1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững

140 901 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 7,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “ Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng

để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Nghệ An, ngày 03 tháng 6 năm 2016

Tác giả luận án

Nguyễn Thƣợng Hải

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “ Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bên vững”, tôi đã nhận được

rất nhiều sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, tập thể Ban Lãnh đạo Khoa Sinh học, Phòng Sau đại học Trường Đại học Vinh, các thầy giáo, cán

bộ Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Viện Dược liệu Tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn, PGS.TS Phạm Hồng Ban, những thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ

An, các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác, gia đình và bạn bè , đã tạo điều kiện, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 3

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… ……….…1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án……….……… 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án……… 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án……… 2

3.1 Ý nghĩa khoa học……….……2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn……… 2

4 Những điểm mới của luận án……….…2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 5

1.1.Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc……….…5

1.1.2 Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới ……….9

1.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam……… 9

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc………10

1.2.2.Tình hình điều tra, đánh giá, trồng bảo tồn……… 12

1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Nghệ An……….…16

1.4 Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc ở huyện Quế Phong………… 20

1.5 Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Quế Phong………23

1.5.1 Vị trí địa lý………24

1.5.2 Diện tích, khí hậu……… 25

1.5.3 Điều kiện xã hội……… 28

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 30

2.2 Nội dung nghiên cứu………30

2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 30

Chương3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN………36

3.1 Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài cây thuốc ……… …….36

3.1.1 Đa dạng về bậc ngành……… 36

Trang 4

iv

3.1.2 Đa dạng về các lớp trong ngành Ngọc lan……….… 37

3.1.3 Sự đa dạng về số lượng loài trong các chi, họ……….39

3.1.4 So sánh cây thuốc huyện Quế Phong với hệ cây thuốc Việt Nam……….41

3.1.5 Đa dạng về dạng thân, nơi sống và cách sử dụng cây thuốc……….42

3.1.5.1.Đa dạng về dạng thân cây của các cây thuốc ………… 42

3.1.5.2 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống……….……….43

3.1.5.3 Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận khác nhau……….45

3.2 Những cây thuốc bị khai thác nhiều, cây thuốc trong Sách đỏ … ………47

3.2.1 Mô tả, bổ sung công dung những cây thuốc…… ……….…… 47

3.2.2.Hiện trạng những cây thuốc quý trong Sách Đỏ Việt Nam……….………80

3.2.3 Bổ sung danh lục cây thuốc Việt Nam……….…… 89

3.3 Các bài thuốc của người dân tộc Thái ở huyện Quế Phong………….…… 95

3.3.1 Các nhóm bệnh được người dân tộc Thái huyện Quế Phong …….…… 95

3.3.2 Một số bài thuốc được đồng bào dân tộc Thái sử dụng……….…… … 97

3.3.2.1 Nhóm bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…)….…………97

3.3.2.2 Bệnh về tiêu hoá (dạ dày, tả, lị, ngộ độc, giun sán…)………98

3.3.2.3 Nhóm bệnh ngoài da (nhiễm trùng, lở, mụn nhọt…)……….…….99

3.3.2.4 Các bài thuốc bồi bổ sức khoẻ……….… 100

3.3.2.5 Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh, nhức mỏi…)……….101

3.3.2.6 Các bài thuốc về nhóm bệnh hô hấp (ho, phế quản, phổi…) … 102

3.3.2.7 Bệnh của trẻ em (suy dinh dưỡng, ho, giật mình, mẩn ngứa…) 103

3.3.2.8 Động vật cắn (rắn, chó dại, sên, vắt )………103

3.3.2.9 Bệnh về xương (bong gân, gãy xương, đau khớp…)………… 103

3.3.2.10 Bệnh về thận (sỏi thận, lợi tiểu, viêm thận…)……….…… 104

3.3.2.11 Bệnh về gan (viêm gan, xơ gan, vàng da…)……… … …104

3.3.2.12 Bệnh về răng……… ……… ……104

3.3.2.13 Bệnh của phụ nữ……… …104

3.3.2.14 Bệnh về mắt……….…….105

3.3.2.15 Bệnh ung thư (u, hạch…)……….………106

3.3.2.16 Nhóm bệnh khác……….……… 106

Trang 5

v

3.3.3 Đa dạng về phương pháp bào chế thuốc……… 108 3.3.4 Một số kết quả ban đầu về kiểm nghiệm thực tế và cơ sở khoa học 109 3.3.4.1 Kết quả điều tra thực tế hiệu quả của một số bài thuốc………… …109 3.3.4.2 Kết quả kiểm chứng bài thuốc chữa viêm khớp dạng ong đốt.….……110 3.3.4.3 Xác định thành phần hóa học có trong thân cây Hoa dẻ lông đen ….110 3.4 Vấn đề bảo tồn tri thức bản địa và phát triển tài nguyên rừng…….…113 3.4.1.Thống kê số lượng người sử dụng thuốc dân tộc Thái trên địa bàn…… 114 3.4.2 Thực trạng cây thuốc huyện Quế Phong và vấn đề bảo tồn……… 117 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………119 Danh mục các công trình đã công bố

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Phụ lục 1: Danh lục các loài thực vật được người dân tộc Thái sử dụng làm thuốc

ở huyện Quế Phong

Phụ lục 2: Ảnh một số loài cây thuốc

Phụ lục 3: Các hợp chất hóa học đã được tìm thấy có trong các loài cây thuốc ở huyện Quế Phong

Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acidt uric có trong máu của các bệnh nhân

bị bệnh gút

Phụ lục 5: Các mẫu phiếu điều tra

Phụ lục 6: Danh sách các ông lang, bà mế hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Quế Phong

Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Hoa dẻ lông đen

Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Dây lửa ít gân

Trang 7

vii

Danh mục các biểu đồ Hình 3.1 Số lƣợng tỷ lệ % các taxa của các ngành cây làm thuốc Hình 3.2 Tỷ lệ % Sự phân bố họ, chi, loài trong hai lớp

Hình 3.3 Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc

Hình 3.4 Phân bố các loài cây thuốc

Trang 8

viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH

Hình 3.1 Số lượng tỷ lệ % các taxon của các ngành cây làm thuốc

Hình 3.2 Sự phân bố họ chi, loài trong hai lớp của ngành Ngọc lan

Hình 3.3 Biểu đồ biểu hiện sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các chiHình 3.4 Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở huyện Quế PhongHình 3.5 Phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống

Hình 3.6 Phân bố số lượng các bộ phận sử dụng của cây thuốc ở huyện Quế PhongHình 3.7 Sự đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc ở

Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện đa dạng về cách sử dụng

Hình 3.9 Tỷ lệ số người dùng thuốc dân tộc ở các xã trên địa bàn

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung và huyện Quế Phong nói riêng có dân số lớn, phân bố rộng, trình độ dân trí thấp, đời sống cơ bản đang gặp nhiều khó khăn Do đặc thù về vị trí địa lí nên người dân ở đây đang chịu nhiều thiệt thòi Các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là vấn đề chăm lo sức khỏe của nhân dân Dân số các đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn (90%) so với dân số toàn huyện, trong đó dân tộc Thái có 50.523 người, chiếm khoảng 80% Qua tìm hiểu chúng tôi thấy đồng bào Thái đang lưu truyền rất nhiều bài thuốc chữa bệnh hay, thậm chí một số bài thuốc truyền thống còn chữa bệnh hiệu quả hơn các phương pháp chữa bệnh tiên tiến khác

Do dân cư phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở,

cơ sở y tế nghèo nàn, thuốc tây vừa thiếu, giá lại đắt nên ở đây người dân chủ yếu chữa bệnh bằng kinh nghiệm của các ông lang bà mế Đồng bào Thái gọi thầy thuốc là “Xây hạc may” Xây có nghĩa là thầy, hạc may nghĩa là rễ cây, “Xây hạc may” có nghĩa là người thầy dùng cây để chữa bệnh Trên thực tế, các ông lang bà

mế không nhiều, các bài thuốc chủ yếu chỉ truyền trong gia tộc, một số thầy lang không truyền lại được cho đời sau Như vậy, nguy cơ về việc thất truyền các bài thuốc là có thật và việc chữa bệnh của đồng bào dân tộc Thái sẽ ngày càng khó khăn hơn

Người Thái sống chủ yếu dựa vào nguồn cung cấp lương thực, thuốc men

từ rừng, đó là nguồn tài nguyên vô giá Tuy nhiên, nhưng năm gần đây nguồn tài nguyên rừng đang bị tàn phá nghiêm trọng và ngày càng cạn kiệt Nạn chặt phá rừng, khai thác không có kế hoạch, ô nhiễm môi trường… đang diễn ra hàng ngày, song song với những vấn nạn đó thì cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái cũng dần dần bị biến mất một cách nhanh chóng

Trang 10

2

Hiện nay, việc nghiên cứu cây thuốc ở vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt ở Quế Phong - một huyện vùng núi cao giáp Lào, nơi chứa đựng một kho tàng cây thuốc và các bài thuốc dân gian có giá trị của dân tộc miền núi, đây là nguồn tư liệu tốt cho nền y học nước nhà Xuất phát

từ thực tế đó nên tôi chọn đề tài “Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững”

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Đánh giá tính đa dạng về cây thuốc tại huyện Quế Phong, đặc biệt tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; thu thập các bài thuốc dân tộc Thái trên địa bàn nghiên cứu để bảo tồn tri thức bản địa

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

3.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đánh giá một cách có hệ thống các loài cây thuốc trên địa bàn huyện Quế Phong, thu thập các bài thuốc, cung cấp tư liệu cho ngành dược, y học cổ truyền Việt Nam

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Huyện Quế Phong trong đó có Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú, đặc biệt có nhiều loài thực vật làm thuốc giá trị Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về thực vật học dân tộc tại huyện Quế Phong nói chung và Pù Hoạt nói riêng đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, do đó cần phải nghiên cứu cụ thể để phục vụ công tác bảo tồn

Luận án ngoài việc thống kê, đánh giá tính đa dạng cây thuốc còn ghi chép các bài thuốc của các ông lang, bà mế để phục vụ cho việc lưu giữ cho thế hệ sau, bảo tồn tri thức bản địa

Đề xuất và đã thực hiện việc bảo tồn cây thuốc có giá trị trên địa bàn nghiên cứu

4 Những điểm mới của luận án

Trang 11

+ Thu thập nhiều bài thuốc thuộc nhiều nhóm bệnh khác nhau

+ Mô tả đặc điểm sinh học, điều kiện sinh thái, công dụng của 64 loài cây thuốc có giá trị

+ Xác định thành phần hóa học của 2 loài cây thuốc Hoa dẻ lông đen (Desmos cochinchinensis) và cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia)

+ Trồng bảo tồn cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia) theo phương pháp bảo

tồn nội vi (in-situ) vàbảo tồn ngoại vi (ex-situ)

5 Bố cục của luận án

Luận án gồm 119 trang, phụ lục 138 trang

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 6 trang Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 84 trang

Phụ lục

Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan 2 trang

Phụ lục 1: Danh lục các loài thực vật làm thuốc 49 trang

Phụ lục 3: Các hợp chất hóa học có trong các loài cây thuốc 16 trang Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acidt uric các bệnh nhân

bị bệnh gút

8 trang

Phụ lục 6: Danh sách các thầy lang trên địa bàn huyện Quế

Phong

6 trang

Trang 12

4 Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây hoa dẻ lông đen 18 trang Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong cây dây lửa ít gân 16 trang

Trang 13

5

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc một số nước trên thế giới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc

Trên thế giới, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đều có những nền y học cổ truyền mang nét đặc trưng Các nghiên cứu có mức độ khác nhau tùy thuộc vào

sự đầu tư và phát triển của quốc gia đó

Theo Anon (1996), trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm

1878, Charles Pikering đã chỉ rõ “ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa, v.v.) để làm lương thực và chữa bệnh [1]

Trung Quốc và Ấn Độ được xem là cái nôi của y học cổ truyền Các bài thuốc chữa bệnh bằng cây cỏ hình thành sớm nhất ở các quốc gia này Từ năm 3216 hoặc 3080 tr.CN, Thần nông – Một ông vua, đồng thời cũng là một nhà dược học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe của con người Ông

đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng cách uống, nếm rồi ghi chép tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách "Thần nông bản thảo", gồm 365 vị thuốc rất có giá trị [37]

Vào đầu thập kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để

chữa bệnh như: Nước chè đặc, rễ cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum), vỏ rễ cây Táo tầu (Zizyphus vulgaris) …để chữa vết thương; dùng các loài nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, giảm thiểu

kích động, sáng mắt …[37]

Cách đây 3000 - 5000 năm, người dân Trung Quốc đã dùng cây đại hồi (Illicicum verum) , người Ai Cập dùng nhiều loài trong chi Hương nhu (Ocimum L.) để làm thuốc [91], người Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc

đặc để trị kiết lị và tiêu chảy [38], cư dân một số nơi tại bang Madya Pradesh

Trang 14

6

dùng hương lau (Vetiveria zizaniodes) để trị giun sán, ngoài ra còn có tá dạng

chống nấm, diệt khuẩn và xua đuổi côn trùng [43] Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc tại đất nước này như: Nghiên cứu của Ackerman W L vào năm 1978 về cây Sơn tra, hay của Akhtar Husain và các cộng sự về các cây có chứa tinh dầu [37]

Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Pery đã nghiên cứu và công bố hơn 1000 công trình khoa học

về thực vật và dược liệu được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài

có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông Á và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and Southeast Asia, 1985"[107]

Người Philipin dùng cải ma (Blumea lacera), để điều trị ho và mau lành vết thương Cây bạc hà (Mentha arvensis ) được nhiều nước trên thế giới sử dụng

phổ biến trong y học dân gian như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản [62]

Ở châu Âu dược thảo rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Ông đã viết hàng trăm cuốn sách

và đã được áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm[1]

Vào thế kỷ XVIII, William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra

sự phát triển trong lịch sử y dược học [1]

Hiện nay, theo Đỗ Huy Bích, Trần Văn Ơn ước lượng có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 -300.000 loài cây cỏ được sử dụng, vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn

Độ có khoảng 7.500 loài, Inđônnêxia có 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có 700 loài, SriLanka có khoảng 550-700 loài [12]

Andrew(2006), đã tham khảo về lịch sử cổ truyền và dân gian của từng loại cây đồng thời giải thích rõ những điều mà các nhà khoa học đã nghiên cứu về các

Trang 15

Song song với sự phát triển của Khoa học Công nghệ, con người đã khai thác tinh dầu trong cây thuốc để phục vụ cho việc chữa bệnh rất hiệu quả Các nước Trung Hoa, Ấn Độ, Inđônêxia đã trở thành những nước sản xuất và chế biến tinh dầu có khối lượng lớn Các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sỹ, Nhật Bản…rất chú trọng việc nhập tinh dầu thô và tái xuất các sản phẩm đã qua chế biến đem lại lợi nhuận khổng lồ Nhu cầu về tinh dầu của các ngành công nghiệp dược phẩm ngày càng tăng lên Trong những năm từ 1965 đến 1970, khối lượng tinh dầu được sản xuất và chế biến trên toàn thế giới là 25.000 - 35 000 tấn, nhưng đến năm 2000 đã lên đến 80.000 tấn, trong đó chỉ riêng Trung Quốc sản xuất được 20.000 tấn, Braxin 17.000 tấn Năm

1990, Trung Quốc là nước xuất khẩu 14.963 tấn tinh dầu và thu về 141.967.000 USD Giá cả tinh dầu trên thị trường không giống nhautuỳ thuộc vào chất lượng,

số lượng, nhu cầu và chủng loại Quí và đắt nhất là tinh dầu Trầm hương (96 -

100 ngàn USD/kg), sau đó đến tinh dầu hoa Hồng (7.300 - 7.600 USD/kg) và tinh dầu Vông vang (5.000 USD/kg) [63] Riêng sản lượng chung của loại tinh dầu bạc hà trên thế giới hàng năm vào khoảng 7.500-9.000 tấn Trung Quốc, Ấn

Độ, Braxin là những nước sản xuất tinh dầu bạc hà lớn nhất thế giới [106] Khối lượng tinh dâu hoắc hương hàng năm trên 1.000 tấn, các nước sản xuất tinh dầu hoắc hương nhiều nhất là Inđônêxia, Trung Quốc, Malaixia và Singapo [74] Điều này chứng tỏ rằng ở các nước công nghiệp, phát triển cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng rất mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho con người

Trang 16

8

Từ năm 1990 các tác giả: Chung R C K & Purwaningsh, Flach M & Rumawas F., Flash M & Siemonsma J S, Jansen P C M., Kochummen K M., Wong W C., Sudo S & Frietema F T., Latiff A M., Lememns R.H.M.J & Wulijarni – SoetjiptoN., Lucie Widowati, Marfu ah Wardani, Mulyati Rahaya N

& Halijah Ibrahim, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc, tinh dầu đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” [111]

Boelens M H (1994) cũng đã có công trình nghiên cứu đánh giá hoạt chất và đặc tính hóa học của tinh dầu các loài cỏ ở vùng nhiệt đới [105]

Brian M Lawrence (1994) đã công bố nghiên cứu về tinh dầu các loài thực vật.Trong giai đoạn 1994-1997 đã có nhiều nghiên cứu về tinh dầu như của Makkar H.P.S., Backer K, Charles D J., Simon J E., Widrlechner M P., Singl

N K [105]

Trung Quốc có bá rộng rãi một dược phẩm mới mang tên “Di-fu-zi”, đây

là loại thuốc có tác dụng lợi tiểu và chống nấm được chế biên từ cây

Chenopodium ambrosioides [63]

Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính

mạnh được điều chế từ một loài Hoa hồng (Catharanthus roseus) Theo Richard

Primarck (1995) ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% [72]

1.1.2.Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới

Trước đại chiến thế giới lần thứ nhất, đảo Java của Inđônêxia đã trồng

Hương lau (Vetiveria zizaniodes) để xuất khẩu sang châu Âu (chủ yếu xuất khẩu

sang Đức, Pháp, Anh) [62] Hiện nay ở Philipin và Inddooxixia đã đưa loài dầu

giun (Chenopodium ambrosioides ) để làm thuốc [63] Tại Inđonêxia người ta đã trồng địa liền (Kaempferia galanga ) tại miền Trung đảo Java và Miền tây đảo

Sumatra đã đạt khoảng 2000 ha, với sản lượng thân rễ tươi chừng 20.000 tấn/năm

[111] Những năm gần đây Ấn Độ, đã trồng và sản xuất Gừng (Zingiber officinale) với diện tích ngày càng tăng Năm 1980 là 300.000 tấn, đến năm 1990

Trang 17

9

lên 500.000 tấn, năm 1998 lên tới 600.000 tấn, các nước Trung Quốc, Inddooneexxia, Nigieria, Jamaica… là những nước sản xuất Gừng nhiều nhất thế giới [111]

Hiện nay tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam của Trung

Quốc, nhiều nơi tại Nhật Bản cây màng tang (Litsea cubeba ) được coi là đối

tượng gieo trồng rừng và đã tạo ra thành những quần thể trên diện tích lớn để lấy quả cất tinh dầu, làm dược liệu [62]

Theo P Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [16] Để phục vụ mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho con người, và để chống lại bệnh tật, thì sự kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với Y học cổ truyền của các dân tộc là điều cần thiết Chính từ những kinh nghiệm của Y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loài thuốc

có ích Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về mục tiêu thực hiện chương trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc

1.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về cây thuốc

Dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ Trung đại dưới nền đô hộ của các triều đại Triệu- Hán - Nguỵ - Tấn - Tống - Tề - Lương - Tuỳ - Đường (179 tr CN

- 938 sau CN) Dưới các thời kì này, người Việt Nam thuộc tầng lớp trên đã được giới thiệu một nền y học kinh điển thông qua các thầy thuốc đến từ Trung Quốc như Đổng Phụng (187 - 226), Lâm Thắng (479 - 501) Trong giai đoạn này, một số dược liệu của Việt Nam đã được ghi vào Dược điển của Trung Quốc như: Ý dĩ, Sắn dây (Danh Y biệt lục), Đậu khấu (Hải Nam bản thảo - đời Đường), Sử quân tử (Bản thảo khai bảo - đời Tống), Sả (Bản thảo thập di)

Trang 18

Tuệ Tĩnh được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam Ông đã biên soạn bộ sách “Hồng Nghĩa giác tư

y thư”biên soạn bằng quốc âm, trong đó có 630 vị thuốc, giới thiệu 13 đơn thuốc

chữa tạp bệnh, 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn (Thập tam phương thuốc gia giảm và tam thập thất tùy pháp) [56], [35]

Đến thời vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Lê trung hưng, ở ngôi từ năm 1705 đến năm 1729 thời vua Lê Dụ Tông lại được biết đến Danh y Hải Thượng Lãn Ông, [56], [33] Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như “Y tông tâm lĩnh” (1770), nay người ta gọi là “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được viết trong vòng 10 năm, gồm

28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và“không chỉ có giá trị về

y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học”[33]

Thời kỳ Tây Sơn (1788-1802) có Danh y Nguyễn Quang Tuân có tập “Nam Dược”, “Nam dược chỉ danh truyền”, “La khê phương dược” ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [38],[120]

Danh y Gia Phan (1748 – 1817), ông là tác giả các bộ sách “Liệu dịch phương pháp toàn tập” viết về bệnh truyền nhiễm; “Hộ Nhi phương pháp tổng lục”, viết về Nhi khoa và “Lý Am phương pháp thông lục” về Phụ khoa [116]

Thời nhà Nguyễn (1802-1884) có quyển “Xuân Đình y án kinh trị chủ chứng‟‟ chuyên về bệnh ôn dịch và thời khí của Lê Kinh Hạp [116]

Trang 19

11

Thời Pháp thuộc (1884 – 1945), Y học cổ truyền Việt Nam bước vào thế kỷ

XX, ngoài những tác phẩm y học biên soạn bằng chữ Hán Nôm như: “Vệ sinh yếu chỉ‟‟ (1901) của Bùi Văn Trung ở Nam Định, “Bí truyền tập yếu‟‟ (1906) của Lê Tư Thúy ở Hà Nam, còn có những tài liệu y học viết bằng chữ Quốc ngữ: “Việt Nam Dược học‟‟ của Phó Đức Thành, “Nam Dược bộ‟‟ của Nguyễn

An Cư, “Trung Việt Dược tính hợp biên‟‟ gồm 1500 vị thuốc của Đinh Nho Chấn…[119]

Giai đoạn từ năm 1945 đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nghiên cứu về cây thuốc, có nhiều tác phẩm như : “Thuốc Nam châm cứu‟‟ (1960) của Viện Đông y, 450 cây thuốc (1962) của Phó Đức Thành, “Sổ tay thuốc nam thường dùng ở cơ sở” của Bộ Y tế ghi chép các loài cây thuốc được dùng chữa trị ở các địa phương, [14], Võ Văn Chi (1991) đã tổng hợp các mô tả cây thuốc của tỉnh

An Giang [18];“Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam‟‟ (1975) của Nguyễn Đức Minh [60], “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc (1976) " của Vũ Văn Chuyên [27], "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện [10],

"Danh lục cây thuốc Miền Nam Việt Nam", tập "Atlas cây thuốc" đã công bố

về danh sách cây thuốc ở Miền Bắc là 1114 loài, Miền Nam là 1119 loài Tổng hợp trong cả nước đến năm 1985 là 1863 loài và dưới loài, phân bố trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành [25], tác giả Trần Đình Lý

và cộng sự (1993) cho xuất bản cuốn "1900 loài cây có ích ở Việt Nam" [57]

Năm 1993, Đỗ Huy Bích đã công bố kết quả nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam [9] Năm 2003, Đỗ Huy Bích và các công sự của Viện dược liệu

đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80 loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh thường gặp trong bộ "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" [11] Năm 2011, Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục tái bản bổ sung cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật, ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học của 792 loài cây thuốc chia theo các nhóm bệnh khác

nhau [56] Năm 2012, Võ Văn Chi,đã cho tái bản có bổ sung cuốn “Từ điển cây

Trang 20

loét dạ dày của rễ cây sâm báo (Abelmoschus sagittifolius ) họ Bông

(Malvaceae)” của Đào Thị Vui (2007) [102]; “ Nghiên cứu thành phần hóa học

và một số tác dụng sinh học của cây cao cẳng (Ophipogon confertifolius, họ

Mạch môn – Convallariaceae” Nguyễn Thị Vinh Huê (2009), [47]; „Nghiên cứu

một số tác dụng dược lí của Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng),

họ Araliaceae” củaNguyễn Thị Thu Hương(2009) ;“Nghiên cứu đặc điểm thực

vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây vọng cách Premna sp thu hái ở Nam Định”của Nguyễn Thị Bích Hằng (2010) [38]; “ Tài nguyên cây thuốc họ Na ở Việt Nam” của Đỗ Ngọc Đài, Phạm Hồng Ban (2011) [29] và “Nghiên cứu đa dạng cây thuốc Tây Bắc Nghệ An [2012]; „Nghiên cứu

tác dụng trên bệnh Gút thực nghiệm của cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis )”

của Nguyễn Thị Thùy Dương (2012) [28]; “Nghiên cứu thành phần hóa học và

một số tác dụng dược lý của cây mạ mân (Aganope balansae )” của Trần Quốc

Toản (2012) [84]; Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dược lý

của loài trám hồng (Canarium bengalense) củaHoàng Thị Lê (2012) [54]; “

Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của rễ cây chóc máu nam (Salacia cochinchinensis )”của Đỗ Thị Nguyệt Quế (2013) [71]

Năm 2014, Nguyễn Thị Thu Hương đã công bố kết quả nghiên cứu “ Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững” [48]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và bài thuốc

ở Việt Nam

1.2.2.1 Công tác điều tra

Đến nay, đã có nhiều công trình điều tra về cây thuốc dân tộc của các nhà khoa học trên khắp cả nước Theo thống kê sơ bộ của Nguyễn Bá Hoạt (2013) đã có một số kết quả nghiên cứu như: cây thuốc của Người Dao (khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì): 579 loài và 125 bài thuốc; người Mường (Cẩm Liên, Cẩm Thủy,

Trang 21

13

Thanh Hóa): 206 loài và 32 bài thuốc; người Tày:(Vị Xuyên, Hà Giang): 292 loài; Người Tày - Nùng (Tràng Đinhk, Lạng Sơn): 126 loài và 51 bài thuốc; Bản Mường (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái): 40 loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc của cộng đồng người Dao; 72 bài thuốc của cộng đồng người H'Mông; 16 bài thuốc của cộng đồng người Thái và Khơ Mú; 11 bài thuốc của cộng đồng Bru - Vân Kiều [94]

Từ năm 1961 đến năm 1985 là giai đoạn điều tra cơ bản, Viện Dược liệu tiến hành điều tra dược liệu và công bố ở Miền Bắc từ năm 1961 đến 1974 đã điều tra

ở 1905 xã, thuộc 20 tỉnh và thành phố Kết quả đã phát hiện được 1114 loài thực vật được dùng làm thuốc [91]

Năm 1985, công tác điều tra cơ bản lần thứ nhất về dược liệu trên toàn quốc đã được hoàn thành Tổng số các địa phương đã được tổ chức điều tra bao gồm

2715 xã - phường, thuộc 357 huyện - quận và 42 tỉnh - thành phố Kết quả đã ghi nhận được Danh lục cây thuốc gồm 1863 loài thực vật bậc cao cũng như bậc thấp được sử dụng làm thuốc, thuộc 1033 chi, 236 họ, 11 ngành [92], [93]

Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra cơ bản lần thứ nhất, từ năm 1986 đến nay công tác điều tra dược liệu không tiến hành một cách rộng rãi như trước kia Tuy nhiên, trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu, Viện Dược liệu vẫn phối hợp với các địa phương và các ngành có liên quan tiếp tục tiến hành công việc điều tra cây thuốc tại các tỉnh Thanh Hóa, Hà Giang, Lào Cai… và đồng thời nghiên cứu sâu về khả năng khai thác, tái sinh và phát triển nhiều cây thuốc có giá trị như Chè hoa vàng, Sa nhân, Bảy lá một hoa, Sâm ngọc linh, Bình vôi…[95]

Đến năm 2001, Viện Dược liệu đã tiến hành tổng hợp kết quả điều tra thu thập cây thuốc, đã thống kê được 3850 loài thực vật và Nấm lớn có công dụng làm thuốc ở Việt Nam[95]

Trong hội nghị dược liệu toàn quốc lần thứ nhất(2003) “Phát triển dược liệu bền vững trong thế kỷ 21”, Viện Dược liệu đã tổng hợp quá trình phát triển dược liệu; công tác quản lý và chế độ chính sách về dược liệu; nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam; trồng cây thuốc tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dược và chế biến sau thu hoạch; nghiên cứu sản xuất và hiện đại hóa thuốc Y học cổ truyền; đánh giá chất lượng dược liệu ; cách trồng và chế biến; vai trò của dược liệu

Trang 22

14

tham gia vào cơ cấu cây trồng trong vườn gia đình, vườn trang trại; tình hình thị trường dược liệu tham gia xuất khẩu; bảo tồn nguồn gen và cây thuốc cổ truyền [94]

Từ năm 2001-2004, Nguyễn Tập với đề tài "Điều tra, đánh giá về tiềm năng và hiện trạng nguồn dược liệu Việt Nam Đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý đi đôi với việc bảo vệ, phát triển và sử dụng lâu bền”đã tiến hành điều tra ở một số

vùng rừng của 7 tỉnh như: Bắc Kạn, Đắk Lắk, Gai Lai, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Tuyên Quangtổng hợp toàn bộ kết quả điều tra của Viện Dược liệu từ

1961 đến 2004, cùng với từ các nguồn tài liệu đã được công bố, đã xây dựng được Danh lục cây thuốc Việt Nam (3948 loài), trong đó chỉ có 500 loài là cây thuốc trồng hoặc cây trồng khác được sử dụng để làm thuốc và có 136 loài nguy cấp cần được bảo vệ [77] Ngoài ra Nguyễn Tập cũng đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về cây thuốc như “Nguồn lợi cây thuốc trong rừng

Việt Nam ” [78].“Tổng quan về nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam”,[81] “

Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam”[83],…các công trình đã công bố thực trạng dược liệu ở Việt Nam, đồng thời mô tả chi tiết đặc điểm sinh học, công dụng, nơi phân bố của các loài thực vật quý cần được bảo vệ như cây từ mỏng

(Dioscorea membranacea), tỏa dương (Balanophora laxiflora), thủy xương bồ lá to (Acorus macrospadiceus)…[83]

Gần đây, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu theo hướng trồng và bảo tồn

cây thuốc.Viện dược liệu (2008) đã thống kê 50 đề tài khoa học các cấp về kỹ thuật trồng cây thuốc chủ yếu báo cáo kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc lĩnh vực đánh giá các giải pháp kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng dược liệu để xây dựng qui trình kỹ thuật trồng và chế biến dược liệu sau thu hoạch, công bố kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc lĩnh vực nhập nội cây thuốc, chọn tạo giống, nhân giống, các giải pháp nâng cao chất lượng giống, xây dựng tiêu chuẩn giống, sản xuất giống và đề xuất công tác quản lý giống cây thuốc, đồng thời thống kê kết quả sau 20 năm nghiên cứu bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc, bảo tồn cây thuốc và tri thức dân tộc của cộng đồng [99] Tiếp đến, năm 2009 Viện Dược liệu đã công bố một số kết quả của các dự án khai thác phát triển nguồn gen cây thuốc và định hướng phát triển (về sâm Việt Nam

(Panax); trinh nữ hoàng cung (Crinum asiaticum); các loài nấm dược liệu tại

Trang 23

15

VN…) [100] Hiện nay, công tác điều tra được tiến hành tại các tỉnh Lâm Đồng, Sơn La, Bình Dương, Điện Biên, để tiếp tục đánh giá được tiềm năng và hiện trạng nguồn dược liệu

1.2.2.2.Về công tác bảo tồn cây thuốc, phát triển nguồn dược liệu:

Hoạt động trồng cây thuốc đã được trồng nhiều tại các huyện miền núi khác nhau

ở trong nước như Hà Giang( Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Phó Bảng), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Yên Bái (Văn chấn, Lục Yên), Lai Châu (Sìn Hồ), Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà), Quảng Nam (Trà My), Lâm Đồng (Đà Lạt), v.v…Có những vung chuyên trồng cây thuốc như làng Nghĩa Trai (Văn Lâm, Hưng Yên) trồng đại trà hơn 10 loài cây thuốc, vùng Mễ Sở, Đa Ngưu (Khoái Châu) [90] Tại trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa đã trồng thành công 3 vườn bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) loài 5834 cây ngũ gia bì hương

(Ancanthopanax gracilistylus), 7314 cây ngũ gia bì gai (Ancanthopanax trifoliatus),1511 cây sâm vũ điệp (Panax bipinatifidus), 1979 cây tam thất hoang (Panax stipuleanatus) [44], [45],[46]

Hiện nay, bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu đã được nhà khoa học nghiên cứu, nhà nước quan tâm và đầu tư mạnh Nhiều cây thuốc đã được các nhà khoa học, các doanh nghiêp đầu tư nghiên cứu bảo tồn và phát triển như:Sa nhân

(Amomum longiligulare), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Chè hoa vàng (Camellia chrysantha), Trinh nữ hoàng cung (Crinum asiaticum )

Có khoảng trên 40 loài cây thuốc bản địa đã được trồng ở Việt Nam Ở Yên Bái,Thanh Hóa, Lào Cai, hàng năm cung cấp hàng nghìn tấn quế Lạng Sơn, Cao Bằng,Quảng Ninh: Cung cấp thảo quả; Sơn La, Hòa Bình: Cung cấp ý dĩ…[94] Năm 2015, trên phạm vi cả nước đã có nhiều vườn cây thuốc được xây dựng trên các địa phương như: Nghệ An 1 vườn; Hà Nội 1 vườn; Vùng Sa Pa 8 vườn; khu vực Vườn Quốc gia Bạch Mã 4 vườn; Yên Bái 2 vườn; Hòa Bình 1 vườn; Thanh Hóa 1 vườn; Lạng Sơn 4 vườn; Hà Giang 1 vườn; Vĩnh Phúc 1 vườn

Tại các Vườn Quốc gia: Tam Đảo, Bến En, Cát Tiên, Ba Bể, Ba Bể, Cúc Phương, đã trồng được 120 loài cây thuốc

Trang 24

16

Năm 2015, tại huyện Tây Giang (Quảng Nam) đã quyết định nhân rộng mô hình

trồng sâm ba kích (Morinda officinalis)dưới tán rừng tự nhiên từ với diện tích gần 5 ha, đây là mô hình thuộc dự án giảm nghèo do Tổ chức phi chính phủ Malteser (CHLB Đức) tài trợ nhằm tạo nguồn gen quý, giúp các nhóm hộ đồng

bào huyện Tây Giang tăng thu nhập

1.2.2.3 Về bài thuốc

Năm 1965, Hội Đông Y Việt Nam đã thu thập và công bố 50 bài thuốc chữa vết thương bỏng [50] Tính đến năm 2007, trên cả nước đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyền của 12.351 lương y [12], trong đó có các bài thuốc quý giá từ các loài rau được Võ Văn chi (1998) mô tả cụ thể, đồng thời ghi chép cách thu hái, chế biến [19] Nguyễn Đức Hoàn (2005) đã công bố các bài thuốc từ 31 loài rau [40], đến năm 2015 có nhiều bài thuốc đã được bổ sung, tuy nhiên chưa có tài liệu tổng hợp cụ thể

Mặc dù công tác điều tra, đánh giá, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và bài

thuốc ở Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu về dược liệu, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của chúng ta

1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Nghệ An

Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng lớn, phong phú và có nhiều loài cây thuốc Các khu rừng chạy dọc theo dãy Trường Sơn và nhiều huyện miền núi được đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học

Tài nguyên thực vật ở Nghê An được tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc và Tây Nam, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời như Thái, Thổ, Tày, Mường Cuộc sống của người dân ở đây chủ yếu sống nhờ vào rừng, lương thực, thực phẩm và cây thuốc

Trong danh mục cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế, Nghệ An có

41 loài nằm trong 206 loài cây thuốc mọc tự nhiên được khai thác và sử dụng Nghệ An cũng nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Trang 25

17

Tuy nhiên, cây thuốc ở Nghệ An ngày càng suy giảm Hầu hết các loại cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất dần khả năng khai thác lớn Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc khai thác tràn lan mà không có kế hoạch bảo vệ, và diện tích rừng tự nhiên thu hẹp Nhiều cánh rừng trước đây có trữ lượng lớn những cây làm thuốc như: Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim, Thiên niên kiện, Bách bộ, Cẩu tích… nay đã dần biến mất Một số loài quý hiếm đang ở nguy cơ bị tuyệt chủng, đơn cử như với loại Kê huyết đằng, một doanh nghiệp ở Con Cuông có thể khai thác khoảng 50 tấn/năm vào những năm 2006,

2007, nay chỉ còn rải rác trong rừng vườn quốc gia Pù Mát và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống

Những năm gần đây, điều tra cây thuốc các dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An

đã có một số công trình nghiên cứu như “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” của Tô Vương Phúc (1996) đã thống kê được 223 loài cây, 81 họ với

113 bài thuốc chữa 29 nhóm bệnh, kế tiếp là Nguyễn Thị Hạnh (1999): “Nghiên cứu các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An”

đã công bố 554 loài cây thuộc 336 chi, 121 họ của 4 ngành thực vật, ngoài ra còn có

154 bài thuốc chữa trị 16 nhóm bệnh khác nhau [37],[86]

Đặng Quang Châu và Nguyễn Thị Kim Chi (2003) với đề tài “Đa dạng cây thuốc dân tộc Thổ 3 xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Yên, Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải (2003) với công trình “Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An” đã thống kê được 93 loài cây thuốc thuộc 79 chi, 42 họ được sử dụng làm thuốc [23]

Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2004) với đề tài “ Một số dẫn liệu về cây thuốc dân tộc Thổ xã Thọ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”, đã công bố 82 loài cây thuộc 79 chi, được đồng bào thổ sử dụng chữa 15 nhóm bệnh [24] Trần Thị Mai Hoa (2009) với đề tài “Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào Thái xã Châu Thôn- Huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”,

Trang 26

Năm 2010, Phạm Hồng Ban đã công bố kết quả điều tra kinh nghiệm sử dụng cây cỏ dùng làm thuốc của đồng bào Thái xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An đã thống kê được 238 loài cây thuốc thuộc 182 chi, 80 họ [3]

Năm 2013, Phạm Hồng Ban, Lê Đông Hiếu đã có kết quả nghiên cứu ban đầu và công bố dẫn liệu về cây thuốc ở huyện Nam Đàn, Nghệ An [6]

Theo kết quả của Viện Dược liệu, tại Kỳ Sơn, Nghệ An đã thống kê được

136 loài và 102 bài thuốc của người người H'Mông [94]

Về thực trạng tình hình cây thuốc ở Nghệ An: Theo đánh giá của Viện Dược liệu, Việt Nam là thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu rất lớn, khoảng 50.000-60.000 tấn/năm Tại Nghệ An, Tại Nghệ An, có 56 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đã được thống kê, trong đó 3 loài trong tình trạng CR (Cực kỳ nguy cấp), 19 loài trong tình trạng nguy cấp (EN) và 34 trong tình trạng sắp nguy cấp (VU) [96]

Theo điều tra của chúng tôi ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An có 15 loài

đáng báo động như (Ngũ gia bì gai, Ba gạc lá to (Rauvolfia cambodiana), Ba gạc

lá mỏng (Rauvolfia micrantha.), Cẩu tích (Cibotium barometz)… Đặc biệt, trong

số những loài có giá trị cao nêu trên bị khai thác ồ ạt như: Bách bộ đứng

(Stemona saxorum), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), cây thuốc quý như Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum ) chỉ có trong

rừng sâu thuộc xã Tri Lễ huyện Quế Phong, nhiều loài cây thuốc quý có trữ lượng lớn ở Nghệ An suy giảm nghiêm trọng

Hiện nay, Công ty CP Dược liệu TH (thuộc Tập đoàn TH) đã triển khai dự án

“Bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao gắn với phát triển rừng bền

Trang 27

19

vững” Dự án có tổng mức đầu tư 3.200 tỷ đồng, trên tổng diện tích hơn 2.800ha tại vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm như Mường Lống, huyện Kì Sơn

Theo kết quả điều tra thực tế trên địa bàn Miền Tây Nghệ An hiện nay đã

có một số mô hình trồng và bảo tồn cây thuốc như: Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 4 đang thực hiện mô hình phục hồi, nhân giống cây dược liệu gồm Đảng sâm

(Codonopsis javanica), Atiso và đặc biệt là Sâm Puxailaileng - một loại sâm quý

giống như Sâm ngọc linh ngay dưới chân núi Puxailaileng thuộc địa phận xã Na Ngoi

Ngoài ra còn một số hộ dân trồng dược liệu theo quy mô nhỏ lẻ như trồng Kim tiền thảo ở phường Quỳnh Trang (Thị xã Hoàng Mai), trồng cà dây leo ở xã Quỳnh Bảng (huyện Quỳnh Lưu), xã Mã Thành (huyện Yên Thành)

Những năm gần đây với xu hướng “trở về với thiên nhiên” nên nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu gia tăng Nắm bắt xu hướng này, thời gian gần đây, tỉnh Nghệ An cũng đã có những chủ trương, đường lối chính sách đúng đắn trong việc xây dựng vùng trồng cây dược liệu

Năm 2013, Thực hiện Quyết định số 2355/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án phát triển kinh tế- xã hội miền tây tỉnh Nghệ An đến năm 2020 [26], UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực hiện từ năm 2014 - 2020, giao Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Nghệ An bảo tồn nguồn gen 4 loại dược liệu quý hiếm trên địa bàn các huyện Quế Phong và Kỳ Sơn, bao gồm bảo tồn nguồn gen cây Chè hoa vàng, cây Dây lửa ít

gân (Rourea oligophlebia), cây Đảng sâm (Codonopsis javanica) và Sâm

Puxailaileng [32]

Ngày 24 tháng 7 năm 2015, tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Viện Dược liệu, các doanh nghiệp, tổ chức hội thảo “Phát triển cây dược liệu thành cây chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” Hội thảo đã kết nối được các nhà khoa học, nhà quản lí, nhà doanh nghiệp và nhà nông để bảo tồn và khơi dậy tiềm năng cây thuốc Nghệ An Tại hội thảo, nhà quản lí, các nhà khoa học, đại diện các

Trang 28

20

doanh nghiệp đã tập trung thảo luận đánh giá thực trạng trồng và phát triển dược liệu, đồng thời đề xuất xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển dược liệu của tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và định hướng đến 2030, thảo luận

về công tác quy hoạch các vùng trọng điểm bảo tồn, phát triển nguyên liệu cây dược liệu,thúc đẩy xã hội hóa trong công tác bảo tồn và phát triển cây dược liệu, kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng với tỉnh xây dựng vùng nguyên liệu và đầu tư nhà máy chế biến dược phẩm cũng đã được hội thảo đề cập Từ đó cũng đã đề xuất các chính sách khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng trồng nguyên liệu tại Nghệ An

1.4 Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc và bảo tồn tri thức bản địa ở huyện Quế Phong

+ Về tình hình nghiên cứu

Trước đây ở huyện Quế Phong cũng như nhiều vùng miền núi khác, việc chăm sóc sức khoẻ, khám và chữa bệnh cho người dân còn rất hạn chế và khó khăn Mặt khác, với cuộc sống dựa vào rừng - nơi có nhiều loài cây cung cấp nguồn dược liệu phong phú và đa dạng, người dân địa phương đã tự tìm hiểu và tìm ra được rất nhiều loài cây rừng có tác dụng chữa được nhiều bệnh Những tri thức và kinh nghiệm sử dụng những loài cây để chữa bệnh đã được người dân địa phương gìn giữ và lưu truyền lại qua nhiều đời, nhiều thế hệ

Đến nay, một phần nhỏ người dân, đặc biệt là các ông lang, bà mế ở đây cũng đã đưa một số loài cây thuốc về trồng trong vườn nhà Tuy nhiên, với số lượng nhỏ và một số loài không thể gây trồng được nên họ vẫn phải khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc trong rừng để bán và sử dụng Tại xã Hạnh Dịch đã

có 5 tổ chức hội Đông Y, tuy nhiên số lượng thành viên hội còn ít, các tổ chức hội cũng đã khoanh vùng cây thuốc để bảo tồn và đưa các cây thuốc về trồng nhưng hoạt động của hội còn hạn chế chủ yếu tự phát, kinh phí nghèo nàn và gần như chưa được sự chỉ đạo và đầu tư sát sao của chính quyền địa phương Bên cạnh việc phát triển kinh tế - xã hội như ở Quế Phong thì việc quản lý, bảo tồn và

Trang 29

21

sử dụng bền vững nguồn cây thuốc cũng như việc bảo tồn tri thức văn hoá này là

vô cùng cấp thiết,tuy nhiên yêu cầu này vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về cây thuốc ở huyện Quế Phong như Lương Hoài Nam (2004) với đề tài “ Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái thuộc xã Mường Nọc, Hạnh Dịch, Tiền Phong” đã công bố 220 loài

173 chi 81 họ với 21 nhóm bệnh, Trần Thị Mai Hoa (2009) với đề tài “ Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào Thái xã Châu Thôn- Huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” đã công bố 169 loài, 139 chi và 69 họ được nhân dân sử dụng làm thuốc chữa trị 15 nhóm bệnh khác nhau

Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài (2012), đã nghiên cứu và công bố một số cây thuốc dưới tán rừng khoanh nuôi của đồng bào Thái xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An [4]

Năm 2015, Phạm Hồng Ban đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, khu phân bố,

thành phần hóa học có trong cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia Merr.),

người dân tộc Thái gọi là “Mú từn”, và đã trồng bảo tồn tại huyện Quế Phong [5]

+ Về tri thức bản địa:

Kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Thái Quế Phong, Nghệ An nói riêng đã có từ ngàn đời nay Họ đã đúc kết thành kinh nghiệm dân gian không chỉ về vật chất mà còn là nền văn minh truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành tài sản riêng của mỗi dân tộc

Qua nghiên cứu, tìm hiểu cho thấy người Thái ở Quế Phong có nhiều cách chế biến và sử dụng cây thuốc khác nhau, chữa trị cho các bệnh khác nhau, tùy thuộc vào từng loại bệnh và từng ông lang, bà mế

Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong cộng đồng, những tri thứcvề cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con cháu đời sau, thế hệ nối tiếp thế hệ Dần dần, các bài thuốccó tính độc đáo và trở nên thông dụng trong phương diện chăm sóc sức khỏe người dân cộng đồng dân tộc mình và những dân tộc anh em

Trang 30

22

Tuy nhiên, những tri thức dân gian của các dân tộcdùng để chữa các bệnh đang bị mai một, những ông lang, bà mế đã già và mất đi, họ mang theo cả những kiến thức về cây thuốc Đồng thời, những thế hệ trẻ ít người tiếp thu những kiến thức mang tính bản địa mà học theo những cái mới, cái hiện đại đã khiến cho những cây thuốc quý, bài thuốc hay bị quên lãng Cho nên, cần phải có những biện pháp

và kế hoạch hành động cụ thể nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và bảo tồn những tri thức y học dân tộc

Đồng bào các dân tộc ở đây có nhiều kinh nghiệm quý trong việc sử dụng cây cỏ sẵn có ở trên nương rẫy để đun lấy nước uống hàng ngày nhằm: nâng cao sức khoẻ; thanh nhiệt giải độc; giải rượu; chữa viêm gan; viêm đại tràng; đau nhức xương khớp, viêm khớp dạng ong đốt (bệnh gút); phục hồi ngay sức khoẻ cho phụ nữ sau khi sinh

Thực tế hiện nay, người giữ được những bài thuốc gốc còn rất ít Một phần vì các dân tộc ở đây chủ yếu không có chữ viết, việc lưu giữ chỉ mang tính truyền khẩu, hơn nữa do tác động của cơ chế thị trường nên người có tâm huyết với nghề bốc thuốc không nhiều Do vậy, một số bài thuốc quý đã từng chữa trị được bệnh nan

y đang bị lãng quên từng ngày

Qua trao đổi với người già trực tiếp đi lấy thuốc, họ cho biết: Lấy thuốc tốt nhất vào buổi sáng khoảng 7-10 giờ sáng hoặc có thể buổi chiều 2-4 giờ, chọn các hướng núi hoặc đồi đối diện với mặt trời nghĩa là hướng dương vàhái lá bằng 1 tay hạn chế dùng dao kéo để có chất lượng thuốc tốt nhất

+ Về bảo tồn cây thuốc:

Các ông lang bà mế cũng đã bắt đầu bảo vệ cây thuốc như tài sản riêng, không làm chết cây, lấy một số cây con từ rừng về trồng cạnh nhà để tiện sử dụng khi xảy ra bệnh thường gặp, đó là các loại cây chữa gãy xương, rắn cắn, cảm gió, đau bụng Hiện nay, tại xã Hạnh Dịch đã có 5 khu vườn của người dân tự phát trồng

và bảo tồn dược liệu

Trang 31

23

1.5 Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Quế Phong

Theo số liệu của Phòng Văn hóa huyện: Huyện Quế Phong được thành lập theo Quyết định số 52/CP ngày 19 tháng 4 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ), do chia tách từ huyện Quỳ Châu (cũ) thành 03 huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Quế Phong Lúc mới thành lập huyện Quế Phong có 6 xã: Châu Kim, Châu Thôn, Cắm Muộn, Châu Hùng, Châu Long và Thông Thụ; là huyện miền núi biên giới phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An; có 73,10 km đường biên giới tiếp giáp với huyện Sầm Tớ - tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Đến nay huyện Quế Phong có 13 xã và 01 thị trấn, được chia thành 3 vùng dân cư:

Vùng Tây Bắc gồm các xã: Thông Thụ, Đồng Văn và Hạnh Dịch

Vùng Tây Nam gồm các xã: Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn, Quang Phong, Châu Thôn và Nậm Giải

Vùng trung tâm gồm: Thị trấn Kim Sơn, Mường Nọc, Châu Kim, Quế Sơn và Tiền Phong

Tính đến tháng 6/2015 toàn huyện có 13.550 hộ, với 64.521 nhân khẩu, bao gồm các dân tộc anh em cùng chung sống: Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Thổ, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 90% dân số toàn huyện

Đồng bào các dân tộc trong huyện sống ở vùng nông thôn chiếm 78% dân

số toàn huyện và chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

1.5.1 Vị trí địa lý:

+ Tọa độ:

Nằm trong khoảng 19o26‟ đến 20o vĩ độ Bắc, 104o30‟ đến 105o10‟ kinh Đông

+ Địa giới hành chính của huyện trải rộng trên 13 xã và 01 thị trấn:

- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá;

- Phía Nam giáp huyện Tương Dương;

Trang 32

24

- Phía Đông giáp huyện Quỳ Châu;

- Phía Tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Quế Phong cách thành phố Vinh 180 km, có 15 km đường quốc lộ 48 chạy qua huyện, giao thông trên địa bàn nội huyện và giao lưu kinh tế với bên ngoài còn khó khăn Nằm trong vùng kinh tế Tây Nghệ An đã được Thủ tướng phê duyệt và là huyện có vị trí quan trọng, chiến lược về an ninh quốc phòng

Hình 1 Bản đồ huyện Quế Phong

Trang 33

25

1.5.2 Diện tích, khí hậu

+ Diện tích:Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 189.543,43 ha, trong đó, diện

tích lúa nước trên 2.100 ha Địa hình huyện Quế Phong khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi chiếm tới 70% diện tích tự nhiên

+ Khí hậu:Chế độ gió: Có hai loại gió chính:

- Gió Tây Nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 9, tốc độ gió 0,5m/s, đem theo khí hậu khô nóng đặc biệt là vùng thung lũng, lòng chảo của huyện nên dễ xảy ra lốc lớn và mưa đá

- Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió 0,6m/s, khí hậu khô hanh mưa phùn và rét, dễ gây thiếu nước, giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng và phát sinh dịch bệnh gia súc, gia cầm, ảnh hưởng tới sinh hoạt, sức khoẻ con người

Huyện Quế Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, huyện có 3 khu vực với 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau Vùng cao mưa nhiều, độ ẩm lớn, nhiệt độ thấp Vùng thấp khí hậu ôn hoà, sự khác biệt lớn nhất giữa 2 vùng là mùa hè nhiệt độban ngày vùng thấp thường cao hơn 2 đến 30C và độ ẩm không khí thấp hơn gây nên thời tiết khô nóng

+ Nhiệt độ:

- Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến 24oC

- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 340C

- Nhiệt độ trung bình năm thấp nhất là 90C

- Nhiệt độ mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm nhiệt độ cao có ngày lên 38 đến 400C

- Nhiệt độ mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ xuống thấp 2-30 C

+ Độ ẩm:

Trang 34

26

Độ ẩm không khí bình quân 84%, tháng khô nhất 18% (từ tháng 1 đến tháng 3), tháng ẩm nhất 90% (tháng 8 và tháng 9).Lượng bốc hơi bình quân 638mm, tháng cao nhất 82mm (từ tháng 4 đến tháng 6), tháng thấp nhất 22mm (tháng 12, tháng 1và tháng 2)

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm và phân bố theo mùa Mùa mưa từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa tập trung 70 đến 90% lượng mưa cả năm thường gây ngập lụt, lũ quét, lũ ống Mùa khô từ tháng 11 đến tháng

4 năm sau, lượng mưa thấp nên dễ gây thiếu nước, khô hạn ở một số nơi Số ngày mưa trên 190 ngày/năm

Trong vùng có 3 dạng địa hình chính:

+ Địa hình đồi núi cao:

Là địa hình đặc trưng trong khu vực, gồm các dải núi có độ cao hơn 1.000m, nằm ở phía Tây Bắc của huyện, tập trung ở 3 xã Đồng Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối khá dày đặc, điển hình dãy núi cao Trường Sơn từ 1.600 - 1.828m và núi Chóp Cháp (1.705m), đỉnh cao nhất là Pù Hoạt (2.452m), núi Pả Môn (1.197m), núi Canh Cỏ (1.123m), Núi Mong (1.071m) Địa hình có độ dốc thường trên 30o, dễ gây hiện tượng sạt lở, trượt đất, diện tích dạng địa hình này gần 52% diện tích tự nhiên, đây cũng là vùng thượng lưu của hai con sông lớn là sông Chu và sông Hiếu Thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên, dạng địa hình này chỉ có ý nghĩa lâm sinh duy trì độ che phủ đất rừng tự nhiên phòng hộ, tạo nguồn sinh thuỷ điều hòa khí hậu trong vùng

+ Địa hình đồi núi trung bình và núi thấp:

Bao gồm các dãy đồi núi có độ cao trong bình từ 250 đến 850m; là vùng chuyển tiếp khu vực núi cao và vùng thấp, nằm ở phía Tây Nam của huyện, tập trung ở các xã Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Nậm Nhoóng, Tri Lễ và Nậm Giải Diện tích chiếm 50% diện tích tự nhiên, thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên và rừng trồng đặc sản (quế), rừng nguyên liệu gỗ như keo lai, mỡ,

Trang 35

27

trám vv Trên địa hình này còn diện tích đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng khai thác vào sản xuất nông nghiệp như trồng cây ăn quả, làm nương rẫy, làm ruộng bậc thang, trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp

+ Sông suối:

Quế Phong có 04 con sông chính, phân bố đều từ Tây Bắc sang Tây Nam:

- Sông Chu bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Đồng Văn, Thông Thụ huyện Quế Phong về Thanh Hoá

- Sông Nậm Việc (đầu nguồn sông Hiếu) bắt nguồn từ biên giới và chảy qua xã Hạnh Dịch về phía Nam, vào địa phận huyện Quỳ Châu

- Sông Nậm Quàng là một nhánh lớn của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Tri Lễ dài 71km, diện tích lưu vực 594,8 km2

- Sông Nậm Giải cũng là một nhánh của sông Hiếu bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Nậm Giải, dài 43 km chảy qua các xã Châu Kim, Mường Nọc

Nhờ hệ thống sông suối khá dày đặc, cùng với địa hình tương đối cao, là

cơ hội lớn để phát triển các công trình thủy điện phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc và toàn xã hội; đến nay trên địa bàn huyện có 06 công trình thủy điện được đầu tư xây dựng: Thủy điện Hủa Na; Nhãn Hạt, Bản Cốc, Sao Va, sông Quang, Châu Thôn với tổng công suất gần 280 MW, trong đó 02 công trình đã đưa vào vận hành và hòa vào mạng lưới điện quốc gia

Trang 36

28

1.5.3 Điều kiện kinh tế, xã hội

Theo Phòng Thống kê của UBND huyện Quế Phong, tại thời điểm tháng 6/2015, trên địa bàn huyện có 5 dân tộc cư trú, được phân phân bố như sau:Dân tộc Khơ Mú: 1.970 người, dân tộc Mông: 2.850 người, dân tộc Kinh: 4956 người, dân tộc Thái: 50.523 người, dân tộc Thổ khoảng 250 người Như vậy dân tộc Thái chiếm số lượng lớn trên 80% Dân tộc Thái huyện Quế Phong ngày xưa có 3 nhánh đó là Thái Tày Dọ (hay gọi là Tày Mướng), Thái Tày Nhại (còn gọi là Tày Thanh) và Thái Tày Mươi (mới có ở Mường Hin, Mường Khúc) Các dân tộc Dọ, Nhại, Mươi là tên họ tự lâu đời lúc chưa có khái niệm tên Thái Dân tộc Thái huyện Quế Phong thuộc hệ Thái Đông Nam Á

Là huyện miền núi cao, Quế Phong có 3.785 ha ruộng nước sản xuất hai vụ, đây chính là cơ sở để huyện Quế Phong xác định ngành nông nghiệp là nền tảng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, tiến tới xoá đói giảm nghèo Trước đây, tập quán sản xuất của nông dân vẫn dựa vào tự nhiên, làm rẫy và du canh, du

cư là chủ yếu Tiềm năng lớn về phát triển kinh tế lâm nghiệp với trên 177 nghìn ha đất lâm nghiệp có rừng, 56.357 ha đất trống, đồi núi trọc, 968 ha đất bằng chưa sử dụng Phần lớn đất ở đây là đất laterit vàng đỏ nằm ở độ cao 400-800m Tầng đất dày, màu mỡ tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như: quế, sở, cà phê, chè, mét (luồng) Đặc biệt, rừng Quế Phong có nhiều loại cây gỗ có giá trị cao như đinh, lim, sến, giổi, pơ mu, Sa mu và nhiều loại thú quý hiếm Vì vậy, rừng Quế Phong được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển lâu dài của huyện Trong chiến lược khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng, cây quế được trồng nhiều hơn cả Do được tập trung khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ, nên độ che phủ của rừng Quế Phong tăng nhanh, đạt 74,8% vào năm 2009, tăng 14,05% so với năm 1996, trở thành huyện có độ che phủ rừng khá cao trong cả nước

Trang 37

29

Nhƣ vậy, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An là nơi có tài nguyên thực vật rất phong phú, có kho tàng tri thức bản địa quý giá, đặc biệt là cây thuốc và các bài thuốc dân tộc, vì vậy công tác nghiên cứu về thực vật học dân tộc cần đƣợc quan tâm hơn nữa để có tƣ liệu, có cơ sở khoa học nhằm bảo tồn tri thức bản địa

Trang 38

30

Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch làm thuốc ở huyện Quế Phong

- Các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xây dựng thành phần loài cây thuốc ở huyện Quế Phong

- Điều tra các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái

- Phân tích và đánh giá đa dạng cây thuốc về: thành phần loài, dạng thân, các bộ phận sử dụng, sự phân bố và các bệnh chữa trị

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp phỏng vấn, điều tra

- Điều tra rộng rãi, phỏng vấn bà con dân bản của dân tộc Thái, đặc biệt là các ông lang bà mế tại địa bàn nghiên cứu để sưu tầm các bài thuốc và cây thuốc

sử dụng theo kinh nghiệm dân gian

- Phỏng vấn tập trung các ông lang bà mế

2.3.2 Phương pháp thu hái, xử lí và bảo quản mẫu vật

Mẫu vật được thu hái và xử lí theo phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra thực vật theo "Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật" của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 [85]

- Mẫu cây được đánh số hiệu và đặt trong một tờ báo cho vào túi nilon lớn khoảng 20-30 mẫu, sau đó đổ cồn vào để bảo quản (xử lí sơ bộ tại địa bàn thu mẫu) Sau đó xử lí lại và cho vào cặp mắt cáo để phơi khô dưới nắng hoặc dưới ánh điện

2.3.3 Phương pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên

Trang 39

31

Giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên theo tài liệu "Cẩm nang nghiên cứu

đa dạng sinh vật" của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 [85]

2.3.4 Phương pháp xác định tên khoa học

Mẫu được xác định chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái so sánh theo các tài liệu chủ yếu sau:

+ Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ(1999,2003,2000) [42]

+ Thực vật chí Việt Nam (The Flora of Vietnam): Họ Bạc hà - Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2002) [67], Họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005) [68], Họ Na - Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000) [7], Họ Cói - Cyperaceae (Nguyễn Khắc Khôi, 2002) [52], Họ Trúc đào - Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005) [58], Họ Đơn nem - Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002) [55]

+ Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi (2012) [21]

+ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2011) [56]

2.3.5 Phương pháp chỉnh lý tên khoa học

Sau khi định loại, tiến hành kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học theo theo tài liệu

"Từ điển cây thuốc" (2012) của Võ Văn Chi, [21], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003,2005) của Nguyễn Tiến Bân [8]

2.3.6 Phương pháp xây dựng danh lục

Các ngành được sắp xếp theo từ thấp đến cao, trong ngành được sắp xếp theo vần a,b,c Trong bảng danh lục các taxa bậc họ được sắp xếp theo cách sắp xếp của R

Trang 40

Cét 8: C«ng dông Cét 9: Cách sử dụng Cét 10: Mã tra cứu theo Từ điển cây thuốc Cột 11: Số hiệu mẫu

2.3.7.Đánh giá đa dạng các Taxa trong ngành

Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỷ lệ % của các Taxa để từ đó thấy được mức độ đa dạng của nó

2.3.8.Đánh giá đa dạng loài của các họ

Xác định họ có nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài đã xác định được

2.3.9.Đánh giá đa dạng loài của các chi

Xác định chi nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của

cả hệ thực vật

2.3.10.Đánh giá sự đa dạng về dạng thân

Thông kê các dạng thân của cây có 4 dạng: gỗ, bụi, thảo, leo Trên cơ sở dạng thân được thống kê trong danh lục, tổng hợp và xác định tỷ lệ từng loại dạng thân

2.3.11 Đánh giá sự đa dạng về bộ phận của cây thuốc được sử dụng

Dựa vào kinh nghiệm của ông lang, bà mế và bà con dân bản tại địa bàn nghiên cứu phân loại các dạng về bộ phận sử dụng gồm: Lá, thân, rễ, củ, hoa, nhựa, mủ

2.3.12 Đánh giá sự đa dạng về môi trường sống của cây thuốc

Dựa vào sự phân bố môi trường sống của cây thuốc để phân chia gồm:

Ngày đăng: 08/08/2016, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phạm Hồng Ban (2010),Kết quả điều tra kinh nghiệm sử dụng cây cỏ dùng làm thuốc của đồng bào Thái xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An. Tạp chí khoa học Lâm Nghiệp, 2: 1262-1266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra kinh nghiệm sử dụng cây cỏ dùng làm thuốc của đồng bào Thái xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban
Năm: 2010
4. Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài (2012), Nguồn tài nguyên cây làm thuốc dưới tán rừng khoanh nuôi của đồng bào Thái xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 11: 57-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn tài nguyên cây làm thuốc dưới tán rừng khoanh nuôi của đồng bào Thái xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài
Năm: 2012
5. Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài (2015), Dẫn liệu về cây Mú từn phân bố ở Nghệ An, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nghệ An, 7: 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về cây Mú từn phân bố ở Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài
Năm: 2015
6. Phạm Hồng Ban, Lê Đông Hiếu (2013), Một số dẫn liệu về cây thuốc ở Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An, Tạp chí Rừng và Môi trường, 53(54): 33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về cây thuốc ở Nam Anh, Nam Đàn, Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban, Lê Đông Hiếu
Năm: 2013
7. Nguyễn Tiến Bân (2000), Thực vật chí Việt Nam, Tập 1: Họ Na-Annonaceae, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật chí Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2000
8. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), (2001,2005), Danh lục các loài Thực vật Việt nam, tập 2, tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài Thực vật Việt nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Đỗ Huy Bích (1993), Tài nguyên cây thuốc Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 427 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
10. Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương (1980), Sổ tay cây thuốc Việt Nam, NXB Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 1980
12. Lê Đình Bích, Trần Văn Ơn, (2007), Thực vật học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật học
Tác giả: Lê Đình Bích, Trần Văn Ơn
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
13. Bộ Khoa học Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam (Phần II-Thực vật), NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
14. Bộ Y tế (1973), Số tay thuốc nam thường dùng ở cơ sở, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số tay thuốc nam thường dùng ở cơ sở
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1973
15. Bộ Y tế (2003), Tài liệu Hội nghị Dược liệu toàn quốc lần thứ nhất "Phát triển dược liệu bền vững trong thế kỷ 21", Hà Nội 11-12/3/2003, 324 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dược liệu bền vững trong thế kỷ 21
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2003
16. Bộ Y tế (2007), Tài liệu Hội nghị Dược liệu toàn quốc lần thứ hai "Phát triển dược liệu đến năm 2015 và tầm nhìn 2020", Thành phố Hồ Chí Minh, 26/10/2007, NXB Khoa học kỹ thuật, 343 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dược liệu đến năm 2015 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2007
17. Bộ Y tế và Bộ Khoa học & công nghệ (2009), Báo cáo Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện nhiệm vụ “Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc (1998 - 2008)”, 189 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện nhiệm vụ “Bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc (1998 - 2008")
Tác giả: Bộ Y tế và Bộ Khoa học & công nghệ
Năm: 2009
18. Võ Văn Chi (1991), Cây thuốc An Giang, UB Khoa học & Kỹ thuật, NXB An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc An Giang
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB An Giang
Năm: 1991
20. Võ Văn Chi,(2013), Bài thuốc hay từ cây thuốc quý, NXB Y học, Hà Nội trang 59,79) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài thuốc hay từ cây thuốc quý, "NXB Y học, Hà Nội" trang 59,79
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
21. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
22. Võ Văn Chi, Trần Hợp (1999-2001), Cây có ích ở Việt Nam, Tập 1, 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây có ích ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
24. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2004),Một số dẫn liệu về cây thuốc dân tộc Thổ xã Thọ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An,Tạp chí khoa học (tập 32 - số 2A/2003),Trường Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về cây thuốc dân tộc Thổ xã Thọ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải
Năm: 2004
26. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 2355/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ huyện Quế Phong - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Hình 1. Bản đồ huyện Quế Phong (Trang 32)
Hình 3.1. Số lƣợng tỷ lệ % các taxa của các ngành cây làm thuốc ở huyện Quế Phong. - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Hình 3.1. Số lƣợng tỷ lệ % các taxa của các ngành cây làm thuốc ở huyện Quế Phong (Trang 45)
Bảng  3.2.  Số  lƣợng  họ,  chi,  loài  ở  hai  lớp  trong  ngành  Ngọc  Lan  (Magnoliophyta) - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
ng 3.2. Số lƣợng họ, chi, loài ở hai lớp trong ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) (Trang 45)
Bảng 3.3. Sự phân bố số lƣợng loài cây thuốc trong các chi - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.3. Sự phân bố số lƣợng loài cây thuốc trong các chi (Trang 47)
Bảng 3.5. So sánh các họ nhiều loài cây thuốc của dân tộc Thái huyện Quế  Phong(1) với số loài của hệ thực vật Việt Nam (2) - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.5. So sánh các họ nhiều loài cây thuốc của dân tộc Thái huyện Quế Phong(1) với số loài của hệ thực vật Việt Nam (2) (Trang 49)
Bảng 3.7.Dạng thân của các cây thuốc được người dân huyện Quế Phong sử dụng - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.7. Dạng thân của các cây thuốc được người dân huyện Quế Phong sử dụng (Trang 50)
Hình 3.3. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở huyện Quế Phong - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Hình 3.3. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở huyện Quế Phong (Trang 51)
Bảng 3.8. Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.8. Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống (Trang 52)
Hình  3.5. Phân bố số lƣợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc ở huyện Quế Phong - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
nh 3.5. Phân bố số lƣợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc ở huyện Quế Phong (Trang 54)
Bảng 3.10. Danh lục bổ sung vào Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi 2012) - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.10. Danh lục bổ sung vào Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi 2012) (Trang 97)
Hình  3.6.  Sự  đa  dạng  về  các  nhóm  bệnh  đƣợc  chữa  trị  bằng  cây  thuốc  ở    huyện Quế Phong - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
nh 3.6. Sự đa dạng về các nhóm bệnh đƣợc chữa trị bằng cây thuốc ở huyện Quế Phong (Trang 104)
Bảng 3.12. Các bài thuốc được người dân tộc Thái huyện Quế Phong sử dụng. - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.12. Các bài thuốc được người dân tộc Thái huyện Quế Phong sử dụng (Trang 105)
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện đa dạng về cách sử dụng. - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện đa dạng về cách sử dụng (Trang 116)
Hình 3.8  Tỷ lệ số người dùng thuốc dân tộc ở các xã trên địa bàn huyện Quế Phong. - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Hình 3.8 Tỷ lệ số người dùng thuốc dân tộc ở các xã trên địa bàn huyện Quế Phong (Trang 123)
Bảng 3.15. Giá các loại dƣợc liệu tại huyện Quế Phong (2014) - Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững
Bảng 3.15. Giá các loại dƣợc liệu tại huyện Quế Phong (2014) (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w