1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế

49 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 753,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của Công ty cổ phần Chè Quân Chu, Thái Nguyên trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài từ một góc nhìn của doanh

Trang 1

ĐÀO DUY ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

SẢN PHẨM CHÈ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

CHÈ QUÂN CHU, THÁI NGUYÊN TRƯỚC THỀM HỘI

NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Thái Nguyên, năm 2008

ĐÀO DUY ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CHÈ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ QUÂN CHU, THÁI NGUYÊN TRƯỚC THỀM HỘI

NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

Thái Nguyên, năm 2008

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công tr ình nghiên c ứu độc lập của tác giả

Các s ố liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn

trong quá trình nghiên c ứu đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên

mà thầy cô giáo truyền thụ đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với Tiến sỹ Lê Quang Dực người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty cổ phần Chè Quân Chu và Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường

Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tôi trong quá trình

học tập và hoàn thành luận văn

của nông trường Chè Quân Chu, xưởng sản xuất, chế biến, phòng kinh doanh, phòng sản xuất và các đồng nghịêp đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi

Thái Nguyên, năm 2008

Đào Duy Anh

Trang 3

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VỀ CẠNH TRANH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VỀ CẠNH TRANH 4

1.1.1 Cơ sở lý luận của thị trường về cạnh tranh 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 33

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 40

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 40

1.2.2 Cơ sở phương pháp luận 40

1.2.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 41

1.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PH ẨM CHÈ XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ QUÂN CHU 42

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ QUÂN CHU 42

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 42

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty 43

2.1.3 Nguồn vốn của Công ty 44

2.1.4 Nguồn nhân lực của Công ty 45

2.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty 46

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ CỦA CÔNG TY 47

2.2.1 Tình hình sản xuất chè xuất khẩu của Công ty 47

2.2.2 Quy trình sản xuất chè xuất khẩu 49

2.2.3 Kết quả sản xuất chè xuất khẩu của Công ty 54

2.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CHÈ CỦA CÔNG TY 56

2.3.1 Thị trường xuất khẩu của Công ty 56

2.3.2 Kết quả xuất khẩu của Công ty 59

2.3.3 Các đối thủ cạnh tranh của Công ty 64

2.3.4 Chính sách nâng cao tính cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của Công ty 66

2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CHÈ TRONG THỜI GIAN QUA 67

2.4.1 Các biện pháp đã thực hiện để nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng Chè xuất khẩu 67

2.4.2 Các thành tựu đạt được 68

2.4.3 Các mặt còn hạn chế 69

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CHÈ XUẤT KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI 73

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 73

3.1.1 Quan điểm dài hạn về xây dựng thương hiệu chè xuất khẩu 73

3.1.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển Chè xuất khẩu 77

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CHÈ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI 78

KIẾN NGHỊ 84

1 Chính sách tín dụng của Nhà nước 84

2 Chính sách trợ cấp xuất khẩu 85

3 Về phía công ty 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 4

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu về nguồn nhân lực trong công ty 46

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất tự cung ứng về nguyên liệu 49

Bảng 2.3 Đánh giá khả năng tự đáp ứng sản xuất 50

Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu chè đen 61

Bảng 2.5 Đánh giá sản lượng, giá cả xuất khẩu 62

DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 2.1 Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm 59

Biểu đồ 2.2 Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm 59

Biểu đồ 2.3 Phân tích cơ cấu mặt hàng chè xuất khẩu 63

DANH M ỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng 8

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa Cung-Cầu 10

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức công ty 45

Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức trong công ty 47

Sơ đồ 2.3 Quy trình chế biến sản phẩm 51

Sơ đồ 2.4 Sơ đồ chế biến Chè xuất khẩu 54

DANH M ỤC CÁC ĐỒ THỊ Đồ thị 1.1 Đường cầu về hàng hóa 11

Đồ thị 1.2 Đường cung về hàng hóa 13

Đồ thị 1.3 Mối quan hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa 15

Đồ thị 2.1 phân tích giá xuất khẩu bình quân 63

DANH M ỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 5

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mang lại cơ hội và cả những thách

thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Toàn cầu hoá nền kinh tế là một xu

hướng tất yếu, do vậy các danh nghiệp cần có sự chuẩn bị hành trang cho

riêng mình, mỗi một doanh nghiệp với những bước đi và cách làm khác nhau

nhưng không ngoài mục đích là có chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh ngày

càng gay gắt này

Toàn cầu hoá kinh tế tỏ ra có sức hấp dẫn vì nó làm cho các nền kinh

tế, các quốc gia nếu khéo vận dụng trong hội nhập thì sẽ phát huy được lợi thế

của mình, được bổ sung những yếu tố mới, hình thành một cơ cấu kinh tế hợp

lý và có hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước Chính vì thế

xu thế toàn cầu hoá ngày càng cuốn hút vào nó nhiều dân tộc, quốc gia có

trình độ phát triến kinh tế, chế độ chính trị xã hội khác nhau Tuy nhiên trong

giai đoạn hiện nay và trong nhiều năm tới toàn cầu hoá chưa phải là công cụ

tối ưu cho tất cả, chưa phải là một môi trường tốt đẹp mà vào đó ai cũng

thắng, ai cũng có lợi như nhau và không ai phải trả giá Các quốc gia, các dân

tộc và các chủ thể khác nhau tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế

không phải vì mục tiêu toàn cầu hoá, mà trước hết là tìm kiếm trong đó những

lợi ích cho chính mình Họ đều có ý định, hành động để thay đổi, tác động tới

quá trình này theo hướng có lợi cho mình

Đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của

Công ty cổ phần Chè Quân Chu, Thái Nguyên trước thềm hội nhập kinh tế

quốc tế” là một đề tài từ một góc nhìn của doanh nghiệp chế biến chè trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên trước ngưỡng cửa của hội nhập nền kinh tế trong khu

vực và trên thế giới Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là mục tiêu

cơ bản của sản xuất, kinh doanh, có sản phẩm phẩm tốt, thương hiệu tốt thì uy tín của nhà sản xuất mới có chỗ đứng trên thị trường cho sản phẩm của mình

và đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống một cách khái quát những vấn đề cơ bản về sức cạnh tranh của sản phẩm

- Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè xuất khẩu trong thời gian qua

- Đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh chè xuất khẩu trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

+ Đối tượng ngiên cứu của đề tài

Là những định hướng, chiến lược sản xuất kinh doanh sản phẩm của Công ty; vốn và tiềm lực tài chính, bộ máy quản lý nhân sự, chất lượng sản

phẩm; marketing và các chiến lược cạnh tranh đưa sản phẩm vào thị trường + Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 5 năm 2008

Số liệu phân tích lấy từ năm 2005 đến 2007

- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu và hoàn thiện tại Công ty cổ phần Chè Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nội dung Những vấn đề lý luận về các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty trước thềm hội nhập

Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm của Công

ty Cổ phần chè Quân Chu trong những năm qua cùng với xu thế hội nhập hiện

Trang 6

nay nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao năn g lực cạnh tranh cho sản phẩm

chè xuất khẩu

4 Những đóng góp khoa học của đề tài

- Hệ thống hoá các luận cứ khoa học mang tính lý luận về các chỉ tiêu

đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm ở doanh nghiệp trước thềm hội

nhập kinh tế Quốc tế

- Phân tích, đánh giá khả năng, thực trạng, năng lực cạnh tranh của sản

phẩm ở Công ty Cổ phần chè Quân Chu trong những năm qua cùng với xu thế

hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm ở

Công ty Cổ phần chè Quân Chu

5 Bố cục của đề tài:

Chương 1: Cơ sở khoa học của thị trường về cạnh tranh và phương

pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè xuất

khẩu ở Công ty Cổ phần chè Quân Chu

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh

tranh của sản phẩm chè xuất khẩu ở Công ty cổ phần Chè Quân Chu trong

thời gian tới

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VỀ CẠNH TRANH

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH 1.1.1 Cơ sở lý luận của thị trường và cạnh tranh

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a Khái niệm về thị trường

Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường - trong nền kinh tế này sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Do thị trường quyết định (Mục 1, chương 1 Kinh tế chính trị Mác-Lênin tập 1)

Kiểu tổ chức kinh tế này tồn tại ở các nước tư bản từ thế kỷ XV và ngày nay là hình thức kinh tế chung của hầu hết các nước trên thế giới Như

vậy nói tới nền kinh tế thị trường về thực chất là nói tới cơ chế thị trường

Vậy thế nào là cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường là một cơ chế mà trong đó tổng thể các nhân tố, các quan hệ cơ bản vận động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường, trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận Nhân tố cơ bản nhất của nó là cung cầu và giá cả thị trường

b Khái niệm về hàng hóa

Về khái niệm, hàng hoá là đối tượng chiếm hữu của con người, có khả năng thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người, được trao đổi mua bán trên thị trường (Kinh tế chính trị Mác-Lênin tập 1)

Một là: hàng hoá là đối tượng chiếm hữu của con người Như chúng ta

đã biết điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế của người sản xuất do sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định thì chỉ có những vật nào mà người ta chiếm hữu mới được trao đổi theo nguyên tắc

Trang 7

hàng hoá Người ta chỉ có thể mua bán những cái gì mà họ chiếm hữu chứ

không thể mua bán cái mà họ không có

Trong đối tượng chiếm hữu của con người, có những sản phẩm do lao

động của con người tạo ra, nhưng cũng có những sản phẩm do thiên nhiên tạo

ra nhưng con người đã chiếm hữu được, được thừa nhận là của họ Sản xuất

càng phát triển, đối tượng chiếm hữu của con người ngày càng đa dạng, từ

chiếm hữu những vật tự nhiên, đến những vật do lao động của con người tạo

ra, từ chiếm hữu tư liệu sản xuất đến chiếm hữu giá trị, trong nền kinh tế hiện

đại việc chiếm hữu trí tuệ ngày càng phổ biến và quan trọng

Hai là: Đã là hàng hoá thì đối tượng đó phải có khả năng thỏa mãn nhu

cầu nào đó của con người, hay nói một cách khác nó phải có giá trị sử dụng,

hay là một công dụng nhất định con người cần và mua bán nó Không ai

muốn mua một vật vô ích với họ, một sản phẩm hỏng để không thể thoả mãn

được nhu cầu nào đó của họ Cần thấy rằng nhu cầu của con người rất đa dạng

nhưng có thể chia thành hai loại cơ bản là nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu cho

sản xuất Những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: cơm ăn, áo mặc,

nhà ở, giày dép, phương tiện đi lại và các dịch vụ như sách báo, phim ảnh

Từ đây nó lại được chia thành các nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần

của con người Theo đà phát triển của nền văn minh thì cả nhu cầu tiêu dùng

vật chất và nhu cầu tinh thần đều tăng song nhu cầu tinh thần có xu hướng

tăng nhanh hơn Những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất bao gồm các

nguồn lực của sản xuất như: sức lao động, đất đai, vốn và dịch vụ sản xuất

như bảo hiểm, tài chính

c Khái niệm về cạnh tranh

Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến trong xã hội chúng ta

ngày nay Nó được hiểu như sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể nhằm

đạt được một mục đích nhất định

Cạnh tranh kinh tế là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hoá, dịch vụ Mức

độ phát triển của sản xuất hàng hoá, dịch vụ tỷ lệ thuận với mức độ cạnh tranh

giữa các chủ thể kinh doanh Sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt, liên tục giữa các

quốc gia, giữa các ngành, giữa các sản phẩm, giữa các doanh nghiệp… tạo ra động lực phát triển kinh tế xã hội

Cạnh tranh chỉ một chuỗi hành động thực hiện để chiếm cái mà đối thủ cũng tìm cách chiếm ở cùng một không gian, vào cùng một thời gian trong

những điều kiện và luật chơi bình đẳng như nhau Theo diễn đàn kinh tế thế giới, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là khả năng nền kinh tế đạt được tốc

độ tăng trưởng cao trên cơ sở thực hiện các chính sách, thể chế và các yếu tố khác một cách hợp lý Nó bảo đảm cho hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế đó đứng vững trong các cuộc cạnh tranh quốc tế

Cạnh tranh đối với quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hoá và dịch

vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân trong điều kiện thị trường tự do công bằng

Cạnh tranh giúp quốc gia tạo được nhiều việc làm hơn, người dân có thu nhập cao hơn Khả năng cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh

của các doanh nghiệp hoạt động ở quốc gia đó

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, trước hết là khả năng duy trì

và mở rộng thị phần, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp ở cả thị trường trong và ngoài nước Nó đề cập tổng thể tới khả năng hoạt động của doanh nghiệp trên các lĩnh vực nhằm cung cấp hàng hoá dịch vụ cho thị trường Theo Trung tâm Kinh tế quốc tế Úc, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng tồn tại phát triển mà không cần sự hỗ trợ của Nhà nước Nó còn được hiểu là năng lực tìm kiếm lợi nhuận, duy trì thị phần trên

thị trường trong và ngoài nước (Van Duren, Martin, Westgren 1991)

Trang 8

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với khả năng cạnh

tranh của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất Khả năng cạnh tranh của sản

phẩm được xác định bởi thị phần của sản phẩm trên thị trường Việc tăng hay

giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm không nhất thiết có tác động đồng

hướng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nguyên nhân là do doanh

nghiệp có thể sản xuất nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau với mức độ

cạnh tranh khác nhau trên thị trường Tuy nhiên, trên cùng một thị trường khả

năng cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp thường rất gần với nhau

Người ta thường gắn khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp với một hoặc

một vài sản phẩm nhất định của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh ở ba cấp độ nêu trên có mối quan hệ qua lại mật

thiết với nhau Một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều

doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, đồng thời để nâng cao khả năng cạnh

tranh cho doanh nghiệp thì môi trường kinh doanh phải thuận lợi, các chính

sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, minh bạch, công bằng, bộ máy của Nhà nước

phải trong sạch, hoạt động hiệu quả Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh quốc gia

1.1.1.2 Những nhân tố, quan hệ cơ bản của kinh tế thị trường

Nhìn vào bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào, dù là kinh tế thị trường

phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật hay kinh tế thị trường sơ khai như ở Việt

Nam hiện nay đều có những nhân tố cơ bản là hàng, tiền, bán, mua, cung, cầu

Nhân tố thứ nhất của thị trường là hàng hoá

Ta có thể khái quát các loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu như sau:

Sơ đồ 1.1 nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng

Tuỳ theo đặc tính giá trị sử dụng, một vật có thể đáp ứng một số nhu

cầu nhất định, nhưng khi sử dụng một vật có thể đáp ứng được một loại nhu cầu cụ thể Sự phát triển đa dạng của các loại hình giá trị sử dụng, phản ánh

sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và phạm vi phong phú của nhu cầu Đồng thời bản thân nhu cầu lại tạo động lực thúc đẩy

sự phát triển cuả kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều loại hình giá trị sử dụng mới

Đã là hàng hoá, thì đối tượng chiếm hữu phải được trao đổi theo nguyên tắc bồi hoàn, tức là mua bán trên thị trường Điều này có nghĩa là phải tính đến giá trị của hàng hoá

Về phía người sản xuất, giá trị là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá Đó là những chi phí mà người ta bỏ vào sản xuất và tiêu thụ hàng

Dịch vụ

sản xuất

Hàng hoá tiêu dùng dịch vụ

Hàng hoá các

yếu tố đầu vào-dịch vụ

Hàng hoá

Trang 9

hoá trên thị trường Về mặt cơ cấu giá trị hàng hoá bao gồm hai bộ phận lao

động vật hoá, tức là những chi phí vật chất đưa vào sản xuất hàng hoá và lao

động sống, tức là hao phí sức lực cho quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hoá

Nếu ký hiệu lao động vật hoá là C, lao động sống là V + M thì trị giá

hàng hoá b ằng C +V+ M

Nhân tố thứ 2 của kinh tế thị trường là tiền tệ

Tiền tệ là hàng hoá đặt biệt, tiền tệ được tách ra làm vật ngang giá

chung, phục vụ cho quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá Nó biểu hiện

quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá

Sự phân tích về nguồn gốc và bản chất của tiền tệ đã được Mác trình

bày một cách rõ ràng trong bộ tư bản, và được các nhà kinh tế học đương đại

tiếp tục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện đại

Nhờ có tiền mà hàng hoá vận động thông suốt từ tay người sản xuất

đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên

tục, không ngừng, tạo nên quan hệ hàng - tiền trong nền kinh tế thị trường

Nhân tố cơ bản khác của kinh tế thị trường là hộ kinh doanh và hộ tiêu

dùng Nếu như các nhân tố và quan hệ tiền hàng là khách thể của kinh tế thị

trường Thì nhân tố và quan hệ hộ kinh doanh và hộ tiêu dùng là nhân tố chủ

thể của thị trường

Hộ kinh doanh là người sản xuất và cung ứng hàng hoá trên thị trường

hàng tiêu dùng Vì vậy trên thị trường này họ là người bán hay sức cung

Song để có nguồn lực sản xuất hàng hoá tiêu dùng họ phải mua chúng trên thị

trường yếu tố Vì vậy ở thị trường này họ là sức cầu

Ngược lại, hộ tiêu dùng là người đi mua hàng hoá tiêu dùng Vì vậy

trên thị trường hàng tiêu dùng họ là sức cầu Song để có tiền mua hàng tiêu

dùng dịch vụ, họ phải có một hàng hoá nào đó bán trên thị trường yếu tố Vì

vậy trên thị trường yếu tố họ là sức cung Họ cung sức lao động, nếu họ là

công nhân, cung cấp đất, nếu họ là địa chủ, cung cấp vốn, nếu họ có vốn Với vai trò khác nhau như vậy các chủ thể tham gia, các thị trường vốn tách biệt

với nhau được nối liền với nhau tạo thành vòng vận động thông suốt

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa Cung-Cầu của hộ tiêu dùng và hộ kinh doanh

quyết định thị trường mà các nhà kinh tế học gọi là các thượng đế

Hộ tiêu dùng là người quyết định thị trường, là thượng đế vì họ là người trả tiền cho hàng hoá đảm bảo cho các nhà kinh doanh chuyển hàng thành tiền Vì vậy người ta nói người tiêu dùng bỏ phiếu tín nhiệm hàng hoá bằng

đô la Song kỹ thuật cũng là một ông vua khác trên thị trường vì nhu cầu của người tiêu dùng bị hạn chế bởi kỹ thuật sản xuất Nếu có tiền mà kỹ thuật không cho phép thì cũng không thể có hàng hoá cung cấp cho thị trường

thị trường

A Mar Shall nói thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu Cung và

cầu là sự khái quát hoá hai lực lượng cơ bản của thị trường, là người bán và người mua, người sản xuất và người tiêu dùng, là hai khâu trong quá trình tái

sản xuất là sản xuất và tiêu dùng

Trang 10

Về sức cầu:

Sức cầu là hình thức biểu hiện của nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ trên

thị trường được đảm bảo bằng khối lượng tiền tệ với giá cả nhất định Nói

cách khác cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán

Giữa cầu và nhu cầu có mối liên hệ với nhau Có thể có nhu cầu về

hàng hoá song nếu không có tiền đảm bảo theo giá cả nhất định của hàng hoá

đó thì sẽ không xuất hiện cầu

Cầu hàng hoá phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá Giữa giá cả và số

lượng đưa ra thị trường để thoả mãn nhu cầu có quan hệ tỷ lệ nghịch Nếu số

lượng sản phẩm đưa ra thị trường ngày càng tăng thì giá trị sản phẩm hàng

hoá đó ngày càng giảm xuống Từ đó giữa cầu và giá có mối liên hệ sau đây:

Nếu giá cả hàng hoá thấp thì người mua sẽ mua một khối lượng hàng hoá

nhiều hơn và ngược lại Đường cầu được biểu diễn như sau:

P

Đường cầu D

Q

Đồ thị 1.1 Đường cầu về hàng hóa

Cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu mua sắm Nếu nhu cầu mua sắm

lớn thì có khả năng tăng cầu và ngược lại Vì nhu cầu của các chủ thể kinh tế

và cường độ nhu cầu của họ khác nhau, nên mỗi chủ thể kinh tế cần phải biết

sắp xếp nhu cầu theo thứ tự ưu tiên sao cho với quy mô thu nhập nhất định có

thể thoả mãn nhu cầu cao nhất và có hiệu quả nhất

Nhân tố khác ảnh hưởng đến cầu hàng hoá là khả năng mua sắm của các chủ thể kinh tế Đến lượt nó khả năng mua sắm lại phụ thuộc không chỉ vào giá cả, mà còn phụ thuộc vào thu nhập của mỗi người Sự đột biến của thu nhập và giá cả tác động đến sự thay đổi của cầu, song theo nhiều hướng khác nhau Giá cả hàng hoá tăng lên làm cho cầu hàng hoá giảm Ngược lại thu nhập tăng làm tăng cầu

Một vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu sức cầu là phân tích sự co giãn của cầu Về khái niệm, sự co giãn của cầu là sự biễn đổi của cầu dưới ảnh hưởng biến đổi của giá

Nếu ký hiệu sự thay đổi của cầu là ∆d/ d, sự thay đổi cuả giá là

∆p / p, k là hệ co giãn của cầu thì k = ∆d / d: ∆p /p

Trang 11

như vậy sản xuất lớn hơn cung Hoặc có những loại hàng hoá, nhờ có nhập

khấu mà cung lớn hơn sản xuất

Giữa cung và giá có một mối liên hệ với nhau Nhìn chung khi giá cả

hàng hoá tăng lên sẽ kích thích sản xuất, do đó tăng cung Vậy quan hệ giữa

cung và giá cả là quan hệ tỷ lệ thuận

P

Đường cung S

Q

Đồ thị 1.2 Đường cung về hàng hóa

Cũng như cầu, cung cũng thay đổi dưới tác động của giá cả hàng hoá

Tuy vậy, nó có đặc điểm khác biệt với cầu, khi giá cả thay đổi sẽ làm cho cầu

thay đổi Còn đối với cung điều này chưa hẳn đã xảy ra Sở dĩ như vậy là vì,

ngoài tác động của giá cả hàng hoá, cung còn đồng thời phụ thuộc vào yếu tố

khách quan và chủ quan như thuộc tính giá trị sử dụng, giới hạn khả năng sản

xuất, quy mô sản xuất doanh nghiệp, tài phán đoán cuả chủ doanh nghiệp, vì

vậy khi xem xét sự thay đổi cuả cung cần phải phân tích cụ thể các trường

hợp sau đây:

Thứ nhất: Do đặc tính giá trị sử dụng của các loại hàng hoá Với loại

nông phẩm không dự trữ được phải bán ngay sau khi thu hoạch thì mặc dù giá

cả có thể tăng lên, song cũng không thể làm cung tăng lên được Có thể giải

thích bằng ví dụ vì sao rau giáp vụ ở thành phố lại đắt Ngược lại đối với hàng

công nghệ phẩm thì cung co giãn theo giá Nếu giá hạ thì nhà kinh doanh sẽ kìm hàng lại chờ khi giá tăng sẽ tung ra thị trường

Thứ hai: Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp Nếu mọi khả

năng sản xuất cuả doanh nghiệp đã được tận dụng, tức ở trên đường giới hạn

khả năng sản xuất, thì dù cho giá có thể tăng thế nào nữa, thì doanh nghiệp cũng không thể mở rộng sản xuất thêm để tăng cung Ngược lại nếu doanh nghiệp còn tiềm lực, vốn, lao động và tài nguyên thì khi giá tăng, họ có khả năng để khai thác và tăng cung

Thứ ba: Quy mô doanh nghiệp Đ ối với doanh nghiệp nhỏ, sức cung

thường thay đổi hơn so với doanh nghiệp lớn Vì khi giá tăng doanh nghiệp

nhỏ vận động nhanh hơn để ứng sử kịp thời và tăng cung

Thứ tư: Kinh nghiệm và tài phán đoán của chủ doanh nghi ệp Ví dụ

trong trường hợp giá cả hàng hoá đang tăng, chủ doanh nghiệp phán đoán rằng đó chỉ là sự tăng lên tạm thời còn trong tương lai sẽ giảm xuống Do đó

họ lập tức đưa hàng hoá ra bán trên thị trường, làm tăng cung lên Song nếu

chủ doanh nghiệp cho rằng trong tương lai, giá cả hàng hoá còn tăng lên nữa, thì họ sẽ kìm hàng lại, không đưa ra tiêu thụ Do vậy mặc dù giá cả tăng nhưng cung không thay đổi

Ngoài giá cả, nhân tố thu nhập cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi cung

Nếu thu nhập thấp, doanh nghiệp ít vốn, ít tiền dự phòng, các chủ doanh nghiệp phải bán hàng trong mọi trường hợp Trong trường hợp này, chỉ một

sự thay đổi nhỏ của thu nhập cũng làm cho cung thay đổi lớn Ngược lại, nếu thu nhập cao, doanh nghiệp trường vốn, sẵn tiền dự phòng thì các do anh nghiệp chỉ bán hàng trong điều kiện có lợi cho mình Trong trường hợp này

dù có sự thay đổi lớn về thu nhập cũng không làm cho cung thay đổi nhiều hay sức cung cứng rắn

Trang 12

Cung và cầu về hàng hoá và giá cả thị trường của hàng hoá có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau Giá cả thị trường là giá cả thoả thuận giữa người mua và

người bán trên thị trường Trong cơ chế thị trường người mua đại diện cho

sức cầu còn người bán đại diện cho sức cung Người mua muốn mua giá cả

hàng hoá thấp, còn người bán muốn giá cả hà ng hoá cao Vì vậy giá cả thị

trường là sự thoả thuận giữa người mua và người bán Giao điểm giá cả giữa

người mua và người bán gọi là giá cả cân bằng, ở điểm giá cả cân bằng, cung

và cầu về số lượng hàng hoá cân bằng với nhau, hay số lượng sản phẩm mà

người mua muốn mua bằng số lượng sản phẩm mà người bán cần bán

Đồ thị 1.3 Mối quan hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa

Cung và cầu luôn vận động, biến đổi trên thị trường Mối quan hệ tác

động qua lại giữa cung và cầu về số lượng hàng hoá với giá cả hình thành quy

luật cung - cầu Quy luật này có tác dụng điều tiết sản xuất và tiêu dùng, biến

đổi dung lượng và cơ cấu thị trường và quyết định giá cả thị trường

1.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa

Trong hoạt động ngoại thương, nhất là để đẩy mạnh công tác xuất khẩu,

chúng ta phải có nhiều biện pháp để nâng cao cạnh tranh của các hàng hoá

Như vậy ta phải hiểu như thế nào là khả năng cạnh tranh của một hàng hoá,

những quan điểm chung nhất của vấn đề này được phát hiện như sau:

Khả năng cạnh tranh của một số hàng hoá là khả năng chiếm lĩnh thị trường, giữ vững và phát triển thị trường hàng hoá đó

Từ quan điểm này cho ta thấy rằng một số hàng hoá làm được thị trường chấp thuận càng nhiều thì khả năng cạnh tranh của hàng hoá đó càng cao

Sự chiếm lĩnh, giữ vững và phát triển thị trường của một hàng hoá

là do những ưu điểm của nó được thể hiện ở nhãn hiệu, giá thành, chất lượng, số lượng

Tuỳ từng loại hàng hoá mà ta xem xét tới các yếu tố này Có thể một hàng hoá có giá thành rẻ (do tiền công lao động thấp) nhưng chưa chắc đã được người tiêu dùng chấp nhận vì chất lượng và sự phù hợp của nó không cao

Để hiểu rõ sức mạnh của hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, ta nghiên

cứu 3 chỉ số để tính toán lợi thế so sánh biểu thị (RCA) để tính cho hàng xuất

khẩu của Việt Nam

- Chỉ số thứ nhất gọi là hệ số xuất khẩu hàng hoá so với tổng thương

mại (nx(ij)) hệ số này cho biết tỷ trọng của xuất khẩu hàng j trong toàn bộ trao đổi hàng hoá đó của nước i Hệ số này theo cách nó được xây dựng, chỉ đưa lại cách nhìn khái quát đối với hướng dịch chuyển lợi thế cạnh tranh của

Trang 13

Trong phân tích RCA không cho thấy rõ những thay đổi trong cơ cấu

xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, nhưng từ đó sẽ thấy được những

lĩnh vực mà ở đó ta có thể gặp khó khăn do đó chúng ta phải có giải pháp can

thiệp nhất định

1.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Không thiếu những lý giải về cạnh tranh cũng như những yếu tố quyết

định của cạnh tranh dẫn đến thành công hay thất bại của một số ngành, Công

ty của một quốc gia Ở đây tôi cố gắng giải thích sự thành công của các

ngành, các Công ty trong môi trường thương mại quốc tế

a L ợi thế so sánh

Những lý giải phổ biến nhất của lý thuyết về lợi thế so sánh là sự khác

nhau giữa các quốc gia trong sự thiên phú tự nhiên về các yếu tố sản xuất như

lao động, đất đai, khí hậu, tài nguyên, vốn

Quốc gia nào giành được lợi thế so sánh ở những ngành sản xuất rộng

rãi các yếu tố mà quốc gia đó có được ưu thế hơn, quốc gia đó sẽ xuất khẩu

các mặt hàng này và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế so sánh

Trên cơ sở này làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá của quốc gia đó

dựa vào chi phí sản xuất thấp

b Năng suất

Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được xác định bởi năng suất nền

kinh tế quốc gia đó, nó được đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ sản xuất

được trên một đơn vị lao động, vốn và nguồn lực và nguồn lực vật chất của

nước đó Năng suất qua đó xác định tính cạnh tranh của nước đó trên trường

quốc tế

c Các cơ sở kinh tế vĩ mô

Ngày nay các cơ sở kinh tế vĩ mô và chính trị cho việc phát triển và khả

năng cạnh tranh kinh tế được nhận thức một cách khá rõ Mỗi môi trường

chính trị và một chính sách kinh tế vĩ mô ổn định kéo theo nền tài chính vững

mạnh, có sự tăng trưởng hợp lý về tiền tệ và tín dụng, một mức nợ có thể

kiểm soát được, lạm phát tương đối thấp, giới hạn và vai trò thích hợp của chính phủ trong nền kinh tế cùng với sự mở cửa với các thị trường quốc tế là các yếu tố để thúc đẩy tăng trưởng Thêm vào đó, lý thuyết tăng trưởng nhấn

mạnh tầm quan trọng của tích luỹ trong nước và một tỷ lệ đầu tư quốc gia cao vào vốn vật chất con người và cơ sở vật chất

Vai trò chính của các biến số kinh tế vĩ mô là hình thành ra bối cảnh, những khả năng cạnh tranh ở các ngành và các doanh nghiệp khác nhau Vì

vậy, các chính sách hợp lý ở tầm vĩ mô là những điều kiện cần thiết đối với sự tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh Tuy nhiên một loạt chính sách kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải chuyển thành các chính sách kinh doanh có kết quả

và có sức cạnh tranh

Ba yếu tố kinh tế vĩ mô có thể liên hệ đặc biệt với tăng trưởng kinh tế

và cạnh tranh và kiểm soát trong tương lai

- Việc tài trợ bên ngoài và nợ nhà nước: duy trì một chiến lược vốn thận trọng, đặc biệt hạn chế việc vay vốn bên ngoài không có các điều kiện ưu đãi Tăng cường khả năng quản lý nợ nước ngoài

- Tích luỹ trong nước: thể hiện việc phát huy tiềm năng quan trọng đối

với tích luỹ của khu vực tư nhân bằng việc cải tiến khuyến khích tiết kiệm, khôi phục lòng tin đối với khu vực tài chính cải tiến cách tiếp cận hiệu quả

hoạt động của các tổ chức tài chính

Huy động nguồn tiết kiệm bổ sung của chính phủ thông qua việc cải

tiến quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước, hoàn thành chương trình cải cách thuế, hợp lý hoá hệ thống đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước đối với ngân sách nhà nước và cải tiến quản lý các dự án đầu tư công cộng

Trang 14

- Tỷ giá hối đoái: nâng cao khả năng cạnh tranh về giá cả, qua đó xuất

khẩu và cán cân thương mại cân bằng duy trì một mức tỷ giá hối đoái thực tế

và có sức cạnh tranh

Tổng kết các tác động của môi trường kinh tế vĩ mô đối với cạnh tranh

điều quan trọng cần nhấn mạnh là vai trò của việc thay đổi các chính sách vĩ

mô, tạo ra được môi trường cạnh tranh trong các ngành và doanh nghiệp Ví

dụ các chính sách kinh tế vĩ mô khuyến khích tỷ lệ đầu tư cao là có lợi, nhưng

chỉ đó thôi sẽ không tạo ra việc nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu suất

nếu đầu tư không thích thích hợp, nếu không có khả năng và các thể chế làm

cho đầu tư có hiệu quả và không có các biện pháp khuyến khích và ép buộc

đủ mạnh để tạo ra một trật tự thị trường

Những sự bóp méo về trị giá hối đoái và giá cả được khắc phục gạt

bỏ trở ngại đối với năng suất và cạnh tranh cao Nhưng một môi trường

cạnh tranh hiệu quả, các thể chế quản lý có chất lượng cao phải được đặt

đúng chỗ để thực sự nâng cao năng s uất và cạnh tranh Sự thận trọng đối

với một mức nợ nước ngoài phụ thuộc vào nguồn vốn được đầu tư vào đâu

Xem xét trên khía cạnh điều chỉnh mức nợ tổng thể còn ít quan trọng hơn

so với việc cải thiện môi trường kinh doanh, chiến lược và sự vận hành của

các doanh nghiệp

Vì thế các chính sách hỗ trợ ở tầm vĩ mô là các điều kiện tiên quyết và

cần thiết đối với tăng trưởng kinh tế và cạnh tranh Tuy nhiên đòi hỏi phải có

một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô để có thể mang lại hoạt động kinh

doanh có hiệu qủa Khi đó cải thiện cạnh tranh sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi

song song và độc lập có trong chính sách vĩ mô và chính sách riêng đối với

các doanh nghiệp

d Hoạt động và chiến lược của Công ty

Mặc dù các chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp tạo tiềm năng cho cải thiện cạnh tranh, năng suất chỉ được nâng cao với các doanh nghiệp cải thiện được năng lực của mình ở cấp các Công ty và các ngành tương ứng Một trong những cơ sở chính của năng suất và khả năng cạnh tranh chính là chất lượng của các hoạt động và chiến lược của Công ty

* Hi ệu quả hoạt động

Các Công ty trên thế giới thành công là do đã không ngừng cố gắng cải thiện tình hình của mình qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng qui trình công nghệ mới, sử dụng nhiều nguồn cung ứng mới và khác nhau, giới thiệu và phân phối sản phẩm đúng lúc có những biện pháp về chất lượng và năng suất Các biện pháp đó được các Công ty thực hiện liên tục vì có như vậy doanh nghiệp mới có sản phảm chất lượng cao nhất và chi phí sản xuất thấp, tỷ lệ phế phẩm thấp và mức độ thoả mãn khách hàng cao hơn đối thủ

cạnh tranh nhằm tồn tại và thu hút được khách hàng, lợi nhuận thoả đáng trong tương lai

Ở phần lớn các Công ty Việt Nam người ta chưa thấy rõ những nỗ lực hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng sản phẩm Các Công ty còn xa mới đạt đến hoạt động tối ưu Nhiều Công ty dường như phó mặc hoặc

ít quan tâm tới việc cải thiện không ngừng những hoạt động cuả mình, điều tất

yếu để có thể đạt tới chuẩn mực quốc tế Các Công ty Việt Nam thường đổ lỗi cho máy móc lạc hậu cộng với thiếu vốn song đây không phải trở ngại chính trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh

Các Công ty có khả năng cạnh tranh là những đơn vị có khả năng trong

việc tìm kiếm các phương thức quản lý hoạt động mới tốt hơn bằng cách hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường dịch vụ khách hàng Máy móc hiện đại gần như luôn có hiệu quả xem xét trên giác độ kỹ thuật,

Trang 15

song để có hiệu quả trên giác độ kinh tế thì phải xem xét tới chi phí của nó

Chắc chắn máy móc hiện đại là cần thiết trong trường hợp nhưng thiết bị mới

không phải là yếu tố quyết định chính khả năng này trong phần lớn các trường

hợp nó chỉ góp phần nhỏ trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp nếu không quản lý hiệu quả, kỹ năng tiếp thị năng động nhạy cảm, đào

tạo có chất lượng và cơ cấu kích thích tốt

Doanh nghiệp quốc tế thành công luôn cố gắng cung cấp nhiều giá trị

hơn cho khách hàng bằng cách tập trung thoả mãn khách hàng bằng cách phát

triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng và phân

phối sản phẩm Song các nhà quản lý Việt Nam ít khi nhận thấy tầm quan

trọng của việc tập trung vào khách hàng và tiếp thị sản phẩm cuả mình Nhiều

Công ty hầu như thụ động trong việc tiếp cận với thị trường và định hướng

khách hàng, nhiều Công ty còn rất hiếm chủ động tìm kiếm khách hàng mới,

nắm bắt và tham gia vào các hoạt động tiếp thị năng động trong nước hay

quốc tế hoặc thử nghiệm mẫu sản phẩm mới, Công ty thường dựa vào khách

hàng mới để tiếp cận và tìm kiếm hoạt động mới Điều đó có nghĩa là Công ty

liên tục sản xuất các sản phẩm với giá trị gia tăng giảm Những sản phẩm đến

lượt nó phải chịu ảnh hưởng cuả những người bán hàng quốc tế hùng mạnh,

đặc biệt trong giai đoạn hiện nay theo sự phá giá tiền tệ của một số nước đối

thủ cạnh tranh Nếu kiểu cách tiếp cận thụ động này còn tiếp diễn, các Công

ty Việt Nam rất có thể bị bế tắc trong việc sử dụng các sản phẩm giá trị thấp

và phạm vi cải tiến bó hẹp Về vấn đề chất lượng sản phẩm cuả các Công ty

Việt Nam nói chung là thấp, phần lớn các nhà doanh nghiệp giải thích do

công nghệ máy móc và thể chế Song kinh nghiệm quốc tế còn cho thấy rằng

nó phụ thuộc lớn vào nhà quản lý (tìm nguồn đầu vào ra, quy trình quản lý

chất lượng, tổ chức ) Bên cạnh đó các Công ty Việt Nam còn yếu kém cả về

tiếp thị sản phẩm quốc tế

Như vậy trở ngại của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất

khẩu Việt Namdo:

Th ứ nhất: Môi trường kinh doanh manh mún, kém phá t triển, một cơ

cấu kích thích bóp méo, sự hỗ trợ của chính phủ đối với nhiều Công ty và sức

ép cạnh tranh hạn chế

Thứ hai: Do bên trong, từ đó cần thiết phải có một quy trình liên tục

xem xét và xây dựng các hoạt động của Công ty để mang lại giá trị cho khách hàng và cả vận hành, hậu cần, tiếp thị, phân phối, dịch vụ cũng như các hoạt động hỗ trợ như hệ thống chất lượng, trang bị, đào tạo và nâng cao công nghệ

Để có thể đạt được điều đó, Công ty cần tiếp cận ba vấn đề chủ yếu sau: + Thông tin tốt hơn về công nghệ, sản phẩm, thị trường

+ Hỗ trợ chuyên môn từ các nhà cung cấp, khách hàng và các tư vấn

quốc tế nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, các chương trình tiếp thị và quy trình sản xuất phối hợp với thực tế tốt nhất của quốc tế

+ Các nhà quản lý ch uyên nghiệp có thái độ và xác định trách nhiệm

của họ hướng vào lợi nhuận và thị trường

* Chiến lược công ty

Mặc dù nâng cao hiệu quả hoạt động là bước đầu tiên hướng tới nâng cao cạnh tranh nhưng như thế chưa đủ mà Công ty cần có chiến lược Các Công ty Việt Nam có chiến lược để cố gắng tồn tại trong ngắn hạn hoặc chưa

có chiến lược riêng phát triển Công ty, ý tưởng chuẩn bị một chiến lược kinh doanh thực sự gặp phải thái độ hoài nghi từ một vài Công ty Nhiều Công ty

cảm thấy tầm nhìn là ngắn hạn, thị trường quá mất ổn định, tài chính dài hạn dành cho chiến lược đầu tư không có chiến lược thực hiện do ảnh hưởng lớn của chính phủ, từ thị trường và những thay đổi của chính sách thường tác động đến điều kiện tiến hành kinh doanh Thái độ này là dễ hiểu vì thực tế ở

Việt Nam các Công ty thường không mấy xem xét nhiều tới chiến lược

Trang 16

Những thay đổi mạnh mẽ và ý tưởng mới thường bị phản đối vì các phương

thức kinh doanh cổ điển vẫn hoạt động khá tốt, các thói quen còn thường là cố

hữu bắt rễ sâu trong các tổ chức ở Việt Nam ở nhiều nơi Tuy vậy các doanh

nghiệp thành công đầu tiên là đã thay đổi cách thức kinh doanh cũ dịch

chuyển mục tiêu và mở rộng khả năng kinh doanh của mình ở trong nước và

quốc tế Chiến lược kinh doanh riêng là cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp

Do vậy cần xây dựng chiến lược tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp, từ chiến

lược, tạo nên một công cụ cạnh tranh cho cuộc chiến dai dẳng Trên thị

trường, những chiến lược như thế không thể đề nghị từ bên ngoài

Cơ sở xây dựng các chiến lược ở các Công ty Việt Nam thời gian qua

là đặt cơ sở hoạt động của mình vào mức lương thấp, bắt chước mẫu thiết kế

sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, không nghiên cứu việc triển khai, tiếp thị

hay đào tạo mà Công ty coi chính phủ như là một tác nhân quan trọng đến kết

quả kinh doanh của họ và nỗ lực tìm kiếm càng nhiều ưu tiên càng tốt (giấy

phép hạn nghạch, bảo hộ) Sản phẩm xuất khẩu đều là những sản phẩm nhiều

lao động dựa vào tài nguyên thiên nhiên và chủ yếu được xuất tới thị trường

phát triển, Công ty chưa tạo ra được vị thế cạnh tranh khác biệt và mang tính

chất dài hạn, thường có ít hoặc không có nhãn hiệu quốc tế, thường dựa vào

các khách hàng và đối tác để đầu tư và thiết kế, quy trình công nghệ, tiếp thị,

phân phối Thách thức của các Công ty Việt Nam là làm sao tạo ra được biểu

tượng, nhãn hiệu của riêng mình, giao dịch trực tiếp với khách hàng và kiểm

tra các kênh phân phối quốc tế Các Công ty Việt Nam sẽ không thể cải tiến

sản phẩm, thu nhiều lợi nhuận hoặc cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững

nếu không kiểm soát được phân phối và tiếp cận trực tiếp với khách hàng

nước ngoài Nếu không các Công ty sẽ chậm trễ trong việc nắm bắt các xu

hướng thị trường và những trung gian buôn bán sẽ là kẻ chiếm phần lớn lợi

nhuận Các chiến lược khác nhau đòi hỏi đầu tư lâu dài không chỉ ở thiết bị

mà cả ở tài sản khác: con người, phát triển nghiên cứu, tư vấn quản lý, phát triển thị trường

e Môi trường kinh doanh

Ngay cả khi các Công ty Việt Nam ngày càng có khả năng hoàn thiện chiến lược thực tiễn điều hành thì họ vẫn không đủ khả năng cạnh tranh Điều quan trọng là các chính sách, thể chế và cơ sở hạ tầng tạo nên môi trường kinh doanh trong đó các Công ty đang cạnh tranh Các Công ty khó có thể đạt được mức tăng trưởng bền vững về năng suất và năng lực cạnh tranh, do đó

Việt Nam khó có thể từ một nước có nền kinh tế thấp lên trung bình và tiên

tiến nếu như các khó khăn và hạn chế về môi trường kinh doanh mà các doanh nghiệp đang gặp phải không giảm đi đáng kể trong thời gian có thể

chấp nhận được

Sự mở cửa của nền kinh tế Việt Nam vào cuối những năm 80 là một

bộ phận cấu thành của quá trình cải cách kinh tế và vẫn tiếp tục là nhân tố trung tâm trong những năm đầu thế kỷ XXI Đặc trưng chủ yếu của việc

mở cửa nền kinh tế là sự mở rộng đa dạng hoá các hoạt động ngoại thương, quy mô lớn của các dòng đầu tư n ước ngoài và sự hội nhập sâu sắc với hệ thống thương mại quốc tế thông qua việc gia nhập ASEAN, APEC, xin gia nhập WTO

Hạn chế xuất khẩu

Việc rỡ bỏ hàng rào thương mại đối với hoạt động xuất khẩu đã được

thực hiện khá nhanh chóng Tuy nhiên thuế suất từ mức 1% đến 45 % vẫn đánh chủ yếu vào những mặt hàng cơ bản và “chiến lược” Ngoài ra, còn có các hạn ngạch xuất khẩu đối với gạo và phụ thu đối với những loại hàng xuất

khẩu như cà phê, việc gia nhập thị trường thương mại nước ngoài còn bị hạn

chế do những yêu cầu về vốn lưu động, về trình độ tay nghề phù hợp và yêu

cầu phải được sự chấp thuận của UBND trước khi cấp giấy phép cho doanh nghiệp tư nhân

Trang 17

Để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh về lâu dài, hạn ngạch

xuất khẩu cần phải được tổ chức đấu thầu cho phép những nhà xuất khẩu có

hiệu quả nhất thực hiện hạn ngạch xuất khẩu đó, cần khuyến khích gia nhập

thị trường kinh doanh thương mại nước ngoài bằng cách bãi bỏ yêu cầu về

mức vốn lưu động tối thiểu và về lao động

Khuyến khích xuất khẩu

Trong những năm tới và cho tới khi quá trình tự do hoá thương mại ở

Việt Nam có được những kết quả đáng kể, hàng rào thương mại vẫn tồn tại hỗ

trợ việc thay thế nhập khẩu, vì thế cần phải vô hiệu hoá tác động tiêu cực đối

với các nhà xuất khẩu và tăng cường xuất khẩu Cần tăng cường hội nhập

thông qua việc gia nhập các tổ chức thương mại thế giới điều đó sẽ ngày càng

củng cố chiến lược hướng về xuất khẩu, vì khi đó việc thực hiện các chính

sách bảo hộ sẽ dần dần giảm đi

Cần có chính sách đảm bảo cho các nhà xuất khẩu có thể có được đầu

vào và đầu ra theo giá thị trường quốc tế Các nhà xuất khẩu trực tiếp và gián

tiếp cần được tiếp cận nguồn tài chính hỗ trợ xuất khẩu, đặc biệt nguồn vốn

lưu động với mức lãi suất có tính cạnh tranh

Được tiếp cận các đầu vào phi thương mại với mức giá không bị bóp

méo bao gồm việc cố gắng giữ cấu trúc tiền lương và thị trường lao động

không bị bóp méo, đảm bảo về vận tải, điện và bưu chính viễn thông

Cải thiện các điều kiện hạ tầng, thể chế phục vụ xuất khẩu bao gồm cả

điều kiện hải quan hiệu quả hơn và thiết bị bốc dỡ tại cảng tốt hơn, hỗ trợ thu

thập các thông tin về thị trường xuất khẩu, đào tạo và phát triển các nghiệp

đoàn xuất khẩu, cũng như tăng cường vai trò tích cực của các đại sứ quán và

lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài trong việc xúc tiến xuất khẩu, thành lập

một uỷ ban phát triển thương mại để hỗ trợ các Công ty Việt Nam phát triển

thị trường nước ngoài, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin và các loại hình dịch vụ khác

Chính sách tỷ giá là một công cụ mạnh thúc đẩy phát triển xuất khẩu Chính nhu cầu phải nghiên cứu duy trì một mức tỷ giá thực tế và có khả năng

cạnh tranh, nhờ đó tăng cường khả năng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động xuất khẩu

g T ổ chức hệ thống, bản sắc và tài sản vô hình của Công ty

sản xuất, kinh doanh trên cơ sở phân định thông minh trách vụ của các nhóm, các bộ phận, các tuyến lao động trong trật tự của hệ thống tạo ứng lực tổng

hợp của tổ chức bộ máy Công ty và sức cạnh tranh lớn

* Bản sắc và tài sản vô hình của Công ty

Là nhân tố trọng yếu thuộc nguồn lực Công ty đảm bảo tối ưu để tồn tại và thành công trong kinh doanh trên thị trường và vì vậy là yếu tố tạo lập

sức cạnh tranh của doanh nghiệp Tài sản vô hình và bản sắc của Công ty đó

là quy cách thị trường và hệ thống thị phần của Công ty, khả năng phát triển thị phần, nâng cao thị phần trên tổng dung lượng thị trường; đó là hình ảnh,

uy tín, tín nhiệm của tập khách hàng tiềm năng đối với Công ty Vì vậy tạo

lập và phát triển tài sản vô hình và bản sắc Công ty là mục tiêu lâu dài của Công ty, là quá trình đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của nhiều yếu tố thuộc

Trang 18

nguồn lực Công ty với chiến lược kinh doanh đã được xác lập và thực thi

hữu hiệu mà cơ bản nhất là: xác lập và tối đa hoá hiệu lực các giải pháp về

quản trị, Marketing của Công ty

Mặc dù các nhân tố trên thường được áp dụng cho các doanh nghiệp và

các ngành, nhưng nguồn g ốc của tính cạnh tranh thường rất khác nhau giữa

các doanh nghiệp và các ngành Vì vậy cạnh tranh của các doanh nghiệp là

kết quả của sự phối hợp giữa môi trường kinh doanh và những ảnh hưởng của

doanh nghiệp Nguyên nhân chính không phải lúc nào cũng dễ xác định nó

đòi hỏi kỹ năng và khả năng nhạy bén để phán xét Cần nhớ rằng không có cái

gì được xác định một cách đầy đủ Xem xét kỹ các doanh nghiệp thành công

và thất bại trong cạnh tranh trên bình diện quốc tế ta thấy được quá trình phức

tạp trong đó có nhiều nhân tố đóng góp vai trò và dịch chuyển có tầm quan

trọng theo thời gian Tuy nhiên qua quá trình đó lợi thế so sánh biến thành lợi

thế cạnh tranh không thể mang tính chất tự nhiên và những động lực thúc đẩy

các doanh nghiệp và các ngành nâng cao các yếu tố cạnh tranh đã được xác

định rõ Các yếu tố như địa lý và tài nguyên không mang tính chất quyết định

xét trên giác độ dài hạn Thay vào đó cần lựa chọn cách tổ chức quản lý

doanh nghiệp như thế nào và lựa chọn các thiết chế thích hợp, các hình thức

đầu tư sẽ quyết định sức cạnh tranh, phát triển và sự phồn vinh mỗi quốc gia

và doanh nghiệp

sản phẩm

Các công cụ phổ biến đang được các doanh nghiệp sử dụng trong quá

trình cạnh tranh sôi động hiện nay là:

Thứ nhất, chất lượng hàng hoá Trên thương trường nếu nhiều hàng hoá

có công dụng như nhau giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua

hàng hoá nào có chất lượng cao hơn Do đó, đây là công cụ đầu tiên và quan

trọng mà các doanh nghiệp sử dụng để thắng đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên,

chất lượng của hàng hoá phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản

xuất, từng ngành, từng vùng và từng quốc gia

Thứ hai, giá cả hàng hoá Hai hàng hoá có cùng công dụng, chất lượng

như nhau thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hoá nào có giá rẻ hơn Giá cả hàng hoá được quyết định bởi giá trị hàng hoá Song sự vận động của giá còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người tiêu dùng Mức sống còn thấp, người tiêu dùng tìm mua những hàng hoá có giá rẻ Thực tế cho thấy hàng tiêu dùng của Trung Quốc được tiêu thụ mạnh tại Việt Nam Các nhà sản xuất

đã thực hiện một chiến lược kinh doanh là làm ra hàng hoá có khả năng thanh toán thấp về phía mình Trong kinh doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp chấp nhận ít lời, bán giá thấp nhưng dùng số nhiều để thu lại Ngược

lại, khi mức sống cao hơn người tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều đến hàng hoá có chất lượng tốt, chấp nhận mức giá cao

Thứ ba, áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại Sức cạnh tranh

của hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá cá biệt của họ

thấp hơn giá trung bình trên thị trường Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động, hạ chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt

của mình thấp hơn giá trị xã hội Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại và trong quá trình sản

xuất kinh doanh Thực tiễn đã chứng minh các doanh nghiệp đã tồn tại và phát triển được cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện đại có phương pháp tổ chức khoa học

Thứ tư, là thông tin Một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp

Thông tin về thị trường mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về

Trang 19

giá cả, đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh

nghiệp Có đầy đủ thông tin và xử lý thông tin đúng, một mặt giúp các doanh

nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh doanh, mặt khác có thể tìm và tạo ra lợi thế

so sánh của doanh nghiệp trên thương trường, chuẩn bị và đưa ra đúng thời

điểm những sản phẩm mới thay thế để tăng cường sức cạnh tranh của hàng

hoá Thông tin đủ, đúng hoặc bưng bít thông tin có thể thúc đẩy thị trường

một cách tích cực hoặc tạo ra những nhu cầu giả tạo, hành vi cạnh tranh sai

trái làm biến dạng thị trường Vì thế không ngạc nhiên khi tình trạng quảng

cáo sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều trên

các phương tiện thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo, giới

thiệu, trưng bày sản phẩm chiếm tỉ trọng nhất định trong chi phí chung của

doanh nghiệp

Th ứ năm, phương thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp Phương thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh

tranh khá quan trọng Ai nắm bắt được công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh

Bởi vì, công cụ này tạo ra được tiện lợi cho khách hàng Phương thức phục vụ

và thanh toán trước hết được thể hiện ở 3 giai đoạn của quá tr ình bán hàng:

trước, trong và sau khi bán hàng Trước khi bán hàng, các doanh nghiệp thực

hiện các động tác như: quảng cáo, giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng,

các hoạt động triển lãm, trưng bày hàng hoá Những động tác này nhằm hấp

dẫn, lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình Trong

quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời khách hàng,

lịch sự, ân cần và chu đáo Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ như bao bì

và giao hàng đến tận tay người tiêu dùng và các dịch vụ bảo hành sửa chữa

hàng hoá Những dịch vụ này tạo ra sự tin tưởng, uy tín của doanh nghiệp

đối với người tiêu dùng Sau nữa, phương thức phục vụ trên sẽ phát huy tác

dụng khi đảm bảo được các yêu cầu các dịch vụ phải nhanh, chính xác

phương thức thanh toán phải linh hoạt, đa dạng bao gồm các loại như: thanh toán một lần, thanh toán chậm, bán trả góp, bán có thưởng, thanh toán linh

hoạt khi trả bằng ngoại tệ

Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên

thương trường đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt vòng đời của nó rút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp dùng nhiều biện pháp trong đó có biện pháp là thường xuyên cải tiến mọi mặt sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trường những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ Trong điều kiện doanh nghiệp chưa đủ sức tạo ra tính độc đáo của sản phẩm mới thì có thể sử dụng nhãn hiệu của một sản phẩm đang được uy tín trên thị trường thông qua hình thức liên doanh Sự thay đổi thường xuyên về mẫu mã nhãn hiệu hàng hoá

cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng hàng hoá sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay

Thứ bảy, chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp Trong

quá trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành

giật khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán như: qui ước về giá cả, số lượng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng, hay việc thanh toán với các hình thức như bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu Những hành vi này sẽ thực hiện tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có lòng tin với nhau Do vậy chữ tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh, giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh chóng tiện lợi Mặt khác, công cụ này còn tạo cơ hội cho nhiều người ít vốn

có điều kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng được thị phần hàng hoá tạo sức mạnh cho doanh nghiệp Những ưu điểm đó giải thích vì sao trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì các doanh nghiệp ngoài quốc doanh linh hoạt hơn, có nhiều bạn

Trang 20

hàng hơn Tuy nhiên sử dụng công cụ này đòi hỏi các chủ thể cạnh tranh phải

có bản lĩnh Bởi vì có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh như tình trạng chụp

giật, bể hụi, đối tác làm ăn có ý đồ đen tối

Thứ tám, sự mạo hiểm rủi ro Trong kinh doanh, lợi nhuận doanh

nghiệp thường tỷ lệ thuận với sự mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh Các chủ

thể kinh doanh có khuynh hướng đầu tư kinh doanh (kể cả đầu tư nghiên cứu

khoa học) vào những mặt hàng mới, lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thường cao

Đây là khuynh hướng khách quan vì nó hy vọng thu được lợi nhuận cao trong

tương lai Mặt khác nó giảm được áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện

tại Sự mạo hiểm chấp nhận rủi ro nhằm thu được lợi nhuận lớn bằng cách đi

đầu trong kinh doanh là công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhưng cũng cực

kỳ nguy hiểm trong quá trình cạnh tranh Việc sử dụng hiệu quả công cụ này

đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài năng và bản lĩnh

Như vậy, các công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp hiện nay sử

dụng có thể khái quát lại như sau: lấy chất lượng, rẻ, thông tin, nhanh, mới,

nhiều, linh hoạt, lòng tin, nổi tiếng, thúc đẩy liên doanh, độc đáo, mạo hiểm

và bán chịu để thắng trong cạnh tranh Vì cạnh tranh là một qui luật trong nền

kinh tế thị trường mà ở đó các chủ thể kinh tế tìm mọi biện pháp - cả nghệ

thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình Với nghĩa đó cạnh tranh

bao gồm cả những thủ đoạn trong hoạt động kinh doanh Thực tiễn cạnh tranh

trên thương trường cho thấy các doanh nghiệp dùng các thủ đoạn như sau:

* Công cụ tài chính: Đây là thủ đoạn khá phổ biến được áp dụng ở các

doanh nghiệp có tiềm năng tài chính lớn, mục đích là dùng sức mạnh tài chính

để loại đối phương ra khỏi cuộc chơi độc chiếm thị trường Động tác phổ biến

là bán phá giá VD: Coca cola ở Việt Nam

* S ự liên doanh, liên kết : Mục đích của thủ đoạn này là các doanh

nghiệp thực hiện sự liên kết nhằm khống chế thị trường, thu lợi nhuận độc

quyền cao Thủ đoạn này bao gồm liên kết về giá nhằm bóp chẹt người tiêu dùng, liên kết về vùng tiêu thụ hay cùng nhau phân chia thị trường, liên kết về

chất lượng hàng bằng cách cùng nhau giảm chất lượng hàng hoá do đó giảm chi phí đầu vào mà vẫn giữ được nguyên giá cũ, liên kết về cung cấp hàng hoá

bằng thủ đoạn thống nhất không cung cấp hàng hoá cho một tổ chức thương

mại nào đó nhằm gây áp lực về giá bán

* Thao túng lũng đoạn thị trường: Đây là thủ đoạn mà các doanh

nghiệp tìm kiếm những cơ hội đầu tư tạo ra những điều kiện đặc biệt thuận lợi trong sản xuất kinh doanh thông qua hành vi mua chuộc hối lộ các quan chức nhà nước VD: Vụ Tân Trường Sanh và Minh Phụng Epco

* Lợi dụng kẽ hở của pháp luật: Pháp luật nhà nước dù được xây dựng

đồng bộ, đầy đủ nhưng vẫn còn những kẽ hở Ở lĩnh vực thiếu luật hoặc luật chưa hoàn thiện thì ở đó xuất hiện tình trạng tiêu cực hay luật rừng Khi văn bản không đồng bộ hoặc chồng chéo thì các doanh nghiệp tìm kiếm cách thức tạo ra lợi nhuận, lợi thế nhằm tháo gỡ khó khăn đưa doanh nghiệp vươn lên Các thủ đoạn hiện nay thường thấy là lợi dụng sơ hở trong qui định mức thuế đối với các nhóm hàng, đặc biệt là đối với những qui định ưu đãi các mặt hàng xuất nhập khẩu, các mặt hàng tái xuất tạm nhập Lợi dụng sơ hở trong nghiệp vụ ngân hàng để thế chấp cho vay, bảo hiểm Các thủ đoạn trên được

sử dụng mạnh mẽ hơn nhất là ở những nước vừa mới bước vào nền kinh tế thị trường với một hành lang pháp lý còn lỏng lẻo

* Sử dụng các thủ đoạn phi kinh tế khác: Ở nước ta mấy năm gần đây

các thủ đoạn phi kinh tế trong cạnh tranh diễn ra theo mức độ từ thấp đến cao

thể hiện ở các hoạt động sau đây: thứ nhất, thông tin sai lệch về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, tính năng của sản phẩm hàng hoá của bên đối thủ cạnh tranh Thông tin sai lệch này thực hiện qua hai kênh: kênh không chính thức,

bằng cách tung tin đồn thất thiệt được rỉ tai một cách có chủ ý đến người tiêu

Trang 21

dùng và kênh chính thức thông qua quảng cáo rầm rộ, một mặt vừa khuyếch

trương hàng hoá của mình, mặt khác quảng cáo so sánh bôi nhọ sản phẩm

cạnh tranh Thứ hai, làm giả sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với chất lượng

thấp, tạo ra những khuyết tật mà hàng thật không có để làm mất uy tín sản

phẩm tiến tới loại trừ đối phương Thứ ba, sử dụng gián điệp kinh tế để ăn cắp

một công nghệ, chiến lược đầu tư phát triển của đối phương nhằm tạo ra lợi

thế trong cạnh tranh Thứ tư, dùng bạo lực để loại trừ đối thủ cạnh tranh từ bỏ

quyết định kinh doanh nào đó, ở mức thấp là đe doạ, gây khó khăn trong cạnh

tranh, ở mức cao hơn là phá huỷ tài sản doanh nghiệp đối phương, thậm chí

thủ tiêu đối phương

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

a Tình hình s ản xuất chè trên thế giới

Theo thống kê của Hiệp hội chè “VITAS” hiện nay có trên 45 nước

trồng chè trong đó có 20 nước Châu Phi, 8 nước Châu Mỹ, 17 nước Châu Á

Hầu hết diện tích chè tập trung ở vành đai nhiệt đới Sản lượng chè thế giới

năm 2002 là 4,708 triệu tấn, năm 2006 là 6,645 triệu tấn T rong số các nước

sản xuất chè 5 nước Kenya, Trung Quốc, Ấn Độ, Colombia, Mehico chiếm

gần 50 % tổng sản lượng chè toàn thế giới (Theo báo cáo đánh giá của Hiệp

hội Chè Việt Nam)

Hiện nay tổng diện tích trồng chè trên toàn thế giới vào khoảng 18 triệu

ha và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 10 triệu tấn, năng suất bình

quân chưa quá 2.5 tạ/ha

Tình hình sản xuất của các nước Kenya, Trung Quốc, Ấn Độ, Colombia,

Mehicolàm biến động về cung chè trên thế giới; nó ảnh hưởng đến xuất khẩu

chè của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Khi các nước này bị mất

mùa thì lập tức giá chè thế giới tăng Do đó giá chè Việt Nam được cải thiện

Những năm qua do thời tiết không ổn định ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng chè thế giới đồng thời có động mạnh mẽ đến thực trạng xuất khẩu chè của

Việt Nam

b Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới

Những nước nhập chè tiêu thụ gần 70% lượng chè tiêu thụ toàn cầu,

những nước sản xuất chỉ tiêu thụ khoảng 30% Trên thế giới hiện có Tiểu

Vương Quốc Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Đài Loan, Ba Lan, Đức là những nước tiêu thụ chè lớn nhất Giá nhập khẩu trung bình là 67,06 Rs/kg, giảm 7 Rs/kg so với năm ngoái Khối lượng nhập khẩu 3,04 triệu kg, so với 2,28 triệu

kg của năm ngoái Kim ngạch nhập khẩu đạt 204,2 triệu Rs so với 169,5 triệu Rs

của năm ngoái (Theo báo cáo đánh giá của Hiệp hội Chè Việt Nam)

Theo số liệu của Uỷ ban Chè Ấn Độ, nhập khẩu chè của nước này trong năm 2007 tăng 34,7 triệu Rs so với năm 2007

Mặc dù khối lượng nhập khẩu tăng mạnh, từ 8,28 triệu kg của năm

2006 lên 11,04 triệu kg trong năm 2007 song do giá giảm nên tổng kim ngạch chỉ tăng từ 469,5 triệu Rs lên 604,2 triệu Rs

Giá nhập khẩu trung bình trong năm 2007 là 62,06 Rs/kg, thấp hơn 7

Rs so với năm ngoái

Ấn Độ nhập khẩu chè từ nhiều nước khác nhau với các mức giá khác nhau Cụ thể là:

Trang 22

so với 2.100kg của năm 2006 Giá nhập khẩu từ Inđônêxia rẻ hơn, từ 68,14

Rs/kg xuống còn 56,14 Rs/kg

+ Nepal:

Nhập khẩu từ Nepal đạt 1.158 triệu Rs, cao hơn 35 triệu Rs so với cùng

kì năm 2006, mặc dù giá nhập giảm 4 Rs xuống trung bình 56,01 Rs/kg, khối

lượng nhập là 8.500 kg, so với 6.400 kg năm ngoái

+ Papua New Guinea

Nhập khẩu từ Papua New Guinea đạt 35.5 triệu Rs, so với 24.2 triệu Rs

cùng kỳ Khối lượng nhập khẩu là 608.0 kg, so với 193.2 kg của năm ngoái,

giá nhập khẩu trung bình là 58,72 Rs/kg, so với 69,24 Rs/kg trong năm 2006

Ngoài ra, nhập khẩu từ Argentina và Zimbabuwe cũng tăng song nhập

từ Việt Nam, Trung Quốc lại giảm

Như vậy, chỉ qua phân tích một thị trường tiêu thụ mạnh sản phẩm chè

của khu vực ta đã có thể thấy được thị phần có được của các quốc gia có

tiềm lực xuất khẩu chè ở thị trường này như thế nào Sản lượng tiêu thụ rất

lớn, nhưng giá trị của từng sản phẩm chè ở mỗi quốc gia lại khác nhau trong

đó Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được rất ít cả về số lượng và giá trị ở thị

trường này

Theo như kết quả đánh giá của hiệp hội chè Việt Nam thì năm 2007

Công ty cổ phần chè Quân Chu có giá trị xuất khẩu chiếm 8% sản lượng chè

của Việt Nam, do vậy cầu thế giới về chè cũng có ảnh hưởng lớn đến tình hình xuất khẩu của Công ty

1.1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam

Ở Việt Nam cây chè đã có từ rất lâu đời Do điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp, cây chè trồng ở các vùng Trung du - Miền núi phía Bắc, vùng khu

Bốn cũ và Tây Nguyên sinh trưởng và phát triển rất mạnh

Theo kế hoạch, đến năm 2020, doanh thu ngành chè đạt 1 tỷ USD, trong đó, giá trị tiêu thụ nội địa là 300 triệu USD, giá trị xuất khẩu 700 triệu USD Tuy nhiên, mục tiêu này khó đạt đư ợc bởi suốt 5 năm nay, xuất khẩu chè ở nước ta đều xoay quanh ngưỡng 100 triệu USD, mỗi năm xuất khẩu chè chỉ tăng 10-20 triệu USD

Hiện xuất khẩu chè nước ta đang đứng thứ 5 thế giới, chè Việt Nam đang có mặt tại 110 quốc gia và lãnh thổ Thương hiệu “C heViet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 73 quốc gia, khu vực trên thế giới Tuy nhiên, hạn chế của chè nước ta là chất lượng không đồng đều, lẫn nhiều tạp chất, chủ yếu

xuất khẩu ở dạng thô, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Trong những năm đổi mới gần đây, ngành chè đã có những bước tiến vượt

bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp chế biến Diện tích trồng chè (đặc biệt

là những diện tích trồng bằng giống chè giống mới) không ngừng được mở

rộng và triển khai ở hầu khắp các tỉnh có trồng chè

Đến nay, cả nước có khoảng hơn 615 doanh nghiệp, kinh doanh chế

biến chè với qui mô lớn, vừa và nhỏ Hàng nghìn hộ tham gia sản xuất chế biến chè qui mô gia đình đã làm ra 90-100 nghìn tấn chè khô và xuất khẩu được trên 74 nghìn tấn Trong đó, hơn 70% sản lượng là sản phẩm chè đen Diện tích trồng chè đạt khoảng 108.000 ha Tuy nhiên, sản phẩm chè xuất

khẩu Việt Nam còn có nhiều điểm yếu như chất lượng chưa cao, còn có nhiều

Trang 23

khuyết tật và chưa có uy tín trên thị trường thế giới Giá bán chè đen của Việt

Nam bình quân chỉ đạt 1,0 - 1,2 USD/ kg, trong khi giá bán bình quân của các

nước khác từ 1,4 - 1,8 USD/ kg Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị

hàng hoá là việc làm cấp bách của ngành chè Việt Nam

Chất lượng của các sản phẩm chè lại được nói đến như hệ quả của sự

mất cân đối giữa sự phát triển ồ ạt của các cơ sở chế biến chè dẫn đến việc

khai thác cạn kiệt các vùng nguyên liệu Tình trạng đó cũng sẽ đe dọa không

nhỏ đến mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành chè

Chỉ tính riêng các doanh nghiệp chế biến chè chúng ta có 650 cơ sở

công nghiệp với tổng công suất trên 3.100 tấn búp tươi/ngày Với sản lượng

546.000 tấn chè búp tươi năm 2005 chỉ đáp ứng được khoảng 88% nhu cầu

nguyên liệu chè búp của các cơ sở chế biến này

Ngoài ra, còn có hàng trăm c ơ sở chế biến chè thủ công bán công

nghiệp cùng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộn

ướp hương đóng gói chè Do thiếu nguyên liệu nên nhiều cơ sở không quan

tâm đến chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt kiểm soát dư lượng thuốc

bảo vệ thực vật trên chè, giá cả thu mua không hợp lý nên không khuyến

khích người sản xuất coi trọng chất lượng nguyên liệu, thiếu chăm sóc vườn

chè đúng quy cách, dẫn đến năng suất chè bình quân của cả nước chỉ đạt 5,7

tấn/ha (mà nếu chăm sóc tốt nhiều vườn chè cho năng suất 20-25 tấn/ha)

Bên cạnh đó, trang thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè

Việt Nam được xuất khẩu ở dạng nguyên liệu, chè thành phẩm mới chỉ chiếm

7% tổng kim ngạch xuất khẩu chè nguyên liệu chiếm xấp xỉ 80%

Chất lượng chè kém đi thì xuất khẩu sẽ giảm sút Với cơ cấu trên 2/3

sản lượng chè được sản xuất dành cho xuất khẩu, trong khi chỉ có non 1/3 tiêu

dùng trong nước Chính vì thế, khi kim ngạch xuất khẩu giảm tất yếu sẽ dẫn

đến chuyện đình đốn trong sản xuất

Tuy nhiên, phần lớn sự suy giảm chất lượng, giá bán của chè là do các doanh nghiệp Việt Nam tự “phá” nhau bằng cách nâng giá mua của người nông dân đồng thời lại giảm giá bán cho đối tác nước ngoài

Chẳng vậy mà, nếu như trước đây giá xuất khẩu 1kg chè khô vào Anh đạt 1,8-2 USD/kg, thì nay chỉ còn có 1,1 -1,2 USD/kg, với khối lượng xuất khẩu 100.000 tấn chè/năm thì ngành chè đã bị thiệt hại 70 triệu USD Trong khi đó, ở Việt Nam cũng có nhiều nơi xuất bán được chè với giá cao như Đình Lập (Lạng Sơn): 8 USD/kg, Phú Bền (Phú Thọ): 1,8-2 USD/kg, Mộc Châu (Sơn La): 7 USD/kg… Một nguyên nhân quan trọng khiến ngành chè của Việt Nam rơi vào tình trạng “lẹt đẹt” như hiện nay là thương hiệu của chúng ta quá yếu, mặc dù thương hiệu quốc gia cho chè đã có với tên

“CHEVIET”

1.1.2.3 Kết quả sản xuất và tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Đề án phát triển chè giai đoạn 2006 - 2010 được UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt đã tạo điều kiện cho các địa phương và nông dân tập trung khai thác có hiệu quả, bền vững tiềm năng và lợi thế trên đất vườn đồi Năm qua, diện tích chè được đầu tư thâm canh là 7.470 ha, cải tạo 1.133 ha chè; trồng mới và trồng lại 618 ha với các giống chủ yếu là LDP1, TRI 777, chè Shan và một số giống chè nhập nội Năng suất chè tươi vùng thâm canh đạt trên 100 tạ/ha/năm, góp phần nâng năng suất của toàn tỉnh lên 88

tạ/ha/năm, sản lượng chè búp tươi đạt 129.923 tấn, vượt 11,8% so với kế hoạch Trong năm 2007 này, ngành Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo các địa phương tiếp tục thực hiện thâm canh, cải tạo, đồng thời mở rộng diện tích trồng chè mới

Việc hỗ trợ giá giống không chỉ riêng với giống chè nhập nội đã khuyến khích nhân dân trồng mới chè bằng các giống chè giâm cành Năm nay, chè tiêu

Trang 24

thụ nội địa chủ yếu là chè xanh chế biến bằng phương pháp thủ công, giá bán

tương đối ổn định và cao hơn so với năm ngoái Năm nay thì lại có sự khác

biệt rõ rệt, tư thương, các doanh nghiệp chế biến chè (trừ Công ty Cổ phần

Chè Sông Cầu) đều làm dịch vụ này Năm nay người dân các xã vùng sâu

vùng xa như xã Cây thị, Phúc Tân rất m ừng vì giá thu mua Chè búp tươi đã

tăng giá lên từ 6.000 - 7.000 Đồng/Kg

Tại Phổ Yên gần 100 hộ của thị trấn đang đứng ra làm dịch vụ thu

mua chè khô Khảo sát một số vùng chè của các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ,

thành phố Thái Nguyên, Phổ Yên có thể thấy rõ t ư thương tham gia vào

dịch vụ thu mua

Trong khi thị trường buôn bán tự do khá sôi động thì các doanh nghiệp

lại rơi vào tình trạng thiếu nguồn nguyên liệu Đơn cử như Công ty Cổ phần

Chè Bắc Sơn (Phổ Yên), mặc dù chè đang trong thời điểm thu hoạch chính vụ

nhưng mỗi ngày Công ty cũng chỉ thu mua được 1,5 đến 2 tấn chè búp tươi

cho dây chuyền chế biến công suất 20 tấn/ngày Mặc dù giá thu mua chè tươi

của Công ty từ vài tháng nay vẫn giữ ở mức 6 600 – 7.000 đồng/kg song do

nằm ở vùng chè đặc sản Phúc Thuận, bán với giá chè tươi nông dân chỉ thu

được trên dưới 6.000 đồng/kg (4.5 kg chè tươi được 1 kg chè khô), còn gia

đình tự chế biến thì giá có thể mang lại cho họ ít nhất từ 5 - 10.000 đồng/kg

chè khô Còn các vùng chè khác của tỉnh như Đồng Hỷ, Đại Từ, T.P Thái

Nguyên, giá thu mua nguyên liệu chè tươi dao động từ 2.500 - 4.000 đồng/kg

Tính từ đầu năm đến nay, sản lượng chè búp tươi ước đạt 98.000 tấn,

trong đó sản lượng qua chế biến là ước đạt 19.600 tấn nhưng chế biến công

nghiệp vẫn chỉ đạt dưới mức 50% Nguyên nhân chính là do các nhà máy

không thu được nguồn nguyên liệu để đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất

Trong số 29 nhà máy chế biến chè trên địa bàn tỉnh hiện nay chỉ có 22 nhà máy

hoạt động Nhiều đơn vị chế biến chè trên địa bàn tỉnh cũng rơi vào tình trạng

như Công ty Cổ phần chè Bắc Sơn Có những đơn vị chuyển sang loại hình kinh doanh khác như Công ty Cổ phần chè Bắc Sông Cầu (Đồng Hỷ) do thiếu nguồn nguyên liệu chế biến Đa số các doanh nghiệp chế biến chè trên địa bàn

tỉnh chưa có vùng nguyên liệu riêng, chưa có hợp đồng thu mua nguyên liệu với nông dân, do vậy không chủ động được nguồn nguyên liệu cho chế biến Còn có tình trạng tư thương đến mua nguyên liệu chè khô không theo phẩm

cấp nên ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà máy chế biến

Hiện nay, sản phẩm chè của Thái Nguyên cả nội tiêu và xuất khẩu không

chủ động được thị trường bên ngoài Giá sản phẩm phần lớn ở các địa phương không cao (dao động trong khoảng 20.000Đ đến 30.000Đ/kg chè xanh) do các sản phẩm không mang tính hàng hoá cao Vì vậy, để nâng cao giá trị sản xuất chè, nâng cao chất lượng, thực hiện liên doanh liên kết và tìm kiếm thị trường

kể cả tiêu thụ nội tiêu và xuất khẩu là mục tiêu rất quan trọng

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Hội nhập doanh nghiệp có những điều kiện thuận lợi và khó khăn gì ?

- Với môi trường kinh doanh mới, đối thủ kinh doanh mới doanh nghiệp có chiến lược hội nhập ra sao ?

- Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm của Công ty là gì?

- Năng lực cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường ra sao?

- Doanh nghiệp đưa ra các giải pháp gì cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh cảu sản phẩm hàng hóa ?

1.2.2 Cơ sở phương pháp luận

Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu

Ngày đăng: 08/08/2016, 23:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Sơ đồ 1.1. nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng (Trang 8)
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa Cung-Cầu của hộ tiêu dùng và hộ kinh doanh - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa Cung-Cầu của hộ tiêu dùng và hộ kinh doanh (Trang 9)
Đồ thị 1.1. Đường cầu về hàng hóa - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
th ị 1.1. Đường cầu về hàng hóa (Trang 10)
Đồ thị 1.2. Đường cung về hàng hóa - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
th ị 1.2. Đường cung về hàng hóa (Trang 11)
Đồ thị 1.3. Mối quan hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
th ị 1.3. Mối quan hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa (Trang 12)
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức công ty (Trang 26)
Bảng 2.1. Số liệu về nguồn nhân lực trong công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Bảng 2.1. Số liệu về nguồn nhân lực trong công ty (Trang 27)
Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức trong công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức trong công ty (Trang 27)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất tự cung ứng về nguyên liệu - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất tự cung ứng về nguyên liệu (Trang 28)
Bảng 2.3. Đánh giá khả năng tự đáp ứng sản xuất - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Bảng 2.3. Đánh giá khả năng tự đáp ứng sản xuất (Trang 29)
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ chế biến Chè xuất khẩu - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ chế biến Chè xuất khẩu (Trang 31)
Đồ thị 2.1 phân tích giá xuất khẩu bình quân so với sản phẩm cùng loại - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè quân chu, thái nguyên trước thềm hội nhập quốc tế
th ị 2.1 phân tích giá xuất khẩu bình quân so với sản phẩm cùng loại (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w