Đặc điểm phát sinh, phát triển của một số bệnh hại chính cây mỡ ở vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng trừ ..... Theo tài liệu thống kê của Cục Lâm vụ nước Mỹ năm 1952, trong những thiệt
Trang 1-
NÔNG THỊ HUỆ
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH
CÂY MỠ (MANGLETIA GLAUCA BL.) TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2-
NÔNG THỊ HUỆ
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH
CÂY MỠ (MANGLETIA GLAUCA BL.) TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Kim Tuyến
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
TS Đặng Kim Tuyến Nông Thị Huệ
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để kết thúc khóa học 2011 - 2015 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được sự nhất trí của khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực tập tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Với sự cố gắng hết sức của bản thân cộng với sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của cô giáo, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Nhưng do trình độ có hạn và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nơi đã gắn bó với tôi suốt 4 năm học tập và tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, nơi đã trực tiếp đào tạo chúng tôi Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong Khoa Lâm nghiệp đã dìu dắt, giúp đỡ tôi, cho tôi những kiến thức khoa học mới và dạy tôi cách làm người có ích Đặc biệt, cho tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Đặng Kim Tuyến, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công nhân viên Trung tâm Lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nhất Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nông Thị Huệ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu từ tháng 8/2014 đến tháng 3 năm 2015 tại tỉnh Thái
Nguyên 19
Bảng 4.1: Mức độ hại của bệnh lở cổ rễ cây Mỡ qua các lần điều tra 32
Bảng 4.2: Mức độ hại của bệnh cháy lá cây Mỡ qua các lần điều tra 35
Bảng 4.3: Mức độ hại của bệnh thán thư lá Mỡ qua các lần điều tra 37
Bảng 4.4: Thống kê các loài bệnh hại cây mỡ ở vườn ươm 39
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Ảnh bệnh lở cổ rễ cây mỡ 32
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh lở cổ rễ cây mỡ qua các lần điều tra 33
Hình 4.3: Ảnh bệnh cháy lá cây mỡ 34
Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh cháy lá Mỡ qua các lần điều tra 35
Hình 4.5: Ảnh bệnh thán thư lá cây Mỡ 37
Hình 4.6: Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh thán thư lá mỡ qua các lần điều tra 38
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC v
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2 Cơ sở khoa học của việc điều tra thành phần bệnh hại 10
2.3 Cơ sở khoa học của việc phòng trừ dịch hại tổng hợp 11
2.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 12
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17
2.5.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 17
2.5.2 Điều kiện dân sinh- kinh tế xã hội 19
2.6 Tài nguyên đất 21
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
Trang 83.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.3.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu có chọn lọc 23
3.4.2 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp 23
3.4.3, Thống kê thành phần bệnh hại cây Mỡ trong giai đoạn vườn ươm 27
Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28
4.1 Đặc tính chung của cây con và tình hình vườn ươm trước khi điều tra 28
4.1.1 Đặc tính chung của cây con 28
4.1.2 Tình hình vệ sinh vườn ươm và kết quả điều tra sơ bộ 30
4.2 Xác định loại bệnh hại và đánh già mức độ gây hại đối với cây Mỡ con trong vườn ươm 31
4.2.1 Bệnh lở cổ rễ cây Mỡ 31
4.2.2 Bệnh cháy lá cây Mỡ 34
4.2.3 Bệnh thán thư lá mỡ 36
4.3 Thống kê thành phần bệnh hại cây Mỡ con tại vườn ươm 39
4.4 Một số tồn tại và một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu đối với cây Mỡ tại khu cực nghiên cứu 40
4.4.1 Một số tồn tại trong quá trình sản xuất cây giống tại địa bàn nghiên cứu 40
4.4.2 Đề xuất biện pháp phòng trừ chung đối với bệnh yếu ở vườn ươm tại khu vực nghiên cứu 41
4.4.3 Đặc điểm phát sinh, phát triển của một số bệnh hại chính cây mỡ ở vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng trừ 47
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
Trang 95.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sản xuất của xã hội loài người Trong thực tế, ngoài việc cung cấp gỗ, củi, đem lại nhiều lợi ích to lớn khác về mặt xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, rừng còn cung cấp các loại lâm sản, là một trong những ngành nghề đóng góp cho sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế quốc dân
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng thay đổi từng ngày từng giờ theo chiều hướng đi lên Sự thay đổi đó diễn ra ở các ngành nghề khác nhau, các lĩnh vực khác nhau Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật
đó Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu, cân nhắc khi thiết kế xây dựng một chương trình bất kỳ nào đó phải đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích kinh
tế với các lợi ích khác của xã hội
Hiện nay diện tích rừng đang được ngành Lâm nghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường sinh thái thì rừng nước ta đã góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời cung cấp cho chúng ta lượng lâm sản phục vụ cho nhu cầu của nhân dân Một trong những lâm sản quan trọng mà rừng mang lại cho con người là gỗ, gỗ được sử dụng trong các ngành xây dựng, trụ mỏ, chế biến bột giấy, sợi, đồ dùng gia đình nhưng hiện nay diện tích rừng và đất rừng của nước ta đang bị thu hẹp về cả số lượng và chất lượng Việc khai thác quá mức, chuyển đổi đất rừng không hợp lý thành các loại đất khác (trồng trọt, chăn nuôi, nhà ở, đốt rừng làm nương rẫy ) cùng với sự gia tăng dân số quá trình đô thị hóa hay nhận thức còn hạn chế
Trang 11của con người đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng Trước thực trạng đó Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung Trồng rừng sản xuất tập chung đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến
gỗ khác
Tuy nhiên, khi thực hiện trồng rừng trên một diện tích lớn, số lượng cây nhiều và trồng thuần loài thì vấn đề sâu bệnh hại diễn ra nhiều và có thể gây thành dịch hại nguy hiểm là điều khó tránh khỏi Do đó, để đạt được kết quả tốt trong việc trồng rừng thì việc tạo ra cây giống tốt, khỏe mạnh, không sâu hại, không mầm bệnh là một điều cực kỳ quan trọng trong công tác giống và việc quản lý cây con trong giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết
Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tổn thất do bệnh gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các tác hại tự nhiên khác, nó làm cho cây yếu và thậm chí là chết hàng loạt Theo tài liệu thống kê của Cục Lâm vụ nước Mỹ năm 1952, trong những thiệt hại tự nhiên, giá trị tổn thất do:
Bệnh cây rừng gây ra chiếm: 45%
và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ hiện nay chưa có hiệu quả tốt.Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh
Trang 12hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cho cây con ở vườn ươm là rất cần thiết
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay các loài keo, keo lai (Acacia
hybrid) và Mỡ (Mangletia glauca BL.) là những loài cây trồng chính, được
trồng với diện tích lớn và tập trung Tuy nhiên trong giai đoạn vườn ươm cây
mỡ thường bị nhiều loại bệnh gây hại như bệnh thán thư lá, đốm lá, cháy lá, thối cổ rễ… Làm ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng cây giống trước khi xuất vườn, gây nên những thiệt hại cho sản xuất lâm nghiệp Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng rừng tại Thái Nguyên thì việc điều tra xác định nguyên nhân gây bệnh, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại cây con giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên, và nguyện vọng muốn đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong việc tìm ra các biện pháp phòng trừ một số loại bệnh hại chủ yếu cây mỡ con trong vườn ươm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chính cây mỡ trong giai
đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được các loại bệnh hại và vật gây bệnh cây mỡ
Đánh giá được tình hình bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm đối với cây mỡ
Đề xuất các biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chính trên cây mỡ rong giai đoạn vườn ươm
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn
Trang 13- Điều tra bệnh hại giúp tôi nắm vững phương pháp điều tra bệnh hại cây con trong vươn ươm
- Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất biện pháp phòng trừ các bệnh hại cây mỡ con ở vườn ươm
- Biết cách tổng hợp, phân tích để viết một báo cáo khoa học
* Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất
- Quá trình nghiên cứu giúp tôi nắm bắt được tình hình bệnh hại ở vườn ươm mà các đề xuất mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để phòng trừ bệnh hại cho cây con trong vườn ươm giúp cây sinh trưởng tốt, nâng cao chất lượng của cây con giống và đáp ứng được mục tiêu trồng rừng sản xuất
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên
và con người, giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão,1997) [5]
Bệnh cây rừng là một loại tác hại của tự nhiên, nó tác động và gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây rừng, thậm chí làm cho cây bị chết và gây ra những tổn thất về kinh tế và sinh thái
Nước ta cũng đã từng xảy ra các loại bệnh dịch nguy hiểm như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 500 ha, ở Quảng Trị trên 50 ha Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc, bệnh khô cành cây phi lao, bệnh khô héo trẩu, bệnh chổi xể tre luồng, bệnh tua mực quế, bệnh sọc tím tre luồng… đã uy hiếp nghiêm trọng hàng ngàn ha rừng và ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp ở nước ta (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006) [1]
Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây
bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây
Trang 15Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau
Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính:
Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ làm cho năng suất cây trồng ở mức cao nhất và ổn định
Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật đọ cao…Trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch
Giải quyết vấn đề về bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, khoa học bệnh cây có các nội dung: Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh: Nghiên cứu bệnh thường rất nhiều và phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại có những trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau Một biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu và một số nguyên nhân thứ yếu Nhầm lẫn vai trò và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc chắn và chính xác Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Trang 16Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thành của dịch bệnh cây: Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định Các quy luật đó phụ thuộc vào tình trạng và đặc điểm của tập đoàn vi sinh vật gây bệnh, cây chủ và điều kiện bên ngoài Khoa học bệnh cây phải nắm được các quy luật đó Công tác dự tính, dự báo và phòng trừ đều phải dựa trên quy luật này mới đảm bảo kết quả tốt được (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Nghiên cứu xác định các biện pháp phòng trừ bệnh: Phòng trừ bệnh cây có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách có những ưu điểm
và nhược điểm của nó Vì vậy mỗi phương pháp thường chỉ phát huy tác dụng cao nhất trong những điều kiện nhất định Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thường không đảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết được bệnh Nhiệm vụ của khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Do tính chất ẩn náu của vật gây bệnh nên con người thường coi nhẹ những tổn thất do bệnh gây ra, thực ra những tổn thất do bệnh gây ra còn gấp nhiều lần những tác hại tự nhiên khác Theo tài liệu thống kê của cục kiểm lâm mỹ năm 1952 trong những thiệt hại tự nhiên thì giá chị tổn thất do bệnh gây ra chiếm 45%, trong đó sâu hại chiếm 20%, cháy rừng chiếm 10%, các nhân tố khí hậu và động vật chiếm 18%(Trần Văn Mão, 1997) [5]
Ở giai đoạn vườn ươm cây đang trong giai đoạn sinh trưởng mạnh và cây con còn bị ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên thời gian này cây
dễ bị nhiễm bệnh Nước ta lại có khí hậu gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều đã tạo điều kiện cho nấm mốc và các vi sinh vật phát triển Trong quá trình bệnh cây
bị biến động về mặt sinh lý, giải phẫu và hình thái gây ra những tác hại đối với cây ở vườn ươm,rừng trồng và rừng tự nhiên, sự thay đổi diễn ra liên tục (Ngô Thị Hợi, 2011) [4]
Trang 17Hiện nay thành phần bệnh hại vườn ươm phổ biến chủ yếu là bệnh hại
ở lá, bệnh hại ở thân và bệnh hại ở rễ Mỗi loại bệnh đều có đặc điểm, triệu chứng và đặc điểm xâm nhiễm lây lan khác nhau
•Đối với bệnh hại lá
Bệnh hại lá là nhóm bệnh phổ biến nhất đối với cây trồng, chúng thường có số lượng lớn và phân bố rộng Bệnh hại lá có nhiều triệu chứng bệnh khác nhau như: phấn trắng,gỉ sắt, đốm lá, bồ hóng, xoăn lá, chấy lá, khô
lá, sùi lá Nấm là vật gây bệnh chiếm số lượng nhiều nhất trong các vật gây bệnh hại lá (nấm, vi khuẩn, micoplasma, nhện, tảo)
Sự lây lan của vật gây bệnh hại lá thường lá gió, mưa và côn trùng Bệnh hại lá lây lan xâm nhiễm nhanh do tổ chức tế bào lá mềm,mỏng nhiều lỗ khí khổng, thủy khổng nên vật gây bệnh dễ xâm nhập, thời gian ủ bệnh thường ngắn (chỉ từ 10- 20 ngày), bên cạnh đó diện tích tiếp xúc của lá đối với môi trường lại rất lớn nên bệnh hại rất dễ phát triển thành dịch, nó không chỉ gây hại nặng ở vườn ươm mà còn cả rừng mới trồng nên tổn thất do bệnh hại lây nên là rất lớn (Đặng Kim Tuyến, 2005) [12]
Một số bệnh hại lá thường gặp là: bệnh rơm lá thông, bệnh gỉ sắt lá keo, bệnh phấn trắng lá keo
•Đối với bệnh hại thân cành
Bệnh hại thân cành không phổ biến như bệnh hại lá do vỏ cây dày và tế bào hóa gỗ cứng nhưng bệnh này rất nguy hiểm vì nó làm cho cây con, cây trưởng thành sau khi bị bệnh đều có thể chết khô Bệnh không thể hiện rõ như bệnh hại lá vì một mặt chúng có thời gian ủ bệnh lâu (từ 1-2 tháng đến 1-2 năm) mặt khác do tính chất phức tạp của vật gây bệnh dẫn đến
Bệnh hại thân cành do nhiều vật gây bệnh tạo nên và phương thức lây lan của bệnh hại thân cành cũng khác nhau: bệnh do nấm, vi khuẩn lây lan nhờ gió, mưa, côn trùng; bệnh do virus, micoplasma lại nhờ côn trùng trích hút, cây ký sinh nhờ chim ăn hạt (Trần Văn Mão, 1997) [5]
Bệnh này ít phát thành dịch, và thường gây nên bệnh mãn tính do vật gây bệnh qua đông qua hạ ngay trên vết bệnh (Đặng Kim Tuyến, 2005) [12]
Trang 18Một số bệnh hại thân cành thường gặp là: Bệnh loét thân cành bạch đàn, bệnh chổi xể tre luồng
•Đối với bệnh hại rễ
So với bệnh hại lá và bệnh hại thân thì bệnh hại rễ thường gây nên thiệt hại lớn nhất mặc dù nó không xuất hiện phổ biến bằng Do rễ là bộ phận cung cấp chất dinh dưỡng và giá đỡ của cây nên khi cây nhiễm bệnh thì nó làm cho cây chết hàng loạt
Bệnh hại rễ thì có nhiều nhưng chủ yếu là bệnh hại rễ ở vườn ươm và bệnh mục gỗ ở rừng trồng Nguyên nhân gây bệnh của bệnh hại rễ thường do nấm vi khuẩn, virus tuyến trùng (Đặng Kim Tuyến, 2005) [12]
Khả nhăng lây lan của bệnh hại rễ thường do chuyển cây con đi xa Hay thông qua con người hoặc dụng cụ làm phương thức lây lan Một số loài lây lan bằng phương thức chủ động như sợi nấm bò lan trong đất, như bệnh hại rễ lây lan nhờ tiếp xúc rễ cây Số lượng lớn vi khuẩn và bào tử nấm lây lan nhờ dòng nước chảy
Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thường không đảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết được bệnh Nhiệm vụ của khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Thực chất công tác phòng trừ bệnh cây không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh Việc làm đó chỉ có ý nghĩa khi bảo vệ được cây, góp phần làm tăng năng suất, giữ năng suất cây ở mức cao nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Phương hướng chủ yếu của công tác bảo vệ thực vật là tác động các biện pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý có cơ sở và căn cứ đầy đủ, nhằm điều khiển toàn bộ sinh quần đồng ruộng, rừng cây, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt nhất, bệnh hại không thể phát triển được, đảm bảo tạo ra khối
Trang 19lượng nông lâm sản cao nhất, có phẩm chất tốt nhất Cho đến nay, khoa học bệnh cây đã đạt được nhiều kết quả lớn, và đã có hệ thống kiến thức có khả năng hạn chế đến mức thấp những tác hại của bệnh cây Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ có thể trở thành sức mạnh thực tế, khi những người trực tiếp sản xuất nắm vững được nó, và vận dụng tốt trong hoạt động sản xuất hàng ngày (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
2.2 Cơ sở khoa học của việc điều tra thành phần bệnh hại
Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến Bệnh hại thường làm cho cây rừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng hằng năm của cây gỗ giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cho cây chết, thậm chí có thể chết hàng loạt Nước ta đã từng xảy ra các loại bệnh hại như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên-Huế 500
ha, ở Quảng trị trên 50 ha Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mu, tua mực quế…đã gây những uy hiếp nghiêm trọng đến sản xuất lâm nghiệp nước ta Hằng năm chúng gây ra những tổn thất rất lớn cho nền kinh tế Không những thế, chúng còn gây ra ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (Trần Văn Mão, 1997) [5]
Ở giai đoạn vườn ươm, cây con đang trong thời gian sinh trưởng mạnh
và cây con còn bị ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài nên thời gian này cây dễ bị nhiễm bệnh Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc và các vi sinh vật phát triển Cây bị bệnh quá trình thay đổi về sinh lý đó là nguyên nhân của sự thay đổi về giải phẫu và hình thái gây ra những tác hại đối với cây con vườn ươm, rừng trồng và rừng tự nhiên, sự thay đổi đó diễn ra liên tục Cây bị bệnh, quá trình thay đổi về sinh lí là nguyên nhân của sự thay đổi về giải phẫu và hình thái cũng chính là bệnh thể hiện ở triệu chứng Mỗi một loại bệnh đều có đặc trưng và triệu chứng riêng biệt khác nhau và là căn cứ quan trọng để ta chẩn đoán bệnh cây (Trần Văn Mão, 2003) [6]
Trang 20Do thực vật và vật gây bệnh đều chịu tác động của môi trường xung quanh nên cả hai đều bị môi trường khống chế Tính chống chịu của cây và tính xâm nhiễm của vật gây bệnh tùy thuộc vào điều kiện môi trường khác nhau thì khác nhau Trong quá trình tác động lẫn nhau giữa cây và vật gây bệnh nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho cây chủ và không thuận lợi cho vật gây bệnh, quá trình gây bệnh có thể kéo dài hoặc ngưng lại Nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho vật gây bệnh thì quá trình gây bệnh sẽ phát triển thuận lợi (Đặng Kim Tuyến, 2005) [12]
2.3 Cơ sở khoa học của việc phòng trừ dịch hại tổng hợp
Mục đích cuối cùng của khoa học bệnh cây là tìm ra những biện pháp
có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế, nhằm hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây, làm cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và chất lượng tốt
Phòng trù bệnh cây gồm nhiều biện pháp khác nhau Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một loại bệnh cụ thể Chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: kỹ thuật lâm nghiệp (gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng), chọn giống cây chống chịu bệnh, kiểm dịch thực vật, sinh vật học, vật lý cơ giới và hóa học Phòng trừ phải trên nguyên tắc tổng hợp, toàn diện và chủ động Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý Trong hệ thống đó các biện pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên những tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây, loại trừ tác hại của bệnh Tổng hợp còn nhằm phát huy đến mức cao mọi điều kiện có thể có ở các cơ sở sản xuất, không giới hạn trong những loại biện pháp nhất định nào đó Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường sống của cây và vi sinh vật gây bệnh Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây chống bệnh cần được áp
Trang 21dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi và từng lúc
Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực
Công tác phòng trừ bệnh cây chỉ có thể đảm bảo mang lại kết quả tốt khi được tiến hành một cách chủ động Chủ động trước hết là dung nhiều biện pháp tác động khác nhau, điều khiển toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng làm sao loại trừ được tác hại của bệnh cây, tạo ra năng suất cây trồng cao nhất Muốn điều khiển được phải nắm chắc đặc điểm của cây, nắm được đầy đủ các ưu điểm cũng như nhược điểm Trên cơ sở đó dùng các biện pháp khác nhau: Chế độ canh tác, phân bón, chế độ nước…phát huy đến mức cao nhất tính chống chịu của bệnh cây
Như vậy, để loại trừ tác hại của bệnh cây phải tiến hành trên các hướng: phòng bênh, tránh bệnh, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh, bồi dưỡng cây sau khi
bị bệnh
2.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về bệnh trên thế giới bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn
Năm 1847 ở châu Âu, Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.H.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970),
Trang 22đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh (Trần Văn Mão, 1997 ) [5] Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L Roger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong đó có một
số bệnh hại lá của thông, keo, bạch đàn (Roger,1953) [14]
John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology)
đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada(John Boyce,1961) [13]
Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và keo G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại keo Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo như các công trình của Vannhin, L Rogen (1953) Spauding (1961), Peace (1962), Bakshi (1964) Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng
đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia (Đào Hồng Thuận, 2008) [9]
Năm 1988-1990 Benergee R (Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng
trồng Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp
gây hại trên cây non từ 1-15 tuổi Florece E.J và đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm
Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A auricuformis bang Kerela,
tỷ cây chết khoảng 10% (Đào Hồng Thuận, 2008) [9]
Trang 23Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài keo
Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A simsii; nấm
Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài A melanoxylon; nấm
Oidium sp có trên các loài A mangium và A auriculiformis ở Trung Quốc nhưng loài A confusa (Đài Loan tương tự) địa phương lại không bị bệnh
(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006) [7]
Các nghiên cứu về các loại bệnh ở keo Acacia cũng đã được tập hợp
khá đầy đủ vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và ấn Độ” (A Manual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, South-east Asia and India Old et al., 2000) trong đó có các bệnh khá quen
thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng (Powdery mildew),
bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Heart rot) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006) [7]
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng nước ta lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới Mặc dù trong thời kỳ thuộc Pháp, một số nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng
có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003) [6]
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm bồ hóng… có thể nói từ sau cách mạng tháng 8/1945 nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945), nước ta xây dựng một nền nông - lâm nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế
Trang 24hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng; trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 28 nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ
Từ năm 1971 với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão
đã bắt đầu công bố một số bệnh cây như quế, trẩu, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá Các tác giả Nguyễn Sỹ Giáo, Đỗ Xuân Quý, Phạm Xuân Mạnh… đã nghiên cứu trên lá keo phát hiện ra một số loại bệnh hại như: Cháy lá, phấn trắng (Trần văn Mão,1997) [5]
Nhiều chuyên gia nước ngoài như ấn Độ, Mỹ đã từng đến Việt Nam nghiên cứu về bệnh hại lá keo như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1994) và công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Hà Nội Hiện nay ở nước ta đã có các cơ quan về lâm nghiệp có các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, viện điều tra quy hoạch rừng và các trung tâm bảo vệ rừng (Trần Văn Mão, 1997) [5] Ngày nay khoa học bệnh cây ngày càng phát triển mạnh mẽ nó đáp ứng nhiều cho sản xuất nước nhà Khi cây con bị bệnh hại không những ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng sau này mà còn giảm tỷ lệ gieo ươm làm cho cây yếu và chết hàng loạt nên không có biện pháp phòng trừ thì nhiều
Trang 25bệnh còn lây lan đến các cây ở rừng trồng làm giảm tỷ lệ sống của cây rừng (Trần Văn Mão,1993) [5]
Nghiên cứu khoa học bệnh cậy hiện nay càng được chú trọng nhiều hơn
vì việc tìm hiểu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của mỗi loại bệnh là một vấn đề hết sức cần thiết
Chính vì thế những năm gần đây đã có nhiều đề tài tốt nghiệp sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đi sâu vào nghiên cứu các loại sâu bệnh và các biện pháp phòng trừ góp phần nâng cao hiệu quả cây con ở vườn ươm [11], [8], [10]
Nguyễn Văn Tiến năm 1999 sau một thời gian điều tra thành phần sâu bệnh hại đã kết luận rằng ở cùng một môi trường có bệnh tăng lên và có bệnh giảm xuống do tính chất thích nghi với môi trường của vật gây bệnh Ngô Thúy Quỳnh (2011) cho rằng bệnh thối cổ rễ sau khi cây con nảy mầm một tháng là bệnh hại nặng nhất, giai đoạn sau do điều kiện thời tiết thay đổi và sức chống chịu của cây con giai đoạn sau tốt hơn giai đoạn trước nên bệnh giảm dần Ở keo khi nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm, lượng mưa ít, mưa dần kéo dài sẽ tạo điều kiện tốt cho bệnh phấn trắng phát triển mạnh
* Tình hình nghiên cứu bệnh hại cây mỡ
Cây mỡ (Manglietia glauca BL.) được phân bố và trồng tập trung ở
vùng Đông Bắc như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Bắc, Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Hà Giang Ngoài ra mỡ còn được trồng ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
Mỡ là cây gỗ thường xanh cao 25 -30m, đường kính 50 - 60cm, thân tròn thẳng có màu xám bạc, lá đơn mọc cách, hoa lưỡng tính màu trắng phớt vàng, hạt nhẵn bóng có mùi thơm
Mỡ thích hợp với nhiệt độ từ 20 - 24oC, lượng mưa hàng năm là 1400 - 2000mm, độ ẩm không khí trên 80%, phù hợp với loại đất tốt sâu ẩm, thoát nước, giàu mùn và thành phần cơ giới nhẹ
Trang 26Mỡ là cây ưa sáng nhưng lúc còn nhỏ 1-2 tuổi cần che bóng nhẹ, không chịu được ánh sáng quá mạnh hay bóng râm quá nhiều Ở giai đoạn vườn ươm cây con thường mắc các bệnh cháy lá, thán thư, thối cỏ rễ Cây 3 tuổi trở lên cần có nhiều ánh sáng, khi gieo ở vườn ươm cần có mái che Mỡ sinh trưởng tốt từ tháng 4 đến tráng 11 trong năm
Mỡ là loài gỗ mịn ít bị mối mọt, chịu được nắng mưa nên dùng trụ mỏ,
gỗ dán lạng, nguyên liệu giấy, đồ mỹ nghệ và các đồ dùng khác
Gỗ Mỡ được trồng làm nguyên liệu giấy sợi và trong xây dựng theo thống kê năm 199, diện tích mỡ hiện có 50.023 ha, trong đó có mỡ trồng thuần loại là 40.729 ha, mỡ trồng hỗn giao là 9.294 ha Cây mỡ cũng là cây trồng chính cho vùng đông Bắc Tuy nhiên mỡ cũng là đối tượng của nhiều loại bệnh hại [5] Đối với rừng trồng, các bệnh hại cây mỡ chủ yếu do bệnh tầm gởi mỡ gây ra và rất dễ nhận biết, các bệnh khác hiếm xuất hiện, bệnh đốm lá mỡ có xuất hiện, nhưng ở mức độ bệnh rất nhẹ không ảnh hưởng đến cây trồng Có thể phòng trừ bằng cách chặt bỏ cành bệnh [1]
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.5.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
2.5.1.1 Vị trí địa lý
* Vị trí địa lý
Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía tây nằm trong địa bàn xã Quyết Thắng
- Phía Nam vườn ươm giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Bắc vườn ươm giáp với phường Quán Triều
- Phía Đông vườn ươm giáp với khu dân cư
- Phía Tây vườn ươm giáp với xã Phúc Hà
* Địa hình
Trang 27Xã Quyết Thắng chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao, có độ dốc trung bình từ 10-25 độ, có độ cao trung bình từ 50-70m Nói chung xã Quyết Thắng có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
2.3.1.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn
- Khí hậu
Xã Quyết Thắng là một xã nằm trong địa bàn thành phố Thái Nguyên nên cũng là một xã nằm trong vùng khí hậu gió mùa Do vậy điều kiện khí hậu rất thuận lợi đối với sự phát triển của sản xuất nông lâm nghiệp Do đặc điểm của địa hình và sự phân bố lượng mưa hàng năm nên thường ít có lũ quét, lũ ống hay lở đất, và ảnh hưởng của gió bão là rất ít
Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho thấy xã Quyết Thắng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân – Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa
và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cụ thể:
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 – 230C
Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1.588 giờ Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ)
Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2007 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng
7 có số ngày mưa nhiều nhất
Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82% Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70% Sự chênh lệch
độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10 - 17%
Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc
Trang 28Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu từ tháng 8/2014 đến tháng 3 năm 2015
tại tỉnh Thái Nguyên
2.5.2 Điều kiện dân sinh- kinh tế xã hội
2.5.2.1 Dân số - lao động
Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 người, người dân nơi đây đa số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỷ lệ hộ sống dựa vào ngành nông nghiệp vẫn còn cao
Số lao động trong độ tuổi là khoảng 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số nhân khẩu của toàn xã
2.5.2.2 Giao thông- thủy lợi
- Giao thông
Trang 29Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, các tuyến đừng liên xã đều được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được bê tông hóa tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp nên gây khó khăn trong việc trao đổi mua bán hàng hóa của người dân
-Thủy lợi
Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn hệ thống kênh đào Núi Cốc, Suối và hồ, ao trên địa bàn, phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông lâm nghiệp, vì vậy công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu
tư Toàn xã xây dựng được 15km kênh nương đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt
- Dịch vụ: Hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đi lên Nhìn chung kinh tê của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có kế hoạch
cụ thể, rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển tương đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều
Trong những năm gần đây mức sống của người dân tăng lên rệt Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư và phát triển đặc biệt là hệ thống giao
Trang 30thông, thủy lợi là lĩnh vực quan trọng để phục vụ về các mặt của đời sống, kinh tế, xã hội của nhân dân trong xã
2.6 Tài nguyên đất
Đất đai của xã Quyết Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành Đất phù sa không được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,
dễ bị sói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralitic: phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Đất khu vực vườn ươm là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất
là đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển thấp
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài cây Mỡ
Đối tượng chính là các loại bệnh hại đối với cây mỡ con trong giai đoạn gieo ươm tại vườn ươm
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập chung nghiên cứu bệnh hại cây
mỡ con tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc tính chung của cây con và tình hình vườn ươm trước khi điều tra
- Điều tra xác định loại bệnh hại, thống kê thành phần bệnh hại cây mỡ trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá mức độ hại của một số loại bệnh hại chủ yếu đối với cây mỡ tại vườn ươm cây giống khu vực điều tra
- Đề xuất một số giải pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu đối với cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm nhằm hạn chế những tổn thất do bệnh gây ra và nâng cao chất lượng cây giống
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại vườn ươm cây giống Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.3.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 30/10/2014 - 30/3/2015
Do cây mỡ gieo ươm của vụ trước từ tháng 11/2013 đã xuất hết từ tháng 6/2014 nên chúng tôi phải chờ hạt giống mới của năm 2014 mới bắt đầu gieo ươm từ tháng 11/2014 vì vậy đề tài phải theo dõi trong khoảng thời gian trên