1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LICH SU VIET NAM TU NAM 1945 ĐEN NAM 1975

146 529 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 224,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Đấu tranh chống giặc ngoại xâm: Đứng trước tình thế một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng vàChính phủ ta thực hiện sách lược phân hóa kẻ thù, triệt để lợi dụng mâuthuẫn trong hàn

Trang 1

LICH SU VIET NAM TU NAM 1945 ĐEN NAM 1975

Giai đoạn từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946

Cuộc Chiến Tranh Bảo Vệ Và Xây Dựng Chính Phủ Nhân Dân

Tuy nhiên với bản chất phản động, xâm lược, chủ nghĩa đế quốc thựcdân vẫn tiếp tục tìm mọi thủ đoạn để xâm lược, giành giật lại những thuộcđịa đã mất Việt Nam cũng trở thành đối tượng tranh nhau giữa các nước

đế quốc Mĩ , Anh, Pháp, Tưởng

* Giặc ngoài:

Theo hòa ước Pốtxđam tháng 7-1945:

Trang 2

+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng với danh nghĩaĐồng minh vào giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất là cướp nước ta,chúng đã mang theo bọn Việt quốc, Việt cách để âm mưu tiêu diệtĐCSĐD, lật đổ chính quyền cách mạng.

+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam thực dân Anh cũng với danh nghĩaĐồng minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng thực dân Anh đã hà hơi tiếpsức cho Pháp quay lại xâm lược Việt Nam Được sự ủng hộ của quân độiAnh, ngày 2-9-1945, quân Pháp đã xả súng vào đồng bào ta đang mít tinhmừng ngày độc lập ở Sài Gòn, làm 47 người chết, nhiều người bị thương

Đêm 22 rạng 23-9-1945, quân Pháp cho quân đánh úp trụ sở Ủy bannhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiếntranh xâm lược nước ta lần hai

-Kinh tế:

Nước ta vốn là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phánặng nề, sản xuất bị đình trệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt Thêmvào đó là thiên tai hạn hán, lũ lụt thường xuyên xẩy ra

Nạn đói cuối 1944 đầu 1945 làm hơn 2 triệu người chết đói vẫn chưakhắc phục xong thì nguy cơ nạn đói mới lại đe dọa

- Văn hóa, giáo dục:

Chế độ thực dân, phong kiến để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề, đặcbiệt là hơn 90% dân số bị mù chữ; các tệ nạn cờ bạc, riệu chè, mê tín dịđoan, nghiện hút còn phổ biến

Cách mạng vừa thành công, chính quyền non trẻ mới thành lập, chưa đượccủng cố, chưa có kinh nghiệm, lại phải đương đầu với nhiều khó khăn,nguy hiểm từ mọi phía Đây là thời kì thực sự khó khăn, vận mệnh Tổ

quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Tuy vậy, cách mạng nước ta lúc này không chỉ gặp khó khăn mà còn

có những thuận lợi cơ bản:

1 Đất nước được độc lập, có chính quyền trong tay

Trang 3

2 Nhân dân có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đoànkết trong khối đại đoàn kết dân tộc.

3 Có sự lãnh đạo của Đảng, với 15 năm kinh nghiệm và có vị lãnh tụthiên tài Hồ Chí Minh lãnh đạo

=> Tình hình trên đặt ra một yêu cầu cấp bách, trước mắt cho toànĐảng, toàn dân ta là phải bảo vệ nền độc lập tự do, bảo vệ chính quyềncách mạng vừa giành được

2 Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng trước 6-3-1946.

* Bước đầu xây dựng nền móng của chế độ mới:

Nhiệm vụ trước mắt của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là xâydựng và củng cố chính quyền vừa giành được

Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thờingày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tiến tới cuộc Tổng tuyển cửcàng nhanh càng tốt, theo thể lệ phổ thông đầu phiếu

Ngày 891945, Chính phủ lâm thời cách mạng ra sắc lệnh số 14

-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”.

Ngày 6-1-1946, cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức, vì Đảng ta đã:Nhận thức được tầm quan trọng của chính quyền nhân dân nhằm pháthuy sức mạnh của toàn dân

Có đủ ưu thế về chính trị để đối phó với kẻ thù trên mặt trận ngoạigiao

Cuộc bầu cử thành công rực rỡ, trên 90% cử tri đi bỏ phiếu và bầuđược 333 đại biểu Đây là thắng lợi vô cùng to lớn, thể hiện niềm tin củanhân dân vào Đảng, vào Chính phủ

Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên, thông qua danhsách chính phủ Liên hiệp chính thức do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu

Sau bầu cử Quốc hội, các địa phương ở Bắc Trung Bộ và Bắc Bộcũng đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổthông đầu phiếu

Trang 4

Từ 28-10 đến 9-11-46, Quốc hội họp kì thứ 2 (với 290 đại biểu thamdự), thông qua Báo cáo của chính phủ, thông qua các nghị quyết về nội trị,ngoại giao, thành lập Chính phủ mới, bầu ban dự thảo Hiến pháp

Ngày 3-11-46, Chính phủ mới được thành lập gồm 14 thành viên do

Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ ngọai giao

Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủCộng hòa chính thức được thông qua

Như vậy, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân làthắng lợi có ý nghĩa chính trị to lớn trong việc củng cố khối đoàn kết toàndân, trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc Đây là cơ sởpháp lý vững chắc góp phần nâng cao uy tín của Chính phủ Việt Nam dânchủ Cộng hòa trên trường quốc tế

* Diệt giặc đói:

- Biện pháp trước mắt:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi thực hành tiết kiệm, nhường cơm,

xẻ áo giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện “hũ gạo tiết kiệm”, “ngày đồng tâm”.

Nghiêm cấm dùng gạo, ngô, khoai, sắn nấu riệu

Chính phủ có những biện pháp tích cực để điều hòa thóc gạo giữacác địa phương trong cả nước, ra lệnh nghiêm trị những ai đầu cơ tích trữthóc gạo

- Biện pháp lâu dài:

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!”

Hưởng ứng lời kêu gọi, một phong trào thi đua tăng gia sản xuất dấy

lên khắp nơi, với khẩu hiệu “không một tấc đất bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng”…

Chính phủ cách mạng ra Sắc lệnh số 11 ngày 7-9-1945 bãi bỏ thuếthân và các thứ thuế vô lí của chế độ cũ Ra thông tư giảm tô 25%, giảmthuế ruộng 20% cho nông dân, tịch thu ruộng đất của Việt gian và đế quốcchia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho cả nam và nữ…

- Kết quả:

Chỉ trong một thời gian ngắn sản xuất nông nghiệp đã được phục hồi

Vụ mùa năm 1946, ở Bắc Bộ đã gieo cấy được 800.000 ha với sản lượngđạt 1.155.000 tấn Nạn đói dần được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cảithiện một bước

Trang 5

Vì sao, khi khó khăn cấp bách và lâu dài nhất của nước ta là ngoạixâm và nội phản nhưng TW Đảng lại đề ra nhiệm vụ giải quyết nạn đóiđầu tiên?

Vì :

Nước ta là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề, thiên tai liên tiếp xảy ra Hậu quả nạn đói do Nhật-Pháp gây ra cuối 44 đầu 45 vẫn chưa được khắc phục thì nguy cơ nạn đóimới xuất hiện, đe dọa nghiêm trọng đời sống của nhân dân

Lụt lội, hạn hán kéo dài làm cho đồng ruộng không thể cày cấy được.Nạn lụt vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ 8-1945 làm cho mùa màng bị mất trắng.Tiếp sau đó là tình trạng hạn hán kéo dài không thể canh tác được

Miền Nam vựa lúa lớn nhất của nước ta bị cô lập

Phải cung cấp một lượng khổng lồ lương thực thực phẩm sa xỉ choquân đội Tưởng

o vậy, TW Đảng đề ra nhiệm vụ giải quyết nạn đói đầu tiên

* Giải quyết nạn tài chính:

Ngày 31-11-1946, tiền Việt Nam được lưu hành trong cả nước

*Diệt giặc dốt:

Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nạn dốt là mộttrong ba kẻ thù cần phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm):

Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh mở khoa Bình dân học vụ, phát động phong trào xóa nạn mù chữ trong toàn dân.

Một phong trào bình dân học vụ được giấy lên Người biết chữ dạycho người không biết chữ

Trang 6

Chỉ trong vòng 1 năm từ 8-9-1945 đến 8-9-1946, trên toàn quốc đã

mở được 75.805 lớp học với 97.664 học viên và xóa mù chữ cho hơn 2,5

đạo đức mới với nội dung “cần- kiệm- liêm- chính”; bài trừ các tệ nạn xã

hội cũ (rượu chè, cờ bạc, mại dâm…), những hủ tục cúng lễ (ma chay,cưới xin linh đình…) ra khỏi đời sống

* Diệt trừ nội phản:

Vạch trần bộ mặt của bọn phản động, trừng trị các tổ chức phản cách

mạng, tay sai của Tưởng, giải tán các Đảng phái phản động như “Đại Việt quốc gia xã hội Đảng”, “Đại Việt quốc dân Đảng”.

* Đấu tranh chống giặc ngoại xâm:

Đứng trước tình thế một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng vàChính phủ ta thực hiện sách lược phân hóa kẻ thù, triệt để lợi dụng mâuthuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, để loại dần từng kẻ thù, tập trung mũi nhọnvào kẻ thù chính là thực dân Pháp, cuộc đấu tranh này diễn ra qua hai thờikì:

Để giảm bớt sức ép của kẻ thù, tránh những hiểu nhầm trong vàngoài nước Ngày 11-11-1945, Đảng tạm rút vào hoạt động bí mật với

“sách lược” tự giải tán, chỉ để lại một bộ phận hoạt động công khai với

danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Tuy nhiên mọi sự nhânnhượng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

• Chính quyền được giữ vững

Trang 7

• Đảng phải lãnh đạo chính quyền.

• Hồ Chí Minh phải đứng đầu Chính phủ

• Độc lập chủ quyền của đất nước phải được tôntrọng

• Nhằm hạn chế sự phá hoại của Tưởng và tay sai,tại phiên họp đầu tiên , Quốc hội khóa I, đồng ý:

Nhường cho Tưởng 70 ghế trong Quốc hội, cho Nguyễn Hải Thần (Đảng Việt cách) làm Phó chủ tịch nước và 4 ghế Bộ trưởng trong chính

phủ (ngoại giao, kinh tế, canh nông và xã hội) cho bọn tay sai của Tưởng.

Nhận cung cấp lương thực và tiêu tiền “Quan kim”, “Quốc tệ” đã

mất giá

Đối với bọn tay sai của Tưởng (Việt quốc, Việt cách) chínhquyền cách mạng dựa vào quần chúng nhân dân kiên quyết vạch trần âmmưu, hành động chia rẽ và phá hoại của chúng Những kẻ có đủ bằngchứng bị trừng trị Ra Sắc lệnh trấn áp bọn phản cách mạng như: Sắc lệnh

5-9-45 giải tán “Đại Việt quốc gia Đảng”, “Đại Việt quốc dân Đảng”

Lập tòa án trừng trị bọn phản cách mạng…

Tóm lại, nhân nhượng với Tưởng là cần thiết, đó là một sách lược

đúng đắn, sáng tạo, nhằm tập trung đánh Pháp ở Nam Bộ, giảm bớt khókhăn cho ta, vô hiệu hóa quân Tưởng xâm lược

+ Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam.

Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầuhàng Đồng minh, Chính phủ Đờgôn đã quyết định thành lập đạo quânviễn chinh, dưới quyền chỉ huy của tướng Lơcơlec và cử Đô đốcĐacgiăngliơ, sang làm cao ủy Đông Dương

Ngày 2-9-1945, khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức mít tinhmừng độc lập, thực dân Pháp đã xả súng vào đám đông làm 47 người chết,nhiều người bị thương

Ngày 6-9-1945, quân Anh đến Sài Gòn, kéo theo là một đại độiquân Pháp, vừa đến Sài Gòn, chúng yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ trang,thả hết tù binh Pháp, cho quân chiếm bến tàu cùng một số vị trí quan trọngtrong thành phố

Đêm 22 rạng 23-9-1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, quân Phápcho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thànhphố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần hai

Trang 8

Đồng bào Nam Bộ đã kiên quyết đánh trả bọn xâm lược bằng mọihình thức và mọi thứ vũ khí như; triệt nguồn tiếp tế của địch ở trong thànhphố, dựng trướng ngại vật trên đường phố, đánh kho tàng, phá nhà giam…ngăn cản không cho chúng mở rộng địa bàn chiếm đóng.

Ngày 5-10-1945, tướng Lơcơlec đến Sài Gòn cùng với nhiều đơn vị

bộ binh và xe bọc thép Có sự hỗ trợ của quân Anh và quân Nhật, quânPháp phá vòng vây xung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn, đánh chiếm các tỉnhNam Bộ và Nam Trung Bộ

Vì chưa có thời gian chuẩn bị, lực lượng vũ trang của ta còn yếu, tổchức lại phức tạp, nên cuộc chiến đấu gặp không ít khó khăn và tổn thất

Ngày 25-10-1945, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị mở rộng, tại Thiên

Hộ (Cái Bè, Mĩ Tho) Sau khi kiểm điểm, rút kinh nghiệm chiến đấu, Hộinghị quyết định những vấn đề quan trọng nhằm đẩy mạnh cuộc khángchiến ở Nam Bộ như; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố các đơn

vị vũ trang đã có, xây dựng thêm nhiều đơn vị vũ trang mới…

Sau Hội nghị, các cán bộ đảng viên vượt gian khó, dựa vào quầnchúng xây dựng lại cơ sở và phong trào cách mạng

Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát độngphong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, đồng thời chuẩn bị đối phó với

âm mưu mở rộng chiến tranh của Pháp

Hàng vạn thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ Hầu hết các tỉnh ở

Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều thành lập từ 1 đến 2 chi đội “Nam tiến” vào

Nam giết giặc Những chiến sĩ hăng hái, có ít nhiều kinh nghiệm chiếnđấu, những vũ khí và trang bị của ta tốt nhất lúc đó đều giành cho quân độiNam tiến

Nhân dân Bắc Bộ và Trung Bộ cũng thường xuyên tổ chức quyêngóp tiền bạc, quần áo, thuốc men… ủng hộ đồng bào Nam Bộ

Vấp phải sự kháng cự của quân và dân ta, quân Pháp bị chặn đứng ởnhiều nơi như ; Nha Trang, Tuy Hòa, Buôn Ma Thuật Trong khi đó, ngaytrong thành phố Sài Gòn, quân và dân ta vẫn tiến hành chiến tranh du kích,tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị tổ chức kháng chiến lâu dài

b/ Từ 6-3-1946 đến 19-12-1946:

Hòa hoãn với thực dân Pháp để đuổi quân THDQ về nước và quét sạch bọn tay sai phản động.

Hiệp ước Hoa- Pháp 28-2-1946:

1.Tại sao Pháp và quân Trung Hoa Dân quốc lại kí kết Hiệp ước?

Trang 9

Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thựcdân Pháp đề ra kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước ta.Nhưng thực lực của Pháp lúc này chưa có đủ (3,5 vạn), trong khi chưabình định xong miền Nam Muốn đánh chiếm miền Bắc chúng phải giảiquyết hai trở ngại:

ên cạnh đó, sau một thời gian dùng lực lượng vũ trang xâm lược ở miền

Nam không đạt kết quả - không thể đánh nhanh thắng nhanh.

goài ra, chúng còn muốn tiến quân ra Bắc bằng con đường ngoại giao

Về phía quân Trung Hoa Dân Quốc lúc này cần tập trung lực lượngđối phó với lực lượng cách mạng của ĐCS Trung Quốc Bọn tay sai củachúng ở Việt Nam đã lộ rõ bộ mặt phản dân hại nước, không có cơ sởchính trị, xã hội trong nước và cũng thấy rằng không thể tiêu diệt cáchmạng Việt Nam

=> Chính vì vậy, thực dân Pháp và quân Trung Hoa Dân Quốc đã kíHiệp ước Hoa- Pháp

2 Nội dung Hiệp ước Hoa- Pháp 28-2-1946 và ảnh hưởng của nó tới cách mạng Việt Nam?

- Nội dung Hoa-Pháp:

1. Tưởng được Pháp trả một số quyền lợi ở Trung Quốc; Trả lại các

tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc

2. Được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Hoa Namkhông phải đóng thuế

3. Pháp được quyền đem quân ra miền Bắc thay thế quân Tưởng làmnhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật

- Tác động:

Như vậy, Hiêp ước Hoa-Pháp đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn:

+ Hoặc cầm súng chiến đấu chống thực dân Pháp khi chúng kéo quân ra Bắc, đồng thời chống cả quân Tưởng (Nếu như vậy nhân dân ta

phải đối phó với hai kẻ thù cùng một lúc trong khi chính quyền cách mạng

Trang 10

còn non trẻ, lực lượng vũ trang còn chưa xây dựng được bao nhiêu, kinh tế

đang gặp nhiều khó khăn…).

+ Hoặc là hòa hoãn, nhân nhượng tạm thời với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù, đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị kháng chiến về sau.

Xanhtơni Bản hiệp định Sơ bộ với

- Nội dung Sơ bộ:

Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mộtquốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, quân đội vàtài chính riêng

Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào miềnBắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, sốquân này sẽ đóng ở những địa điểm quy định và sẽ rút dần trong thời hạn 5năm

Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quânđội của mình tại vị trí cũ, tạo không khí thuận lợi đi đến cuộc đàm phánchính thức bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam, chế độ tương laicủa Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở ViệtNam

- Ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946.

Việc kí hiệp định Sơ bộ là một chủ trương đúng đắn và kịp thời củaĐảng và Chính phủ ta Ta đã tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phảichống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc, đẩy được 20 vạn quân Tưởng và bọntay sai của chúng về nước

Tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố chính quyền và xây dựnglượng chính trị, vũ trang chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài

Tạm thời ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra toànquốc của thực dân Pháp

Trang 11

Về mặt pháp lí, Chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là mộtquốc gia tự do, không còn là thuộc địa của Pháp.

Hiệp định Sơ bộ thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, đã đưa

đất nước thoát khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

Tạm ước 14-9-1946:

Ngày 31-5-1946, chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm nướcPháp với tư cách là thượng khách Cùng ngày, phái đoàn chính phủ ViệtNam dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng dẫn đầu, cũng lên đường sangPháp để đàm phán chính thức

OR

Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, do ta đấu tranh kiên quyết,cuộc đàm phán chính thức giữa hai chính phủ Việt Nam và Pháp được tổchức tại Phôngtennơblô, từ ngày 6-7-1946 bàn về:

Địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước.

Tổ chức liên bang Đông Dương.

Vấn đề thống nhất ba kỳ và việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ

Những vấn đề kinh tế- văn hóa và thảo một dự thảo hiến pháp.

Hội nghị kết thúc vào đầu tháng 9-1946 (10-9-1946) mà không đạt

được kết quả nào do sự ngoan cố của Pháp Ở Đông Dương quân Pháptăng cường khiêu khích Quan hệ Việt - Pháp căng thẳng Yêu cầu đặt ra làcần phải có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thêm thời gian hòahoãn, làm cho nhân dân Pháp thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và

dã tâm xân lược của thực dân Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đó đang ởthăm nước Pháp với tư cách là thượng khách, đã kí với đại diện chính phủ

Pháp là Mutê - Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, bản Tạm ước

14-9-1946, nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa ở VN

- Nội dung Tạm ước.

có mấy điểm chính sau:

- Chính phủ VN và chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợptác như Hiệp định Sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán chính thức sẽđược triển khai chậm nhất vào tháng giêng năm 1947

- Chính phủ VN đảm bảo các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế

- văn hóa của người Pháp ở VN

Trang 12

- Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ,đảm bảo các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

- VN và P thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thânthiện

- Việt Nam trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên quy định thời gian

và cách thức

Đây là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế hếtsức khó khăn lúc đó của đất nước

Bằng việc kí Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9-1946, chúng ta

đã đập tan âm mưu của thực dân Pháp trong việc cấu kết với Tưởng đểchống lại ta, đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước, khiến cho bọn tay saimất chỗ dựa

Điều quan trọng là nhân dân ta có thời gian hòa bình để xây dựng vàcủng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vềsau

Giai đoạn từ ngày 19-12-1946 đến ngày 21-7-1954 :

Toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược

a Hoàn cảnh lịch sử (Âm mưu, hành động chiến tranh của Pháp).

Tại sao TƯ Đảng và Chính phủ cm lại phát động cuộc khángchiến toàn quốc?

- Nguyên nhân sâu xa:

Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9, ta nghiêm chỉnh

thực hiện nội dung đã kí trong Hiệp định và Tạm ước Còn Pháp từngbước lấn tới, xé bỏ Hiệp định và Tạm ước

- Nguyên nhân trực tiếp:

Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp tiến đánh các vùng tự

do của ta

Ở Bắc Bộ và Trung Bộ, (20-11-1946), thực dân Pháp đánh chiếm HảiPhòng Hạ tuần tháng 11-1946, thực dân Pháp tấn công Lạng Sơn

Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12-1946 chúng chiếm một số cơ quan của

ta (Bộ tài chính, Bộ giao thông công chính và một số cơ quan khác của ta),phá các công sự của ta và gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (17-12) vàphố Yên Ninh, đầu cầu Long Biên…

Trang 13

Trắng trợn hơn, ngày 18-12, chúng gửi tối hậu thư đòi ta phải phá bỏcác chướng ngại, công sự, giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soátthủ đô cho chúng và đe dọa nếu không đáp ứng thì ngày 20-11 chúng sẽhành động.

Những hành động của thực dân Pháp đã làm cho nền độc lập, chủquyền của nước ta bị đe dọa nghiêm trọng Lịch sử đặt cho ta hai conđường phải chọn một:

 Một là đầu hàng, chịu trở lại làm nô lệ

 Hai là toàn dân cầm súng đánh đuổi thực dân Pháp, giữvững độc lập

Trong hoàn cảnh ấy, nhân dân ta chỉ có một con đường cứu nướcduy nhất là phải cầm vũ khí tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược

Vì vậy, trong hai ngày 18 và 19-12-1946, Hội nghị bất thườngBCHTW Đảng CSĐD mở rộng họp tại Vạn Phúc (Hà Đông) , đã quyếtđịnh toàn quốc kháng chiến

Đêm 19-12-1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng và Chính

phủ đọc lời kêu gọi đồng bào cả nước chống Pháp “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa…

“Không ! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ !”.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươn dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

 Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ

Cuộc chiến đấu trong các đô thị ở vĩ tuyến 16 mở đầu toàn quốckháng chiến chống Pháp:

b Chủ trương chiến đấu;

Do bản chất chiến tranh xâm lược và ưu thế về quân số, binh khí kĩ

thuật, thực dân Pháp thực hiện âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” Cụ

Trang 14

thể là chúng dự định bất ngờ xé bỏ Hiệp định và Tạm ước đã kí với ta,nhanh chóng đánh chiếm các thành phố, thị xã rồi từ đó đánh ra các vùnglân cận.

Với phương châm “đánh lâu dài”, lúc này Đảng ta chủ trương;

1. Kìm chân địch trong các thành phố một thời gian, tiêu hao một bộphận sinh lực của chúng, bảo toàn lực lượng của ta

2. Đồng thời đập tan một bước kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng, tiếp tục chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Về chiến thuật ta lấy đánh du kích là chủ yếu

Lí do: Cuộc chiến đấu trước hết diễn ra ở Hà Nội và các đô thị do âmmưu của thực dân Pháp định đánh úp cơ quan đầu não của ta, tiêu diệt chủlực của ta để nhanh chóng kết thúc chiến tranh

c Diễn biến.

Cuộc chiến đấu diễn ra đầu tiên ở Hà Nội vào đêm 19-12-1946 Ácliệt nhất và tiêu hao nhiều sinh lực địch là ở Hà Nội, nơi giam chân địchlâu nhất là ở Nam Định

Khoảng 8h tối ngày 19-12, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phámáy, tắt điện, đó là hiệu lệnh chiến đấu trong toàn thành phố

Cuộc chiến đấu diễn ra trong điều kiện só sánh lực lượng hai bên hết

sức chênh lệch; Phía Pháp có 6500 sĩ quan và binh lính, ngoài ra còn có

13000 Pháp kiều, trong đó số đông được trang bị vũ khí.

Phía ta, có 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 trung đội công an xung phong, một lực lượng tự vệ nội, ngoại thành gồm 28.500 người và các tầng lớp nhân dân sẵn sàng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Lực lượng vũ trang của ta đồng loạt tấn công vào các vị trí của quânPháp

Nhân dân khiêng đồ đạc, giường tủ, bàn ghế…ra đường Công nhânđẩy toa tầu chặn các ngã tư, ngã năm Cây cối, cột điện được ngả xuốngngang đường, làm thành những trướng ngại vật và chiến lũy để chiến đấu.Người già, trẻ em nhanh chóng tản cư ra ngoại thành

Lực lượng vũ trang “Quyết tử quân”, được sự hỗ trợ của nhân dân đã

chiến đấu anh dũng ngăn từng bước tiến của quân thù

Từ ngày 19-12 đến ngày 29-12-1946, những cuộc chiến đấu ác liệt đãdiễn ra ở nội thành Hai bên giành nhau từng khu nhà, góc phố, đặc biệt ởBắc bộ phủ, đầu cầu Long Biên, ga Hàng Cỏ, khu chợ Đồng Xuân…

Trang 15

Trong khói lửa của cuộc kháng chiến (ngày 6-1-1947), Trung đoànthủ đô đã ra đời.

d Kết quả.

Sau gần hai tháng chiến đấu (từ 19-12-1946 đến 17-2-1947) giamchân địch trong thành phố, đến ngày 17-2-1947, Trung đoàn Thủ đô (trungđoàn chủ lực đầu tiên) đã vượt qua vòng vây của địch trở về căn cứ antoàn

Trong thời gian từ 19-12-1946 đến 17-2-1947, quân và dân Hà Nội

đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch (chiến đấu gần 200 trận,diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, bắn rơi và phá hủy 5 máybay…), hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch trong thành phố một thờigian Tạo điều kiện cho việc di chuyển các kho tàng, công xưởng và bảo

vệ an toàn cho TW Đảng và Chính phủ trở về căn cứ địa kháng chiến ViệtBắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài

Tại các thành phố Nam Định, Huế, Đà Nẵng… nhân dân ta anh dũngchiến đấu làm tiêu hao sinh lực địch và ngăn bước tiến của chúng, giữ gìn

và phát triển lực lượng của ta:

Ở tp.Nam Định, ta bao vây địch từ 19-12-46 đến 17-3-47(kìm chân địch lâu nhất).

Ở tp.Vinh, địch phải đầu hàng ngay từ đầu cuộc chiến.

Ở tp.Huế, trong vòng 50 ngày đêm quân ta bao vây tiến công địch.

Ở tp.Đà Nẵng, quân dân ta bao vây, tiến công và đánh lui nhiều đợt tấn công của địch

Đến ngày 12-3-1947, cuộc chiến đấu trong các đô thị ở Bắc vĩ tuyến

16 đã giành được thắng lợi

 Đánh bại hoàn toàn âm mưu đánh úp cơ quan đầu não của ta

ở Hà Nội và tiêu diệt lực lượng cách mạng

Bom ba càng là loại bom như thế nào?

Bom ba càng là loại vũ khí chống tăng cầm tay, do Nhật chế tạo, tathu được và dùng trong chống Pháp (1946-1947)

Trang 16

Cấu tạo bom gồm hai phần; Phần nổ hình nón, đáy có ba càng ngắn ởđáy trước gắn ngòi châm nổ, hoạt động theo hiệu ứng nổ lõm Phần cánphía sau làm bằng tre hoặc gỗ dài chừng 2m.

Khi chiến đấu, người chiến sĩ cầm cán bom đâm thẳng ba càng vàomục tiêu, những chiến sĩ này phần lớn bị sát thương khi bom nổ, vì vậyđược mệnh danh là quyết tử quân

Trong 60 ngày đêm chiến đấu mở đầu toàn quốc kháng chiến ở HàNội, nhiều chiến sĩ Trung Đoàn thủ đô, tự vệ và tiểu đoàn 56 Hà Đông đãdùng bom ba càng diệt xe tăng của địch tiêu biểu là:

Chính trị viên Đại đội Lê Gia Định đã dập bom tiêu diệt cả một tiểuđội địch trước Bắc Bộ Phủ

Chiến sĩ Dương Văn Quỳ đã đâm bom ba càng diệt một xe thiết giápcủa địch tại Cống Trắng

Chiến sĩ Nguyễn Phúc Lai dùng bom ba càng phá hủy một xe tăngđịch gần ngã tư Giảng Võ

Ngày 21-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ

Quyết tử quân “Các em là đội quyết tử, các em quyết tử để cho tổ quốc quyết sinh Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tư lập của dân tộc ta mầy nghìn năm để lại…”.

Ngày nay, ai đến thăm Hà Nội đều muốn thăm hai nhóm tượng đài

cùng một chủ đề “Quyết tử để cho tổ quốc quyết sinh”, một nhóm để ở sau

đền Bà Kiệu bên Hồ Hoàn Kiếm, một nhóm để ở vườn hoa Hàng Đậu- nơitrước đây đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt trong 60 ngày đêm oai hùng củađồng bào và chiến sĩ thủ đô

Việc phát động cuộc kháng chiến 19-12-1946 có ý nghĩa gì?

Mục đích:

Đây là cuộc kháng chiến nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc

Là cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi sau khi các thỏa thuậngiữa ta và Pháp bị phá bỏ

Trang 17

Khẳng định cuộc kháng chiến của ta mang tính chất chính nghĩa,tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.

Về lịch sử: phù hợp với yêu cầu lịch sử

5 Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng

Tình thế khẩn cấp buộc Đảng, Chính phủ ta phải có quyết định kịpthời

Để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, ngay từ đầu Đảng và Chủtịch Hồ Chí Minh đã kịp thời vạch ra đường lối kháng chiến để lãnh đạocuộc kháng chiến của nhân dân ta Đường lối kháng chiến được hình thànhtừng bước qua các văn kiện sau:

Bản chỉ thị Toàn dân kháng chiến của BTVTWĐ (12-12-1946),vạch rõ mục đích, tính chất, phương châm cơ bản và chương trình khángchiến Chỉ thị khẳng định; cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàndân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 12-46):

(19-Nguyên nhân;

- Do chính sách xâm lược của thực dân Pháp ; …Chúng ta muốn hòabình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thựcdân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa

- Nêu quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta nhằm bảo vệ độc lập, tự

do ; “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào !

Chúng ta phải đứng lên !

Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người VN thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến có ý nghĩa như một lời hịch cứunước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước của dân tộc ta

Trang 18

- Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng bí thư

Trường Chinh 9-1947 (viết 3-1947), nhằm giải thích rõ đường lối kháng

chiến của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Văn kiện Đại hội II (2-1951) của Đảng ; hoàn chỉnh đường lốikháng chiến chống Pháp

6 Nội dung đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng.

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì độc lậpdân tộc, tự do dân chủ của nhân dân, chống lại sự xâm lược của Pháp,hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc và vì hòa bình thế giới Đường lốichiến tranh nhân dân Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến đó là;

“kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì dựa vào sức mình là chính và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế”

* Kháng chiến toàn dân Thế nào là kháng chiến toàn dân?

Cơ sở:

Lí luận: Dựa trên quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng ” của chủ nghĩa Mác- Lê nin; tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của

Hồ Chí Minh (mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài)

và chủ trương “kháng chiến toàn diện” của Đảng ta.

Thực tiễn: Chiến lược kháng chiến toàn dân là sự kế thừa và phát huy

truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, “toàn dân đánh giặc”, “trăm

họ ai cũng là binh” của ông cha Và căn cứ vào mục đích của cuộc kháng

chiến

Ví dụ: Cách mạng tháng Tám, nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạocủa mặt trận Việt Minh đã nổi dậy giành chính quyền trên cả nước trongvòng nửa tháng từ 14 đến 28-8-1945

Kháng chiến toàn dân là động viên tất cả các lực lượng, các tầng lớp

xã hội, đưa họ vào các đoàn thể kháng chiến trong mặt trận dân tộc thốngnhất, từng bước xây dựng một lực lượng chính trị hùng hậu và lực lượng

vũ trang vững mạnh gồm 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương vàdân quân du kích, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc Chủ tịch HCM

giải thích: “Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến, anh nông dân cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cá cũng là kháng chiến…Đó là toàn dân kháng chiến”.

Trang 19

Người còn nói: “mỗi công dân là một chiến sĩ, mỗi làng là một chiến hào 20 triệu đồng bào Việt Nam quết đánh tan mấy vạn thực dân phản động Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng “Quyết không làm nô lệ” Chỉ

có một chí “Quyết không chịu mất nước” Chỉ có một mục đích duy nhất

“Quyết kháng chiến để thống nhất và độc lập Tổ quốc”.

Muốn phát huy sức mạnh của toàn dân kháng chiến phải đánh lâudài, mà muốn có lực lượng để đánh lâu dài phải huy động lực lượng toàndân Có toàn dân tham gia mới thực hiện được kháng chiến toàn diện và tựlực cánh sinh

* Kháng chiến toàn diện.

Cơ sở:

Lí luận và thực tiễn:

Trên báo Cứu quốc, chủ tịch HCM giải thích “trước kia chỉ đánh nhau về quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt ; quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng nên người ta gọi là chiến tranh toàn diện Nói tóm lại chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó không thể nào thăng lợi được”

Địch đánh ta toàn diện, ta phải đánh địch toàn diện, có như thế mớiphát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tạo điều kiện cho nhândân tham gia kháng chiến tùy theo khả năng của mình

Về quân sự: Động viên toàn dân tham gia lực lượng vũ trang Lực lượng ba thứ quân được hình thành và phát triển; Dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng

xóm là một pháo đài Phải bằng mọi cách, mọi hình thức tiêu diệt sinh lựccủa địch, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, tiến lên giải phóng đất đai

Về chính trị: Thực hiện toàn dân trong một mặt trận thống nhất

(Đại hội lần II, đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động Việt Nam, thống nhấtmặt trận Việt Minh và Liên Việt đầu 1951), của cố chính quyền, thốngnhất quân dân, thực hiện chính sách địch vận, làm tan rã ngụy quân, ngụyquyền

Về kinh tế: Đấu tranh chống lại sự phá hoại, lũng đoạn kinh tế của

địch Đẩy mạnh kinh tế, bồi dưỡng sức dân

Về văn hóa: Chống văn hóa nô dịch, ngu dân của địch, xây dựng

nền văn hóa dân tộc (phong trào đời sống mới; vệ sinh phòng bệnh, chống

mê tín…), đại chúng-khoa học

Trang 20

Về ngọai giao: Tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là hai dân

tộc bạn Lào- Campuchia, với các nhân dân xã hội chủ nghĩa khác và cácdân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới

* Kháng chiến trường kì:

Dựa vào cơ sở:

• Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê nin vào hoàn cảnh cụ thể của VN

Phát huy truyền thống đánh giặc của dân tộc “Lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều”.

• Vì so sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch, địchmạnh hơn ta về quân sự, kinh tế, ta chỉ mạnh hơn địch về tinh thần và cóchính nghĩa Địch muốn đánh nhanh thắng nhanh, nên ta phải đánh lâu dài

và tự lực cánh sinh Giặc Pháp là “vỏ quýt dày”, ta phải có thời gian mài

“móng tay nhọn”, rồi mới xé toang xác chúng ra Có như vậy mới phát

huy được ưu thế tuyệt đối của ta và để khắc phục những nhược điểm tạmthời về vật chất, kĩ thuật khiến ta càng đánh càng mạnh tiến tới giànhthắng lợi cuối cùng

* Tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.

Đảng ta đề ra chủ trương tự lực sánh sinh vì ta hiểu rõ mối quan

hệ giữa hai yếu tố chủ quan và khách quan, yếu tố chủ quan bao giờ cũngđóng vai trò quyết định Cuộc kháng chiến của ta phải do nhân dân thựchiện là chính mặc dù vẫn coi trọng sự hỗ trợ từ bên ngoài Bởi vì có nỗ lựcchủ quan mới phát huy được hết sức mạnh của mình và nếu không dựa vàosức mình là chính thì không thể đánh lâu dài được

Bác Hồ dạy rằng: “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” Người cho

rằng có tự lực mới có độc lập, có tự cường mới có tự do, có độc lập tự chủmới có sáng tạo

Toàn bộ đường lối kháng chiến nói trên thấm nhuần tư tưởng chiếntranh nhân dân Nó chứng tỏ cuộc kháng chiến của ta mang tính chất chínhnghĩa nên được nhân dân ủng hộ

Đường lối kháng chiến có tác dụng động viên dẫn dắt nhân dân tatiến hành cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh Dù phải vượt qua nhiều khó khăn gian khổ nhưng nhất định đi đếnthắng lợi cuối cùng

Trang 21

7 Cả nước tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau Tạm ước 14-9 và chuyến thăm Pháp 10-1946, thấy nguy cơchiến tranh mới sắp xẩy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho NguyễnLương Bằng lên Việt Bắc xây dựng căn cứ

Tháng 11-1946, TWĐ thành lập Đội công tác đặc biệt do Trần ĐăngNinh phụ trách, lo việc nghiên cứu di chuyển, chọn địa điểm để đặt cơ sở

cơ quan TW

Cuối 46 đầu 47, sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cuộc dichuyển bắt đầu

Để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, Đảng, Chính phủ và nhân dân

ta đã di chuyển các cơ quan, kho tàng lên chiến khu Việt Bắc

Đến 3-47, Hồ Chí Minh cùng các cơ quan lãnh đạo TW đã về đếnViệt Bắc

Trong vòng 3 tháng đầu kháng chiến toàn quốc, ta đã vận chuyểnhơn 3 vạn tấn máy móc và dụng cụ sản xuất, hàng vạn tấn nguyên vật liệu

về chiến khu để tiếp tục sản xuất phục vụ nhu cầu kháng chiến Riêng ởBắc Bộ, gần 2/3 máy móc được chuyển lên căn cứ Việt Bắc Nhờ đó, ta đãxây dựng đc 57 cơ sở sản xuất, đáp ứng nhu cầu kinh tế và quốc phòng

Đồng thời với các khẩu hiệu “Vườn không nhà chống”, “Tản cư cũng là kháng chiến”, “Phá hoại để kháng chiến” (Phá cho rộng, phá cho

sâu, phá cho thực dân Pháp không thể lợi dụng được) Nhân dân các đô thịnhanh chóng tản cư ra các vùng hậu phương và thực hiện phá nhà cửa,

đường xá, cầu cống không cho địch sử dụng trong những ngày kháng chiến nhân dân ta đã tự phá hủy 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường ô

tô, 30.500 cầu cống, 59.000 nhà cửa, 84 đầu máy và 686 toa xe lửa.

Mặt khác, Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân cảnước xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt:

a Về chính trị:

Chính phủ quyết định chia cả nước thành 14 khu hành chính Các ủyban hành chính chuyển thành Ủy ban kháng chiến - hành chính 10-1947,

để thực hiện nhiệm vụ “kháng chiến kiến quốc”.

Thành lập Hội Liên Việt quốc dân Việt Nam (Liên Việt) năm 1946.Đảng và Chính phủ chăm lo, củng cố, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhấtdưới hai hình thức: Việt Minh và Liên Việt để củng cố khối đoàn kết toàndân

Trang 22

b Về quân sự:

Tháng 2-1947, Chính phủ quy định ; “Mọi người dân tuổi từ 18 đến

45, được tuyển chọn tham gia các lực lượng chiến đấu ” Lực lượng vũ

trang các cấp không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị

c Về kinh tế:

Chính phủ đề ra chính sách nhằm duy trì và phát triển sản xuất, trước

hết là sản xuất lương thực, theo khẩu hiệu “Thực túc binh cường, Ăn no đánh thắng” Vì vậy sản lượng lúa năm 1947 đạt trên 2 triệu tấn

Việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng được chú trọng và pháttriển

8 Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.

1 Hoàn cảnh, âm mưu và hành động của Pháp.

* Hoàn cảnh:

Sau gần một năm chiến tranh lan rộng ra toàn quốc, tuy chiếm đượcnhiều vùng của nước ta, trong đó có những vùng quan trọng ở thành phố

và các đường giao thông Nhưng thực dân Pháp vẫn không thể nào kết

thúc chiến tranh Pháp bắt đầu lúng túng với kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”.

Trong khi đó Pháp gặp nhiều khó khăn;

Trên chiến trường; hao binh, tổn tướng, chi phí chiến tranh đè nặng

lên vai Lực lượng bị dàn mỏng, dễ bị ta tiêu diệt

Trong nước; gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị, tài chính, nhân dân lên án chiến tranh “bẩn thỉu” của chúng ở Đông Dương.

* Âm mưu:

Để giải quyết khó khăn, tháng 3-1947, Pháp cử Bôlae sang làm Cao

ủy Pháp ở Đông Dương, thay cho Đácgiăngliơ, vạch ra kế hoạch tấn cônglên Việt Bắc nhằm:

Trang 23

• Đánh phá căn cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến vàquân chủ lực của ta.

• Khóa chặt biên giới Việt- Trung, triệt đường liên lạc quốc tế

• Phá hoại cơ sở kinh tế, nhằm làm giảm khả năng chiến đấu của ta

• Giành thắng lợi quân sự, tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn,nhanh chóng kết thúc chiến tranh

* Hành động của Pháp: CUỘC HÀNH QUÂN MẬT DANH LÊ-A

Để thực hiện âm mưu, ngày 7-10-1947, Pháp huy động 12.000 quântinh nhuệ gồm thủy, lục và không quân cùng hầu hết các máy bay ở ĐôngDương chia làm 3 cánh tiến lên Việt Bắc;

8h 15’ Sáng 7-10, một binh đoàn dù do Đại tá Sôvanhắc chỉ huy nhảy

dù xuống chiếm đóng thị xã Bắc Cạn, thị trấn Chợ Mới, Chợ Đồn

Cùng ngày, một binh đoàn cơ giới do Đại tá Bôphơrê chỉ huy từLạng Sơn ngược đường số 4, đánh lên Cao Bằng, vòng xuống Bắc Cạn(phía Đông và Bắc) tạo thành gọng kìm toàn bộ phía sau Việt Bắc- gọngkìm thứ nhất

Ngày 9-10-1947, binh đoàn hỗn hợp bộ binh lính thủy đánh bộ do đại

tá Cômmuynan chỉ huy từ Hà Nội ngược sông Hồng, sông Lô lên TuyênQuang, Chiêm Hóa, đánh vào Đài Thị, bao vây phía Tây Việt Bắc - gọngkìm thứ hai

Khu vực càn quét đánh phá của địch là khu tứ giác Tuyên Đài Thị- Bắc Cạn- Thái Nguyên, rộng 3,600 km2 Khu vực trọng điểm làBắc Cạn- Chợ Chu- Chợ Mới Cơ quan lãnh đạo của ta nằm ở phía TâyNam Chợ Chu bị uy hiếp

Quang-2 Chủ trương của ta:

Để đối phó với âm mưu của địch, đồng thời xuất phát từ tư tưởng

chiến đấu lâu dài Ngày 15-10-1947, BTVTW Đảng ra chỉ thị ; “Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”, nhằm ;

Giữ vững căn cứ địa kháng chiến, bảo vệ cơ quan đầu não khángchiến, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân

Giữ gìn chủ lực của ta

Tiêu diệt sinh lực địch

3 Diễn biến:

Thực hiện chỉ thị của TW Đảng, trên các mặt trận, quân dân ta đãanh dũng chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, từng bước phá vỡ cácgọng kìm của chúng

Trang 24

Ở mặt trận đường số 3- Bắc Cạn: Quân ta chủ động bao vây và tiến

công địch, tập kích, phục kích trên 20 trận lớn nhỏ ở Chợ Mới, Chợ Đồn,Chợ Rã… cắt đứt đường tiếp tế của địch, buộc chúng phải rút khỏi chợĐồn, chợ Rã cuối tháng 11-1947

Ở mặt trận đường số 4- phía Đông, đường bộ: Quân ta tổ chức nhiều

trận phục kích trên đường số 4, tiêu biểu là trận đèo Bông Lau 30-10-1947,phá hủy 27 xe, tiêu diệt 240 tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng,đường số 4 trở thành con đường chết của giặc

Ở mặt trận sông Lô - Chiêm Hóa, phía Tây: quân dân ta liên tục

chặn đánh địch hàng chục trận trên sông Lô;

Ngày 24-10, 5 tàu chiến của địch có máy bay yểm trợ, từ TuyênQuang đi Đoan Hùng lọt vào trận địa phục kích của ta, ta bắn cháy 2 tàu

và bắn bị thương 2 tàu khác

Ngày 10-11, hai tàu chiến và 1 ca nô địch từ Chiêm Hóa về thị xãTuyên Quang, lọt vào trận địa phục kích của ta tại Khe Lau, quân ta bắncháy tàu và hàng trăm tên địch

Như vậy, hai gọng kìm Đông- Tây của địch bị bẻ gãy không khép lạiđược

Phối hợp với chiến trường Việt Bắc, ở các chiến trường khác trêntoàn quốc, quân ta đã đẩy mạnh hoạt động, kiềm chế không cho chúng đưaquân tiếp viện lên Việt Bắc;

Quân và dân Hà Nội liên tiếp mở những cuộc tập kích vào đồn bốtđịch ở ngoại thành như Gia Lâm, Cầu Giấy, Cầu Đuống…

Đầu tháng 12 - 1947, quân dân Sài Gòn mở hàng loạt cuộc tập kíchvào các đồn bốt, kho tàng của địch ở Thị Nghè, Gia Định, Gò Vấp…

Ở nhiều địa phương khác cũng có những cuộc tập kích vào đồn bốt,kho tàng của địch như Sơn La , Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Phòng,

… và các tỉnh Tây Nguyên

CUỘC HÀNH QUÂN XANHTUYA.

Trước tình thế bế tắc, Bộ chỉ huy Pháp quyết định vừa tổ chức rút lui

vừa huy động thêm lực lượng mở cuộc hành quân mang mật danh Xanhtuya, càn quét khu tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Việt Trì -

Phủ Lạng Thương Nhằm; lùng bắt kì được cơ quan đầu não kháng chiến,tiêu diệt lực lượng chủ lực Việt Minh, phá nát căn cứ địa

Hướng càn quét chính là Thái Nguyên; hai hướng khác là SôngThương - Yên Thế và khu vực Chợ Mới - Tuyên Quang xuống đồng bằng

Trang 25

Ngày 20-11, đợt tiến công mới bắt đầu.

Ngày 10 và 29-11, Bộ Tổng chỉ huy ra chỉ thị cho các mặt trận bố trílại lực lượng, bám sát trận địa, không bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt địch

Trên tất cả các hướng của địch đều bị quân ta chặn đánh tại địa điểm:Bình Ca, La Hoàng (Tuyên Quang), Đèo Gìang (Bắc Cạn), Phú Minh, Yên

Rã (Đại Từ, Thái Nguyên), quân Pháp thiệt hại nặng nề

Ngày 19-12-1947, đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc, chiếndịch kết thúc

4 Kết quả:

Sau hơn 2 tháng chiến đấu (75 ngày đêm) ta đã loại khỏi vòng chiến

đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô, pháhủy nhiều phương tiện chiến tranh

Căn cứ địa được giữ vững, cơ quan đầu não kháng chiến được bảo vệ

Chiến thắng Việt Bắc khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của quân

và dân ta có thể đẩy lùi những cuộc tiến công quân sự lớn của địch

So sánh lực lượng giữa ta và địch bắt đầu có sự thay đổi theo chiềuhướng có lợi cho ta

9 Quân dân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện

từ sau chiến dịch Việt Bắc.

* Âm mưu của Pháp:

Sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp âm mưu;

Chuyển sang đánh lâu dài với ta, thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

• Lập chính phủ bù nhìn 7-1949, do Bảo Đại làm Quốc trưởng kiêmThủ tướng

• Phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc bằng cách lập xứ tự trị ở cácvùng Hòa Bình, Tây Bắc

• Tăng cường bình định, giữ vững, củng cố vùng tạm chiến và pháttriển ngụy quân

* Chủ trương của ta;

Trang 26

Thực hiện phương châm chiến lược “đánh lâu dài”, phá âm mưu

mới của địch, Đảng và Chính phủ chủ trương tăng cường sức mạnh vàhiệu lực của chính quyền cách mạng từ TW đến địa phương, tăng cườnglực lượng vũ trang nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàndiện

* Những thành tựu đạt được:

a Trên mặt trận chính trị:

Phong trào thi đua yêu nước được phát động trong toàn quốc 1948) đã lôi cuốn mọi lực lượng xã hội tham gia thực hiện nhiệm vụ khángchiến kiến quốc

(6-Đầu 1949, Chính phủ tổ chức Bầu cử hội đồng nhân dân và ủy bankháng chiến hành chính các cấp nhằm tăng cường sức mạnh và hiệu lựccủa chính quyền dân chủ nhân dân các cấp Tăng cường khối đoàn kết toàndân, kiên quyết chống phá âm mưu thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại

Tháng 6-1949, Việt Minh và Liên Việt đã quyết định tiến tới thốngnhất hai tổ chức

Vận động đồng bào, ngụy binh trong vùng tạm chiến ủng hộ khángchiến

b Trên mặt trận quân sự:

Đảng và Chính phủ chủ trương động viên nhân dân thực hiện vũtrang toàn dân, phát triển chiến tranh du kích, tiến hành du kích chiến làchính, vận động chiến là phụ, rồi từ du kích chiến tiến lên vận động chiến

Giữa chợ, dân quân Tú Hộ (Hưng Yên), dùng dao, cuốc diệt địch.

Ở Hải Dương, phụ nữ Cẩm Giàng dùng đòn gánh đánh Tây.

Ở Thừa Thiên, dân quân Phú Vinh dùng mẹo vặt, tay không bắt sống địch, cướp súng…

Trên các đường giao thông quan trọng; Hà Nội Hải Phòng, Huế

-Đà Nẵng… thường diễn ra các trận phục kích của quân và dân ta, tiêu

Trang 27

biểu là trận La Ngà (3-1948), diệt cả một đoàn 60 xe quân sự và 150 tên địch.

- Dân quân du kích ra sức chống càn, bảo vệ làng mạc Quần chúngnhân dân phát huy nhiều sáng kiến đánh địch; đào hầm bí mật, giao thônghào, hầm chông, rào làng, đặt bẫy, xây dựng làng chiến đấu

Nhiều đội du kích dựa vào làng chiến đấu đã chống được những trậncàn lớn của địch, như làng Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Ngãi), đội dukích Lê Hồng Phong (Bình- Trị- Thiên), đội du kích Cao Phạ (Tây Bắc)…

Kết hợp với đấu tranh vũ trang, từ 1- 1948, thực hiện chỉ thị của

BTVTW Đảng, nhiều địa phương tiến hành “tổng phá tề”, đến cuối năm

đó thu được nhiều kết quả, đặc biệt là ở Bắc Bộ

“Tổng phá tề”thực chất là cuộc nổi dậy đồng loạt nhân dân vùng sau

lưng địch, có lực lượng vũ trang phối hợp và hỗ trợ dưới sự lãnh đạo của

Đảng, làm thất bại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt” của địch.

Làm cho nhân dân ta càng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sứcmạnh của kháng chiến, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển

Đi đôi với phát triển chiến tranh du kích, bộ đội ta còn đánh địchtheo kiểu vận động chiến do bộ đội chủ lực của bộ Tổng chỉ huy, của cáckhu cùng bộ đội địa phương các tỉnh thực hiện

Từ 1948, vận động chiến dần trở thành cách đánh tương đối phổ biếncủa quân đội ta Với nhiều trận phục kích thắng lợi như ; chiến dịch Nghĩa

Lộ 18-3-1948, giải phóng thị xã Nghĩa Lộ, bức địch rút 7 vị trí khác, 163địch ra hàng Chiến dịch Đông Bắc 10-1948, phá hủy 53 xe quân sự củađịch ở Lũng Phầy

Từ 1949-1950, quân ta mở một loạt chiến dịch tiến công địch; chiếndịch sông Đà 1-1949, chiến dịch sông Thao 5-1949, chiến dịch Lê HồngPhong 1-1950…

Phối hợp với hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh về kinh tế vàchính trị của quần chúng ở các đô thị, thành phố cũng phát triển

Ngày 9-1-1950, hơn 300 học sinh, sinh viên Sài Gòn- Chợ Lớnxuống đường biểu tình lên án chế đế quốc và tay sai

Chính quyền tay sai đàn áp dã man, học sinh Trần Văn Ơn bị sát hại.Hàng vạn người xuống đường đưa tang Trần Văn Ơn, biểu dương lựclượng

Trang 28

Ngày 19-3-1950, hơn 30 vạn đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn xuống

đường biểu tình chống Mĩ với khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc Mĩ !”, “Đế quốc Mĩ cút đi !”.

- Đồng thời, ta tích cực xây dựng lực lượng du kích, vũ trang, bộ độiđịa phương như ;

Cục pháo binh 5-1949

Cục thông tin liên lạc 31-7-1949

Ngày 28-8-1949, Đại đoàn chủ lực đầu tiên 308 được thành lập Ngày 10-3-1950, Đại đoàn 304 được thành lập

Ngày 27-12-1950, Đại đoàn 312 được thành lập

9-Kết quả : Tính đến 1950, chính quyền cách mạng đã tạm cấp được

253 863 ha ruộng đất cho gần 500 000 nông dân Nông dân phấn khởihăng hái sản xuất

Vì vậy, trong năm 1950, tính từ Liên khu IV trở ra, tổng sản lượnglúa đạt 2 414 830 tấn

Các cơ sở công nghiệp được xây dựng để đáp ứng nhu cầu quốcphòng và sinh hoạt của nhân dân

Trong những năm 1948-1948, ta đã sản xuất được súng cối 60 li và

Trang 29

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1948, Tổng bí thư Trường

Chinh đọc báo cáo “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” nêu rõ nền văn hóa mới được xây dựng theo phương châm “Dân tộc- Khoa học- Đại chúng” để phục vụ nhu cầu kháng chiến.

Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục phát triển Tính đến năm 1949

có khoảng 10 triệu người thoát nạn mù chữ

Từ 7-1950, Chính phủ đề ra chủ trương cải cách giáo dục phổ thông,nhằm xóa bỏ những tàn tích của nền giáo dục thực dân phong kiến, hướnggiáo dục phục vụ nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc và đặt nền móng chonền giáo dục dân tộc

Hệ thống các trường đại học và trung học chuyên nghiệp cũng bắtđầu được xây dựng (Trường Đại học sư phạm và Đại học Y – Dược)

Công tác phát triển y tế, vệ sinh phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho

nhân dân với phong trào ba sạch “Ăn sạch, uống sạch, ở sạch” được phát

Chính quyền được củng cố, chiến tranh du kích được phát triển

Ta tích cực xây dựng lực lượng kháng chiến, phát triển cơ sở quốcphòng, tăng cường sản xuất lương thực, phát triển kinh tế, văn hóa, giáodục để phục vụ kháng chiến

b Thế giới.

Tình hình thế giới cũng có nhiều chuyển biến có lợi cho ta

- Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dânTrung Hoa ra đời (1-10-1949) tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước

ta tiếp xúc trực tiếp với các nước XHCN

- Tiếp đó, 18-1-1950, Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa,ngày 30-1-1950 Chính phủ Liên Xô và trong vòng một tháng sau các nướcXHCN lần lượt công nhận, đặt quan hệ ngoại giao với ta

Trang 30

 Điều đó làm cho uy tín và địa vị của ta được nâng cao trêntrường quốc tế, cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhận được sự đồng tìnhủng hộ của nhân dân thế giới.

- Cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, Campuchia có những bướcphát triển buộc Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó;

Tháng 6-1950, Ủy ban dân tộc giải phóng Campuchia ra đời

Tháng 8-1950, Chính phủ kháng chiến Pa thét Lào được thành lập

- Phong trào đấu tranh của nhân thế giới mà đặc biệt là của nhân dânPháp phản đối cuộc chiến tranh của chúng ở Đông Dương, ủng hộ cuộckháng chiến của nhân dân ta ngày càng lên cao

Tình hình trên càng có lợi cho ta và bất lợi cho Pháp

2 Âm mưu của Pháp.

Trước tình hình đó, (nhất là từ sau cm Trung Quốc thành công), Mĩ

từng bước can thiệp sâu và “dính lứu trực tiếp” vào cuộc chiến tranh ở

Dông Dương;

Đồng ý với Pháp trong việc dề ra kế hoạch Rơ ve (13-5-1949)

Công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại (7-2-1950)

Đồng ý viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp (8-5-1950) nhằm từngbước nắm quyền điều khiển chiến tranh ở Dông Dương

Thực hiện kế hoạch Rơ ve, 6-1949, Pháp đưa nhiều vũ khí vào ViệtNam, thực dân Pháp nhằm:

1. Khóa chặt biên giới Việt Trung bằng cách tăng cường hệ thốngphòng ngự trên đường số 4, để tách cuộc kháng chiến của ta với các nướcXHCN

2. Thiết lập hành lang Đông – Tây “Hải Phòng- Hà Nội- Hòa Bình- Sơn La”, nhằm cắt đứt con đường liên lạc giữa Việt Bắc với các

liên khu III và IV

Với 2 hệ thống phòng ngự trên, Pháp chuẩn bị mở một cuộc tấn cônglên Việt Bắc lần 2 nhằm kết thúc chiến tranh

3 Mục đích và sự chuẩn bị của ta.

a Mục đích.

Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử trên, dựa trên những thắng lợi của tatrong hai năm 1948-1949… để đưa cuộc kháng chiến tiến sang giai đoạnmới, 6-1950, BTVTW Đảng quyết dịnh mở chiến dịch Biên giới nhằm 3mục đích sau:

Trang 31

1. Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

b Sự chuẩn bị của ta.

Với khẩu hiệu “Tất cả cho chiến dịch được toàn thắng !”, ta huy

động sức người, sức của khoảng 121.700 dân công, gần 4000 tấn lươngthực và súng đạn đảm bảo đủ dùng cho 3 vạn quân

Đoán được ý đồ của địch, quân ta mai phục, chặn đánh địch trênđường số 4 khiến cho 2 cánh quân của chúng không gặp được nhau Từ 1đến 8-10,quân ta tiêu diệt gọn 2 binh đoàn gồm, 7 tiểu đoàn địch, đánh tan

1 tiểu đoàn khác, làm thất bại kế hoạch rút quân của chúng

Đến lượt Thất Khê bị uy hiếp, quân Pháp buộc phải rút về Na Sầm

8-10, ngày 13-10 rút khỏi Na Sầm về Lạng Sơn

Cùng thời gian trên, cuộc tấn công của 6 tiểu đoàn Pháp lên TháiNguyên cũng bị đánh tan

Ngày 17-10, quân địch ở Đồng Đăng rút chạy, hôm sau 18-10 làquân Lạng Sơn rồi đến Lộc Bình, Đình Lập, An Châu

Chiến dịch kết thúc thắng lợi vào ngày 22-10-1950

Phối hợp với mặt trận biên giới, tại các chiến trường khác trên toànquốc quân dân ta đã ra sức đánh địch, kiềm chế không cho chúng chi việncho biên giới; quân ta hoạt động ở tả ngạn sông Hồng, Tây Bắc, Đường số

6, 12, buộc địch phải rút quân khỏi thị xã Hòa Bình 4-11-1950 Phong trào

du kích phát triển ở Bình -Trị -Thiên, liên khu V, Nam Bộ

Trang 32

5 Kết quả, ý nghĩa lịch sử.

a Kết quả.

Chiến dịch Biên giới thắng lợi, kế hoạch Rơ ve bị phá sản, ta đã đạt

được 3 mục tiêu

Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên địch, thu 3.000 tấn vũ khí và

5 phương tiện chiến tranh

Khai thông biên giới Việt- Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập dài750km với 35 vạn dân

Chọc thủng hành lang Đông- Tây, căn cứ địa Việt Bắc được giữvững và mở rộng, nối liền với các địa phương trong cả nước

 Từ sau chiến dịch Việt Bắc thu- đông 1947 đến chiến dịchBiên giới 1950 là bước phát triển của cuộc kháng chiến, quyền chủ độngtrên chiến trường đã thuộc về tay chúng ta

BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TỪ 1953

1951-Tại sao năm 50 Mĩ lại can thiệp vào chiến tranh ở Đông Dương?

+Quốc tế:

CNXH đã trở thành một hệ thống rộng lớn trên thế giới từ Tây sang Đông, ttajo điều kiện cho cách mạng Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em.

Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc lên cao, cổ vũ phong trào chống Pháp.

Phong trào phản đối chiến tranh của các lực lượng dân chủ và tiến

bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Pháp – Mĩ.

Mĩ muốn kéo dài và quốc tế hóa chiến tranh ở Việt Nam.

+ Trong nước:

Trang 33

Sau chiến dịch Biên giới 50, buộc Pháp phải chuyển từ thế chủ động sang thế bị động đối phó, khoét sâu những khó khăn của chúng:

Kinh tế; bị khủng hoảng, đặc biệt là chịu chi phí chiến tranh ở Đông Dương

Chính trị; Chính phủ lập nên, đổ xuống nhiều lần.

Xã hội; phong trào phản chiến lên cao.

=> Pháp cử Đờ lát Đờ tát xi nhi sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, vạch ra kế hoạch mới (với

4 điểm) nhằm ổn định tình hình và giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

a. Âm mưu, hành động của địch và chủ trương của ta

* Âm mưu của địch:

Sau thất bại nặng nề ở Biên Giới, thực dân Pháp lâm vào tình thế vôcùng khó khăn, lúng túng Vì vậy dù mâu thuẫn với Mĩ nhưng chúng vẫnphải dựa vào Mĩ cầu xin viện trợ để tiếp tục chiến tranh xâm lược

Về phía Mĩ, chúng có dã tâm biến Đông Dương thành thuộc địakiểu mới, lập thành phòng tuyến chống Cộng và ngăn chặn phong trào giảiphóng dân tộc Bởi thế, Mĩ đã tích cực giúp Pháp nhằm giàng buộc và từngbước hất cẳng Pháp để độc chiếm Dông Dương:

- Ngày 23-12-1950, kí với Pháp “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương” là Hiệp định viện trợ về quân sự, kinh tế- tài chính của Mĩ

cho Pháp thông qua đó từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương

- Tháng 9-1951 kí với Bảo Đại “Hiệp ước hợp tác kinh tế Mĩ” nhằm trực tiếp ràng buộc Chính phủ Bảo Đại vào Mĩ

Sau những hiệp định trên, viện trợ của Mĩ chiếm tỉ lệ càng caotrong ngân sách chiến tranh của Pháp ở Đông Dương: Năm 1950 là 52 tỉphrăng chiếm 19% ngân sách Năm 1954 là 555 tỉ ph răng chiếm 73%ngân sách

- Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự… của Mĩ đếnViệt Nam ngày càng đông

- Các trung tâm, các trường huấn luyện của Mĩ bắt đầu tuyểnchọn, đưa người Việt sang học ở Mĩ

- Dựa vào viện trợ của Mĩ, ngày 6-12-1950, Pháp cử Đại tướng

Đờ Lát đơ Tátxinhi sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao

ủy Pháp ở Đông Dương, vạch ra kế hoạch mới (với 4 điểm) nhằm ổn định

Trang 34

tình hình và giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ,nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

Kế họach Đờ Lát đơ Tátxinhi, gồm 4 điểm sau: (trọng tâm là củng cố

=> Âm mưu và thủ đoạn mới của địch đã đưa cuộc chiến tranhxâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương lên quy mô lớn, làm cho cuộckháng chiến của ta gặp nhiều khó khăn

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG 1951)

(2-a Hoàn cảnh:

Từ 1947 đến 1950 ta thu nhiều thắng lợi về quân sự và ngoại giao

Âm mưu mới của Pháp-Mĩ nhằm đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâmlược toàn diện, đòi hỏi cuộc kháng chiến của nhân dân ta phải tăng cườnghơn nữa tính chất toàn diện và sự lãnh đạo của Đảng Đứng trước yêu cầu

đó Đảng ta đã tiến hành Đại hội đại biểu lần 2

- Đại hội thông qua hai bản báo cáo quan trọng

1. Báo cáo chính trị do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày đã nêu rõ:

Trang 35

Thành tựu, kinh nghiệm của cách mạng thế giới.

Tổng kết kinh nghiệm của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo phong tràocách mạng Việt Nam từ khi có Đảng và khẳng định sự đúng đắn củađường lối chống Pháp của Đảng ta

Phê phán những tư tưởng sai lầm đã nảy sinh trong quá trình khángchiến

Xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam; tiêu diệt thựcdân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập thống nhất đấtnước

Biện pháp tăng cường lực lượng vũ trang, củng cố các đoàn thể quầnchúng, mở rộng đoàn kết, đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng

2. Báo cáo bàn về cách mạng Việt Nam của Tổng bí thư TrườngChinh nêu rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là:

Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhấthoàn toàn cho dân tộc

Xóa bỏ những tàn tích phong kiến, làm cho người cày có ruộng Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xãhội Việt Nam

Động lực cách mạng gồm ; công nhân, nông dân, tiểu tư sản và

tư sản dân tộc Trong đó nòng cốt là công nhân, nông dân, tri thức do giaicấp công nhân lãnh đạo

- Đại hội quyết định tách Đảng Cộng Sản Đông Dương để thành lập

ở mỗi nước một Đảng Mác-Lênin riêng Ở Việt Nam, Đại hội quyết địnhthành lập Đảng Lao Động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai.Hai nước Lào, Campuchia phải xây dựng ở mỗi nước một Đảng cáchmạng riêng cho phù hợp

Tại sao lại đổi tên Đảng thành Đảng lao động Việt Nam?

Từ một Đảng của 3 nước Đông Dương, Đại hội ĐCS lần II năm 51lại đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam, mà không lấy tên là ĐCS ViệtNam Vì:

Sau chiến dịch Biên giới 1950, ta giành được thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến, nên đòi hỏi của cuộc kháng chiến là có sự lãnh đạo của Đảng Để lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách nạng thành công thì yếu tố giữ vai trò quan trọng là đoàn kết lực lượng để tiến hành kháng chiến

Tên ĐCS Đông Dương chỉ là Đảng của giai cấp công nhân.

Trang 36

Chọn Đảng Lao động Đông Dương vì Đảng này không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà là Đảng của mọi tầng lớp nhân dân.

- Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới, quyếtđịnh xuất bản báo nhân dân làm cơ quan ngôn luận của TƯ Đảng

- Đại hội bầu ra BCHTW Đảng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Đảng

và đồng chí Trường Chinh (lại) làm Tổng bí thư

c Ý nghĩa đại hội:

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II là mốc đánh dấu bước phát triểnmới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta, làm tăng thêmlòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng

Qua nội dung Đại hội nhân dân ta hiểu rõ đường lối kháng chiến củaĐảng Nhân dân thế giới hiểu thêm về cuộc cách mạng Việt Nam, cáchmạng Việt Nam nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước Xã hội chủnghĩa, phong trào công nhân quốc tế Tạo điều kiện thúc đẩy cuộc khángchiến của ta tiến lên giành những thắng lợi mới

CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN KHÁNG CHIẾN1951-1953

Vấn đề hậu phương được Đảng và Chính phủ ta đặt ra ngay từ đầu

cuộc kháng chiến, phù hợp với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kì và tự lực cánh sinh” Có hậu phương vững chắc mới có

khả năng cung cấp về nhân tài, vật lực cho tiền tuyến ngày càng cao Lê

nin nói: “Trong cuộc chiến bên nào có hậu phương vững vàng thì bên đó

mở ra bước phát triển cho nhân dân 3 nước Đông Dương trong cuộc đấutranh chống kẻ thù chung Pháp và can thiệp Mĩ

Trang 37

Phong trào thi đua yêu nước ngày càng ăn sâu, lan rộng trong cácngành, các giới Ngày 1-5-1952, Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toànquốc lần thứ I được tổ chức đã chọn được 7 anh hùng; Cù Chính Lan, LaVăn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm, Trần ĐạiNghĩa, Hoàng Hanh và hàng chục chiến sĩ thi đua toàn quốc tiêu biểu chocác ngành công, nông, binh, tri thức, cổ vũ nhân dân ta trong công cuộckháng chiến kiến quốc.

1953, vùng tự do và vùng căn cứ du kích từ liên khu IV trở gia đã sản xuấtđược 2757 000 tấn thóc và hơn 650 000 tấn hoa màu

Công nghiệp phát triển nhanh chóng cơ bản đáp ứng nhu cầu củacuộc sống; dệt vải, nấu xà phòng, làm giấy…Đặc biệt là công nghiệp quốcphòng, năm 1953 ta sản xuất được 3.500 tấn vũ khí đạn dược, cung cấptạm đủ cho bộ đội thuốc men, quân trang, quân dụng

Đi đôi với đẩy mạnh sản xuất, Chính phủ đề ra chính sách nhằmchấn chỉnh chế khóa, xây dựng nền tài chính, ngân hàng và thương nghiệp.Giữa 1951 ban hành SL thành lập mậu dịch quốc doanh, SL về thuế nôngnghiệp 6-1951, ngân hàng quốc gia Việt Nam ra đời và phát hành tiềnmới

Về vấn đề bồi dưỡng sức dân Năm 1953, Đảng và chính phủ đãquyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất

Từ 4-1953 đến 7-1954, ta thực hiện 5 đợt giảm tô và một đợt cải cáchruộng đất ở 53 xã thuộc vùng tự do Thái Nguyên, Thanh Hóa Đến 1953,

từ liên khu IV trở ra ta cấp cho nông dân 184.000 héc ta ruộng đất, gópphần cải thiện cuộc sống, khiến họ hăng hái tham gia sản xuất, đóng gópcho tiền tuyến

c/ Văn hóa, giáo dục, y tế:

Xóa bỏ nền văn hóa nô dịch, ngu dân của thực dân Pháp, xây dựng

nền văn hóa mới theo phương châm “Dân tộc, Khoa học, Đại chúng”.

Trang 38

Văn nghệ sĩ hăng hái đi sâu vào đời sống của nhân dân để tự rènluyện và phục vụ nhu cầu kháng chiến, theo lời dạy của C/t Hồ Chí Minh

“Kháng chiến văn hóa, văn hóa kháng chiến”.

Phong trào thực hiện đời sống mới, chống mê tín dị đoan, vệ sinhphòng bệnh ngày càng lan rộng trong nhân dân

Tiếp tục cuộc cải cách giáo dục theo phương châm : “Phục vụ kháng chiến, Phục vụ dân sinh, Phục vụ sản xuất”, gắn nhà trường với đời sống

xã hội Đến 1952, ở các Liên khu Việt Bắc, III, IV và V đã có trên 1 triệuhọc sinh phổ thông Phong trào bình dân học vụ được đẩy mạnh, khoảng

14 triệu người thoát nạn mù chữ…

Mạng lưới y tế được củng cố, đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòngdịch Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân được coi trọng

CHỨNG MINH: Từ sau chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 đếntrước Đông- Xuân 1953-1954, quân dân ta luôn giữ vững và phát triển thếchủ động đánh địch trên chiến trường?

- Ta chọn đánh Trung du và đồng bằng vì:

Sau chiến dịch biên giới 1950, chủ trương và hành động của ta:Giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược trên chiến trườngchính

Ở các chiến trường khác, ta phát triển chiến tranh du kích để phối

hợp và làm thất bại âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, mở chiến dịch ở cả đồng bằng, trung du và

miền núi

Phương hướng của ta lúc này là nhằm vào trung du và đồng bằng(trước mắt là trung du)

Trung du và đồng bằng gồm 15 tỉnh thành, rộng 21.000 km, với8.000.000 dân, hình thành một khu tam giác với nhiều điểm tập trung đôngdân cư

Trang 39

Trung du là chiến trường chính diện của địch đối với căn cứ địakháng chiến Việt Bắc; là giải đất tiếp giáp giữa vùng địch tạm chiếm vàvùng tự do VB Bao gồm các tỉnh PT, VY, PY, Nam TN, BN, BG, HònGai, kéo dài từ Tây sang Đông khoảng gần 300km.

Sau 50, ta mở rộng vùng tự do ở phía Bắc Bắc Bộ, trung du trở thànhtuyến phòng thủ chủ yếu của địch, cùng với tuyến sông Đáy ở phía Tây-Nam tạo thành một vành đai bao quanh đồng bằng ngăn chặn mọi sự xâmnhập của ta vào đồng bằng Bắc Bộ

Với địch, trung du:

là địa bàn thuận tiện để tập trung lực lượng, tổ chức tiến công, uyhiếp Việt Bắc

là nơi đông dân, nhiều của có khả năng cung cấp nhu cầu cho chiếntranh

Với ta, trung du:

Là nơi có phong trào kháng chiến phát triển mạnh, lực lượng vũtrang phát triển mạnh, từng lập nhiều chiến công

Nếu đánh vào trung du, ta sẽ thu hẹp được phạm vi chiếm đóng củađịch, phá kế hoạch củng cố và bình định đồng bằng của chúng, làm thất

bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”.

=> BTVTW Đảng quyết định mở chiến dịch Trung du (mang mậtdanh chiến dịch Trần Hưng Đạo) nhằm mục đích: tiêu diệt sinh lực địch,

mở rộng kho lương thực, phát triển chiến tranh du kích, tranh thủ thời gianphá kế hoạch bình định của địch, tạo điều kiện mới để ta tiêu diệt thêmnhiều sinh lực địch

1 Các chiến dịch ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ (cuối 1950 đếngiữa 1951):

* Chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) (25-12-1950 đến

17-1-1951); đánh vào hệ thống phòng ngự của địch ở Vĩnh Yên, Phúc Yên tiêudiệt nhiều cứ điểm quan trọng của dịch và ngăn cản một phần kế hoạchcủng cố đồng bằng Bắc Bộ của thực dân Pháp

Trải qua 23 ngày đêm chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu5.000 địch, diệt 30 vị trí và 40 tháp canh, thu nhiều vũ khí các loại

* Chiến dịch Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám) (23-3-1951 đến

7-4-1951); ta đánh vào hệ thống phòng ngự của địch từ Phả Lại qua ĐôngTriều đến Uông Bí

Trang 40

Sau 14 ngày đêm chiến đấu, trên cả mặt trận chính diện và phối hợp,

ta tiêu diệt, bắt và làm bị thương trên 3.900 địch, diệt và bức rút 133 vị trí,tháp canh, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 xe tăng, 45 xe cơ giới Ta thiệt hại

600 người, bị thương 1.700 người

* Chiến dịch Hà-Nam-Ninh (Quang Trung) (28-5 đến 20-6-1951);

đánh vào hệ thống phòng ngự của địch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình

Sau 24 ngày đêm chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.000địch, diệt và bức rút hơn 30 vị trí, phá hủy hơn 30 xe lội nước, thu hơn1.000 vũ khí các loại Nhưng ta cũng bị tổn thất lớn

Tính chung trên chiến trường toàn quốc trong 6 tháng đầu 51, quândân ta đã tiêu diệt 40.000 địch Riêng Bắc Bộ, ta loại được 32.000 tên(17.000 trong 3 chiến dịch) Thu gần 10.000 súng các loại

=> Đây là những chiến dịch tiến công quy mô lớn của ta đánh vàophòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và Đồng bằng Bắc Bộ đã loạikhỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng kế hoạch bìnhđịnh của chúng Nhưng do địa bàn Trung du và Đồng bằng không có lợicho ta mà có lợi cho địch nên kết quả các chiến dịch còn hạn chế

2 Các chiến dịch ở miền núi

* Chiến dịch Hòa Bình (18-11-1951 đến 23-2-1952).

+ Hoàn cảnh:

Pháp: từ cuối 51 phải chịu sức ép từ nhiều phía, cùng với gánh nặngchiến tranh ở thuộc địa, Pháp phải góp 10 sư đoàn cho khối Đại TâyDương NATO Cùng với đó là sức ép chính trị của nhân dân cùng các phephái trong Quốc hội đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội nước Pháp ngàycàng căng thẳng

Để giải quyết, Pháp muốn có một thắng lợi quân sự nhất định để vừatrấn an dư luận và tinh thần binh sĩ, vừa để tranh thủ viện trợ của Mĩ

Hòa Bình có 15 vạn dân, nằm ở phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ.Thị xã Hòa Bình là trung tâm chính trị của đồng bào Mường, cách Hà Nội

75 km

Đánh Hòa Bình, Đờ lát hy vọng lập lại hành lang Đông –Tây, ngănchặn con đường giao thông của ta từ Bắc vào Nam, buộc chủ lực của đốiphương phải tham chiến, qua đó giành thắng lợi về quân sự để ở định tình

hình binh sĩ và dựng lại xứ “Mường tự trị”.

+ Diễn biến:

Ngày đăng: 09/08/2016, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w