LUÂN LÝ HỌC TỔNG QUÁT ĐẠO ĐỨC NHƯ LÀ MÔN HỌC I. NGUỒN GỐC: Từ buổi đầu lịch sử, con người đã luôn đặt ra những câu hỏi về một lối sống đúng và sai và đã đưa ra những câu trả lời qua những bộ luật phức tạp về đời sống đức hạnh được lồng vào trong những phong tục của các bộ tộc. Thế kỷ thứ 6 BC: suy tư cổ được giản lược vào một ngành học (hệ thống tổng quát) về lẽ khôn ngoan được gọi là triết học. Đến các nhà ngụy biện và Socarte: chuyển những suy tư về cơ cấu vũ trụ sang những suy tư về con người, về bản thân, về xã hội. Họ xem xét toàn thể cách sống của con ngừơi và triết học này được gọi là môn đạo đức học. Đạo Đức Học Xét Trên Từ Ngữ: Ethics phát xuất từ chữ ethos nghĩa là phong tục. Như vậy đạo đức học là môn học về phong tục. Phong tục trong tiếng Latinh là Mos (số nhiều là moses tương tự như tiếng Hy lạp nên ta có moral và morality) như vậy môn đạo đức học cũng còn được gọi là triết học về đạo đức, luân lý. Nb: Phong Tục Có Hai Loại. Không phải luân lý là những qui ước, cách thế. Đạo đức những điều đúng sai trong hành vi. Là những kiểu cách có thể thay đổi theo miền, thời gian. Vd: kiểu quần áo, các hình thức nói năng, luật lịch sự. Là những phong tục mang tính nền tảng. Vd: nói sự thật, thảo hiếu, tôn trọng mạng sống và tài sản người khác,.... II. ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC: Đạo đức học nghiên cứu tư cách của con người (tức các hành vi thi hành có ý thức và chủ ý). Khía cạnh quan điểm được đạo đức học sử dụng để nghiên cứu tư cách con người là khía cạnh đúng và sai (điều buộc phải làm và điều không được làm). III. TƯƠNG QUAN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC: Ngòai các bộ môn khác, đạo đức học còn tương quan mật thiết với các môn nhân văn và xã hội. Nhân học Tâm lý học Đạo đức học Xh, Kt, CTrị học Luật học ( luân lý Nghiên cứu phong tục trên bình diện vh và văn minh khác nhau (không phán đóan về đúng và sai). Bàn về hành vi của con người (chỉ tìm hiểu cách thế con người bộc lộ. Không tìm hiểu về bổn phận ). Tìm hiểu về phong tục của con người (= nhân học). Bàn về hành vi (như tâm lý). Nghiên cứu đời sống xh (giống xh, kt, ctrị học) Nghiên cứu về đời sống xh (chỉ khảo xát các định chế xh, kt, ctrị hiện hành (đạo đức xác định chúng nên làm gì để đưa ra các định chế cho quyền và bổn phận.) Đề cập đến cái nên làm. (tuy nhiên khác luân lý ở điểm không lúc nào nó cũng tương hợp hòan tòan Vd: sự vô tội trên pháp lý và phẩm giá.) Học hỏi đúng và sai nơi hành sử của con người. Tuy nhiên thần học khởi đi từ quan điểm thần khải và giáo luật. (ethics dựa trên lý trí tự nhiên.) IV. ĐẠO ĐỨC NHƯ LÀ MỘT KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT Đạo đức học là một khoa học (một ngành tri thức có hệ thống) và là một nghệ thuật. A. Là Khoa Học: khám phá, cắt nghĩa và chứng minh những quy luật của cuộc sống chân chính. Đạo đức học là một khoa học thực hành, nó hướng dẫn con người hành động và sống đúng đắn. Đạo đức học là một khoa học qui tắc. (đưa ra những qui luật, hay qui tắc có liên quan đến sự trọn lành nội tại của con người để hành sử). B. Là Nghệ Thuật: đạt tới kết quả là một cuộc sống tốt lành trong thực tiễn. IV. NỀN TẢNG TRIẾT HỌC CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC Có ba khẳng định triết học có tầm mức quan trọng đặc biệt đối với môn đạo đức học là: Yù chí tự do: không bị ép buộc ngoại tại cũng như nội tại. Linh hồn bất tử: đây là điều khiến con người phải suy xét về hậu quả của hành động mình. Thượng Đế hiện hữu: tự con người áp đặt luân lý cho mình hay phát xuất từ ở trên cao? Việc chấp nhận hay từ chối một trong ba khẳng định này sẽ chi phối sâu xa đến toàn bộ nhãn quan luân lý của một người. V. PHƯƠNG PHÁP CỦA MÔN ĐẠO ĐỨC HỌC Hai phương pháp các khoa học dùng tới là: diễn dịch (tiên thiên ) và qui nạp (hậu nghiệm). Aristot
Trang 1LUÂN LÝ HỌC TỔNG QUÁT
ĐẠO ĐỨC NHƯ LÀ MÔN HỌC
I NGUỒN GỐC:
Từ buổi đầu lịch sử, con người đã luôn đặt ra những câu hỏi về một lối sốngđúng và sai và đã đưa ra những câu trả lời qua những bộ luật phức tạp về đời sốngđức hạnh được lồng vào trong những phong tục của các bộ tộc
- Thế kỷ thứ 6 BC: suy tư cổ được giản lược vào một ngành học (hệ thống tổngquát) về lẽ khôn ngoan được gọi là triết học
- Đến các nhà ngụy biện và Socarte: chuyển những suy tư về cơ cấu vũ trụ sangnhững suy tư về con người, về bản thân, về xã hội Họ xem xét toàn thể cách sốngcủa con ngừơi và triết học này được gọi là môn đạo đức học
* Đạo Đức Học Xét Trên Từ Ngữ:
Ethics phát xuất từ chữ ethos nghĩa là phong tục Như vậy đạo đức học là môn học về phong tục Phong tục trong tiếng Latinh là Mos (số nhiều là moses tương tự như
tiếng Hy lạp nên ta có moral và morality) như vậy môn đạo đức học cũng còn
được gọi là triết học về đạo đức, luân lý
Nb: Phong Tục Có Hai Loại.
Không phải luân lý- là những qui ước,
cách thế
Đạo đức - những điều đúng sai trong
hành vi
Là những kiểu cách có thể thay đổi theo
miền, thời gian Vd: kiểu quần áo, các
hình thức nói năng, luật lịch sự
Là những phong tục mang tính nền tảng.Vd: nói sự thật, thảo hiếu, tôn trọngmạng sống và tài sản người khác,
II ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC:
Đạo đức học nghiên cứu tư cách của con người (tức các hành vi thi hành có ýthức và chủ ý)
Khía cạnh / quan điểm được đạo đức học sử dụng để nghiên cứu tư cách conngười là khía cạnh đúng và sai (điều buộc phải làm và điều không được làm)
III TƯƠNG QUAN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC:
Ngòai các bộ môn khác, đạo đức học còn tương quan mật thiết với các mônnhân văn và xã hội
Nhân học Tâm lý
học
Đạo đứchọc
Xh, Kt, CTrịhọc
Luật học Φ luân lý
Trang 2của conngười (chỉtìm hiểucách thếcon ngườibộc lộ.
Khôngtìm hiểuvề bổnphận )
Tìm hiểu về phong tục
của conngười (=
nhân học)
Bàn về hành vi
(như tâm lý)
Nghiên cứuđời sống xh(giống xh,
kt, ctrị học)
Nghiên cứu vềđời sống xh(chỉ khảo xátcác định chế
xh, kt, ctrịhiện hành(đạo đức xácđịnh chúngnên làm gì đểđưa ra cácđịnh chế choquyền và bổnphận.)
Đề cập đếncái nên làm
(tuy nhiênkhác luân lý
ở điểmkhông lúcnào nó cũngtương hợphòan tòanVd: sự vô tộitrên pháp lývà phẩmgiá.)
Học hỏiđúng và sainơi hành sửcủa conngười Tuynhiên thầnhọc khởi đitừ quanđiểm thầnkhải và giáoluật (ethicsdựa trên lýtrí tự nhiên.)
IV ĐẠO ĐỨC NHƯ LÀ MỘT KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT
Đạo đức học là một khoa học (một ngành tri thức có hệ thống) và là một nghệthuật
A Là Khoa Học: khám phá, cắt nghĩa và chứng minh những quy luật của cuộc
B Là Nghệ Thuật: đạt tới kết quả là một cuộc sống tốt lành trong thực tiễn.
IV NỀN TẢNG TRIẾT HỌC CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC
Có ba khẳng định triết học có tầm mức quan trọng đặc biệt đối với môn đạođức học là:
- Yù chí tự do: không bị ép buộc ngoại tại cũng như nội tại.
- Linh hồn bất tử: đây là điều khiến con người phải suy xét về hậu quả của
hành động mình
- Thượng Đế hiện hữu: tự con người áp đặt luân lý cho mình hay phát xuất
từ ở trên cao?
Việc chấp nhận hay từ chối một trong ba khẳng định này sẽ chi phối sâu xađến toàn bộ nhãn quan luân lý của một người
V PHƯƠNG PHÁP CỦA MÔN ĐẠO ĐỨC HỌC
Hai phương pháp các khoa học dùng tới là: diễn dịch (tiên thiên ) và qui nạp
(hậu nghiệm)
-Aristote đi theo phương pháp tổng hợp: trong tác phẩm Đạo Đức Học.
Trang 3-Thomas theo lối diễn dịch: phần 2 Tổng Luận Thần Học &ø phần 3 Tổng Luận Chống Lại Lương Dân.
Như vậy môn đạo đức học đi theo hai phương pháp trên và những kết luận,nếu được rút ra cách có giá trị thì phải giống nhau Phương pháp quy nạp ngàycàng được ưa chuộng hơn vì được coi là thích hợp hơn đối với triết học mà đạo đứchọc mà một môn trong đó
VI ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN CHIA ĐẠO ĐỨC HỌC
Định nghĩa: là môn học về những qui tắc thực hành quy định cái đúng và sai của
hành xử con người theo như lý trí tự nhiên nhận biết
Phân chia: đạo đức học căn bản và đạo đức học ứng dụng.
- đạo đức học căn bản: thiết định những nguyên tắc rộng lớn quy định mọi hành
xử của con người
- đạo đức học ứng dụng: đem những nguyên tắc căn bản ra ứng dụng chuyên biệt
vào những hình thức chính yếu hay những mẫu mực xử thế của con người
CHƯƠNG II
HẠNH KIỂM CỦA CON NGƯỜI
Không có trẻ sơ sinh tốt hay xấu, nhưng có nhũng con nguời tốt và xấu.
Hạnh kiểm là gì?
Nó bao gồm các hành vi nhân linh (là những hành vi được kiểm soát và ướcmuốn.)
I HÀNH VI NHÂN LINH
Hành vi nhân linh là nhũng hành vi con người làm cách xứng hợp nhất xétnhư là con người
Hành vi nhân linh là những hành vi con người có thể làm chủ bằng việckiểm soát chúng cách có ý thức và muốn chúng cách có cân nhắc
Hành vi nhân linh là kết quả của một tiến trình tâm lý phức tạp gồm: ướcmuốn, ý hướng, bàn định, chọn lựa, ưng thuận, sử dụng và an hưởng
II HÀNH VI ĐƯỢC TRUYỀN KHIẾN
Là các hành vi của các cơ năng do ý chí ra lệnh, tham dự vào sự ưng thuận
của ý chí cũng được gọi là hành vi nhân linh theo nghĩa suy diễn.
A Thomas: hai loại hành vi (nhân linh và nhân sinh)
-Được kiểm soát
-Có ý thức và được muốn (có cân nhắc
kỹ lưỡng)
=> chịu trách nhiệm về nó
-Không làm chủ được
-Không ý thức và không cố tình muốn
=> không chịu trách nhiệm (vd: hítthở, )
Hành vi nhân linh hệ tại ở sự chọn lựa và đồng thuận.
- Trước khi đồng thuận: chưa phải là hành vi nhân linh
Trang 4- Sau khi đồng thuận: là một hành vi nhân linh
=> Do đó, một người có thể mắc tội giết người trong ý hướng (hành vi nhân linhtheo nghĩa chặt là hành vi của ý chí - kiểm soát và ra lệnh cho các cơ năng; haynói khác đi hành vi nhân linh là hành vi do ý chí tạo ra- ý chí là nơi sự chọn lựa vàđồng thuận xảy ra)
II CẤU TỐ CỦA HÀNH VI NHÂN LINH:
Ba phẩm tính của hành vi nhân linh: hiểu biết, chủ ý và tự do.
hoạt động rõ
nét trong hành
vi cân nhắc)
Là sự "muốn" Hành vi chủ ý là hành
vi cố ý (không bị ép buộc nội tại cũngnhư ngoại tại)
* nhấn mạnh sức mạnh của ý chí cách
* nhấn mạnh sự kiện ýchí có tự do chọn lựakhả thể này vào lúc này.NĂM CẤP BẬC HÀNH VI
Hành vi cữơng
Hành vi tự động Nội tại nhưng không được tri thức hướng dẫn (vd: phản xạ,
bài tiết, )
Hành vi chủ ý Phát xuất từ ý chí được tri thức về cùng đích như là cùng đích
Hành vi tự phát Nội tại được tri thức hướng dẫn nhưng không biết mục đích
như mục đích.(vd: cảm giác, trí hiểu, )
Hành vi tự do Là hành vi chủ ý có yếu tố chọn lưạ
Hệ quả của chủ ý: hệ quả (trách nhiệm) của hành vi luôn qui về chủ thể dù hành
vi đã kết thúc
CHƯƠNG III
TRÁCH NHIỆM
I Liệu mọi người có phải chịu trách nhiệm như nhau về hành vi nhân linh củamình?
- Mọi hiểu biết đều không như nhau
- Mọi ý chí đều không ưng thuận ở một mức độ như nhau
=> Có những yếu tố làm tăng giảm trách nhiệm dựa trên mức độ làm chủcủa người đó
A Mức Độ Chủ Yù Như Thế Nào Để Có Được Hành Vi Chủ Yù?
Đặc tính của chủ ý: muốn và ý thức.
Có bốn mức độ ý hướng
Trang 5Yù hướng tiềm ẩn Đã được thực hiện nhưng vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến hành vi
đang thực hiện dù chủ thể không ý thức (vd: đi về nhà )
Yù hướng hiện có Yù hướng có ý thức lúc đang thực hiện hành vi
Yù hướng thường
hằng
Đã có và tiếp tục nhưng không có dấu vết tâm lý (chưa có cơhội)
Yù hướng suy diễn Không được tạo ra nhưng được giả định sẽ như thế nếu tác
nhân ý thức được những hoàn cảnh (vd: bán của ăn trộmgiúp người nghèo )
* ý hướng này được áp dụng khi việc áp dụng sát nghĩa mộtluật nào đó sẽ gây hại nhiều hơn lợi -> có thể cắt nghĩa ýcủa người làm luật và nới lỏng ra trong trường hợp cụ thểcủa mình (vd: làm việc thiện bù lại, )
B Trong Tình Trạng Không Hành Động Thì Có Thể Có Sự Chủ Yù Không? Có.
Chủ ý không thi hành Không có chủ ý thi hành
Có hành vi của ý chí=> tội bỏ sót,
chối nhắc Không có hành vi ý chí.=> không có sựchủ ý
C Những Hậu Quả Có Thể Tiên Liệu Nhưng Không Ước Muốn Cũng Thuộc Hành Vi Chủ Yù?
Cố ý cách trực
=> trong cả hai trường hợp đều phải chịu trách nhiệm
NHỮNG ĐIỀU LÀM TIÊU HỦY HOẶC LÀM GIẢM TRÁCH NHIỆM
Chủ ý: có hai loại
Tác nhân hiểu rõ và đồng ý
hoàn toàn Tác nhân có thiếu sót trong hiểu biết or trongsự đồng ý (vị nể, ) hoặc cả hai yếu tố trên
NHỮNG YẾU TỐ LÀM THAY ĐỔI TRÁCH NHIỆM:
Vô tri Vô tri khả thắng: có thể giảm thiểu trách nhiệm, không tiêu hủy
trách nhiệm
Vô tri bất khả thắng: tiêu hủy trách nhiệm vì không có chủ ý.
Vô tri giả dối: có thể giảm thiểu khi không nhìn thấy tầm mức anh ta
gây ra
Tăng thêm trách nhiệm khi dùng điều đó để chữa lỗi và đểtránh bị phạt (dùng nó như một phương tiện để có thể dễ dàng thihành hành động đó)
Đam mê Tiên nghiệm(nổi lên trước khi ý chí hành động): có thể hủy trách
Trang 6nhiệm Hiếm Thường có thể giảm trách nhiệm, ý chí bị thiên lệch
nên không hoàn toàn tự do
Hậu nghiệm (đam mê được khuấy động bằng cách suy nghĩ về
những đối tượng khơi dậy những đam mê, ): không giảm bớt nhưngcó thể gia tăng trách nhiệm (do có chủ ý làm gia tăng hay củng cố -tự nó mang tính chủ ý)
Sợ hãi (xét
Giảm nhẹ trách nhiệm: hành vi bị thúc đẩy do sự sợ hãi ta kinh
nghiệm (dưới sự cưỡng bách và đe doạ)
Hày vi cưỡng bức không là sự dữ -> có thể nhượng bộ
* phải kháng cự lại nếu là sự dữ luân lý-ít là trong ước muốn, khôngcần kháng cự nếu là điều vô ích và không gây nguy hiểm gì khi ưngthụân
Không có trách nhiệm: khi không ưng thuận.
Giảm thiểu trách nhiệm: khi ưng thuận cách uể oải (vd:thấy mà
CHƯƠNG IV
LƯƠNG TÂM
(năng lực phán đoán điều đúng và điều sai).
Định nghĩa:
Lương tâm là phán đoán thực hành của lý trí về một hành vi cá biệt, nếu tốt
thì phải thực hiện và nếu xấu thì phải tránh
Lương tâm là một chức năng của trí năng thực hành (không tách biệt khỏi trínăng) Trong những phán đoán luân lý thực tiễn, người hướng đạo chính là trínăng
=> vì trí năng có thể sai lầm, nên lương tâm cũng có thể sai lầm
Hạn từ lương tâm được áp dụng cho ba điều sau đây:
Trang 71/ trí năng hình thành những phán đoán về cái đúng và sai của những hành vi
cá biệt
2/ tiến trình lý luận trí năng trải qua để đạt tới phán đoán.
3/ phán đoán - kết luận của quá trình lý luận trên.
TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH NÊN PHÁN ĐOÁN CỦA LƯƠNG TÂM.
Giống như các lý luận diễn dịch luận lý (tam đoạn luận)
Đại tiền đề: một nguyên lý luân lý tổng quát (dạng tiên thiên như: làm lành
lánh dữ, )
Tiểu tiền đề: hành vi cá biệt ở đây và bây giờ.
Kết luận: phán quyết của lương tâm (đúng, sai).
Vd: Đại tiền đề: không được phép nói dối.
Tiểu tiền đề: lời lý giải cho hành vi nói dối của tôi.
Kết luận: tôi không được phép lý giải hành vi này của tôi.
NHỮNG LOẠI LƯƠNG TÂM
Lương tâm tiền kiện Hướng dẫn các hành vi tương lai, thúc dục thi hành
hay xa lánh
Lương tâm hậu kết Phán xét những hành vi quá khứ, nguồn của sự cắn
rứt
Lương tâm lầm lẫn khả
thắng Sự lầm lẫn có thể vượng thắng và phán đoán có thểsửa sai
Lương tâm lầm lẫn bất khả
thắng Lầm lẫn không thể vượt thắng và không thể sửa saiphán đoán
Lương tâm chắc chắn Phán đoán mà không sợ điều trái nghịch có thể
đúng
Lương tâm ngờ vực Phán đoán nhưng e dè sợ điều trái nghịch có thể
đúng Đắn đo
Trách nhiệm phải tuân theo điều lương tâm phê chuẩn hay bác bỏ: có hai quy
luật chính
1 luôn luôn hành động với một lương tâm chắc chắn (Chỉ cần một lương tâm
chắc chắn cách thận trọng là đã đủ, dù lương tâm ấy có thể sai lầm xét theo khíacạnh khách quan Lương tâm là người dẫn đường duy nhất mà con người phải theokhi phải thực hiện những hành vi cụ thể ở đây và now.)
* nếu lương tâm sai lạc thì sao? Nếu là khả thắng thì cần phải được sửa chữa
trước khi hành động Một lương tâm sai lầm khả thắng thì không thể là một lươngtâm chắc chắn
2 không bao giờ hành động với một lương tâm hoài nghi.
* ta phải làm gì với một lương tâm hoài nghi? Phải tìm hiểu và tìm kiếm lời
khuyên
Trang 8* khi điều nghi ngờ chưa được giải quyết thì sao? Nếu phương pháp trực tiếp ở trên
không được thì ta phải nại đến phương pháp gián tiếp qua việc sử dụng nhữngnguyên tắc phản tỉnh (phương pháp trực tiếp buộc phải được sử dụng trước, chỉkhi không đạt được kết quả mới sự dụng phương pháp gián tiếp.)
3 HÌNH THÀNH LƯƠNG TÂM
lãnh vực lý thuyết là thể tiên thiên (những nguyên lý tổng quát)
Lãnh vực thực tiễn hay thực hành là trừơng hợp cụ thể trong thực tiễn ngay
lúc đó
=> Khi giải quyết một mối nghi ngờ trong thực tiễn mà không đụng đến mốinghi ngờ trong lý thuyết là hình thành lương tâm cá nhân
NHỮNG NGUYÊN TẮC PHẢN TỈNH:
1 Luôn chọn con đường luân lý an toàn hơn (trong trường hợp không liên quan
đến tính hợp pháp hay không của hành vi, nhưng chỉ liên quan đến tính chất hữuhiệu của phương tiện mà thôi)
* Có những khi đường lối an toàn hơn lại quá đòi hỏi và bất tiện khiến cuộc sốngkhông thể chịu đựng nổi (vd: nhượng bộ hoài -> bị thiệt thòi quá đáng khi mà vấnđề còn nằm trong vòng hoài nghi.) và như vậy ta trở thành nạn nhân của những kẻxảo quyệt => để tránh những trường hợp trên ta có thể sử dụng nguyên tắc phảntỉnh thứ hai: một luật nghi ngờ thì không buộc
2 Một luật nghi ngờ thì không buộc.(khi có vấn đề về tính hợp pháp hay không
của hành vi)
Aùp dụng cho những tình huống sau: - Không biết có luật đó hay không
- Không biết có áp dụng cho trường hợp nàyhay không
Vd: Cây ăn trái nhà hàng xóm mọc lấn sang nhà tôi Liệu chúng có thuộc về tôi?
- Phương pháp trực tiếp không chứng minh được
=> tôi có thể áp dụng phương pháp hoài nghi thì không buộc
(một lý do đằng sau là: luật lệ mà bị nghi ngờ thì mất đi tính bó buộc củanó)
Nb: - Nếu sự bó buộc bị nghi ngờ thì không còn bó buộc.
- Nếu sự bó buộc là điều chắc chắn, chỉ phương tiện thực tiễn mới bị nghi ngờthì tôi không được sử dụng phương tiện nghi ngờ mà phải sử dụng phương tiệnchắc chắn sẵn có (vd:tôi không được phép lăn tảng đá xuống đồi với một hy vọngmong manh là nó không rơi vào ai - ở đây luật lệ là không có gì nghi ngờ, tôikhông được phép gây nguy hại cho sinh mạng người khác)
Nb: trong đạo đức chúng ta không chỉ xét đến cái gì tốt đẹp hơn, cái cao thượng hợn, nhưng cũng còn xét đến cái mà một nguời nếu theo yêu sách triệt để sẽ làm
gì Một người quảng đại sẽ không mặc cả về các việc thiện cần làm, một người
Trang 9sáng suốt cũng phải biết khi nào mình thi hành một bổn phận buộc ngặt và khi nào mình nên hành xử cách quảng đại.
Trong đời sống cá nhân ta có thể sẵn sàng từ bỏ quyền lợi của mình, và đi xahơn lời mời gọi của bổ phận, nhưng ta không có nhiệm vụ áp đặt lên kẻ khác phảilàm như thế Ta không có quyền tố cáo kẻ khác khi họ không thực sự làm sai
CHƯƠNG V
ĐIỀU THIỆN NHƯ LÀ GIÁ TRỊ
Giá trị là cái đáp ứng nhu cầu, khao khát, hứng thú, cảm xúc, hay giá trị là cái
hấp dẫn chủ thể
Có nhiều loại giá trị Chúng siêu vượt các sự kiện (ie, các sự kiện không thể đáp
ứng trọn vẹn sự mong đợi của chúng ta Tuy vậy chúng luôn đòi hỏiphải được thựchiện.)
GÍA TRỊ HIỆN HỮU
A Các giá trị thật sự hiện hữu hay chỉ trong trí năng? Sự vật thật sự có giá trị hay
ta mặc cho chúng?
Phái duy chủ quan và duy khách quan cho rằng: do con người mặc cho chúng (hữuthể thì khách quan, nhưng giá trị thì chủ quan.)
Do con ngươi mặc cho: những giá trị do quy ước (dầu vậy
chúng cũng không chủ quan hoàn toàn, nếu không chúng sẽkhông giữ được nguyên giá trị ấy.)
Một số giá trị khách quan: ở đây ta có bậc thang giá trị.
Vd: nơi sinh vật -> sự sống là giá trị; nơi cảm gíac -> khoáilạc,
*Giá trị vừa mang tính chủ quan (do con người mặc cho) vừa mang tính khách
quan (tự thân sự vật).
Nói cách khác: giống như ý tưởng, giá trị được rút ra từ các dữ kiện của kinhnghiệm và được thể hiện nơi những con người, sự vật, và những hành động (bằngchứng là ta có thể đánh giá món đồ mình muốn mua, hay đánh giá một conngười, )
Giá trị luân lý có phân biệt với những giá trị trên? Giá trị luân lý là chủ quan hay khách quan?
Trang 10Hầu hết mọi người đều xác tín những phán đoán của mình về giá trị đều có ýnghĩa, và đó là những phán quyết quan trọng.
Ta không thể giảm thiểu hành vi phán đoán luân lý xuống hàng những hành viđược thể hiện do:
- sự cổ võ, cầu chúc, lệnh truyền (cưỡng bức) -> sẽ bị mất đi tính đạo đức học.
- cảm xúc (như khi vỗ tay, thổi sáo, ) -> sẽ không còn yếu tố của việc phân định
đúng sai
- đúng hay sai -> phải còn hợp đạo lý nữa.
NHỮNG GIÁ TRỊ LUÂN LÝ
Giá trị luân lý khác những gía trị khác -> Một học giả, một lực sĩ thì không hẳn
đã là một người tốt
Giá trị luân lý thì không là sự vật ngoại tại, cũng không là chính con người, dù
nó làm cho con nguời trở thành chính loại hữu thể họ phải là
Giá trị luân lý không nằm ở bên ngoài sự kiểm soát của con người (fẩm chất hay
thuộc tính của con người như: sức khoẻ, điều kiện kinh tế khá giả, nằm trong sựkiểm soát của con người.)
Giá trị luân lý là hữu ngã (thuộc về chủ thể) không chỉ bởi con người có được
chúng mà còn bởi vì chúng là biểu hiện của từng nhân vị (nhân cách) độc nhấtcủa mỗi người trong cái tâm điểm thâm sấu nhất của hữu thể họ
* giá trị luân lý hệ tại ở những hành vi tự do chọn lựa của con người - những kết
quả của chúng tạo nên tư cách con người: có những hành vi nhân linh tốt hay xấu,và có những con nguời tốt hay xấu
NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA CÁC GIÁ TRỊ LUÂN LÝ
1 Có thể hiện hữu trong hành vi tự do của người ấy.
2 Phổ quát: buộc người này thế nào thì cũng buộc người khác như vậy.
3 Tự biện minh: ngay lúc đó, ít là ở bề mặt (ie, không thuộc lý do ngoại tại.)
4 Trổi vượt các giá trị khác Như vậy giá trị luân lý chỉ có thể so sánh với giá
trị luân lý
Nb: trong các sự dữ, không được chọn bất cứ cái nào Trong các điều tốt, phảichọn cái tốt hơn
5 Ngầm chứa sự bó buộc (vì bốn lý do ở trên).
LÝ TƯỞNG LUÂN LÝ (mẫu mực luân lý)
Mọi người đều có một lý tưởng về một hữu thể nhân linh sống cách hoànhảo, trở nên chính bản thân mình và tất cả điều mình phải là (dù không ai có thểsống "lý tưởng" đến độ tuyệt hảo)
* Lý tưởng luân lý không là mơ tưởng, nó có thể sống bởi người đó phải sống(lý tưởng như lý tửơng thì không hiện hữu trong thực tế)
TRI THỨC BẰNG LƯƠNG TRI
Trang 11Luân lý học tìm hiểu các quan niệm luân lý đã có được sử dụng mà không cần
thắc mắc nhằm cũng cố và sửa sai những tri thức sơ đẳng (tri thức tiền khoa học)
của ta [Thomas gọi là: tri thức do khuynh hướng hoặc lương tri ] Những tri thức
này từ đâu? Và chính xác đến đâu?
Tri thức này không chỉ đơn thuần là một hoạt động của trí năng nhưng còn kếthợp với giác quan, nó mang đặc tính của một tri thức phi niệm, phi lý luận (ie,không được chứng minh hay dẫn chứng), bất suy lý, nhưng hữu lý (do lý trí hoặctrí năng thi hành)
Nb: Tri thức do lương tri cũng sai lầm => cần đạo đức học phê phán và sửa sai.
(hai loại tri thức này luôn song hành với nhau)
CHƯƠNG VI
ĐIỀU THIỆN LÀ ĐIỀU PHẢI LÀM
(những gì liên quan đến luân lý không chỉ là điều phải làm, mà còn buộc phải biến
thành hiện thực.)
Ai/ Cái gì áp đặt trách nhiệm đó?
Trang 12Theo một ý kiến thô thiển là: do quy ước, do thôi thúc của xã hội (sợ bị xã hộichê bai, chế tài, ).
A Yù Nghĩa Của Nền Luân Lý Quy Ước (có hai loại luân lý ngoài chủ quan và
khách quan)
Tốt Hay Xấu Do Bản Chất Riêng Không Tốt Cũng Không Xấu
Không lệ thuộc sự truyền khiến hay
cấm đoán
=> tự nội, or tự nhiên
Tốt hay xấu là do được truyền khiến haycấm đoán của phong tục, hay luật =>ngoại tại hay quy ước
(vd: phong tục nơi các bộ lạc, )
* Chủ nghĩa duy thực nghiệm về luân lý cho rằng: mọi nền luân lý đều do quy
ước (đến từ một ý chí của ai đó ra lệnh cấm đoán, và không do cái gì nội tại củahành vi nhân linh)
Phê bình:
Một sự thiện được mọi người theo là vì nó tốt, chứ không phải cái gì tốt là vì đượcnhiều người theo
Chủ thuyết duy thực nghiệm coi một số hành vi là đúng hay sai dựa trên:
Lý Thuyết Khế Ước Xã Hội
(luật lệ của nhà nước) Lý Thuyết Sức Eùp Xã Hội(do thói quen )
Hobbles và Rosseau: trước khi
nhà nước xuất hiện, không có cái
đúng cái sai => chối bỏ luân lý
tính tự nhiên (tất cả là do nhất
trí-thoả ước)
Phê bình: có những sự nhất trí
trái với luân lý
Vd: những hủ tục dã man như
phù thủy,
* luật lệ nhà nước: để duy trì trật
tự, an toàn xã hội -> đem lại luân
lý tính ngoại tại cho những hanh
vi tự nội là rửng rưng
Tuy nhiên có hành vi không
thuộc loại này vd: giết người, ăn
cắp, nhà nước cấm vì tự chúng
là xấu, cũng có những hành vi
nhà nước không thể cấm đoán
- Ngụy biện và hoài nghi: luân lý chỉ là phong
tục
- Một số khác: luân lý được những kẻ thông
minh có ảnh hữơng áp đặt để giữ những kẻtiện dân dưới sự phục tùng.(triết lý của ngườinổi loạn)
- Nietzsche: ban đầu không có tốt xấu, chỉ có
mạnh yếu
- Karl Max và Freidrich Engels: những ý
tưởng luân lý, chính trị, nghệ thuật, xã hội,triết lý đều bị tất định bởi điều kiện kinh tế xãhội
- Herbert Spencert (duy tiến hoá xã
hội):nguồn gốc ý tưởng luân lý phát xuất từnhững con vật (nó cùng tiến hoá với conngười)
- Auguste Comte (duy thực nghiệm):siêu hình
là vô ích, triết học phải giới hạn trong những
gì được khoa học khám phá-> khoa học về xãhội
- John Dewey: luân lý là những thói quen,
Trang 13những tập quán bình dân mà tập thể đã hìnhthành
Những lý thuyết trên thất bại trong việc phân biệt giữa cái phải làm và cái buộc phải làm vì bổ phận luân lý, cái áp đặt từ bên ngoài và cái bắt buộc tự bên
trong Sự sợ hãi và ép buộc có tính chất thể lý, nhưng cái cần thiết của luân lý thìkhông như thế
Dù có gạt ra bên ngoài các loại sửa phạt hay chế tài, thì con người vẫn bị bó buộc trên phương diện luân lý phải làm một số hành động và xa lánh một số hành động khác bởi họ nhận thấy mối liên quan giữa các hành động ấy và loại
hữu thể mà họ tất yếu phải là với cái giá trị nội tại của chính họ trong tư cách làmột con người
CHƯƠNG VII
ĐIỀU THIỆN NHƯ LÀ MỤC ĐÍCH
A Nguyên Lý Mục Đích:
Quan điểm của Aristote về điều thiện giống như một định nghĩa: "điều thiện là cáimà mọi vật đều hướng tới"
Oâng định nghĩa mục đích là: "cái mà vì nó một điều được làm ra"
Oâng đưa ra bốn nguyên nhân cho mục đích: chất thể, mô thể, tác thành và cùng đích.
B Điều Thiện Có Thể Được Nhìn Theo Hai Khía Cạnh:
- Hữu Thể: sự thiện của hữu thể thuần tuý.
- Luân Lý: sự thiện của cuộc sống đúng đắn (hướng cách đúng đắn các hành
xử tự do của mình tới mục đích đúng đắn của nó)
* điều thiện đích thực: cái tốt.
* điều thiện bên ngoài: là cái có vẻ tốt.
* điều ích lợi: dẫn đến một cái gì đó tốt.
* điều dễ chịu: thoả mãn một sự thèm muốn riêng tư nào đó.
* điều xứng hợp: hoàn bị hóa toàn thể con người xét như là con người.
Nb: mọi hữu thể là tốt xét về mặt hữu thể, và cũng có một sự tốt lành thể lý nào
đó, nhưng chúng không luôn luôn tốt về mặt luân lý Cái tốt luân lý luôn là cái tốt thật và là cái tốt xứng hợp.
* cùng đích: cái vì nó mà một việc được làm mọi cái tốt đều là cùng đích
và ngược lại
* phương tiện: là cái dẫn đến một mục đích.
* mục đích có thể là: gần, trung gian hay tối hậu (mọi mục đích đều như
thế-tuyệt đối hoặc tương đối)
Nb: mục đích tối hậu tuyệt đối hay là mục đích cuối cùng không phải là một
phương tiện để đạt tới một cái khác nào nữa
Trang 14B Nguyên Lý Mục Đích:
Mọi cách hành xử của con người đều hướng đến một mục đích nào đó "mọi tác nhân hành động vì một mục đích".
Nb: tất cả mọi cach hành xử của con người đều vì mục đích cuối cùng và là mục
đích cao nhất (không thể có một chuỗi vô tận các phương tiện và cùng đích vì ý hướng và việc thi hành đều theo một trật tự trái ngược nhau - ie, mục đích cuối cùng là cái người ta ước mong trước nhất, ).
Người theo chủ nghĩa cơ hội: sống ngẫu nhiên và không chú tâm tới mục đích(một sự bất hợp lý)
Người theo chủ nghĩa tương đối (trên phương diện luân lý) chấp nhận có các mụcđích gần và không chấp nhận có mục đích tối hậu (việc chối mục đích tối hậu đểgiải phóng mình khỏi mọi sự dấn thân này lại chính là mục đích tối hậu của họ -nghịch lý ngay trong chính họ)
Nb: Chỉ có một mục đích tối hậu cho mỗi người và đồng thời là cùng một mục đích
dành cho mọi người Nhiều mục đích mà con người có thể thay cái này cho cái kia
sẽ làm cho con người thiếu cái khác và ở trong tình trạng không thỏa mãn
CHƯƠNG VIII
CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC
Chuẩn Mực Đạo Đức Là Gì? (ý nghĩa của chuẩn mực đạo đức).
Chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn, mực thước để đo lường tính tốt xấu của mộthành vi
I VẤN ĐỀ:
Trật tự luân lý không là sáng tạo của lương tâm cá nhân
Trật tự luân lý không là sáng tạo của lương tâm xã hội
Trật tự luân lý không là một giai đoạn trong tiến trình tiến hoá
=> Trật tư luân lý đến từ đâu?
A Chủ Thuyết Cảm Thức Luân Lý (bản năng luân lý hay trực giác luân lý)
- Shafterbury: thuyết thẩm mỹ luân lý (cảm quan của luân lý là một quannăng đặc biệt của trí khôn, khi áp dụng cho vẻ đẹp luân lý nó trở thành cảm thứcluân lý.)
- Francis Hutcheson: khác Shaferbuyr khi tách cảm thức luân lý ra khỏi cảmquan thẩm mỹ
- Josef Butler: (đồng hoá cảm thức luân lý với lương tâm) một quan năng khácvới trí năng
Trang 15-Thomas Reid: một quan năng luân lý (năng lực nguyên ủy gọi là cảm thứcluân lý, lương tâm,)
-Adam Smith: khả năng luân lý hay lương tâm là tình cảm thuộc bản năng vềđồng cảm
Kết luận: các chủ trương trên đề ra một khả năng phán đoán đúng sai khác với lý
trí Mặc dù một số người (Ralph Cudworth; Samuel Clarke) coi trí năng là quan
năng phán đóan đúng sai, họ vẫn cho quan năng đó khả năng phán đóan mà không phải qua tiến trình lý luận nhưng qua một trực giác về tính cách có phù hợp với Ý của Thượng Đế hay không.
Phê bình: Hiểu biết là chức năng của trí năng Thay thế trí năng bằng một quan
năng khác là giảm hạ cuộc sống luân lý thành bản năng và thú vật
- Đồng nhất công cảm luân lý với cảm quan thẩm mỹ là sai lầm: phán đoán đẹp xấu không đến từ một cảm quan có sẵn, nhưng đến từ suy tư phản tỉnh của trí
- Cảm tính: luôn thay đổi (tuỳ theo điều kiện thể lý và tình trạng cảm xúc)
B Lương Tri: Quan năng được sử dụng để biện phân cái đúng và sai chính là trí
năng hay lý trí
Aristote: một cách nào đó đã chân nhận điều này trong nỗ lực tìm kiếm mực
thước đúng ấn định nhân đức như điểm chung dung giữa mực thước và bất cập vàông đã tìm thấy điều đó qua nhân đức trí năng là thận trọng hay sự khôn ngoan
thực tiễn (trong tác phẩm Nicomachen Ethics).
Thomas: cũng đề cập đến điều này khi bàn về luật tự nhiên và luật vĩnh cửu
ngài nói: "Trong các hoạt động của con người, cái tốt hay cái xấu thì được xét trong tương quan với lý trí, Trong tất cả những cái mà ý chí làm, quy luật kế cận chính là lý trí con người, trong khi quy luật tối hậu chính là luật vĩnh cửu " (St Thomas, Summa Theologica I-II )
LÀM THẾ NÀO BIẾT ĐƯỢC LÝ TRÍ ĐÚNG?
Lý trí đúng được dựa trên:
a mệnh lệnh của lý trí: nêu ra con đường cho ý chí.
b tập quán của lương tri: các chuẩn mực đạo đức thường hằng (thói quen)
được rút tỉa từ lý trí
c bản tính có lý trí của con người: lý trí tìm thấy sự tương hợp hay bất tương
hợp với bản tính của con người (bản tính con người ở đây là bản tính nhân linh tính có lý trí của nó)
Trang 16-d hướng đến một mục đích hợp lý: diển tả được cái hệ qủa hợp lý của loại
bản tính con người
e lý tưởng của lương tri (lý trí đúng): con người không thể có trực giác trực
tiếp theo kiểu Platon nên cần phải có một tiến trình gồm trừu tượng hóa và thănghoa phát xuất từ con người và hành vi nhân linh
QUY LUẬT LUÂN LÝ
(bài tóm 2)
(CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC)
Một chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn để so sánh các hành vi nhân linh,
nhằm xác định tính xấu hay tốt của chúng Một chuẩn mực gần thì có thể áp dụng trực tiếp cho các hành vi; một chuẩn mực tối hậu đảm bảo cho giá trị của chuẩn
mực gần
Lý thuyết về cảm thức luân lý nại tới một khả nămg phân biệt với lý trí đềphán đoán đúng hay sai Chúng ta không cần đến một khả năng như vậy; nó sẽlàm cho cuộc sống luân lý trở thành phi lý và như vậy không xứng đáng với hữuthể nhân linh có lý trí
Con người dùng trí thông minh hay lý trí để phân biệt cái tốt và xấu về mặt luân lý Bởi lý trí có thể rơi vào lầm lẫn, cho nên cần phải là lý trí đúng hay là
lương tri Làm sao ta có thể biết được khi nào lý trí là đúng? Chính lý trí phải là người xác định Lý trí là đúng khi nó được thi hành một cách hợp lý, nhất quán với
chính bản thân mình, trung thành với luật lệ riêng của nó Lý trí đúng (lương tri) là mệnh lệnh của lý trí thực thành (hướng dẫn hành động qua việc hình thành các
phán quyết thực tiễn để tạo nên sự suy xét, giới thiệu sự thiện cho ý chí, các lý chứng thuận cho sự thiện đó, và tính chất bó buộc của sự thiện luân lý và sự hợp
lý khi chọn lối này - ở đây lý trí hành động như một người hướng đạo), một tư thế thường hằng của các nguyên lý đạo đức (tập quán của lương tri: dựa vào việc nó
thường hằng sở h74u các nguyên tắc được rút tỉa một cách hợp lý - thói quen này nằm ở giữa lương tâm tức tập tính về các nguyên tắc đầu tiên được biết tới bằng một tri thức đồng nhiên, và nhân đức thận trọng có nhiệm vụ đem áp dụng những
nguyên tắc trên vào những hành vi riêng rẽ), là bản tính nhân sinh có lý trí (lý trí
tìm thấy sự tương hợp và bất tương hợp của một số hành vi đối với bản tính đó - là
bản tính con người xét như là có lý trí), một sự hướng đến các mục đích của lý trí (bản tính của lý trí là hướng đến mục đích Lý trí có thể nhìn thấy tính năng động
nội tại của hữu thể con người, nhưng khả năng và năng lực hướng đến sự hoàn thiện, và sự th1ch hợp của một vài hành vi và những đối tượng để góp phần vào sự hoàn thành hữu thể con người - chính mục đích phải là một điều thiện khi ta xét
đến nỗ lực đạt tới nó là điều tốt), một lý tưởng luân lý được phát triển theo lý trí (có thể được đồng nhất với trật tự lý trí khách quan, với phẩm trật những sự hoàn
Trang 17hảo và những giá trị mà lý trí phải nhận biết một cách tất yếu-ta không thể trực giác trực tiếp về các bản chất đời đời trong một thứ thiên đàng nào đó của Platon, nên lý tưởng luân lý phải được tìm ra qua một tiến trình gồm trừu tượng hoá và thăng hoa phát xuất từ những hữu thể con người và hành vi nhân linh mà ta kinh nghiệm trong cụ thể) Trong tư cách là một chuẩn mực, lý trí đúng (lương tri) bao
gồm tất cả những điều ấy
Trong việc suy xét trước khi đi đến một hành động nào:
1 Ta lưu ý đến mệnh lệnh chủa lý trí thực tiễn nêu ra con đường đúng.
2 Ta kiểm tra con đường đó dựa vào chuẩn mực đạo đức ta có được một cách
thường hằng gồm các chuẩn mực đạo đức đã được rút tỉa từ lý trí.
3 Ta duyệt xét các chuẩn mực và nhận ra là chúng diễn tả cái hệ quả hợp lý
của loại bản tính mà ta có.
4 Ta thấy rằng hành vi mà ta đang hoạch định sẽ giúp ta đạt đến mục đích mà
năng động cơ nội tại đang thúc đẩy ta phải vươn lên
5 Ta nhận ra rằng chính cái mục đích này không chỉ là một cái tốt cho ta, mà
cón nhận ra rằng nó chính là lý tưởng của sự thiện luân lý.
Lý trí đúng (lương tri) lưu tâm đến bản tính nhân linh được nhìn cách toàndiện trong mọi mối tương quan của nó
Các phần của nó gồm:
- Về mặt siêu hình học: động vật tính và lý tính (đời sống thú vật không thì
không đủ)
- Về mặt thể lý: xác và hồn.
- Về mặt toàn diện: các chi thể và các khả năng.
Các mối tương quan:
- Tạo vật: đối với Thượng Đế
- Xã hội: đối với đồng loại
- Tương quan sở hữu: đối với các loài của cả trái đất (con người cần sử dụngchúng: đồ ăn, )
Mọi vật đều được ấn định phải hành động theo bản tính của mình, bởi bảntính chính là yếu tính của một vật, đươc hiểu như là nguyên lý nội tại điều hướng
hành động của nó Lý trí là một phần của bản tính có lý trí và là nguyên lý hướng dẫn các hữu thể tự do lý trí có thể phê phán chính mình và biết khi nào mình
đúng Bởi đó, khi xem xét toàn bộ bản tính nhân linh trong tất cả các phần của nóvà trong toàn thể các mối tương quan của nó, lý trí đúng chính là chuẩn mực đạođức
Đó là chuẩn mực gần và thực tiễn, bởi không có gì khác có thể hoàn thànhcác nhiệm vụ chủ yếu của một chuẩn mực:(tính thực hành của chuẩn mực đạođức)
1 Chuẩn mực ấy cung cấp luật đạo đức chung cho hết mọi người
Trang 182 Nó cung cấp mọi luật đạo đức cho từng người.
3 Nó bất biến nhưng lại áp dụng được trong mọi trường hợp
4 Nó luôn luôn hiện diện và rõ ràng đối với mọi người
Chương 10 LUẬT
Ý NGHĨA CỦA LUẬT
Theo đúng nghĩa luật là thước đo những hành vi, hướng dẫn chúng đến nhữngmục đích riêng biệt (= cái bó buộc ta hòa hợp hạnh kiểm với chuẩn mực đạo đức)
Nó áp đặt một vài loại tất yếu trên những hữu thể mà nó hướng dẫn Có thể có hai
* không phải mọi thứ tự do đều tốt: hạn từ tự do theo nghĩa rộng bao gồm một
thứ phóng túng sai trái cũng như một tự do đích thực
=> mục đích của luật là hủy bỏ thứ tự do phóng túng và củng cố tự do đíchthực
Có ba thứ tự do tương xứng với ba thứ ràng buộc:
- Ràng buộc thể lý: chỉ cản trở những hành động thể lý mà thôi(>< tự do thongdong)