Đề cương tóm tắt kiến thức luật hình sự, ngắn gọn, cơ bản, dễ hiểu. Tổng quan về Luật hình sự Việt Nam năm 1999 phần chung. Tội phạm và các vấn đề liên quan đến tội phạm, cấu thành tội phạm, trách nhiệm hình sự, các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT HÌNH SỰ
Nguyễn Thành Trung
PHẦN CHUNG CHƯƠNG I: TỘI PHẠM
1. Khái niệm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
2. Đặc điểm:
- tính nguy hiểm cho xã hội: Gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại
đáng kể cho các quan hệ pháp luật được LHS bảo vệ
- tính trái pháp luật hình sự: Hành vị bị coi là tội phạm khi nó được quy
định trong BLHS
- tính chất lỗi: Lỗi là thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hành vi
nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý
- tính phải chịu hình phạt
3. Phân loại:
Theo tính chất, mức độ của hành vi:
- TP ít nghiêm trọng: Mức cao nhất: 3 năm tù
- TP nghiêm trọng: Mức cao nhất: đến 7 năm tù
- TP rất nghiêm trọng: Mức cao nhất: đến 15 năm tù
- TP đặc biệt nghiêm trọng: Mức cao nhất là trên 15 năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình
CHƯƠNG II: CẤU THÀNH TỘI PHẠM
1. Khái niệm:
Khái niệm CTTP : Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có
tính đạc trưng
cho loại tội cụ thể được quy định trong Luật Hình sự
2. Các yếu tố CTTP
- Khách thể của tội phạm: là quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ và bị
tội phạm xâm hại
+ Đối tượng tác động của khách thểTài liệu hướng dẫn ôn tập dành cho hình thức Đại học giáo dục từ xa
- Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho
xã hội,
hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, thời gian địa điểm, hoàn cảnh phạm tội
- Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đòi hỏi phải có 2 dấu hiệu bắt
buộc: Năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, bao gồm lỗi, mục
đích và động cơ phạm tội
Trang 2- Những dấu hiệu bắt buộc luôn luôn được phản ánh trong mọi cấu thành tội phạm:
+ Quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại (thuộc khách thể của tội phạm)
+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội (thuộc mặt khách quan của tội phạm)
+ Lỗi (thuộc mặt chủ quan của tội phạm)
+ Năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (thuộc chủ thể)
- Dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm:
+ Đối tượng tác động của tội phạm (thuộc khách thể của tội phạm)
+ Hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện,
thời gian địa điểm, hoàn cảnh phạm tội (thuộc mặt khách quan của tội phạm) + Mục đích, động cơ phạm tội (thuộc mặt chủ quan của tội phạm)
3. Phân loại CTTP
- Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được CTTP
phản ánh
CTTP được phân thành: cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu
thành tội phạm giảm nhẹ
- Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của CTTP, CTTP được
phân
thành: cấu thành tội phạm vật chất, cấu thành tội phạm hình thức và cấu thành tội phạm cắt xén
+ CTTP vật chất: mặt khách quan luật quy định có dấu hiệu hành vi, dấu hiệu
hậu quả và mqh nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ CTTP hình thức: mặt khách quan luật quy định dấu hiệu hành vi gây nguy
hiểm cho xh
+ Có thể phân chia ra CTTP cắt xén: mặt khách quan chỉ quy định dấu hiệu
hành vi, ko quy định dấu hiệu hậu quả, nhưng hành vi chỉ là 1 bộ phận hay 1 giai đoạn của hành vi
4 MQH của CTTP và TNHS?
- CTTP là cơ sở của TNHS
Đ2 BLHS 1999 quy định: “Chỉ ng` nào phạm 1 tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” 1 hành vi bị coi là tội phạm khi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của 1 CTTP, CTTP là căn cứ để xác định tội phạm và truy cứu TNHS ng` thực hiện tội phạm
- CTTP là căn cứ pháp lí để định tội
+ Định tội là xác định tội danh, xác định 1 hành vi cụ thể gây thiệt hại cho xh CTTP nào trong số các tội phạm nêu ra trong BLHS
+ Truy cứu TNHS phải định được tội danh, trên cơ sở định tội mới xác định được biện pháp trách nhiệm cụ thể mà ng` phạm tội phải gánh chịu
+ Muốn định tội danh đúng phải nắm vững nội dung các CTTP quy đinh trong BLHS
CHƯƠNG III: KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
1. Khái niệm: là quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm
hại
2. Phân loại khách thể của tội phạm: gồm 3 loại: khách thể chung, khách thể loại
Trang 33. Đối tượng tác động: Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận khách thể của
tội phạm mà khi tác động đến bộ phận này người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ
4. Các loại đối tượng tác động của tội phạm:
- Con người:
- Là những vật cụ thể:
- Hoạt động bình thường của con người:
CHƯƠNG IV: MẶT KHÁCH QUAN CỦA TP
1. Khái niệm:
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm các dấu hiệu biểu hiện tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan.
a. Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây ra thiệt hại cho các quan
hệ xã hội được Luật Hình Sự bảo vệ.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu khách quan bắt buộc của tất cả CTTP và là dấu hiệu trung tâm trong mặt khách quan của tội phạm
Với ý nghĩa là một biểu hiện hay dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là hoạt động cụ thể được chủ thể nhận thức và điều khiển, có nội dung trái với các yêu cầu và đòi hỏi của PLHS
Các dạng của hành vi.
* Hành động phạm tội
- Hành động phạm tội là chủ thể làm một việc mà pháp luật cấm, qua đó làm thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm
-Hành vi phạm tội:
+ Có thể chỉ là một động tác đơn giản xảy ra một lần trong khoảng thời gian ngắn
+ Có thể là tập hợp nhiều động tác khác nhau
+ Có thể là một động tác đơn giản hay tập hợp nhiều động tác nhưng được thực hiện lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian dài
-Hành động phạm tội có thể:
+ Là sự tác động trực tiếp của chủ thể lên đối tượng tác động của tội phạm +Tác động thông qua công cụ, phương tiện phạm tội
+Là động tác mang tính thể chất hoặc là lời nói
* Không hành động phạm tội
Không hành động phạm tội là chủ thể không làm hoặc làm không đầy đủ một việc mà pháp luật quy định phải làm mặc dù có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện việc đó, làm biến đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm
Chủ thể không làm một việc mà pháp luật quy định phải làm tức là không thực hiện nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, nghĩa vụ này xuất hiện trong những trường hợp sau:
+ Nghĩa vụ phải làm những việc nhất định do pháp luật quy định trực tiếp cho chủ thể, nghĩa vụ này thường được quy định trong các quy phạm PLHS: cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng ( Điều314 BLHS), nhưng cũng có thể quy định trong các QPPL của ngành luật khác
Trang 4+ Nghĩa vụ phải làm những việc nhất định do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trực tiếp xác định trong một văn bản áp dụng pháp luật căn cứ vào văn bản QPPL của nhà nước VD: không chấp hành các quy định hành chính của cơ quan nhà nhước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính ( Điều 269 BLHS)
+ Nghĩa vụ phải làm những việc nhất định gắn liền với chức năng nghề nghieeph do pháp luật quy định VD: nghĩa vụ cứu người bệnh của bác sĩ, nghĩa vụ bảo vệ tài sản của nhân viên bảo vệ cơ quan
+ Nghĩa vụ phải thực hiện những việc nhất định phát sinh từ hợp đồng VD: người trông coi trẻ với cha mẹ đứa trẻ nhưng sau đó không làm đầy đủ nghĩa vụ dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng đứa trẻ
+ Nghĩa vụ phải thực hiện những việc nhất định phát sinh do xử sự trước đó của chủ thể VD: người lái xe do vi phạm các quy định an toàn giao thông gây ra tai nạn, có nghĩa vụ phải cứu giúp người bị nạn
Chủ thể phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ của mình đã gây ra thiệt hại cho xã hội khi chủ thể có đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ đó
b. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Bất kỳ một tội phạm nào cũng gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại nhất định cho khách thể của tội phạm
Trong số các hậu quả do hành vi phạm tội gây ra chỉ hậu quả nào được nêu
ra trực tiếp trong nội dung điều luật quy định CTTP mới có ý nghĩa là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt Các dấu hiệu khác được xem xét khi giải quyết TNHS và quyết định hình phạt với tội phạm đã được thực hiện
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là một biểu hiện thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa không giống nhau trong các CTTP khác nhau
Các dạng của hậu quả nguy hiểm cho xã hội:
- Thiệt hại về vật chất: hành vi phạm tội làm thay đổi tình trạng bình thường
của đối tượng tác động của tội phạm là những vật cụ thể VD: tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng, mất đi một phần hoặc toàn bộ giá trị sử dụng như các tội quy định tại các điều 143, 231 BLHS…
-Thiệt hại về thể chất: hành vi phạm tội gây ra sự thay đổi tình trạng bình
thường của con người về thể chất VD: gây hậu quả chết người do cố ý ( Điều 93) hoặc vô ý ( Điều 98)…
- Thiệt hại về tinh thần: Là những thiệt hại mà hành vi thiệt hại gây ra cho
nhân phẩm, danh dự, tự do của con người như làm nhục người khác ( Điều 121)…
- Thiệt hại về chính trị: Là hậu quả do những hành động phạm tội gây ra đối
với sự tồn tại vững mạnh của chế độ xã hội, của nhà nước và an ninh quốc gia VD: thành lập tổ chức nhằm lập đổ chính quyền ( Điều 79), chia rẽ khối đoàn kết toàn dân ( Điều 87)…
Những thiệt hại về chính trị, tinh thần rất khó xác định mức độ cụ thể khi áp dụng pháp luật nên ít được phản ánh vào nôi dung CTTP, chính sự thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được nêu ra trong Điều luật quy định tội phạm đã thể hiện hậu quả mà hành vi gây ra cho xã hội
Trang 5c. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm =>Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của hành vi gây ra cũng là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
Những tội phạm mà Luật hình sự quy định hậu quả cụ thể là một dấu hiệu của CTTP (dấu hiệu bắt buộc) thì quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là một dấu hiệu bắt buộc trong CTTP
Nội dung mối quan hệ nhân quả trong luật hình sự như sau:
+ Hành vi trái pháp luật xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội xét về thời gian Nguyên nhân phải có trước kết quả, hành vi trái pháp luật với tính chất là nguyên nhân phải xuất hiện trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội Đây là căn cứ đầu tiên xác định quan hệ nhân quả
+ Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội Khả năng chứa đựng trong hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật, trong những điều kiện nhất định sẽ sản sinh ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội (Hành vi trái pháp luật thông thường trực tiếp gây thiệt hại cho khách thể, có khi chỉ có vai trò “cộng hưởng” trong quá trình gây thiệt hại cho khách thể)
+ Những hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra phải do chính hành vi trái pháp luật đã được thực hiện gây ra, là sự phát triển trong khả năng chứa đựng trong hành vi trái pháp luật thành thiệt hại trong thực tế (những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình phát sinh hậu quả có thể là yếu tố tự nhiên, súc vật hoặc xử
sự của con người)
Nhiều trường hợp nhiều hành vi của một hay nhiều chủ thể gây ra một hậu quả; cũng có khi một hành vi đã gây ra nhiều hậu quả nguy hiểm cho xã hội
d. Những dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan của tội phạm.
Phương tiện phạm tội.
- Là những vật, dụng cụ được người phạm tội sử dụng để thực hiện tội phạm Phương tiện phạm tôi không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các CTTP
-Với một số ít tội phạm, nhà làm luật quy định phương tiên phạm tôi là dấu hiệu định tội
- Trong trường hợp tính chất của phương tiện phạm tội có định hướng rõ rệt đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhà làm luật quy định phương tiện phạm tội là dấu hiệu của CTTP tăng nặng Khi luật quy định là dấu hiệu cảu CTTP tăng nặng, phương tiện phạm tôi có ý nghĩa định khung hình phạt
Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm.
- Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm là cách thức thực hiện hành vi
- Luật hình sự không quy định phương pháp và thủ đoạn phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của mọi CTTP
- Với một số tội phạm, phương pháp và thủ đoạn phạm tội được quy định là dấu hiệu định tội ( dấu hiệu của CTTP cơ bản)
- Phương pháp và thủ đoạn phạm tội được luật hình sự quy định là dấu hiệu của CTTP tăng nặng với một số tội phạm
- Có trường hợp luật không quy định phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt nhưng phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm lại có ý nghĩa là một căn cứ cụ thể để quyết định hình phạt
Trang 6Thời gian phạm tội.
- Có thể là một thời điểm hay một khoảng thời gian nhất định mà hành vi phạm tội diễn ra
- Trong Luật hình sự Việt Nam, thời gian phạm tội được quy định là dấu hiệu định tội (dấu hiệu CTTP cơ bản) với một số ít tội phạm
Thời gian thực hiện tội phạm cũng có thể được quy định là dấu hiệu của CTTP tăng nặng (CTTP định khung)
Địa điểm phạm tội.
- Là một giới hạn lãnh thổ nhất định mà trên đó tội phạm bắt đầu hoặc kết thúc, hay ở đó hậu quả của tội phạm xảy ra
- Địa điểm có thể là một điểm hay một vùng lãnh thổ nhất định Luật hình sự quy định địa điểm là dấu hiệu định tội với một số ít tội phạm
Hoàn cảnh phạm tội.
- Hoàn cảnh phạm tội là tổng hợp tất cả tình tiết khách quan xung quanh việc thực hiện tội phạm có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là bối cảnh xã hội khi hành vi phạm tội diễn ra
- Hoàn cảnh phạm tội có thể được Luật hình sự quy định là dấu hiệu định khung (dấu hiệu của CTTP tăng nặng hay giảm nhẹ)
CHƯƠNG V: CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM
1 Khái niệm:
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đang sống Người chết không phải chịu TNHS dù trước đó họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm và gây thiệt hại cho xã hội LHS không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm Động vật được con người sử dụng gây thiệt hại cho xã hội thì người quản lý hoặc sử dụng chúng phải chịu trách nhiệm, chủ thể của luật hình sự không thể là con vật
2 Những dấu hiệu chung của chủ thể phạm tội:
- Có năng lực trách nhiệm hình sự: NLTNHS của 1 người là khả năng nhận
thức và điều khiển được hành vi Chỉ người nhận thức và điều khiển hành vi mới có thể tiếp thu những biện pháp giáo dục, cải tạo được áp dụng với họ Đồng thời NLTNHS là điều kiện để chủ thể có lỗi
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: chủ thể chỉ có thể nhận thức và điều khiển
hành vi khi đủ độ tuổi nhất định LHS VN quy định người có đủ năng lực là người từ
đủ 16t (NL nhận thức và điều khiển hành vi của con người được hình thành từng bước theo thời gian trong quá trình sống và tham gia quan hệ chủ thể)
3 Những đặc điểm (dấu hiệu) của chủ thể đặc biệt theo quy định cảu LHS gồm:
- Những đặc điểm liên quan đến nghề nghiệp của 1 người VD: tội vi phạm cho vạy trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Điều 179)
- Những đặc điểm về chức vụ quyền hạn VD: tội tham ô, các tội về lạm dụng chức quyền…
- Những đặc điểm liên quan đến nghĩa vụ mà Nhà nước xác định với những người nhất định VD: tội trốn nghĩa vụ quân sự (Đ.259)
Trang 7- Những đặc điểm về tuổi, giới tính, quan hệ gia đình VD: Tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm, tội loạn luân…
CHƯƠNG VI: MẶT CHỦ QUAN CỦA TP
1 Khái niệm:
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và với hậu quả do hành vi
đó gây ra
2 Các dấu hiệu:
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội
a. Lỗi:
Lỗi là thái độ tâm lý của tội phạm đối với hành vi phạm tội và hậu quả mà hành vi đó gây ra thể hiện duới dạng cố ý hoặc vô ý Lỗi là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của tất cả các CTTP
Lỗi cố ý:
- Lỗi cố ý trực tiếp: Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho XH, thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi đó (lý trí) và mong muốn hậu quả xảy ra (ý chí).
- Lỗi cố ý gián tiếp: Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho XH, thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Phân biệt:
LỖI CỐ Ý TRỰC TIẾP LỖI CỐ Ý GIÁN TIẾP
Lý trí
Nhận thức được tính nguy hiểm của hành
vi mà mình thực hiện, thấy trước hậu quả
nguy hiểm của hành vi đó Người phạm tội
có thể dự kiến hành vi có thể hoặc tất nhiên
sẽ gây ra hậu quả
Nhận thức được tính nguy hiểm của hành
vi mà mình thực hiện, người phạm tội chỉ thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra (không phải là tất nhiên)
Ý chí
Người phạm tội mong muốn hậu quả
phát sinh có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra NgườiNgười phạm tội không mong muốn nhưng
phạm tội chấp nhận hậu quả do đang theo đuổi mục đích khác
Lỗi vô ý:
- Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi của một người trong trường hợp thấy trước hành
vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho XH (lý trí) nhưng cho rằng hậu quả
đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (ý chí), vì vậy đã thực hiện hành vi
và gây ra hậu quả nguy hiểm cho XH (điều 10 BLHS)
- Lỗi vô ý vì cẩu thả là lỗi của một người trong trường hợp đã gây ra hậu quả
nguy hiểm cho XH của hành vi nhưng do cẩu thả nên đã không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả này
Phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý vì cẩu thả?
- Lỗi vỗ ý vì quá tự tin
+ Lý trí: Người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho XH của hành vi
của mình nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra
Trang 8+ Ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây hậu quả
nguy hiểm cho XH gắn liền với việc người đó đã loại trừ khả năng xảy ra hậu quả hoặc có thể ngăn ngừa được
- Lỗi vô ý vì câu thả
+ Dấu hiệu thứ nhất: Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm
cho XH của hành vi (có thể nhận thức được hoặc không nhân thức được mặt thực
tế của hành vi)
+ Dấu hiệu thứ hai: Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước
hậu quả, họ có nghĩa vụ phải thấy và có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả nguy hiểm cho XH của hành vi Người phạm tội đã không thấy trước hậu quả là do họ cẩu thả, thiếu sự thận trọng cần thiết
Trường hợp hỗn hợp lỗi:
- Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong CTTP có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) được quy định với những tình tiết khách quan khác nhau
- Trường hợp này thường xảy ra ở CTTP tăng nặng của các tội phạm cố ý mà tình tiết tăng nặng là những hậu quả nguy hiểm nhất định và lỗi đối với những hậu quả đó là vô ý
Ví dụ: CTTP cơ bản của tội hiếp dâm (điều 111 BLHS) có dấu hiệu cố ý, CTTP tăng nặng có tình tiết tăng nặng là gây hậu quả chết người và lỗi đối với hậu quả pháp lý này là vô ý
Sự kiện bất ngờ:
Điều 11 BLHS quy định: “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho
xã hội do sự kiện bất ngờ,tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó,thì không phải chịu TNHS”
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ không phải chịu TNHS vì họ không thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả đó tức là không có lỗi khi gây ra thiệt hại cho xã hội (không làm phát sinh quan hệ PLHS)
Phân biệt:
Người gây thiệt hại cho xã hội không có
nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả hoặc không
thể thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã
hội khi thực hiện một xử sự nhất định
Người gây thiệt hại cho xã hội có nghĩa vụ phải thấy trước và có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi,họ đã không thấy trước hậu quả đó
vì không có sự chú ý và thận trọng cần thiết vì họ cẩu thả
b. Động cơ phạm tội:
Động cơ pt là nhân tố bên trong, thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi tội phạm Cơ sở để hình thành động cơ phạm tội là các giá trị vật chất, tinh thần
Động cơ phạm tội chỉ có trong những trường hợp phạm tội cố ý Những tội phạm vô ý người phạm tội không mong muốn thực hiện tội phạm, vì vậy khi thực hiện hành vi bên trong chủ thể không có động cơ phạm tội thúc đẩy, những tội vô
ý có thể có động cơ hành động chứ không thể có động cơ phạm tội
c. Mục đích phạm tội
Mục đích pt là mô hình được hình thành bên trong ý thức của người phạm tội
và người phạm tội mong muốn đạt được điều đó trên thực tế bằng cách thực hiện hành vi phạm tội
Trang 9Mục đích phạm tội chỉ có với những tội phạm được thực hiện do cố ý trực tiếp Người phạm tội trong trường hợp cố ý nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện thấy trước hậu quả đó xảy ra mong muốn thực hiện tội phạm để được mục đích nhất định
CHƯƠNG VII: CÁC GIAI ĐOẠN CỐ Ý PHẠM TỘI Khái niệm:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện TP cố ý bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Tại sao lại chia thành các giai đoạn phạm tội:
+ Phân chia để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đấu tranh phòng chống tội phạm
+ Đảm bảo nguyên tắc phòng là chính, nguyên tắc công bằng và nhân đạo (hạn chế hậu quả bằng việc xử lý tội phạm ở các mức khác nhau)
+ Đó là sự can thiệp của nhà làm luật với sự diễn biến lien tục của hành vi phạm tội, để phân hóa tránh nhiệm hình sự
+ Phân hóa để bảo vệ các quan hệ xã hội
1. Chuẩn bị phạm tội:
a Khái niệm: Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn thực hiện tội phạm trong đó
người phạm tội đã có hành vi tạo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện TP nhưng chưa thực hiện TP.
- Là quá trình tìm kiếm, chuẩn bị, sửa soạn công cụ phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm
- Loại trừ các khả năng bất lợi cho hành vi thực hiện tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi thực hiện tội phạm
- Do xuất hiện ý định phạm tội ko được coi là tội phạm nên giai đoạn này được coi là giai đoạn đầu tiên của tội phạm
b Đặc điểm
- Người phạm tội chưa bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ tạo tiền
đề cần thiết để thực hiện hành vi đó
- Chưa trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà mới chỉ đặt khách thể đó trong tình trạng nguy hiểm
- Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra do chưa thực hiện hành vi phạm tội nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội chưa xảy ra
c Trách nhiệm hình sự
- Người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu TNHS vì hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu CTTP của hành vi phạm tội chưa hoàn thành
- TNHS chỉ đặt ra đối với người có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng:
+ Nếu quy định hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu mức án cao nhất là tù không quá 20 năm
+ Nếu quy định hình phạt là tù có thời hạn thì mức hình phạt ko quá ½ mức phạt tù mà điều luật quy định
2. Phạm tội chưa đạt:
a Khái niệm: Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không
thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
b Đặc điểm
Trang 10- Người phạm tội đã thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của CTTP nhưng không thực hiện được đến cùng Hành vi của họ chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của CTTP
+ Người phạm tội thực hiện hành vi liền trước hành vi được mô tả trong mặt khách quan của CTTP
+ Mới chỉ thực hiện được một hành vi trong những hành vi quy định trong CTTP
+ Thực hiện hết hành vi, hậu quả xảy ra cho xã hội rồi nhưng hậu quả đó chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong CTTP
- Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra hoặc người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa phù hợp với hậu quả đc quy định trong CTTP (có thể là mới chỉ đặt quan hệ xã hội trong tình trạng bị uy hiếp, hậu quả xảy ra chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong CTTP)
- Nguyên nhân của việc ko thực hiện đến cùng là những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội:
+ Do sự ngăn cản của người bị hại khiến tội phạm ko thực hiện được
+ Do điều kiện tự nhiên cản trở
+ Do những nguyên nhân khách quan thuộc bản than người phạm tội, sự hạn chế của họ…
c Phân loại: có ý nghĩa xã định mức độ nguy hiểm của phạm tội chưa đạt
làm cơ sở cho việc áp dụng TNHS.
- Căn cứ vào mức độ thực hiện hành vi
+ Phạm tội chưa đạt chưa thành: cố ý phạm tội nhưng chưa thực hiện
đến cùng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn và họ cũng chưa thực hiện được hết hành vi phạm tội của mình
+ Phạm tội chưa đạt đã thành: cố ý phạm tội nhưng không thực hiện
được đến cùng do những nguyên nhân khách quan, họ đã thực hiện được hết hành
vi của mình nhưng hậu quả của hành vi phạm tội chưa xảy ra
- Căn cứ vào nguyên nhân
+ Nguyên nhân khách quan thuộc về bản than người phạm tội
+ Nguyên nhân thuộc về các điều kiện khách quan khác
d TNHS
- Tất cả các trường hợp đều phải chịu TNHS không phân biệt loại tội nào
- Tuy nhiên họ sẽ không phải chịu TNHS khi hành vi của họ chưa đáp ứng đầy
đủ các yếu tố CTTP
- Người có hành vi phạm tội chưa đạt phải chịu TNHS cao hơn với tội chuẩn bị phạm tội:
+ Hình phát áp dụng cao nhất là tù chung thân thì chỉ có thể áp dụng mức hình phạt này đối với tội phạm chưa đạt trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
+ Hình phạt áp dụng có hình phạt là tù có thời hạn thì có thể áp dụng ¾ mức
án phạt này đối với tội phạm chưa đạt
3. Tội phạm hoàn thành
a) Khái niệm: Là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết được các dấu hiệu mô tả trong CTTP
- Là hành vi phạm tội đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của CTTP