ làm thêm chỉ được phép làm dựa trên cơ sở tình nguyện và
được trả lương ở mức tốt nhất Mỗi người lao động được phép có ít nhất một
ngày nghỉ sau sáu ngày làm việc liên tục
6 Y tế và An toàn nơi làm việc: một tập hợp rõ ràng các quy định và
thủ tục phải được lập ra và tuân thủ theo đối với vấn đề y tế và an toàn nơi
làm việc, đặc biệt là dự phòng và sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân, phòng tắm
sạch sẽ, có thể sử dụng nước uống được và nếu được cần cung cấp các thiết bị
vệ sinh an toàn cho kho lưu trữ thực phẩm Cấm các quy định và các điều
kiện trong phòng ngủ vi phạm các quyền cơ bản của con người Đặc biệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
không cho phép người lao động nhỏ tuổi làm việc trong những tình huống nguy hiểm, không an toàn hoặc không tốt cho sức khỏe
Đặc biệt, cần phải chỉ định rõ người đại diện quản lý chịu trách nhiệm
về Y tế và an toàn cho tất cả các cá nhân và phải có khả năng quy trách nhiệm đối với việc thực hiện các quy định về Y tế và An toàn của BSCI Tất cả mọi
cá nhân đều phải được huấn luyện về y tế và an toàn thường xuyên và có ghi nhận, ngoài ra việc huấn luyện như vậy phải được lặp lại cho những người mới và những người được phân giao nhiệm vụ lại Cần phải thiết lập các hệ thống để phát hiện, ngăn ngừa hoặc phản ứng lại đối với những nguy hiểm tiềm ẩn đối với sức khỏe và an toàn của tất cả mọi người
7 Cấm sử dụng lao động trẻ em: cấm sử dụng lao động trẻ em được
ghi rõ trong các Công ước của ILO và Liên Hiệp quốc và/ hoặc luật pháp quốc gia Trong số các tiêu chuẩn khác nhau này, tiêu chuẩn nào nghiêm ngặt nhất sẽ được tuân thủ Cấm bất cứ hình thức bóc lột trẻ em nào Cấm những điều kiện làm việc như nô lệ hoặc có hại cho sức khỏe trẻ em Quyền của các lao động trẻ tuổi phải được bảo vệ Trong trường hợp nhận thấy những trẻ em làm việc trong những tình huống đúng với những định nghĩa về lao động trẻ
em ở trên, công ty cung ứng đó cần phải thiết lập và lưu lại các chính sách, thủ tục để bù đắp cho những trẻ em phải làm việc như vậy Hơn nữa, công ty cung ứng đó cần phải được cung cấp hỗ trợ thích hợp để cho phép những trẻ
em đó được tiếp tục đi học cho đến khi nào đủ lớn
8 Cấm cưỡng bức Lao động và các Biện pháp kỷ luật: tất cả các hình
thức lao động cưỡng bức, chẳng hạn như phải nộp tiền đặt cọc hoặc các hồ sơ nhận diện của cá nhân đối với việc thuê mướn lao động đều bị cấm và xem như là lao động của tù nhân vi phạm các quyền cơ bản của con người Cấm sử dụng các hình phạt về thể xác, tinh thần hoặc ép buộc về tinh thần cũng như việc lạm dụng bằng lời nói
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9 Các vấn đề an toàn và môi trường: các thủ tục và tiêu chuẩn xử lý chất
thải, xử lý các chất thải hóa học và các chất có hại khác, các xử lý phát ra hoặc
thải ra phải đạt đến hoặc vượt quá yêu cầu tối thiểu mà pháp luật quy định
10 Các hệ thống quản lý: Công ty cung ứng sẽ đặt ra và thực hiện một
chính sách đối với khả năng chịu trách nhiệm về mặt xã hội, một hệ thống
quản lý để đảm bảo rằng các yêu cầu của Bộ luật ứng xử BSCI có thể được
thiết lập và tuân thủ chính sách chống hối lộ / chống tham nhũng trong tất cả
các hoạt động kinh doanh của họ Ban quản lý phải chịu trách nhiệm về việc
thực hiện đúng và cải thiện liên tục bằng cách thực hiện các biện pháp sửa
chữa và đánh giá định kỳ về Bộ Luật ứng xử cũng như việc trao đổi thông tin
về các yêu cầu của Bộ Luật ứng xử cho mọi người lao động Cũng cần phải
chỉ rõ những mối quan tâm về việc tuân thủ Bộ Luật ứng xử này của người
lao động
Thực hiện "Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp Việt Nam" là sự cần
thiết khách quan trong quá trình hội nhập, tuy nhiên đây là vấn đề rất mới và
trên thực tế nhiều khi có sự nhận thức và vận dụng rất khác nhau Bởi vậy,
theo nghiên cứu của các chuyên gia Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, để áp
dụng Trách nhiệm xã hội vào các doanh nghiệp Việt Nam cần thiết phải có nhận
thức đúng và lưu ý các điểm sau:
1 Trước hết cần khẳng định là việc gắn tiêu chuẩn lao động với thương
mại quốc tế đã không được thừa nhận tại WTO cũng như các diễn đàn quốc tế
khác Bởi vậy, các CoC không phải là các công ước quốc tế, cũng không phải
thoả thuận giữa chính phủ với chính phủ mà chỉ là thoả thuận giữa doanh
nghiệp với doanh nghiệp (bên bán và bên mua hàng hoá, dịch vụ)
2 Các CoC không thay thế, không đứng trên Luật quốc gia Việc thực
hiện các CoC ở bất cứ quốc gia nào phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ
việc thực hiện luật quốc gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Phần lớn nội dung của CoC dựa trên các công ước và thông lệ quốc
tế (ví dụ ILO) và Luật quốc gia Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở các CoC là đưa ra cách thức quản lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những
quy định này (các công ty bạn hàng hay công ty đánh giá độc lập)
4 Việc thực hiện các CoC là tự nguyện, hoàn toàn không mang tính bắt buộc Tuy nhiên, có thể một công ty bạn hàng nước ngoài nào đó quy định việc thực hiện một bộ CoC nào đó là bắt buộc để có thể ký kết hợp đồng thương mại thì đó là quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, không phải là sự bắt buộc từ phía chính phủ sở tại cũng như chính phủ nước nhập hàng
5 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được quy định trong các CoC được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn xã hội thông qua sản phẩm của mình Đây là việc làm thường xuyên, liên tục, chủ yếu ngay tại nơi làm việc Đó cũng chính là quá trình chuyển từ mối quan tâm thuần tuý đến tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp, của mỗi nền kinh tế sang mối quan tâm đến sự phát triển mà mỗi doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển chung của
xã hội
6 Việc thực hiện các quy định thể hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các CoC là một khoản chi phí mang tính chất đầu tư của doanh nghiệp, được thực hiện trước và trong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp cuả doanh nghiệp mang tính chất nhân đạo, từ thiện được trích
ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã bán sản phẩm
7 Nếu CSR và CoC được hiểu đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì việc thực hiện CSR chính là một việc làm mà các bên đều có lợi: thứ nhất là uy tín và tính cạnh tranh của doanh nghiệp được tăng lên; thứ hai là quyền lợi và nhân phẩm của người lao động được bảo đảm tốt hơn; và thứ ba là việc thực hiện luật pháp quốc gia cũng được tốt hơn, tính cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng cao hơn, môi trường đầu tư tốt hơn
8 Việc thực hiện Trách nhiệm xã hội chính là việc cụ thể hoá một số quy định chính của Bộ luật Lao động và một số văn bản luật pháp khác chứ
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải lấy chứng chỉ nào đó Việc đi
lấy một chứng chỉ của một bộ tiêu chuẩn cụ thể nào đó sự lựa chọn và tự
quyết định của doanh nghiệp trong quan hệ với bạn hàng
9 Cơ sở luật pháp, hệ thống thiết chế của Việt Nam có thể thực hiện
được mục tiêu của CSR hay của các CoC sao cho phù hợp với luật pháp của
Việt Nam và hài hoà lợi ích của các bên tham gia
Như vậy, việc đưa ra các công cụ thực hiện CSR đã tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả hơn trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
a Nhóm yếu tố khách quan
*) Quy định của pháp luật
Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng của CSR Đây là tiêu chí
ràng buộc cho các doanh nghiệp phải hướng tới và phải thực hiện để đạt được
hiệu quả kinh tế cao Các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp khi đã tuân thủ
theo các quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong
đó các doanh nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi
trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa
các doanh nghiệp với nhau Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét
một hành động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể
mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có
trách nhiệm trong kinh doanh Điều đáng chú ý là pháp luật thường ban hành
chậm hơn so với thực tế diễn ra, “độ trễ” nhất định nào đó của pháp luật là cơ
hội cho hoạt động kinh doanh bất hợp pháp xảy ra, và khi sự việc đã rồi thì
pháp luật mới căn cứ vào đó để xây dựng các quy định mới Ngay cả khi các
văn bản pháp luật đã được ban hành thì để nội dung đi vào “cuộc sống” cũng
cần một khoảng thời gian nhất định Nói tóm lại, các quy định của pháp luật
cũng là những yêu cầu tốt mà mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan hệ với xã hội Tuân thủ pháp luật, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo
ra nhiều công ăn việc làm, bảo vệ môi trường,… là doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xã hội của mình
*) Nhận thức của Xã hội
Khi xã hội phát triển cao đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu
cầu sinh lý (ăn, mặc, ở, ); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu
xã hội (các vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có
địa vị; cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và tự thể hiện mình
Hình 1.2: Thứ bậc nhu cầu theo A Maslow ( nguồn internet)
Người lao động - thành phần không thể thiếu để duy trì hoạt động của một doanh nghiệp cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị bản thân Tự bản thân họ hoặc thông qua các tổ chức công đoàn đã đứng lên đòi lại quyền lợi chính đáng của mình Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp qua thực tế kinh
Nhu cầu tự khẳng định
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
doanh ngày càng nhận thức được rằng, những việc làm vì cộng đồng vì trách
nhiệm đối với xã hội là việc làm có lợi cho sự vững mạnh của doanh nghiệp
*) Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường
Sức mạnh của thị trường mà điển hình là thị hiếu người tiêu dùng lại đã
và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh sự cạnh tranh khốc liệt về trách nhiệm
xã hội và đạo đức kinh doanh dựa trên nền tảng sự tác động tổng hợp hành vi
ứng xử, tới quyết định lựa chọn của người tiêu dùng, chứ không phải thuần
túy trên sự tác động tới giác quan của họ Bởi vậy, trong giai đoạn toàn cầu
hóa đang phát triển nhanh chóng, khoảng cách về công nghệ, kỹ thuật giữa
các nền kinh tế ngày một rút ngắn, chất lượng sản phẩm ngày càng đồng đều
hơn thì để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Lúc đó,
CSR và Đạo đức kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho doanh nghiệp
trong cạnh tranh quốc tế Chính hai nguồn lực này sẽ tác động và thúc đẩy
người tiêu dùng thay đổi quan niệm tiêu dùng của họ Trong xu thế toàn cầu
hóa với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, mỗi nền kinh tế, mỗi
doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình,
trong đó khả năng cạnh tranh về nguồn nhân lực và môi trường đầu tư đóng
vai trò quan trọng Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm
gia tăng sự liên kết giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời
cũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh với nhau ngày càng gay
gắt Tuy nhiên, có những khu vực, những nước và doanh nghiệp giàu lên
nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa; nhưng có những khu vực, những nước và
doanh nghiệp bị thua thiệt hoặc thậm chí bị đẩy ra khỏi dòng chảy sôi động
của thương mại và đầu tư quốc tế Hiện nay, các doanh nghiệp luôn chú trọng
tới ba sự cạnh tranh: chất lượng, giá cả và mẫu mã
b Nhóm yếu tố chủ quan
Các doanh nghiệp trên địa bàn đị phương thực hiện tốt trách nhiệm xã
hội, đạo đức kinh doanh rất cần được khuyến khích, nhân rộng Là một trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những tiêu chí quan trọng để củng cố nền tảng kinh doanh, sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh đó dư luận xã hội từng bức xúc trước tình trạng một số doanh nghiệp, trong đó có cả những doanh nghiệp có
"danh tiếng", vì lợi nhuận đã ngang nhiên, hoặc lén lút xả chất thải độc hại, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; chủ doanh nghiệp bóc lột sức lao động, đối xử tệ với người lao động; sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, xâm hại quyền lợi của người tiêu dùng
Thực hiện trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh, không thể chỉ dựa trên sự tự nguyện, tự giác của doanh nghiệp, mà luôn cần có sự đồng hành,
"vào cuộc" của các nhà quản lý, các cơ quan chức năng Trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, Nhà nước cần ban hành, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, nhằm quản lý chặt chẽ, chấn chỉnh hoạt động, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm, gây hại cho cộng đồng xã hội, cho môi trường, hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên Cần có các giải pháp đồng bộ, lâu dài, nhằm nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp, doanh nhân về trách nhiệm xã hội và kinh doanh bền vững; bảo đảm phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội
và bảo vệ môi trường Cần phân định rạch ròi giữa trách nhiệm xã hội với các hoạt động từ thiện xã hội, quyên góp, tài trợ , tránh tình trạng một số doanh nghiệp, doanh nhân coi đó là việc "phú quý", là "gánh nặng", hoặc lợi dụng để
"đánh bóng" tên tuổi, thương hiệu
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân là một trong những yếu tố quan trọng khẳng định uy tín, tên tuổi, thương hiệu của doanh nghiệp trong lòng công chúng, nhờ vậy sản phẩm được quảng bá, tiêu thụ rộng rãi; lợi nhuận và lợi thế của doanh nghiệp được nhân lên gấp bội Danh hiệu, danh tiếng của một doanh nghiệp phải mất nhiều năm, thậm chí vài chục năm mới tạo dựng được, nhưng có thể bị tổn hại, mất đi nhanh chóng, nếu chủ doanh nghiệp lơ là, xem thường đạo đức kinh doanh, né tránh trách nhiệm xã hội
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của các Doanh nghiệp ở địa phương khác đối với vấn
đề nghiên cứu
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Tổng công ty bia Hà nội
Tại Hà Nội, có rất nhiều doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp, trong đó có HABECO HABECO là một trong những
doanh nghiệp lớn của ngành Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam, có lịch sử
lâu đời (tiền thân là Nhà máy Bia Hommel, ra đời năm 1890) Tổng công ty
đã không ngừng đổi mới nhằm giữ vững uy tín hàng đầu ở Việt Nam về chất
lượng sản phẩm, giá cả và phương thức phục vụ khách hàng
Bên cạnh việc sản xuất kinh doanh ngành bia, rượu các loại, năm 2013,
HABECO đã và đang xây dựng dây chuyền sản xuất nước tinh lọc với số vốn
đầu tư ban đầu ước khoảng 100 tỷ đồng Năm 2013, HABECO đã xây dựng
chiến lược Marketing cụ thể cho từng vùng thị trường Theo đó hàng loạt
những sự kiện, chương trình khuyến mại hướng đến người tiêu dùng bắt đầu
được triển khai rộng khắp Sự kiện như Ngày hội Bia Hà Nội năm 2013 sẽ
được tổ chức tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng
Bình, các chương trình khuyến mại bia lon Tết, chương trình bật nắp chai
trúng thưởng và cả chương trình Marketing online sẽ được khởi động hứa hẹn
một năm mới sẽ thành công với Bia Hà Nội
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh, Ban lãnh đạo HABECO cũng rất
chú trọng tới các hoạt động phục vụ cộng đồng để thực hiện trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp của mình Cụ thể, HABECO ủng hộ 50 triệu đồng xây cầu
Pô Kô; ủng hộ 4,6 tấn gạo và 65 thùng quần áo cho đồng bào khó khăn huyện
Như Xuân; tới thăm, động viên tinh thần công nhân lao động trên công trường
Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (xã Kỳ Lợi - huyện Kỳ Anh - tỉnh Hà Tĩnh)
và trao tặng 200 suất quà Tết tới công nhân lao động khó khăn, mỗi suất
500.000 đồng; xây dựng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hùng; thăm hỏi cựu chiến binh, nạn nhân chất độc da cam, các hoạt động trong Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và nhiều hoạt động khác Ngân sách an sinh xã hội qua từng năm không ngừng tăng lên, đến năm 2012 con số này đã là gần 5 tỷ đồng
Các hoạt động này đã tạo ra một hình ảnh HABECO tốt đẹp hơn trong lòng người tiêu dùng và qua đó, đã và đang góp phần không nhỏ vào thành tựu tăng trưởng của HABECO các giai đoạn tiếp theo
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Tổng công ty Khánh Vĩnh - tỉnh Khánh Hòa
Tỉnh Khánh Hòa, điển hình là Tổng công ty Khánh Vĩnh là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, đa ngành nghề, hằng năm, Khatoco luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch giao, nộp ngân sách Nhà nước đầy đủ, chăm lo đời sống người lao động… Bên cạnh đó, Tổng công ty còn thực hiện trích một phần lợi nhuận để làm công tác xã hội từ thiện, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, tạo công ăn việc làm và hỗ trợ những vùng đồng bào gặp thiên tai, lũ lụt…
Trên tinh thần đó, toàn thể lãnh đạo, cán bộ, nhân viên và người lao động luôn ý thức sâu sắc và xem đây là việc làm thiết thực, ý nghĩa và đồng lòng đồng sức thực hiện trên tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hướng về cộng đồng, phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách… Bên cạnh đó, Tổng công ty còn hưởng ứng lời kêu gọi của Uỷ ban Mặt trận
Tổ Quốc các cấp đóng góp cho Quỹ vì người nghèo, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ những đồng bào bị thiên tai lũ lụt…
Hằng năm, mỗi cán bộ, công nhân viên và người lao động trong Tổng công ty đóng góp 2 ngày lương và các đợt quyên góp khác, với số tiền là 5,267 tỷ đồng Từ nguồn đóng góp này đã chi hơn 4,65 tỷ đồng để tham gia công tác xã hội từ thiện tại địa phương; cụ thể như: Ủng hộ kinh phí cho các tổ chức
từ thiện như Phòng khám bệnh miễn phí Yersin, Quỹ khuyến học, Quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, Bếp ăn từ thiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hòa, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và trẻ khuyết tật, Chùa Thanh Sơn, Mái ấm
Anh Đào, các hộ nghèo của các địa phương trong TP Nha Trang
Bên cạnh đó, Tổng công ty còn thực hiện công tác phụng dưỡng 14 Mẹ
Việt Nam Anh hùng với mức 400.000 đồng/tháng, tặng quà cho các mẹ và gia
đình chính sách, gia đình có công với cách mạng nhân Ngày Thương binh, liệt
sĩ Ngoài ra, Tổng công ty còn triển khai xây dựng 27 căn nhà tình nghĩa, đại
đoàn kết, nhà tình thương tại tỉnh Khánh Hoà và một số địa phương khác, với số
tiền trên 555 triệu đồng; và sửa chữa nhà cho Mẹ VNAH, hộ gia đình dân tộc xã
Khánh Hiệp, Khánh Phú, với số tiền 161,5 triệu đồng; Cứu trợ đồng bào bị thiên
tai, lũ lụt trong và ngoài nước (hỗ trợ nạn nhân Nhật Bản bị động đất, sóng thần);
Đóng góp Quỹ xóa đói giảm nghèo tỉnh Khánh Hòa 21,535 tỉ đồng
Ngoài những hoạt động xã hội từ thiện tại địa phương, Tổng công ty
còn tiếp nhận và giúp đỡ huyện nghèo Thông Nông thuộc tỉnh Cao Bằng, thực
hiện theo chương trình 30A của Chính phủ “Xóa đói giảm nghèo bền vững”
Theo đó, Tổng công ty đã xúc tiến thực hiện 3 chương trình, nội dung: Xét
cấp học bổng cho học sinh nghèo theo danh sách cử tuyển; Hỗ trợ xây dựng
nhà ở cho các hộ nghèo có người tàn tật góp phần xóa nhà tranh tre dột nát
Từ năm 2009 - 2012, Tổng công ty đã xét cấp học bổng cho học sinh,
sinh viên nghèo với kinh phí 2 triệu đồng/năm Hỗ trợ kinh phí làm nhà cho 7
hộ nghèo diện chính
Giai đoạn 2011- 2012, Tổng công ty đã thực hiện ứng vốn cho nông
dân gần 10 tỷ đồng, bố trí vốn thu mua gần 30 tỷ đồng, qua đó góp phần tăng
thu ngân sách cho huyện 1,47 tỷ đồng, chiếm 63% số thu ngân sách Nhà nước
của huyện; đồng thời, giải quyết việc làm và ổn định dân sinh cho trên 1.600
lao động, góp phần giảm nghèo cho trên 360 hộ
Song song với công tác xã hội từ thiện, Tổng công ty còn chú trọng
đến các hoạt động tăng cường gắn kết tình nghĩa giữa các thế hệ CBCNV đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và đang làm việc tại các đơn vị thuộc Tổ hợp Công ty mẹ - Công ty con CBCNV đã nghỉ hưu luôn có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm với người lao động đang làm việc vào các dịp lễ tết cùng với những món quà thấm đậm nghĩa tình Năm 2012, Ban Liên lạc hưu trí Khatoco được thành
lập, Công đoàn đã phối hợp với chính quyền hỗ trợ 90 triệu đồng (với mức bình quân 600.000 đồng/người) để Ban Liên lạc hoạt động ổn định, xuyên
suốt và là cầu nối hiệu quả giữa cán bộ hưu trí và Tổng công ty Có thể nói, những hoạt động xã hội từ thiện của Khatoco không chỉ giúp đỡ về vật chất và động viên tinh thần cho các đối tượng chính sách, khó khăn mà còn có tác dụng sâu sắc trong việc giáo dục cho người lao động về tình cảm, mối quan
hệ xã hội tốt đẹp đối với đồng bào, đồng nghiệp Qua đó, kết tinh những tấm lòng nhân ái của mái nhà chung Khatoco hướng về cộng đồng, trên tinh thần đoàn kết, trách nhiệm xã hội và phát huy truyền thống tương thân tương ái của dân tộc
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Tập đoàn Viettel - Chi nhánh Tuyên Quang
Chi nhánh Viettel Tuyên Quang được thành lập tháng 10/2004 sau 10 năm thàng lập Chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động Sản xuất kinh doanh cũng như những đóng góp TNXH với địa phương,với hơn 200 CBCNV và 200 nhân viên địa bàn năng suất lao động bình quân đạt: 3,2 tỷ đồng/người/năm Với phương châm tự học tập phấn đấu, vươn lên, tự làm chủ Hiện nay đội ngũ CBCNV kỹ thuật đã thực sự trưởng thành, làm chủ mạng lưới kỹ thuật, từ khảo sát, thiết kế, lắp đặt và vận hành mạng lưới Từ 01 trạm đầu tiêu năm 2004 là trạm TQG 001 đến nay mạng lưới Viettel Tuyên Quang đã có 610 trạm BTS cả 2G và 3G; triển khai gần
3000 km cáo quang và phủ sóng 100% xã, phường, thị trấn Tính đến hết tháng 6/2010 Viettel Tuyên Quang đã triển khai lắp đặt và cung cấp miễn phí dịch vụ Intenet cho 438/438 trường học trên địa bàn tỉnh Đây là kết quả của
sự nỗ lực không mệt mỏi của đội ngũ CBCNV Chi nhánh Viettel Tuyên
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Quang với mong muốn cung cấp một cách sớm nhất dịch vụ Intenet đến với
các em học sinh, thầy cô giáo, rút ngắn khoảng cách giữa học sinh miền núi
với miền xuôi
Công tác kinh doanh trong những năm qua luôn giữ được tốc độ tăng
trưởng cao đến nay tổng số thuê bao di động luỹ kết đạt gần 510.000 thuê bao
chiếm 73% thị phần thuê bao di động; Với chiến lược nhanh nhạy và phù hợp,
doanh thu của Viettel Tuyên Quang không ngừng tăng gia Năm 2005 doanh
thu Chi nhánh khi đó chỉ khiêm tốn với hơn 2 tỷ đồng thì sau 9 năm kinh
doanh doanh thu của Viettel Tuyên Quang đã tăng lên 225 lần với gần 450 tỷ
đồng Kinh doanh hiệu quả, Viettel Tuyên quang là một trong những doanh
nghiệp dẫn đầu nộp ngân sách hàng năm với gần 112 tỷ đồng Năng suất lao
động không ngừng tăng lên, thu nhâpj của CBCNV ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần của CBCNV được nâng lên Những con số ấy minh chứng cho sự
nỗ lực không ngừng của tập thể CBCNV Chi nhánh đang ngày đêm quyết tâm
vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Hằng năm Chi
nhánh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Đảng bộ TSVM nhiều năm
liền, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng đều đatj vững
mạnh Chi nhánh được Tập đoàn tặng thưởng danh hiệu Cờ thi đua của Tập
đoàn năm 2013; UBND tỉnh Tuyên Quang tặng Cờ thi đua xuất sắc và vinh
danh là Doanh nghiệp tiểu biểu các năm 2011, 2013
Với triết lý sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội,
suốt chặng đường 10 năm xây dựng và phát triển, Chi nhánh đã tích cực, chủ
động tổ chức nhiều hoạt động xã hội có ý nghĩa như: “Ủng hộ nạn nhân chất
độc màu da cam”, “Trái tim cho em”, miễn phí Internet đến trường học và cơ sở
giáo dục; Chương trình “Quân đội chung tay vì sức khỏe cộng đồng”, “xây dựng
nhà tình nghĩa”, Xây dựng Nông thôn mới … với số tiền mỗi năm lên đến hàng
trăm triệu đồng Gần đây nhất là hỗ trợ xây dựng Nông thôn mới tại xã Tân
Trào với tổng số tiền tài trợ lên đến 21,7 tỷ đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong đó :
- Xây nhà văn hóa đa năng xã Tân Trào : 5 tỷ đồng
- Xây nhà văn hóa Thôn Cả : 1,5 tỷ đồng
- Cải tạo 10 nhà sàn Làng văn hóa Thôn Tân Lập : 1 tỷ đồng
- Xây dựng Đường bê tông liên thôn : 5 tỷ đồng
- Xây Đập Thủy lợi Đồng Man thôn Lũng Tẩu : 6 tỷ đồng
- Xóa 100 nhà tạm cho các hộ nghèo trong xã : 3,2 tỷ đồng Những hoạt động xã hội, từ thiện của Viettel luôn được chính quyền và nhân dân địa phương ghi nhận, UBND tỉnh, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong tỉnh tặng nhiều bằng khen cho tập thể và các cá nhân có thành tích trong thực hiện trách nhiệm xã hội Đây cũng là Doanh nghiệp điển hình trong tỉnh về việc thực hiện Trách nhiệm xã hội mà các doanh nghiệp xây dựng cần học tập và làm theo để có những đóng góp lớn hơn nữa cho việc thực hiện TNXH với địa phương cũng như trong chính doanh nghiệp của mình
1.2.2 Bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các doanh nghiệp
ở các địa phương trên Cần có hỗ trợ ban đầu tạo động lực cho doanh nghiệp thực hiện TNXH: TNXH của doanh nghiệp là một quá trình thực hiện liên tục, lâu dài
và không đòi hỏi nhiều chi phí Cần nhất là thời gian, sự sẵn sàng và những năng lực cơ bản để nghiên cứu và xây dựng kế hoạch và chiến lược thực hiện Hiện nay hầu như chưa có hoạt động hỗ trợ nào thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện TNXH trong lĩnh vực QLRRTT Chính vì vậy, cần có sự hỗ trợ ban đầu để giúp các doanh nghiệp mong muốn áp dụng TNXH chứ không phải là
bị ép buộc để thực hiện Để đạt được mục tiêu này cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, v.v
Truyền thông, đối thoại xã hội: để doanh nghiệp hiểu thêm về TNXH
(nhất là trong lĩnh vực QLRRTT), cần có những cuộc đối thoại và trao đổi với
các bên liên quan, thiết lập và duy trì mạng lưới, thuyết phục các doanh
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp về tầm quan trọng khi đầu tư kinh phí và thời gian vào TNXH trong
QLRRTT Bên cạnh đó, việc chia sẻ kinh nghiệm để cải thiện nhận thức,
hướng dẫn các doanh nghiệp nhỏ tìm ra giải pháp tốt nhất thông qua mạng
lưới các cơ quan chính phủ, các hiệp hội doanh nghiệp và đối tác quốc tế cũng
là điều cần thiết Ngoài ra, cần nâng cao vai trò, nhận thức, và hiểu biết của
giới truyền thông về TNXH trong QLRRTT, qua đó họ có thể hỗ trợ những
cuộc đối thoại một cách hiệu quả hơn
Doanh nghiệp cần đầu tư thời gian và một khoản ngân sách nhỏ:
Hầu hết doanh nghiệp tại Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa
thấy được cơ hội và lợi ích mà TNXH mang lại Thêm vào đó doanh nghiệp
vẫn ở trong vòng luẩn quẩn: thiếu ngân sách do phải cạnh tranh gắt gao về
giá, sử dụng không hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng (bao gồm cả
chất lượng sản phẩm và chất lượng nguồn nhân lực) Chính vì vậy, doanh
nghiệp luôn luôn chịu sức ép về tài chính và thời gian để thực hiện những hợp
đồng mới với thời hạn gấp rút Đó là những lý do cản trở việc thực hiện
TNXH của các doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực QLRRTT Chính vì vậy,
doanh nghiệp cần phải đầu tư thời gian và một khoản ngân sách nhỏ
Hỗ trợ xây dựng chiến lược thực hiện TNXH ở một số doanh nghiệp
lựa chọn: việc tiết kiệm năng lượng và các tài nguyên khác giúp doanh
nghiệp cắt giảm chi phí Trong khi đó việc tạo dựng môi trường làm việc tốt,
an toàn và bảo đảm sức khỏe cho người lao động sẽ giúp doanh nghiệp thu
hút những nhân công có tay nghề cao, qua đó cải thiện hình ảnh của doanh
nghiệp Thực hiện TNXH, doanh nghiệp sẽ chuyển từ thế bị động sang chủ
động Chính vì vậy, cần có sự hỗ trợ giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến
lược TNXHDN cho chính doanh nghiệp mình, bao gồm những bước rất cụ
thể, với thời gian và kết quả cụ thể để khi thực hiện doanh nghiệp nhìn thấy
những kết quả ban đầu, họ sẽ tiếp tục tiến hành những bước tiếp theo Hướng
dẫn doanh nghiệp lồng ghép chiến lược thực hiện TNXH vào trong chiến lược
kinh doanh có thể phát triển theo hướng tích cực và bền vững hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tăng cường sự tham gia của nhân viên và khách hàng vào các hoạt động liên quan đến TNXH và hỗ trợ từ thiện để nâng cao sự trung thành của nhân viên và khách hàng: doanh nghiệp cần phải tăng cường sử dụng
các kênh thông tin nội bộ để giúp nhân viên tham gia vào các hoạt động TNXH và hỗ trợ cộng đồng hiểu và tự hào về doanh nghiệp của mình Không chỉ cung cấp thông tin, mà doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho người lao động tham gia nhiều hơn vào các hoạt động Tùy vào điều kiện của từng doanh nghiệp mà những chương trình đó có thể rất đơn giản như làm tiết kiệm điện, năng lượng, nước, giữ vệ sinh chung, trồng cây, dọn dẹp nơi làm việc, chuẩn
bị phòng tránh trước mùa mưa bão…
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Nội dung Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gồm những vấn đề gì?
- Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xây dựng
trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang?
- Giải pháp để nâng cao Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xây
dựng tại tỉnh Tuyên Quang?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Chọn địa bàn nghiên cứu
Do Tuyên Quang là tỉnh nghèo miền núi số lượng doanh nghiệp ít (trên
1000 doanh nghiệp) trong đó doanh nghiệp xây dựng chỉ có trên 100 doanh
nghiệp, nhiều doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập,
doanh nghiệp đang tạm dừng hoạt động do gặp khó khăn… nên để có số liệu
phục vụ nghiên cứu được chính xác Tác giả chọn 50 doanh nghiệp trong lĩnh
vực xây dựng đại diện cho đầy đủ các loại hình sở hữu, doanh nghiệp, khu
vực địa lý và theo quy mô, đó là:
Về Hình thức sở hữu:
- Công ty cổ phần
- Công ty TNHH
- Doanh nghiệp tư nhân
Về địa bàn: Có cả doanh nghiệp đóng ở thành phố, ở các huyện, các xã
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.2.1 Thông tin thứ cấp
Thông tin được thu thập là các báo cáo tổng hợp hàng năm của khối
doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như báo cáo tổng hợp
từ các cơ quan thống kê, cũng như các sở, ban ngành, Cục Thuế tỉnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Các báo cáo này mang đến các thông tin về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội cũng như phản ánh được phần náo tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đến hoạt động của doanh nghiệp
2.2.2.2 Thông tin sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là bảng câu hỏi khảo sát đánh giá thu thập từ các nhà quản trị, cán bộ công nhân viên trong các công ty được lựa chọn
a) Số lượng mẫu phát : 50 phiếu
b) Đối tượng khảo sát: là lãnh đạo, cán bộ nhân viên của các doanh
nghiệp đã được lựa chọn khảo sát trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang mỗi doanh nghiệp gửi 01 phiếu khảo sát; ngoài ra tác giả còn phỏng vấn một số các lãnh đạo, nhân viên của các cơ quan chức năng quản lý theo dõi việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Sở Lao động Thương binh và Xã hội,
Sở Tài nguyên và Môi trường, Bảo hiểm xã hội, Hội chữ thập đỏ, Quỹ bảo trợ trẻ em… Để nắm bắt thông tin, số liệu đồng thời khảo sát, phỏng vấn cá nhân
để nắm được các ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các ý kiến này sẽ mang lại cách nhìn khách quan hơn về cách đánh giá của các doanh nghiệp về thực hiện TNXH Các đối tượng khảo sát sẽ được tập hợp, lựa chọn và lập thành danh sách đầy đủ 50 đối tượng trước khi triển khai chính thức Lý do để lựa chọn phương pháp chọn mẫu này vì nội dung phỏng vấn mang tính chuyên sâu và đặc thù nên cần có các đáp viên có kinh nghiệm, trình độ và am hiểu về trách nhiệm xã hội và phải được định hình trước khi tiến hành Mặt khác các doanh nghiệp được chọn là những doanh nghiệp mang tính đặc trưng nhất, các chỉ số sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện TNXH đồng đều ổn định trong các năm chứ không có số liệu đột biến
c) Bảng câu hỏi được thiết kế theo 3 bước:
Bước 1: Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trước
đây để tạo nên bảng câu hỏi ban đầu