1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn

103 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính được hiểu là hệ thống các tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách… chứa đựng những thông tin về các mặt tự nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý của đ

Trang 1

ĐẶNG THU HUYỀN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC

HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẶNG THU HUYỀN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC

HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Đình Binh

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đặng Thu Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS Phan Đình Binh là người trực

tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Ngân Sơn, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Kạn và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đặng Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Khái niệm về hồ sơ địa chính 4

1.1.2 Các tài liệu trong hồ sơ địa chính 5

1.1.3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7

1.1.4 CSDL địa chính 9

1.1.5 Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính 14

1.1.6 Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính 14

1.1.7 Sự cần thiết phải lập hệ thống hồ sơ địa chính trong chức năng quản lý Nhà nước về đất đai 15

1.2 Cơ sở pháp lý của việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính 16

1.3 Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính tại Việt Nam và trên địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 17

1.3.1 Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính ở Việt Nam 17

1.3.2 Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

2.2.1 Địa điểm 28

Trang 6

2.2.2 Thời gian 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn 28

2.3.2 Sơ lược công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn 28

2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn giai đoạn 2010 - 2015 28

2.3.4 Đánh giá hiểu biết của cán bộ và người dân về công tác quản lý và sử dụng hồ sơ địa chính 28

2.3.5 Thử nghiệm cơ sở dữ liệu địa chính trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Vân Tùng 28

2.3.6 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý hồ sơ địa chính tại huyện Ngân Sơn 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 29

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 30

2.4.4 Phương pháp phân tích 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập: 43

3.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 45

3.2 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Ngân Sơn 47

3.2.1 Thực trạng công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Ngân Sơn 47

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn năm 2014 53

3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn 55

Trang 7

3.3.1 Thực trạng công tác quản lý và khai thác bản đồ địa chính trên địa bàn

huyện Ngân Sơn 55

3.3.2 Một số tài liệu chính trong Hồ sơ địa chính 62

3.3.3 Cơ sở dữ liệu địa chính 65

3.4 Đánh giá của cán bộ và người dân về tình hình quản lý và khai thác Hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn 67

3.4.1 Đánh giá của cán bộ về tình hình quản lý và khai thác Hồ sơ địa chính 67

3.4.2 Đánh giá hiểu biết của người dân về công tác quản lý và khai thác Hồ sơ địa chính 69

3.5 Kết quả áp dụng thử nghiệm cơ sở dữ liệu địa chính trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Vân Tùng 72

3.5.1 Thực hiện kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 72

3.5.2 Thực hiện đăng ký biến động 73

3.5.3 Công tác tra cứu thông tin 75

3.5.4 Khả năng duy trì và nhân rộng kết quả của dự án 75

3.6 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn 76

3.6.1 Thuận lợi 76

3.6.2 Khó khăn, tồn tại và nguyên nhân 78

3.6.3 Đề xuất một số giải pháp 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Kiến nghị 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1: Kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Ngân Sơn 38

Bảng 3.2: Kết quả thực hiện sản xuất ngành trồng trọt huyện Ngân Sơn 39

Bảng 3.3: Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Ngân Sơn 40

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất Công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 41

Bảng 3.5: Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp phân theo ngành 42

Bảng 3.6: Dân số huyện Ngân Sơn qua các năm 44

Bảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn 53

Bảng 3.8: Thực trạng bản đồ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn 56

Bảng 3.9: Tình hình khai thác bản đồ địa chính trong đăng ký đất đai 58

Bảng 3.10: Kết quả cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng sử dụng đất 61

Bảng 3.11: Thực trạng một số tài liệu chính trong hồ sơ địa chính 63

Bảng 3.12: Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 66

Bảng 3.13: Tổng hợp đánh giá của cán bộ về công tác quản lý và khai thác 67

Bảng 3.14: Kết quả điều tra hiểu biết của người dân về công tác quản lý 70

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 1.1: Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM 9

Hình 1.2: Mô hình địa chính LADM 10

Hình 1.3 Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009 11

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Ngân Sơn 32

Hình 3.2 Thể hiện cơ cấu 3 loại đất chính trên địa bàn huyện 55

Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu các loại đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn năm 2014 55

Hình 3.3: Đồ thị thể hiện kết quả cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức trên địa bàn huyện Ngân Sơn 62

Hình 3.4: Đồ thị thể hiện số lượng các loại tài liệu chính trong Hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn 65

Hình 3.5: Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ in giấy chứng nhận 73

Hình 3.6: Các bước giao dịch bảo đảm 74

Hình 3.7: Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụcông tác tách thửa 74

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế –

xã hội của mỗi một quốc gia Từ xa xưa loài người đã biết tới nguồn lực này để chinh phục khai thác dần dần chuyển sang quan hệ kinh tế – xã hội đó là sở hữu và

sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là một trong 4 yếu tố sản xuất (lao động, vốn, đất đai, công nghệ) – nguồn lực đầu vào cơ bản cho mọi nền sản xuất xã hội Mối quan hệ đất đai nó còn ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân Do đó, mối quan hệ đất đai được quan tâm ở nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước thì vai trò, vị trí đất đai càng được nâng lên Có những mối quan hệ đất đai mới nảy sinh phức tạp Vì vậy, cần có

sự quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên này để phát huy nguồn lực đất đai, khai thác và sử dụng có hiệu quả bảo vệ lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân Và một trong các công cụ để Nhà nước và các cấp chính quyền thực hiện công tác quản

lý Nhà nước về đất đai đó là công tác hồ sơ địa chính Thật vậy, hồ sơ địa chính là

hệ thống tài liệu, sổ sách ghi nhận thông tin về đất đai để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai Nhìn vào hồ sơ địa chính ta có thể biết được mọi thông tin về đất đai Do hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng như vậy nên từ xa xưa Nhà nước ta

đã tiến hành công tác lập hồ sơ địa chính bằng hình thức đi từ đo đạc thủ công đến

sử dụng các phương tiện hiện đại là máy móc để đo đạc lập bản đồ địa chính để thiết lập lên hồ sơ địa chính Song trong tình hình hiện nay đất đai tham gia tích cực vào hoạt động kinh tế xã hội, thị trường bất động sản hình thành, Do đó, đất đai cũng như các mối quan hệ đất đai có nhiều thay đổi Vì vậy để phản ánh đúng hiện trạng đất đai, những biến đổi đất đai cần làm tốt công tác đăng kí thống kê đất đai,

đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính Việc làm tốt công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính cho phép Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả Do vai trò quan trọng

Trang 11

của công tác này do vậy những năm qua Nhà nước chú trọng vào thực hiện công tác này, nhưng đến nay trên cả nước chưa có bộ hồ sơ địa chính hoàn chỉnh nào đó là yêu cầu bức xúc trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá công

tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu của đề tài

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn

- Sơ lược công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn giai đoạn 2010 – 2015

- Đánh giá hiểu biết của cán bộ và người dân về công tác quản lý và sử dụng hồ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp học viên củng cố được những kiến thức đã học trong nhà trường

- Giúp cho học viên nắm thực trạng sử dụng đất và công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương Qua đó liên hệ với phần lý luận ở nhà trường nhằm

Trang 12

đưa ra giải pháp trong công tác quản lý, sử dụng đất của đơn vị, củng cố thêm nhận thức và nâng cao tay nghề chuyên môn

- Giúp cho học viên tiếp cận, học hỏi và đưa ra những cách xử lý đối với những tình huống trong thực tế, tính tổ chức, kỷ luật trong nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao, tinh thần khắc phục mọi khó khăn, phát huy tính tích cực trong học tập

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng đất của một số xã trên địa bàn huyện Ngân Sơn từ đó đề xuất được những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai thông qua Hồ sơ địa chính

- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Khái niệm về hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính được hiểu là hệ thống các tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách… chứa đựng những thông tin về các mặt tự nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý của đất đai cần thiết cho việc thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước về đất đai hay nói cách khác là những thông tin cần thiết để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình đối với đất đai với tư cách là chủ sở hữu [10]

Các thông tin về đất đai được thiết lập, cập nhật trong quá trình điều tra, đo đạc qua các thời kỳ khác nhau bằng các phương pháp khác nhau như: đo đạc lập bản đồ địa chính, đánh giá đất, phân loại đất, đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nội dung của hồ sơ địa chính bao gồm những thông tin về sử dụng và quản

lý đất đai, đó là các thông tin về điều kiện tự nhiên, thông tin về kinh tế - xã hội, thông tin về cơ sở pháp lý [1]:

- Thông tin về điều kiện tự nhiên của thửa đất cho biết vị trí, hình dáng, kích thước, tọa độ, diện tích… của từng thửa đất Các thông tin này được xác định bằng các phương pháp đo đạc khác nhau và được thể hiện trên bản đồ địa chính

- Thông tin về kinh tế - xã hôi gồm có:

+ Thông tin về xã hội như: tên chủ sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất, phương thức sử dụng đất, quá trình chuyển quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, quá trình chuyển mục đích sử dụng đất…

+ Thông tin về kinh tế như: hạng đất, giá đất, quan hệ kinh tế giữa Nhà nước

và người sử dụng đất

- Thông tin về cơ sở pháp lý của thửa đất như: tên văn bản, số văn bản, cơ quan ký ban hành văn bản, ngày tháng ban hành… Các thông tin này là căn cứ xác định giá trị pháp lý của các loại tài liệu trong hồ sơ địa chính

Hệ thống hồ sơ địa chính được thiết lập theo đơn vị hành chính cấp xã, phường

Trang 14

(cấp cơ sở) để phù hợp với việc tổ chức của ngành quản lý đất đai và bộ máy hành chính ở nước ta Hệ thống này được thiết lập ở cấp cơ sở sẽ cho phép thu thập, cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và thuận tiện nhất

1.1.2 Các tài liệu trong hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính gồm Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [1]

Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (sau đây gọi là cơ

sở dữ liệu địa chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được

in trên giấy để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã

Tài liệu trong hồ sơ địa chính được chia ra 2 loại:

- Loại hồ sơ tài liệu gốc, dùng lưu trữ và tra cứu khi cần thiết

- Loại hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý

Hồ sơ tài liệu gốc, lưu trữ và tra cứu khi cần thiết

Hồ sơ tài liệu gốc là căn cứ pháp lý duy nhất làm cơ sở xây dựng và quyết định chất lượng hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý Nó bao gồm [1]:

- Các tài liệu gốc hình thành trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, bao gồm: toàn bộ thành quả giao nộp sản phẩm theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt của mỗi công trình đo vẽ lập bản đồ địa chính (trừ bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sơ đồ trích thửa)

- Các tài liệu gốc hình thành trong quá trình đăng ký đất đai ban đầu, đăng ký biến động đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm :

+ Các giấy tờ do chủ sử dụng đất giao nộp khi kê khai đăng ký như: đơn kê khai đăng ký, giấy tờ pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất, các giấy tờ có liên quan đến nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước mà chủ sử dụng đất đã thực hiện

+ Hồ sơ tài liệu được hình thành trong quá trình thẩm tra xét duyệt đơn kê khai đăng ký của cấp xã, cấp huyện

+ Các văn bản pháp lý của cấp có thẩm quyền trong thực hiện đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như quyết định thành lập Hội đồng

Trang 15

đăng ký đất đai, biên bản xét duyệt của Hội đồng, quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định xử lý các vi phạm pháp luật đất đai v.v

+ Hồ sơ kiểm tra kỹ thuật, nghiệm thu sản phẩm đăng ký đất đai, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hồ sơ tài liệu địa chính phục vụ thường xuyên trong quản lý đất đai

Các tài liệu địa chính phục vụ thường xuyên cho công tác quản lý đất đai

ở các cấp gồm có [1]:

* Bản đồ địa chính và các tài liệu bổ trợ như: hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sơ

đồ trích thửa, bản đồ giải thửa, bản đồ trích đo một khu vực… Chúng chứa đựng các thông tin về điều kiện tự nhiên của từng thửa đất

Tuỳ theo phương pháp thành lập, với mức độ chất lượng khác nhau, bản đồ địa chính có các dạng:

- Bản đồ địa chính chính quy: đây là loại bản đồ hoàn chỉnh nhất, được thành lập trong hệ toạ độ thống nhất toàn quốc, được lập theo đơn vị hành chính cấp cơ sở

để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai đến từng thửa đất

- Hồ sơ kỹ thuật thửa đất, kết quả đo đạc: được thành lập độc lập cho từng khu vực (hồ sơ kỹ thuật cho khu vực đất đô thị, sơ đồ trích thửa cho các thửa đất nông nghiệp, lâm nghiệp)

* Sổ mục kê đất đai

- Sổ mục kê đất đai: là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi về các thửa đất, đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh giới khép kín trên tờ bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất Sổ mục kê đất đai được lập để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin về thửa đất và phục vụ thống kê, kiểm kê đất đai [1]

* Sổ địa chính

- Sổ địa chính là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi về

người sử dụng đất, các thửa đất của người đó đang sử dụng và tình trạng sử dụng đất của người đó Sổ địa chính được lập để quản lý việc sử dụng đất của người sử dụng đất và để tra cứu thông tin đất đai có liên quan đến từng người sử dụng đất [1]

Trang 16

* Sổ theo dõi biến động đất đai

- Sổ theo dõi biến động đất đai được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn

Sổ được lập để theo dõi các trường hợp có thay đổi trong sử dụng đất gồm thay đổi kích thước và hình dạng thửa đất, người sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thời hạn

sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất [1]

1.1.3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

1.1.3.1 Khái niệm

Theo Khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai 2003 [10] thì: "Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người

sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất"

GCNQSD đất là chứng thư pháp lý xác nhận quan hệ hợp pháp giữa Nhà

nước và người sử dụng đất trong quá trình quản lý và sử dụng đất

1.1.3.2 Một số quy định chung về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Điều 48 luật đất đai 2003 quy định [10]

a Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất

Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản

b Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành

c Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo từng thửa đất

Trường hợp quyền sử dụng đất được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử dụng

Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng dân cư thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho cộng đồng dân cư và trao cho người đại diện hợp pháp của cộng đồng dân cư đó

Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cơ sở tôn giáo thì GCNQSD đất được cấp cho cơ sở tôn giáo và trao cho người có trách nhiệm cao nhất của cơ sở tôn giáo đó

Chính phủ quy định cụ thể việc cấp GCNQSD đất đối với nhà chung cư, nhà tập thể

Trang 17

e) GCNQSD đất của người sử dụng đất bị ố, nhoè, rách, hư hại hoặc bị mất Khoản 6 điều 41 Nghị định 181 ngày 29 tháng 10 năm 2004 quy định những GCN sau có giá trị pháp lý như GCNQSD đất được cấp theo quy định của luật đất đai 2003 [6]:

- GCNQSD đất đã cấp theo quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993

- GCN quyền sở hữu nhà ở và QSD đất ở theo quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và QSD đất

ở tại đô thị

Hai loại này cũng được gọi chung là GCNQSD đất Khi có biến động về sử dụng đất quy định tại khoản 5 Điều này thì cơ quan tài nguyên và môi trường trực thuộc UBND cấp có thẩm quyền cấp GCNQSD đất có trách nhiệm thu hồi GCNQSD đất đã cấp và làm thủ tục cấp GCNQSD đất mới cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai

1.1.3.3 Thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo Điều 52 Luật Đất đai 2003 quy định thẩm quyền cấp GCNQSD đất như sau [10]:

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp GCNQSD đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này

- UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà gắn liền với QSD đất ở

- Cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất được quy định tại khoản 1 điều này được ủy quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp Chính phủ quy định điều kiện được ủy quyền cấp GCNQSD đất

- Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh, thành phố thực hiện chứng nhận thay đổi đối với các GCNQSD đất thuộc thẩm quyền cấp của UBND cấp tỉnh

- Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện thực hiện chứng nhận thay đổi đối với các GCNQSD đất thuộc thẩm quyền cấp của UBND cấp huyện

Trang 18

1.1.4 CSDL địa chính

1.1.4.1 Cơ sở khoa học xây dựng CSDL địa chính

CSDL địa chính là hồ sơ địa chính được quản lý dưới dạng số sử dụng các phần mền chuyên môn như GIS, MICROSTATION, TMV.MAP, TMV.CADAS, VILIS… CSDL địa chính chứa đựng thông tin đất đai và đồng thời thể hiện mối quan hệ của con người với thửa đất Trên thế giới, các nhà khoa học luôn luôn cố gắng tìm cách khái quát hoá các mô hình quản lý đất đai, từ đó đưa ra một chuẩn mẫu về quản lý đất đai Năm 1994, Hiệp hội Trắc địa thế giới (FIG) đã hoàn thành tài liệu Cadastral 2014 thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của một hệ thống địa chính hiện đại với tầm nhìn 20 năm và nó đã trở thành một sợi chỉ xuyên suốt trong các nghiên cứu có liên quan đến hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai [3]

Dựa trên tài liệu này, năm 2002, một nhóm học giả người Hà Lan (Lemmen, Van Oosterom và nnk) đã đưa ra một mô hình cơ sở dữ liệu địa chính có tên là CCDM (Core Cadastral Domain Model) (hình 1.1)

Hình 1.1: Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM

Mô hình này thể hiện mối quan hệ của con người (lớp Person) đối với thửa đất (lớp Register Object) thông qua các quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng đất (lớp RRR – Right, Responsibility, Restriction) Đối tượng đăng ký có thể là thửa đất hay

Trang 19

bất động sản gắn liền với đất; con người là những người sử dụng, người sở hữu bất động sản; quyền là quyền sử dụng đất và các quyền có liên quan CCDM đã trở thành

mô hình dữ liệu chuẩn để phát triển, chỉnh sửa cho phù hợp với hệ thống quản lý đất đai ở nhiều nước trên thế giới

Từ mô hình này, năm 2008, hiệp hội FIG và các nhà khoa học tiếp tục phát triển thành mô hình địa chính LADM (Land Administration Domain Model) và được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật, … LADM là một

mô hình chuẩn hóa trong lĩnh vực đăng kí đất đai và hồ sơ địa chính (hình 1.2)

Về bản chất, mô hình LADM cũng vẫn thể hiện mối quan hệ giống như CCDM Tuy nhiên, các khái niệm về lớp đối tượng có sự mở rộng hơn Đó là mối quan hệ giữa con người (lớp LA_Party) với đơn vị hành chính cơ bản (lớp LA_BAUnit) thông qua quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng (lớp LA_RRR)

Hình 1.2: Mô hình địa chính LADM

Trên thực tế, mô hình LADM có rất nhiều lớp và phức tạp hơn rất nhiều Tuy nhiên hạt nhân của mô hình dựa trên 4 lớp cơ bản:

- Lớp LA_Party: là những cá nhân, tổ chức hoặc nhóm người đóng vai trò trong việc thực hiện, giải quyết các quyền

- Lớp LA_RRR: là các quyền, hạn chế hoặc trách nhiệm Ví dụ như không cho phép xây dựng trong phạm vi 200 m từ trạm nhiên liệu

- Lớp LA_SpatialUnit: là các đơn vị không gian trên hoặc dưới bề mặt đất Các đơn vị không gian này có thể được thể hiện bằng dạng chữ, điểm, đường, vùng trong không gian 2D, 3D hoặc kết hợp cả hai

Trang 20

- Lớp LA_BAUnit: là đơn vị hành chính cơ bản Đơn vị hành chính cơ bản bao gồm các đơn vị không gian với các quyền, trách nhiệm, hạn chế duy nhất và đồng nhất được liên kết trong toàn bộ hệ thống

Đây là những lớp cơ bản của mô hình LADM, ngoài ra nó có thể được phát triển hoặc thêm các lớp khác Bởi vì, mặc dù, LADM là một mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính nhưng LADM không được mong đợi để xây dựng hoàn toàn như trên cho bất cứ quốc gia nào mà mô hình sẽ được mở rộng và bổ sung thêm các thuộc tính, sự liên kết mới hoặc có thể là một lớp mới hoàn toàn nhưng nó phù hợp đặc điểm sử dụng đất và cần thiết cho một vùng và quốc gia đó

Ví dụ Mô hình Social Tenure Domain Model (STDM) được phát triển dựa trên mô hình LADM là một sáng kiến của UN-Habitat (năm 2009) nhằm hỗ trợ các nước mà trình độ quản lý đất đai còn yếu kém

Mối quan hệ giữa con người (Lớp Party) với các đơn vị không gian (Lớp Spatial Unit) trong mô hình STDM được hiểu là mối quan hệ xã hội – Social Tenure Relationship (Lớp Social Tenure) Mô hình này phù hợp với các nước có nhiều khu nhà ổ chuột, mức độ thông tin về địa chính ít, nhiều diện tích đất dựa vào phong tục, tập quán hơn là luật ở những khu vực nông thôn, …(Hình 1.3)

Hình 1.3 Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009

Trang 21

Vì vậy, LADM là một mô hình rất linh hoạt Do đó, phải căn cứ vào điều kiện

và đặc điểm của mỗi nước để xây dựng mô hình CSDL địa chính phù hợp và có hiệu quả nhất cho quốc gia đó

Một ý tưởng nữa của LADM là sử dụng CSDL thời gian trong thuộc tính của các đối tượng để quản lý thông tin về quá khứ của các đối tượng Đối với mô hình CSDL địa chính, CSDL thời gian cho phép lưu trữ các trạng thái quá khứ của thửa đất và các đăng ký quyền sử dụng đất Trong LADM, các đối tượng mà có thuộc tính tmin (được hiểu là thời gian bắt đầu) và tmax (được hiểu là thời gian kết thúc) thì đều nằm trong lớp Versioned Objects nhằm mô tả dữ liệu quá khứ hay lịch sử của đối tượng Thời gian bắt đầu được hiểu là thời điểm xuất hiện đối tượng đó theo pháp lý, còn thời gian kết thúc là thời điểm đối tượng đó không tồn tại theo pháp lý Như vậy, mỗi trạng thái của đối tượng được ghi nhận bởi 2 thông tin của thời gian

1.1.4.2 Cơ sở pháp lý xây dựng CSDL địa chính

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu mô hình địa chính thống nhất nói chung vẫn còn khá mới mẻ Tuy nhiên, về bản chất thì hệ thống địa chính ở nước ta vẫn thể hiện mối quan hệ giữa con người (bao gồm người sử dụng và quản lý) với các thửa đất thông qua việc quy định các quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng Từ mối quan hệ

đó phát triển hình thành nên mô hình CSDL địa chính Đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn là đơn vị cơ bản để thành lập CSDL địa chính CSDL địa chính của quận, huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh là tập hợp CSDL địa chính của tất cả các đơn vị hành chính cấp xã, phường thuộc quận, huyện

Để tạo hành lang pháp lý mở đường cho sự phát triển CSDL địa chính trên quy

mô toàn quốc, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư số 09/2007/TT – BTNMT quy định về CSDL địa chính Theo Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT thì CSDL địa chính được hiểu là hệ thống BĐĐC, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng

số để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được in trên giấy để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã CSDL địa chính bao gồm dữ liệu BĐĐC và các dữ liệu thuộc tính địa chính

Trang 22

CSDL địa chính được xây dựng phải bảo đảm các điều kiện tối thiểu sau [3]:

- Được cập nhật, chỉnh lý đầy đủ theo đúng yêu cầu đối với các nội dung thông tin của BĐĐC và dữ liệu thuộc tính địa chính theo quy định

+ Trích lục BĐĐC, trích sao hồ sơ địa chính của thửa đất hoặc một khu đất (gồm nhiều thửa đất liền kề nhau);

- Tìm được thông tin về thửa đất khi biết thông tin về người sử dụng đất, tìm được thông tin về người sử dụng đất khi biết thông tin về thửa đất; tìm được thông tin

về thửa đất và thông tin về người sử dụng đất trong dữ liệu thuộc tính địa chính thửa đất khi biết vị trí thửa đất trên BĐĐC, tìm được vị trí thửa đất trên BĐĐC khi biết thông tin về thửa đất, người sử dụng đất trong dữ liệu thuộc tính địa chính thửa đất;

- Tìm được các thửa đất, người sử dụng đất theo các tiêu chí hoặc nhóm các tiêu chí về tên, địa chỉ của người sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất; vị trí, kích thước, hình thể, mã, diện tích, hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, nguồn gốc sử dụng, thời hạn sử dụng của thửa đất; giá đất, tài sản gắn liền với đất, những hạn chế về quyền của người sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; những biến động về sử dụng đất của thửa đất; số phát hành và số vào sổ cấp Giấy chứng nhận;

- Dữ liệu trong CSDL địa chính được lập theo đúng chuẩn dữ liệu đất đai do

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

Đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng

Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 23

1.1.5 Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính được lập theo nguyên tắc sau [1]:

- Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã

- Việc lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục hành chính quy định tại Chương XI của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Hồ sơ địa chính dạng số, trên giấy phải bảo đảm tính thống nhất nội dung thông tin thửa đất với Giấy chứng nhận và hiện trạng sử dụng đất

1.1.6 Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính

Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính được quy định [1]:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đầu tư và chỉ đạo việc lập, chỉnh

lý hồ sơ địa chính theo hướng dẫn tại Thông tư này

- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đo vẽ bản đồ địa chính và chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, lập và chỉnh lý

hồ sơ địa chính ở địa phương

- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:

a) Tổ chức xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính;

b) Chỉnh lý dữ liệu bản đồ địa chính và cập nhật, chỉnh lý dữ liệu thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp, chỉnh lý Giấy chứng nhận của cấp tỉnh;

c) In Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã sử dụng;

d) Trong thời gian chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu địa chính thì thực hiện việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính trên giấy và sao hai (02) bộ, một (01) bộ gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi

Trang 24

trường, một (01) bộ gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai

1.1.7 Sự cần thiết phải lập hệ thống hồ sơ địa chính trong chức năng quản lý Nhà nước về đất đai

Đất đai luôn là sự quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã đổ bao công sức, xương máu mới bảo vệ được vốn đất như hiện nay Bởi vậy ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện với tư cách là chủ sở hữu

Để quản lý được quỹ đất và người sử dụng đất có căn cứ pháp lý thực hiện quyền

sử dụng đất của mình khi được nhà nước giao đất cần phải thiết lập được hệ thống hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng Chính vì vậy, việc quản lý, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả vốn đất là nhiệm vụ quan trọng nhằm đem lại lợi ích kinh tế xã hội to lớn, lâu dài cho đất nước Do đó, để Nhà nước quản lý được quỹ đất nhất thiết phải có thông tin về đất đai, khi đó mới cho phép chúng ta xác định mức độ tích tụ đất đai đối với từng chủ sử dụng đất, các hiện tượng kinh tế - xã hội nảy sinh trong quan hệ đất đai Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách, pháp luật đất đai và điều chỉnh các mối quan hệ về đất đai cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội Việc phân tích các thông tin đất đai trong hệ thống hồ sơ địa chính giúp cho việc thống kê - kiểm kê đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thanh

Trang 25

tra đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai cũng như làm cơ sở cho việc xác định các quyền

và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Từ những lý do trên cho thấy việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính trong chức năng quản lý nhà nước về đất đai là cần thiết và tất yếu

1.2 Cơ sở pháp lý của việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính

Trong quá trình xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh thì vấn đề đáp ứng được nhu cầu về đất ở, nhà ở của người dân là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu Vấn đề quản lý chặt chẽ các khu dân cư, nắm được việc chuyển mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng… được coi là một công cụ nhằm bảo đảm định hướng xây dựng một xã hội công bằng hơn Điều đó cho thấy đất đai đóng một vai trò quan trọng cả về kinh tế lẫn chính trị

và xã hội, trong đó Nhà nước đóng vai trò quyết định Mục tiêu của việc quản lý đất đai là đưa quỹ đất vào sử dụng hợp lý, hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Công cụ của việc quản lý đó là hệ thống hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong tình hình hiện nay, công tác đăng ký đất đai đang là yêu cầu bức xúc và là một nhiệm vụ chiến lược của toàn ngành Địa chính nhằm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính, làm cơ sở để đưa công tác quản lý Nhà nước về đất đai thành một hoạt động bắt buộc và thường xuyên

Hồ sơ địa chính bao gồm rất nhiều vấn đề có liên quan mật thiết với nhau, đòi hỏi những người làm nhiệm vụ này nhất thiết phải nắm được đối tượng và điều kiện đăng ký đất đai, nội dung phải đăng ký, thẩm quyền cấp giấy, thủ tục đăng ký,

hồ sơ đăng ký, việc cấp giấy chứng nhận đặc biệt là ở khu vực đô thị Do đó, những vấn đề này đã được quy định thành các văn bản trong Luật Đất Đai, trong các nghị định, công văn, thông tư… Bởi vậy nó mang tính pháp lý và trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý quỹ đất của quốc gia mình

Hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng hồ sơ địa chính được quy định trong Luật Đất đai, thông tư, nghị định do Nhà nước, chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành:

Trang 26

* Trước khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành

- Luật Đất đai 1993;

- Luật Đất đai sửa đổi bổ sung 1998;

- Luật Đất đai sửa đổi bổ sung 2001;

- Luật Đất đai 2003;

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Thông tư 09/2007/TT- BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 02 tháng 8 năm 2007 về việc hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;

* Từ khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành

1.3.1 Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính ở Việt Nam

* Công tác lập hồ sơ địa chính ở Việt Nam trước năm 1945

Nước ta công tác đạc điền và quản lý điền địa có từ thế kỷ thứ 6 trở lại đây

- Sổ “Địa Bạ” thời Gia Long: được lập cho từng xã phân biệt rõ đất công điền, đất tư điền của mỗi xã, trong đó ghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạng

Trang 27

để tính thuế Sổ địa bạ lập làm 3 bản: bản “giáp” nộp ở Bộ Hộ; bản “bính” nộp đinh

Bố Chánh; bản “đinh” để lại xã Theo quy định hằng năm tiến hành tiểu tu và trong vòng 5 năm phải đại tu sổ một lần Sổ “Địa Bộ” thời Minh Mạng:

Hệ thống này được lập đến từng làng xã và có nhiều tiến bộ so với sổ “Địa Bạ” thời Gia Long Sổ địa bộ lập trên cơ sở đạc điền với sự chứng kiến đầy đủ các chức việc trong làng Chức việc trong làng lập sổ mô tả các thửa đất, ruộng kèm theo sổ địa bộ có ghi diện tích và loại đất, quan kinh phái và Viên Thơ Lại cùng kí tên vào sổ mô tả

Sổ địa bộ cũng lập thành 3 bộ: bản “giáp” nộp Bộ Hộ; bản “ất” nộp dinh Bố Chánh; bản “bính” để lại xã

Theo quy định, hệ thống này cũng được tiểu tu và đại tu định kỳ như thời Gia Long nhưng quy định chặt chẽ hơn Quan phủ phải căn cứ vào đơn thỉnh cầu của điền chủ khi cần thừa kế cho bán hoặc từ bỏ chủ quyền, phải xem xét ngay tại chỗ sau đó trình lên quan Bố Chánh phê chuẩn rồi ghi vào sổ địa bộ

- Dưới thời Pháp thuộc:

Do chính sách cai trị của thực dân Pháp trên lãnh thổ nước ta đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:

+ Chế độ điền thổ tại Nam kỳ

Từ năm 1925 Chính Phủ Pháp chủ trương thiết lập một chế độ bảo thủ điền thổ thống nhất theo sắc lệnh năm 1925, thay thế chế độ địa bộ và chế độ để đương tồn tại song hành trước đây Sắc lệnh này được triển khai áp dụng tại Nam Kỳ

Nét nổi bật của chế độ này là: bản đồ giải thửa được đo chính xác; sổ điền thổ thể hiện mỗi trang sổ cho một lô đất của mỗi chủ trong đó ghi rõ: diện tích, nơi toạ lạc, biến động tăng, giảm của lô đất, tên chủ sở hữu điều liên quan đến chủ sở hữu cầm cố và để đương

+ Chế độ quản thủ địa chính tại Trung Kỳ

Bắt đầu thực hiện từ năm 1930 theo Nghị định 1358 của toà Khâm sứ Trung

kỳ (gọi tắt là bảo tồn điền trạch) Năm 1939 đổi thành quản thủ địa chánh Tài liệu theo chế độ này gồm: bản đồ giải thửa, sổ địa bộ, sổ điền chủ bộ và tài chủ bộ

Trang 28

+ Chế độ điền thổ và quản thủ địa chính tại Bắc Kỳ

Nhà cầm quyền có chủ trương đo đạc địa chính xác lập sổ địa bộ để thực hiện quản thủ địa chính Do đặc thù đất đai ở Bắc bộ manh mún nên bộ máy chính quyền lúc đó đã cho triển khai song song cùng một lúc hai hình thức: đo đạc chính xác, đo đạc lập bản đồ giản đơn 1/1000, lập sổ sách tạm thời để quản lý

Đối với đo lược đồ đơn giản hồ sơ gồm: bản lược đồ giải thửa, sổ địa chính lập theo thứ tự thửa ghi diện tích, loại đất, tên chủ; sổ điền chủ ghi tên chủ và số liệu các thửa của mỗi chủ; sổ khai báo ghi chuyển dịch đất đai

Đối với đo vẽ chi tiết bản đồ giải thửa, sổ địa chính, sổ điền chủ, mục lục các thửa và mục lục điền chủ, sổ khai báo để ghi các khai báo văn tự

* Công tác lập hồ sơ địa chính ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954-1975

Dưới thời này kế thừa và tồn tại 3 chế độ quản thủ điền địa trước đây

- Tân chế độ điền thổ: Theo sắc lệnh 1925 chế độ điền thổ được đánh giá là chặt chẽ và có hiệu quả nhất thời Pháp thuộc Hệ thống hồ sơ thiết lập theo chế độ này gồm: bản đồ giải thửa, sổ điền thổ ghi rõ diện tích, nơi toạ lạc, giáp ranh, biến động tăng, giảm, tên chủ sở hữu, sổ mục lục lập theo tên chủ ghi số hiệu tất cả các thửa đất của mỗi chủ Toàn bộ tài liệu trên lập thành hai bộ lưu tại ty điền địa và xã

sở tạ Chủ sở hữu mỗi lô đất được cấp một bằng khoán điền thổ

- Chế độ quản thủ điền địa

Theo chế độ này phương pháp đo đạc rất đơn giản, các xã có thể tự đo vẽ lược đồ kết thúc hồ sơ gồm: sổ điền bộ lập theo thứ tự thửa, mỗi trang sổ lập 5 thửa;

sổ điền chủ lập theo chủ sở hữu, mỗi chủ một trang; sổ mục lục tên chủ để tra cứu

Hồ sơ cũng lập thành hai bộ lưu tại Ty địa chính và xã sở tại

Đánh giá chung về các hệ thống hồ sơ địa chính của các chế độ trước

Qua việc thực hiện công tác lập hồ sơ địa chính của các chế độ trước ta có thể rút ra một số kết luận sau:

+ Bất kỳ một chế độ xã hội nào, công tác hồ sơ địa chính đều hết sức cần thiết và bức bách Và công tác này trong thời kỳ trước mục đích chủ yếu là nắm

Trang 29

chắc tình hình sử dụng đất phục vụ cho việc tính thuế và tạo cơ sở pháp lý bảo đảm quyền lợi cho chủ sở hữu

+ Tuỳ từng điều kiện hoàn cảnh lịch sử mà áp dụng nhiều chế độ quản lý và

sử dụng nhiều loại hồ sơ khác nhau để phục vụ mục tiêUBND từng thời kỳ đồng thời xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính thống nhất Qua các thời kỳ này ta thấy rằng công tác hồ sơ địa chính luôn được chú trọng xác định quyền sở hữu của yêu cầu pháp lý hồ sơ ngày càng chặt chẽ

+Trong chế độ cũ có nhiều chủng loại hồ sơ và xu hướng chung là hệ thống

hồ sơ ngày càng nhiều tài liệu Điều đó chứng tỏ lịch sử sử dụng đất phức tạp và tình trạng ngày càng sử dụng đất mang mún ở Việt Nam

* Công tác lập hồ sơ địa chính chế độ dân chủ cộng hoà

- Sau Cách mạng tháng 8/1945- 1979

Sau cải cách ruộng đất, chính quyền Cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo, tiếp đó là phong trào làm ăn tập thể ruộng đất tập trung vào các xã Do điều kiện thiều thốn chiến tranh kéo dài hệ thống hồ sơ chế độ cũ để lại không được chỉnh lý và không sử dụng được Trong thời gian này Nhà nước chưa

có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở cho công tác đăng ký đất đai lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hệ thống tài liệu đất đai chủ yếu là bản đồ giải thửa đo đạc thủ công bằng thước dây, bàn đạp cải tiến và sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất Trong đó thông tin về tên chủ sử dụng và tên người sử dụng đất trên sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng không truy cứu đến cơ sở pháp lý

và lịch sử sử dụng đất Nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này là tổ chức cuộc thanh tra về đất để Nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích đất đai phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã

- Từ năm 1980 đến sau khi có Luật đất đai năm 1988

Sau khi Hiến pháp 1980 ra đời quy định hình thức sở hữUBND đất đai Nhà nước quan tâm tới công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 1/7/1980 Chính Phủ có quyết định 201/CP về công tác quản lý đất đai

Trang 30

trong cả nước, Chỉ thị 299/TTG ngày 10/11/1980 Thực hiện yêUBND cầu này Tổng Cục quản lý ruộng đất ban hành văn bản đầu tiên quy định: thủ đăng ký thống

kê ruộng đất theo quy định 56/ĐKTK ngày 5/11/1981,các tài liệu hệ thống hồ sơ theo QĐ56/ĐKTK gồm:

+ Biên bản xác định ranh giới hành chính

+ Sổ dã ngoại

+ Biên bản và kết quả chi tiết đo đạc ngoài đất, trong phòng

+ Phiếu thửa, đơn đăng ký quyền sử dụng đất

+ Bản kê khai ruộng đất của tập thể

+ Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất không hợp lý

+ Sổ đăng ký ruộng đất cho tập thể, cá nhân

+ Sổ mục kê

+ Biểu tổng hợp diện tích

+ Bản thống kê diện tích ruộng đất

+ Mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Biên bản thông báo công khai hồ sơ đăng ký

Việc ban hành các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đăng ký đất đai, lập hệ thống hồ sơ Tuy nhiên, trong thực hiện công tác đăng ký đất đai còn tồn tại nhiều vướng mắc chưa giải quyết được: do chất lượng hệ thống hồ sơ thiết lập theo Chỉ thị 299/TTG còn nhiều tồn tại, hệ thống chính sách đất đai trong qúa trình đổi mới Hơn nữa, trong thời kỳ này, tất cả các địa phương đều tích cực hưởng ứng thực hiện cải cách ruộng đất theo Chỉ thị 100-CT/TW đã tạo ra sự thay đổi lớn về hiện trạng đất đai Vậy mà chủ trương này vẫn chưa thể chế hoá bằng pháp luật gây khó khăn cho việc triển khai đăng ký đất đai Do vậy, công tác triển khai cấp giấy chứng nhận tại các địa phương thực hiện chậm Đến hết năm 1993 cả nước mới cấp giấy chứng nhận cho khoảng 1600.000 hộ nông dân ở khoảng 1500 xã tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long Do chính sách đất đai chưa ổn định, nhiều địa

Trang 31

phương(14 tỉnh) đã thực hiện cấp giấy chứng nhận tạm thời (theo mẫu quy định của tỉnh); cuối năm 1993 đã cấp khoảng 911000 giấy chứng nhận loại này và tính đến thời điểm ngừng cấp giấy chứng nhận tạm thời này tức là giữa năm 1995 thì tổng số giấy chứng nhận tạm là 1050000 giấy

- Sau khi có Luật đất đai năm 1993 Sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 đã tạo ra những thay đổi lớn trong công tác quản lý và sử dụng đất đai ví dụ như: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân; đất đai có giá trị; người sử dụng đất được hưởng các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất…Với những thay đổi đó công tác đăng ký đất đai, lập hồ

sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày càng trở lên bức bách Do vậy các cấp chính quyền, các địa phương phải coi trọng, tập trung chỉ đạo công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính Để phù hợp với việc sửa đổi Luật đất đai Nhà nước

đã ban hành nhiều văn bản quy định làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức triển khai và đẩy mạnh hoàn thành sớm công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính

- Công văn 434/CV_ĐC tháng 7/1993 của Tổng Cục địa chính ban hành tạm thời mẫu sổ sách hồ sơ địa chính thay thế cho mẫu quy định tại Quyết định số 56/ĐKTK năm 1881

- Quyết định 499/QĐ_ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng Cục địa chính quy định các mẫu sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai

- Thông tư 346/1998/TT- TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng Cục địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng Cục địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đây là văn bản mới nhất hướng dẫn công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính thực hiện theo văn bản này quy định rất cụ thể tại Mục II của Thông tư 1990 bao gồm:

Trang 32

1, Hồ sơ địa chính

2, Lập hồ sơ địa chính

3, Phân cấp quản lý hồ sơ địa chính

4, Chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính

Ngoài ra còn quy định rất cụ thể các mẫu sổ sách cũng các mẫu tài liệu liên quan

* Đánh giá tình hình hồ sơ địa chính hiện nay

Hệ thống đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là hạt nhân của hệ thống quản lý đất đai, cần được thiết lập cho được hệ thống đăng ký ban đầu đối với từng thửa đất, sau đó tiếp tục đăng ký biến động khi

có sự thay đổi về thửa đất, chủ sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, giá đất và thuế đất Hệ thống này được thiết lập đầy đủ thì người dân mới có đủ điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong sử dụng đất và Chính Phủ có đủ điều kiện để quản lý chặt chẽ đất đai Từ năm 1989 đến năm 1994 ngành địa chính đã lựa chọn

hệ thống phù hợp với hoàn cảnh riêng của nước ta Đến năm 1995 hệ thống đã được định hình và triển khai đại trà cho đất nông nghiệp; sau đó triển khai đại cho đất ở khu dân cư nông thôn, đất ở khu vực đô thị, đất lâm nghiệp và một số loại đất chuyên dùng Đến nay công việc đăng ký và lập hồ sơ địa chính đã đạt được kết quả quan trọng: hoàn thành cho 95% đất nông nghiệp; 55% đất lâm nghiêp; 50% đất ở nông thôn; 30% đất đô thị Nếu được đầu tư thoả đáng thì chúng ta sẽ sớm hoàn thành công tác này Tuy nhiên, do hệ thống chính sách đất đai đang trong quá trình thay đổi; quy định mẫu hồ sơ địa chính sửa đổi khôn theo kịp sự phát triển của chính sách đất đai; thêm vào đó là khó khăn về tài chính, nhân lực và sự chấp hành các quy định về pháp luật chưa nghiêm do vậy công tác này chưa đạt yêu cầu và có nhiều bất cập Đó là:

Hệ thống bản đồ địa chính chính quy mới lập cho khoảng 30% số lượng thửa đất đã lập hồ sơ địa chính, nên giấy chứng nhận chưa có thực sự đầy đủ cơ sở pháp lý; việc triển khai cho đất đô thị là loại đất có giá trị cao còn quá chậm gây khó khăn cho lành mạnh hóa thị trường bất động sản; việc triển khai cho đất lâm nghiệp

Trang 33

cũng chậm, không đáp ứng được yêu cầu ổn định đời sống xã hội nông thôn và khu vực miền núi Còn những bất cập trong xây dựng hồ sơ địa chính hiện nay:

Một là, chưa thiết lập đầy đủ số bộ hoặc số loại tài liệu theo quy định Mà yêu câù trong công tác này là phải đảm bảo đầy đủ các tư liệu để đảm bảo tính pháp

lý và sử dụng hiệu quả các tài liệu này

Hai là, chất lượng hồ sơ địa chính còn rất hạn chế phổ biến là những sai sót nhằm lẫn, tẩy xoá (khoảng 5-10% số bộ), tiếp theo là chưa ghi đủ, ghi đúng các thông tin theo quy định như: tên chủ sử dụng, mục đích sử dụng Thời hạn sử dụng

…Tất cả điều này làm hồ sơ địa chính không phản ánh hiện trạng sử dụng đất đai

Ba là, hệ thống hồ sơ địa chính lập theo nhiều loại mẫu khác nhau

+ Mẫu ban hành theo QĐ56/ĐKTK Loại sổ này được thành lập trên cơ sở bản

đồ cũ đo theo CT299/TTG và đã lập được 1500 xã Loại mẫu này nhìn chung không

đủ các thông tin cần thiết cho quản lý đất đai, một số thông tin đã lập lại không phù hợp với pháp luật đất đai hiện hành Hơn nữa việc cập nhật theo dõi biến động đất đai

mà sử dụng loại sổ này sẽ rất hạn chế và khó thể hiện đầy đủ các thông tin

+ Mẫu quy định của tỉnh: đã lập ở khoảng 800 xã dưới hình thức sổ giao ruộng đất và cấp giấy chứng nhận cũng như mẫu theo QĐ56/ĐKTK thì mẫu đăng

ký của tỉnh cũng thiếu rất nhiều thông tin theo yêUBND cầu quản lý đất đai và không thể theo dõi cập nhật biến động được

+ Mẫu ban hành theo quyết định 499/QĐ-ĐC được áp dụng triển khai từ giữa năm 1995, song do điều kiện kinh phí có hạn nên sau một năm công tác này mới bắt đầu được triển khai So với hai loại mẫu trên thì nhìn chung mẫu theo quyết định này đã có đầy đủ các thông tin đất đai cần thiết đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai hiện này, bao gồm: thông tin về tình hình tự nhiên, thông tin về kinh tế thông tin

về pháp lý Tuy nhiên, việc đảm bảo tính thống nhất của hồ sơ lưu trong quá trình chỉnh lý biến động là khó khăn vì lưu hồ sơ địa chính tại ba cấp

+ Mẫu theo Công văn 434/CV-ĐC: đã lập ở khoảng 1700 xã Mẫu này nói chung cũng đáp ứng được quản lý đất đai và việc theo dõi cập nhật một số biến

Trang 34

động có thể thực hiện được Song so với mẫu chính thức hiện nay có một số khác biệt về hình thức và một vài nội dung

+ Mẫu sổ sách địa chính (dự thảo) sử dụng trong đô thị có bổ sung thêm thông tin về sở hữu nhà ở đã được ứng dụng tạm thời tại một số tỉnh, thành phố và một số địa phương khác Loại này có vài nhược điểm đang được tiếp tục hoàn thiện

+ Mẫu theo Thông tư 1990/2001 –TT-TCĐC: đây là mẫu quy định mới nhất

Do khi kinh phí có hạn và tổ chức bộ máy địa chính thay đổi do đó công tác này mới bắt đầu triển khai

+ Bốn là, hệ thống hồ sơ thiết lập trên cơ sở đo đạc tạm thời bằng các giải pháp: chỉnh lý bản đồ giải thửa, đo theo CT299/TTG từ năm 1980; khai thác các nguồn số liệu giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp được đo vẽ đơn giản bằng thước dây hay khoanh vẽ trên bản đồ địa hình; sử dụng ảnh hàng không chưa nắn… chiếm tới 2/3 số xã Như vậy, hồ sơ địa chính thiết lập từ nguồn số liệu rất hạn chế, quá cũ, quá thô sơ, không phản ánh kịp sự thay đổi trong sử dụng đất hoặc phản ánh không chính xác, chưa đủ Do vậy Tổng cục địa chính đã có chủ trương chỉ đạo công tác

đo đạc lập bản đồ địa chính mới thay thế cho các tư liệu trên ở các nơi đã hoàn thành cấp giấy chứng nhận (hiện đã đo đạc được khoảng 3000 xã, phường, thị trấn)

Từ thực trạng trên, cho ta thấy rằng việc hoàn thiện hồ sơ địa chính đã được thiết lập ở các địa phương là hết sức cần thiết, cấp bách nhằm nâng cao chất lượng pháp lý của hệ thống hồ sơ địa chính đã lập, đáp ứng yêu cầu khai thác sử dụng trong quản lý biến động đất đai thường xuyên

1.3.2 Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

Năm 2014, huyện Ngân Sơn triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, quản

lý bằng công nghệ thông tin (số hoá) Việc triển khai xây dựng dự án này hết sức tiện lợi trong công tác quản lý, chỉnh lý biến động nguồn dữ liệu đất đai thống nhất

từ tỉnh tới các huyện, thị xã nói chung và huyện Ngân Sơn nói riêng, người dân có thể tìm hiểu mọi thông tin về đất đai thông qua hệ thống này

Trang 35

Huyện Ngân Sơn đang triển khai dự án hệ thống thông tin đất đai hoàn chỉnh bao gồm dữ liệu, trang thiết bị phần cứng, phần mềm; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, kết nối trên mạng để khai thác và sử dụng, đảm bảo sự minh bạch trong quản lý đất đai; là tài liệu cơ sở phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế xã hội trên địa bàn huyện (khảo sát thiết kế các công trình giao thông, các khu du lịch, khu công nghiệp

Dự án được Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện công tác đo đạc bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 cho 11 xã, thị trấn của huyện từ năm 2010, 2011 gắn với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đất (Với diện tích hơn 7.467ha, số lượng hơn 133.700 thửa đất); đối với đất lâm nghiệp đã lập bản

đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các xã, thị trấn trên địa bàn huyện được hơn 57.119 ha, với số lượng hơn 9.200 thửa đất

Để số hóa được cơ sở dữ liệu đất đai tại Ngân Sơn thì phần nội dung rất quan trọng là xây dựng dữ liệu không gian địa chính từ nguồn bản đồ đo đạc mới đã được tập trung triển khai Trong đó, xây dựng tỷ lệ 1:1000 khu vực đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp của 11 xã thuộc phạm vi địa giới hành chính huyện Ngân Sơn; đồng bộ dữ liệu không gian địa chính đa tỷ lệ Tiếp đó, xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính từ nguồn hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xây dựng dữ liệu thuộc tính địa; quét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; biên tập để hình thành kho hồ sơ địa chính dạng số phục vụ kết nối với dữ liệu không gian và thuộc tính địa chính

Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã có hiệu lực Theo đó, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quản lý bằng công nghệ số thống nhất từ trung ương đến địa phương Quản lý đất đai về tình hình triển khai và kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại địa phương theo định kỳ 6 tháng và hàng năm

Hiện nay, phòng đang chủ động chỉ đạo các bộ phận hoàn chỉnh hồ sơ và các văn bản liên quan đến công tác quản lý đất đai để cập nhật hệ thống theo dự án, tuy nhiên với khối lượng công việc là rất lớn và đảm bảo độ chính xác cao vì vậy phòng

Trang 36

đang tiến hành xử lý hồ sơ, đẩy nhanh tiến độ đồng thời vẫn duy trì các công việc khác của phòng

Dự kiến công tác xây dựng cơ ở dữ liệu đất đai tại huyện Ngân Sơn sẽ hoàn thành, đưa vào vận hành, khai thác, sử dụng trước 30/6/2014 Sau khi hoàn thành, cơ

sở dữ liệu được đăng tải trên mạng Internet thì người dân có thể tra cứu ngay một diện tích đất cần tìm kiếm thông tin như biến động về chuyển đổi, diện tích, số lô, số thửa Đây là điều hết sức tiện lợi không chỉ cho công tác quản lý mà còn đối với việc tìm hiểu thông tin của nhân dân Đây là bước đầu tiên để tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện tại những huyện, thị còn lại trong tỉnh từng bước hoàn thành nội dung theo Thông tư 04 và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn

- Đề tài được tiến hành nghiên cứu và đánh giá việc quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn từ đó đưa ra giải pháp để quản lý hồ sơ địa chính đưa vào phục vụ công tác quản lý đất đai huyện Ngân Sơn

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin về đất đai và các văn bản liên quan đến đất đai trên địa bàn huyện Ngân Sơn liên quan đến nhiều cấp ngành Trong phạm vi đề tài tập trung nghiên cứu hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm

Đề tài được thực hiện tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn

2.2.2 Thời gian

Đề tài được tiến hành trong thời gian từ 10/2014 - 10/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn

2.3.2 Sơ lược công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn

2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý hồ sơ địa chính huyện Ngân Sơn giai

đoạn 2010 - 2015

2.3.4 Đánh giá hiểu biết của cán bộ và người dân về công tác quản lý và sử dụng

hồ sơ địa chính

2.3.5 Thử nghiệm cơ sở dữ liệu địa chính trong công tác quản lý nhà nước về đất

đai tại xã Vân Tùng

2.3.6 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý hồ sơ

địa chính tại huyện Ngân Sơn

Trang 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp được sử dụng để điều tra, thu thập các tài liệu số liệu về thực trạng hệ thống hồ sơ địa chính Thu thập các tài liệu, hồ sơ địa chính, giấy mua bán, chuyển nhượng cho tặng, giấy chứng nhận, các File bản đồ (*.dgn), lưới tọa độ, các file số liệu liên quan Những số liệu được lấy tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra hồ sơ địa chính tại các xã thuộc huyện Ngân Sơn Các số liệu này được sử dụng để phân tích về tình hình quản lý hồ

sơ địa chính tại huyện Ngân Sơn Phương pháp điều tra được tiến hành như sau:

Cơ sở chọn mẫu điều tra:

- Đề tài tiến hành chọn 3 xã nằm trên 3 khu vực của huyện Ngân Sơn:

+ Các xã nằm ở phía Bắc của huyện: xã Thượng Ân

+ Các xã nằm ở phía Nam của huyện: Thị trấn Nà Phặc

+ Các xã nằm ở trung tâm huyện: Xã Vân Tùng

- Phương pháp phát phiếu điều tra trực tiếp:

+ Đề tài tiến hành phát phiếu điều tra cho 100 hộ gia đình trên địa bàn 3 xã

được chọn điều tra để tìm hiểu hiểu biết của người dân về công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện

+ Đề tài tiến hành phát phiếu điều tra (40 phiếu) các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác lập, quản lý và khai thác Hồ sơ địa chính Cụ thể là các cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, cán bộ văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Ngân Sơn, Cán bộ địa chính các xã trên địa bàn huyện Ngân Sơn

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Trong quá trình thực hiện đề tài, thu

thập tài liệu, phát phiếu điều tra, kết hợp thêm phương pháp phỏng vấn nhanh, trực tiếp các đối tượng để làm rõ hơn các nội dung chưa được đưa vào phiếu điều tra

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Đây là phương pháp rất sinh động và thực

tế, vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của người phỏng vấn đều được sử

Trang 39

dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó các thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác

2.4.4 Phương pháp phân tích

Phân tích tình hình quản lý và sử dụng hồ sơ địa chính trong thực tế

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Ngân Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có toạ

độ địa lý trong khoảng từ 22010'00" đến 22029'00" độ vĩ Bắc và từ 105050'10" đến

106001'10" độ kinh Đông

Phía Bắc giáp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

Phía Đông giáp huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng và huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Phía Nam giáp huyện Bạch Thông và huyện Na Rì

Phía Tây giáp huyện Ba Bể

Diện tích đất tự nhiên của huyện có 64.587,00 ha và được chia thành 11 đơn

Ngày đăng: 08/08/2016, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Quốc hội nước CHXHCNVN (2003), Luật đất đai 2003, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 2003
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Quốc hội nước CHXHCNVN (2013), Luật đất đai 2013, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 2013
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
1. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2007), Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 2 tháng 8 năm 2007 về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý Hồ sơ địa chính Khác
2. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2009), Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
3. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2010), Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính Khác
4. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2010), Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
5. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2014), Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về Hồ sơ địa chính Khác
6. Chính phủ (2004), Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đất đai Khác
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
8. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2011), Niên giám thống kê tỉnh huyện Ngân Sơn năm 2011 Khác
9. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2012), Niên giám thống kê tỉnh huyện Ngân Sơn năm 2012 Khác
10. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2013), Niên giám thống kê tỉnh huyện Ngân Sơn năm 2013 Khác
11. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2014), Niên giám thống kê tỉnh huyện Ngân Sơn năm 2014 Khác
12. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2015), Niên giám thống kê tỉnh huyện Ngân Sơn năm 2014 Khác
13. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Ngân Sơn (2014), Thống kế, kiểm kê đất huyện Ngân Sơn năm 2013 Khác
14. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Ngân Sơn (2014), Thống kế, kiểm kê đất huyện Ngân Sơn năm 2013 Khác
17. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn (2009), Báo cáo Kết quả giao đất, cho thuê đất và kết quả rà soát, kiểm tra, xử lý đối với các tổ chức vi phạm về quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2009 Khác
18. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg ngày 06 tháng 04 năm 2007 về tăng cường quản lý sử dụng đấ t của các quy hoạch và dự án đầu t ư Khác
19. Tổng cục địa chính (2011), Công văn số 1159/ TCQLĐĐ – CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm 2011 về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Khác
20. Tổng cục địa chính (2011), Hướng dẫn của Tổng cục quản lý đất đai ngày 04/10/2011 về việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 1.1 Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM (Trang 18)
Hình 1.3. Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009 - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 1.3. Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009 (Trang 20)
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Ngân Sơn - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Ngân Sơn (Trang 41)
Bảng 3.3: Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Ngân Sơn - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.3 Biến động sản xuất ngành chăn nuôi huyện Ngân Sơn (Trang 49)
Bảng 3.5: Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp phân theo ngành - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.5 Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp phân theo ngành (Trang 51)
Bảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn (Trang 62)
Hình 3.2 thể hiện cơ cấu 3 loại đất chính trên địa bàn huyện - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.2 thể hiện cơ cấu 3 loại đất chính trên địa bàn huyện (Trang 64)
Bảng 3.9: Tình hình khai thác bản đồ địa chính trong đăng ký đất đai - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.9 Tình hình khai thác bản đồ địa chính trong đăng ký đất đai (Trang 67)
Hình 3.3 tổng hợp số lượng giấy chứng nhận và diện tích đã cấp cho hộ gia  đình, cá nhân và tổ chức - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.3 tổng hợp số lượng giấy chứng nhận và diện tích đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức (Trang 71)
Hình 3.4: Đồ thị thể hiện số lượng các loại tài liệu chính trong Hồ sơ địa chính - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.4 Đồ thị thể hiện số lượng các loại tài liệu chính trong Hồ sơ địa chính (Trang 74)
Bảng 3.12: Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính huyện Ngân Sơn, - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.12 Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính huyện Ngân Sơn, (Trang 75)
Bảng 3.13: Tổng hợp đánh giá của cán bộ về công tác quản lý và khai thác - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.13 Tổng hợp đánh giá của cán bộ về công tác quản lý và khai thác (Trang 76)
Hình 3.5: Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ in giấy chứng nhận - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.5 Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ in giấy chứng nhận (Trang 82)
Hình 3.6: Các bước giao dịch bảo đảm - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.6 Các bước giao dịch bảo đảm (Trang 83)
Hình 3.7: Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụcông tác tách thửa - Đánh giá công tác quản lý và khai thác hồ sơ địa chính huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn
Hình 3.7 Cơ sở dữ liệu địa chính phục vụcông tác tách thửa (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w