1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thiết kế chế tạo đưa vào hoạt động dây truyền thiết bị công nghệ đồng bộ sản xuất găng phẫu thuật y tế sản lượng 7 triệu đôi găng một năm

51 332 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình như vậy , nắm bất chủ trương với tầm nhìn xa trông rông của Bộ y tế , với sự chỉ đạo , giúp đỡ của Tổng công ty Thiết bị Y tế Việt nam , được sư hỗ trơ, đông viên của tấp

Trang 1

1, Tên công trình (cum công trình) đề nghi xét thưởng:

Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, đưa vào hoạt đông dây chuyền thiết bị- công

nghệ đồng bộ sản xuất găng phẫu thuật y tế , sản lượng 7 triệu đôi găng /năm

2 Lĩnh vực khoa học của công trình

5 Co quan cht tri công trình

Xí nghiệp Cao su Y tế ( Tổng Công ty thiết bị Y tế VN — Bộ Y tế ) nay là Công ty cổ phần MERUFA

6 Bô chủ quản

Bộ Y tế Công hoà Xã hôi chủ nghĩa Việt nam

7 Tóm tất chung về công trình (bối cảnh hình thành, nội dung đặc điểm chủ yếu

Găng phẫu thuật là một sản phẩm chủ yếu và quan trọng được sử dụng tại các bệnh

viện, trung tâm sức khỏe, trung tâm dân số và kế hoạch hóa gia đình các cơ

sở điều trị cấp cứu của Quân đội Từ nhiều năm nay , Bộ Y tế đã xếp găng mổ trong danh mục vật tư tiêu hao cơ bản và thiết yếu không thể để thiếu Trong các Kế hoach

chiến lược dài hạn của Ngành , Bộ Y tế luôn yêu cầu các đơn vị thuôc ngành trang

thiết bị y tế cần tâp trung nguồn lực nghiên cứu sản xuất trong nước các vật tư tiêu hao chủ yếu , trong đó có găng phẫu thuật,

Từ năm 1954 đến năm 1975 khi đất nước thống nhất , ở miến Bắc Việt nam không có môt cơ sở trong nước sản xuất được găng mổ Nguyên nhân chủ yếu là kỹ thuật sản

xuất găng mổ là môt kỹ thuật cao - phức tạp,liên quan đến công nghệ tao hình , xử lý

màng mỏng cao su tự nhiên Ngoài ra cũng còn nguyên nhân : nguyên liệu chủ yếu

sản xuất găng mổ là Latex cao su tự nhiên không có nhiều ở miền Bắc Việt nam Môt

số nông trường tại Quảng bình có trồng cao su , nhưng chất lượng latex xấu , đòi hỏi

chi phí xử lý và chế biến cao Vì vậy toàn bộ găng mổ dùng cho các bênh viện nhân 6

22T `

26/5 (05: Ans 64 2/2 /kQ.

Trang 2

Trong thời kỳ này ở miên Nam nước ta thưc tế cũng không có môi công ty hay nhà máy nào sản xúât găng mổ , kể cả những nhà máy do nước ngoài đầu tu Tai Sài gòn , trung tâm của chính quyền cũ , chỉ có môt nhà máy sản xuất sản phẩm cao su màng mỏng từ Latex tên là “ Thanh dung “ Nhưng nhà máy này chỉ sản xuất bong bóng cao su dùng làm đồ chơi trẻ em và dùng trong lễ hôi Miền Nam lúc ấy sử dụng toàn

bộ găng viện trợ từ Mỹ và đồng minh , môt số được nhập ngoại sử dung cho các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân

Từ năm 1975 đến năm đến năm 1994 do các nguồn viện trợ giảm dần ,viêc nhâp ngoại gặp khó khăn vì giá sản phẩm cao và phân bổ ngoại tê sử dụng nhập trang thiết

bị y tế nói chung , găng mổ nói riêng bị cắt giảm đáng kể , tình trạng thiếu găng ngày càng trở nên nghiêm trọng Môi số ít cơ sở sản xuất nhỏ tại Tp Hồ chí minh và Hà nôi bắt đầu nghiên cứu sản xuất găng mổ với quy mô nhỏ , phương tiện thủ công , lạc hậu như cơ sở “Dân Việt” tại Tp HCM và Việt tiến tại Hà nôi

Do áp dụng phương pháp thủ công ( công nhân tay cầm bàn khuôn nhúng vào bể mủ , sấy găng bằng lò than ) nên chẳng những sản lượng thấp mà chất lượng găng không bảo đảm yêu cầu phẫu thuật , gây nhiều rủi do cho cả bác sĩ và bệnh nhân Công ty cổ phần MERUFA lúc đó là XN cao su y tế ngay từ năm 1987 cũng áp dụng phương pháp thủ công ( nhúng tay ) để sản xuất găng , mặc dù thiết bị sấy găng có “ hiện đại “ hơn ,

do dùng điện thay vì lò than

Sau Đại hôi Đảng 6 , đường lối “ đổi mới “ do Đảng Công sản VN khởi xướng và

tổ chức chỉ đạo thưc hiên đã thổi môt luồng sinh khí vào nên kinh tế Việt nam Từ môt cơ chế bao cấp nặng nề, trì trệ , nền kinh tế Việt nam đã trỗi dây, phát triển với tốc độ rất nhanh trên mọi lĩnh vực, trong đó có Y tế Nhu cầu găng mổ tăng nhanh về

cả số lương và chất lượng đặt ra môt yêu cầu khẩn thiết với ngành Trang thiết bị Y tế Tình trạng cung cấp găng cho các bệnh viên có lúc rất khó khăn : các công ty Trang thiết bị Y tế cấp I phải “ phân phối “ từng đôi , từng chục đôi găng cho các BV tỉnh , theo môt kế hoach chặt chẽ của Bô Y tế Yêu cầu này càng cấp thiết hơn khi mà dư trữ ngoại tệ của quốc gia vào thời kỳ này rất nhỏ bé

và phải giành cho các mục tiêu sinh tử như an ninh ,quốc phòng , xây dưng kiến trúc

hạ tầng , năng lượng trong khi gía găng nhâp lại tăng cao từng tháng , hàng năm Trong tình hình như vậy , nắm bất chủ trương với tầm nhìn xa trông rông của Bộ y

tế , với sự chỉ đạo , giúp đỡ của Tổng công ty Thiết bị Y tế Việt nam , được sư hỗ trơ, đông viên của tấp thể cán bô công nhân viên XN cao su Y tế , KS Phạm xuân Mai đã

để xuất và với kinh nghiêm bản thân lăn lôn trong quá trình sản xuất , thiết kế phương

án chế tạo môt hệ thống nhúng tạo hình găng tự đông với sản lượng cao , đồng thời nghiên cứu , sáng tạo môt công nghệ sản xuất — xử lý găng mổ phù hợp với hệ thống tạo hình nói trên

Công trình được thiết ké , thuc hiên trong môt bối cảnh có những đặc điểm riêng :

~-Vào thời kỳ này XN cao su Y tế đang sản xuất Condoms trên dây chuyền thiết bị toàn bộ do LHQuốc viện trợ và XN đang còn “ sống được” nhờ sản phẩm này , khi đó LHQ có những chương trình viện trợ tài chính cho UBQGDS với định hướng mua lại Condoms của XN Việc nghiên cứu thiết kế đầu tư chế tạo môt dây chuyền sản xuất găng mổ khi đó không khỏi gây ra những nghỉ ngờ hoặc thâm chí có ý kiến ngăn trở , phản đối của môt số ít cán bộ chủ chốt của XN cũng như của cấp trên

Trang 3

Việt nam ) vào việc triển khai công trình tạo nên môt yếu tố rủi ro nghiêm trọng Nếu công trình thất bại thì XN có nguy cơ bị phá sản , người đề xuất và chủ trì công trình chắc chắn phải chịu kỷ luật rất nặng hoặc bị cách chức

- Việc triển khai công trình đòi hỏi phải di rời phân xưởng và hệ thống thiết bị tự động kiểm tra Condoms ( thiết bị dài gần 30 m rông 2 m ) , được bố trí theo môt sơ đồ công nghê đã đưọc LHQ chuẩn y từ trước , để lấy chỗ lắp đặt thiết bị nhúng tạo hình găng Việc này đòi hỏi XN phải kiên trì thương thảo với các chuyên gia , cố vấn của

LH Quốc Cuối cùng họ cũng đồng ý nhưng không thật sư thỏa mãn và còn nghỉ ngờ khả năng thành công của công trình

- Vào thời gian này ở Việt nam không có môt mẫu “ công nghệ và thiết bị sản xuất găng “ để người chủ trì công trình có thể hoc tâp theo Xí nghiệp liên doanh Viêt Hung thuộc Tổng cục Hoá chất vừa lắp đặt môt dây chuyển sản xuất găng bảo hộ lao đông ( thiết bi toàn bô, công nghệ và chuyên gia hướng dẫn lấp đăt , sản xuất đều do Hungary cung cấp ), nhưng tính chất thiết bị , công nghệ và sản phẩm khác hẳn với công nghệ thiết bị và sản phẩm của công trình Vả lại, trong thời gian đầu , XN liên doanh giữ chắc “ bí mật công nghệ, thiết bị” nên han chế hay cấm khách tham quan Mot số cán bộ của XN cao su Y tế đã từng được hoc tap - đào tạo tai An đô về sản xuất condoms Nhưng do khuôn khổ và qui định chặt chẽ của Dự án do LHQ tài trơ nên các cán bộ này không có địp được tham quan bất cứ nhà máy sản xuất găng mổ tại Ân độ XN có tổ chức đoàn đi tham quan Đài Loan , nhưng ở nước này chỉ có môi số ít nhà máy sản xuất găng kiểm tra ( kỹ thuật sản xuất thấp hơn găng mổ ) và thường họ không cho xem thiết bị sản xuất cũng như trả lời các câu hỏi về công nghệ Trong thời gian này do Internet chưa có ở Việt nam nên việc tìm hiểu kỹ thuật công nghệ sản xuất găng mổ trên mạng gặp nhiều khó khăn

Thực tế công trình nghiên cứu được tiến hành ngay từ đầu năm 1992 và kéo dài cho đến hiên nay Dây truyền nhúng tạo hình găng tự động với sản lượng cao đầu tiên được chế tạo và đưa vào sản xuất chính thức vào năm 1994 , Tháng 5-2005 dây chuyển thứ tư sẽ được lắp đặt và đua vào sản xuất chính thức sau khoảng 2 tháng ( 7/2005 ) Công trình gồm hai phần chủ yếu sau:

- Nghiên cứu , thử nghiệm và áp dụng công nghệ pha chế - sản xuất găng mổ trên các hệ thống thiết bị tạo hình ( nhúng ) găng tự đông, hệ thống thiết bị xử lý găng sau khi tạo hình , hệ thống kiểm tra , đóng gói , tiệt trùng găng phẫu thuật

- Nghiên cứu , thiết kế , chế thử từng bộ phân, chế tạo toàn bộ hệ thống, lap dat , chạy thử và đưa vào sản xuất chính thức các( 3 ) hệ thống dây chuyền thiết bị liên tục , tự đông tạo hình găng mổ , với sản lượng 7 triêu đôi găng /dây chuyên / năm Ngoài hệ thống tao hình chính công trình còn bao gồm việc nghiên cứu , thiết

kế, chế tạo nhiều hệ thống thiết bị phụ trơ : hệ thống kiểm soát cấp liêu cho máy

ly tâm mủ Latex (1) , hệ thống lưu hóa sơ bộ latex (2), thiết bị hút chân không phá bot cho Latex (3) , thiết bị ủ hổn địch latex sau pha ché (4) , tháp hấp thụ Amoniac ngược dong (5 ) , thiết bị trôn bôt chống dính cho găng mổ (6) thiết bị sấy gang

Trang 4

với hệ thống khử bơt gây ơ nhiễm mơÏ trường kiểu ngược dịng khí —nước (7 ) hệ thống kiểm tra găng mổ dùng khí thổi (8) hệ thống tư động điều khiến qúa trình tiệt trùng trên các thiết bị tiệt trùng găng dùng khí E O ( Ethylene oxide ) (9 ) hệ thống các thùng chưá kèm các bộ phân xử lý Latex , dung tich 20m3 (10 )

Cơng nghệ và hệ thống dây chuyên đồng bộ , hồn chỉnh sản xuất găng mổ sử dụng nguyên liệu chính là latex cao su tự nhiên Việt nam ( do các Cơng ty- nơng trường cao su VN cung cấp ) Các thiết bị được chế tạo, thử nghiệm tại Việt nam , khơng cĩ sự trơ giúp của các chuyên gia nước ngồi Cơng trình thưc hiên trong nhiều năm : từ năm 1992 đến 2005 Trong năm 2005 mơt hệ thống nhúng tạo hình

tự động găng mới ( hệ thống thứ 4 ) sẽ được chế tạo theo mẫu thiết kế cũ của cơng trình Hệ thống thứ nhất , thứ hai , thứ ba được chế tạo và đưa vào sử dụng vào các nam 1994 , 2000 va 2003

Sản phẩm của cơng trình ( gang phẫu thuật ) đạt các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế hiện hành : TCVN 6344 : 1998, [SO 10282 : 2002, được cung cấp cho hầu hết các bênh viên , trung tâm sức khỏe , trung tâm KH hố gia đình trên tồn quốc từ năm 1994 đến nay , thay thế hồn tồn hàng ngoại nhập , với gía rẻ hơn hàng ngoại nhâp cùng loại từ 50 đến 30 % , tùy theo từng thời điểm, Sản phẩm của cơng trình , mơt sản phẩm được Bộ Ytế Việt nam quy định thuộc danh mục vật tư hư hao cơ bản - chủ yếu của ngành , đã đáp ứng kịp thời yêu cầu ngày càng tang cao của ngành Y tê , gĩp phần tiết kiêm nhiều ngoại tệ và chi phí cho đất nước San phẩm được xuất khẩu mơt phần sang các nưĩc nhu LB Nga , Đài Loan

8 Tĩm tắt về những sáng tao và đổi mới đặc biệt quan trong về cơng nghệ

Những sáng tạo và đổi mới đặc biệt quan trọng của cơng trình :

1 - Cơng trình khơng chỉ đẻ cập đến việc thiết kế chế tạo một hệ thống thiết bị tự đơng nhúng tạo hình găng mổ cĩ sản lượng cao, nhăm cơ khí hố - tự đơng hố quá trình sản xuất thủ cơng , mà cịn bao hàm cả việc nghiên cứu sáng tạo thử nghiệm thành cơng mơt cơng nghệ mới áp dung trong tồn bơ qúa trình cơng nghệ sản xuất găng từ khâu bảo quan mủ mới nhận về , ly tâm mủ , pha chế mủ với các hố chất , nhúng tạo hình găng , rửa gang , tron bét , sấy , kiểm tra xử lý găng đến khâu đĩng gĩi thành phẩm, tiệt trùng Ngồi ra về mặt thiết bị sản xuất, khơng chỉ hệ thống nhúng tạo hình găng tư động nĩi trên, mà cơng trình cịn bao hàm

cả việc thiết kế , chế tạo các máy thiết bị phụ trơ của quá trình sản xuất ,, như là : hệ thống kiểm sốt cấp liêu cho máy ly tâm mủ Latex (1) , hệ thống lưu hĩa sơ bộ latex (2), thiết bị hút chân khơng phá bọt cho Latex (3), thiết bị ủ hổn dich latex sau pha chế (4) , tháp hấp thụ Amoniac ngược dịng (5 ), thiết bị trơn bơi chống dính cho găng mổ (6) thiết bị sấy găng với hệ thống khử bơt gây ơ nhiễm mơi trường kiểu ngược dịng khí —nước (7 ) hệ thống kiểm tra mắt găng mổ dùng khí thổi (8) hệ thống tư động điều khiển qúa trình tiệt trùng trên các thiết bị tiệt trùng găng dùng khí E O ( Ethylene oxide ) (9 )hệ thống các siterne ( dung tích 10-20m3) bằng thép khơng rỉ chưa latex ( 10)

Trang 5

triệu đôi găng/năm_ Công nghệ và thiết bị hoàn toàn do Việt nam sáng tạo và mang năng dấu ấn Việt nam

( Xem phụ lục 1 : Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất găng )

2- Công nghệ sản xuất găng được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu chính là Latex cao su tư nhiên khai thác từ các dòng cây cao su trồng ở các công fy — nông trường các tỉnh phía Nam nước ta ( Bình long, Tây ninh vv ) không phải từ nguôn nguyên liệu nhập ngoại như trường hơp môi số nước khác Đo đăc điểm khí hâu , chất đất , giống cây và trình đô, kinh nghiệm quấn lý, latex cao su tư nhiên của Việt nam có môt số nhược điểm rõ rệt so với Latex nhập khẩu từ Malaysia :

- Không đồng nhất về chất lương qua từng lô khai thác ( do khai thác vân chuyển còn rất thủ công ),

- Thường hay bị pha chế các chất “ tăng cường sưc bên cơ học “ nhằm kéo dài thời gian bảo quản tại công ty cao su, nhưng hâu quả đối với người sản xuất thành phẩm cao su là làm tăng sưc bền của Latex 1 cách giả tạo , gây khó khăn rất lớn cho quá trình pha chế và nhúng tạo hình ( găng khi nhúng có màng không ổn định : chỗ dày chỗ mỏng , găng sau nhúng rất khó lưu hóa, sấy khô vvw )

- Do quá trình khai thác còn thủ công , phân tán không tuân theo các qui định nghiêm ngặt trong đó có các quy định về vệ sinh, nên Latex cao su tư nhiên nước ta thường dễ

bị nhiễm trùng ( gây hiên tượng đông đặc thành cục lớn ) ,có nhiều tác nhân gay di ứng ( allergenic agents ), thành phần proteins gây dị ứng còn cao và khó kiểm soát , nồng độ các chất Nitrosamines và Nitrosable amines ( yếu tố gây ung thư ) chưa kiểm soát được

Do những nhược điểm trên , công nghệ sản xuất mới phải bao hàm những giải pháp hợp lý để khắc phục hoàn toàn hoặc khắc phục môt cách cơ bản các nhược điểm trên

Có nhều giải pháp được áp dụng , nhưng những giải pháp cơ bản và hiệu qủa nhất là : a- Tiến hành ly tâm mủ latex lần thứ hai ( các công ty cao su chỉ ly tâm mủ Latex 1 lần và cung cấp cho khách hàng Hầu hết các nhà máy sx găng mổ lớn ở Malaysia , Thailan , Indonesia và nhiều nước châu Âu chỉ sử dụng latex ly tâm 1 lần ) Viêc ly tâm lần 2 giúp loại bỏ nhiều tạp chất , độc tố chứa trong serum của Latex , mặc dù làm chi phí sản xuất tăng lên

b- Sáng tạo và áp dụng công nghệ lôt nước ( Wet stripping ) trên hệ thống nhúng

tự động để lôt găng ra khỏi khuôn sau khi hoàn tất nhúng tạo hình

Hiên nay rất nhiều nhà máy sản xuất găng ở Malaysia ,Thai lan , Indonesia

( trong đó có nhà máy sản lượng tới l tỷ đôi găng / tháng )vẫn còn áp dụng công nghệ lôt khô hay lột bột Găng sau khi được nhúng tạo hình được tư đông chuyển đến vị trí

“* lôt găng “ Ở đây các công nhân phủ đầy bôt trên màng găng và dùng tay lột chúng

ra khỏi khuôn Công nghệ này có ưu điểm là đơn giản và khắc phục để dàng hiện tuong màng găng dính vào nhau khi bề mặt màng chưa khô hẳn và chưa được lưu hoá

kỹ Tuy nhiên nó có nhiều nhược điểm , đó là : gâynhiều bui ô nhiễm môi trường ảnh hưởng sức khỏe công nhân , hư hỏng máy móc (1) không loại được các hoá chất du thừa ( residual chemicals ) không tham gia hết vào quá trình lưu hóa, các tạp chất , các đôc tố gây dị ứng (2) vv còn chứa trong găng

Trang 6

và công nhân lôt găng ra khỏi khuôn khi nó đang ngâm trong dung dịch nước Công nghệ này khắc phục được cơ bản các nhược điểm của công nghệ lôt bét , trong dé góp phần loại bỏ đáng kể lượng hoá chất dư thừa và các độc tố có thể gây dị ứng Tuy nhiên công nghệ “ lột nước “ rất khó thưc hiện vì phải giải quyết yêu cầu chống dính vốn rất khó khăn Công nghệ mới của công trình đã có biện pháp hữu hiệu giải quyết tồn tại này

c- Găng sau khi lôt nước được “ rửa kỹ “ trong các máy rửa găng, tương tư các máy giặt quần áo loại công nghiệp, để loại bỏ thêm môt lần nữa các hoá chất dư thừa và các đôc tố gây dị ứng ( ở rất nhiều nhà máy nước ngoài , găng sau khi lôt ra với công nghệ “lôt bột “, như mô tả trên đây, được đưa thẳng vào thiết bị sấy quay tròn để tiếp tục lưu hoá , sau đó sản phẩm được mang đi kiểm tra , đóng gói tiệt trùng Công nghệ này tuy tiết kiệm được nhiều năng lượng chí phí , nhưng rõ ràng sản phẩm không “ sạch “ )

3- Hiên nay xu hướng của thế giới , đặc biệt là ở các nước phái triển , găng mổ cần phải có ít bôt ( less powder ) hoặc phải là găng không có bột ( powder free )nhưng vẫn phai dé deo ( easy donning ) và dễ tháo , dù rằng giá găng không bột cao hơn giá gang it bot tir 4 đến 5 lần Bôt phủ trên bề mặt găng có hai tác dụng chính là chống dính và đễ đeo Tuy nhiên bôt găng, nếu là bôt Talc , dễ lưu lại trong cơ thể bênh nhân sau các cuộc phẫu thuật và chúng là “ trung tâm “ kết tụ các mô mỡ, tạo thành các “kit “ sinh học gây nguy hiểm cho người bệnh Bôt phủ ,khi là bôt ngô biến tính loại có thể hấp thu trong dich co thé ( bio-absorbable ) , dù đạt tiêu chuẩn USP( Dược điển Mỹ ) vẫn có thể gây đị ứng protein cho người đeo và bênh nhân Những trường hợp đị ứng Protein dù rất ít xảy ra nhưng nếu xảy ra lại rất nguy hiểm vì gây ra chết người nhanh chóng Vì vậy yêu cầu găng ít bôt hay găng không bôt là yêu cầu quan trọng đối với các bênh viên kỹ thuật cao hay các phẫu thuật tỉnh vi như phẫu thuật mắt Gần đây các Xí nghiệp duoc phẩm có chứng chỉ GMP đã yêu cầu các găng ít bot hay không bôt để pha chế thuốc , tránh hiện tượng bôt rơi lẫn vào thuốc

Để có găng ít bôt nhiều nhà máy trên thế giới áp dụng phương pháp chlorine hoá

bê mặt , làm cho bề mặt găng bị khô và trợ Tuy nhiên công nghệ này có nhược diểm

là độc hại cho môi trường , công nhân ( do nhiều phân tử tư do Clo sinh ra ) và ảnh hưởng đáng kể đến độ bền dai của găng

Về mặt này công nghệ của công trình sáng tạo ra môt giải pháp đặc biệt,nhằm giảm đến mức cao nhất có thể lượng bôt lưu lại trên găng , tạm gọi là “phun thấm sâu bôt vào bề mặt găng” Bôt chống dính-bôi trơn vẫn dùng bôt ngô biến tính loại bio-absorbable đạt USP ,như tiêu chuẩn quốc tế về găng mổ

1SO-10282-2002 qui định Với giải pháp công nghệ mới này bôt chỉ cần dùng với số lượng ít, nhưng được phân bổ đều trên toàn bể mặt găng và chỉ ở phía

trong ( tiếp xúc với tay bác sĩ ), bột bị màng găng giữ chặt , không bị bong ra trong qúa trình rửa và sấy trong các lò sấy quay tròn , Do vậy lượng bôt sử dụng trong qúa trình sản xuất giảm đi đáng kể mà găng van dé deo , dễ tháo , yêu cầu less powder đạt được Hiên nay găng của MERUFA sản xuất đều là găng ít bột ( less powder ) Trong nôi dung của công trình nghiên cứu , môi công nghệ mới cũng được nghiên cứu , áp dụng thành công để có thể sản xuất ra găng không bôt ( powder free) Đó

Trang 7

thời gian khoảng 6 tháng trong năm 2003 Đù giá thành găng chỉ cao hơn găng ít bôt khoảng 20-25% nhưng các bệnh viênvẫn không hưởng ứng Thưc tế là hiên nay còn nhiều Bênh viên chỉ chú ý đến giá mua găng sao cho rẻ mà ít chú ý đến chất lượng sản phẩm , càng ít chú ý đến vấn đề ít bột hay nhiều bôi Do vậy MERUFA bắt buộc phải bán găng không bôt theo giá găng ít bôt để tiêu thụ hết số lượng tồn kho Rồi sau đó bắt buộc phải ngừng sản xuất găng không bột

Với các giải pháp công nghệ trình bầy ở trên , găng phẫu thuật của MERUFA thuộc loại an toàn Trong hơn 10 năm qua XN chưa nhân được môt phản hồi liên quan đến vấn để găng gây dị ứng từ các bệnh viện ,cơ sở Y tế toàn quốc sử dụng găng của MERUFA Nôi dung của các bản “ thăm dò ý kiến khách hàng “ cũng phần ánh nhận định này ( Xin tham khảo Phụ lục kèm theo )

4- Một sáng tạo đặc biệt liên quan đến việc thiết kế chế tạo hệ thống nhúng tạo hình gang tư động nói chung và môt số cơ cấu của hệ thống nói riêng

Các hệ thống nhúng găng tự động lắp đặt tại các nhà máy sx gang m6 ở Malaysia , Thai lan , Indonesia và các nước khác đều rất đồ sộ Chiều dài của hệ thống tối thiểu là 60 m, có hệ thống dài tới §0 m, để có thể hoàn tất nhiều bước công nghệ kế tiếp nhau trên hệ thống Tuy nhiên cơ sở hiên hữu của MERUFA lại rất chật hẹp Mặt bằng có thể lắp các hệ thống nhúng tạo hình găng chỉ vỏn ven dai 30 m Viéc tìm môt cơ sở mới , xây lấp mới nhà xưởng , hệ thống đông lưc , hệ thống cấp thoát nước và phu trơ , vào thời điểm năm 1994 và ngay cả hiện nay thưc tế rất khó khăn hay không thể thực hiên được Bởi vì cần phải giải quyết nhiều thủ tục và đầu tư môt

số vốn xây dựng cơ bản rất lớn , trong khi , như đã nói ở trên , vốn của MERUFA rất nhỏ bé, tất cả chỉ đủ giành cho công trình nghiên cứu Trong tình hình này kỹ sư Pham xuân Mai đã đề xuất môt phương án thiết kế hệ thống nhúng tạo hình găng tư động chỉ dài 27 m ( giành lối đi rông 1,5 m ở hai dầu hệ thống ) , nhưng thêm môt tầng chiều cao, tất cả là 3 tầng ( các máy của nước ngoài chỉ có 2 tầng ) Đề xuất được kèm theo môt phương án thiết kế chỉ tiết , trong đó tính toán kỹ lại chính xác tốc

độ băng chuyển máy, thời gian chính xác cho từng công đoạn ( bước công nghệ ), bố trí hợp lý các cơ cấu , bô phân máy trên từng công đoạn , giảm bớt các không gian thừa ở mực tối ưu có thể , chuyển môt vài bưóc công nghệ không cần thiết phải thưc hiện ngay trên hệ thống ( thí dụ công đoạn leaching ) ra thưc hiên ơ bên ngoài giúp cho hệ thống gon hơn nhưng chính bước công nghê này nếu thưc hiên bên ngoài lại

có hiệu qủa hơn, rút ngắn môt vài bước công nghệ lưu hóa trên hệ thống đưa ra bên ngoài để có điều kiên lưu hoá sản phẩm kỹ hơn vân vân

Tất cả những bố trí cải tiến mang tính sáng tạo trên đã giúp cho MERUFA có thể lắp đặt cả 3 hệ thống nhúng tạo hình găng trên môt mặt bằng chật hẹp bề dài chỉ là 30 m , Tuy nhiên mọi bước công nghệ cần thiết cho qúa trình nhúng tạo hình , lưu hóa, xử lý găng vẫn được thưc hiên đầy đủ trên hệ thống và bên ngoài , giúp cho sản phẩm có chất lượng cao môt cách ổn định, đạt chuẩn quốc tế hiện hành , mặc dù chiều dài tổng công của 1 hệ thống đã giảm đi gần môi nửa ( 60mx2 tầng sovới 27m x 3 tầng ) Việc thiết kế chế tạo môt hệ thống nhúng tạo hình “ ngắn “ như vây cũng góp phần làm giảm đáng kể chi phí chế tạo hệ thống

Trang 8

nhúng tạo hình gang đang sử dụng ở nước ngoài

- Bể nhúng găng được thiết kế đài hơn các bể nước ngoài từ 2 đến 3 mét , do vậy góc nhúng tay khuôn đi xuống bể phù hợp với các nguyên tấc vật lý liên quan đến sưc căng

bề mặt dung dich nhúng , giúp găng giảm bớt bọt khí hay điểm yếu Bể nhúng cũng

có hai máy khuấy song hành ( bể nước ngoài chỉ có môt cái ) với hình dang cánh khuấy đặc biệt được nghiên cứu thử nghiêm kỹ ,, do đó có tác dụng khuấy di chuyển đồng mủ mạnh nhưng không gây bọt

-_ Các tay bất khuôn sứ ( có hơn 700 tay bắt khuôn trên hệ thống ) được thiết kế kỹ và cải tiến nhiều lần khi chế tạo hệ thống mới Tay bắt khuôn hiên nay có kết cấu hợp lý , gọn nhẹ nhưng rất hiệu qủa giúp cho việc tháo lắp dễ dàng khuôn găng sứ khi hệ thống đang chạy , qúa trình mủ bám trên khuôn đều hơn và mép găng cao su đẹp hơn , Nhiều chuyên gia nước ngoài đến tham quan MERUFA đều khen ngơi hệ thống nói chung và đặc biệt kết cấu hơp lý của tay khuôn nói riêng

- Hệ thống vê mép găng được thiết kế với 2 chối vê riêng biệt quay ngược chiều nhau

„ VÌ vậy mép găng rất đẹp và chắc , trong khi ở nước ngoài thiết bị về mép chỉ là môt khối mousse hình trụ đơn giản ,quay tròn , nên mép găng thường xấu và hay rách do tiết diên trên chu vị viền mép không đều

- Thiết bị loc liên tục dung dịch đông kết là môt thiết bị độc đáo chỉ có ở MERUFA Thiết bị này giúp cho dịch đông kết luôn được lọc trong suốt , giảm bớt khuyết tật cho sản phẩm găng ( đóng cục , kem hóa , nhiễm bẩn )

8.1 Trinh bày những nội dung của thành tu khoa học - công nghệ chủ yếu của công trình (vấn đề then chốt đã giải quyết để đổi mới, cải tiến, ứng dung công nghệ, sản

xuất sản phẩm hoặc để tạo ra công nghệ, sản phẩm mới, )

Từ những báo cáo và phân tịch trên các thành tưu khoahoc — công nghệ mà công trình đạt được là :

1- Lần đầu tiên Việt nam tự nghiên cứu chế tạo và đưa vào sản xuất chính thức thành công môt dây chuyển hoàn chỉnh sản xuất găng mổ đạt tiêu chuẩn quốc tế , bao gồm môi công nghệ sản xuất ưu việt và các hệ thống thiết bị nhúng tạo hình tự đông với năng xuất cao cũng như nhiều thiết bị phụ trơ khác

Cho tới nay dây chuyển này cũng là dây chuyển sản xuất găng mổ ( môt sản phẩm cao su màng mỏng kỹ thuật cao )duy nhất do Việt nam sáng tạo

( Gần đây XN liên doanh Việt Hung đã nhập từ Hung gary môt hệ thống nhúng tạo hình gãng tự đông với năng xuất tương tư như của MERUFA_ Hệ thống nay do Hungary chế tạo và cung cấp công nghệ toàn bô Hệ thống được các chuyên gia Hung lắp đặt và hướng dẫn công nghệ )

2- Các dây chuyên sản xuất găng mổ đã hoạt đông liên tục và ổn định từ năm 1994 đến nay , cung cấp môt khối lượng ngày càng tăng môt sản phẩm chủ yếu quan trọng của ngành Y tế với chất lương cao, gía rẻ đáp ứng kip thời nhu cầu điều tri , bao vé sức khỏe nhân dân , thay thế hoàn toàn hàng nhập ngoại , góp phần tiết kiêm ngoại tê

và giảm chi phí đáng kể cho ngân sách nhà nước

Trang 9

phẩm ngày càng tốt hơn , an toàn hơn , rẻ hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và nâng cao của ngành y tế nước ta

4- Thành công của công trình là kết qủa của tỉnh thần cố gắng , tich cực vươt qua mọi khó khăn , đám nghĩ , dám làm , đám chịu trách nhiêm của cá nhân và sư hỗ trơ đắc luc cha mot tap thể cán bô công nhân viên XN cao su Y tế Thành công này gắn liên với sư chỉ đạo sáng suốt của Bộ Y tế, Vụ trang thiết bị và công trình Y tế ( đại diện là

KS Nguyễn xuân Bình và Thạc sĩ Dương văn Tỉnh, nguyên và đương kim Vụ trưởng ) cũng như sư theo rõi ,đông viên , hỗ trợ sát sao của Tổng công ty Thiết bị Y tế Việt nam ( đại diện là KS Hoàng thủy Lạc- Tổng Giám đốc )

8.2 Nội dụng phải bảo mật (nếu có)

- Qui trình công nghệ sản xuât — xử lý găng nói chung Trong đó đăc biệt là các công thức pha chế mủ latex , công thức pha chế dịch lôt găng , bôt bôi trơn — chống dính , chất đông kết

- Các thông số của quá trình công nghệ sx, xử lý gang

- Các bản vẽ thiết kế kèm thông số thiết kế toàn bô hê thống nhúng tạo hình găng

- Các bản vẽ và thông số thiết kế của các cơ cấu quan trong của hệ thống này

§.3 So sánh tổng hợp với nghiên cứu cùng loai, kỹ thuật cùng loại trong và ngoài nước Như đã báo cáo ở trên ở Việt nam cho đến nay chưa có môt công trình cùng loại có tính chất tương tư

Các dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh găng mổ loại tiên tiến của nước ngoài như ở Malaysia , Thai lan , Indonesia thường nhập từ Đức hay Nhật Các dây chuyền này cho ra môt sản phẩm có chất lương cao đạt tiêu chuẩn Quốc tế ( ISO 10282-2002 ) tưong tư như của MERUFA., nhưng giá thành hệ thống cao hơn nhiều Giá thành của

1 hệ thống của Đức ( hãng Doka sản xuất - sản lương khoảng 7 triêu đôi năm ) là khoảng 1.5 triêu US Dollars ,chưa tính phần láp đặt thiết bị , chay thử ,cung cấp công nghệ sản xuất , kiểm tra sản phẩm và hướng dẫn ( nếu tính đầy đủ mọi khoản trị giá lên đến khoảng 2 đến 2,2 triệu USD ) Giá môt hệ thống hoàn chính , sản lượng 10 triêu đôi năm ,kèm theo công nghệ sản xuất, chi phí lắp đặt , hướng dẩn sản xuất , thiết bị kiểm tra của Nhật là 7 triéu US Dollar Gid hê thống thiết bị nhúng tạo hình

do MERUFA chế tạo trung bình là I 100 triệu đồng Việt nam_ Giá các thiết bị phu tro khoảng 500 trieu đồng VN ( Các thiết bị phụ này có dung lượng đủ hỗ trợ cho cả 4 hệ thống nhúng tạo hình )

8.4 Tình hình ứng dụng

Như đã báo cáo ở trên công trình bắt đầu tiến hành vào năm 1992 Khi đó XN cao su

y tế còn đang sản xuất găng mổ bằng phương pháp thủ công ( nhúng tay ) Công nghệ sản xuất và thiết bị , dụng cụ thủ công cũng do KS Phạm xuân Mai nghiên cứu , thiết

kế và chỉ đạo việc chế tạo lắp đặt Tuy nhiên do làm bằng phương pháp thủ công nên

Trang 10

sản lượng rất thấp „ số công nhân sản xuất rất đông ( có thời điểm lên tới 180 người hay hơn )

Sản lượng của các năm 1988,1989.1990,1991,1992 và 1993 lần lượt như sau

312, 500,599, 1.122,794,331 ( x 1000 đôi )

Năm 1993 hệ thống nhúng tạo hình găng mổ tư động đầu tiên được hoàn chỉnh thiết

kế và tiến hành chế tạo Tháng 7 năm 1994 hệ thống được chính thức đưa

vào sử đụng , sản xuất găng cung cấp cho thị trường Sản lượng găng sản xuất - cung cấp cho thị trường các năm sau đó như sau :

Năm 1994 : 2.602.000 đôi ( 5.204.000 cái )

hệ thống thứ hai , hệ thống thứ ba có những cải tiến đáng kể về mặt công nghệ và thiết

bị để hoàn chỉnh hiệu quả của dây chuyển , mặc dù mẫu thiết kế vẫn cơ bản dưa vào hệ thống số I Tháng 10 năm 2003 hệ thống thứ ba được chính thức đưa vào sản xuất Sản lượng găng mổ sản xuất và cung cấp cho thị trường các năm sau đó như sau :

- 2003: 13.766.000 đôi

- 2004: 15.278.000 đôi

Vào khoảng quý 3 năm 2004 Công ty cổ phần MERUFA ( chuyển đổi từ XN cao su

Y tế) quyết định chế tạo hệ thống nhúng tạo hình găng tự đông thứ tư và dư kiến lắp đặt vào tháng 5 -2005 tại cơ sở sản xuất mới tại khu CN Vĩnh lôc_, đưa vào sản xuất chính thức khỏang tháng 7 - 8 /2005 Kế hoach sản xuất - tiêu thụ găng dư kiến cho năm 2005 là 18 triệu đôi

Ghi chú :Số lượng găng sản xuất thấp hơn sản lượng thiết kế do các nguyên nhân : trong năm có những ngày nghỉ , ngày lễ , hệ thống phải dừng hoạt đông để tiến hành

bảo dưỡng định kỳ , sự cố mất điện đường dây, tỷ lệ sản phẩm hư hỏng ( chiếm

khoảng từ 3- 7 % )

Hệ thống thứ tư vẫn được cơ bản chế tạo theo mẫu cũ , nghĩa là môt hệ thống “ngắn”, dù rằng ở địa điểm cơ sở sản xuất mới có thể lắp các hệ thống dài tới

60 m Có nhiều lý do cho môt quyết định như vậy Trong đó có lý do là sắp tới công

ty sẽ nghiên cứu thiết kế và lắp đặt 1 qúa trình “ lôt găng tự đông “ trên hệ thống ( hiên nay công nhân vẫn phải lôt tay 1 cách thủ công- đây là bước công

nghệ cuối cùng sót lại trên hệ thống vẫn còn phải sử dụng sức người ) Thực hiên qúa trình này đòi hỏi phải nối dài hệ thống thêm khoảng từ 15- 20 m

Trang 11

Nhìn chung trong các năm vừa qua , găng mổ của XN ( Công ty ) sản xuất ra đều được tiêu thụ hết , không có hiện tượng găng bị ứ đọng, tồn kho , Hiên nay găng của MERUFA chiếm khoảng 60-70 % thi trường găng phẫu thuật nôi địa Găng mổ được cung cấp cho khoảng 300 đơn vị khách hàng, trong đó có các BV trung ưong , BV tính trên toàn quốc ,

Dây chuyển sản xuất găng đã được cấp chứng chi quan lý chất lượng theo tiêu chuẩn

ISO ( ISO-9002 :1994 cấp ngày 20.8.2000 và ISO 9001: 2000 cấp ngày 17.10.2003 )

Sản phẩm găng phẫu thuật của XN đã được tặng huy chương vàng tại “ Hôi chợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam lần IÍ — năm 1996 “

Xem xét các đóng góp của MERUFA trong việc cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao - trong đó có găng phẫu thuật - ,đáp ứng kịp thời yêu cầu của ngành và quốc gia , nhà nước đã tặng “Giải thưởng chất lượng Việt nam 1996 - Giải Bạc “ cho XN cao su Y tế ( Quyết định do Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ

và môi trường Phạm gia Khiêm ký ngày 30-12-1996 ) Ngày 5.2.1997 chủ (ích nước Trần đức Lương đã ký quyết định trao “ Huân chương lao đông hạng 3 “ cho

XN và kỹ sư Pham xuân Mai được Thủ tướng chính phủ tang Bằng khen 8.5 Hiệu quả kinh tế (đơn vị: triéu đồng)

a) Tổng kinh phí đầu tư cho công trình:

trong đó, từ ngân sách nhà nước:

Toàn bộ kinh phí thưc hiện công trình lấy từ vốn của Xí nghiệp cao su Y tế và Công ty cổ phần MERUFA :

1-Hệ thống nhúng tạo hình găng sô l : 950.000.000 đồng Việt nam

2- Hệ thống nhúng tạo hình găng sô 2 : 1.210.697.000 đồng Việt nam

3- Hệ thống nhúng tạo hình găng sô 3 : 1.463.686.000 đồng Việt nam

* Tổng kinh phí đầu tư chế tạo 3 hệ thống : 3.624.383.000 ĐÐĐVN

* Kinh phí nghiên cứu, thử nghiệm công

nghệ sản xuất và chế tạo, mua sắm

các thiết bị phụ trợ ( khoảng ) : 500.000.000 DVN

Tổng kinh phí đầu tư cho công trình : — 4.124.383.000 DVN

( Kinh phí trên không đầu tư trong môt lúc mà kéo dài từ năm 1992 đến đấu năm 2005)

Công trình không nhân bất cứ nguồn kinh phí nào từ ngân sách Nhà nước

b) Tổng doanh thu hoặc thu nhập mới tăng thêm:

-Năm 1994 : 3.824.940.000 VND (2.602.000 đôi )

Trang 12

c) Lợi nhuận mới tăng thêm:

1- Lợi nhuận trước thuế

- Tỷ lệ lơi nhuân bình quân từ năm 1994 đến 2004 tính trên

doanh thu : 10,2% (không kể thuế VAT)

( tỷ lệ này là số thưc tế xác định từ các quyết toán của XN ( Công ty ) từng năm

„nhưng lấy theo giá trị trung bình )

- Tổng doanh thu từ 1994 đến 2004 : 136.410.524.000 VNĐ

- Giá trị lợi nhuận do mặt hàng găng mổ mang lại : 13.913.873.448 VNĐ

( Ghi chu : Gia trị lơi nhuận trên chưa được công thêm giá trị khẩu haothiết bị [= 10% giá trị 3 hệ thống nhúng tạo hình Ì năm Giá trị khấu hao một hệ thống là khoảng 100 triệu VNĐ (năm ] Nếu cộng thêm giá trị khẩuhao thiết bị như mô tả ở trên , tổng giá trị loi nhuận sẽ tăng thêm )

2- Giá trí tiết kiêm trong đầu tư

So sánh chi phí đầu tư công nghệ và thiết bị tư thiết kế ,chế tạo với thiết bị công nghệ mua từ nước ngoài

Như đã báo cáo ở trên, vào thời gian công trình bắt đầu được tiến hành ( 1992 )ở Việt nam chưa có môt nơi nào được trang bị công nghệ và hệ thống thiết bị đồng bộ sản

Trang 13

xuất găng mổ ,trong khi nhu cầu găng mổ cho ngành Y tế ngày càng trở nên cấp thiết thi môt quyết định mua công nghệ và thiết bị toàn bộ từ nước ngoài, hoàn toàn có thể chấp nhân được Dù rằng quyết định đó sẽ mang lại gánh năng kinh tế cho quốc gia ( nếu nhà nước cấp kinh phí mua công nghệ , thiết bị ) và đặc biệt cho xí nghiệp tiếp nhân, triển khai công nghệ - thiết bị , vì giá thành sản phẩm sẽ cao , khó cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập

Trong bối cảnh đó, tác giả công trình được đa số tâp thể cán bô công nhân viên XN ủng hộ đã quyết định chọn phương án tư nghiên cứu chế tạo công nghệ và thiết bị đồng

bô sản xuất găng mổ tại Việt nam Sư thành công của công trình đã mang lại hiệu qủa lớn trong việc đầu tư

Giải trình cụ thể :

- He thống nhúng tao hình găng mổ sô l

+ Chỉ phí chế tạo và lấp đặt : 950.000.000 đồng VN

+ Chi phi nghiên cứu áp dụng công nghệ

sản xúât , thiết kế , chế tạo mua sắm tbi hỗ trợ 500.000.000 đồng VN

Tổng công chỉ phí: 1.450.000.000 đồng VN + Giá môt hệ thống nhúng tạo hình có năng xuất tương tư

(7 triệu đôi /năm ) kèm công nghệ sx, lắp đặt , hướng

dẫn sản xuất , môt số thiết bị phụ trợ của Đức ( Doka ) ; 2.000.000 USD

tương đương : 30.000.000.000 VNĐ

- Hệ thống nhúng tao hình găng mổ sô 2 và 3:

+ Chi phi ché tao va lap đặt : 2.674.383.000 đồng VN

( 1.210.697.000 + 1.463.686.000 )

+ Giá hai hệ thống nhúng tạo hình có năng xuất tương tư: 3.000.0000 USD

( kể cả chỉ phí lắp đặt , chạy thử không kể công nghệ

và thiết bị phụ trợ giá 1.500.000 USD /hệ thống )

- Tổng kinh phí đầu tư cho hệ thống 1 kể cả chỉ phí nghiên

cứu công nghệ sx và chếtạo mua sắm thiết bị hỗ trợ : 1.450.000.000 VNĐ

(hệ thống : 950.000.000 + công nghê ,(bihỗ trợ : 500.000.000 )

- Tổng doanh thu từ năm 1994 đến năm 1996 là : 16.122.820.000 VNĐ

[ =3.824.940.000+3.847.680 000+8.450.200.000 VNĐ ] Giá trị lợi nhuân trong 4 năm trên : 16.122.820.000 VNĐ x10,2%

Trang 14

= 1.644.527.600 VNĐ Như vậy thời gian thu hồi vốn của hệ thống thứ 1 là khoảng 3 năm ( sau năm mốc 1994- năm đầu tư - khoảng 2 năm , vào năm 1996 )

2- Hệ thống nhúng tao hình găng mổ số 2

Cũng áp dụng cách tính toán tương tư như trên , nhưng chỉ xét lơi nhuận mà hệ thống

số 1 mang lại trong các năm 1997, 1998, nghĩa là xem xét trên bình diện hiệu qủa kinh tế của toàn công trình , thì ngay hết năm 1998 - hệ thống I đã mang lại thêm môt khoản lơi nhuận đủ để đầu tư hệ thống 2

Cụ thể :

- Kinh phí đầu tư cho hệ thống số 2: 1.210.697.000 đồng Việt nam

- Tổng doanh thu về găng mổ do hệ thống

thứ 1 mang lại năm 1997,1998 : 17.124.180.000 VNĐ

(8.667.300.000 +8.456.880.000 )

- Giá tri lợi nhuân tạo ra từ tổng doanh thu trên : 1.746.666.300 VND

(17.124.180.000 x 0,102 VNĐ) ( Nếu tính môi cách chính xác hơn thì ngay tại thời điểm tháng 6 năm 1998 lơi nhuận

do hệ thống số I mang lại từ năm 1997 đến thời điểm này đã đủ tiền đầu tư hệ thống 2 ) Vì vậy nếu xét trên bình diện toàn bộ công trình thời gian thu hồi vốn của hệ thống

Trang 15

e) Giải trình phương thức tính thu nhập hoặc tính lợi nhuận mới tăng thêm

Trên đây chúng tôi đã giải trình cặn kế phương thức tính lơi nhuận trung bình hàng năm đo công trình mang lại Lơi nhuân thưc tế từng năm xác định theo quyết toán của XN ( công ty ) Từ những giá trí lơi nhuân cụ thể của mặt hàng găng từng năm, xác định tỷ lệ lãi trung bình tính toán

Cồn giá trị doanh số ( thu nhâp ) mặt hàng găng từng năm được xác định môt cách chính xác theo các hoá đơn bán hàng và theo sổ sách kế toán của đơn vị Doanh số từng năm tương ứng với số lượng găng bán ra ,

?_ Danh sách môt số đơn vị đã ký hợp đồng tiếp nhận chuyển giao công nghệ hoặc mua sản phẩm của công trình với giá tri lớn nhất;

Trong hơn mười năm qua XN (Công ty ) đã cung cấp găng mổ với số lượng lớn cho nhiều khách hàng môt cách ổn định Chỉ xin nêu ra môt sốkhách hành chính và số lượng mua trong các năm gần đây 2002,2003,2004

( Xin xem phụ lục kèm theo )

8.6, Hiệu quả kinh tế - xã hội và khoa hoc - công nghệ

- Công trình thưc hiện phù hơợp với chủ trương của Bộ y tế : nghiên cứu tư sản xuất trong nước các vật tư y tế tiêu hao cơ bản chủ yếu , Sản phẩm của công trình tạo ra đáp ứng kip thời yêu cầu phòng bệnh , chữa bệnh , phục vụ nhân dân và an ninh , quốc phòng

-Sản phẩm của công trình đạt tiêu chuẩn quốc tế hiện hành(ISO 10282:2002 ) nhưng

có giá thấp hơn sản phẩm nhâp ngoại cùng chất lương từ 30 % đến 50 %

Nếu chỉ tính chênh lêch rẻ hơn là 30 % thì từ năm 1994 đến hết năm 2004 công trình

đã góp phần tiết kiêm chỉ phí phục vụ công tác phòng chữa bệnh cho nhà nước và nhân dân là: 40.923.157.000 VNĐ

(Xem bảng chỉ tiết )

8.7 Các giải thưởng KHCN đã giành được của công trình

Trang 16

TT Hình thức và nội dung giải thưởng Năm tang thưởng

1 Giải bạc chất lượng Việt nam ( Bộ Khoa học công 1996

nghệ và môi trường cấp )

2 | Huy chương vàng tặng cho Găng phẫu thuật Y tế 1996

XN cao su Ytế ( Hôi chợ cac doanh nghiệp vừa và nhỏ

VN lần 2)

8.8 Văn bằng bảo hô (nếu có)

a) Bằng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích đã được cấp trong nước

b) Văn bằng bảo hộ ở nước ngoài

Xí nghiệp ( Công ty ) chưa đăng ký bằng bảo hộ trong nước và ngoài nước cho công trình

Trang 17

4 Địa chỉ, điện thoại nhà riêng

28c Khu 100 căn Phường 14 Quân 10 Tp Hồ chí Minh

Diện thoại : 8442040 , 0903903652

5 Quá trình và nơi đào tạo, chuyên ngành đào tạo (từ bậc đại học trở lên)

- Kỹ sư cơ khí Hoá chất ( Đại học Bách khoa Hà nôi , khoá 7, 1962 - 1966 , tốt nghiệp tháng 10 năm 1966 )

- Cử nhân Ngoại ngữ Anh văn ( Đại học Ngoại ngữ Hà nôi + Trường ngoại Ngữ Doanh thương Sài gòn [ liên kế t ] , khóa học 1994-1997 ) tốt

Trang 18

-1/74- 12/74 van đảm nhân các cơng tác trên , đi cơng tác B ( vào Ban Dân Y Nam bộ

-B2)

- 12/14- 1976 tiếp tục cơng tác tại Ban Dân Y Nam bộ , 30/4/75 tiếp quản TP Sài gịn-

Gia định sau đĩ cơng tác tại Ban Quân quản SG —GÐ ( Kho cơ phân — Tổng Kho Y

Dược phẩm ) - Uy viên Ban chấp hành CÐ cơ sở

- 1977-1986 cơng tác tại Cơng ty Thiết bị và Hố chất XN cấp I Tp HCM

Trưởng phịng Kế hoạch , Phĩ Giám đốc Kỹ thuật ,kiêm trưởng phịng Kỹ thuật

Ủy viên Ban chấp hành CĐ cơ sở, Chỉ ủy viên chỉ bơ Cơng ty

-1987 -1995 Giám đốc XN cao su Y tế, Phĩ bí thư — Bí thư chỉ bộ ( từ 1994 là

Dang uỷ viên Dang ủy khối Bơ Y tế )

- 1996- 2002 vẫn đảm nhân các cơng tác trên , ngồi ra được bổ nhiêm : Phĩ Tơng

giám đốc Tơng cơng ty Thiết bị Y tế Việt nam ( chỉ làm Đảng ủy viên Đảng ủy khối

Bộ Y tế hai khố )

- 2003 đến nay Chủ tích HĐQT kiêm Tổng Giám đốc cơng ty cổ phần MERUFA

( chuyển đổi từ XN cao su Y tế ), thơi giữ nhiêm vụ Phĩ Tơng giám đốc Tơng cơng ty

Thiết bị Y tế Việt nam khi XN được cổ phần hố ( 2003 )

Huy chưong kháng chiến chống Mỹ hạng nhất Bằng khen của Thủ tướng chính phủ ,

Huy hiệu ngành Y tế., chiến sỹ thi đua cơ sở liên tục nhiều năm

Từ 2001 đến nay : Phĩ chủ tịch HợTrang thiết bị Y tế Tp HCM

Từ 2004 đến nay ủy viên Ban chấp hành Hơi Trang thiết bị Y tế VN õŠ

Đơng tác giả

Cơng trình khơng cĩ đồng tác giả theo Quy định tạm thời : Về điều kiện, tiêu chuẩn, trình

tự và thủ tục xét tạng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học

và cơng nghệ năm 2005 (Ban hành kèm theo Quyết định số 33/2005/QĐ-TTg

ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ)

10 Các Cơ quan tham gia chính (nếu cĩ)

Cơng nghiệp | 8.351.003 (Giám đốc ) | nghệ và thiết bị,cũng như theo mơt số bản vẽ

(Trung tam | Fax 8344975 thiết kế các cơ cấu quan trọng của hệ thống

tư chế tạo hệ thống bể đơng kết , bể nhúng gang thiết bị lọc đơng kết, các thiết bị rửa

khuơn

tráng khuơn và thổi khơ khuơn bằng giĩ

Trang 19

®Có thể kê khai bổ sung thành trang riêng

Trong qúa trình nghiên cứu thiết kế công nghệ- thiết bị toàn bộ tác giả công trình đã

nhận được sự hỗ trợ ,giúp đỡ nhiệt tình và hiệu qủa của các cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ

chủ chốt trong công ty :

1 Cố kỹ sư Lê thi Hiên ( Trưởng phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm )

2- Kỹ sư Lê quảng Ba ( nguyên Trửơng phòng Cơ điện )

3- Kỹ sư Trần đình Khương ( Trưởng phòng kiêm Quản đốc PX cơ điện )

4- Kỹ sư Hoàng hữu Phước ( Phó Quản đốc PX cơ điện )

5- Ds Thái như Vinh ( nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật )

6- Ds Nguyễn tiến Đoàn (nguyên Quản đốc PX găng , Phó chủ tịch thường trực

HĐBHLĐ)

7- Ks Tô hiển Luong ( nguyên Quản đốc PX Condoms )

8- Thạc sĩ Giang ngọc Tuấn (nguyên Trưởng phòng Kiểnm tra chất lượng sản phẩm )

9- CN Hà thúc Sơn (nguyên Quản đốc PX Condoms )

10-CN làm tiến Cáo ( nguyên kế toán trưởng , Phó Giám đốc XN }

11- KS Trương xuân Lan ( Phó Giám đốc XN )

12- Kỹ sư Mai đình Hoá (nguyên Phó Giám đốc XN )

13 - Ds Lê hiển Vinh (nguyên Phụ trách phong Kinh Doanh , phó phòng KH )

14 - Ds Nguyễn văn Thạnh ( nguyên Trưởng phòng Kế Hoạch và Phó GD XN )

15- Kỹ sư Đỗ minh Vững ( nguyên Trưởng ban Mặt hàng mới và chuyên viên phòng

Ktưra chất lượng sản phẩm )

16- KS Nguyên ngọc Linh ( Quản đốc PX pha trôn , phụ trách PX cao su khô )

17 - Ks Pham van Long ( Quản đốc PX Gang )

18-CN Lệ thi thiên Nga ( Kế toán trưởng )

19- KS Truong đình Duy ( Trưởng phòng Kỹ thuật )

20- CN Nguyễn thị Hồng Hạnh ( Phụ trách PX kiểm tra xử lý găng )

21- CN Ngô qúy Hoàng Trang ( nguyên phó QĐÐ PX đóng gói — Trưởng phòng KH )

22—CN Lê thị hoàng Ngọc ( Phụ trách PX đóng gói )

và nhiều đồng nghiệp khác tại XN

23——KS Vũ hoài Nam và các KS đồng nghiệp tại Viện máy và dụng cụ công nghiệp

Không có sư hỗ trợ , giúp đỡ qúy báu của các cá nhân trênđây công trìnhkhông thể

hoàn thành và đạt được hiệu quả cao

Tác giả xin chân thành bày tỏ sư biết ơn sâu sắc đối với các đóng góp , giúp đỡ của các

KS, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ nói trên

Tac gia cũng chân thành cảm ơn Bộ Y tế đã chỉ đạo và đề ra các chủ trương chính

sách sáng suốt để công trình có thể dưa vào đó triển khai hiệu qủa , cảm ơn Vụ trang

thiết bị Bộ Y tế ( đại diện là KS Nguyễn xuân Bình va KS Duong van Tinh , nguyén

Trang 20

và đương kim Vu tritong ) , Tong cong ty Thiét bi Y té Viet nam ( dai dién la KS Hoàng thuỷ Lạc —- Tổng Giám đốc ) đã theo rõi , đôn đốc sát sao , giúp đỡ công trình thưc hiện thành công

11 ý kiến của tổ chức xét thưởng cấp cơ sở - nơi sáng tạo công trình hoặc tác giả đang làm việc hoặc quản lý tác giả

a Giá trị công nghệ : Xí nghiệp Cao su y tế ra đời năm 1987 với nhiệm vụ sản xuất bao

cao su tránh thai phục vụ chương trình kế hoạch hoá gia đình của Nhà nước Trong thời

gian này găng phẫu thuật chủ yếu được nhập khẩu hoặc sử dụng bằng nguồn viện trợ ngày càng ít dần Một số cơ sở sắn xuất bằng phương pháp thủ công với số lượng rất nhỏ , chất lượng kém Là một kỹ sư máy hoá chất đã nhiều năm công tác trong ngành trang thiết bị y tế., kỹ sư Phạm Xuân Mai đã suy nghĩ và trăn trở rất nhiều Ấp ủ nguyện vọng sắn xuất các sản phẩm phẩm y tế và giải quyết tình trạng khan hiếm găng phẫu thuật ( tại các bệnh viện thường một đôi găng phẫu thuật thường được tái sử dụng nhiều lần ) cũng như đa dạng hoá mặt hàng cho Xí nghiệp Sau một vài năm sản xuất bằng phương pháp thủ công , từ năm 1992 kỹ sư Phạm Xuân Mai đã nghiên cứu, thiết kế, chỉ đạo chế tạo

và đưa vào sản xuất thành công găng phẫu thuật trên đây chuyển tự động Công trình của

KS Phạm Xuân Mai có tính sáng tạo cao , giải quyết được hàng loạt các vấn để then chốt

về công nghệ và cơ khí như :

- Tìm ra các thông số phù hợp cho quá trình sản xuất tự động : pha chế latex , pha chế

đông kết, rửa găng bằng dung dịch nước để nâng cao độ sạch của găng loại bổ các hoá

chất dư thừa còn bám trên găng ( hiện nay đa số các dây chuyền sản xuất tại các nước như Malaysia , Thái lan vẫn tiến hành lột khô bằng bột )

- Thiết kế và chỉ đạo gia công cơ khí toàn bộ dây chuyên găng tự động , Ks Phạm Xuân Mai đã giải quyết một loạt các vấn để về thiết bị như : chiều dài bể nhúng đông kết , đường lượn của của cánh khuấy để tạo ra sản phẩm không có khuyết tật , chiều dài của

hệ thống gia nhiệt để phù hợp với mặt bằng của Xí nghiệp

b Hiệu quả kinh tế :

Công trình sẳn xuất găng trên dây chuyển tự động do Ks Phạm Xuân Mai thiết kế và chỉ đạo chế tạo đã đạt được hiệu kinh tế cao , tiết kiệm ngoại tệ ( như báo cáo của công trình

) Trong trường hợp nhập một dây chuyền tương tự sẵn xuất găng phẫu thuật của nước

ngoài phải tốn nhiễu triệu đô la Mỹ thì đây truyễển sản xuất găng tự động của Ks Phạm Xuân Mai chỉ bằng 1/20 ( chưa tới 100.000 USD / dây chuyên ) đã tiết kiệm được hàng chục tỷ đồng Trong điều kiện không được cấp kinh phí bằng ngân sách để nghiên cứu khoa học của Nhà nước, với nguồn kinh phí rất hạn hẹp của Xí nghiệp , ba dây chuyển sản xuất găng hiện hữu của Công ty MERUEA đã tiết kiệm một khoản tiển hàng triệu đô

la mà nếu phải nhập khẩu bằng vay vốn ODA hay bằng tiền của Công ty thì Công ty CP MERUFA ( XN Cao su y tế trước đây ) không thể thực hiện được vì thời gian khấu hao phải mất hàng chục năm hoặc giá thành găng bị nay lên quá cao không

Trang 21

thể chấp nhận được Thời gian hoàn vốn của Công ty khi sử dụng các dây chuyển tự thiết

kế không đáng kể ( 2 - 3 năm cho dây chuyển số 1 ) Đối với Công ty, từ chỗ doanh thu

và lợi nhuận của mặt hàng găng phẫu thuật chỉ chiếm 10% - 20% thì hiện nay doanh số

và lợi nhuận do mặt hàng ging dem lai la 80% -90% Bảo đảm việc làm và thu nhập cho

250 người lao động tại Công ty

c Hiệu quả kinh tế - xã hôi :

Hội đồng Giải thưởng cấp cơ sở đặc biệt đánh giá cao hiệu quả về mặt kinh tế ~ xã hội đốt với công trình của ks Phạm Xuân Mai

Trong hoàn cảnh ngành Trang Thiết bị y tế còn rất non yếu , hiện nay Chính phủ và Bộ Y

tế đã có chính sách để đầu tư cho ngành Trang Thiết bị vươn lên đáp ứng nhu cầu khám

chữa bệnh ( Chính sách đầu tư cho ngành Trang Thiết bị trong giai đoạn 2005 — 2010 vừa được ban hành ) Bằng lòng say mê nghiên cứu khoa học và tâm huyết với ngành Trang Thiết bị y tế ks Phạm Xuân Mai đã ngày đêm nghiên cứu và chỉ đạo chế tạo dây chuyển găng trong điều kiện hết sức khó khăn về kinh tế và thông tin khoa học Được sự đồng long hỗ trợ của tập thể kỹ sư và công nhân của Công ty công trình ngày càng được hoàn thiện tốt hơn , dây chuyển sau hoàn thiện tốt hơn dây chuyển trước Điều này chứng tỏ trí tuệ của một kỹ sư Việt nam mặc dù phải đảm nhiệm cương vị giám đốc nhưng vẫn say

mê nghiên cứu và chỉ đạo chế tạo một công trình không thua kém đây chuyển đang sử

dụng tại các nước tiên tiến khác

Thương hiệu găng phẫu thuật MERUFA dần được khẳng định trên thương trường và có một chỗ vị trí vững vàng ( chiếm 60% - 70% thị phần găng tay phẫu thuật ) Các bệnh

viện lớn đầu ngành như bệnh viện Bạch mai , bệnh viện Việt đức , Bệnh viện Chợ rẫy ,

Viện Quân y 103, Viện Quân y 108 đều sử dụng găng phẫu thuật MERUFA

12- Các phu luc kém theo 1 - Sơ đồ công nghệ — thiết bị dây chuyển sản xuất găng mổ

2- Thuyết minh sơ đồ dây chuyển — thiết bị sản xuất găng mổ

3- Hình chụp hệ thống nhúng tạo hình găng tự động

4- Tờ giới thiệu về găng phẫu thuật của MERUFA ( do công trình sản xuất )

5- Biểu đồ sản lượng găng tiêu thụ (1998-2005 )

6- Biểu đồ găng tiệt trùng , găng trần do MERUFA sản xuất ( năm 2000-2005 ) 7- Thống kê các đơn vị mua găng phẫu thuật của MERUFA với số lương lớn

( trong các năm 2002-2004 ) 8- Bản tính chỉ phí tiết kiệm ngoại tệ do MERUFA sản xuất được găng phẫu thuật ( 1994-2004 )

9- Giấy chứng nhân đăng ký lưu hành sản phẩm trang thiết bị Y té 1996 ,1999,2003 10- Phiếu tiếp nhận bản công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá

11- Kết quả kiểm tra chất lương sản phẩm găng phẫu thuật theo ISO 10282-2004

Trang 22

12- Bản copy Giải thưởng chất lương Việt nam năm 1996

13 - Giấy chứng nhân huy chương vàng Hôi chơ triển lãm 1996

14 - Bản copy Huân chương LÐ hạng ba tăng XN Cao su Y tế

15 - Bản copy bằng khen Thủ tướng chính phủ tặng cho KS Pham xuân Mai

16- Các bản nhân xét của các đơn vị khách hàng lớn về chất lưọng găng phẫu thuật

do MERUFA sản xuất , năm 2005 ( BV Hùng vương , BV Bạch Mai , BV Quân đôi103 , Công ty Dược phẩm TW 2 , Công ty TBYT TW Đà nắng

17 - Bản vẽ mặt bằng mới của Công ty cổ phân MERUFA Lich sử Công ty

Thành phố HCM ngày 4-4-2005 Người đăng ký

Kỹ sư Phạm xuân Mai

Trang 23

(

Trang 24

XUẤT GĂNG MỔ

1 Latex cao su tư nhiên từ các công ty cao su chuyển về , được bảo quần trong các

thùng chứa bằng thép không rỉ , đung lượng từ 10-20 m3 Thùng chứa có hệ thống khuấy

liên tục và được bổ sung dung dich Amoniac thường xuyên, giữ cho chất lưọng Latex ổn

định Latex được bảo quản ở chế độ HA ( high Ammonia)

2- Latex duocly tâm lần thứ 2 ( double centrifuged ) để loại bỏ các tạp chất , tác nhân gây

đị ứng , các độc tố

3- Latex sau khi ly tâm được chuyển theo đường ống (dùng hệ thống bơm đẩy khí nén )

đến phân xưởng pha trôn ( compounding section ) Tại đâyLatex được pha chế với các

hoá chất đã được nghiễn mịn ( trong 1 vài ngày ) Môi trường pha chế là môi trường kiểm , sử dụng dung dich Ammoniac nồng độ cao , lấy từ tháp hấp thụ Ammoniac Sau

đó Latex được lưu hoá sơ bộ trong nhiều giờ Quá trình lưu hoá được khống chế nhiệt độ

tự đông bằng các digital thermostats

4- Latex được kiểm tra kỹ các thông số kỹ thuật và sau đó được đưa vào thiết bị hút chân không phá bọt Tại thiết bị này các bọt khí xuất hiện trong qúa trình pha chế được loại

bỏ

5- Sau đó Latex được đưa vào thiết bị ủ nhiệt ( hoặc thiết bị làm lạnh ) tùy theo tình

trạng kỹ thuật Trong qúa trình ủ ( làm lạnh ) các thông số kỹ thuật của mủ được kiểm tra

theo rõi liên tục

6- Các thùng Latex sau khi ủ được chuyển đến hệ thống nhúng tạo hình tự động găng

mổ Hệ thống nhúng tạo hình đài 27m rông 2m và cao 6m, thưc hiên nhiều bước công nghệ liên tục trong quá trình tạo hình sản phẩm : rửa khuôn ~ tráng khuôn - thổi khô bể mặt khuôn — sấy khuôn - nhúng đông kết - sấy khô đông kết - nhúng Latex — sấy sơ bộ

~ vê mép găng — thẩm thấu bột — lưu hoá ( lưu hoá 1 + lưu hoá 2 + lưu hoá 3 )- lôt găng khỏi khuôn

Hệ thống nhúng tạo hình tư đông chạy liên tục 24/24, 6ngày / tuần Có 2 công nhân làm việc trên môt hệ thống ( công nhân lôt găng ) Môi trưởng ca trông coi cả 4 hệ thống Mọi thông số công nghê trên hệ thống được kiểm ssoát chặt chẽ và điều chỉnh tự động Hang ngày , 2 lần , các kiểm soát viên Phòng KCS kiểm tra mọi thông số chính của hệ thống ghi sổ và báo cáo Trưởng phòng- Giám đốc Các chênh lệch sai sót liên quan đến thông số KT được điều chỉnh kip thời

Trang 25

báo cho trưởng ca khắc phục

7- Găng sau khi lột ra từ hệ thống nhúng tạo hình , đưọc chuyển đến thiết bị rửa găng kiểu quay đảo Ở đây găng được rửa sạch nhờ tác động cơ khí và các dung môi rửa thích

hợp Việc rửa kỹ găng góp phần quan trọng trong việc loại bỏ các hoá chất dư thừa trong găng ( do không tham gia hết vào quá trình lưu hoá ), các tác nhân gây dị ứng cũng như csác độc tố khác như Proteins gây dị ứng và các NÑitrosamines , Nitrosable amines vv

7- Găng sau khi rửa kỹ được chuyển đến thiết bị trồn bôt Bat sử dụng ở đây là bôt ngô biến tính loại bio-absorbable ( có thể được dịch cơ thể hấp thụ ) đạt tiêu chuẩn Dược điển

Mỹ Lượng bôt đưa vào được khống chế kỹ, bảo đảm vừa đủ để chống dính Yêu cầu less powder được kiểm soát thường xuyên

§- Găng sau quá trình trôn bột được đưa đến các thiết bị sấy quay tròn gia nhiệt dùng điện Nhiệt độ và thời gian sấy lưu hoá đưọc khống chế tự đông Quá trình sấy được thưc hiện nhằm bảo đảm cho găng được lưu hoá hoàn toàn , do vậy găng dai , bển, khó rách

9- Sau khi sấy , găng được chuyển giao cho phân xưởng kiểm tra xử lý găng Tại phân xưởng này găng được kiểm tra từng chiếc ( chế độ kiểm tra 100% ) để phát hiện loại bỏ các găng bị lỗ thủng , điểm yếu và các khuyết tật chính khác Từng chiếc găng được thổi

vào môt lượng khí khoảng 1- 1.5 lít và được kiểm tra toàn diện bởi ngưồi kiỂm tra Sau

kiểm tra, từng chiếc găng được đóng dấu ký hiệu tên người kiểm( để nâng cao ý thức trách nhiêm của người kiểm cũ ng như dễ truy tìm nguồn gốc sản phẩm khi có sự cố kỹ thuật ) Một tổ kiểm soát viên của Phòng Kiểm tra chất lượng kiểm tra ( sác xuất ) lại kết qủa kiểm tra của PX

10 — Sau đó găng được đóng gói vào các túi giấy hai lớp ( giấy trang Polyethylene )va

đưa đi tiệt trùng trong các thiết bị tiệt trùng sử dụng khí E.O ( Ethylene oxide ) Quy trình

và trình tư tiệt trùng được thưc hiên , kiểm soát kỹ môt cách tự động với các thiết bị điều

khién PLC

Nhân viên Phòng Kiểm tra chất lượng lấy mẫu trong từng lô tiệt trùng gửi Viên Pasteur

Tp HCM để kiểm tra độ vô trùng Lô hàng chỉ được chuyên đi đóng gói vào thùng carton khi đạt kết qủa kiêm tra vô trùng ở viên Pasteur

13 — Các tuí găng tiệt trùng được đóng gói vào các hộp trung gian và các thùng carton

vân chuyển để nhâp kho

Ngày đăng: 09/08/2016, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w