1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng

126 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 3,01 MB
File đính kèm Luan van thuc trang sinh ke va rung.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Phân tích tình trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân xã Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ năm 2010 đến 2011. Sử dụng công cụ PRA và dựa trên phân tích tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng để tìm ra nguyên nhân hậu quả. Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tài sản sinh kế (con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và vật chất), các hoạt động sử dụng tài nguyên của cộng đồng và các chính sách, định chế ảnh hưởng đến sinh kế. Nghiên cứu này nhằm trình bày sự chuyển đổi của một cộng đồng từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa trong bối cảnh tác động của các chính sách phát triển. Luận văn nhằm đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn Quốc Gia Bidoup Núi Bà làm cơ sở kiến tạo giải pháp cải thiện đời sống người dân địa phương và tăng hiệu quả bảo vệ rừng. Kết quả luận văn cho thấy đất canh tác và quyền sử dụng đất đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nông hộ và xu thế tách hộ tăng nguy cơ gây áp lực lên đất rừng. Các chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng mang lại lợi ích có ý nghĩa cho người dân địa phương và giúp giảm áp lực vào rừng nhưng còn nhiều điều bất cập cần được đáp ứng. Nhờ vào các chương trình của nhà nước hỗ trợ nên cơ sở hạ tầng công cộng đã được cải thiện, đảm bảo cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nhưng cũng tác động lên bản sắc văn hóa của người K’Ho. Tài sản tư nhân chủ yếu là tài sản tiêu dùng chứ không phải tài sản sản xuất; kỹ năng sử dụng tiền và quản lý tài chính có hiệu quả là các điểm yếu và thiếu của người dân. Với thu nhập nông nghiệp là 87 triệu đồngnăm và giao khoán quản lý bảo vệ rừng 26 triệu đồngnăm nên đây là 2 nguồn thu chính của các thôn. Lực lượng lao động dồi dào nhưng học vấn thấp, thiếu kỹ năng nên cần đào tạo nghề để cải thiện sinh kế. Do ảnh hưởng lối sống truyền thống nên đa phần người dân vẫn vào rừng lấy củi và khai thác lâm sản ngoài gỗ, gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên. Các dự án không phải từ nguồn vốn chính phủ thường là các dự án ngắn hạn tập trung vào nâng cao năng lực thay vì những sự đầu tư mang lại tác động kinh tế tức thời và rõ rệt. Đôi khi các công ty tư nhân thuê hay mua đất của người dân để làm nông nghiệp công nghệ cao, có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống người dân.Tóm lại, các vấn đề về quyền sử dụng đất, thiếu đất sản xuất, thiếu vốn sản xuất, thiếu kỹ năng quản lý tài chính đã gây tác động bất lợi đến sinh kế của người dân. Áp lực lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ củi và một số loại lâm sản ngoài gỗ đã làm ảnh hưởng đến tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà.MỞ ĐẦUĐặt vấn đềTình trạng đói nghèo là một vấn đề toàn cầu (Shah, 2011) và đặc biệt, các nước đang phát triển như Việt Nam đang quan tâm giải quyết. Xóa bỏ đói nghèo là mục tiêu đầu tiên trong tám mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, cùng với nó là mục tiêu đảm bảo tính bền vững của môi trường (UN, 2010). Sự gắn kết hai mục tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và môi trường; nhất là ở vùng nông thôn, miền núi là nơi đời sống phụ thuộc vào các sản phẩm tự nhiên hay bán tự nhiên. Đồng thời, người dân thường phải đối mặt với vòng luẩn quẩn của tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp của môi trường. Do đó, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và môi trường có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên đời sống của từng người cũng như điều kiện kinh tế xã hội của toàn cộng đồng. Trong khi phấn đấu cho các mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo tính bền vững của môi trường thì hàng loạt mâu thuẫn nảy sinh: Mâu thuẫn giữa bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội, mâu thuẫn về quyền sở hữu và sử dụng đất đai, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; đang là các vấn đề phức tạp đặt ra cho những người làm công tác bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế xã hội. Để giải quyết các vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng người dân trong các cộng đồng địa phương vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họ phụ thuộc. Điều này có thể nhận thấy rõ nhất trong các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi, nơi đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa. Đối với các cộng đồng này, nghèo đói không chỉ là do việc thiếu nguồn tài chính mà còn do nhiều nguyên nhân khác như rào cản ngôn ngữ, thiếu thông tin kỹ thuật, bệnh tật, bùng nổ dân số. Ngoài ra, việc thiếu đất sản xuất và quyền sở hữu đất cũng là nguyên nhân gây ra sự bấp bênh về sinh kế (Huynh, Duong, 2002; Bui, 2005).Vào năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành một Chiến lược toàn diện về giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế (Socialist Republic of Vietnam, 2003). Chiến lược này đã nhấn mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác (Đặng Kim Sơn, 2001). Để cụ thể hóa chiến lược này, Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tài chính và tín dụng; về khuyến khích đầu tư; về định canh định cư; về y tế giáo dục nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người dân địa phương có được những nguồn lực để tạo ra sinh kế bền vững nhằm cải thiện lâu dài đời sống của người dân và duy trì năng lực của các hệ thống tài nguyên thiên nhiên. Gần đây nhất, chương trình phát triển nông thôn toàn diện nhấn mạnh ba khía cạnh: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang được triển khai trong cả nước. Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cụ thể là bảo vệ và phát triển rừng, các chính sách có liên quan đã gắn liền với các chương trình giảm nghèo. Đáng chú ý nhất là chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân theo chương trình 661 là chương trình nối tiếp Chương trình 327CT (1992), một cơ chế thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng đã được xác lập thông qua các hợp đồng giao khoán. Gần đây hơn, chính phủ đã thể chế hóa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cho các tổ chức và cá nhân bảo vệ và phát triển rừng. Như vậy là ở Việt Nam cùng với phương thức bảo vệ rừng theo cách tiếp cận điều khiển và kiểm soát, cách tiếp cận thu hút sự tham gia (thông qua cơ chế giao khoán) và cách tiếp cận dựa vào thị trường (thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng) cũng đã được áp dụng. Những cách tiếp cận này, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ như các chương trình 135 và 30A, đã góp phần tạo ra sự thay đổi lớn trong việc cải thiện đời sống của người dân có cuộc sống phụ thuộc vào rừng và tăng độ che phủ rừng trên toàn quốc. Kết quả đạt được từ việc thực hiện những chính sách này đã góp phần đáng kể vào chiến lược phát triển bền vững của quốc gia (William và Huỳnh Thu Ba, 2005). Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyên đã được nghiên cứu nghiêm túc từ hơn mười năm qua. Nguyên nhân chủ yếu của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sự gia tăng dân số; tăng trưởng kinh tế và nhu cầu ngày càng gia tăng về lương thực, xuất khẩu nông nghiệp và các sản phẩm rừng chủ yếu là gỗ cho công nghiệp giấy và bột giấy, xây dựng và nguyên liệu. Bốn vấn đề cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt Nam bao gồm: (1) một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) mở rộng đất làm nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4) thu hái các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống (De Koninck, 2000). Theo Báo cáo sàng lọc xã hội Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (2009) thì các xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có 78,8% dân số là đồng bào dân tộc bản địa K’Ho. Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu là từ nông nghiệp trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính. Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít nên đã mở rộng đất canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp. Các hộ nghèo có tỉ lệ mù chữ cao (>30%), học tối đa đến hết cấp I và họ cũng chính là các hộ sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên (VCF, 2009). Trên địa bàn huyện Lạc Dương bao gồm sáu xã và một thị trấn thì dân tộc K’Ho là người bản địa có cuộc sống phụ thuộc vào rừng. Người K’Ho theo chế độ mẫu hệ nên phụ nữ thường đóng vai trò là chủ hộ, nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định (VCF, 2009). Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi tiếp xúc với người ngoài nên họ ít tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm để nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội. Cuộc sống của họ dựa vào rừng thông qua các hoạt động khai thác trái phép (gỗ, các lâm sản ngoài gỗ), săn bẫy thú để cải thiện đời sống của họ và một phần thu nhập từ các chương trình giao khoán bảo vệ rừng như chương trình 661, 30A, chi trả dịch vụ môi trường rừng và một số nguồn khác.Do đó, tìm hiểu sinh kế của người dân dựa vào tài nguyên thiên nhiên và các bất cập trong hệ thống các chương trình chính sách hiện hành là tiền đề để thực hiện các nỗ lực quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững. Đề tài “Phân tích tình trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân xã Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện để xem xét mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyên rừng thông qua nghiên cứu ở cấp vi mô các cộng đồng sống chung quanh Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà. Mục đích Mục đích: Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động sống của người dân, hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng và ảnh hưởng của các chương trình, chính sách đến đời sống cộng đồng để đánh giá các giải pháp giảm nghèo và thực trạng phụ thuộc vào rừng của cộng đồng. Ý nghĩa thực tiễn: Đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà làm cơ sở trong tiến trình nghiên cứu và thiết kế các hệ thống quản lý nhằm tăng cường công tác quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và nâng cao đời sống người dân thông qua các hoạt động sinh kế thân thiện với môi trường. Mục tiêu Mô tả và phân tích thực trạng sinh kế của cộng đồng. Mô tả và phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng. Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế từ đó xác định căn nguyên hiện trạng sinh kế của người dân. Phạm vi nghiên cứuDo thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài tập trung vào điều tra bốn thôn của xã Đa Nhim nằm trên địa bàn quản lý của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà để tìm ra các loại tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng, các chương trình, chính sách có liên quan đến sinh kế và tương tác giữa các yếu tố này.Tài liệu liên quan đến đề tài còn rất ít ở Việt Nam nên là một vấn đề khó khăn trong quá trình tham khảo, tìm tòi kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện đề tài.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**********************

TÔN THẤT MINH

PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC

VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM

TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆPThành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2011

Trang 2

PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC

VÀO RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM

Trang 3

PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG SINH KẾ VÀ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG

CỦA NGƯỜI DÂN XÃ ĐA NHIM, TỈNH LÂM ĐỒNG

Đại học Nông Lâm TP HCM

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN NGỌC THÙY

Đại học Nông Lâm TP HCM

4 Phản biện 2: TS LA VĨNH HẢI HÀ

Đại học Nông Lâm TP HCM

5 Ủy viên: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG (vắng mặt)

Đại học Nông Lâm TP HCM

Trang 4

Quá trình công tác (cơ quan công tác và chức vụ theo thời gian):

Năm 1985 - 2005: cán bộ kỹ thuật Xí nghiệp giống lâm nghiệp vùng Tây Nguyên.Năm 2005 - tháng 8 năm 2011: chuyên viên Phòng kế hoạch và hợp tác quốc tế,Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng

Tháng 9 năm 2011 đến nay: Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế rừng nhiệtđới, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng

Tháng 11 năm 2009 theo học Cao học ngành lâm học tại Đại học Nông Lâm,Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Điạ chỉ liên lạc: số 2 hẻm 1/6 đường Lữ Gia, phường 9, Đà Lạt

Điện thoại: 0633 826 748, 0909 267 303

Email: tontminh@yahoo.com

Fax: 0633 577 260

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

Ký tên

TÔN THẤT MINH

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cám ơn:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

- Ban Giám Hiệu Trung Tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức Tỉnh Lâm Đồng

- Quí thầy cô của Trường Đại học Nông Lâm và khoa Lâm nghiệp đã tận tìnhtruyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập của lớp Cao họcLâm nghiệp K.2009 Lâm Đồng

- Tiến sĩ Phan Triều Giang, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

- Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đã giúp đỡ và tạo điều kiện trong quá trình họctập và thực hiện luận văn

- Dự án JICA- Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đã hỗ trợ công tác thu thập số liệuđể thực hiện luận văn

- Tất cả đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ và động viên tôi hoàn thành luận văn

Học viên Tôn Thất Minh

TÓM TẮT

Trang 7

Đề tài “Phân tích tình trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân

xã Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ năm 2010 đến 2011 Sử dụng công

cụ PRA và dựa trên phân tích tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng để tìm ranguyên nhân- hậu quả Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tài sảnsinh kế (con người, tự nhiên, xã hội, tài chính và vật chất), các hoạt động sử dụngtài nguyên của cộng đồng và các chính sách, định chế ảnh hưởng đến sinh kế.Nghiên cứu này nhằm trình bày sự chuyển đổi của một cộng đồng từ nền kinh tế tựcung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa trong bối cảnh tác động của các chính sáchphát triển Luận văn nhằm đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn Quốc GiaBidoup Núi Bà làm cơ sở kiến tạo giải pháp cải thiện đời sống người dân địaphương và tăng hiệu quả bảo vệ rừng

Kết quả luận văn cho thấy đất canh tác và quyền sử dụng đất đóng vai trò rấtquan trọng trong đời sống nông hộ và xu thế tách hộ tăng nguy cơ gây áp lực lên đấtrừng Các chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng mang lại lợi ích có ý nghĩacho người dân địa phương và giúp giảm áp lực vào rừng nhưng còn nhiều điều bấtcập cần được đáp ứng Nhờ vào các chương trình của nhà nước hỗ trợ nên cơ sở hạtầng công cộng đã được cải thiện, đảm bảo cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bànnhưng cũng tác động lên bản sắc văn hóa của người K’Ho Tài sản tư nhân chủ yếu

là tài sản tiêu dùng chứ không phải tài sản sản xuất; kỹ năng sử dụng tiền và quản lýtài chính có hiệu quả là các điểm yếu và thiếu của người dân Với thu nhập nôngnghiệp là 87 triệu đồng/năm và giao khoán quản lý bảo vệ rừng 26 triệu đồng/nămnên đây là 2 nguồn thu chính của các thôn Lực lượng lao động dồi dào nhưng họcvấn thấp, thiếu kỹ năng nên cần đào tạo nghề để cải thiện sinh kế Do ảnh hưởng lốisống truyền thống nên đa phần người dân vẫn vào rừng lấy củi và khai thác lâm sảnngoài gỗ, gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên Các dự án không phải từnguồn vốn chính phủ thường là các dự án ngắn hạn tập trung vào nâng cao năng lựcthay vì những sự đầu tư mang lại tác động kinh tế tức thời và rõ rệt Đôi khi cáccông ty tư nhân thuê hay mua đất của người dân để làm nông nghiệp công nghệ cao,

có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống người dân

Trang 8

Tóm lại, các vấn đề về quyền sử dụng đất, thiếu đất sản xuất, thiếu vốn sảnxuất, thiếu kỹ năng quản lý tài chính đã gây tác động bất lợi đến sinh kế của ngườidân Áp lực lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ củi và một số loại lâm sản ngoài gỗ đãlàm ảnh hưởng đến tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà.

Trang 9

The thesis “Analysis of livelihoods and forest dependency of local people in

Da Nhim commune, Lam Dong province” was conducted in 2010 - 2011 SeveralParticipatory Rural Appraisal (PRA) tools and a framework of livelihood assetsanalysis were used to highlight forest dependency and to find out cause-effectrelationships The thesis focuses on studying people’s livelihood assets (human,natural, social, financial and physical capital); their natural resource usage activitiesand impact of policies and institutions on their livelihoods This study is a typicalexample of transformation from self-subsistence to a commodity-oriented economy

in the context impacted by development policies The thesis provided additionalinformation for the Management Board of Bidoup Nui Ba National Park to create abasis solution to improve the livelihoods of local people and to increase theeffectiveness of forest protection

Results of the research revealed that cultivation land and land tenure playessential role in the life of farming households and that the trend of family splittinghas caused meaningful pressure on forest land Even though the contractual forestprotection programs have brought significant benefits to local people and reducedpressures on forest resources, but there are still issues to be addressed Thank to thestate-supported programs, public infrastructures have been improved ensuringsocio-economic development of the area, but they also caused negative impact onthe culture of the K'Ho people Household assets are mainly consuming productsrather than production ones Meanwhile, local people are lack of financialmanagement skills, especially how to effectively use their money The main income

of the people comes from agricultural activities (87 millions/year) and theirparticipation in forest protection (26 millions/year) The labor force is plentiful butlow-educated People need more occupational training to improve their livelihoods.Under the influence of the traditional living style, most of people still go to the

Trang 10

forest to collect fire-wood and non-timber forest products (NTFPs), creatingadversed effects on nature resources Non-government projects are usually short-term, focusing on capacity improvement rather than the investments to createimmediate and concrete economic impacts In some cases, private companies rent orbuy the land from local people to carry out hi-tech agricultural production resultingsome negative impacts on local livelihoods

In conclusion, local livelihoods are negatively affected by the insecurity of land use right, lack of land for cultivation, shortage of capital and financial management skills In this context, pressures caused by forest encroachment, wood exploitation and NTFPs collection have affected the biodiversity of the Bidoup Nui Ba National Park

MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Tình trạng đói nghèo là một vấn đề toàn cầu (Shah, 2011) và đặc biệt, các nướcđang phát triển như Việt Nam đang quan tâm giải quyết Xóa bỏ đói nghèo là mụctiêu đầu tiên trong tám mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, cùng với nó làmục tiêu đảm bảo tính bền vững của môi trường (UN, 2010) Sự gắn kết hai mụctiêu này phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và môi trường; nhất là ở vùng nôngthôn, miền núi là nơi đời sống phụ thuộc vào các sản phẩm tự nhiên hay bán tựnhiên Đồng thời, người dân thường phải đối mặt với vòng luẩn quẩn của tình trạngđói nghèo và sự xuống cấp của môi trường Do đó, suy giảm tài nguyên thiên nhiên

và môi trường có tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên đời sống của từng người cũngnhư điều kiện kinh tế - xã hội của toàn cộng đồng

Trong khi phấn đấu cho các mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo tính bềnvững của môi trường thì hàng loạt mâu thuẫn nảy sinh: Mâu thuẫn giữa bảo tồn tàinguyên và phát triển kinh tế - xã hội, mâu thuẫn về quyền sở hữu và sử dụng đấtđai, mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; đang là các vấn đề phức tạp đặt racho những người làm công tác bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế- xã hội Đểgiải quyết các vấn đề này, cần nhấn mạnh rằng người dân trong các cộng đồng địa

Trang 11

phương vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họphụ thuộc Điều này có thể nhận thấy rõ nhất trong các cộng đồng dân tộc thiểu sốmiền núi, nơi đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh tếhàng hóa Đối với các cộng đồng này, nghèo đói không chỉ là do việc thiếu nguồntài chính mà còn do nhiều nguyên nhân khác như rào cản ngôn ngữ, thiếu thông tin

kỹ thuật, bệnh tật, bùng nổ dân số Ngoài ra, việc thiếu đất sản xuất và quyền sở hữuđất cũng là nguyên nhân gây ra sự bấp bênh về sinh kế (Huynh, Duong, 2002; Bui,2005)

Vào năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành một Chiến lược toàn diện vềgiảm nghèo và tăng trưởng kinh tế (Socialist Republic of Vietnam, 2003) Chiếnlược này đã nhấn mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duytrì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiênnhiên khác (Đặng Kim Sơn, 2001) Để cụ thể hóa chiến lược này, Chính phủ đã banhành một số chính sách về tài chính và tín dụng; về khuyến khích đầu tư; về địnhcanh định cư; về y tế giáo dục nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người dân địa phương có đượcnhững nguồn lực để tạo ra sinh kế bền vững nhằm cải thiện lâu dài đời sống củangười dân và duy trì năng lực của các hệ thống tài nguyên thiên nhiên Gần đâynhất, chương trình phát triển nông thôn toàn diện nhấn mạnh ba khía cạnh: Nôngnghiệp, nông thôn và nông dân đang được triển khai trong cả nước

Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cụ thể là bảo vệ vàphát triển rừng, các chính sách có liên quan đã gắn liền với các chương trình giảmnghèo Đáng chú ý nhất là chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho ngườidân theo chương trình 661 là chương trình nối tiếp Chương trình 327/CT (1992),một cơ chế thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng đãđược xác lập thông qua các hợp đồng giao khoán Gần đây hơn, chính phủ đã thểchế hóa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) cho các tổ chức và cá nhânbảo vệ và phát triển rừng Như vậy là ở Việt Nam cùng với phương thức bảo vệrừng theo cách tiếp cận điều khiển và kiểm soát, cách tiếp cận thu hút sự tham gia(thông qua cơ chế giao khoán) và cách tiếp cận dựa vào thị trường (thông qua cơ

Trang 12

chế chi trả dịch vụ môi trường rừng) cũng đã được áp dụng Những cách tiếp cậnnày, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ như các chương trình 135 và 30A,

đã góp phần tạo ra sự thay đổi lớn trong việc cải thiện đời sống của người dân cócuộc sống phụ thuộc vào rừng và tăng độ che phủ rừng trên toàn quốc Kết quả đạtđược từ việc thực hiện những chính sách này đã góp phần đáng kể vào chiến lượcphát triển bền vững của quốc gia (William và Huỳnh Thu Ba, 2005)

Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyên đã được nghiên cứu nghiêm túc

từ hơn mười năm qua Nguyên nhân chủ yếu của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sựgia tăng dân số; tăng trưởng kinh tế và nhu cầu ngày càng gia tăng về lương thực,xuất khẩu nông nghiệp và các sản phẩm rừng - chủ yếu là gỗ cho công nghiệp giấy

và bột giấy, xây dựng và nguyên liệu Bốn vấn đề cơ bản gây ra nạn phá rừng củaViệt Nam bao gồm: (1) một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư;(2) mở rộng đất làm nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợppháp; và (4) thu hái các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống (DeKoninck, 2000)

Theo Báo cáo sàng lọc xã hội Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (2009) thì các

xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà có 78,8%dân số là đồng bào dân tộc bản địa K’Ho Nguồn thu nhập chính của các hộ trongvùng chủ yếu là từ nông nghiệp trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính.Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít nên đã mở rộng đất canh táctrên diện tích đất lâm nghiệp Các hộ nghèo có tỉ lệ mù chữ cao (>30%), học tối đađến hết cấp I và họ cũng chính là các hộ sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên(VCF, 2009) Trên địa bàn huyện Lạc Dương bao gồm sáu xã và một thị trấn thìdân tộc K’Ho là người bản địa có cuộc sống phụ thuộc vào rừng Người K’Ho theochế độ mẫu hệ nên phụ nữ thường đóng vai trò là chủ hộ, nhưng trên thực tế việcquyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định(VCF, 2009) Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp, khả năng nói tiếng phổ thông kém,

ít khi tiếp xúc với người ngoài nên họ ít tham gia các chương trình tập huấn,khuyến nông, khuyến lâm để nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống

Trang 13

chính trị xã hội Cuộc sống của họ dựa vào rừng thông qua các hoạt động khai tháctrái phép (gỗ, các lâm sản ngoài gỗ), săn bẫy thú để cải thiện đời sống của họ vàmột phần thu nhập từ các chương trình giao khoán bảo vệ rừng như chương trình

661, 30A, chi trả dịch vụ môi trường rừng và một số nguồn khác

Do đó, tìm hiểu sinh kế của người dân dựa vào tài nguyên thiên nhiên và cácbất cập trong hệ thống các chương trình chính sách hiện hành là tiền đề để thựchiện các nỗ lực quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững Đề tài “Phân tích tìnhtrạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân xã Đa Nhim, tỉnh LâmĐồng” được thực hiện để xem xét mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý tài nguyênrừng thông qua nghiên cứu ở cấp vi mô các cộng đồng sống chung quanh Vườnquốc gia Bidoup Núi Bà

Mục đích

- Mục đích: Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động sống củangười dân, hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng và ảnh hưởng của các chương trình,chính sách đến đời sống cộng đồng để đánh giá các giải pháp giảm nghèo và thựctrạng phụ thuộc vào rừng của cộng đồng

- Ý nghĩa thực tiễn: Đóng góp thêm tư liệu cho Ban quản lý Vườn quốc giaBidoup Núi Bà làm cơ sở trong tiến trình nghiên cứu và thiết kế các hệ thống quản

lý nhằm tăng cường công tác quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và nâng cao đờisống người dân thông qua các hoạt động sinh kế thân thiện với môi trường

Mục tiêu

- Mô tả và phân tích thực trạng sinh kế của cộng đồng

- Mô tả và phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng

- Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế từ đó xácđịnh căn nguyên hiện trạng sinh kế của người dân

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài tập trung vào điều tra bốn thôncủa xã Đa Nhim nằm trên địa bàn quản lý của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đểtìm ra các loại tài sản sinh kế, sự phụ thuộc vào rừng, các chương trình, chính sách

có liên quan đến sinh kế và tương tác giữa các yếu tố này

Tài liệu liên quan đến đề tài còn rất ít ở Việt Nam nên là một vấn đề khókhăn trong quá trình tham khảo, tìm tòi kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện

đề tài

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Các thôn nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương là nơi

có tỉ lệ rừng che phủ lớn ở phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, có độ cao bình quân khoảng1.500 m so với mực nước biển Địa hình đồi núi chia cắt bởi nhiều sông suối Vùngnày có khí hậu ôn hòa với nhiệt độ trung bình từ 160C đến 200C Đặc tính quantrọng nhất của chế độ nhiệt là biến động nhiệt giữa ngày và đêm lớn từ 6oC đến

13oC nên gây một số khó khăn cho các hoạt động nông nghiệp Một năm có hai mùa

rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm Mặc

dù mùa khô khá dài nhưng tác động của hạn hán không đáng kể đối với sản xuấtnông nghiệp vì mưa cũng thường xuất hiện rải rác trong mùa khô (UBND LạcDương , 2006)

Hai nhóm đất chính là đất Feralit chiếm khoảng 78 % diện tích và nhóm đấtđỏ vàng chiếm 18 % Trong khi nhóm đầu có hiện trạng và tiềm năng cho phát triểnrừng, bảo vệ đa dạng sinh học, nhóm sau phù hợp cho các cây công nghiệp lâu nămnhư cà phê, tiêu, cây ăn quả và rau màu Đứng về góc độ phát triển nông nghiệp thì

bị ảnh hưởng bởi địa hình dốc và bị chia cắt mạnh nên làm cho canh tác nôngnghiệp gặp nhiều khó khăn do xói mòn đất, khó cơ giới hóa và chi phí đầu tư cao(UBND Lạc Dương, 2006)

Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có khí hậu giao thoa giữa vùng Đông Nam

Bộ, Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ nên sở hữu các vùng sinh thái đadạng với tính đa dạng sinh học cao Các nhà khoa học đã ghi nhận 1.923 loài thực

Trang 16

vật có mạch, trong đó 96 loài đặc hữu và 62 loài quý hiếm nằm trong danh lục củaIUCN Với 14 loài cây lá kim trên tổng số 33 loài có mặt ở Việt Nam, trong đó có

những loài đặc hữu, quý hiếm như thông hai lá dẹt (Pinus krempfii), thông năm lá

Đà Lạt (Pinus dalatensis), thông đỏ (Taxus wallichiana),… Nơi đây cũng là vương

quốc các loài lan Việt Nam với trên 297 loài mà du khách có thể bắt gặp nhiều loài

nở hoa ở bất cứ mùa nào trong năm Là nơi sinh sống của hơn 422 loài động vật cóxương sống thuộc 98 họ, 30 bộ Có 32 loài nằm trong sách đỏ của IUCN Nhiều loài

quý, hiếm như cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), chà vá chân đen (Pygathrix

nigripes), vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae), gấu chó (Heloarctos malaysanus), gấu ngựa (Ursus thibetanus), bò tót (Bos gaurus), sơn dương

(Naemorhedus sumatraensis) (VCF, 2009) Với số lượng các loài đã được định

danh cho thấy rằng Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có nhiều loài đặc hữu và là nơi

cư ngụ của nhiều loài được liệt kê trong Sách đỏ nên đây được xem là một trongbốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam (VCF, 2009)

Sự phát triển kinh tế của huyện Lạc Dương rất ấn tượng với GDP tăng hơn22% trong ba năm vừa qua Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao nhưng theoquyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 08 tháng 7 năm 2005

về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 thì Lạc Dươngvẫn là một huyện nghèo Theo quyết định này thì những hộ nghèo là những hộ cómức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực

Trang 17

nghèo là người dân tộc thiểu số Vào năm 2009, huyện Lạc Dương có 907 hộ sốngdưới mức nghèo, trong đó 879 hộ là người dân tộc thiểu số tương ứng 97% (UBNDLạc Dương, 2009)

Việc dân số tăng nhanh được cho là một trong số các nguyên nhân mất rừngđặc biệt ở các vùng đệm và dọc theo các con đường mới mở nối Đà Lạt với ĐăkLăk và Khánh Hòa Mặt khác, cà phê là nguồn thu nhập chính của nông hộ đượcxem là nguyên nhân của việc lấn chiếm đất rừng và các xung đột tài nguyên diễn rangày càng nghiêm trọng hơn giữa người dân và chính quyền địa phương (PTK LạcDương, 2009)

Một trong những thách thức lớn nhất của Vườn quốc gia là phương án quản

lý bảo vệ rừng trước những áp lực lên tài nguyên thiên nhiên do cháy rừng và lấnchiếm đất rừng cũng giống như các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ(VCF, 2009) Với tốc độ tăng dân số nhanh và sự phát triển thị trường cà phê thì áplực vào đất rừng và tài nguyên rừng là khó tránh khỏi Trong 2.840 hộ sống gầnVQG thì có 30% số hộ nghèo và mỗi năm bị thiếu ăn từ một đến hai tháng nên đờisống của họ vẫn phải dựa vào rừng (VCF, 2009) Tình trạng thiếu đất là một vấn đềchung của gần 1.000 hộ nghèo nên áp lực lên tài nguyên thiên nhiên ở địa phương làrất đáng quan ngại

Mật độ dân số bình quân trong vùng là 11,2 người/km2 Trong đó, có những

xã có mật độ dân số thấp như Đa Chais (3,9 người/km2), Xã Lát (6 người/km2)(PTK Lạc Dương, 2009; VCF, 2009) Tại Đa Chais do trước đây chưa có đườngnên số dân cư ngụ và sinh sống tại đây thấp vì rất khó tiếp cận được với thị trườngbên ngoài Xã Lát là một xã có diện tích theo ranh giới hành chính khá lớn do vậykhi tính mật độ thì tỉ số giữa dân số và diện tích là nhỏ so với các xã còn lại Tuyvậy, dân số không phân bố đều mà thường phân bố theo cụm nên khi cụm dân cưđông thường kéo theo hệ lụy phá rừng nhiều hơn bởi nhiều tác nhân khác nhau

Theo kết quả tổng điều tra dân số huyện Lạc Dương tháng 4 năm 2009 thìtrên toàn huyện có 99,5% dân số đã học đến cấp I; 96,8 % đã học đến cấp II và 9,1

Trang 18

% học đến cấp III (PTKLD, 2009) Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn thì đề tàithấy rằng có rất nhiều người không biết đọc, biết viết thậm chí là không biết nóitiếng phổ thông nên họ khó tiếp cận được với các kiến thức, thông tin.

Nguồn lao động là khá lớn (có 8.900 lao động chiếm 62,49% dân số đangtrong tuổi lao động), trong đó có 4.313 nam và 4.587 nữ Số người ngoài độ tuổilao động là 5.342 người chiếm 37,51% Tuy nhiên hầu hết lao động đều là lao độngphổ thông chưa được đào tạo nghề, công việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đánhbắt cá, tham gia tổ giao khoán quản lý bảo vệ rừng, làm thuê theo thời vụ(VCF,2009)

Người K’Ho theo chế độ mẫu hệ Phụ nữ thường sinh rất nhiều con và làmchủ gia đình Họ có quyền kiểm soát các nguồn lực của gia đình như đất đai, vậtnuôi, tiền bạc nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong giađình lại do người đàn ông quyết định Người vợ tham gia hầu hết các hoạt độngkinh tế bao gồm cả các công việc nặng nhọc cần nhiều cơ bắp như làm rẫy, lấy củi

và họ cũng là người chăm lo con cái, chăm lo bữa cơm trong gia đình Ngoài ra, dotrình độ dân trí thấp hơn, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi được đi chợhuyện, chợ tỉnh nên phụ nữ K’Ho thường ngại tiếp xúc với người ngoài Do đó, họhầu như không tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm đểnắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội

Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu từ nông nghiệp (chiếmkhoảng 3/4 tổng thu nhập) Trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính Songhầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít, nhập lượng cho nông nghiệp thấp(phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật), kỹ thuật canh tác yếu, nguồn giốngkhông đảm bảo dẫn đến năng suất cây trồng thấp, cộng với chi phí sản xuất cao nêntiền lãi hàng năm rất thấp, thậm chí còn bị lỗ (VCF, 2009)

+ Sự phụ thuộc vào rừng

Với gần 30% số hộ nghèo (có thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng) cónguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Gia đình thường đông con,

Trang 19

trình độ học vấn thấp nên khi thiếu ăn thì cuộc sống của họ phụ thuộc vào rừngthông qua việc khai thác gỗ, củi, nấm, hạt dẻ, dớn, lan, măng, rau rừng và đốt than.Trong đó được xếp quan trọng nhất là củi, kế đến là gỗ và thực phẩm như măng, raurừng Ngoài ra, họ còn săn bẫy chim thú để làm thực phẩm và bán lấy tiền (VCF,2009).

Ngoài nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp thì nguồn thu từ nhận khoán quản

lý bảo vệ rừng cũng là nguồn thu quan trọng của các hộ Các hộ nhận khoán theochương trình chi trả dich vụ môi trường với mức 400.000 đồng/ha/năm thì bìnhquân hàng quý có thể được nhận tới 3 triệu đồng Đối với các vùng không được chitrả dịch vụ môi trường thì hưởng theo chương trình 30A là chương trình theo Nghịquyết số 30ª/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về “Chươngtrình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”; trong đó tiềnkhoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha/năm; hộ nghèo được trợ cấp 15 kggạo/khẩu/tháng Tổng kinh phí chi trả cho người dân để quản lý bảo vệ rừng củaVườn quốc gia Bidoup Núi Bà lên đến 8 tỉ trong năm 2009

Đề tài nhận ra rằng quản lý diện tích rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh họccao và thực trạng kinh tế - xã hội trong khu vực như đã nêu thì áp lực của cộngđồng lên tài nguyên rừng là rất lớn và lựa chọn phương án phát triển kinh tế - xã hộinhưng không làm mất đi tính đa dạng sinh học và tài nguyên rừng là rất cần thiết

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Các nghiên cứu về sinh kế

Khung sinh kế bền vững được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh(DFIF, 1999) xây dựng, đã nêu lên một số nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế củangười dân theo khung sinh kế bền vững Khung này không chỉ đơn thuần là công cụphân tích mà nó chính là nền nền tảng cho các hoạt động hướng đến sinh kế nhưhình 1.1 dưới đây:

Trang 20

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFIF, 1999)

Trong phân tích sinh kế của FAO thì sinh kế bao gồm năng lực, tài sản vàcác hoạt động cần thiết mà con người dùng để kiếm sống Tài sản sinh kế của ngườidân được chia thành năm loại tài sản Thứ nhất là tài sản tự nhiên gồm đất đai, rừngcây, nguồn nước và đồng cỏ Thứ hai là tài sản vật chất gồm (i) tài sản tư nhân được

sử dụng để gia tăng sức sản xuất của lao động và đất đai như gia súc, công cụ, máymóc; (ii) tài sản công cộng như cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế (như đường

sá, nguồn điện) và xã hội (như trường học, trạm y tế) Thứ ba là tài sản bằng tiềngồm nguồn tài chính mà con người có được như tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng vàvốn có thể chuyển thành tiền Thứ tư là nguồn nhân lực gồm tình trạng sức khỏe,dinh dưỡng, giáo dục và kỹ năng làm việc Thứ năm là tài sản xã hội gồm tập hợpcác mối quan hệ xã hội mà người dân có thể dựa vào đó để mở rộng các phươngthức sinh sống như quan hệ dòng tộc, thân hữu, quan hệ chủ và người làm công,quan hệ tương hỗ, thành viên của các tổ chức quần chúng có thể hỗ trợ cho việc vaymượn và các đảm bảo khác Để giải quyết các mục tiêu đề ra thì đề tài tập trung vàonăm thứ “tài sản” như là phương tiện để tạo ra sinh kế như hình dưới đây:

Trang 21

Hình 1.2 Năm loại tài sản sinh kế (Norman và Philip, 2003)

Đề tài sử dụng năm loại tài sản cho sinh kế theo Norman và Philip (2003) đểphân tích sinh kế vì nó bao gồm tất cả các yếu tố tài sản khác nhau góp phần ảnhhưởng đời sống của hộ gia đình

Phương thức mà các hộ nghèo tạo thu nhập và đáp ứng nhu cầu sống cơ bảncủa mình thường là những hoạt động sinh kế có liên quan tới môi trường tự nhiênnhư khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ, săn bẫy chim thú, chăn thả gia súc trongrừng Do đó người nghèo thường bị ảnh hưởng nặng nề khi môi trường bị xuốngcấp, đa dạng sinh học bị mất đi, hoặc khả năng tiếp cận của họ tới những nguồn tàisản chung đó bị hạn chế (Roe, 2004) Theo qui chế quản lý rừng hiện hành tại ViệtNam thì người dân sống gần rừng bị hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tài nguyênthiên nhiên, nhất là ở các khu rừng đặc dụng đã làm người dân đối mặt với đóinghèo vì mất đi một hoạt động sinh kế khi bị túng quẫn Tìm phương thức giảiquyết hài hòa mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bảo tồn nguồn tài nguyên là một bàitoán nan giải nhằm xóa bỏ mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển

Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến sự lựa chọn sinh kế đốivới các nông hộ ở miền núi phía Bắc Việt Nam” thì Alther và các cộng sự (2002)nhận thấy khi hệ thống giao thông thuận tiện sẽ giúp tiếp cận thị trường dễ dàng nên

có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế nông hộ vì khi nông dân tiếp cận thị trường tốthơn sẽ có nhiều khả năng tăng thu nhập hơn ở những vùng hẻo lánh, và theo đó có

Trang 22

chiều hướng giàu hơn Tuy nhiên, đôi khi đường giao thông cũng mang lại một sốbất lợi cho người dân như khi ở gần đường thì người dân cảm thấy sự tự chủ của họ

bị giảm sút vì chính quyền có thể giám sát họ chặt chẽ hơn Họ có thể không thấyviệc ở gần đường có lợi ích gì nếu như họ cảm thấy lối sống và hệ thống sản xuấttruyền thống của mình đang bị đe dọa (Alther, 2002) Thực vậy, hiện nay cái giáphải trả cho sự phát triển kinh tế mà không tính đến hướng bền vững đã làm lu mờnét văn hóa bản địa khi người dân tộc thiểu số hòa nhập với văn hóa người Kinh vàlàm mai một bản sắc văn hóa của dân tộc mình

Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam như là một giải pháp phát triển bềnvững, Nguyễn Quang Tân (2006) cho thấy các hộ giàu và những người có vị thếchính trị nắm hầu hết các lợi ích Nhân lực lao động của hộ cũng đóng vai trò quantrọng trong phân phối quyền hưởng lợi từ rừng Bốn yếu tố quan trọng trong phânphối lợi ích là khả năng lao động, sự giàu có, vị thế chính trị và quyền sở hữu hợppháp rừng của các hộ Đồng thời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ vàngười nhập cư vì người dân bản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặcbiệt là lâm sản ngoài gỗ và đất trồng trọt

Sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc vào 3 nhân tố: sở hữu đất, sử dụng đất vàgiá cả nông sản Trong tài sản đất thì được phân thành 3 loại đất khác nhau là đấttrồng cây ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm/cây công nghiệp và đất rừng trong tổngquỹ đất của nông hộ Thu nhập từ nông sản phụ thuộc vào khả năng thị trường hóasản phẩm đồng thời cũng phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng giao thông nông thôn vì

hệ thống giao thông khác nhau dẫn đến ảnh hưởng khả năng tiếp cận thị trường củangười dân Nước sạch và nước tưới tiêu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sốngcủa người dân Điện có liên quan đến cơ giới hóa trong nông nghiệp và ảnh hưởngkhông nhỏ đến đời sống tinh thần của cộng đồng (Phạm Thái Hưng và cộng sự,2008)

Qua những tài liệu trên đã cho thấy cách tiếp cận sinh kế của người nghèoluôn đa dạng và bị tác động của nhiều yếu tố khác nhau Thường các nhóm hộ khác

Trang 23

tăng chất lượng cuộc sống Các phương thức sinh kế của người dân thường bị ảnhhưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau nên việc tìm ra nhân tố nào là thuận lợi, nhân tốnào gây cản trở sinh kế của người dân là cần thiết để có thể tìm ra nhóm giải phápphù hợp trong phát triển sinh kế cộng đồng

Sử dụng tài nguyên và sự phụ thuộc vào rừng

Nghiên cứu sử dụng tài nguyên giữa người dân và chính quyền tại PapuaNew Guinea cho thấy người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên kết hợp vớităng trưởng kinh tế kém do hệ thống quản lý và chính sách không phù hợp với thựctiễn nên đã tạo ra xung đột trong sử dụng tài nguyên Có rất nhiều xung đột giữangười dân và các công ty tư nhân trong sở hữu đất đai do có nhiểu điểm yếu trongquá trình thực thi pháp luật nhằm giải quyết các xung đột và phân chia công bằng(Banks, 2008) Qua nghiên cứu này cho thấy cần phải hiểu biết về bản chất cáctranh chấp và quy trình giải quyết tranh chấp trong xã hội Khi người dân bị mất đấtsản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau thì sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của họ vàhình thức đền bù chính là tạo ra sự cân bằng nhằm duy trì mối quan hệ giữa các cánhân và các nhóm lợi ích

Trần Đức Viên (2005) cho rằng sinh kế của hầu hết người nghèo phụ thuộcvào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất canh tác, tài nguyên rừng và nước Sựsống của họ phụ thuộc vào việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên này Thậtvậy, tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng vì ngoài việc cung cấp đất sản xuất thìrừng cũng là nơi cung cấp các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũngnhư các vật liệu xây dựng Người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh: Thứ nhất

là phụ thuộc vào thu nhập có được từ khai thác lâm sản; và thứ hai là sự phụ thuộc

về sinh kế, được tính toán bằng các loại sản phẩm rừng sử dụng hàng ngày Ngoài

ra, rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân vìthông qua tôn giáo, văn hóa và truyền thống thì các cộng đồng bản địa đã tạo ra mộtvành đai bảo vệ xung quanh rừng nhằm duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho chínhcộng đồng của mình Như vậy, việc thừa nhận và hiểu rõ giá trị của tài nguyên rừnggiúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khỏe và

Trang 24

nước sinh hoạt cho người nghèo Nhìn chung, giá trị của tài nguyên rừng được đánhgiá thông qua các chức năng mà chúng cung cấp Chức năng của môi trường nóichung và tài nguyên rừng nói riêng được chia thành các nhóm sau: (1) chức năngsản xuất; (2) chức năng tải; (3) chức năng điều hòa; và (4) chức năng văn hóa vàthông tin (Trần Đức Viên, 2005)

Sunderline và Huỳnh Thu Ba (2005) cho rằng các nguyên nhân chính củanạn phá rừng ở Việt Nam là do sức ép dân số đã làm gia tăng nhu cầu về các sảnphẩm rừng, đất nông nghiệp và do việc các Lâm trường quốc doanh khai thác gỗ từcác diện tích rừng lớn Bốn yếu tố cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt Nam: (1)một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) lấn chiếm đất rừng đểcanh tác nông nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4) thuhoạch các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống Phần lớn các vùng có

tỉ lệ đói nghèo cao là những nơi có độ che phủ rừng lớn tập trung vùng Tây Bắc vàTây Nguyên Trước kia, người ta thường chú trọng vào khai thác lâm sản và các tàinguyên khác của rừng có giá trị trực tiếp nhưng đã quên đi việc khai thác các giá trịphi trực tiếp như du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng và các dịch vụ môi trường rừng khácnhư chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chi trả cacbon Đến nay, để hướng đến sửdụng rừng bền vững và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đói nghèo và môitrường thì nhiều nước đã hướng đến việc sử dụng các dịch vụ và giá trị phi trực tiếpchứ không còn tập trung vào khai thác tài nguyên là một hướng tiếp cận mới trong

xu thế phát triển toàn cầu mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ

Động cơ để những người sử dụng tài nguyên đầu tư vào việc quản lý nếu nhưnguồn tài nguyên này có thể đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng như tạiNepal Kết quả của cuộc điều tra cho thấy các nhóm sử dụng có khả năng quản lýtích cực khi tài nguyên phong phú và cung cấp những lợi ích đáng kể Nếu nhữngngười sử dụng cảm nhận rằng tài nguyên địa phương nghèo nàn hay quá nhỏ để cóthể tạo ra lượng bù đắp cho các nỗ lực cần thiết nhằm bảo vệ và quản lý nó thì họkhông tập trung vào lĩnh vực quản lý tài nguyên nữa (Hoàng Hữu Cải, 2006)

Trang 25

Tại Việt Nam, đói nghèo và rừng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau,phần lớn các vùng có rừng với tỉ lệ che phủ cao thì cộng đồng nơi đó có nhiềungười nghèo là người dân tộc thiểu số vùng cao Mặc dù Việt Nam đã có nhiềuchính sách hỗ trợ để phát triển vùng sâu vùng xa nhưng họ vẫn nghèo do khó tiếpcận thị trường, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đất đai xấu Người nghèo thường cókhuynh hướng tập trung vào các vùng rừng vì không có nhiều cơ hội sinh sống ởcác vùng đồng bằng đông đúc bời khó tìm ra phương thức sinh kế phù hợp Nhữngngười này không chỉ là những người dân tộc thiểu số mà còn có cả người Kinh(Sunderlin và Huỳnh Thu Ba, 2005)

Có một số phương thức giảm nghèo dựa vào tài nguyên rừng là: chuyển đổiđất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ, việc làm từcác hoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi trường (FAO, 2003) Tuy nhiên, cómột số hoạt động giảm nghèo bền vững và tuân theo pháp luật là thu nhập từ cáchoạt động lâm nghiệp và chi trả dịch vụ môi trường rừng Nhà nước không khuyếnkhích việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp cũng như các hoạt động khaithác gỗ và lâm sản ngoài gỗ của người dân

Vậy, có thể thấy rằng tại Việt Nam thì chính quyền và Ban quản lý các Khurừng đặc dụng chưa quan tâm nhiều đến việc giao đất giao rừng cho cộng đồng và

đã có nhiều nỗ lực đưa người dân trong vùng lõi ra vùng đệm để bảo tồn rừngnhưng không hướng đến việc phát triển bền vững và làm thay đổi lối sống, tập quáncanh tác truyền thống của người dân Tiền đền bù thường không tương xứng với giátrị thị trường và do người dân chưa biết cách chi tiêu hợp lý nên họ sử dụng tiền đền

bù để mua sắm tài sản tiêu dùng Đồng thời, khi mất đất sản xuất và phải định cư ởvùng đất mới thì họ phải đối mặt với nhiều khó khăn để tìm cách thích nghi vớicuộc sống mới và tìm phương thức sinh kế thay thế Mặt khác, cũng cần tập trungvào nhóm giải pháp sử dụng lợi ích gián tiếp của rừng chứ không nên khai thác trựctiếp các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ Vì vậy, đây cũng là một nội dung mà đềtài cần tìm hiểu về giải pháp và hướng quản lý rừng bền vững để phù hợp với cộngđồng vùng nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu này sẽ định hướng trong việc xây

Trang 26

dựng giải pháp giảm nghèo cho cộng đồng sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng tại

xã Đa Nhim, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà

Các mối tương quan giữa tài sản sinh kế và chính sách ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lâm nghiệp và đóinghèo, một số tác giả đã chỉ ra một số bất cập hiện nay là chính sách lâm nghiệpchưa rõ ràng đối với người dân Người nghèo ít nhận được các lợi ích từ các chươngtrình khuyến nông - khuyến lâm, thu nhập từ lâm sản ngày càng giảm, có sự mâuthuẫn giữa bảo tồn và bảo vệ rừng với cải thiện sinh kế của người dân sống phụthuộc vào rừng (Đinh Đức Thuận và cộng sự, 2005)

Theo Rodolphe (2000), trong “Lý thuyết và thực hành ranh giới phát triểnvới đóng góp của Việt Nam” đã trình bày một số khái niệm chủ yếu và các giảithích việc mở rộng đất nông nghiệp liên quan đến địa chính trị, nhân văn và dân tộchọc Có nhiều chương trình ảnh hưởng đến mở rộng đất canh tác gắn với phát triển

và chính sách tái định cư có vai trò làm giảm áp lực dân số nhưng cũng có thể bởitình trạng di cư tự do Các gia đình nghèo nhất và những nông dân trẻ thường đi tiênphong đến các vùng đất mới để thoát cảnh đói nghèo làm tác động đến đời sốngchính trị xã hội ở khu mới định cư Phát triển cơ sở hạ tầng như mở đường giaothông, xây dựng nhà cửa cũng là một nguyên nhân dẫn đến mất rừng bởi canh tácnông nghiệp Trong thập niên 1990 tại Việt Nam thì việc mở rộng đất nông nghiệp

ở Tây nguyên diễn ra mạnh mẽ bởi nhiều nguyên nhân như gia tăng dân số và ảnhhưởng của kinh tế xã hội, địa chính trị và mở rộng đất canh tác của người dân tộcthiểu số làm môi trường bị suy thoái Cũng trong tài liệu này đã cho thấy gia tăngdân số tại Lâm Đồng trong những năm vừa qua là động lực mở rộng đất canh táctrồng cà phê Tuy nhiên, một số hộ thuộc dân tộc K’Ho đã không thích ứng vớiphương thức canh tác thâm canh này nên quay lại đời sống phụ thuộc vào rừng nhưkhai thác gỗ, loài lâm sản ngoài gỗ hoặc săn bẫy thú Môi trường bị ảnh hưởng vàsuy thoái bởi việc mở rộng đất canh tác là nguyên nhân của hạn hán, lũ lụt vì khi

Trang 27

chặt hạ cây rừng để mở rộng đất canh tác thì chức năng phòng hộ của rừng cũng bịsuy giảm theo tỉ lệ mất rừng.

Trong một nghiên cứu khác thì cho rằng cần quan tâm đến nhóm người thiếukhả năng tiếp cận tài nguyên bởi một số rào cản liên quan đến giới, dân tộc hayđẳng cấp của họ đã làm ảnh hưởng đến quyền tiếp cận tài nguyên của nhóm này.Cách thức duy nhất để đảm bảo tránh được các sai lầm khi xây dựng các chươngtrình, dự án hay các tác động tiêu cực thì cần tham vấn cộng đồng thông qua tiếntrình có sự tham gia Trong đó người dân và đặc biệt là phụ nữ được tạo điều kiệnđể đóng góp ý kiến và tham gia vào tiến trình nhằm làm sáng tỏ các nhu cầu về tàinguyên cũng như các hạn chế và cơ hội của họ Muốn các nỗ lực phát triển dài hạnnhằm mang lại lợi ích thực sự trong tương lai thì các nhu cầu và ưu tiên của ngườidân địa phương cũng phải được xem xét trong toàn bộ bối cảnh phát triển vì nhiềuyếu tố của nó xuất phát từ bên ngoài cộng đồng (Vicki Wilde, 2001)

Trong nghiên cứu giao rừng tại Việt Nam, Nguyễn Quang Tân (2006) đãnghiên cứu về phân phối lợi ích tài nguyên rừng và vai trò của hộ gia đình về quyền

sở hữu và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên Qua nghiên cứu cho thấy người dânsống gần rừng có hai nguồn thu từ rừng là tiền giao khoán quản lý bảo vệ và từ việckhai thác lâm sản Bằng chứng thực nghiệm từ công tác giao khoán rừng cho thấycác hộ giàu và những người có vị trí chính trị có khả năng nắm hầu hết các lợi ích.Nhân lực lao động của hộ cũng đóng vai trò quan trọng trong phân phối quyềnhưởng lợi từ rừng Bốn yếu tố quan trọng trong phân phối lợi ích là khả năng laođộng, sự giàu có, vị trí chính trị và quyền sở hữu hợp pháp rừng của các hộ Đồngthời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ và người nhập cư vì người dânbản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặc biệt là lâm sản ngoài gỗ vàđất trồng trọt Ngoài các yếu tố gia đình, tài liệu này cũng cho thấy lợi ích từ giaoquyền sử dụng rừng có xu hướng thay đổi theo ranh giới địa lý và các hình thứcquản lý rừng ở cấp địa phương có thể có tác động về lợi ích mà hộ gia đình địaphương có thể có được trong thực tế

Trang 28

Phát triển bền vững ở Tây Nguyên cũng có vấn đề Về xã hội, nạn mất rừngđưa lại hậu quả xấu đến dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Địa bàn sinh sống của đồngbào ở đây bị thu hẹp do nạn mất rừng, đời sống mất ổn định nên phải di dời dần vàovùng sâu, vùng xa hơn Nguồn sống từ rừng ngày càng ít vì gỗ và lâm sản ngoài gỗngày càng khan hiếm Cuộc mưu sinh vất vả hơn, thiếu việc làm, thu nhập thấp dẫnđến đói nghèo tăng thêm Tất cả điều này góp phần tạo ra xung đột của đồng bàodân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, là một trong những nguyên nhân góp phần gây sựbất ổn về an ninh chính trị và xã hội Về văn hóa, khi mất rừng thì ảnh hưởng đếnđời sống, văn hóa, nhân văn, tâm linh Đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên bịsuy thoái Khả năng giữ nước và ngăn lũ của rừng Tây Nguyên suy yếu, không còn

đủ sức chống lũ, hạn hán cho bản thân Tây Nguyên và cả các tỉnh miền duyên hảiNam Trung Bộ (Nguyễn Trần Trọng, 2010)

Theo Trần Thái Học (2007), đói nghèo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyênxuất phát từ việc thiếu hụt nguồn lực và kỹ thuật; việc làm không ổn định; thu nhậpthấp; dễ gặp rủi ro do điều kiện ngoại cảnh; hạn chế về cơ sở hạ tầng và ảnh hưởngbởi tính biệt lập về địa bàn cư trú; nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèocủa người dân cũng như công tác xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế

Chính sách làm ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà các hộ gia đình thực hiện khi

sử dụng hoặc tiếp cận các loại tài sản của họ Nó sẽ ảnh hưởng lên cách thức mà các

hộ gia đình có thể đưa ra các quyết định hay sử dụng của các tài sản của họ cho hoạtđộng sinh kế Các chính sách bảo vệ môi trường bằng cách kiểm soát việc sử dụngtài nguyên thiên nhiên có thể làm cho người nghèo gặp khó khăn hơn trong việc tiếpcận các tài nguyên để cải thiện sinh kế Xét đến các tài sản sinh kế nằm trong kiểmsoát của các hộ gia đình và các bối cảnh dễ bị tổn thương đến sinh kế hộ gia đìnhcũng như các chính sách, định chế và tiến trình thì người dân có xu hướng tìm kiếmphương thức sinh kế phù hợp nhất (Wilde, 2001)

Thảo luận chung:

Trang 29

Về mặt tổng thể, các nghiên cứu đã cho thấy người dân, đặc biệt là ngườinghèo đều có cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nên cần phải tìm cácgiải pháp sinh kế thay thế cho họ nhằm giảm thiểu tác động bất lợi vào nguồn tàinguyên để phát triển bền vững Nhiều chương trình dự án đã lấy đất sản xuất củacộng đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc cho các dự án đầu tư, cho dù có đền bù

và cấp đất khác cho người dân nhưng thường mức đền bù không thỏa đáng Bêncạnh đó, nhiều người dân xưa nay phụ thuộc vào nông nghiệp đã bị mất đất sản xuấtnên bị tước mất sinh kế truyền thống và họ đối mặt với muôn vàn khó khăn để tìmkiếm một phương thức sinh kế khác và cũng mất đi phong tục tập quán và lối sốngtruyền thống

Đồng thời, khi nghiên cứu cần tập trung phân tích nhiều khía cạnh khác nhau

về các loại tài sản sinh kế, chính sách, phương pháp tiếp cận, đảm bảo sự cân bằnggiới cũng như sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhằm đảm bảo kết quả phân tíchmang tính toàn diện và thực tiễn vì phương thức sinh kế của người dân rất đa dạng

Nó tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, từng địa phương và tùyvào môi trường kinh tế xã hội, chính trị khác nhau Điều này cũng cho thấy trướckhi đưa ra chiến lược hay kế hoạch hoạt động cho một chương trình phát triển bềnvững thì nên tham vấn cộng đồng với phương pháp tiếp cận có sự tham gia củangười dân để chương trình/ dự án có tính khả thi cao và phù hợp với cộng đồng đểcộng đồng tiếp nhận dự án/ chương trình có liên quan Thật vậy, trong bối cảnh ViệtNam hiện nay thì chính quyền và các chương trình dự án thường tiếp cận theohướng từ trên xuống, mang tính áp đặt nhiều và đôi khi không phù hợp với thựctrạng và nhu cầu của địa phương nên hiệu quả đầu tư không cao và không mang tínhbền vững Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình hay dự án liên quan đến sựtham gia đều thành công, và lâm nghiệp xã hội nói chung hay lâm nghiệp cộng đồngnói riêng không phải là một thứ thuốc bách bệnh Vì vậy, việc nghiên cứu tìmhướng phát triển bền vững cho cộng đồng, nhất thiết phải xuất phát từ địa phương

và nghiên cứu này cũng không nằm ngoài phạm vi đó

Trang 30

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành ở các thôn Đa Tro, Đa Ra Hoa, Đa Bla vàLiêng Bông nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc xã ĐaNhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tổng diện tích cũa xã Đa Nhim là 23.903

ha Người dân trong xã chủ yếu thuộc nhóm dân tộc Cil - K’Ho Theo Báo cáo sànglọc xã hội (VCF, 2009) có 22% hộ khá, 38% hộ trung bình và 40% hộ nghèo Số hộ

và số khẩu của các thôn khá khác biệt Thôn Đa Tro có 595 khẩu/95 hộ, Đa Ra Hoa

có 608 khẩu/118 hộ, Đa Bla có 447 khẩu/88 hộ, Liêng Bông có 858 khẩu/150 hộ Nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 9 năm 2010 và kết thúc phần ngoại nghiệpvào tháng 4 năm 2011

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề liên quan đến sinh kế và quản lýrừng tự nhiên; và ảnh hưởng các chương trình, chính sách đến sinh kế của ngườidân ở xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Hộ gia đình và thôn là cácđối tượng nghiên cứu chính

2.3 Nội dung nghiên cứu

Sử dụng Khung phân tích sinh kế của DFID (1999) Khung này phân chianăm loại tài sản sinh kế: tài sản tự nhiên, tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sảncon người và tài sản xã hội Thông qua đó nhằm xác định các tham số hay thuộctính của năm loại tài sản này ở cấp độ nông hộ

Trang 31

2.3.1 Đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng

Theo khuôn khổ phân tích sinh kế đã nêu trên, sinh kế nông hộ được quyếtđịnh dựa vào năm loại tài sản sinh kế, bao gồm:

2.3.1.1 Đánh giá tài sản tự nhiên: Tài sản tự nhiên được đánh giá thông qua sựtiếp cận và sử dụng đất canh tác, rừng và nguồn nước Trong bối cảnh cụ thể củakhu vực nghiên cứu, chúng được xác định như sau:

- Đất canh tác nông nghiệp: Đất mà nông dân đang sử dụng để canh tác hoamàu dài ngày hay ngắn ngày

- Nguồn nước: Nguồn nước mặt hay nước ngầm mà nông dân sử dụng để sinhhoạt, canh tác và chăn nuôi

- Đất giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Diện tích rừng mà các hộ nhận khoánquản lý bảo vệ rừng với đơn vị chủ rừng Ngoài thu nhập từ hợp đồng giao khoánquản lý bảo vệ rừng, các hộ có thể tiến hành một số hoạt động sinh kế mà luật phápcho phép

2.3.1.2 Đánh giá tài sản vật chất

Tài sản vật chất ở đây được chia thành hai phần:

- Tài sản tư nhân: gia súc, công cụ, máy móc, nhà cửa,

- Tài sản công cộng: cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế (đường sá, nguồnđiện) và xã hội (trường học, trạm y tế) Sự tiếp cận các cơ sở này có ảnh hưởng rấtlớn đến các quyết định sinh kế của nông dân

2.3.1.3 Đánh giá tài sản bằng nguồn tài chính

Tài sản tài chính là các tham số trực tiếp nhất phản ánh mức sống của nông

hộ và cộng đồng nói chung sau khi chuyển đổi nền kinh tế tự cấp tự túc sang nềnkinh tế thị trường và được phân thành hai nhóm:

- Tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng và vốn có thể chuyển thành tiền

Trang 32

- Tiền thu từ các hoạt động nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp,giao khoán QLBVR.

2.3.1.4 Tài sản con người

Đánh giá nguồn nhân lực gồm nguồn lao động, trình độ học vấn và kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý nông hộ để tạo sinh kế hiệu quả và bền vững

2.3.1.5 Đánh giá tài sản xã hội

- Chính sách, phúc lợi xã hội

- Quan hệ dòng tộc, xã hội

2.3.2 Đánh giá sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng

Đây là một khía cạnh chuyên biệt của sự phân tích tài sản tự nhiên, nhưng đềtài tập trung phân tích theo hướng xác định hai loại áp lực:

- Tình trạng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và săn bẫy chim thú

- Tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp

Ngoài ra, phân tích thêm thu nhập từ giao khoán quản lý bảo vệ rừng và cáchoạt động lâm nghiệp

2.3.3 Xác định ảnh hưởng của các chương trình, dự án liên quan đến sinh kế của cộng đồng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Trong khuôn khổ phân tích sinh kế, thì các chương trình, chính sách và dự án

có thể được xem là bối cảnh của sự hình thành chiến lược sinh kế Do đó, trong mụcnày tập trung vào hai khía cạnh:

- Ảnh hưởng về các chính sách của nhà nước (bối cảnh chính sách của chiến lượcsinh kế)

- Ảnh hưởng các chương trình, dự án được triển khai ở địa phương (tùy vào tínhchất của dự án, chúng có thể tác động trực tiếp lên năm loại tài sản sinh kế đã nêutrên)

Trang 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Cách tiếp cận

2.4.1.1 Kế thừa các tài liệu hiện có

Thu thập các tài liệu thứ cấp như báo cáo từ chính quyền địa phương, các kếtquả điều tra trước đây của các chương trình, dự án có liên quan đến vùng nghiêncứu, các tạp chí và phương tiện thông tin đại chúng khác

2.4.1.2 Tiến hành điều tra, khảo sát

+ Điều tra sơ lược về thôn: phỏng vấn một số nhân vật chủ chốt như trưởng thôn,già làng cùng với vợ của họ để biết tình hình chung về cơ sở hạ tầng, giao thông, y

tế, giáo dục, lịch sử thôn buôn, sản phẩm và cây trồng chính, cơ cấu tổ chức củathôn, sự phụ thuộc vào tài nguyên bằng cách sử dụng phương pháp phỏng vấn báncấu trúc với các bản hướng dẫn phỏng vấn đơn giản

+ Kết hợp phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin từ những người đưa tin thenchốt như chủ tịch xã, các trưởng thôn, già làng, … và các cá nhân khác ở địaphương theo các chủ đề cụ thể mà họ được giả định là người biết rõ nhất

+ Điều tra phỏng vấn hộ: dựa trên bản câu hỏi được soạn trước tập trung vào các nộidung về kết cấu hộ, nghề nghiệp, thu nhập, điều kiện sống, đất đai, cây trồng, vậtnuôi, các sản phẩm từ rừng (gỗ, lâm sản ngoài gỗ), các hoạt động lâm nghiệp vàchương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng, thị trường tiêu thụ sản phẩm và cáckhó khăn mà hộ đang gặp phải Đơn vị hỏi là hộ gia đình Các câu hỏi phần lớnđược thiết kế ở dạng đóng để có thể định lượng (xem phần phụ lục)

+ Quan sát trực tiếp giúp thu thập thông tin và kiểm chứng một số thông tin thu thậpđược liên quan đến hiện trạng sử dụng đất và cách thức quản lý tài nguyên thiênnhiên của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

Việc nghiên cứu trải qua bốn bước chính là chuẩn bị, thu thập số liệu, xử lý

số liệu và viết báo cáo Đọc tất cả các tài liệu thứ cấp có liên quan để nắm rõ bối

Trang 34

cảnh chung và tránh điều tra lặp lại các số liệu đã có Công cụ chính trong điều tra

là bảng câu hỏi thiết kế phù hợp với nơi nghiên cứu Các câu trả lời được viết sau

đó nhập dữ liệu trong ngày vào máy tính xách tay để thuận tiện cho việc tổng hợp

và xử lý số liệu

Điều tra phỏng vấn hộ: Sử dụng bảng câu hỏi nhằm thu thập thông tin về hộ;phương thức canh tác và sản lượng; quyền sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất;nghề nghiệp của các thành viên trong gia đình; nguồn lao động trong nông nghiệp;vật nuôi; nguồn và mức độ thu nhập; khả năng biết đọc biết viết của người dân; mức

độ di dân và nhận thức của người dân khi tham gia vào hoạt động các dự án đang cótrên địa bàn

Các phần chính trong điều tra là kết cấu hộ, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng

cơ sở hạ tầng trong khu vực Điều tra kết cấu hộ để nắm vững hộ về giới tính, tuổi,cũng như nghề nghiệp Đối với nghề nghiệp thì tìm hiểu các hoạt động sinh kế, nơilàm việc, thời gian làm việc và mức thu nhập của từng thành viên trong hộ Các câuhỏi và trình tự hỏi thường được gắn kết với nhau theo chuỗi logic vấn đề để ngườiphỏng vấn tránh bỏ sót thông tin và người được hỏi dễ trả lời Trong quá trình điềutra thì ăn ở cùng với người dân để tạo mối quan hệ và hiểu rõ hơn cuộc sống củangười dân

Điều tra thu nhập là vấn đề quan trọng nên cũng đã thiết kế nhiều câu hỏi tậptrung chủ đề này và phân tích các thu nhập đột xuất của các khẩu trong hộ hoặc thunhập theo mùa vụ vì sẽ làm tăng mức thu nhập bình quân của hộ trên mức bìnhthường Đồng thời, phân tích thu nhập trong năm để tìm hiểu tổng thu nông nghiệp,đối với các phương thức canh tác các loài cây ngắn ngày thì tổng hợp các vụ thuhoạch trong năm để tính mức tổng thu nhập nông nghiệp Các thu nhập ngoài nôngnghiệp cũng được điều tra và tính toán trong tổng thu của hộ

Trước khi chính thức điều tra trên diện rộng, chúng tôi kiểm tra phỏng vấn

10 hộ, sau đó phân tích bảng câu hỏi xem có gỉ cần chỉnh sửa, bổ sung không dựatheo kết quả phân tích 10 bảng này

Trang 35

Để đảm bảo tính chính xác, đề tài đã đáp ứng với yêu cầu dung lượng mẫuquan sát tối thiểu (đơn vị hộ) Theo các tài liệu về thống kê toán học, dung lượngmẫu (n) này phụ thuộc vào phương sai (hay biến lượng) của mẫu (S2) và độ tin cậy(d) mong muốn đạt được Trong trường hợp quần thể lấy mẫu là hữu hạn (N xácđịnh), dung lượng mẫu cũng tỷ lệ với kích thước quần thể, theo một giá trị t2 (bìnhphương của giá trị của phân bố t Student ):

2 2 2

2 2

.

.

S t d N

S t N n

- Sử dụng một số công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA(Participatory Rural Appraisal) để thu thập và phân tích thông tin, cụ thể như sau:

 Vẽ sơ đồ phác thảo khu vực nghiên cứu và đi lát cắt nhằm tìm hiểu hiệntrạng sử dụng đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên trong khu vực, đồng

Trang 36

thời đánh giá tiềm năng sử dụng tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địaphương.

 Sử dụng công cụ dòng thời gian để thấy được những sự kiện xảy ra trong quákhứ và ảnh hưởng của nó đến đời sống, tình hình sản xuất, sử dụng nguồnlực, sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng của địa bàn nghiên cứu

 Sơ đồ VENN được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các cá nhân và các

tổ chức có ảnh hưởng đến đời sống người dân Mỗi bên liên quan được thểhiện bởi một vòng tròn với kích thước khác nhau phụ thuộc vào tầm quantrọng của họ, và vị trí của các vòng tròn này phụ thuộc vào mức độ ảnhhưởng của họ đến từng hoạt động, cách sắp xếp này theo quan điểm củanhững người tham gia

 Họp dân (theo nhóm quan tâm) để tổng kết và kiểm chứng các thông tin vàcông cụ đã thu thập được

2.5 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

Công cụ hỗ trợ cho xử lý và phân tích dữ liệu là phần mềm Excel nhằm xâydựng các bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị để diễn giải kết quả nghiên cứu Số liệunhập vào bảng tính theo các hàng và các cột, ở đó hàng là hộ gia đình và cột là biếnchỉ tiêu Thông tin thu thập được sắp xếp, hiệu chỉnh, và đối chiếu trước khi nhậpvào máy tính để lưu trữ và phân tích Dữ liệu nhập vào là các mã ứng với các mức

đã xác định ở bảng câu hỏi Xác định tỷ lệ hay tần số cho từng vấn đề theo nguyêntắc số đông (tức tần số gặp nhiều hơn) Ngoài ra:

 Phân loại kinh tế hộ gia đình để thấy được sự phụ thuộc của các nhóm liênquan khác nhau đối với tài nguyên thiên nhiên cho sinh kế của họ

 Phân tích nguồn sinh kế (các loại sinh kế, nguồn tài sản tạo sinh kế, nguyênnhân của vấn đề)

Trang 37

 Họp riêng các nhóm liên quan khác nhau để xác định, thảo luận các cáchthức sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm hay cách nhìncủa họ.

 Phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thứctrong việc tiếp cận tài sản sinh kế; sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên;

và tương tác giữa các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế và quản lý tài nguyêncủa các nhóm liên quan

Trang 38

Bảng 2.1 Tóm tắt nội dung và các phương pháp nghiên cứu

1.3 Đánh giá tài sản bằng nguồn tài chính: tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng và vốn có thể chuyển thành tiền; tiền thu từ các hoạt động nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp, giao khoán QLBVR

1.4 Tài sản con người: nguồn lao động, trình

độ học vấn và kỹ năng làm việc, kỹ năng quản

lý nông hộ để tạo sinh kế hiệu quả và bền vững

1.5 Đánh giá tài sản xã hội: chính sách, phúc lợi xã hội; quan hệ dòng tộc, xã hội

Sử dụng một số công

cụ PRA:

- Lát cắt: tìm hiểuhiện trạng sử dụng đấtđai và các loại tàinguyên thiên nhiên

- Công cụ dòng thờigian: tìm sự kiện xảy

ra trong quá khứ vàảnh hưởng của nó

- Sơ đồ VENN: xácđịnh mối quan hệ giữacác tổ chức có ảnhhưởng đến đời sốngngười dân

- Phỏng vấn bằngbảng câu hỏi

- Họp dân: tổng kết vàkiểm chứng các thôngtin

2.1 Tình trạng khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ

và săn bẫy chim thú2.2 Tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tácnông nghiệp

2.3 Thu nhập từ giao khoán QLBVR và cáchoạt động lâm nghiệp

- Lát cắt: tìm hiểuhiện trạng sử dụng đấtđai và các loại tàinguyên thiên nhiên

dự án, chúng có thể tác động trực tiếp lên nămloại tài sản sinh kế đã nêu trên)

- Phỏng vấn bằngbảng câu hỏi

- Phân tích SWOT

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thực trạng sinh kế của cộng đồng

Sinh kế cộng đồng được đánh giá và phân tích dựa trên năm loại tài sảnchính lần lượt là tài sản tự nhiên, tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản con người

và tài sản xã hội

3.1.1 Đánh giá tài sản tự nhiên

3.1.1.1 Đất canh tác nông nghiệp

Người dân xã Đa Nhim có cuộc sống dựa vào nông nghiệp và tài nguyênthiên nhiên nên đất đai là tài nguyên quan trọng đối với sinh kế và ổn định quyền sửdụng đất là yếu tố then chốt Tuy nhiên, lịch sử định cư và những thay đổi gần đây

đã làm xáo trộn quyền sử dụng đất

Sử dụng công cụ dòng thời gian để tái hiện lại tài nguyên đất trong quá khứ,cho thấy rằng lịch sử của dân tộc Cil xã Đa Nhim gắn liền với những cuộc di cư.Nguyên nhân di cư của các làng được nghiên cứu rất đa dạng Mặc dù người K’Ho,đặc biệt là người Cil được cho là thuộc nhóm du canh du cư, lịch sử của họ cho thấycác cuộc di dân chủ yếu không do họ chủ động khởi xướng mà do tác động của cácyếu tố bên ngoài chủ yếu là do chiến tranh hay các chương trình phát triển kinh tế.Vào cuối những năm 1950 do chiến tranh nên người Cil ở Đa Ra Hoa di cư đếnBuôn Ma Thuột Người Cil ở thôn Đa Bla và Đa Tro đến sinh sống tại khu vực LạcDương cũng khá sớm vào khoảng 1960 Từ 1963 đến 1973, do chiến tranh và thayđổi các chính sách nên nhiều hộ phải di chuyển qua nhiều địa phương quanh vùngbao gồm khu vực Đá Me, Klong Bla (Đức Trọng), Suối Thông (Đơn Dương) Cácnhóm Cil được định cư tại chỗ ở hiện nay thuộc xã Đa Nhim vào những năm 1980theo chương trình định canh định cư của nhà nước

Trang 40

Di cư đến Ban Mê

Thuộc Trọng, Đơn DươngDi cư đến Đức

Hình 3.1 Biến động định canh định cư theo thời gian của cộng đồng

(Nguồn: từ điều tra PRA của đề tài)

Do phải di chuyển địa bàn cư trú nhiều nên đất ở và đất sản xuất của ngườidân không ổn định Hiện nay, theo quy hoạch của nhà nước, đất thổ cư bao gồm đất

ở và vườn xung quanh nhà thì người dân có quyền sử dụng đất nên được phép xâydựng nhà cửa và canh tác nông nghiệp tại đây Tuy nhiên, diện tích này thường nhỏ(khoảng 2.000 - 3.000 m2) và được hình thành do quá trình chuyển đổi cơ cấu câytrồng từ các chương trình của Chính phủ như khuyến khích trồng các loại cây côngnghiệp như cà phê và các chương trình cấp đất tái định canh cho đồng bào dân tộc.Trong năm 2010, chính quyền UBND xã Đa Nhim đã tiến hành khai phá một quảđồi gần thôn Đa Bla để giao cho các hộ gia đình nghèo thiếu đất canh tác và những

hộ có đất bị ngập nước trong khu vực làm đập thủy điện Cùng với việc được nhậnđất, mỗi hộ còn được hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/1.000 m2 cho việc chuẩn bị đất vàcung cấp miễn phí cây giống cà phê

Ngày đăng: 09/08/2016, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững (DFIF, 1999) - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 1.1. Khung sinh kế bền vững (DFIF, 1999) (Trang 20)
Hình 1.2. Năm loại tài sản sinh kế (Norman và Philip, 2003) - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 1.2. Năm loại tài sản sinh kế (Norman và Philip, 2003) (Trang 21)
Hình 3.1. Biến động định canh định cư theo thời gian của cộng đồng - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.1. Biến động định canh định cư theo thời gian của cộng đồng (Trang 40)
Hình 3.2. Phân bố các loại đất nông nghiệp của xã Đa Nhim - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.2. Phân bố các loại đất nông nghiệp của xã Đa Nhim (Trang 42)
Hình 3.3.  Phân bố các loại sử dụng đất - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.3. Phân bố các loại sử dụng đất (Trang 44)
Bảng 3.3. Nguồn nước tưới các thôn                            Đơn vị tính: % - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.3. Nguồn nước tưới các thôn Đơn vị tính: % (Trang 47)
Bảng 3.5. Nhà ở và nhà vệ sinh - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.5. Nhà ở và nhà vệ sinh (Trang 52)
Bảng 3.6. Tài sản tiêu dùng - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.6. Tài sản tiêu dùng (Trang 53)
Hình 3.5. So sánh tài sản tiêu dùng và tài sản sản xuất - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.5. So sánh tài sản tiêu dùng và tài sản sản xuất (Trang 54)
Bảng 3.7. Tài sản sản xuất - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.7. Tài sản sản xuất (Trang 54)
Hình 3.5 cho thấy người dân xã Đa Nhim tập trung tiền làm ra để mua các tài sản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt mà không cân nhắc đến sự thiết yếu của chúng và chưa chú tâm đến sản xuất mặc dù cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất nông nghiệp v - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.5 cho thấy người dân xã Đa Nhim tập trung tiền làm ra để mua các tài sản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt mà không cân nhắc đến sự thiết yếu của chúng và chưa chú tâm đến sản xuất mặc dù cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất nông nghiệp v (Trang 55)
Bảng 3.11. Các nguồn vay vốn - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.11. Các nguồn vay vốn (Trang 59)
Bảng 3.13. Lịch thời vụ của các hoạt động nông nghiệp chính - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.13. Lịch thời vụ của các hoạt động nông nghiệp chính (Trang 64)
Hình 3.6. Tỉ lệ các nguồn thu nhập chính của hộ gia đình - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Hình 3.6. Tỉ lệ các nguồn thu nhập chính của hộ gia đình (Trang 65)
Bảng 3.14. Bình quân thu nhập và chi phí sản xuất của hộ - Luận văn Phân tích thực trạng sinh kế và rừng ở Lâm Đồng
Bảng 3.14. Bình quân thu nhập và chi phí sản xuất của hộ (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w