1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

58 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, các tổ chức quốc tế và nguồn huy động từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ QUỲNH NGA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

––––––––––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ QUỲNH NGA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH THIỆN ĐỨC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được

dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận

văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được

ghi rõ nguồn gốc./

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

-Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn

TS Đinh Thiện Đức

h doanh - Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Thị Quỳnh Nga

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Đóng góp của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĐT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 Tổng quan về đầu tư và vốn đầu tư XDCB 4

1.1.1 Đầu tư XDCB 4

1.1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 11

1.1.3 Vai trò của VĐT XDCB từ NSNN 15

1.1.4 Nguyên tắc quản lý và cấp phát VĐT XDCB của NSNN 17

1.2 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB 20

1.2.1 Một số khái niệm 20

1.2.2 Các nguyên tắc xác định và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả XDCB 24

1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN 30

1.3 Các nhân tố tác động tới sử dụng hiệu quả VĐT cho XDCB 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.3.1 Chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước, ngành và địa phương 31

1.3.2 Nhóm nhân tố về các yếu tố của nguồn lực 33

1.3.3 Tác động của cơ chế và chính sách đến hiệu quả đầu tư 34

1.4 Kinh nghiệm quản lý sử dụng vốn hiệu quả cho đầu tư XDCB 36

1.4.1 Kinh nghiệm của Nhà nước Cộng hòa Pháp 36

1.4.2 Kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Vĩnh Phúc 38

1.4.3 Bài học kinh nghiệm 39

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 41

2.2 Phương pháp nghiên cứu 41

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 41

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 42

2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 42

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương 43

43

2.3.3 44

2.3.4 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn 44

Chương 3: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ NĂM 2010 - 2013 47

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của thành phố Việt Trì 47

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý 47

3.1.2 Điều kiện KT - XH 48

3.2 Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì 53

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2.1 Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố

Việt Trì 53

3.2.2 Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB tại thành phố Việt Trì 60

3.3 Đánh giá về hoạt động sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì 66

3.3.1 Hiệu quả sử dụng VĐT bằng các chỉ tiêu vĩ mô 66

3.3.2 Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 67

3.3.3 Hiệu quả sử dụng VĐT XDCB thông qua xác định thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 74

3.3 Đánh giá chung quản lý VĐT XDCB từ NSNN cấp tỉnh của thành phố Việt Trì 79

3.3.1 Những kết quả đạt được 79

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 80

3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 83

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 85

4.1 Thuận lợi, khó khăn trong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội 85

4.1.1 Những thuận lợi cơ bản 85

4.1.2 Những khó khăn, thách thức 85

4.2 Phương hướng, kế hoạch sử dụng VĐT XDCB từ NSNN tại thành phố Việt Trì giai đoạn 2015 – 2020 86

4.2.1 Phương hướng chung 86

4.2.2 Kế hoạch 86

4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ NSNN thành phố Việt Trì giai đoạn 2015- 2020 92

4.3.1 Đẩy nhanh việc huy động vốn đầu tư XDCB 92

4.3.2 Nâng cao chất lượng công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư 94

4.3.3 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, quyết toán VĐT XDCB 95

4.3.4 Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư và quản lý tài chính đầu tư 96

4.4.5 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng 97

4.4 Một số kiến nghị 98

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 101

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thuộc Trung ương

ODA : Vốn hỗ trợ phát triển chính thức FDI : Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

trong chi NSNN cho đầu tư XDCB 61 Bảng 3.5: Thống kê mô tả các điều tra về chính sách ngân sách và lập kế hoạch

chi cho đầu tư XDCB trong chi NSNN 62 Bảng 3.6: Thống kê mô tả các điều tra về dự toán chi cho đầu tư XDCB trong

chi NSNN 63 Bảng 3.7: Thống kê mô tả các điều tra về chấp hành cho đầu tư XDCB trong

chi NSNN 64Bảng 3.8: Thống kê mô tả các điều tra về quyết toán chi cho đầu tư XDCB

trong chi NSNN 65 Bảng 3.9: Thống kê mô tả các điều tra về việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá

chương trình, dự án cho đầu tư XDCB trong chi NSNN 65 Bảng 3.10: Hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ NSNN 66 Bảng 3.11: Kết quả xoá đói giảm nghèo 73

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

là một trong những vấn đề then chốt nhất Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và

Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, các

tổ chức quốc tế và nguồn huy động từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh Phú Thọ, công tác

ĐTXDCB ở tỉnh Phú Thọ thời gian qua đã có nhiều khởi sắc, góp phần làm cho

diện mạo của đô thị ngày một đổi mới Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị từng bước

hiện đại hoá và hệ thống "điện, đường, trường, trạm" ngày càng được đồng bộ hoá

đã tạo tiền đề cho KT-XH thành phố không ngừng tăng trưởng, hoà nhập chung vào

sự phát triển của tỉnh và cả nước Đầu tư XDCB là lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò

chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đầu tư và đầu tư XDCB vẫn còn nhiều

tồn tại, hạn chế, đặc biệt là hiệu quả của đầu tư XDCB còn thấp; thất thoát và lãng

phí trong đầu tư XDCB còn nhiều và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu

tư; lập dự án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác Đây là một trong

những vấn đề bức xúc của toàn xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đòi

hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương phải giải quyết Tại Đại hội

Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã tiếp tục chỉ ra những tồn tại trong lĩnh vực

đầu tư XDCB là: “Đầu tư vẫn dàn trải Hiệu quả sử dụng các nguồn VĐT còn thấp,

còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn VĐT của Nhà nước.” “Chất lượng nhiều

công trình XDCB còn thấp”.1

Cũng như nhiều huyện trong tỉnh, quá trình thực hiện đầu tư XDCB tại

Thành phố Việt Trì đã có những kết quả thành công nhất định, nhờ đó mà tốc độ

tăng trưởng kinh tế của thành phố đã đạt được khá cao so với mức bình quân chung

của cả tỉnh trong nhiều năm Tuy vậy, hiệu quả của đầu tư XDCB chưa đạt được

1

Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mục tiêu đề ra; tồn tại, hạn chế còn xảy ra ở tất cả các khâu Thất thoát trong đầu tư XDCB chưa được khắc phục triệt để

Nhận thức được các vấn đề nói trên và với mong muốn nghiên cứu và tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả VĐT từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt

Trì, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ” để thực hiện luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Quản lý kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Từ việc phân tích thực trạng về tình hình quản lý sử dụng VĐT cho XDCB,

đề tài sẽ đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn dầu tư XDCB của Thành phố Việt Trì

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong đầu tư XDCB ở thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu ngân sách đầu tư XDCB và thực trạng hoạt động sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú thọ giai đoạn 2010- 2013

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình sử dụng VĐT các dự án XDCB thuộc nguồn vốn NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Phạm vi về nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu về hoạt động sử dụng

vốn Ngân sách đầu tư XDCB

4 Đóng góp của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về cơ sở l luận, thực tiễn sử dụng vốn

ngân sách cho XDCB

hiệu quả của việc sử dụng vốn NSNN cho XDCB thành phố Việt Tì, tỉnh Phú Thọ

(HĐND, UBND thành phố Việt Trì, Các phòng, ban ngành liên qua

Tác giả mong muốn những giải pháp đưa ra trong luận văn được ứng dụng

vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả của sử dụng vốn NSNN cho XDCB thành phố

Việt Tì, tỉnh Phú Thọ

5 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu tham

khảo và phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 4 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về VĐT và hiệu quả sử dụng

VĐT XDCB từ NSNN

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN của thành phố Việt

Trì năm 2010 - 2013

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ

NSNN ở thành phố việt trì giai đoạn 2015 - 2020

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĐT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN

chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KT - XH, tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người trong xã hội Đầu tư XDCB bằng vốn Nhà nước là việc sử dụng phần vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB,

, vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và VĐT của doanh nghiệp Nhà nước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốc dân, các dự án công, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đầu tư XDCB bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ

1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB

Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất Bao gồm các đặc điểm sau:

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ nhất: đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản

xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCB chính là một phần

tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai

Để tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế, là những điều kiện kỹ thuật cần

thiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: xây dựng hệ thống hạ tầng,

các nhà máy và mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại… đầu

tư XDCB cần một lượng vốn lớn

Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi tiềm năng

nguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, huy động mọi nguồn lực

trong các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thu hút các nguồn

lực nước ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO…

Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sử

dụng VĐT XDCB phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, nếu

không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gay gắt giữa đầu tư

và tiêu dùng

Thứ hai: quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất dài

mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang

tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt mà mỗi

công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự

nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục và phân tán Thời gian khai thác và

sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính

chất dự án

Quá trình đầu tư XDCB gồm 3 giai đoạn: xây dựng dự án, thực hiện dự án và

khai thác dự án

Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dài nhưng lại

không tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn giữa đầu tư và

tiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn

nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này Muốn nâng cao hiệu quả

VĐT XDCB cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm, nhằm đưa

nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sử dụng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khi xét hiệu quả VĐT XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư XDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp để giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ động vốn

ở sản phẩm dở dang

Thứ ba: đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư chính

là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai, “Chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh tế đã nói rằng đầu tư là đánh bạc với tương lai

Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưởng

sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết khi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư

Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư

Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là hoàn đủ VĐT cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránh được rủi ro Vì vậy các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến là ưu đãi, miễn giảm thuế, khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toán vốn nhanh, kịp thời…

Thứ tư: sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như nhà

máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính cố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch

cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng, khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sản phẩm của đầu tư XDCB là những TSCĐ, có chức năng tạo ra sản phẩm

và dịch vụ khác cho xã hội, thường có VĐT lớn, do nhiều người, thậm chí do nhiều

cơ quan đơn vị khác cùng tạo ra

Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không

theo một dây chuyền mà có tính cá biệt Mỗi công trình đều có điểm riêng nhất

định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàn toàn giống

nhau Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổi công nghệ ngắn

như: công trình bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử… thì việc thay

đổi công nghệ, kiểu dáng luôn xảy ra

Giá thành sản phẩm XDCB rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng

giai đoạn Sản phẩm đầu tư XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn

mang tính nghệ thuật Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình độ kinh tế, trình độ

khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nước

Quá trình XDCB bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hình địa chất thuỷ

văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Trong đầu tư XDCB chu

kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vì vậy, chọn công trình để

bỏ vốn thích hợp nhằm giảm mức tối đa thiệt hại do công trình xây dựng dở dang là

một thách thức lớn đối với các nhà thầu

Nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định là điều bất lợi cho quá trình

XDCB, dẫn đến thời gian ngừng làm việc nhiều, năng suất lao động thấp, dễ gây tâm

lý tạm bợ, tuỳ tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công nhân công trường

Để thực hiện một dự án đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất

nhiều đơn vị tham gia thực hiện Trên một công trường có thể có hàng chục đơn vị

làm các công việc khác nhau, nhưng các đơn vị này cùng hoạt động trên một không

gian và thời gian, vì vậy trong tổ chức thi công cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau

bằng các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Tuy vậy hiện nay cách thức giao nhận

thầu chưa được cải tiến, giá bán được định trước khi chế tạo sản phẩm Tức là trước

khi nhà thầu biết giá thành thực tế của mình, việc ước lượng đúng đắn giá cả và

phương tiện thi công rất khó khăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất có thể khi

thi công thực tế bị phủ định

Điều phụ thuộc này buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm tra thường

xuyên trong quá trình thi công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.1.3.Các giai đoạn Đầu tư XDCB

Dự án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêng biệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiến trình lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập và trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân thành hai giai đoạn theo sơ đồ1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án Qua sơ đồ ta thấy: bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước

là cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của dự án mà một vài bước có thể gộp nhau như ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu

dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và những dự án có thiết kế mẫu

Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án

Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư

Nghiên cứu cơ hội đầu tư

Lập dự án, lập BCKT-KT

Thẩm định và phê duyệt dự án

Giai đoạn II Thực hiện đầu tư

Thiết kế, lập tổng dự toán,

Chạy thử nghiệm thu, quyết toán

Bàn giao, đưa vào khai thác sử dụng

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bước tiếp

theo phải kiểm tra và đánh giá về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt

yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm

quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo Đáng lưu ý nhất là thực hiện

trình tự theo giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư dự án

- Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm:

+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm

nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn VĐT và

lựa chọn hình thức đầu tư

+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng

+ Lập dự án đầu tư

+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư,

tổ chức cho vay VĐT và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập dự án đầu tư

- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:

+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm

lục địa

+ Chuẩn bị mặt bằng xây dựng

+ Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế giám định kỹ thuật và chất lượng công trình

+ Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình

+ Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị

+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)

+ Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu

+ Thi công xây lắp công trình

+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng

1.1.1.4 Vai trò của đầu tư XDCB từ NSNN

Đầu tư XDCB từ NSNN đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là trong bối

cảnh Việt Nam - một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế và tăng trưởng nhanh vào

bậc nhất trên thế giới Cụ thể có các vai trò sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà

nước trực tiếp tác động đến các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng, như: hạ tầng kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng…

mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; các

dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định theo định hướng XHCN

Hai là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN được coi là một công cụ để Nhà nước

chủ động điều tiết, điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế:

- Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:

+ Về mặt cầu: Đầu tư (trong đó có đầu tư Chính phủ) sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo việc làm và thu nhập… Tuy nhiên tác động của đầu tư đối với tổng cầu chỉ là ngắn hạn Trong khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ kéo theo tổng cầu tăng, các yếu tố giá cả đầu vào của đầu tư tăng, sản lượng cân bằng tăng theo dẫn đến cân bằng cung cầu mới

+ Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của nền kinh tế tăng lên thì lại tác động làm tăng tổng cung trong dài hạn, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng, giá cả sản phẩm giảm Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng, kích thích đầu tư Đây là nguồn cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế - xã hội Như vậy thông qua chi đầu tư XDCB từ NSNN, Chính phủ có thể chủ động xử lý những cân đối vĩ mô của nền kinh tế

- Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ Thông qua các chương trình dự án đầu tư lớn (chương trình 135, dự án đường Hồ Chí Minh, chương trình kiên cố hoá trường lớp học, giao thông nông thôn…) Nhà nước đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng để đầu tư phát triển kinh tế ở những vùng sâu, vùng xa nhằm thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng các thành quả của tăng trưởng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định, vững chắc Xét về mặt bản chất,

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đầu tư của Chính phủ là một giải pháp để điều chỉnh những khuyết tật vốn có của

nền kinh tế thị trường

Ba là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tạo điều kiện cho các thành phần kinh

tế và cho toàn nền kinh tế phát triển.Vốn đầu tư từ NSNN được coi là “vốn mồi” để

thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển; cơ sở hạ tầng

kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo khả năng lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài

nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, du lịch… Có đủ vốn

đầu tư trong nước mới góp phần giải ngân, hấp thụ được các nguồn vốn ODA, có hạ

tầng kinh tế - xã hội tốt mới thu hút được vốn FDI, có vốn đầu tư “mồi” của Nhà nước

mới khuyến khích phát triển các hình thức BOT… Như vậy đầu tư từ NSNN có vai trò

hạt nhân để thúc đẩy xã hội hoá trong đầu tư, thực hiện CNH - HĐH đất nước

Bốn là, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tạo điều kiện phát triển nguồn

nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các dự án

đầu tư vào các lĩnh vực trên (như đã nêu) rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu

hồi vốn thấp nên thường được Nhà nước đầu tư bằng nguồn NSNN Khi hoàn thành

và đưa vào sử dụng sẽ cung cấp các dịch vụ công, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả

đầu tư của nền kinh tế - xã hội

Năm là, sản phẩm đầu tư XDCB có ý nghĩa lớn về mặt chính trị, xã hội, nghệ

thuật và an ninh - quốc phòng:

- Về mặt kinh tế - xã hội: Cơ cấu đầu tư XDCB thể hiện đường lối phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

Về mặt nghệ thuật: Đầu tư XDCB góp phần mở mang đời sống văn hoá, tinh

thần làm phong phú thêm nền kiến trúc của đất nước

- Về mặt an ninh, chính trị và quốc phòng: Đầu tư XDCB góp phần tăng cường

tiềm lực quốc phòng của đất nước, ổn định an ninh trật tự, và chính trị xã hội

1.1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.2.1 Khái niệm

Theo Nghị định 385-HĐBT ngày 7 tháng 11 năm 1994 của Hội đồng bộ

trưởng về việc bổ sung, thay thế điều lệ quản lý XDCB đã ban hành kèm theo Nghị

định 232-CP ngày 6/6/1981 thì "VĐT XDCB là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán” Các văn bản pháp luật sau Nghị định này không đưa ra định nghĩa về VĐT XDCB nữa Tuy nhiên, thuật ngữ

“VĐT XDCB” vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật hiện nay VĐT XDCB là giá trị tài sản xã hội đã được sử dụng nhằm thực hiện các dự

án đầu tư XDCB mang lại hiệu quả trong tương lai Hay nói cách khác, đầu tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ nâng cao mức thu nhập bình quân của mỗi quốc gia, nhưng ý nghĩa quan trọng nhất của đầu tư phát triển là làm thay đổi cơ cấu KT - XH của mỗi quốc gia

VĐT XDCB là yếu tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh, nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu

tư và đặc biệt có vai trò to lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước Bất kỳ một quá trình tăng trưởng và phát triển nào muốn tiến hành được đều phải có VĐT

1.1.2.2 Các nguồn VĐT XDCB

VĐT phát triển kinh tế của một nước được hình thành từ hai nguồn vốn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Đối với nước ta và các nước đang phát triển khác, đứng trước thực trạng của nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP còn rất hạn hẹp, cần kết hợp huy động vốn nước ngoài với vốn trong nước để đầu tư phát triển kinh tế, trong đó nguồn vốn trong nước có ý nghĩa chiến lược đối với sự tăng trưởng của mỗi quốc gia Phù hợp với phạm vi của đề tài là nghiên cứu về nguồn VĐT trong nước Nguồn VĐT trong nước được hình thành chủ yếu từ: tiết kiệm của Chính phủ; tiết kiệm của dân cư; tiết kiệm của doanh nghiệp và vốn huy động thông qua sử dụng các tài sản quốc gia, ngoài ra nguồn VĐT trong nước có thể hình thành

từ tài trợ nước ngoài, dưới hình thức vay hoặc nhận viện trợ của Chính phủ Mỗi nguồn vốn có những đặc điểm khác nhau:

- Nguồn vốn hình thành từ tiết kiệm Chính phủ: Là số chênh lệch giữa tổng

các khoản thu và tổng các khoản chi dùng thường xuyên của Chính phủ Mặc dù, tiết kiệm của các doanh nghiệp Nhà nước cũng đóng góp vào tiết kiệm của Chính phủ, nhưng sẽ được trình bày ở phần tiết kiệm của doanh nghiệp (phần sau đây)

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khi nghiên cứu tiết kiệm của Nhà nước, cần lưu ý là tiết kiệm của khu vực này vẫn

có thể là một số dương, ngay cả khi NSNN bội chi, bởi vì chi của ngân sách bao

gồm cả chi về đầu tư, tức là sử dụng tiết kiệm của khu vực Nhà nước

- Nguồn vốn hình thành từ tiết kiệm trong dân cư: Được hình thành từ phần

còn lại trong thu nhập của dân cư, sau khi đóng góp nghĩa vụ đối với Nhà nước (nếu

có) và đảm bảo tiêu dùng cho nhu thiết yếu của bản thân và gia đình họ Phạm vi

hình thành thu nhập của dân cư bao gồm: thu nhập từ kết quả lao động, từ sản xuất

và kinh doanh dịch vụ của bản thân dân cư và gia đình họ; thu nhập do thân nhân

của họ từ nước ngoài gửi về (người định cư, hợp tác lao động, học tập và công

tác…); thu nhập do quyền thừa kế gồm vàng, tiền, nhà cửa và đất đai; thu nhập hình

thành từ những cơ hội may mắn bất ngờ (trúng số độc đắc, giá của tài sản thay

đổi…) Tiết kiệm trong dân cư là một bộ phận của tổng tiết kiệm trong nước, đóng

vai trò chủ yếu trong việc hình thành VĐT của mỗi quốc gia Nó đã được thừa nhận

là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng số các khoản tiết

kiệm Vấn đề đặt ra là khai thác nguồn tiết kiệm này như thế nào để khuyến khích

quá trình tự đầu tư vào lĩnh vực XDCB, để bù đắp thiếu hụt ngân sách, để thúc đẩy

các doanh nghiệp tự đầu tư

- Nguồn VĐT hình thành từ các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường,

doanh nghiệp là những tổ chức kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Nếu xét trên

góc độ cung và cầu vốn cho nền kinh tế thì các doanh nghiệp được phân chia làm

hai loại: doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính Doanh nghiệp tài

chính là các tổ chức tài chính trung gian như các Ngân hàng thương mại, công ty tài

chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, có khả năng ứng vốn cho nền kinh

tế, thông qua hoạt động kinh doanh hàng hoá, không giống như hàng hoá thông

thường mà là các hàng hoá đặc biệt như: tiền tệ, vốn, chứng khoán Các doanh

nghiệp này có vai trò quan trọng như những “cầu nối” giữa người bán ra và người

mua vào quyền sử dụng vốn Giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực bỏ vốn,

giảm chi phí tìm kiếm, giao dịch và rủi ro Thông qua vai trò trung gian, các doanh

nghiệp tài chính thực hiện được lợi nhuận của mình và làm nghĩa vụ thuế đối với

Nhà nước, các doanh nghiệp đã đóng góp vào việc mở rộng tiết kiệm và đầu tư của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nền kinh tế, thông qua việc làm tăng nguồn tiết kiệm của khu vực Chính phủ, tăng hoạt động đầu tư của chính nó

- Nguồn vốn hình thành từ việc sử dụng các tài sản Quốc gia: Tài sản quốc

gia không chỉ biểu hiện bằng vốn tiền tệ thực tế, đang vận động theo các luồng giá trị của quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, mà còn được biểu hiện dưới dạng tiềm năng là những tài sản hữu hình và vô hình, nếu biết khai thác và tác động của ngoại lực thì nó có thể trở thành vốn tiền tệ, làm tăng nguồn VĐT phát triển cho nền kinh tế Các tài sản quốc gia như đất đai, tài nguyên và lao động được thừa nhận có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển đối với các nước đang phát triển, nhưng chúng chỉ biến từ nguồn tài chính tiềm năng thành nguồn tài chính thực tế cho đầu tư phát triển khi đã dùng đến ngoại lực tác động, để có VĐT phải đầu tư vốn, đó là một nguyên lý

Như vậy, việc xác định các nguồn tiết kiệm của Chính phủ, tiết kiệm của dân

cư, tiết kiệm của doanh nghiệp và các nguồn vốn tiềm năng khác, có vai trò quan trọng trong việc hình thành VĐT XDCB trong nước để đầu tư phát triển kinh tế của các quốc gia

1.1.2.3 Vốn NSNN trong đầu tư XDCB

NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi ngân sách

- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)

+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ NGO)

Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐT XDCB từ NSNN gồm:

+ VĐT XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng

+ VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phương Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương

(tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện

- Mức độ kế hoạch hoá, VĐT từ NSNN được phân thành:

+ VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch

với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng

bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

+ VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu

từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp quyền sử dụng

đất, chuyển quyền sử dụng đất…

+ VĐT XDCB theo chương trình quốc gia

+ VĐT XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng

cường cơ sở vật chất như: quảng cáo truyền hình, thu học phí,

Vốn NSNN đầu tư cho XDCB thường có quy mô lớn và không có khả năng

thu hồi trực tiếp, có tác dụng chung cho nền KT - XH nhưng các thành phần kinh tế

khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Hơn nữa, nguồn vốn

cấp phát trực tiếp từ ngân sách không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát,

lãng phí nhất đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ

1.1.3 Vai trò của VĐT XDCB từ NSNN

Trong nền kinh tế quốc dân, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò rất quan

trọng đối với phát triển KT - XH Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:

Một là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN là những dự án chủ yếu

nhằm xây dựng hệ thống, kết cấu hạ tầng vật chất, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh

tế phát triển nhanh

Vốn ĐTXDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát

triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước như

giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm y tế… Thông qua việc duy trì và phát

triển hoạt động ĐTXDCB, vốn ĐTXDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc

thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất,

tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hai là, vốn ĐTXDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội Chẳng hạn, để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2020, Đảng và Nhà nước chủ trương tập trung VĐT vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn như công nghiệp dầu khí, hàng không, hàng hải, đặc biệt là giao thông vận tải đường bộ, đường sắt cao tốc, đầu tư vào một số ngành công nghệ cao Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo lập môi trường thuận lợi, tạo sự lan toả đầu tư và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển xã hội

Ba là, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế Việc Nhà nước bỏ VĐT vào kết cấu hạ tầng và các ngành, lĩnh vực có

tính chiến lược không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tư trong nền kinh tế

mà còn góp phần định hướng hoạt động của nền kinh tế Thông qua ĐT XDCB vào các ngành, lĩnh vực khu vực quan trọng, VĐT từ NSNN có tác dụng kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lượng trong xã hội đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, tham gia liên kết và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển KT - XH Trên thực tế, gắn với việc phát triển hệ thống điện, đường giao thông là sự phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp, thương mại, các cơ sở kinh doanh và khu dân cư

Bốn là, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa Thông

qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các cơ sở sản xuất - kinh doanh và các công trình văn hoá, xã hội góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Để đảm bảo cho nền kinh tế không ngừng phát triển, sản xuất kinh doanh được

mở rộng, điều trước hết và căn bản là phải tiến hành hoạt động ĐTXDCB Đối với bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng đều đòi hỏi phải có cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, đây là nhiệm vụ của hoạt động ĐT XDCB

Năm là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN tác động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về tổng cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trọng tổng cầu của toàn

bộ nền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng

24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu,

tác động của đầu tư là ngắn hạn

Về tổng cung, khi các dự án đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi

vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản

lượng tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm Sản lượng tăng, giá cả giảm

cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng sẽ kích thích sản xuất tăng hơn nữa Sản

xuất phát triển là nguồn gốc để tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập

cho người lao động, nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội

Sáu là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN có tác động hai mặt đến

sự ổn định kinh tế

Các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN đã tạo điều kiện tiền đề cho

tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bổ hợp

lý các nguồn lực sản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển lực lượng sản xuất Đồng

thời lực lượng sản xuất phát triển đã tạo tiền đề củng cố quan hệ sản xuất

Mặt khác, khi tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng lên,

dẫn đến sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm thất

nghiệp, nâng cao đời sống người lao động… tất cả các vấn đề này tạo điều kiện cho

phát triển kinh tế

1.1.4 Nguyên tắc quản lý và cấp phát VĐT XDCB của NSNN

Quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Đúng đối tượng: Cấp phát VĐT XDCB của ngân sách NN được thực hiện

theo phương thức cấp phát không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án

cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng an ninh từ đó tạo

ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển toàn diện và cân đối của nền

kinh tế quốc dân

Nguồn vốn cấp phát đầu tư XDCB của NSNN bao gồm: vốn trong nước của

các cấp NSNN, vốn vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài

cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước Nguồn vốn cấp phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đầu tư XDCB của NSNN chỉ được sử dụng để cấp phát thanh toán cho các dự án thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN và Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng

Các dự án thuộc đối tượng cấp phát VĐT XDCB của NSNN bao gồm:

- Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng, an ninh, không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý theo phân cấp quản lý chi NSNN cho đầu tư phát triển như: các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo, y tế, trồng rừng đầu nguồn, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu giống mới, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học

- Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có

sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN hỗ trợ

- Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước, vùng, lãnh thổ, ngành (bao gồm cả quy hoạch hệ thống các khu công nghiệp); quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, các vùng kinh tế và các vùng kinh

tế trọng điểm, quy hoạch xây dựng vùng, xây dựng đô thị, nông thôn, quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị

- Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục, trình tự đầu tư và xây dựng

Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn, các bước công việc trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng công trình Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức độ VĐT đều phải thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư

và xây dựng gồm ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ, tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án đầu tư

Đúng mục đích, đúng kế hoạch, theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành

kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán được duyệt

Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác định trong kế hoạch NSNN hàng năm, dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kế hoạch XDCB của từng Bộ, ngành, địa phương, từng đơn vị cơ

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sở và khả năng nguồn vốn của NSNN Vì vậy, cấp phát VĐT XDCB của NSNN

đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và

đảm bảo tính kế hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành,

từng lĩnh vực và từng địa phương

Sản phẩm XDCB có VĐT lớn, thời gian xây dựng dài, kết cấu kỹ thuật phức

tạp Quản lý và cấp vốn theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch nhằm

đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư XDCB được tiến hành liên tục đúng kế hoạch tiến

độ, kiểm tra chặt chẽ được chất lượng từng khối lượng XDCB và chất lượng công

trình hoàn thành, đảm bảo VĐT được sử dụng đúng mục đích và có vật tư đảm bảo,

tránh ứ đọng, gây thất thoát và lãng phí VĐT

Sản phẩm XDCB có tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế và dự

toán riêng Dự toán công trình xây dựng phản ánh những chi phí cần thiết và là giới

hạn mức tối đa được cho phép đầu tư xây dựng công trình được xác định trên các cơ

sở tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá XDCB và chính sách, chế độ của

Nhà nước Hơn nữa, một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi

NSNN là quản lý theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Vì vậy, quản

lý và cấp phát VĐT XDCB phải dựa vào dự toán đã được duyệt và chỉ trong phạm

vi dự toán đã được duyệt

Khối lượng XDCB hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối lượng

đã thực hiện, đúng thiết kế, thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng, có trong dự

toán, có trong kế hoạch XDCB hàng năm và đã được nghiệm thu bàn giao theo

đúng chế độ quy định của Nhà nước

Mức vốn cấp phát thanh toán theo từng công trình, hạng mục công trình,

từng khối lượng XDCB hoàn thành nghiệm thu phải được xác định căn cứ vào dự

toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chỉ được cấp phát thanh toán trong

phạm vi giá dự toán đã duyệt Trong trường hợp tổ chức đấu thầu thì mức vốn cấp

phát thanh toán là giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá trúng thầu được

cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá

trúng thầu không được vượt dự toán đã được duyệt Các trường hợp vượt dự toán

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đòi hỏi chủ đầu tư phải lập dự toán bổ sung, giải trình và chỉ được cấp vốn thanh toán khi có quyết định của cấp có thẩm quyền

Giám đốc bằng tiền

Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả là chức năng của tài chính Thực hiện công tác giám đốc trong quá trình cấp phát VĐT có tác dụng đảm bảo sử dụng tiền vốn tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch và thúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thời hạn để đưa vào sản xuất sử dụng

Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất

cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng, bao gồm giám đốc trước, trong

và sau khi cấp phát vốn

Các nguyên tắc quản lý và cấp phát VĐT XDCB của NSNN là một thể thống nhất, chi phối toàn bộ công tác quản lý và cấp phát VĐT XDCB Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện tiền để để thực hiện lẫn nhau

1.2 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Hiệu quả

Có nhiều cách nhìn và tiếp cận khác nhau về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng VĐT XDCB Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì hiệu quả và tỷ suất hiệu quả được hiểu như sau: "Hiệu quả là thù lao mà nhà đầu tư thu được sau một thời gian nhất định, như lợi tức, lãi cổ phần, lợi nhuận Tỷ suất hiệu quả là tỷ lệ giữa mức hiệu quả và mức đầu tư, tức mỗi đồng hiệu quả thì thu được của đầu tư"

"Hệ số hiệu quả đầu tư: là tên gọi của hệ số hiệu quả đầu tư Là tỷ lệ giá trị của mức tăng thu nhập quốc dân trong một thời kỳ nhất định và đầu tư tài sản cố định toàn xã hội dẫn đến sự tăng trưởng năm"

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì:

Hiệu quả kinh tế của đầu tư cơ bản là chỉ tiêu hiệu quả quốc dân do VĐT cơ bản mang lại, biểu hiện ở lượng tăng thu nhập quốc dân (hay tăng sản lượng, hoặc lượng tăng giá trị tài sản cố định (hay tăng công suất thiết bị) so với lượng VĐT cơ bản đã được thực hiện là chỉ tiêu tổng quát phải phản ánh hiệu quả của nền kinh tế,

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xét trên quy mô của nền kinh tế quốc dân một ngành hay một xí nghiệp; nhìn chung

nó là tỷ lệ giữa giá trị tăng thêm so với lượng đầu tư cơ bản

Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các

mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong

những điều kiện nhất định

Đánh giá hiệu quả VĐT XDCB là một nội dung rất quan trọng, nhưng rất

phức tạp khó khăn, tuy vậy nó là rất cần thiết và kết quả tổng hợp của quá trình

công tác đầu tư XDCB Khi xem xét một lợi ích KT - XH do dự án đem lại đều phải

xác định vị trí của dự án trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân

Theo GS,TS Nguyễn Văn Chọn, hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục

tiêu đề ra của dự án, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại

hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện giữa chi phí đã bỏ ra

của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án)

Với quan niệm đó là đúng đắn, tuy nhiên trong đầu tư XDCB, các chỉ tiêu hiệu

quả thường mang tính tổng hợp, nhiều dự án có tính xã hội rất cao, nên cần phải đánh

giá một cách tổng quát hơn Do vậy, chúng tôi chỉ dừng ở cách phân loại thành hai

nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp và các chỉ tiêu cụ thể lượng hoá khác

1.2.1.2 Hiệu quả tổng hợp

Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp là hiệu quả chung nhất phản ánh kết quả thực hiện

mọi mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi

phí để có được những kết quả đó

Theo tác giả Dương Văn Long, nếu chúng ta lấy ký hiệu K là kết quả nhận

được theo hướng mục tiêu đo bằng các đơn vị khác nhau: tiền, công trình, quy mô,

số lượng C là chi phí bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau H là hiệu quả

chung, thì sẽ có công thức đơn giản về hiệu quả tổng hợp chung nhất:

H = K - C (1) Hiệu quả tuyệt đối H = K/C (2) Hiệu quả tương đối

Như vậy, được hiểu một cách chung nhất là kết quả (H) mà chủ thể nhận

được theo hướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra

bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu Sau đó xem xét mức độ đóng góp cụ thể của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

từng công trình đầu tư XDCB vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước thông qua các chỉ tiêu định hướng như mức đóng góp cho ngân sách, tốc

độ tăng trưởng nền kinh tế, công suất của các nhà máy, mức tiết kiệm ngoại tệ cho nền kinh tế, số lao động có việc làm khi công trình được thực hiện hoặc sau khi hoàn thành

Tóm lại, hiệu quả tổng hợp là sự so sánh giữa kết quả đầu tư mang lại và chi phí của đầu tư Có nhiều cách để phân loại, đánh giá hiệu quả đầu tư Có thể có hiệu quả trực tiếp hay hiệu quả gián tiếp Hiệu quả trực tiếp là lợi ích mang lại (sinh và lợi nhuận cao) sau một thời gian bỏ vốn ra đầu tư và thu hồi lại Hiệu quả gián tiếp

là lợi ích mang lại chung cho nền kinh tế, một địa phương Ví dụ hiệu quả sau khi xây dựng một con đường, một cây cầu, một công trình thủy lợi, một nhà máy khi đi vào sản xuất

1.2.1.3 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng và năng lực quản lý các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh đạt kết quả cao với chi phí thấp nhất

Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, kinh doanh, phản ánh tương quan giữ kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính, là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa, với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra [33, tr.290] Tuy nhiên, cần lưu ý “Hiệu quả kinh tế thường được nghiên cứu ở góc độ vĩ mô và phải chú ý rằng không phải bao giờ hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh là vận động cùng chiều” Hiệu quả kinh tế còn được gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay kết quả kinh tế xét trong phạm vi cụ thể Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mối quan

hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải

bỏ ra để có được lợi ích kinh tế Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của những nhà đầu tư và các doanh nghiệp

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với cách tính hiệu quả tương đối (H = K/C) là cách đánh giá phản ánh hiệu

quả của việc sử dụng một số vốn đã bỏ ra để thu được kết quả cao hơn, tức là xuất

hiện giá trị gia tăng (điều kiện để đảm bảo cho các doanh nghiệp tồn tại và phát

triển thì H phải lớn hơn 1 (H>1) H càng lớn thì chứng tỏ quá trình kinh doanh càng

đạt hiệu quả

Các nhà sản xuất luôn quan tâm đến kết quả lợi nhuận thu được của dự án

đầu tư XDCB

Hiệu quả kinh tế ở tầm vĩ mô đó là lợi ích KT - XH do dự án mang lại gắn

liền với việc tăng trưởng GDP với tốc độ cao; hiệu quả phải gắn với tính bền vững,

với tiến bộ và công nghệ bằng xã hội, với bảo đảm an ninh quốc phòng v.v

Trong XDCB, đặc biệt trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi mà các nguồn

vốn huy động còn khan hiếm, trong lúc phải thực hiện CNH, HĐH cần phải đầu tư

ở các lĩnh vực KT - XH, thì việc tính toán hiệu quả đầu tư XDCB là một vấn đề hết

sức quan trọng Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước không thể không nói tới đầu tư

XDCB Đầu tư XDCB sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của công cuộc đổi mới

đất nước, tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

1.2.1.4 Hiệu quả KT - XH

Hiệu quả KT - XH còn được gọi là hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả

tổng hợp được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế

Để đánh giá tổng quát hiệu quả KT - XH của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ

người ta đã dùng một hệ thống các chỉ tiêu KT - XH tổng hợp trong đó tốc độ tăng

GDP, GDP tính theo đầu người, tuổi thọ bình quân, trình độ văn hoá, y tế, thể thao,

giải quyết công ăn việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội

Chủ thể được hưởng hiệu quả KT - XH là toàn bộ xã hội mà lực lượng chủ

yếu là nhân dân, vì vậy những hiệu quả (lợi ích) và chi phí được xem xét trong hiệu

quả KT - XH xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Nội dung cơ bản của hiệu quả KT - XH là hiệu quả kinh tế xét theo quan

điểm toàn bộ của nền kinh tế và thường được giải quyết ở cấp vĩ mô

1.2.1.5 Quan hệ giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả KT - XH

Trong đầu tư XDCB, hiệu quả kinh tế trước hết là lợi nhuận luôn là mối quan

tâm của doanh nghiệp hoặc của những nhà đầu tư Hiệu quả KT - XH là mối quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tâm của toàn xã hội mà đại diện là Nhà nước Hiệu quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh tế) được xem xét theo quan điểm của doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu

và động lực trước hết của doanh nghiệp, họ bỏ vốn ra và thu được lợi nhuận là bao nhiêu? còn hiệu quả KT - XH được xem xét theo quan điểm của toàn xã hội Hiệu quả sản xuất kinh doanh xét theo quan điểm bộ phận của một nhóm người, nhà đầu

tư, hay của một doanh nghiệp, lợi nhuận là chủ yếu, còn hiệu quả KT - XH xét theo quan điểm toàn thể, đồng bộ và có tính dài hạn

Quan hệ giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả KT - XH là quan hệ giữa lợi ích bộ phận và lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội Đó là mối quan hệ vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn

Do vậy, để đảm bảo hài hòa lợi ích (hiệu quả) thì phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, không phải vì lợi ích cục bộ trước mắt mà hại đến lợi ích lâu dài của đất nước, quốc gia, xã hội Tuy nhiên, nếu không vì lợi ích kinh tế (lợi nhuận) thì sẽ triệt tiêu động lực phát triển

1.2.2 Các nguyên tắc xác định và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả XDCB

1.2.2.1 Các nguyên tắc xác định hiệu quả XDCB

* Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả:

Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu Mục tiêu khác nhau, thì tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau Nếu xây dựng một nhà máy thì phải tính đến công suất sử dụng nguyên nhiên liệu, số lao động được việc làm, thu nhập, lợi nhuận là bao nhiêu? Còn nếu làm một con đường thì ai người được thụ hưởng, nó góp phần phát triển KT - XH, bình đẳng thế nào? thu phí bao nhiêu và khi nào thì hoàn vốn Rõ ràng mục tiêu xây dựng của một nhà máy sẽ khác nhiều so với việc xây dựng một con đường, một trường học hoặc một công trình thủy lợi v.v Nếu thay đổi mục tiêu thì tiêu chuẩn hiệu quả cũng phải thay đổi Tiêu chuẩn hiệu quả phải được xem như là thước đo cơ bản để thực hiện các mục tiêu Phân tích hiệu quả của một dự án đầu tư XDCB nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mục tiêu Phương án có hiệu quả cao nhất khi nó có đóng góp nhiều nhất

và việc thực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích:

Một phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp hài hoà các loại lợi

ích Những lợi ích đó bao gồm lợi ích của chủ doanh nghiệp (đầu tư) và lợi ích của

xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi

ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường

Về lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội được xem xét trong phân

tích hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội Theo nguyên tắc "lợi

ích", hiệu quả sản xuất kinh doanh không thể thay thế cho hiệu quả KT - XH và

ngược lại trong việc quyết định cho ra đời một phương án kinh doanh của doanh

nghiệp hoặc một nhà đầu tư

Về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cũng không thể hy sinh lợi ích lâu dài để

lấy lợi ích trước mắt Nhưng cũng không thể vì lợi ích trước mắt mà hy sinh lợi ích lâu

dài Do vậy, phải kết hợp đúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Trong quan

hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích lâu dài là cơ bản nhất

Nên kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, cũng như lợi ích vật chất và lợi

ích tinh thần Đừng vì lợi ích này mà bỏ lợi ích khác Việc phân tích hiệu quả kinh

tế các phương án cần đặt trong mối quan hệ với phân tích các lợi ích khác mà

phương án mang lại Bất kỳ một đầu tư nào mà hy sinh lợi ích đều giảm hiệu quả

chung của phương án đó Trong đại bộ phận các trường hợp, lợi ích xã hội đóng vai

trò quyết định, lợi ích kinh tế là hết sức quan trọng, cần thiết

* Đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và lượng hoá tối đa các chỉ tiêu:

Để đánh giá hiệu quả các phương án đầu tư XDCB cần phải dựa trên một hệ

thống các chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức là phải kết

hợp phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính Không thể thay thế phân

tích định lượng bằng phân tích định tính Tuy nhiên, định lượng chưa đủ bảo đảm

tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà

chủ thể quan tâm, nhưng không vì vậy mà bỏ qua, hoặc nhấn mạnh chung chung

định tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhưng nếu phân tích chính xác, có định lượng, thì từ những căn cứ tính toán

đó, hiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện, duy ý chí, chung chung

* Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế:

Theo nguyên tắc này, những phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu Tránh tình trạng sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác làm giảm tính thuyết phục hoặc không hiệu quả trong đầu tư XDCB

1.2.2.2 Một số mô hình đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT

* Mô hình Harrod - Domar:

Mô hình tăng trưởng kinh tế đơn giản nhất và rất nổi tiếng được sử dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích sự phát triển kinh tế Mô hình này được hai nhà kinh tế học: ông Roy Harrod người Anh và ông Evsey Domar ở người Mỹ nêu ra từ những năm 1940 của thế kỷ XX - đã chỉ ra mối quan hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR) và tỷ lệ đầu tư như sau:

G = s/k Trong đó:

g: Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP) s: Tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế (GDP, GNI) (Hai ông này ngầm đã giả định toàn bộ số tiền tiết kiệm chỉ dành cho đầu tư)

k: Hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR) (Icremetal Capital Output Ratio)

Hệ số ICOR chỉ ra rằng: Để làm ra 1 đồng sản lượng đầu ra thì cần bao nhiêu đồng đầu vào

Như vậy, theo quan niệm của mô hình Harrod - Domar ở phương trình trên thi: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tích luỹ của nền kinh tế

và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Điều đó có nghĩa là để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và lâu dài của nền kinh tế cần phải giữ vững và gia tăng tỷ lệ đầu tư và khống chế ở mức chấp nhận được đối với hệ số gia tăng vốn Ví dụ, đối với nước ta,

để giữ được tốc độ tăng trưởng trong năm năm tới (2006 - 2010) của nền kinh tế là 8% với hệ số ICOR là 4 thì tỷ lệ đầu tư phải đạt ở mức 32% trong GDP (hoặc GNI)

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hệ số ICOR thường gắn chặt với hiệu quả đầu tư, nếu hiệu quả đầu tư thấp, hay nói

cách khác là sử dụng các nguồn vốn đã được huy động không có hiệu quả, sẽ làm

cho ICOR tăng theo chiều hướng tiêu cực và làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế

không cao, không bền vững dẫn đến gánh nặng nợ nần không những cho ngày hôm

nay mà cho cả thế hệ tương lai Tuy nhiên, như trên đã nói trong công thức này, Hai

ông đã giả định rằng nền kinh tế chỉ phụ thuộc vào một yếu tố cố định là đầu tư,

trên thực tế tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng còn

phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Tuy vậy, công thức này cũng phần nào phản ánh

được hiệu quả của VĐT bằng định lượng

Mô hình Harrod - Domar được ứng dụng trong việc lập kế hoạch phát triển

không chỉ cho nền kinh tế mà có thể cho tất cả các ngành, các lĩnh vực (tính theo hệ

số ICOR) Với hệ số ICOR ước lượng được và với mục tiêu tăng trưởng cho trước

thì từ mô hình sẽ tính được tỷ lệ tiết kiệm cần thiết cho tăng trưởng Tuy nhiên mô

hình đơn giản này bỏ qua yếu tố lao động và tiến bộ công nghệ nên không phản ánh

đầy đủ và chính xác của sự phát triển Đòi hỏi phải xét đến các mô hình tăng trưởng

kinh tế với hàm sản xuất nhiều biến hơn

* Hàm sản xuất Cobb - Douglas:

Trong hoạt động sản xuất có ba yếu tố quan trọng đảm bảo cho nó phát triển:

lao động sống (L); công cụ máy móc và nguyên nhiên vật liệu (vốn, K); trình độ

khoa học kỹ thuật, khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp nói riêng và toàn xã

hội nói chung (các yếu tố tổng hợp, A)

Sản xuất phát triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng các yếu tố

lao động, vốn như thế nào, đồng thời cũng phụ thuộc vào các yếu tố tổng hợp Trên

bình diện kinh tế các yếu tố này phản ánh hiệu quả sản xuất chung Để đánh giá tác

động của các yếu tố này tới kết quả sản xuất người ta thường sử dụng mô hình

Cobb-Douglass, mô hình này có một số ưu điểm sau:

- Trong số các mô hình mô tả quá trình sản xuất, mô hình này thuộc loại

đơn giản nhất;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Tuy mô hình đơn giản, song vẫn cho phép nhận xét sát thực với tình hình sản xuất thực tế;

- Các thông số của mô hình dễ ước lượng

Hàm Cobb-Douglass có dạng:

) 1 ( t

Q α α (1) Trong đó: 0< < 1 Với giả thiết 0 < hàm Cobb-Douglass coi giá trị sản xuất tỷ lệ thuận với lao động và vốn

Với giả thiết hàm Cobb-Douglass là hàm liên tục theo thời gian và dưới góc

độ toán học có thể biểu diễn tốc độ phát triển theo thời gian của Q t như sau:

dt dF A ) K , L ( F dt dA dt

dQ

t t

dt dK K F A dt dL L F A ) K , L ( F dt

dA

t t

t

Chia hai vế phương trình (2) cho Q và sau khi biến đổi có:

K 1 Q K dt dK K Q L 1 Q L dt dL L Q A 1 dt dA Q 1 dt dQ

K 1 dt dK Q K K Q L 1 dt dL Q L L Q A 1 dt

dA (3)

Vế trái của công thức (3) chính là tốc độ tăng của giá trị sản xuất (Q t ) Vế

phải của công thức này gồm có ba thành phần: thành phần thứ nhất là tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp; thành phần thứ hai là tốc độ tăng năng suất cận biên của lao động (

Q L L

Q ); thành phần thứ ba là tốc độ tăng năng suất biên duyên của

vốn (

Q K K

Q ) Viết gọn lại có:

) K ( Gr ) Q K ( MPK ) L ( Gr ) Q L ( MPL ) A ( Gr ) Q (

Trong đó Gr(Q) tốc độ tăng của giá trị Sản xuất Gr(L) tốc độ tăng của lao động Gr(K) tốc độ tăng của vốn MPL và MPK là năng suất cận biên tương ứng của yếu tố lao động và vốn

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong thị trường có cạnh tranh hoàn hảo tỷ lệ lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra

sẽ bằng năng suất cận biên của vốn (MPK), còn tỷ lệ lương của công nhân sẽ bằng

năng suất biên duyên của lao động (MPL) Trong trường hợp này MPK(K/Q) sẽ là

tỷ lệ đóng góp của vốn trong giá trị sản xuất và MPL(L/Q) là tỷ lệ đóng góp của lao

động trong giá trị sản xuất Như vậy trong trường hợp này MPL và MPK là tỷ lệ

đóng góp của lao động và vốn trong kết quả sản xuất thu được Cụ thể hoá công

thức (4) mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglass có dạng:

) K ( Gr ) 1 ( ) L ( Gr )

Công thức (5) cho thấy tỷ lệ đóng góp của tốc độ tăng lao động cho tốc độ

tăng của giá trị sản xuất bằng , còn tỷ lệ đóng góp của tốc độ tăng vốn cho tốc độ

tăng của giá trị sản xuất bằng (1- )

Dựa vào công thức (5), có thể tính tốc độ tăng của năng suất các nhân tố

tổng hợp (Gr(A) hay Gr(TFP)) theo công thức:

Gr ( TFP ) Gr ( Q ) { α Gr ( L ) ( 1 α ) Gr ( )} (6)

Trong đó Gr(Q) là tốc độ tăng của giá trị tăng thêm, Gr(L) là tốc độ tăng lao

động, còn Gr(K) là tốc độ tăng vốn

* Ứng dụng

+ Ứng dụng hàm Cobb-Douglass để nghiên cứu thực tiễn kinh tế chắc chắn

có phần gượng ép, vì còn có nhiều hàm sản xuất khác tổng quát hơn, mô tả sát với

thực tiễn hơn, ví dụ như hàm CES Tuy nhiên, hàm Cobb-Douglass thuộc loại dễ

ứng dụng và dễ ước lượng, mặt khác cũng phản ánh được xu thế của sản xuất do

vậy được nhiều nước trên thế giới ứng dụng

+ Hàm này có thể ứng dụng cho cấp toàn quốc, cấp ngành hoặc cho từng

doanh nghiệp

+ Các thông số của hàm ( , TFP) nếu được tính thường xuyên sẽ phản ánh

được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, đồng thời cũng cho thấy xu hướng

nâng cao chất lượng sử dụng máy móc, trình độ công nhân viên của đơn vị (thông

qua TFP)

+ Nếu các doanh nghiệp đều tính các thông số của mô hình Cobb-Douglass

riêng cho mình rồi đem so sánh các thông số đó với thông số của một xí nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chuẩn (xí nghiệp có giá trị Q, L, K bình quân) cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh sẽ thấy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

+ Để ứng dụng được mô hình tốt khâu hạch toán phải được tổ chức tốt

* Mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solow

Robert Solow là Giáo sư của Khoa kinh tế, Học viện công nghệ Massachusetts, từng được giải thưởng Noben kinh tế năm 1987 cho những đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng và những nghiên cứu thực nghiệm về quá trình tăng trưởng Như đã phân tích ở trên, mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod - Domar đã đưa ra điều kiện để một nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ không đổi, với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ phụ thuộc vào một nhân tố duy nhất đó là vốn Do vậy, ông

đã đưa ra một mô hình khác là:

Q = F (K, L, t) Trong đó: Q là sản lượng đầu ra; L là lượng đầu vào (số lượng lao động cùng trên một đơn vị thời gian); K là lượng với vật chất đầu vào (số giờ máy trên một đơn vị thời gian); t là biểu thời gian [16]

Sự xuất hiện của biểu số t trong hàng sản xuất cho phép đánh giá sự thay đổi kỹ thuật Ở đây vì những điều kiện và lý do khác nhau chúng tôi không

có đủ khả năng để phân tích và đánh giá mô hình tăng trưởng R.Solow, nhưng

mô hình này đã có những kết luận sau: tăng trưởng nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào vốn, công nhân mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nữa, đặc biệt

là các nhân tố tổng hợp (TFP), đó là sự gia tăng của vốn, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ tác động qua lại với nhau như thế nào và có ảnh hưởng tới sản lượng đầu ra (tốc độ và quy mô của GDP) Đây là điểm mấu chốt hay có thể nhận định rằng, các yếu tố đầu vào là quan trọng, nhưng quan trọng hơn cả là sử dụng chúng thế nào cho hiệu quả Mô hình R.Solow đã được áp dụng và đánh giá tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ vào những năm 40 của thế kỷ XX Hiện nay

mô hình này đã được đánh giá và lượng hóa để xem xét các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế như thế nào?

1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Huy động, sử dụng vốn đầu tư nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế luôn là một vấn đề quan

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trọng và cần được giải quyết chặt chẽ mới mang lại hiệu quả cao nhất Bất cứ một

ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật

chất, tài sản cố định, vì vậy đầu tư xây dựng cơ bản luôn là vấn đề đặc biệt được

quan tâm Trong những năm qua, đầu tư xây dựng cơ bản đã góp phần không nhỏ

đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của nước ta Rất nhiều công trình về

các lĩnh vực như: năng lượng, công nghiệp khai thác, chế biến, cơ sở hạ tầng, nông,

lâm nghiệp được đầu tư xây dựng làm tiền đề cho việc chấn hưng và phát triển kinh

tế của đất nước

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, quá trình thực hiện đầu tư

xây dựng cơ bản tại thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ đã có những kết quả thành

công nhất định, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã đạt được khá cao

so với mức bình quân chung của cả nước trong nhiều năm Tuy nhiên, trong quá

trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là

hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp; thất thoát và lãng phí trong đầu tư

xây dựng cơ bản còn nhiều và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu tư; lập

dự án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác,…Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

từ NSNN của Việt Trì đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho vốn

đầu tư XDCB từ NSNN sử dụng chưa đạt hiệu quả cao Điều này đã làm hạn chế

khá nhiều đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của cả tỉnh

Do vậy, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một vấn đề vô

cùng quan trọng cần các cấp, ban, ngành phối hợp tìm nhiều giải pháp

1.3 Các nhân tố tác động tới sử dụng hiệu quả VĐT cho XDCB

1.3.1 Chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước, ngành và địa phương

Việc xây dựng chiến lược phát triển KT - XH của cả nước, ngành, địa

phương phải dựa trên những điều kiện, lợi thế, tiềm năng và khả năng của đất nước,

địa phương và từng ngành, lĩnh vực cụ thể Trong giai đoạn hiện nay, chiến lược đó

lại phải phù hợp với thực tiễn của đất nước, vừa phải phù hợp với xu thế phát triển

của cả thế giới và khu vực Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường Đổi mới căn bản công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển KT - XH Nếu xác định tốt chiến lược, thực hiện có quy hoạch chiến lược đó thì đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia Do vậy, việc xây dựng đồng bộ dài hạn chiến lược phát triển KT - XH là một yêu cầu bức thiết, tất yếu khách quan của quá trình phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày nay, trong xu thế biến đổi rất nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, sự lớn mạnh và tăng cường của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, nhiều quốc gia đã đưa ra những chiến lược phát triển dài hạn theo những định hướng lớn, trong chiến lược dài hạn đó, có những chiến lược "mềm", linh hoạt được thay đổi theo sự thay đổi của tình hình thế giới và hoàn cảnh của đất nước ở Việt Nam, đã xây dựng chiến lược phát triển KT - XH 10 năm 2001-2010, kế hoạch 5 năm 2001-2005, 2005-2010 và có định hướng phát triển đất nước đến năm 2020, hàng năm có những thay đổi nếu thấy cần thiết để phù hợp với tình hình của đất nước và thế giới

Để quản lý, thực hiện chiến lược phát triển đất nước, thì cần phải có nhiều công cụ và chính sách, trong đó có công cụ quy hoạch Quy hoạch là cụ thể hoá mục tiêu, giải pháp và nhiệm vụ để thực hiện chiến lược đó Do vậy, nếu quy hoạch sai thì sẽ dẫn đến những sai lầm mà đất nước phải gánh chịu, đặc biệt phải hạn chế tối đa những quy hoạch sai mà nhiều năm không khắc phục được hoặc khắc phục lại quá tốn kém

Nếu quy hoạch tốt, thì sẽ bố trí hợp lý, bền vững về các công trình, hiệu quả phù hợp với điều kiện của đất nước, vùng, địa phương và ngành Ngược lại, nếu qui hoạch không tốt, thiếu sự thực hiện đồng bộ giữa qui hoạch ngành, qui hoạch phát triển địa phương, qui hoạch tổng thể cộng thêm sự phát triển cục bộ, thực hiện chồng chéo sẽ dẫn đến sự lãng phí rất lớn, không đem lại được hiệu quả của VĐT Thực tế những năm qua, việc quyết định đầu tư cơ sở hạ tầng của cả xã hội là rất cần thiết và đã đem lại hiệu quả Tuy nhiên, cũng không ít những trường hợp do chỉ

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

suy tính đến phát triển của địa phương mà chưa tính đến qui hoạch chung nên hiệu

quả chưa đạt được như mục tiêu đã đề ra Vấn đề này, nhiều chuyên gia nước ngoài

sau khi nghiên cứu đã không khỏi có những ngạc nhiên khi thấy rằng ở Việt Nam có

gần 80% người dân, với mức thu nhập dưới 500 USD/người/năm; tổng kim ngạch

xuất khẩu dưới 30,0 tỷ USD/năm nhưng lại có tới 110 cảng biển, 61 cảng hàng

không và sân bay, đáng chú ý trong đó có nhiều cảng biển, sân bay được qui hoạch

xây dựng quá gần nhau nên vô hình chung đã tự hạn chế sự phát triển của nhau và

lãng phí nguồn lực của đất nước Ví dụ, Cảng Hòn La (Quảng Bình) chỉ cách cảng

Vũng Áng 25km, cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế) cách cảng Tiên Sa (Đà Nẵng)

30km, cảng Dung Quất cách cảng Kỳ Hà 10km, khoảng cách giữa sân bay Quảng

Bình và sân bay Phú Bài (Thừa Thiên Huế) rất nhỏ, thời gian đi bằng đường bộ chỉ

khoảng 2 đến 3 giờ Qua đây cho thấy, việc thực hiện có cơ sở khoa học, thực tiễn

để đầu tư có ưu tiên, có trọng điểm các công trình XDCB, lượng VĐT, bố trí cụ thể,

thích hợp từng dự án, từng công trình, tránh việc đầu tư dàn trải mới nghĩ đến được

thu được hiệu quả nguồn lực đầu tư

1.3.2 Nhóm nhân tố về các yếu tố của nguồn lực

Khi nói đến các yếu tố của nguồn lực, người ta thường hay nói đến quy mô, số

lượng, đặc biệt là chất lượng của các yếu tố đầu vào Nếu ta gọi các biến số đầu vào là

Xi, hàm số đầu ra là Y, thì mối quan hệ giữa đầu ra (GDP) với đầu vào như sau:

Các yếu tố này có quan hệ tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển Song, tuỳ theo

từng quốc gia cụ thể thì quy mô, cơ cấu và tỷ trọng của các yếu tố đầu vào là khác

nhau Ví dụ, các quốc gia phát triển, vốn nhiều, giá vốn thấp thì họ sử dụng nhiều

vốn; quốc gia nào nhiều tài nguyên thiên nhiên thì họ sẽ sử dụng lợi thế của mình là

tài nguyên thiên nhiên, quốc gia nào có quy mô dân số lớn, lao động nhiều, thì có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lợi thế là quy mô lao động và nhân công giá rẻ Tuy nhiên, điều quan trọng cơ bản

là sử dụng các biến số này như thế nào cho có hiệu quả mới là quyết định

Ngày nay, trong xu thế của sự lớn mạnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, thì nguồn lực con người đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng luôn là yếu tố quyết định Bởi vì, con người lao động quyết định từ khâu ý tưởng ban đầu đến khâu cuối cùng là phải có sản phẩm cho xã hội, do vậy, họ phải có năng lực, sức khoẻ, phẩm chất Nói cách khác, người lao động đồng thời là nguồn lực và chính người lao động mới có khả năng và đủ điều kiện để sử dụng các nguồn lực khác Tuy vậy, nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có nước ta cần rất nhiều vốn

để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì yếu tố vốn cũng đóng vai trò rất quan trọng Trong tình hình hiện nay, cũng cần phải nhắc lại lần nữa, các nguồn lực là quan trọng, không thể thiếu, nhưng quan trọng hơn là phải sử dụng chúng như thế nào cho có hiệu quả và hợp lý mới có tính quyết định

1.3.3 Tác động của cơ chế và chính sách đến hiệu quả đầu tư

Chính sách và cơ chế đầu tư là nhân tố chủ quan, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư Nếu có cơ chế và chính sách đúng thì sẽ huy động và khai thác tốt các điều kiện khả năng, lợi thế so sánh của các quốc gia, các doanh nghiệp và dân cư

Chính sách đầu tư với những ưu đãi thì tạo điều kiện không chỉ các nhà đầu

tư nước ngoài mà cả các nhà đầu tư trong nước đến đầu tư, bên cạnh thu hút được nhiều vốn, mà còn thu hút cả kinh nghiệm quản lý, công nghệ và tạo điều kiện để

mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Chính sách đầu tư bao gồm một hệ thống đồng bộ các công cụ, cơ chế khuyến khích đầu tư như: chính sách thuế, lãi suất, tín dụng, lao động, tiền lương, đất đai, chính sách khuyến khích đầu tư theo vùng, ngành Đối với những vùng, miền ưu tiên thì cần phải có những chính sách cụ thể, nhất quán, mang tính ổn định

và lâu dài

Bằng việc nhận dạng nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa việc định giá kinh tế và giá tài chính, nhà phân tích có thể nói được liệu sự khác biệt đó là do thị trường hay chính sách gây ra Nếu là do chính sách gây ra, thì phải xem xét chi phí

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và lợi ích của sự thay đổi chính sách làm cho những đánh giá kinh tế và tài chính

xích lại gần nhau hơn Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ khi đầu tư xây dựng một dự án,

như địa điểm, qui mô vào thời gian nào, đã đúng lúc chưa, hay liệu có tốt hơn

không nếu thuyết phục các cơ quan chức năng thay đổi chính sách

1.3.4 Quy chế, quy định và quy trình quản lý sử dụng VĐT XDCB

Đây là một nhân tố hết sức cơ bản, nếu không nói là có tính quyết định đối

với hiệu quả của đầu tư XDCB Do vậy, Nhà nước cần phải xây dựng và ban hành

quy chế quản lý đầu tư XDCB, trước hết là Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu

thầu, đặc biệt là các quy chế, quy định quản lý đầu tư và sử dụng nguồn vốn của

Nhà nước cho cả ba quá trình từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư

đưa vào khai thác sử dụng (vì sự lãng phí, thất thoát, tham nhũng chủ yếu xảy ra từ

khâu đầu tư bằng nguồn vốn NSNN)

Rất nhiều ví dụ qua các vụ án cho thấy, thường thất thoát lãng phí, tham

nhũng là đầu tư XDCB từ NSNN Vụ xây dựng khu vui chơi giải trí Thủy Cung

Thăng Long, vụ án Lã Thị Kim Oanh tại Công ty tiếp thị và thương mại tổng hợp

thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Các vụ án tại Tổng Công ty dầu khí

Việt Nam, vụ lừa đảo đầu tư xây dựng của Nguyễn Đức Chi của Công ty Liên

doanh Rusalka - Nha Trang và gần đây nhất là vụ án liên quan đến công trình giao

thông sử dụng vốn ODA tại PMU 18 (Bộ Giao thông vận tải), 77% công trình xây

dựng miền núi bị móc ruột, thanh tra 103 công trình XDCB ở miền núi trên địa bàn

tỉnh và 6 dự án cho thấy tổng số tiền bị chiếm đoạt, thất thoát, lãng phí lên tới 9,66

tỷ đồng Tình trạng "rút ruột" các công trình phô biến đến mức trong số 86 công

trình thuộc Chương trình 135 và Trung tâm cụm xã thì có 82 công trình sai phạm

với số tiền gần 35 tỷ đồng; 17 công trình thủy lợi thì 2 không phát huy hiệu quả, 5

mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng, 11 hạng mục thi công thiếu hụt khối lượng; 6 dự

án giao thông thì 5 dự án "ăn" đứt 5,9 tỷ đồng Tính ra 77% công trình xây dựng

miền núi sai phạm là một tỷ lệ khá lớn Những quy định quy chế này phải bao gồm:

- Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trong đầu tư, nhất là các định mức thiết kế,

thi công, hiệu quả cho phù hợp với sự thay đổi của tình hình thực tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Nâng cao công tác thẩm định các dự án, từ giai đoạn tiền khả thi vì đây là khâu quyết định của mức đầu tư XDCB

- Xây dựng cơ chế đấu thầu, chọn thầu, tuyển thầu, chỉ định thầu, khoán gọn, hạn chế thấp nhất những khâu tiêu cực trong đấu thầu

- Quản lý chặt chẽ quá trình đầu tư XDCB

- Quản lý các nguồn VĐT XDCB

- Ban hành các thủ tục hành chính trong đầu tư, nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật, không gây phiền hà, nhũng nhiễu Thực hiện tốt khâu hậu kiểm của đầu tư

- Quản lý chặt chẽ việc phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư và thẩm định các quyết toán của các dự án đã hoàn thành

1.4 Kinh nghiệm quản lý sử dụng vốn hiệu quả cho đầu tư XDCB

1.4.1 Kinh nghiệm của Nhà nước Cộng hòa Pháp

So sánh các mô hình KBNN được công nhận là hiệu quả như Pháp, Nauy, Nga, Nam Phi, Brazil, Bulgaria cho thấy mô hình tổ chức và hoạt động của KBNN Việt Nam hiện nay đang áp dụng tương tự KBNN Cộng hòa Pháp

Pháp có hệ thống KBNN rất rộng với nhiều chi nhánh ở tất cả các vùng, hầu hết các chức năng Kho bạc được Tổng cục Kế toán công thuộc Bộ Tài chính đảm nhận, nhưng Tổng cục Kho bạc thuộc Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với Tổng cục

Kế toán công để quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Tổng cục Kế toán công phối hợp với Vụ Ngân sách và Tổng cục Kho bạc xây dựng kế hoạch tài chính chi tiết (tổng

dự toán ngân sách) Phân bổ dự toán ngân sách được thực hiện hai lần một năm Tổng cục Kho bạc chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý ngân quỹ và quản lý nợ được

ủy quyền cho cơ quan Kho bạc cấp dưới Thuế được nộp vào các tài khoản con của tài khoản thanh toán tập trung của KBNN mở tại ngân hàng nhà nước trung ương và được tập trung tổng hợp qua đêm Các chi nhánh của Tổng cục Kế toán công (hệ thống các kho bạc địa phương) nhận đề nghị thanh toán từ các Bộ chi tiêu và đơn vị

sử dụng ngân sách để thực hiện kiếm soát cam kết, kiểm soát thanh toán chi tiết thông qua các kế toán viên đặt tại các Bộ chi tiêu và đơn vị sử dụng ngân sách khác Toàn bộ các khoản thanh toán được thực hiện từ tài khoản tập trung tại ngân hàng

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trung ương Tổng cục Kế toán công cũng chịu trách nhiệm về công tác kế toán cho

các đơn vị sử dụng ngân sách cũng như việc lập báo cáo quyết toán tài chính Có

nhiều cơ quan kiểm toán nội bộ kể cả trong và ngoài hệ thống Kho bạc Kho bạc

chịu trách nhiệm về toàn bộ các khoản chi tiêu ngân sách ở cả chính quyển trung

ương và địa phương đối với một số ngoại tệ không đáng kể

Trách nhiệm của Kho bạc Pháp trong kiểm soát chi đầu tư XDCB đó là:

Tham gia ủy ban đấu thầu để nắm và kiểm tra ngay từ đầu giá trúng thầu

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, kiểm tra chứng từ chấp

nhận thanh toán theo đề nghị của chủ đầu tư, để khi nhà thầu nhận được tiền, thu

hồi vốn đã tạm ứng theo tỷ lệ

Kiểm soát khối lượng thực hiện so với khối lượng trong hồ sơ trúng thầu

Nếu khối lượng phát sinh < (=) 5% giá trị hợp đồng, đề nghị chủ đầu tư và nhà

thầu ký bổ sung các điều khoản của hợp đồng Nếu vượt quá 5% giá trị hợp đồng,

chủ đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ gửi kiểm soát viên tài chính kiểm tra để trình

ủy ban đấu thầu phê chuẩn và làm căn cứ xin bổ sung kinh phí vào dự toán chi tiêu

năm sau

Kho bạc chỉ thanh toán từng lần hay lần cuối cùng trên cơ sở biên bản

nghiệm thu khối lượng của chủ đầu tư với nhà thầu trong phạm vi hợp đồng thầu

công đã được xác định đã ký kết và đơn giá trúng thầu được kiểm soát viên tài

chính kiểm tra

Các khoản chi tiêu của dự án đều được kiểm soát viên tài chính (đặt tại Bộ

hoặc địa phương) kiểm tra tính hợp lệ hợp phát trước khi chuyển chứng từ ra kho

bạc thanh toán cho người thụ hưởng

Kho bạc Pháp không tham gia hội đồng nghiệm thu và không chịu trách

nghiệm về khối lượng do nhà thầu thực hiện, nghiệm thu của chủ đầu tư

Khi kết thúc hợp đồng, Kho bạc có trách nghiệm giữ 5% giá trị hợp đồng

thực hiện bảo hành công trình của nhà thầu trên tài khoản đặc biệt tại Kho bạc; Khi

kết thúc thời hạn bảo hành, trên cơ sở cam kết của hai bên về nghĩa vụ bảo hành,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Kho bạc tiến hành trích tài khoản đặc biệt trả cho nhà thầu (trường hợp không xẩy

ra hỏng hóc trong thời gian bảo hành) hoặc chi trả tiền sửa chữa theo dự toán được xác định giữa hai bên nhà thầu và đơn vị sửa chữa (số còn lại chuyển nhà thầu) Số tiền bảo hành công trình không được tính trong thời gian tạm giữ ở tài khoản đặc biệt tại Kho bạc

1.4.2 Kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Vĩnh Phúc

Trong những năm vừa qua, tình hình KT - XH ở tỉnh Vĩnh Phúc đã phát triển khá nhanh và tương đối ổn định, XDCB phát triển mạnh, huy động được nhiều nguồn vốn phục vụ cho đầu tư XDCB góp phần tạo ra của cải vật chất, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động tỉnh Như vậy trong thời gian qua, đầu tư XDCB đã góp phần rất lớn vào sự nghiệp phát triển KT - XH của tỉnh Vĩnh Phúc, dần đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh có nền kinh tế công nghiệp hoá - hiện đại hoá dần trở thành một trong những tỉnh phát triển kinh tế mạnh nhất trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Trong những năm vừa qua, kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc đã có tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cũng như đời sống của nhân dân trên địa bàn, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là quản lý, kiểm soát chi đầu tư XDCB Qua tiếp cận thực tế triển khai cơ chế quản lý, kiểm soát chi đầu tư XDCB có những nét nổi trội sau:

Trên cơ sở nội dung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về quản lý đầu tư XDCB được Trung ương ban hành, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã cụ thể hóa các văn bản hệ thống pháp luật, đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư Trước mắt, tập trung hướng dẫn triển khai một cách có hiệu quả các Luật: Đầu tư, Đấu thầu, Doanh nghiệp, Chứng khoán, Kinh doanh bất động sản… Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế phân bổ VĐT, vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đầu tư, tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức theo hướng công khai, minh bạch Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực XDCB của Tỉnh, đảm bảo tính thống nhất về nội dung giữa các văn bản của Sở, Ban,

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngành liên quan và sự thống nhất giữa văn bản của TW với văn bản của địa

phương, tránh tình trạng luật của Nhà nước quy định một kiểu, văn bản của địa

phương lại ban hành không phù hợp, thống nhất với những quy định của nhà nước

gây khó khăn cho nhà đầu tư, cản trở công tác thi hành pháp luật tại địa phương

Quy trình quản lý theo thẩm quyền được phân công, phân cấp Điểm nổi trội của

tỉnh Vĩnh Phúc là đã thường xuyên tổ chức tập huấn về nghiệp vụ quản lý đầu tư

xây dựng ở các cấp, các ngành về nội dung: Cung cấp kiến thức cơ bản về quản lý

đầu tư xây dựng hiện có và mới bổ sung, công tác quản lý chất lượng công trình,

công tác quản lý đô thị đối với cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý đầu tư xây

dựng Hướng dẫn chi tiết về trình tự các bước triển khai đầu tư XDCB, và gắn với

các bước trong trình tự đó là quy định rõ về thủ tục, hồ sơ cần có và trách nhiệm

quyền hạn của người quản lý, thụ lý của các chủ thể trong hệ thống quản lý, vận

hành cấp phát VĐT XDCB Việc cụ thể hóa quy trình quản lý giải quyết công việc

của Nhà nước đã tạo bước đột phá của tỉnh Vĩnh Phúc trong khâu cải cách hành

chính, nâng cao trách nhiệm và năng lực của bộ máy Nhà nước

Đề cao trách nhiệm và xử lý trách nhiệm các cá nhân trong từng khâu của

quy trình, làm rõ sai phạm, quy rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm minh triệt để bằng

biện pháp xử phạt hành chính, hình sự và bồi hoàn thiệt hại vật chất, khắc phục tình

trạng chỉ quy trách nhiệm, nhận thiếu sót, yếu kém tập thể, chung chung , kiên

quyết đưa ra khỏi công quyền những cán bộ công chức kém phẩm, thiếu tinh thần

trách nhiệm, gây phiền hà nhũng nhiễu, năng lực trình độ chuyên môn yếu kém

trong quản lý đầu tư XDCB và không bố trí chủ đầu tư dự án cho các đơn vị đã vi

phạm quản lý dây dưa, kéo dài thời gian quyết toán công trình không theo quy định

của pháp luật

1.4.3 Bài học kinh nghiệm

Trong điều kiện kinh tế thị trường, bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần chú ý

hiệu quả Từ kinh nghiệm quản lý sử dụng VĐT cho XDCB của thế giới và Việt

Nam, đề tài rút ra bài học kinh nghiệm sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB của

thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ nhất, cần một hướng dẫn cụ thể cho từng khâu quản lý sử dụng vốn

NSNN trong đầu tư XDCB, các phương pháp đánh giá, kỹ thuật đánh giá và các chỉ tiêu đánh giá cụ thể cho từng lĩnh vực đầu tư XDCB

Thứ hai, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng Các cơ quan

đánh giá, kiểm tra, thanh tra giúp cho các cơ quan quản lý sử dụng vốn NSNN trong đầu tư XDCB có thông tin, kế thừa và phản hồi để ngày càng hoàn thiện quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư XDCB

Thứ ba, chú trọng hơn trong việc tuyển dụng và đào tạo nhân viên, cán bộ

quản lý chuyên nghiệp tham gia quản lý sử dụng vốn NSNN trong đầu tư XDCB

Thứ tư, quản lý tốt việc cấp phát và thanh toán VĐT: Việc cấp phát và thanh

toán VĐT phải gắn với nhu cầu thực tế của công trình và phải đảm bảo đúng quy định của Nhà nước

Thứ năm, coi trọng công tác lập kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch đầu tư

phải gắn chặt chẽ với ngân sách, chính sách và chiến lược phát triển của đất

nước, địa phương

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là

các phương pháp so sánh, điều tra, thống kê, tổng hợp, kiểm định bằng SPSS và

phân tích hệ thống để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu, cụ thể như:

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Đồng thời, t

Số liệu được thu thập bao gồm các văn bản của Chính phủ, của các Bộ, Ban,

Ngành có liên quan được thu thập và đánh giá Các báo cáo tổng kết,

XDCB trên địa bàn được thu thập, phân tích và đánh giá

2.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Để đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB tại thành

phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đề tài sử dụng số liệu sơ cấp, được thu thập thông qua

điều tra bằng bảng hỏi Cán bộ, nhân viên của các Sở Ban ngành liên quan được

phỏng vấn bằng bảng hỏi đã thiết kế trước

Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên cơ sở tham khảo ý kiến của các cán bộ

của đơn vị và các chuyên gia am hiểu về đề tài nghiên cứu Trước khi tiến hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phỏng vấn các cán bộ, nhân viên, tác giả phỏng vấn thử 5 nhân viên để điều chỉnh phiếu điều tra cho phù hợp

Các câu hỏi trong phiếu điều tra sử dụng thang đo Likert 5: 1- Rất không đồng ý; 2 – Không đồng ý; 3 – Không có ý kiến; 4 – Đồng ý; 5 – Rất đồng ý

Đề tài lựa chọn số lượng mẫu theo phương pháp ngẫu nghiên Số lượng mẫu được lựa chọn là 100 mẫu Đối tượng mẫu là các cán bộ, công chức viên chức liên quan tới quản lý NSNN cho đầu tư XDCB Mẫu nghiên cứu được phân bổ như sau:

Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, KBNN, Ban quản lý dự án các khu du lịch, công nghiệp

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin

Thông tin sau khi thu thập được, tác g

Công cụ

sử dụng cho xử lý và tổng hợp là: Máy tính, phần mềm excel, SPSS

2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

2.2.3.1 Phương pháp so sánh

- So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được

lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau:

- Biểu hiện bằng số: Số lần hay phần trăm

- Phương pháp so sánh gồm các dạng:

+ So sánh các nhiệm vụ kế hoạch + So sánh qua các giai đoạn khác nhau + So sánh các đối tượng tương tự

VĐT XDCB qua KBNN theo từng năm

2.2.3.2 Phương pháp thống kê mô tả

sự khó khăn, phức tạp của công tác quản lý VĐT

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2.3.3 Phương pháp đồ thị

Sử dụng sơ đồ tổ chức bộ máy; sơ đồ quy trình thanh toán; đồ thị hình cột

phản ánh quy mô và tốc độ phát triển tình hình kiểm soát thanh toán VĐT XDCB từ

nguồn vốn NSNN

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương

2.3.1.1 Về kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (theo giá so sánh) (%);

- Thu nhập bình quân đầu người (VND);

- Tỷ lệ biến động đất, tài nguyên khác hàng năm (%); cơ cấu kinh tế của huyện (%)

2.3.1.2 Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế

- Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm (%);

- Tỷ lệ xã, thị trấn hoàn thành chuẩn quốc gia về y tế (%)

- Nhóm chỉ tiêu về thu ngân sách

; + Thu ngân sách trên địa bàn: Thu trong cân đối (thu nội địa: Thu từ xí

nghiệp quốc doanh trung ương, thu từ xí nghiệp quốc doanh địa phương, thu từ xí

nghiệp có VĐT nước ngoài, thu từ khu vực công thương nghiệp và ngoài quốc

doanh, thu lệ phí trước bạ, thu phí, lệ phí, thu chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền sử

dụng đất, thu tiền thuê đất, thu từ ngân sách khác; thu xuất nhập khẩu);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Thu theo sắc thuế: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, thuế thu nhập cá nhân, thu phí

và lệ phí, thu tiền sử dụng đất, thu khác;

+ Thu theo ngành kinh tế quốc dân: Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại -

Du lịch, Nông lâm nghiệp - Ngư nghiệp;

,

Đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thanh toán vốn ĐTXDCB qua KBNN thông qua chỉ tiêu này, cụ thể các chỉ tiêu: Số liệu kiểm soát, thanh toán; số

từ chối thanh toán, việc tổ chức thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ của ngành cũng như của đơn vị

2.3.4 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn

- Khối lượng VĐT thực hiện

- Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

* Hệ số ICOR Chỉ tiêu ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng qua công thức:

ICOR=I/ GDP Hay I=ICOR x GDP Trong đó:

ICOR: là hệ số tỷ lệ giữa VĐT và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội I: là VĐT

GDP: mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội

Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDP thì cần bao nhiêu đồng VĐT Hệ số này càng thấp thì hiệu quả VĐT càng cao Nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ giữa VĐT(I) so với GDP sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, (tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng cao và ngược lại)

Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng việc xây dựng các kế hoạch kinh tế Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toán nhu cầu VĐT theo các mô hình kinh tế

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

*Hiệu suất VĐT

Hiệu suất VĐT: Hiệu suất VĐT biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa GDP và

VĐT trong kỳ được xác định theo công thức:

Hi = GDP/I

Trong đó:

Hi: Hiệu suất VĐT trong kỳ

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ

I: Tổng mức VĐT trong kỳ

- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư

Các kết quả đạt được do thực hiện đầu tư Hiệu quả hoạt động đầu tư =

Tổng VĐT thực hiện

Công thức này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh

doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân của tổng VĐT đã bỏ ra trong một

thời kỳ so với thời kỳ khác (hoặc so với định mức chung) Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận

với kết quả thu được, kết quả đầu ra nhiều thì hiệu quả đạt được cao Nó có thể

được định lượng thông qua các chỉ tiêu như: Giá trị TSCĐ tăng thêm, số km đường,

số nhà máy nước, điện, số m2 nhà tăng thêm…

* Hiệu suất TSCĐ: Hiệu suất TSCĐ ký hiệu (Hfa) biểu hiện sự so sánh giữa

khối lượng tổng sản phẩm quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá

trị TSCĐ trong kỳ (FA) được tính theo công thức:

H (fa) = GDP/FA

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ nào đó, một đồng giá trị TSCĐ sử dụng sẽ tạo ra

bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội

TSCĐ là kết quả do VĐT tạo ra, do đó hiệu suất TSCĐ phản ánh một cách

khái quát hiệu quả VĐT trong kỳ Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi trong phân

tích kinh tế vĩ mô

* Hệ số thực hiện VĐT

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hệ số thực hiện VĐT là một chỉ tiêu quan trọng Nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng VĐT bỏ ra với các TSCĐ (kết quả của VĐT) được đưa vào sử dụng Hệ

số được tính theo công thức sau:

H0 = FA/I Trong đó:

H0: Hệ số thực hiện VĐT FA: Giá trị TSCĐ được đưa vào sử dụng trong kỳ I: Tổng số VĐT trong kỳ

Theo cách tính này hệ số VĐT càng lớn biểu hiện hiệu quả VĐT càng cao

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ NĂM 2010 - 2013

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của thành phố Việt Trì

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý

3.3.1.1 Vị trí địa lý

Việt Trì là thành phố trực thuộc tỉnh Phú Thọ, là kinh đô Văn Lang -

Kinh đô đầu tiên của người Việt, quê hương đất tổ vua Hùng, là nơi có bề dày

truyền thống lịch sử và văn hiến, là thành phố công nghiệp, là cửa ngõ vùng Tây

Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội

và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội -

Côn Minh (Trung Quốc) Thành phố Việt Trì được thành lập vào ngày 4 tháng 6

năm 1962 và được biết đến là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên ở

miền Bắc với các ngành dệt, giấy, hóa chất, sứ, và còn được gọi là thành phố

ngã ba sông - nơi hợp lưu của ba dòng sông (sông Hồng, sông Lô, sông Đà)

Hiện nay Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Phú Thọ

và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc

Thành phố Việt Trì là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ, nằm ở phía

Đông Nam của tỉnh, phía bờ tả ngạn sông Hồng, nằm cách trung tâm thủ đô Hà

Nội 70km về phía Tây bắc, phía Đông giáp với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc), phía

Nam giáp với huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (Hà Nội), phía Tây

giáp với huyện Lâm Thao, phía Bắc giáp với huyện Phù Ninh

Thành phố Việt Trì với 23 đơn vị hành chính, trong đó có 13 phường nội

thị và 10 xã ngoại thị (04 xã miền núi thuộc khu vực I)

Với vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, có đầu mối giao thông quan trọng của các

tỉnh Trung du Miền núi phía Bắc cả về đường bộ, đường thủy và đường sắt đã giúp

ích rất nhiều cho phát triển sản xuất kinh doanh, giao thương luân chuyển hàng hóa

thúc đẩy phát triển KT - XH của thành phố cũng như của tỉnh Việt Trì có lợi thế so

sánh hơn các huyện, thị khác trong tỉnh, do vậy quá trình ĐTH ở Việt Trì diễn ra

mạnh mẽ hơn các địa phương khác trong tỉnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.1.1.2 Khí hậu thời tiết

Việt Trì nằm ở vùng trung du khí hậu thời tiết mang sắc thái của vùng khí hậu trung du miền núi phía Bắc, có mùa mưa và mùa khô Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng từ 1.138,3 mm đến 1.922,9 mm, nhưng phân bố không đều trong năm, mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm khoảng trên 80% tổng lượng mưa hàng năm Nhiệt độ trung bình 23,40C,

độ ẩm trung bình qua các năm dao động từ 80 - 82% Tổng số giờ nắng trong các năm dao động từ 1.123,6 đến 1.527,3 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng nhất là tháng 7, tháng có ít giờ nắng nhất là tháng 2, là điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và các dịch vụ khác

3.1.1.3 Địa hình và nguồn nước

Thành phố Việt Trì có địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng dốc từ Bắc xuống Nam thông qua dòng chảy đổ về từ sông Hồng và sông Lô, thành phố nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có nguồn cát, sỏi sông Lô hiện nay

đã khai thác cạn kiệt, ngoài ra chỉ còn tài nguyên đất và tài nguyên nước ngầm và nước mặt của hệ thống sông Hồng và các hồ trong Thành phố

Với hệ thống sông Hồng, sông Lô, sông Đà chảy qua thành phố, lưu lượng nước hàng năm rất lớn Sông Hồng có mực nước cao nhất trong mùa lũ hàng năm dao động từ 10,2 đến 14,9 m, trong mùa cạn mực nước rút xuống còn 4,1 đến 5,5 m, Sông Lô có mực nước cao nhất trong mùa lũ hàng năm dao động từ 11,8 đến 18,2 m, trong mùa cạn mực nước rút xuống còn 5,0 đến 10,0 m Với hệ thống sông này và nguồn nước từ các hồ đập trong thành phố sẽ là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá khi biết khai thác và sử dụng có hiệu quả phục vụ đời sống sản xuất

và nhu cầu sinh hoạt

3.1.2 Điều kiện KT - XH

3.1.2.1 Tình hình kinh tế Sản xuất công nghiệp, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp

Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện Một số doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp trên địa bàn đã tích cực tìm kiếm, phát triển thị trường, thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, do đó giá trị sản xuất một số ngành tăng so

Ngày đăng: 08/08/2016, 21:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 1.1 Các giai đoạn đầu tư của một dự án (Trang 9)
Bảng 3.1: GRDP, GRDP bình quân đầu người thành phố Việt Trì - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1 GRDP, GRDP bình quân đầu người thành phố Việt Trì (Trang 31)
Bảng 3.2: Tổng hợp chi ngân sách thành phố Việt Trì giai đoạn 2010 - 2013 - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.2 Tổng hợp chi ngân sách thành phố Việt Trì giai đoạn 2010 - 2013 (Trang 32)
Bảng 3.3: Tình hình tích luỹ đầu tƣ  XDCB từ NSNN giai đoạn 2010 - 2013 - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.3 Tình hình tích luỹ đầu tƣ XDCB từ NSNN giai đoạn 2010 - 2013 (Trang 33)
Bảng 3.5: Thống kê mô tả các điều tra về chính sách ngân sách và lập kế hoạch - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.5 Thống kê mô tả các điều tra về chính sách ngân sách và lập kế hoạch (Trang 36)
Bảng 3.4: Thống kê mô tả các điều tra về Luật và các quy định có liên quan - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.4 Thống kê mô tả các điều tra về Luật và các quy định có liên quan (Trang 36)
Bảng 3.6: Thống kê mô tả các điều tra về dự toán chi cho đầu tƣ XDCB - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6 Thống kê mô tả các điều tra về dự toán chi cho đầu tƣ XDCB (Trang 37)
Bảng 3.7: Thống kê mô tả các điều tra về chấp hành cho đầu tƣ XDCB - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.7 Thống kê mô tả các điều tra về chấp hành cho đầu tƣ XDCB (Trang 37)
Bảng 3.9: Thống kê mô tả các điều tra về việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.9 Thống kê mô tả các điều tra về việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá (Trang 38)
Bảng 3.8: Thống kê mô tả các điều tra về quyết toán chi cho đầu tƣ XDCB - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.8 Thống kê mô tả các điều tra về quyết toán chi cho đầu tƣ XDCB (Trang 38)
Bảng 3.10: Hiệu quả sử dụng VĐT XDCB  từ NSNN - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.10 Hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ NSNN (Trang 38)
Bảng 3.11: Kết quả xoá đói giảm nghèo - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.11 Kết quả xoá đói giảm nghèo (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w