1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Điều trị bệnh loạn năng khớp thái dương hàm

17 888 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 342,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh loạn năng khớp thái dương hàm: Điều trị phối hợp không thể thiếu trong điều trị Bệnh Loạn năng thái dương hàm. Nó giúp cho bệnh nhân theo đuổi quá trình điều trị, cải thiện kết quả điều trị bảo tồn và phẫu thuật.

Trang 1

Cách điều trị phối hợp bệnh loạn năng thái dương hàm

Điều trị phối hợp có nhiệm vụ bổ xung điều trị khớp cắn và phẫu thuật Có tác động đến tâm lý - hệ thống nhai của bệnh nhân, góp phần cải thiện, thậm chí làm lành Loạn năng thái dương hàm.

Đôi khi cần một đa trị liệu phối hợp tại chỗ, toàn thân, tâm lý.

>> Điều trị bệnh loạn năng thái dương hàm bằng máng nhai.

>> Điều trị loạn năng thái dương hàm bằng cách cân bằng khớp cắn vĩnh viễn

>> Điều trị loạn năng thái dương hàm bằng : điều trị cấp cứu; Chọn lựa tư thế

>> Điều trị phẫu thuật loạn năng thái dương hàm

1 Điều trị tại chỗ: Gồm:

- Chế độ ăn.

- Thuốc.

- Lý liệu pháp.

- Tiêm thuốc tại chỗ.

- Xoa bóp và liệu pháp vận động.

* Chế độ ăn:

Giảm tối đa tần số và công suất nhai (không nhai kẹo cao su, không đồ cứng, ăn thức ăn mềm )

* Thuốc:

Tùy theo triệu chứng đau, viêm, co thắt của Loạn năng thái dương hàm mà cho các loại thuốc khác nhau

▫ Giảm đau: nhóm Salicylé và paracetamol, dùng đơn độc hay kết hợp với Dextropropoxyphène hoặc Codein

▫ Chống viêm non - steroid: Ibuprofen, naprofen, fenbufen kết hợp tác dụng chống viêm và giảm đau mạnh

▫ Chống co thắt: Chỉ định khi bệnh nhân có hội chứng cân cơ

+ Thiocolchicoside: ống 4ml, tiêm bắp 1-2ống/ ngày tùy mức độ co thắt, trong vòng 10 ngày

+ Baclofene (thuốc đặc hiệu cho hệ thống cơ chi phối bởi dây V): viên 10 mg

3-6 viên/ ngày, chia 2-3 lần, dùng liều tăng dần

+ Tetrazepam, Benzodiazepin myorelaxante: viên 50 mg 1-2v/ ngày, dùng liều tăng dần

* Lý liệu pháp:

Trang 2

Nhiều kỹ thuật có tác dụng làm giảm đau (áp lạnh, áp lực liệu pháp, kích thích điện bằng tiếp xúc hay xuyên qua da), chống viêm (nhiệt, siêu âm)

Dùng nhiệu khô: Cho bệnh nhân đeo mặt nạ thích hợp, chiếu tia "Laser mềm" lên

khớp và cơ đau Chỉ định cho viêm khớp và co thắt cơ

Áp lạnh:

▫ Đặc biệt thích hợp cho hội chứng cân cơ, dùng nhiệt lạnh như một chất gây tê để làm thư giãn cơ dang co thắt

▫ Gây tê lạnh (bằng Fluori - methane) phải được phun theo thớ cơ, bắt đầu từ chỗ đau và kết thúc ở vùng đau lan đến

▫ Áp lạnh ngắn (<6 giây) với khoảng cách 45 mm, góc phun so với da là khoảng

300, tốc độ di chuyển là 10 cm/ giây, phun khoảng 2-3 lần Mỗi đợt điều trị gồm 2-3 buổi hay hơn Giãn cơ xuất hiện ngay lập tức và kéo dài lâu

▫ Trường hợp co thắt cơ ở sâu thì áp lạnh được thay thế bằng tiêm tê Procain 0,5%

Áp lực liệu pháp:

Có tác dụng tương tự áp lạnh Tạo áp lực lên vùng đau trong vòng vài phút sẽ gây tê và dẫn đến thư giãn cơ

Siêu âm: dùng sóng băng tầng > 20 kHz, đạt tới hàng triệu Hz Nó có tác dụng của nhiệt

(nóng), cơ học (xoa nắn nhẹ) và giảm đau điều trị hàng ngày, mỗi lần kéo dài 10 phút

Kích thích điện tiếp xúc: Dựa trên cơ chế gác cổng của dẫn truyền thần kinh xung điện

ở da sẽ ức chế những xung điện nhận cảm tổn thương đến từ bộ máy nhai (kích thích tiết endorphine) Có hai dạng kích thích:

+ Cao tầng : sóng 50-100 Hz với cường độ yếu Dòng điện sẽ kích thích những dẫn truyền hướng tâm không có hại A-b ở da Theo Bell (1989) hiệu quả của điều trị khoảng 50-70%

+ Tầng số thấp (điện châm cứu) : với cường độ cao và hiệu điện thế cao, nhằm kích thích những thụ thể nhận cảm tổn thương, để những thụ thể này hoạt hóa hệ thống chống tổn thương trong cơ thể Hiệu quả sau 15 phút điều trị, hiệu quả giống loại sóng cao tầng, châm cứu, nhiệt liệu pháp

Kích thích điện qua da:

Đặt hai điện cực xuyên qua da để truyền dòng điện Lawrence dùng dọng điện 9-12 vol, tần số 50-60 Hz trong vòng 15 phút thì có hiệu quả hơn là kích thích điện tiếp xúc

* Tiêm thuốc tại chỗ:

Có thể tiêm nhiều loại thuốc, trong đó một vài loại (corticoid) có nhiều tác dụng phụ nên phải thận trọng khi sử dụng

Gây tê tại chỗ:

Dùng các thuốc gây tê tại chỗ (không có thuốc co mạch) để tiêm xung quanh khớp và vào khớp (vùng sau đĩa) hay vào cơ (nhất là cơ chân bướm ngoài) Gây tê nhằm:

▫ Giảm cảm giác đau: Tiêm 1-3 ml thuốc tê tại chỗ xung quanh vùng nguyên nhân của hội chứng cân cơ, để làm hết triệu chứng đau, tiêm lặp lại cho đến khi hết đau hoàn toàn Nếu sau 6 tháng vẫn không hết đau thì dùng phương pháp khác

▫ Cắt đứt vòng phản xạ thần kinh cơ bệnh lý (bất hoạt thụ thể nhận cảm tổn thương của khớp và cơ)

▫ Tìm nguyên nhân đau do gây tê từng dây thần kinh và từng vùng

Trang 3

Đối với cơ chân bướm ngoài thì tiêm tê là một phương pháp điều trị hỗ trợ tốt nhất Nó cũng cho phép chẩn đoán xác định rối loạn tại cơ chân bướm ngoài Tiêm tê những bó dưới của cơ chân bướm ngoài bằng đường trong miệng với một kim cong dài Những

bó trên có thể được gây tê qua da (sâu 3,5 - 4 cm) qua hõm Sigma, dùng kim nhỏ Cùng với gây tê tại chỗ thì phải tìm nguyên nhân và điều trị

Tiêm tê được chỉ định trong:

- Co thắt không di lệch đĩa khớp

- Trước khi nắn di lệch đĩa khớp không hồi phục mới

>> Tiêm corticoid:

Tiêm vào khớp corticoid loại tác dụng trung bình (Célestène: 3 mg, 0,5 ml) hay loại tác dụng chậm (Kénacort liều tương tự) Tiêm vào phần trên sau của khớp sau khi đã sát trùng kỹ và gây tê tại chỗ Không dùng khi có chống chỉ định corticoid như loét dạ dày, hội chứng Cushing, tăng huyết áp, đái tháo đường và nhiễm trùng tại chỗ)

Tiêm vào khớp một mũi (tối đa 2 mũi) có thể cho kết quả tốt đối với đau, đặc biệt là ở người già

Không được tiêm vào khớp nhiều lần, vì nó có thể gây đau do phản ứng dội, nguy cơ phá hủy mặt xương trong một thời gian ngắn (gây viêm khớp, xơ cứng khớp)

>> Tiêm Hyaluronate Natri:

Kết quả tương tự corticoid nhưng ngắn hơn những chất mới tìm ra như Tolmetin limosome có tác dụng dự phòng xơ khớp sau phẫu thuật

>> Tiêm chất gây xơ:

Được sử dụng trong quá khứ (Psylliate Natri) nhưng đã bị quên lãng do tác dụng phụ Hiện nay người ta đã tái sử dụng do việc tìm ra những chất gây xơ mới (Tetradecyl Sulfate Natri: Sotradecol, Elkins-sinn) và khả năng tiêm những chất này dưới kiểm soát của nội soi khớp (2 ml loại 3%), tiêm vào lồi cầu thái dương ở những bệnh nhân trật khớp thái dương hàm tái diễn

Các phương pháp điều trị khác:

- Trung bì liệu pháp: tiêm thuốc chống viêm vào lớp trung bì, tiêm nhiều lần để thuốc lan tỏa vào vùng đau

- Chuyển Ion liệu pháp: Nhằm đưa thuốc qua da một cách nhẹ nhàng, tuy nhiên có nguy cơ làm phỏng da

- Châm cứu

* Xoa bóp và liệu pháp vận động:

Phương pháp này có nhiều ưu điểm, ngoài massage thì vận động liệu pháp có tác dụng điều trị tận gốc Loạn năng thái dương hàm, nó cũng là điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật hay sau chấn thương khớp thái dương hàm

Xoa bóp:

Kích thích qua da bằng xoa bóp thường lam nhiều bệnh nhân thích, có thể phối hợp thêm các loại thuốc trong khi xoa bóp

Xoa bóp tạo điều kiện dẫn lưu bạch huyết, làm giảm phù nề và lành sẹo Do tác dụng chống đau, mang lại sự thoải mái của thủ thuật

Liệu pháp vận động: Có mục đích làm biến mất các triệu chứng của Loạn năng

thái dương hàm tại cơ và khớp, đồng thời nó có tác dụng phòng các sai lệch chức năng

và chống xơ khớp (sau chấn thương và phẫu thuật)

Có nhiều loại bài tập:

Trang 4

- Bài tập phối hợp.

- Bài tập thư giãn

- Bài tập tăng sức mạnh cơ

- Bài tập sau phẫu thuật và chấn thương

Các bài tập phải được nha sĩ hướng dẫn

2 Điều trị toàn thân:

Trong số những nguyên nhân toàn thân của Loạn năng thái dương hàm thì chỉ có thiếu

Mg là có thể điều trị được Liệu pháp Mg cho kết quả khả quan trong Loạn năng thái dương hàm

3 Điều trị tâm lý:

Yếu tố tâm lý phải được chú ý khi điều trị Loạn năng thái dương hàm Các phương pháp điều trị riêng lẻ thì kém hiệu quả hơn là phối hợp với tâm lý liệu pháp

Thuốc:

Những thuốc an thần như Diazepin cho phép thư giãn - giảm lo, tác động lên tâm

lý đau Quả vậy, đời sống tâm lý và sinh lý là 2 thành phần không thể tách rời của tình trạng đau

Những thuốc gây ngủ do tác dụng lên chu kỳ bình thường của giấc ngủ nên cũng có thể phản ứng lên tâm lý đau

Dùng thuốc chống trầm cảm khi bệnh nhân có hội chứng trầm cảm tuy nhiên một vài hội chứng trầm cảm có thể chỉ có biểu hiện ở bộ máy nhai (trầm cảm thể ẩn) vì vậy các dẫn xuất của 3 vòng có thể mang lại hiệu quả rõ rệt

Những liệu pháp khác:

Tâm lý liệu pháp: Bác sĩ với đạo đức y học phải an ủi giải thích cho bệnh nhân tính

chất lành tính của Loạn năng thái dương hàm Những phương pháp điều trị tâm lý khác (thuốc ngủ, thay đổi thói quen ) cũng cho kết quả tốt Những phương pháp này chủ yếu là giải thích cho bệnh nhân sống chung với đau, từ bỏ không tưởng loại bỏ đau

Thư giãn: là những điều trị đặc hiệu do bác sĩ tâm lý tiến hành Ngoài ra còn có

nhiều kỹ thuật khác cho kết quả rõ ràng như tự thư giãn khi tập Yoga

Phản hồi sinh học: là kỹ thuật rất thịnh hành ở Mỹ, cho phép bệnh nhân nhận biết

được những rối loạn bộ máy nhai của họ (sai lệch chức năng ) chuyển động của cơ nhai được khống chế bằng các điện cực ngoài nối vào một máy hiện sóng hay một điện cực khuyết đại âm thanh Bệnh nhân cố gắng đạt được một sự thư giãn cơ bằng cách tự theo dõi và nghe tình trạng co thắt cơ Phương pháp điều trị này có hiệu quả điều trị rõ rệt hơn giả dược

Kết luận:

Điều trị phối hợp không thể thiếu trong điều trị Loạn năng thái dương hàm

Nó giúp cho bệnh nhân theo đuổi quá trình điều trị, cải thiện kết quả điều trị bảo tồn và phẫu thuật

Trang 5

Điều trị bệnh loạn năng thái dương hàm bằng máng nhai

Máng nhai (MN) có mục đích ngăn bệnh nhân tìm lại được tư thế lồng múi tối đa thường ngày, mà bắt họ tuân theo một tư thế lồng múi tối đa mới, với một cân băng cơ và khớp mới.

Một số giai đoạn của việc điều trị bệnh loạn năng khớp thái dương hàm khác xem chi tiết dưới đây:

>> Điều trị loạn năng thái dương hàm bằng : điều trị cấp cứu; Chọn lựa tư thế phục hồi khớp cắn ; Nội soi

>> Điều trị loạn năng thái dương hàm bằng cách cân bằng khớp cắn vĩnh viễn

>> Các điều trị phối hợp trong điều trị bệnh loạn năng thái dương hàm

>> Điều trị phẫu thuật loạn năng thái dương hàm

Loại máng nhai phủ toàn bộ (để tránh răng lung lay) là loại hay được sử dụng nhất Theo Rozencweig 1976 thì máng nhai cho phép:

- Tạo ra nhiều điểm chạm đều khắp

- Tái lập lại chiều cao cắn

- Sửa lại tư thế của hàm dưới

- Thay đổi ký ức nhai (do những thụ thể cảm giác)

- Thay thế những răng mất

- Mang lại thư giãn cơ

- Néo giữ những răng lung lay

- Tránh mòn răng

- Giữ ổn định đĩa khớp ở vị trí sau khi nắn

Máng nhai không gây sang chấn, không kích thích, giữ được khoảng nghỉ sinh lý, và trong trường hợp phải mang lâu thì cũng không ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng của miệng (nhai, nuốt)

Hiệu quả của nó phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác, hiểu biết của bệnh nhân, vì vậy cần phải giải thích cẩn thận cho bệnh nhân

Mang máng nhai sẽ gây ra 3 hiệu quả: liệu pháp tâm lý (như của giả dược), làm thư giãn cơ, tái lập lại tư thế của lồi cầu

Tác dụng tâm lý: Theo một nghiên cứu của Grenne, trên cùng một bệnh nhân thì hiệu

quả của các loại MN như sau:

- Loại không có tác dụng lên khớp cắn: 40% thành công

- Tấm chặn răng cửa để giải phóng khớp cắn: 50% thành công

- Máng nhai phủ toàn bộ cung hàm: 80% thành công

Trang 6

Điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của tâm lý trong việc khởi phát LNTDH, và hiệu quả của những phương pháp đơn giản cho những bệnh nhân này

Tác dụng thư giãn cơ: giúp giảm co thắt các cơ nâng hàm và điều này đã được chứng

minh khi ghi điện cơ (Clark 1979), cơ chế tác dụng chính xác của máng nhai vẫn còn chưa rõ ràng

Theo một nghiên cứu của Drago thì máng nhai dày 6 mm hình như là có hiệu quả hơn loại dày 2 mm điều này chứng tỏ chiều cao của khoảng nghỉ tự do ở mỗi người rất khác nhau Những nghiên cứu khác thì thấy chiều cao của khoảng nghỉ sinh lý khoảng 2-3 mm

Tái lập lại vị trí lồi cầu: Trong trường hợp rối loạn chức năng tại khớp thái dương hàm

thì tổ chức đĩa khớp bị di lệch (di lệch còn hồi phục) hay bị tổn thương (hư khớp)

Máng nhai làm thay đổi tư thế của hàm dưới và lồi cầu, cho phép tái lập lại vị trí của đĩa khớp và duy trì nó ở vị trí mới, giải chén ép khớp (tổ chức sau đĩa) Kiểm tra vị trí lồi cầu trên Xquang trước và sau khi mang máng nhai, cho phép thấy được sự thay đổi vị trí của lồi cầu

1 Đại cương :

Máng nhai có thể lắp ở hàm trên hay hàm dưới Quá trình làm MN được thực hiện trên giá khớp, với vật liệu là nhựa tự cứng

Vị trí: Máng nhai hàm dưới hay được sử dụng nhất, nó cho phép:

- Tránh ảnh hưởng đến chức năng lưỡi

- Bảo tồn những thụ thể cảm giác ở răng cửa trên

- Không gây cưỡng cho rãnh khớp giữa hai xương hàm trên

- ít cản trở cho phát âm và thẩm mỹ, đặc biệt trường hợp phải mang lâu và liên tục Máng nhai hàm trên chỉ định cho trường hợp bệnh nhân có liên quan bất thường giữa các răng (bất thường cung răng hàm trên, mất răng hàm trên, lệch lạc xương hàm trên )

Cấu tạo:

Quá trình làm máng nhai được thực hiện trên giá khớp, với vật liệu là nhựa luộc, riêng

ở phần mặt nhai thì được đệm thêm bằng nhựa tự cứng

Vật liệu: Nên dùng nhựa trong, có thể mềm hay cứng.

Máng nhai mềm: giúp tái lập một cách tự động cân bằng tư thế mà không gây cưỡng khớp cắn, nhưng nó không giúp ổn định chính xác khớp cắn Máng nhai mềm chỉ được

sử dụng trong một thời ngắn khi có các triệu chứng ở cơ cổ hay chưa có chẩn đoán chính xác Sau đó MN mềm cần phải được thay thế bằng máng nhai cứng, sẽ mang lại một liên quan cắn tự nhiên hơn

Máng nhai cứng: trong hầu hết trường hợp, chuyển động của hàm dưới phải được tổ chức lại xung quanh một tư thế khép hàm chính xác và ổn định Như vậy việc sử dụng 1

MN cứng là rất cần thiết, nó là loại hay được sử dụng nhất

Thực hiện: Máng nhai thường được làm bằng nhựa nấu trong với chiều dày 1-2 mm,

phần mặt nhai được đệm thêm bằng nhựa tự cứng, quá trình đệm cũng phải được thực hiện trên giá khớp, nhựa đệm được ngắt làm 3 đoạn cách nhau ở răng cối nhỏ hai bên,

để hạn chế sự thay đổi thể tích khi đông cứng, để giá khớp ở tư thế liên quan với răng đối (khớp cắn đã được nâng 1-2mm) Sau đó đệm nhựa vào chỗ thiếu Sau khi nhựa cứng thì tiến hành mài chỉnh cho đến khi đạt được những tiếp xúc dạng điểm và thẳng

Trang 7

hàng, ở những răng cối thì nên đạt được tiếp xúc dạng điểm ở các múi nhất là loại máng làm thư giãn Máng nhai phải ngắn

Mòn: thường chỉ mang trong 1 thời gian ngắn (không quá 8 tuần) cho nên mòn không

đáng kể, ngoại trừ trường hợp tật nghiến răng nặng hay mang MN để tăng chiều cao khớp cắn trong một thời gian dài Trong những trường hợp này người ta phải sử dụng những loại nhựa chất lượng cao để hạn chế mòn Máng nhai phải được thay mới và đệm mỗi 6 tháng

Kiểm tra định kỳ: khi lắp máng nhai lên miệng thì chỉ mài chỉnh vừa phải, mài chỉnh kỹ

chỉ thược hiện sau 1 giờ và sau 1 tuần

Sau khi mang 2-3 ngày thì tăng dần thời gian mang lên để bệnh nhân có thể thích nghi dần với máng nhai

Sau 6 tuần thì các triệu chứng đau cơ phải biến mất Nếu các triệu chứng không cải thiện sau 3-4 tuần thì phải xem lại chẩn đoán và điều trị

Máng nhai và chỉnh nha: Trong trường hợp loạn năng khớp thái dương hàm thì việc

điều chỉnh tư thế hàm dưới (tái lập lại vị trí của đĩa khớp) phải được thực hiện trước điều trị nắn chỉnh răng Vì khi có chỉ định điều trị chỉnh nha thì yêu cầu làm ổn định hàm dưới vĩnh viễn sẽ làm phức tạp việc điều trị

Trong trường hợp khớp cắn sai, làm cản trở điều chỉnh tư thế hàm dưới (ví dụ Class II-2) thì điều trị phải thực hiện làm 3 giai đoạn:

- Chỉnh nha khởi đầu: để giải phóng khớp cắn

- Điều trị khớp cắn: để điều chỉnh tư thế hàm dưới sau khi đã điều trị khớp cắn sai

- Giai đoạn cuối: điều trị kết hợp chỉnh nha + khớp cắn

2 Phân loại :

Ngoài những biến thể do điều kiện tại chỗ và vật liệu thì có những loại máng nhai sau cho mục đích điều trị khác nhau:

◙ Máng nhai cấp cứu:

Được làm bằng nhựa tự cứng trực tiếp trên miệng bệnh nhân hay được chế tạo sẵn Nó được mài chỉnh ngay trên miệng

Chỉ định trong trường hợp co thắt cơ: để thư giãn cơ thì máng nhai cấp cứu chỉ phủ những răng cửa hàm trên, tạo nên tấm chặn trước, ngăn sự chạm khớp

Chỉ định sau khi nắn di lệch đĩa khớp (đối với di lệch đĩa khớp không hồi phục cấp) Máng nhai cấp cứu rất cần thiết để ổn định hàm dưới ở tư thế mới Và trong trường hợp này nó được đặt lên vùng răng cối 2 bên (răng cối lớn và răng cối nhỏ) Máng nhai có thể được đính vào răng bằng xi măng phot phat kẽm

Loại MN làm sẵn, lắp ngay lên miệng bệnh nhân đôi khi rất tiện lợi

Máng nhai cấp cứu phải được thay thế càng sớm càng tốt bằng các loại MN khác

◙ Máng nhai làm thư giãn:

Được chỉ định cho 2 trường hợp:

- Trong khi chờ đợi chẩn đoán chính xác

- Khi có triệu chứng ở cơ (co thắt cơ) mà không có triệu chứng ở khớp thái dương hàm

Loại MN này nhẵn (không lồi lõm) làm trên giá khớp để ở tư thế tương quan trung tâm,

và phải thỏa mãn những yều cầu sau:

- Chiều dày và độ bao phủ nhỏ nhất (để làm bệnh nhân dễ chịu)

- Đảm bảo thẩm mỹ tối đa

Trang 8

- Phủ toàn bộ cung răng.

- Mặt nhai phải nhẵn và phẳng

- ở tư thế tương quan trung tâm thì máng nhai phải tiếp xúc dạng điểm với răng đối (các điểm xếp thẳng hàng nếu có thể)

- ổn định tư thế hàm dưới

- Tạo nên hướng dẫn răng nanh trung bình để giúp cho chuyển động hàm dưới (đưa

ra trước, sang bên)

Tái khám và chỉnh sửa máng nhai chỉ thực hiện khi bệnh nhân hoàn toàn thư giãn, ngồi thẳng lưng, để các cơ cổ giãn, ở tư thế này thì phải có chạm khớp đều 2 bên

Máng nhai sẽ loại bỏ những co thắt đẳng trương quá mức nhưng ít tác dụng với những

co thắt đẳng cự (nghiến chặt hai hàm) để phụ thêm cho tác dụng của MN thư giãn thì nên hướng dẫn thêm cho bệnh nhân những bài tập thư giãn

Chỉ nên mang máng ban đêm, khi làm việc ở tư thế có hại Không mang khi ăn

Như vậy máng nhai thư giãn không phải là một mặt phẳng cắn để cho các răng cắn lên

mà để thư giãn cơ

Máng nhai sẽ có hiệu quả rõ sau khi mang 15 ngày

◙ Máng nhai điều chỉnh tư thế:

Chỉ định khi có triệu chứng tại khớp thái dương hàm, có 3 loại :

Máng nhai nắn chỉnh:

- Chỉ định khi di lệch đĩa khớp còn hồi phục, nó có tác dụng đưa hàm dưới vào tư thế

mà vận động há ngậm miệng không không còn bị tiếng kêu khớp (tư thế tương quan trung tâm điều trị)

- Khi ngậm miệng thì sự di lệch đĩa khớp còn hồi phục sẽ gây tiếng kêu khớp ở gần

vị trí lồng múi tối đa Máng nhai có tác dụng ngăn sự di lệch của đĩa khớp ra trước lồi cầu

- Vị trí nắn chỉnh gần với tiếng kêu khớp được xác định chính xác nhờ vào đo trục lồi cầu Vị trí này cho phép làm một máng nhai nắn chỉnh mỏng

Tư thế này (tương quan trung tâm điều trị) cũng có thể xác định được trên miệng bệnh nhân (cắn sáp) ngay trước khi có tiếng kêu khớp ngậm miệng Tư thế này:

- Hơi đưa nhẹ ra trước một bên trong di lệch đĩa còn hồi phục một bên

- Đưa ra trước cân đối trong di lệch đĩa còn hồi phục 2 bên

Lên giá khớp ở tư thế tương quan trung tâm điều trị để làm máng nhai MN phải thỏa mãn những yêu cầu:

- Chiều dày và độ bao phủ nhỏ nhất (để làm bệnh nhân dễ chịu)

- Đảm bảo thẩm mỹ tối đa

- Phủ toàn bộ cung răng

- Mặt nhai không lồi lõm

- Ở tư thế tương quan trung tâm điều trị thì máng nhai phải tiếp xúc dạng điểm với răng đối (các điểm xếp thẳng hàng nếu có thể)

- Ổn định tư thế hàm dưới ở vị trí di lệch đĩa khớp đã được nắn

- Tạo nên hướng dẫn răng cối nhỏ để hướng dẫn hàm dưới về tư thế hơi đưa hàm ra trước

- Tạo nên hướng dẫn răng nanh để hướng dẫn vận động hàm dưới (đưa ra trước, sang bên)

Máng nhai phải:

Trang 9

- Mang liên tục (24/24), ngay cả khi ăn (nếu cần thiết có thể gắn vào răng)

- Máng nhai sẽ cải thiện ngay lập tức triệu chứng đưa lệch hàm dưới sang bên khi

há miệng (trừ trường hợp chẩn đoán không đúng hay máng nhai làm không tốt)

- Dạng tiếng kêu muộn khi há miệng (thể nặng) đòi hỏi phải đưa hàm dưới ra trước nhiều, giới hạn là 2 mm, đôi khi là 4 mm Việc đưa hàm ra trước thường làm bệnh nhân rất khó chịu

Sự lành thương ở khớp thái dương hàm đòi hỏi phải mang MN lâu 4-6 tháng Trong trường hợp thành công (cải thiện triệu chứng đau và không còn tiếng kêu khớp) thì ta cần mài dần máng nhai nhiều lần, mỗi lần cách nhau 3 tuần, để đạt được một khớp cắn bình thường mà không làm tái phát tiếng kêu khớp:

- Giữ lồi cầu ở trung tâm ổ khớp (kiểm tra trên Xquang)

- Tăng không đáng kể kích thước cắn dọc sau khi nắn chỉnh đĩa khớp (2mm)

Nếu bệnh nhân thích nghi được với tư thế mới này thì sau khi bỏ máng nhai, khớp cắn ở

tư thế lồng múi tối đa như trước khi điều trị sẽ không xuất hiện lại Nếu không thì cần mài chỉnh, nắn chỉnh răng, phục hình bổ xung thêm Trong khi chờ đợi thực hiện điều trị cuối cùng, thì bệnh nhân phải mang máng nhai ổn định

Theo một nghiên cứu của Clark 1984 trên 25 bệnh nhân mang MN điều chỉnh tư thế hàm dưới từ 1-2 năm thì 86% trường hợp giảm hoặc hết hoàn toàn tiếng kêu khớp Những trường hợp thất bại thường gặp trong di lệch đĩa khớp còn hồi phục tiến triển (tiếng kêu há miệng muộn), trong trường hợp này thì máng nhai nắn chỉnh phải đổi ngay lập tức thành máng nhai làm thư giãn để giảm co thắt cơ (nhất là cơ chân bướm ngoài), sau đó mới thực hiện ổn định nắn chỉnh Nếu như việc tái lập lại đĩa - khớp cắn không thành công, thì ta có thể áp dụng nội soi khớp điều trị để cố định đĩa ra sau, hoặc

ta có thể dùng máng nhai thư giãn để đạt được một sự tân tạo đĩa khớp mới ở tổ chức sau đĩa

Máng nhai giải chèn ép:

Chỉ định: để giải chèn ép ở khớp thái dương hàm (viêm bao hoạt dịch sau, hư

khớp) hay để căng lại đĩa khớp và dây chằng bao khớp (giãn khớp thái dương hàm) Máng nhai được làm trên giá khớp để ở tư thế tương quan trung tâm, đặt một mảnh phim Xquang vào ổ lồi cầu để hạ thấp lồi cầu xuống 1 ít (0,3 mm), được làm trong tư thế lồi cầu mới này sẽ có tác dụng giảm chèn ép khớp thái dương hàm Nếu sau 1 tuần bệnh nhân vẫn còn cảm giác đau ở khớp thái dương hàm thì phải tăng chiều dày của

MN thêm 0,3 mm nữa Trong trường hợp bệnh nhân mang hàm tháo lắp (bán phần hay toàn bộ) thì tổng chiều cao của nâng khớp cắn là 0,6 mm

Máng nhai phải đáp ứng những đòi hỏi sau:

- Chiều dày và độ bao phủ nhỏ nhất (để làm bệnh nhân dễ chịu)

- Đảo bảo thẩm mỹ tối đa

- Phủ toàn bộ cung răng

- Mặt nhai không lồi lõm

- Được làm trên giá khớp ở tư thế tương quan trung tâm, tạo tiếp xúc dạng điểm (thẳng hàng nếu có thể) với răng đối

- ổn định hàm dưới ở tư thế nâng khớp răng sau, để giải chèn ép ở khớp thái dương hàm

- Tạo hướng dẫn răng nanh để hướng dẫn chuyển động hàm dưới (ra trước, sang bên)

Trang 10

- Không mài chỉnh máng nhai trên miệng.

Khi mới lắp máng nhai thì bệnh nhân có cảm giác máng quá dày vì vậy cần phải có thời gian (khoảng 20 phút) thì bệnh nhân mới có thể thích nghi được

Máng nhai nâng khớp:

Hiếm khi áp dụng, chỉ định khi chiều cao cắn của bệnh nhân giảm nhiều kèm co thắt cơ nâng hàm Máng nhai được làm trên giá khớp để ở tư thế tương quan trung tâm điều trị như làm máng nhai thư giãn, và nó cũng phải thỏa mãn những yều cầu tương tự Việc tăng đột ngột chiều cao cắn > 5mm sẽ làm giãn các cơ này hoàn toàn do làm thay đổi cung phản xạ

◙ Máng nhai ổn định tư thế:

Được chỉ định trong những trường hợp sau:

- Sau khi nắn bằng tay di lệch đĩa khớp (cho những trường hợp di lệch đĩa khớp không hồi phục mới)

- Sau khi phẫu thuật đặt lại đĩa khớp (sau nội soi khớp điều trị, sau phẫu thuật vào ổ khớp)

- Sau khi khi mang máng nắn chỉnh thành công

Máng nhai ổn định tư thế được làm trên giá khớp để ở tư thế tương quan trung tâm điều trị, nó thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Chiều dày và độ bao phủ nhỏ nhất (để làm bệnh nhân dễ chịu)

- Đảo bảo thẩm mỹ tối đa

- Phủ toàn bộ cung răng

- Mặt nhai không lồi lõm

- Làm trên giá khớp để ở tư thế tương quan trung tâm điều trị, tạo ra tiếp xúc điểm (thẳng hàng nếu có thể) với các răng đối

- ổn định tư thế của hàm dưới

- Tạo hướng dẫn răng nanh để hướng dẫn chuyển động của hàm dưới (ra trước, sang bên)

Máng nhai phải mang liên tục (24/24 h) trong vòng nhiều tháng nên đòi hỏi phải chỉnh đốn lại bộ máy nhai bằng phục hình tạm thời hay bằng onlay composite

Kết quả điều trị :

Máng nhai phải được chỉ định đúng, chế tạo cẩn thận, bệnh nhân hợp tác tốt thì kết quả mới tốt

Nói chung bệnh nhân thích nghi được với máng nhai mặc dù nó làm nâng khớp cắn, đôi khi nâng rất cao

Theo một nghiên cứu của Carraro và Caffesse (1978) thì số bệnh nhân hết đau chiếm 59%, đỡ chiếm 26%, như vậy kết quả tốt chiếm 85%

Theo Clark (1984) thì mài chỉnh khớp cắn + máng nhai đưa lại kết quả tốt trong 70 - 90%

Thất bại rất hiếm gặp, nếu gặp thì là do:

- Chỉ định loại máng nhai không đúng

- Khi chế tạo không chính xác, lên giá khớp không đúng

- Bệnh nhân không hợp tác do phản ứng tâm lý (máng nhai gây khó chịu) hay do không quyết tâm điều trị

Ngày đăng: 08/08/2016, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w