Bên cạnh những kết quả đã đạt được và những cơ hội phát triển, đào tạo nghề đã và đang đứng trước những thách thức mới, bộc lộ nhiều hạn chế, đó là sự thiếu hụt và mất cân đối về nhân lự
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THỤY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI CÁC TRUNG TÂM DẠY NGHỀ CỦA
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THỤY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC TRUNG TÂM DẠY NGHỀ CỦA
TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Anh Tài
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số
liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các đánh giá, kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào trước đó
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 01 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thụy
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, các Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên đã tham gia giảng dạy, hướng dẫn luận văn lớp Cao học K10A - Quản lý kinh tế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được học tập nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Toàn thể bạn bè và đồng nghiệp, đã quan tâm và động viên tác giả
Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy hướng dẫn PGS.TS Đỗ Anh Tài, đã dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ để chỉ dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do điều kiện về thời gian cũng như hạn chế về trình độ của bản thân, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của các thầy, cô, Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thụy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của đề tài nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 5
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề 5
1.1.1 Các khái niệm về nghề 5
1.1.2 Quan niệm về đào tạo nghề 6
1.1.3 Các hình thức đào tạo nghề 7
1.1.4 Những vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo nghề 8
1.1.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 12
1.1.6 Các quan điềm về phát triển Kinh tế - Xã hội địa phương 19
1.1.7 Ảnh hưởng của đào tạo nghề tới phát triển Kinh tế - Xã hội 20
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nghề 21
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đào tạo nghề của một số quốc gia trên thế giới 22
1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 24
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Thái Nguyên 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 33
2.2.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 33
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.4 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu 34
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC TRUNG TÂM DẠY NGHỀ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN 37
3.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Thái Nguyên 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 37
3.1.2 Điều kiện xã hội 39
3.1.3 Cơ sở hạ tầng 40
3.2 Hệ thống các Trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên 40
3.2.1 Công tác quản lý nhà nước các Trung tâm dạy nghề 41
3.2.2 Số lượng và chức năng, nhiệm vụ của các trung tâm dạy nghề công lập 42
3.3 Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh 44
3.3.1 Đánh giá chất lượng đào tạo 45
3.3.2 Công tác tuyển sinh 46
3.3.3 Thiết kế chương trình, nội dung và tổ chức đào tạo 47
3.3.4 Công tác quản lý giảng dạy và học tập 51
3.3.5 Công tác xây dựng chương trình, giáo trình và nghiên cứu khoa học 52
3.3.6 Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên 53
3.3.7 Đánh giá chất lượng đào tạo thông qua người sử dụng lao động 56
3.3.8 Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin 58
3.3.9 Quản lý học viên 58
3.3.10 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 61
3.3.11 Công tác giới thiệu việc làm cho học viên 63
3.3.12 Liên doanh liên kết 63
3.4 Đánh giá chung về chất lượng đào tạo nghề tại các Trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên 64
Trang 43.4.1 Những kết quả đạt được 64
3.4.2 Những tồn tại cần khắc phục 64
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CHO CÁC TRUNG TÂM DẠY NGHỀ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN 67
4.1 Quan điểm - Định hướng - Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề đến năm 2020 67
4.1.1 Quan điểm phát triển 67
4.1.2 Định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội đến năm 2020 67
4.1.3 Mục tiêu tổng quát 68
4.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên 70
4.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên 70
4.2.2 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các trung tâm dạy nghề 71
4.2.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các TTDN của tỉnh Thái Nguyên 75
4.3 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DS KHH GĐ Dân số Kế hoạch hóa Gia đình GD&ĐT Giáo dục - Đào tạo
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
TB & XH Thương binh và Xã hội
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Đơn vị hành chính phân theo huyện, thành phố, thị xã 37
Bảng 3.2: Hệ thống các Trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên 42
Bảng 3.3: Số phiếu đã sử dụng và tỷ lệ sử dụng phiếu theo từng trung tâm 46
Bảng 3.4: Số lượng tuyển sinh từ năm 2010 - 2014 46
Bảng 3.5: Khảo sát giáo viên về chương trình đào tạo nghề 49
Bảng 3.6: Khảo sát học viên về chương trình, chất lượng và tổ chức đào tạo nghề 50
Bảng 3.7: Cơ cấu, trình độ đội ngũ giáo viên năm 2014 54
Bảng 3.8: Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giáo viên 54
Bảng 3.9: Những thành tích đã đạt được từ năm (2010 - 2014) 55
Bảng 3.10: Kết quả đạt được các danh hiệu lao động hàng năm 55
Bảng 3.11: Khảo sát của học viên về giáo viên dạy nghề 55
Bảng 3.13: Kết quả học tập của học viên giai đoạn 2010 - 2014 59
Bảng 3.14: Thống kê cơ sở vật chất của các Trung tâm có đến 31/ 12/ 2014 61
Bảng 3.15: Học viên đánh giá về trang thiết bị dạy học 62
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo nghề 10
Hình 1.2: C 11
1.3: Biểu đồ đánh giá tổng hợp chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở một số nước châu á 26
Hình 3.1: Sơ đồ quản lý nước về các trung tâm dạy nghề công lập 41
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế Trong những nhân tố có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước
thời kỳ này thì nguồn nhân lực luôn là nhân tố quyết định
Một trong những nguồn nhân lực đáp ứng trực tiếp cho thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là lực lượng lao động lành nghề Trong những năm qua, Việt Nam
luôn ở trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” do tâm lý chung của các gia đình luôn
mong muốn con em mình được theo học ở bậc đại học Chất lượng lao động nghề
còn thấp, chưa ngang tầm khu vực, chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, vẫn còn khoảng cách giữa trình độ tay nghề của học sinh mới ra
trường và nhu cầu của các doanh nghiệp Trong khi đó học sinh phổ thông chưa
được hướng nghiệp một cách khoa học, chưa thấy được sự cần thiết về kỹ năng
nghề ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều Trung tâm dạy nghề đang thực hiện đào tạo
nghề với quy mô và cơ cấu ngành nghề phong phú Tuy nhiên, chất lượng đào tạo ở
hầu hết các Trung tâm dạy nghề chưa cao Rất nhiều người sau khi đã tốt nghiệp các
trung tâm dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Một trong những
nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kết giữa trung tâm
với doanh nghiệp trong đào tạo nghề Cung đào tạo do các trung tâm dạy nghề đưa
ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ
các doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu đào tạo cả về quy
mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, gây ra những lãng phí lớn và giảm hiệu quả
đào tạo
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh
đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội, có cơ chế và chính sách thiết lập
mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực
hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn,
đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi
đất”, đây là cơ hội cho các trung tâm dạy nghề phát triển (Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần X, XI)
Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2011 - 2020, với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng đặt ra nhiệm vụ và cũng là cơ hội để thúc đẩy phát triển dạy nghề, nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao Hội nhập quốc tế sâu, rộng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho dạy nghề tiếp cận với những kiến thức mới, công nghệ mới, mô hình dạy nghề hiện đại; mở rộng trao đổi kinh nghiệm, có cơ
hội tiếp cận, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển dạy nghề
Trong những năm gần đây, công tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung và công tác đào tạo nghề nói riêng có nhiều nỗ lực đổi mới và đạt được những kết quả đáng kể, góp phần thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bên cạnh những kết quả đã đạt được và những cơ hội phát triển, đào tạo nghề đã và đang đứng trước những thách thức mới, bộc lộ nhiều hạn chế, đó là sự thiếu hụt và mất cân đối về nhân lực trong các ngành nghề được đào tạo phục vụ cho nhu cầu xã hội, Chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề còn thấp, bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - ủa đất nước, các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạ ạn chế, đào tạ hưa gắn với thực tế sử dụng lao động của các doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp thiếu trầm trọng nhân
lự ật và công nhân lành nghề Trong khi đó, sốthuật ra trường không đáp ứng được công việc thực tế cho các doanh nghiệ
vẫn phải đào tạo lại Thậ ữphải đào tạo lại gần như từ đầ ền của cho xã hội Những thách thức đó đang đặt ra bức bách cầ ải có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để
giải quyết Tại Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành luật dạy nghề đã tổng kết: “Chất lượng đào tạo nghề dù ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động về tay nghề, về các kỹ năng mềm… Trình độ lao động Việt Nam còn có khoảng cách lớn so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới; cơ cấu đào tạo nghề và trình độ đào tạo chưa hợp lý Dạy nghề cho lao động nông thôn để chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ còn chậm; giáo viên dạy nghề còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng; quản lý nhà nước về dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dạy nghề; chưa hình thành được những cơ sở dạy nghề chất lượng cao và trung tâm đào tạo nghề ở các vùng; sự tham gia của
Trang 7doanh nghiệp vào dạy nghề còn hạn chế…” Vì vậy, chất lượng công tác đào tạo
nghề là vấn đề đáng được quan tâm trong giai đoạn hiện nay
Vì nhữ ằng những kiến thức đã được đào tạo cơ bản tại lớp
Cao họ ế, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, tác giả chọn
đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh
Thái Nguyên” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp khóa học
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, cơ sở lý luận về đào tạo nghề và thực trạng chất lượng
đào tạo nghề tại các Trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên, đưa ra các biện
pháp khắc phục tồn tại, các giải pháp trong thời gian tới về nâng cao chất lượng đào
tạo nghề tại các Trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái nguyên
* Mục tiêu cụ thể
- Trình bày cơ sở lý luận về đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề
- Phân tích thực trạng về chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề
của tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm
dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về chất lượng đào tạo nghề tại các trung
tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên, các hoạt động đào tạo ất lượng đào
của tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng kết quả công tác đào tạo nghề tại
các trung tâm dạy nghề của tỉnh giai đoạn 2010 - 2014, giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo nghề trong giai đoạn 2015 - 2020
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về nội dung: Để tài tập trung nghiên cứu công tác dạy nghề tại các
trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của đề tài nghiên cứu
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu, sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu và phân tích tìm hiểu thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên để thấy được những hạn chế, yếu kém từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Nếu áp dụng được các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên cho phù hợp và đồng bộ thì sẽ góp phần đưa hoạt động động đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên phát triển cân đối, đồng bộ, có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đồng thời đáp ứng được nhu cầu cung ứng nguồn lao động qua đào tạ
ội
4.2 Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận về đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề Thông qua phân tích thực trạng quá trình đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất được những bài học kinh nghiệm thành công, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện, qua đó đã trình bày những quan điểm cơ bản cần quán triệt, đề ra các giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được trình bày trong 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các
trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm
dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề
1.1.1 Các khái niệm về nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự
phân công lao động, với tiến bộ khoa học kĩ thuật, và văn minh nhân loại Có nhiều
định nghĩa và khái niệm về nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định Ở Đức nghề được định nghĩa: "Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh
vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó" Như vậy nghề
là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao
động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại Khái niệm nghề ở Anh
được định nghĩa: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học
học nghệ thuật" Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ
năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống" Khái niệm nghề
ở Nga được định nghĩa: "Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất
định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn"
Ở Việt nam, Đại từ điển tiếng Việt và Từ điển tiếng Việt cùng đưa ra định
nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội” (Đại
từ điển tiếng Việt, 1999) Có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động
do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề
mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản
xuất và nhu cầu xã hội Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội
- Là phương tiện để sinh sống
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi
hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động KHKT và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với
xu hướng phát triển KT-XH của đất nước
1.1.2 Quan niệm về đào tạo nghề
- Đào tạo: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân
để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
- Nghề: Là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định như nghề mộc, nghề cơ khí…
- Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mổi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là: + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định” Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề
Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho Xã hội
Trang 9Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn
nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu
ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp
với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới Đào tạo lại thường được hiểu là
quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên
môn mới để thay đổi nghề
Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa
kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng
nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ
hay nâng lên bậc cao hơn Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng
và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn Dựa vào lý thuyết qui
luật số đông, các khái niệm trên được phân biệt theo các tiêu chí sau:
- Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề
- Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ
- Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối Văn bằng: Được cấp bằng, chứng
chỉ hay không được cấp sau khi học
1.1.3 Các hình thức đào tạo nghề
Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp đào tạo, nhìn chung tên gọi của
mỗi phương pháp có thể khác nhau nhưng cách đào tạo và nội dung đào tạo tương
đối giống nhau Các phương pháp đào tạo nghề có thể chia cho 3 nhóm đối tượng:
Các nhà quản trị, chuyên viên ở mức khởi điểm và công nhân trực tiếp sản xuất
Trong đó việc đào tạo cho công nhân trực tiếp sản xuất chính là việc đào tạo nghề,
cung cấp kiến thức, kỹ năng nghề của một nghề nhất định đáp ứng các yêu cầu của
xã hội
1.1.3.1 Đào tạo tại chỗ
Đào tạo tại chỗ hay đào tạo ngay trong lúc làm việc đó là việc người học
nghề được phân công làm việc chung với người có kinh nghiệm hơn, người học
nghề vừa học vừa làm bằng cách quan sát, nghe lời chỉ dẫn và làm theo Phương
pháp này đòi hỏi sự nỗ lực của cả người kèm và người học nghề, phải có sự tin
tưởng và lắng nghe giữa hai bên
1.1.3.2 Đào tạo nghề
Là phương pháp phối hợp giữa lý thuyết và phương pháp đào tạo tại chỗ, phương pháp này chủ yếu áp dụng đối với các nghề thủ công hoặc các nghề cần phải khéo tay như: Thợ nề, thợ cơ khí, thợ điện Thời gian huấn luyện có thể kéo dài tùy theo từng loại nghề Người huấn luyện có thể là các công nhân có tay nghề cao, đặc biệt là công nhân giỏi đã về hưu
1.1.3.3 Phương pháp sử dụng dụng cụ mô phỏng
Các dụng cụ mô phỏng là các dụng cụ giống hệt như trong thực tế Dụng cụ
có thể đơn giản là các mô hình giấy cho tới các dụng cụ được vi tính hóa Các chuyên viên tạo thường chuẩn bị các dụng cụ mô phỏng để học viên thực tập Phương pháp này tuy không tốt hơn phương pháp đào tạo tại chỗ nhưng trong một vài trường hợp nó ít tốn kém hơn và bớt nguy hiểm hơn
1.1.3.4 Đào tạo xa nơi làm việc
Phương pháp này gần giống như phương pháp sử dụng dụng cụ mô phỏng nhưng khác ở chỗ, các dụng cụ gần giống hệt máy móc tại nơi sản xuất, máy móc thiết bị thường được đặt để ở hành lang hay tại một phòng riêng biệt cách xa nơi làm việc So với phương pháp đào tạo tại chỗ, trong phương pháp này người học nghề không làm gián đoạn hay trì trệ dây chuyền sản xuất Ngoài ra, có nhưng loại máy móc mà người mới học việc mới đứng máy có thể gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc phá hủy cơ sở sản xuất Thông thường người huấn luyện thường là người có tay nghề cao
Tại các địa phương hiện nay, các phương pháp đào tạo trên thường được sử dụng trong các trường dạy nghề và có một phần nhỏ được áp dụng trực tiếp ngay tại các doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo công nhân tùy theo từng điều kiện cụ thể
1.1.4 Những vấn đề cơ bản về chất lượng đào tạo nghề
1.1.4.1 Một số quan niệm về chất lượng, chất lượng đào tạo nghề
a Quan niệm về chất lƣợng
Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông) Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật”
Trang 10hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển
tiếng Việt thông dụng - Nhà xuất bản Giáo dục - 1998) Chất lượng là “mức hoàn
thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện,
các thông số cơ bản” (Oxford Poket Dictationary)
Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu
cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50-109) Chất lượng là “tập hợp các
đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa
mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN- ISO 8402)
Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều,
nhưng nhìn chung nó phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này
với sự vật khác Nói về chất lượng là nói về cái không thể đo đếm được bởi sự thỏa
mãn yêu cầu Nếu một sản phẩm hay một dịch vụ không đáp ứng được yêu cầu,
không được thị trường chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém mặc dù nó được
sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại Ngày nay, chất lượng còn được đòi
hỏi ở một mức độ cao hơn nữa, mặc dù sản phẩm có tính năng kỹ thuật tốt, nhưng
mẫu mã không đẹp, dịch vụ không tốt thì không được gọi là sản phẩm có chất lượng
tốt Chất lượng ngày nay mang tính hữu hình và vô hình Khi nói tới chất lượng
người ta thường hay nói tới: Hình thức, mẫu mã, nội dung, dịch vụ
b Chất lƣợng đào tạo nghề
Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm
và cảm nhận được Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất
định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó Sẽ không
thể biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ
thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ
thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương
trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách
tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết
quả đào tạo
Từ Điển giáo dục học đưa ra khái niệm: “Chất lượng đào tạo nghề là kết quả
của quá trình ĐTN được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và
giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” (Đại từ điển tiếng Việt, 1999) Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian
và theo không gian dưới tác động của các yếu tố
- Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức, 2008)
Từ đó, có thể thấy rằng chất lượng đào tạo nghề bao gồm 2 khía cạnh:
Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do nhà trường đề ra
Khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên trong"
Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của
người sử dụng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên ngoài" Như vậy, để hoạt động đào tạo nghề đạt chất lượng cao, trước hết phải đạt được chất lượng bên trong, đó sẽ là nền tảng để đạt được chất lượng bên ngoài
Hình 1.1: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo nghề
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
"con người" và được thể hiện ở phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo Kết quả
đào tạo
Trang 11hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của
từng ngành trong hệ thống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị
trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo trong nhà trường không chỉ gắn
những điều kiện đảm bảo nhất định từ bên trong như: cơ sở vật chất, đội ngũ giáo
viên, trung tâm thư viện, mà còn phải được kiểm chứng qua quá trình sử dụng
thực tiễn sản phẩm đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường sức lao động
Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn đề
cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục - đào tạo
cũng như các cơ sở đào tạo trực tiếp Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng
đào tạo nghề với những khía cạnh khác nhau
Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng đào tạo nghề phụ
thuộc vào đầu vào của hệ thống đào tạo Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng
như: giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi… thì
chất lượng đào tạo nghề được nâng cao Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng
đào tạo nghề được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là
bằng mức độ hoàn thành của học viên tốt nghiệp Một số quan điểm khác lại khẳng
định chất lượng đào tạo nghề được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên
trong, đặc biệt là hệ thống thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu
Theo GS.TS Đặng Quốc Bảo, chất lượng đào tạo là kết quả cuối cùng đạt
được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo Có thể
khái quát quan niệm này như sơ đồ sau:
MT : Mục tiêu đào tạo
PP, PT : Phương pháp đào tạo, phương
tiện phục vụ đào tạo
GV : Giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo
HV : Học viên
ND : Nội dung đào tạo CSVC, TC : Cơ sở vật chất, tài chính phục
vụ đào tạo
Q : Chất lượng đào tạo
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ được đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền” Đào tạo nghề sẽ đảm bảo, nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng tổ chức của mình, có tầm nhìn dài hạn, quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả, có đổi mới, hữu hiệu, tổ chức tiếp thị tốt với thị trường
Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm về chất lượng đào tạo nghề nêu trên, có thể hiểu chất lượng đào tạo nghề với những điểm cơ bản như sau: “Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định tạo ra đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động”
1.1.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Theo thông tư số 19/2010/TT-BLĐTBXH ngày 07 tháng 07 năm 2010 của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, để đo lường chất lượng đào tạo nghề, chúng
ta thường tập trung vào 2 khối đối tượng: bản thân người học nghề và cơ sở đào tạo nghề (Chất lượng cơ sở đào tạo) Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Đó là quá trính đào tạo trên cơ sở tiếp thu kết quả giáo dục phổ thông để đào tạo nghề nghiệp cho học sinh học nghề Việc đào tạo để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo Quá trình đào tạo chú trọng đến một hệ thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập Đó chính là những yêu cầu, vị trí công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân
kỹ thuật
Như vậy chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào các yếu tố:
1.1.5.1 Chất lượng đầu vào
Bản thân người học nghề, nhận thức xã hội của học sinh sinh viên đầu vào phụ thuộc rất lớn vào địa phương mà học sinh sinh viên đó sinh sống và học tập trước khi vào trường học nghề Nếu được những học sinh, sinh viên thành phố, thị xã hoặc đồng bằng mức độ tiếp thu sẽ cao hơn nhiều so với học sinh, sinh viên nông thôn, miền núi hoặc vùng sâu, vùng xa Ngay khi mới vào trường, nếu khả năng tiếp thu tốt
Trang 12thì sinh viên sẽ hiểu từ những bài đầu tiên, thuận lợi cho cả quá trình học tập sau này,
vì kiến thức của các môn học có tính hệ thống và quan hệ chặt chẽ với nhau
1.1.5.2 Đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học
Dạy học là một quá trình người thầy truyền đạt cho học sinh sinh viên hệ
thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển năng lực trí tuệ và hình thành thế
giới quan cho họ Đối tượng của quá trình dạy học là học sinh, sinh viên - con người
với sự đa dạng về nhận thức, quan điểm, tình cảm làm cho quá trình dạy học trở
thành hoạt động rất khó khăn và phức tạp Người thầy không thể dạy tốt được nếu
chỉ nắm vững kiến thức của một năm học, có nghĩa là ngoài kiến thức của một môn
học người thầy phải hiểu biết nhiều lĩnh vực như: Kiến thức của các môn học khác
có liên quan, kiến thức về tâm lý giao tiếp, xử lý các tình huống sư phạm Vì vậy,
đối với giáo viên, thời gian và kinh nghiệm giảng dạy là vốn quý, có vai trò rất lớn
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
Giảng dạy là một quá trình truyền đạt tri thức, vấn đề quan trọng là người
thầy phải biết nắm vững kiến thức và phải biến kiến thức của thầy trở thành kiến
thức của trò, có nghĩa là trò phải tiếp thu tốt kiến thức của thấy, điều này có quan hệ
mật thiết đến phương pháp giảng dạy Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách
thức tác động của giáo viên và học sinh, sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ
dạy học Phương pháp giảng dạy được quy định bởi nội dung dạy học hay nói cách
khác nội dung dạy học chi phối việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương
pháp giảng dạy Mặt khác, bản thân phương pháp là con đường, cách thức để đạt tới
mục đích nhất định Để đạt được cùng mục đích, những con người khác nhau sẽ lựa
chọn những con đường (phương pháp) khác nhau Lựa chọn con đường nào lại phụ
thuộc rất nhiều yếu tố như: nhận thức của mỗi người, đánh giá chủ quan của mỗi
người về đối tượng giảng dạy ngay cả khi cùng sử dụng một phương pháp do khả
năng và trình độ của mỗi người thì khác nhau, nên kết quả là chất lượng giảng dạy
sẽ khác nhau Xét phương pháp giảng dạy ở giác độ con đường để đạt được mục
đích, việc lựa chọn con đường và đi trên con đường ấy như thế nào là khả năng của
mỗi người thầy và gần như nó có sẵn (bẩm sinh) Như vậy, việc lựa chọn phương
pháp, phối hợp và thực hiện các phương pháp giảng dạy vừa dựa vào nội dung dạy
học và khả năng của mỗi giáo viên Đây là công việc rất khó khăn của bất kỳ giáo
viên giảng dạy ở bậc học nào Ngoài ra, phương pháp không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo mà còn giúp cho học sinh, sinh viên tự học và giải quyết công việc sau này Đây chính là dạy cho học sinh, sinh viên phương pháp nghiên cứu Quá trình tự học của học sinh sinh viên sẽ có hiệu quả hơn nhiều, chất lượng đào tạo vì thế tăng lên rất nhiều Điều này rất quan trọng, bởi vì ngày nay nhà trường đào tạo ra những người chủ động nghiên cứu, giải quyết công việc, chứ không chỉ học thuộc lòng những kiến thức thầy dạy
1.1.5.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phù hợp đáp ứng nghề đào tạo
Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập là điều kiện tổi thiểu, đầu tiên của quá trình đào tạo Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ giảng dạy bao gồm: Hệ thống phòng học, thực hành, thư viện, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy như hệ thống bảng chuyên dùng, đèn chiếu, máy chiếu, máy tính, mạng Internet; các biểu đồ, mô hình
Đối với đào tạo nghề thì nội dung và các xưởng thực hành là rất quan trọng
Vì vậy, hệ thống phòng thực hành với đầy đủ trang bị phục vụ thực hành là điều kiện cần để đảm bảo tay nghề cho học sinh Hiện nay, chi phí phục vụ thực hành thí nghiệm là rất lớn, do đó ít trường, Trung tâm dạy nghề có phòng học thực hành đạt tiêu chuẩn để rèn luyện tay nghề cho học sinh, thậm chí có những trường cắt bỏ nội dung thực hành trong chương trình đào tạo
Do quy mô phòng thực hành nhỏ nên chưa tương xứng với khối lượng học sinh đầu vào Vì thế, mỗi ca thực hành, mỗi học sinh chỉ trực tiếp thao tác được một vài lần, mới đủ để nhớ chức làm sao có thể rèn luyện kỹ năng tay nghề được Đầu tư mua sách và tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập của thầy và trò Đối với các cơ sở dạy nghề hiện nay học sinh rất ít cơ hội mượn sách để học tập, tham khảo Trang bị sách được đến đâu là tùy thuộc vào khả năng của mỗi trường Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Đèn chiếu máy chiếu đa năng, máy tính, phòng phòng chuyên dùng chưa phải là phổ biến đối với các cơ sở dạy nghề, các phương tiện, thiết bị giảng dạy đó chủ yếu được trình bày khi Hội giảng, Hội thảo khoa học, chưa được sử dụng thường xuyên trong các giờ giảng trên lớp
Trang 13Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và đặc biệt là công nghệ
thông tin, đã trang bị cho giáo dục đào tạo những phương tiện, thiết bị giảng dạy rất
hiệu quả, góp phần rất lớn vaò việc thay đổi phương pháp giảng dạy và nâng cao
chất lượng đào tạo Cơ sở nào trang bị và khai thác tốt các phương tiện đó thì sẽ thu
hút học sinh học tập hào hứng, hăng hái hơn và có chất lượng hơn
Trong thực hành một số nghề như sửa chữa ô tô, sửa chữa điện, điện tử nếu
sử dụng băng hình để phân tích, đánh giá, nhận xét, kết luận và học tập thì kết quả
rèn luyện tay nghề sẽ chuẩn mực hơn Tuy nhiên, để làm được điều này, thực tế còn
nhiều khó khăn Hệ thống giáo trình, bài tập, bài thực hành là những tài liệu cần
thiết, tối thiểu để tạo điều kiện cho học sinh học tập đạt chất lượng Đây là cơ sở để
chống “dạy chay, học chay” theo cách dạy trền thống, thực tế hiện nay, rất nhiều cơ
sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu tăng quy mô
Theo chuẩn của mỗi lớp nghề chỉ có số lượng 25 học sinh Tuy nhiên, hầu
hết các cơ sở đều không đảm bảo tỷ lệ chuẩn này Do thiếu về số lượng giáo viên,
chỉ lo hoàn thành khối lượng giờ giảng đã chiếm hết thời gian của mỗi giáo viên Vì
thế, việc xây dựng một hệ thống giáo trình, bài tập, bài thực hành hoàn chỉnh, chỉ có
chất lượng trong nhà trường là một điều rất khó khăn Dễ dàng nhận thấy, nếu có
giáo trình, giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian đọc ghi
Thời gian tiết kiệm được sẽ có điều kiện cho giáo viên phân tích sâu hơn về
nội dung trình bày; mặt khác, làm cho học sinh làm quen với những bài tập chuẩn,
là cơ sở để sau này kiểm tra, thi cử Nếu mỗi giáo viên môn học dùng một hệ thống
bài tập riêng thì khi kiểm tra, thi cử sẽ có tình trạng, nếu học sinh gặp bài quen dạng
thì sẽ làm tốt hơn
Kết quả thi cử giữa các lớp khác nhau, nhưng sự khác nhau đó hoàn toàn
không đánh giá được chất lượng đào tạo, mà đơn giản vì học sinh không có chung
hệ thống bài tập thống nhất Bài thực hành là cơ sở ban đầu hình thành nên tay nghề
của học sinh Khối lượng và kết cấu bài thực hành sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tay
nghề của học sinh Mặt khác, sự phù hợp giữa kiến thức thực hành với thực tiễn tạo
nên tính hữu dụng về tay nghề của học sinh
1.1.5.4 Mối quan hệ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp thực chất là mối quan hệ giữa học đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn
Vai trò của doanh nghiệp trong giáo dục đào tạo nói chung và trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nói riêng là rất quan trọng Vai trò đó được thể hiện trong việc tiếp nhận học sinh tham quan, thực tập, doanh nghiệp tham gia báo cáo thực tế, tham gia hội thảo về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo; hợp tác trong việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động của doanh nghiệp
Ở cơ sở dạy nghề, học sinh được trang bị chủ yếu về lý thuyết, còn một nội dung rất quan trọng trong quá trình đào tạo đó là giai đoạn thực tế, thực tập Giai đoạn này cơ sở dạy nghề hoàn toàn phải dựa vào các doanh nghiệp Với xu hướng giảm tiết lý thuyết, tăng tiết thực hành Nếu không tổ chức tốt quá trình này thì chất lượng và hiệu quả thực tập sẽ thấp, lãng phí xã hội sẽ rất lớn Mặt khác các doanh nghiệp hiện nay trong môi trường cạnh tranh gay gắt và đang phải kinh doanh thật sự,
họ không có thời gian và rất ngại tiếp nhận học sinh thực tập Nếu cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhau thì sẽ rất thuận lợi trong việc
tổ chức quá trình thực tập
Đối với các cơ sở dạy nghề, mục đích đào tạo chủ yếu là những lao động có tay nghề để đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp Vì vậy, vai trò của doanh nghiệp trong việc góp phần thiết kế chương trình, nội dung đào tạo là rất quan trọng Cơ sở dạy nghề nên tổ chức hội thảo để lấy ý kiến các doanh nghiệp sử dụng lao động do trường đào tạo, ý kiến của doanh nghiệp một mặt làm cho các chương trình, nội dung đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng lao động, mặt khác sẽ tiết kiệm được chi phí xã hội do đào tạo hiệu quả
Khi cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp đã có mối quan hệ thường xuyên, gắn
bó với nhau thì cả hai bên sẽ cùng phát hiện nhu cầu đào tạo và cùng nhau giải quyết nhu cầu đó Hiện nay, mối quan hệ giữa đào tạo - sử dụng - đào tạo lại là một nhu cầu khách quan Trong mối quan hệ này, doanh nghiệp có được đội ngũ lao động có tay nghề, thường xuyên bồi dưỡng tay nghề, cơ sở dạy nghề có được nguồn đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 141.1.5.5 Công tác tổ chức quả
Công tác tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến chất đào tạo Hệ thống tổ
chức trong nhà trường hình thành nên các bộ phận, quan hệ công việc giữa các bộ
phận, mối quan hệ như thế nào sẽ liên quan đến thời gian giải quyết công việc và
hiệu quả công việc Sự phân công nhiệm vụ giữa những con người trong từng bộ
phận sẽ cho phép đánh giá chính xác khối lượng và chất lượng công việc của từng
người trong từng thời gian nhất định Đó là cơ sở để khen thưởng, xử phạt và phân
phối thu nhập một cách chính xác
Đánh giá đúng thì sẽ động viên được mọi người đem hết khả năng để làm
việc đồng thời hạn chế được những người dựa dẫm, cơ hội, gây mất đoàn kết trong
cơ sở dạy nghề
Để tổ chức quản lý tốt trong cơ sở dạy nghề thì mỗi bộ phận phải xây dựng
được quy chế hoạt động và hoạt động theo quy chế đó; giữa các bộ phận phải có
quy chế phối hợp Ví dụ: quy chế giữa Đảng, chính quyền với các tổ chức đoàn thể
trong cơ sở dạy nghề Hiệu quả của công tác quản lý chính là hiệu quả công tác của
cơ sở dạy nghề, trong đó có chất lượng đào tạo Hiện nay, các tổ chức, doanh
nghiệp đều chú trọng vào việc tổ chức lại bộ máy, đơn giản hóa thủ tục giải quyết
các công việc, giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa” đó chính là góp phần vào
việc nâng cao chất lượng công tác tổ chức mình
Trong cơ sở dạy nghề cũng như trong từng đơn vị thuộc trường, mọi công
việc được đưa ra trao đổi, thảo luận nhằm phát huy trí tuệ tập thể nhưng phải có
người quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Để có thực sự thì
mỗi bộ phận, mỗi cá nhân phải có kế hoạch hành động, được cụ thể hóa dần theo
thời gian: từng năm, từng học kỳ, từng tháng cùng với quá trình thực hiện là công
tác đánh giá, tổng kết, điều chỉnh để thực hiện tốt hơn
1.1.5.6 Môi trường học tập, sinh hoạt trong cơ sở dạy nghề
Môi trường học tập, sinh hoạt trong cơ sở dạy nghề là một tập hợp rất nhiều
yếu tố Trước hết, đó là hệ thống phòng học, ký túc xá và các dịch vụ điện, nước…
hiện nay học sinh thường chỉ chấp nhận từ 4 - 6 người/phòng khép kín, chứ không
phải là 10 -12 người như trước kia Trật tự trị an trong cơ sở dạy nghề nói chung và
khu vực ký túc xá nói riêng là một yêu cầu của học sinh trong những giờ nghỉ Cảnh quan môi trường trong khuôn viên cơ sở dạy nghề: cây xanh, thảm cỏ, vườn hoa và
vệ sinh sạch sẽ là môi trường tốt, đem lại cảm giác thư thái, bình yên cho học sinh nghỉ ngơi để học tập tốt hơn Các khu vui chơi, sân tập, câu lạc bộ thanh niên tạo
ra môi trường sinh hoạt lành mạnh cho học sinh trong thời gian nghỉ ngơi
Cuối cùng là mối quan hệ giữa học sinh với giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lý, phục vụ Đây là mối quan hệ thường ngày
1.1.5.7 Tác động của môi trường xã hội
Đây là nhân tố gián tiếp, nhưng có tác động rất lớn đến tinh thần, tư tưởng học sinh Nếu học những chuyên ngành có khả năng tìm việc làm lớn thì học sinh sẽ yên tâm, phấn khởi học tập Tuy nhiên, có khi chỉ là những thông tin sai lệch về nghề nghiệp cũng tác động tiêu cực đến học sinh, khi mà nhận thức, lập trường của mỗi học sinh chưa chắc chắn, nên dễ bị dao động bởi những thông tin từ những nguồn khác nhau Có những học sinh học hết năm thứ nhất mà vẫn chưa xác định được động cơ, thái độ học tập thì làm sao họ có thể tự giác, hăng say học tập để đạt kết quả được
Nhu cầu lao động của xã hội thì liên tục vận động, biến đổi, mà ngành nghề từng học sinh theo học lại cố định, nên những thông tin về nhu cầu lao động xã hội từng ngày, từng giờ tác động đến tư tưởng học sinh, đồng thời để có nhiều cơ hội xin việc sau này, ngoài chuyên ngành đào tạo, mỗi học sinh thường phải học thêm các kiến thức bổ trợ khác như: tin học, ngoại ngữ mà không phải học sinh nào cũng có khả năng theo và học tốt đồng thời tất cả các kiến thức đó Kết quả là, có những học sinh học nhiều thứ nhưng chất lượng đào tạo lại không cao
Về khách quan, có những doanh nghiệp tuyển dụng lao động nhưng không xác định chính xác loại lao động mà mình cần, có nghĩa là lao động đó phải đạt trình độ chuyên môn gì? Có những kiến thức hỗ trợ gì? Để phù hợp với công việc tại doanh nghiệp Có những doanh nghiệp tuyển dụng nhân viên bán xăng dầu cũng đòi hỏi bằng B anh văn và tin học văn phòng, nhưng thực chất thì chẳng sử dụng để làm gì cả Với mốt tuyển dụng lao động như vậy buộc học sinh phải học thêm ngoài chuyên ngành chính của mình
Trang 15Ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của các yếu tố như:
+ Tài chính (kinh phí định mức đào tạo, vật tư thực hành, chi phí quản lý, thù
lao giáo viên…)
+ Dịch vụ đào tạo (cư xá, tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động…)
- Học sinh tốt nghiệp: Năng lực và phẩm chất đạt được sau khi đào tạo theo
mục tiêu đào tạo; Sức khỏe đáp ứng nghề nghiệp; Kỹ năng sống (giao tiếp, hoạt
động xã hội)
- Tham gia thị trường lao động (từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra trường): trình
độ chuyên môn đáp ứng yếu cầu làm việc (năng suất, tổ chức hoạt động); Mức độ
hoàn thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích nghi trong công
việc Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất lượng nhân cách có phù
hợp hay không với yêu cầu đề ra Cần phải xem xét chất lượng đầu vào (tuyển sinh
học sinh học nghề), chất lượng của quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra (tốt nghiệp
và tham gia vào cuộc sống) Đánh giá chất lượng đào tạo không chỉ nhiệm vụ của các
đơn vị đào tạo nghề mà còn là của xã hội Đặc biệt là sự đánh giá trực tiếp của những
người sử dụng sản phẩm đào tạo (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất…)
1.1.6 Các quan điềm về phát triển Kinh tế - Xã hội địa phương
Địa phương là một tổng thể KT-XH, việc quản lý địa phương không giống
như việc quản lý một doanh nghiệp hay quản lý một ngành kinh tế chuyên môn hóa
Việc quản lý phát triển địa phương là quản lý một cách tổng thể KT-XH đòi
hỏi có sự đồng bộ trên nhiều mặt, phối hợp theo nhiều hướng Địa phương cũng là
một cấp hành chính - kinh tế chiến lược, việc quản lý địa phương có những nét khác
so với quản lý các vùng kinh tế lớn của cả nước Do vậy, việc phát triển địa phương
phải gắn liền với bản sắc của địa phương, các nguồn lực của địa phương, đặc biệt là
nguồn nhân lực
Từ đó việc nghiên cứu phát triển đại phương, quản lý địa phương phải chú ý
đến các yêu tố: Cách tiếp cận tổng thể theo nhiều hướng; sự phối hợp đồng bộ, hài
hòa lợi ích xã hội, khuyến khích tính năng động của địa phương; quan tâm đến vấn
đề môi trường sống, sắc thái địa phương, sự khác biệt của địa phương, tính năng
động của địa phương Các quan điểm và phát triển địa phương cũng từ đó quan tâm
đến các hoạt động phát triển của địa phương;
- Các hoạt động phát triển địa phương bao gồm các hoạt động nhằm khuyến khích đầu từ vào địa phương;
- Phát triển địa phương là phát huy tiềm năng và lợi thế của địa phương;
- Phát triển địa phương là các hoạt động tạo môi trường, điều kiện để nâng cáo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn;
- Phát triển địa phương là nâng cao phúc lợi địa phương (thu nhập, việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống…) và đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước
1.1.7 Ảnh hưởng của đào tạo nghề tới phát triển Kinh tế - Xã hội
Trong nhưng năm qua, đào tạo nghề ở nước ta chủ yếu dựa vào khả năng thực tế của các cơ sở dạy nghề, chỉ tiêu đào tạo phân bổ từ trên xuống, chưa chú trọng đúng tới nhu cầu thực tế của thị trường lao động và doanh nghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế, quốc tế, đào tạo nghề là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các địa phương
Nước ta là một nước đông dân với 90 triệu người, tốc độ tăng dân còn nhanh hơn tăng trưởng kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng, dân số trẻ số người ở độ tuổi dưới 40 ước một nửa dân số và số người ở độ tuổi lao động (ở đây nói là có công ăn việc làm ổn định tức là từ 25-60 tuổi) là cỡ 40 triệu người và đã có dự đoán tới 2015 con số tăng tới 63 triệu (trong những trở ngại của nền kinh tế Việt Nam là thiếu nguồn nhân lực có trình độ
Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào, trẻ, có trình độ học vấn nhưng thiếu
kỹ năng và tay nghề Nhiều dự án đầu tư của Việt Nam không phát huy được những lợi thế này Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa kém, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao
Nguồn nhân lực giá rẻ không còn được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực thấp trở thành một rào cản phát triển kinh tế Số người la o động qua đào tạo đang chiếm một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi hỏi kiến thức và kỹ năng
Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam
Trang 16Theo dự báo mỗi năm sẽ có khoảng trên 40.000 người bước vào độ tuổi lao
động, chính vì thế nhu cầu đào tạo nghề mới cho lao động là rất lớn Một số nghề,
nhóm nghề như: thợ dệt may, nghề hàn, chế tạo máy, chăn nuôi gia xúc gia cầm, công
nghệ chế biến chè, thợ thuộc da, làm giầy, thợ vận hành máy thiết bị, thợ xây dựng,
thủ công mỹ nghệ luôn có nhu cầu rất cao về lao động
Việc giải quyết tốt vấn đề đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu về lao động cho các
doanh nghiệp trong tương lai là nhân tố then chốt, tác động không nhỏ tới sự phát
triển KT-XH của một địa phương Có thể nói hệ thống dạy nghề của chúng ta được
đổi mới trong nhưng năm gần đây, việc quản lý hệ thống dạy nghề đã dần được điều
chỉnh theo cầu của thị trường lao động, trong quá trình đào tạo ta đã huy động
doanh nghiệp vào giảng dạy Song song, với việc tuyển dụng lao động được đào tạo
nghề tại chính nơi làm việc và tại cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp vừa tiết kiệm
được thời gian của người lao động, vừa tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp
Đặc biệt đã có các hình thức gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp như: Tổ
chức cho học sinh thực tập; doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị thực hành cho cơ sở;
đào tạo theo hợp đồng; tư vấn nghề nghiệp cho lao động tạo nhiều cơ hội và khả
năng thu hút lao động cho các doanh nghiệp
Đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho các doanh nghiệp, các ngành
kinh tế, mạng lưới cơ sở dạy nghề phải phát triển mạnh mẽ Từ cung sang cầu các
doanh nghiệp, ưu tiên đáp ứng lao động cho các ngành kinh tế mũi nhọn Đổi mới nội
dung cũng như nâng cao chương trình đào tạo, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên Đảm
bảo tương thích giữa đào tạo nghề và nhu cầu sử dụng doanh nghiệp cả về quy mô, cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo Tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được
nguồn nhân lực đảm bảo yêu cầu phát triển của doanh nghiệp đồng thời, trên phạm vi
lớn hơn, tác động tích cực đến sự phát triển KT-XH của địa phương
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề
Trong thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm
đáp ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam đang có nhiều đổi
mới Việc phát triển nguồn nhân lực cao đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là
một chiến lược quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Hệ
thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đào tạo nghề của một số quốc gia trên thế giới
Sự phát triển của mỗi quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào phát triển nguồn nhân lực, do vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của mọi quốc gia Nghiên cứu về chất lượng đào tạo nghề tại một số quốc gia phần nào cung cấp cho chúng ta một số kinh nghiệm để chúng ta tham khảo
Ở CHLB Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một
môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm và nghiệp vụ dạy nghề của các trường nghề, theo đó các Công ty tập trung vào việc cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của Công ty, còn các nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản nhiều hơn Do phát triển trên hai nền tảng kết hợp như vậy, nên hệ thống đào tạo nghề này còn gọi là hệ thống đào tạo nghề kép Bộ luật đào tạo nghề năm 1969 áp dụng ở CHLB Đức được coi là nền tảng cơ bản của sự phát triển hệ thống đào tạo nghề kép Bộ luật này đã đưa ra các điều lệ chi tiết và tích cực, nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề Đồng thời bảo đảm cho các nhóm xã hội quan tâm đến đào tạo nghề, chủ yếu giới chủ sử dụng lao động và người lao động, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hệ thống đào tạo nghề và khả năng tổ chức đào tạo của toàn đất nước Ngoài ra,
Bộ luật này còn là cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nghề chủ chốt ở CHLB Đức
Theo đó, tất cả thay đổi của nền kinh tế Đức đều được đưa vào các cơ sở đào tạo nghề
Ở Đức việc học nghề và nghề đào tạo lao động cho những công việc trực tiếp phục vụ đời sống con người dường như đã trở thành văn hóa phát triển của quốc gia Và đã hình thành được nhiều thế hệ những người lãnh đạo giỏi nhất chăm lo cho công việc đào tạo nghề.Có thể nói, tất cả những thay đổi của nền kinh tế Đức
Trang 17đều được đưa vào các cơ sở đào tạo nghề thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa
doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nghề
Hệ thống đào tạo nghề kép của Đức có thể hiểu nôm na là học ở trung tâm và
thực hành ở doanh nghiệp trong suốt thời gian học nghề từ 3 năm đến 3 năm rưỡi
tùy theo nghề học Tất cả các lý thuyết và kỹ năng cơ bản đều được đào tạo tại
trường còn ứng dụng vận hành tại doanh nghiệp Tuy nhiên ngay cả học lý thuyết ở
trường hoặc trung tâm đào tạo thì lý thuyết đó cũng được thực hành trên các modul
thật hoặc bài giảng 3D trên màn hình chứ không phải lý thuyết chay Khi xuống
doanh nghiệp, học sinh hoàn toàn thực hành các kiến thức, kỹ năng đã được học tại
trung tâm
Tại doanh nghiệp học sinh được giao các công việc từ đơn giản đến phức tạp
tương ứng với thời gian học nghề và được hướng dẫn tỉ mỉ Học sinh phải học việc
như một công nhân thực thụ Học sinh học nghề tại doanh nghiệp được ký hợp đồng
với doanh nghiệp, được hưởng hỗ trợ về tài chính trong quá trình học và được nhận
vào làm sau khi tốt nghiệp mà không phải thực tập nghề nữa (Nguồn: TCNN& CS
Theo website TCDN)
Ở Na Uy, quốc gia sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới, lại
giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề, chính vì vậy trong nhiều
năm qua chất lượng đào tạo nghề tại quốc gia này liên tục tăng cao, đáp ứng hiệu
quả yêu cầu hội nhập và phát triển
Hệ thống giáo dục - dạy nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức là 2
năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên
theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng
mà do doanh nghiệp và nhà trường lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm
học Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết
lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như "mô
hình 1+ 3" (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), "mô hình 0+ 4" (cả 4 năm
đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao trong công tác đạo tạo và dạy nghề tại
quốc gia này Theo thống kê, hiện có gần 90% thanh niên Na Uy vào học trường
nghề (trường trung học -Secondary School) khi bước qua 15 - 16 tuổi Sau khi học
nghề xong, học sinh có thể tiếp tục học đại học (với việc học bổ sung một số môn khoa học chung như toán, vật lý, địa lý )
Ở Nga, không chỉ là quốc gia lớn nhất thế giới mà còn là nước có diện tích đất
nông nghiệp cũng lớn nhất thế giới (trên 210 triệu héc-ta, chiếm 7% đất nông nghiệp toàn cầu), có khả năng sản xuất sản phẩm nông nghiệp nuôi sống toàn bộ dân số trên trái đất Để có được những người nông dân tương lai gắn bó với nghề trên đồng ruộng, Chính phủ Liên bang Nga cũng như chính phủ các nước cộng hòa trong Liên bang đã chú ý phát triển nhiều hình thức đào tạo nghề khác nhau Trước hết, chú trọng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghề nông cho học sinh trung học năm cuối phổ thông, gọi là hình thức đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp, tại các trường cao đẳng chuyên nghiệp Học sinh có nhu cầu học nghề phải làm đơn nhập học theo Quy chế đào tạo chung của nhà nước Những người được tuyển thường là học sinh đã tốt nghiệp phổ thông Sau khi được tuyển vào học, các em sẽ được học nghề từ 1 đến 3 năm tùy thuộc vào trình độ học vấn phổ thông của mình Có hai hình thức đào tạo: chính quy (ban ngày) và không chính quy (ban đêm)
Qua một số nghiên cứu điển hình có thể thấy một điều khá chung ở các nước,
đó là, học đi đôi với hành Nếu là học sinh, có thể vừa học văn hóa, kết hợp học nghề, nếu là nông dân họ được học lý thuyết, kết hợp trên đồng ruộng, trang trại và được cấp chứng chỉ mới được hành nghề Điều này lý giải vì sao, chất lượng, trình
độ và đạo đức sản xuất kinh doanh của nông dân các nước luôn ở bậc cao (theo hoinongdanag.org.vn)
1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Việt Nam đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Nền kinh tế chuyển từ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng XHCN Năm 2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho đào tạo nghề ở Việt Nam Quá trình tăng cường hợp tác khu vực ASEAN và các nước trên thế giới đã và đang đặt ra những yêu cầu mới không chỉ về kinh tế mà cả về giáo dục đặc biệt là về đào tạo nguồn nhân lực theo các chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế
Trang 18Đồng thời, những tiến bộ khoa học- công nghệ và những đổi mới về tổ chức,
quản lý sản xuất và dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng đặt ra
những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo
nghề nói riêng
1.2.2.1 Công tác đào tạo nghề của Việt Nam trong thời gian qua
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực
dạy nghề và dành nhiều sự đầu tư cho việc phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề về cả
số lượng và chất lượng
Hiện nay, Việt Nam đã có được một hệ thống dạy nghề rộng khắp trong cả
nước với các loại hình cơ bản như:
- Các Trường Cao đẳng nghề: Đào tạo nghề dài hạn (trình độ cao đẳng nghề)
từ 1 đến 3 năm tuỳ theo trình độ đầu vào của học viên, cấp bằng nghề Ngoài ra,
trường cũng có thể đào tạo nghề ở trình độ trung cấp nghề, sơ cấp nghề và các khoá
đào tạo ngắn hạn thường xuyên, cấp chứng chỉ nghề
- Các Trường Trung cấp nghề: Đào tạo nghề dài hạn trình độ trung cấp nghề,
cấp bằng nghề; đào tạo trình độ sơ cấp nghề, các khoá đào tạo ngắn hạn thường
xuyên, cấp chứng chỉ nghề
- Các Trung tâm dạy nghề: Đào tạo nghề ngắn hạn dưới 1 năm
- Các Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề: Đào
tạo nghề ngắn hạn dưới 1 năm, cấp chứng chỉ nghề
Hiện nay cả nước có 70 trường cao đẳng nghề, 254 trường trung cấp nghề, 665
trung tâm dạy nghề, trên 1.000 cơ sở có dạy nghề khác (bao gồm các trường cao
đẳng, đại học có dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp ) (Trường cao đẳng nghề và
trung cấp nghề gọi chung là trường dạy nghề)
1.2.2.2 Qui mô đào tạo nghề
Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống cơ sở dạy nghề, qui mô đào tạo hàng năm
cũng không ngừng tăng lên Các số liệu tổng hợp được các báo cáo tổng kết về tình
hình đào tạo nghề của Tổng cục Dạy nghề cho thấy lưu lượng đào tạo nghề giai
đoạn 2010 - 2014 tăng mạnh, tỷ lệ tăng hàng năm đạt từ 5 đến 8%, trong đó đào tạo
dài hạn tăng nhanh hơn (từ 12 đến 18%) so với đào tạo ngắn hạn (từ 2 đến 7%)
Với những nỗ lực của mình, ngành đào tạo nghề đã đào tạo được một số lượng lớn lao động có trình độ cho xã hội, tuy nhiên vẫn chưa đạt được chỉ tiêu 22 - 25% lao động qua đào tạo Nhu cầu về lao động kỹ thuật còn rất lớn mà lượng cung hiện tại chưa đáp ứng được
Theo đánh giá của các chuyên gia giáo dục, “qui mô đào tạo có tăng lên hàng năm nhưng chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật mà Nghị quyết TW2 khoá VIII đề ra” Để đáp ứng chỉ tiêu 50 - 60% lao động qua đào tạo vào năm 2020 đề ra trong chiến lược phát triển dạy nghề, ngành đào tạo nghề cần
nỗ lực cao hơn nữa
1.2.2.3 Chất lượng đào tạo nghề
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng, chất lượng đào tạo nghề những năm gần đây cũng có những cải thiện nhất định Nhưng với sự phát triển quá nhanh của khoa học
- công nghệ và xu thế hội nhập hiện nay, chất lượng đào tạo nghề tại Việt Nam đang bộc lộ nhiều hạn chế
Theo khảo sát của công ty tư vấn rủi ro Chính trị và Kinh tế, chất lượng đào tạo và nguồn nhân lực của Việt Nam trong thời gian vừa qua được đánh giá gần thấp nhất trong khu vực châu á
1.3: Biểu đồ đánh giá tổng hợp chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở một số nước châu á
(Nguồn: Công ty tư vấn rủi ro Chính trị và Kinh tế)
Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động lành nghề Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển
Trang 19của xã hội, có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh
nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo
nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho
nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất, mở rộng quy mô đào tạo để nâng tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55 % vào năm 2020, góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của nguồn lực nước ta trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế”
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020 đã xác định: “Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba khâu đột
phá để đảm bảo mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại” “Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực
chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn”
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020 theo Quyết định
số 579/QĐ - TTg, ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: “Xây
dựng được hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu
ngành nghề đồng bộ, đa cấp, giữa các cấp và ngành đào tạo trong nước và quốc tế,
phân bổ rộng khắp trên cả nước, góp phần hình thành Xã hội học tập, đáp ứng nhu
cầu học tập suốt đời của người dân”; “Phấn đấu đến năm 2020 có 40 trường nghề
chất lượng cao, trong đó đến năm 2015 có 05 trường nghề đạt đẳng cấp quốc tế và
đến năm 2020 có hơn 10 trường nghề đạt đẳng cấp quốc tế ”
Chất lượng lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong công cuộc
phát triển kinh tế đất nước Chất lượng lao động là vấn đề quyết định năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giá thành và lợi nhuận, thương hiệu và sự tồn tại của
mỗi một doanh nghiệp Trong công cuộc đổi mới đất nước định hướng xã hội chủ
nghĩa Trong các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả thì chất lượng lao
động đóng vai trò quyết định hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp
Các nghiên cứu gần đây về chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở các nước
cho thấy Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 (so với Trung Quốc là 5,73/10 và Thai land là
4,04/10) Nước ta không chỉ thiếu lực lượng lao động kỹ thuật mà còn thiếu trầm
trọng cả đội ngũ cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao Nhân lực được
đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp dù đã có những chuyển đổi để thích
nghi với nền kinh tế thị trường song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, chưa gắn với việc làm So với các nước, sản phẩm đào tạo - nguồn nhân lực - ở Việt Nam chất lượng còn hạn chế, thiếu tính cạnh tranh do năng lực hoạt động, năng lực chia sẻ và năng lực hòa nhập kém dù người Việt Nam không thiếu
sự thông minh và cần cù Đặc biệt, so với các nước, người lao động ở nước ta ở mức rất thấp về sự thành thạo tiếng Anh và công nghệ cao Vì vậy, xuất khẩu lao động tuy mang lại ngoại tệ cho đất nước và giúp nhiều nông dân đổi đời song nhìn chung người lao động Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu chỉ biết lao động đơn giản nên làm việc vất vả mà mức lương không cao
Nói chung, kinh tế Việt Nam chưa bắt kịp kinh tế của các nước phát triển Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với hai ngành: công nghiệp và dịch vụ Người lao động ít thay đổi nghề nghiệp (72% lực lượng lao động chưa bao giờ thay đổi việc làm - Khảo sát của Henaff, Martin năm 1999).Thương mại chiếm đa số trong việc chuyển đổi lao động và là điểm dừng chân chính cho những người rời bỏ nghề nghiệp ban đầu Việc hầu hết người dân giữ nguyên công việc và nơi sinh sống do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó, nguyên nhân quan trọng là sự lạc hậu, bất cập trong đào tạo nghề và sự phiến diện trong hướng nghiệp Trong vài năm gần đây, kinh tế-xã hội Việt Nam có những bước phát triển mạnh, việc thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao động trong xã hội
đã làm nảy sinh nhu cầu của người lao động Đó là được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc cũng như nghề nghiệp Thực trạng về lao động và việc làm, về chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta
đã đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo nghề và hướng nghiệp Nhà nước ta đã đặt
ra mục tiêu: ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Trong giáo dục nghề nghiệp, cần gắn nối chặt chẽ, đa dạng hóa hình thức giảng dạy, học tập và nâng cao trình độ cho cả trung cấp chuyên nghiệp lẫn dạy nghề Đặc biệt, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động Trước hết, cần gắn các trường lớp với các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các cơ sở
Trang 20kinh tế Cần có chính sách và cơ chế thích hợp để các trường, lớp này là những
nguồn đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trực tiếp cung cấp cho chính các đơn vị
này Mặt khác trong cơ cấu trình độ của giáo dục chuyên nghiệp, không thể dừng
đào tạo ở các bằng cấp như hiện nay Đã đến lúc cần phải mở các trường chuyên
nghiệp theo hướng thực hành cao ở trình độ cao đẳng và đại học
Trong đào tạo nghề, không chỉ dừng ở việc đào tạo cho người lao động có kiến
thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn đào tạo và hình thành các năng lực mềm (thích
nghi, biến đổi ) để con người có thể linh hoạt trong lựa chọn nghề và chuyển đổi
nghề nghiệp Cần mở nhiều trường, lớp đa dạng hơn và có trình độ cao hơn để có
thể có được một đội ngũ đông đảo những người lao động có trình độ bán lành nghề,
lành nghề và tay nghề bậc cao theo nghề nghiệp mà mình được đào tạo
Đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết trên, việc đào tạo nghề và hướng
nghiệp ở nước ta sẽ có những bước chuyển biến mạnh mẽ, hòa nhập với thế giới
Sản phẩm đào tạo - nguồn nhân lực - sẽ phát triển và có chất lượng cao, phục vụ
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và đáp ứng được những thách thức của quá
trình toàn cầu hóa hiện nay
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực và nghiên
cứu khoa học - công nghệ phục vụ cho nhu cầu của tỉnh và vùng Đây là lợi thế rất
quan trọng để tỉnh bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo nghề, các cơ sở dạy nghề phải
tập trung vào những vấn đề sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu và chuyển
giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật Ở Thái Nguyên đã áp dụng phương pháp này như: chế
tạo robot con, tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học của tỉnh, của bộ,
Thường xuyên đánh giá chất lượng đào tạo của cơ sở dạy nghề thông qua
khảo sát và thăm dò ý kiến của học sinh và các cơ sở sử dụng học sinh của trường
Sự đánh giá của cơ sở dạy nghề về chất lượng đào tạo là sự đánh giá từ phía
người cung ứng dịch vụ đào tạo Học sinh là đối tượng đầu tiên đánh giá chất lượng
đào tạo từ phía người sử dụng dịch vụ đào tạo Họ là người mua dịch vụ và tất nhiên
họ có vừa lòng thì mới cung ứng được dịch vụ đào tạo, dù việc đánh giá của họ có độ chính xác như thế nào Như vậy cơ sở dạy nghề phải tổ chức nhiều hình thức để đo lường sự hài lòng của học sinh trong các buổi sinh hoạt lớp, trong các buổi sơ kết học
kỳ, tổng kết năm học, thông qua phiếu khảo sát học sinh về các yếu tố hình thành nên chất lượng đào tạo, qua giao ban học sinh hàng tháng, qua hòm thư góp ý của học sinh… Cơ sở dạy nghề sẽ có cái nhìn toàn diện hơn dịch vụ đào tạo của mình
Sự đánh giá của xã hội về chất lượng đào tạo là sự đánh giá cuối cùng, khách quan và chính xác nhất Người sử dụng lao động sẽ lấy thực tế công việc làm thước
đo trình độ học sinh, hiệu quả công tác càng cao thì chất lượng đào tạo càng tốt Cũng qua thực tế công việc, người sử dụng lao động mới phát hiện được những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình đào tạo của cơ sở dạy nghề
Thứ hai, tăng cường gắn kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
Thái Nguyên có lợi thế là một tỉnh công nghiệp, có các khu công nghiệp phát triển Do vậy, việc hợp tác đào giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp có rất nhiều thuận lợi:
- Về đào tạo như: Cơ sở dạy nghề sẽ đào tạo nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp, doanh nghiệp là nơi thực tập, thực tế, đầu ra cho học sinh của cơ sở dạy nghề Như vậy cơ sở dạy nghề vừa tăng được nguồn thu, vừa giảm được chi phí đào tạo
- Về nghiên cứu, sản xuất: đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học và sản xuất sẽ giúp cho học sinh nâng cao được trình độ, kỹ năng nghề nghiệp Mặt khác chính sản phẩm nghiên cứu, sản xuất sẽ làm tăng nguồn thu cho cơ sở dạy nghề Luôn gắn cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo Nhà trường là người cung ứng dịch vụ đào tạo, doanh nghiệp là người sử dụng lao động
do cơ sở dạy nghề đào tạo Đây chính là mối quan hệ hình thành nên cung - cầu trong đào tạo
Cơ sở dạy nghề phải biết được doanh nghiệp cần những loại lao động nào? Trình độ tay nghề ở mức độ nào? với số lượng là bao nhiêu? Điều này cơ sở dạy nghề phải qua tìm hiểu, bám sát, nghiên cứu từ phía doanh nghiệp Đồng thời qua doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề đánh giá được chất lượng đào tạo của mình
Doanh nghiệp muốn có được lao động phù hợp với nhu cầu của mình thì phải gắn bó với cơ sở dạy nghề để trao đổi về nội dung, chương trình đào tạo, để đặt
Trang 21hàng loại lao động mà mình cần Đồng thời, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp
luôn có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ lao động Đào tạo mới cái gì? Bồi
dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn gì? Đòi hỏi doanh nghiệp phải kết hợp chặt
chẽ với cơ sở dạy nghề Như vậy, mối quan hệ giữa cơ sở dạy nghề với doanh
nghiệp là mối quan hệ khách quan, cần thiết và có lợi cho cả hai bên
Thứ ba, đưa mô hình quản lý chất lượng đào tạo phù hợp với các cơ sở đào
tạo (áp dụng mô hình kiểm soát đầu ra)
Nhà nước phải hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật đảm bảo đầy đủ,
đồng bộ và thống nhất trong quá trình hoạt động, nhà nước phải tăng cường công
tác kiểm tra trên tất cả các mặt đã được thể chế hóa Công tác kiểm tra phải tiến
hành sao cho gọn nhẹ, thường xuyên và có hiệu quả Chú trọng kiểm tra các yếu tố
đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, học sinh) theo quy
định của pháp luật, kiên quyết xử lý những cơ sở dạy nghề không đủ điều kiện quy
định vẫn tham gia đào tạo
Căn cứ vào tình hình hiện nay, việc kiểm soát kết quả đầu ra có vai trò quan
trọng để đánh giá đúng chất lượng đào tạo Muốn vậy, Nhà nước phải xây dựng bộ
tiêu chuẩn đánh giá cho từng loại hình, từng bậc học, xây dựng quy trình kiểm tra,
đánh giá Khi có điều kiện thì tổ chức kiểm tra phạm vi quốc gia để có cơ sở đánh
giá chung Với xu thế xã hội hóa trong giáo dục đào tạo thì áp dụng mô hình kiểm
soát đầu ra là một công cụ rất hữu hiệu để có chuẩn mực về chất lượng trong đào
tạo Bất kể trường công lập hay trường tư thục đào tạo nhưng khi kiểm tra theo
chuẩn mực quốc gia thì phải đạt Với mô hình này, điều có ý nghĩa quyết định là
phải có tiêu chí đánh giá đứng và phương pháp đánh giá khoa học, chính xác
Thứ tư, Cơ sở dạy nghề phải từng bước xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng đào tạo, gồm tiêu chuẩn đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và học sinh
Khi đã có các tiêu chuẩn, đòi hỏi cơ sở dạy nghề phải có giải pháp để xây
dựng và hoàn thiện các yếu tố trên cho đạt tiêu chuẩn Tiêu chuẩn về phòng thực
hành của học sinh theo quy định từ 1,5 - 2 m2, trên cơ sở số lượng học sinh, cơ sở
dạy nghề có kế hoạch xây dựng cho phù hợp
Các yếu tố hình thành nên chất lượng đào tạo nếu tốt (đạt tiêu chuẩn) thì chắc
chắn chất lượng đào tạo sẽ cao hơn
Trong điều kiện Nhà nước chưa ban hành được các bộ tiêu chuẩn đối với đào tạo, cơ sở dạy nghề chủ động xây dựng để áp dụng vào quá trình đào tạo của mình Xây dựng - Áp dụng - Tổng kết - Cải tiến - áp dụng cứ như vậy sẽ hoàn thiện được bộ tiêu chuẩn Nhà trường
Tóm lại, nếu các cơ sở dạy nghề biết tận dụng hết năng lực và phát huy lợi thế của mình thì vấn đề chất lượng đào tạo không còn là bài toán khó giải nữa
Trang 22Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
1) Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh
Thái Nguyên đã đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện nay hay chưa? Những tồn tại,
hạn chế, yếu kém là gì?
2) Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng công tác đào tạo nghề tại các trung
tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên, còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển hiện nay?
3) Những giải pháp nào phù hợp với tình hình thực tế, để nâng cao chất
lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận
- Đề tài lấy quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, Chủ
nghĩa Mác - Lê Nin làm phương pháp luận, đồng thời kết hợp phương pháp tư duy
trừu tượng, phân tích, tổng hợp… để làm rõ vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm để
sản xuất được những giải pháp khả thi
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ta phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện
tượng trong trạng thái vận động và phát triển và trong mối quan hệ biện chứng với
các sự vật, hiện tượng khác
2.2.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên Do đó, địa điểm chọn để
nghiên cứu là các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên Phương pháp lựa chọn
này thuận lợi cho việc tập trung phân tích chất lượng đào tạo Nhược điểm chỉ phân
tích với quy mô nhỏ, trong phạm vi các trung tâm dạy nghề của một tỉnh
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo
của các trung tâm, cục Thống kê tỉnh, Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Thái
Nghuyên và các cán bộ có trách nhiệm ở địa phương
Được chọn lọc và tổng hợp từ các tài liệu Luật dạy nghề năm 2006, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện, các văn bản pháp luật khác, các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu cá nhân, tổ chức về đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng
2.2.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài tiến hành phỏng vấn nhóm đối tượng là giáo viên, học sinh học nghề, đơn vị sử dụng lao động… để tìm hiểu về hiệu quả công tác dạy nghề Công cụ chính được sử dụng trong thu thấp thông tin là bảng hỏi các đối tượng, với nhưng nội dung chính sau:
+ Đối với cán bộ giáo viên (Chương trình dạy nghề, quản lý, đào tạo…) + Đối với học sinh, sinh viên (Chất lượng, phương pháp đào tạo, trang thiết
bị, chương trình giáo trình dạy nghề…) + Đối đơn vị sử dụng lao động (thực trạng sử dụng lao động và nhu cầu sử dụng lao động…)
Mẫu khảo sát đề tài tiến hành điều tra khảo sát chọn mẫu đối với giáo viên, học viên là 300 phiếu Trong đó, học viên là 250 phiếu, giáo viên 50 phiếu tại 04 Trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm: Trung tâm dạy nghề của Huyện gồm Trung tâm dạy nghề huyện Đồng Hỷ và Trung tâm dạy nghề huyện Phú Lương Hai trung tâm đại diện cho các trung tâm của tổ chức Chính trị - Xã hội gồm: Trung tâm dạy nghề Thanh niên và Trung tâm dạy nghề Hội phụ nữ Khảo sát đối với 10 đơn vị sử dụng lao động gồm: Công ty may Việt Thái, Công ty May Banpo Việt Nam, Công ty may Phú Lương, Công ty TNG, lãnh đạo các Huyện, xã, làng nghề nơi sử dụng lao động
2.2.4 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu
2.2.4.1 Tổng hợp thông tin
Sau khi đã thu thập được các thông tin thứ cấp và sơ cấp, thì phương pháp tổng hợp lại các thông tin sẽ cho cái nhìn khái quát về vấn đề đào tạo nghề của các
trung tâm dạy nghề tại tỉnh Thái nguyên
Phương pháp tổng hợp thông tin sẽ giúp cho việc phân tích thông tin được chính xác, hiệu quả hơn
Trang 23- Đối với thông tin thứ cấp
Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông
tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số
liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu
- Đối với thông tin sơ cấp
Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng
phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý, phân tích
2.2.4.2 Phân tích thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các chỉ số để phân tích, đánh giá mức độ
biến động và mối quan hệ giữa các hiện tượng
- Phương pháp thống kê so sánh: Nhằm so sánh, đánh giá và kết luận về chất
lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề của tỉnh Thái Nguyên qua các năm
- Phương pháp đối chiếu: Để đánh giá thực trạng, khó khăn, thuận lợi từ đó có
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy
nghề của tỉnh Thái Nguyên
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Các chỉ tiêu về mục tiêu và nhiệm vụ: Cho thấy phát triển dạy nghề gắn với
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hay chưa, và được điều chỉnh phù
hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương chưa Mục tiêu, nhiệm vụ của trung tâm
định hướng chủ yếu vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu
cầu học của người học, xã hội, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu sử dụng lao
động của địa phương, ngành
- Số lượng học sinh đầu vào: Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng đầu vào thỏa
mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra hay không
- Số lượng học sinh đầu ra: Cho thấy mức độ đạt được của đầu ra (học sinh tốt
nghiệp, kết quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chí hoặc
so với mục tiêu đã định sẵn Mức độ đạt các yêu cầu công tác của học sinh tốt
nghiệp qua đánh giá của cơ quan doanh nghiệp và của xã hội
+ Số lượng học sinh ra trường làm đúng ngành nghề đào tạo
+ Đánh giá của nhà tuyển dụng về học sinh sau khi tốt nghiệp
- Chất lượng quá trình đào tạo: cho thấy mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và học và các quá trình đào tạo khác
+ Đánh giá về phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo
+ Đánh giá của người học về cơ sở vật chất của trung tâm dạy nghề
+ Đánh giá của người học về đội ngũ giáo viên + Các chỉ tiêu chất lượng đào tạo: Tỷ lệ học sinh khá giỏi, tỷ lệ tốt nghiệp + Đánh giá về chương trình, giáo trình
+ Đánh giá về cơ sở vật chất
- Đánh giá về các dịch vụ cho người học nghề Cho thấy tổ chức thông tin thị trường lao động và giới thiệu việc làm cho người học Thường xuyên cung cấp cho người học các thông tin về nghề nghiệp, thị trường lao động và việc làm Tổ chức trợ giúp giới thiệu việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp Định kỳ tổ chức hội nghị việc làm cho người học tiếp xúc với các nhà tuyển dụng
Trang 24Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC TRUNG TÂM
DẠY NGHỀ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Thái Nguyên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên là một trong 14 tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, phía
Tây giáp với các tỉnh: Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Đông
giáp: Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Nam giáp Hà Nội Tỉnh Thái Nguyên có diện tích
là 3.531,02km2; có 9 đơn vị hành chính (bao gồm: 01 Thành phố, 01 thị xã và 07
huyện); có 181 xã, phường, thị trấn, trong đó có 125 xã miền núi, vùng cao Thái
Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hoá vùng Việt Bắc, nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam
nối vùng Việt Bắc với Thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh
khác trong cả nước và quốc tế thông qua Quốc lộ 3, sân bay quốc tế Nội Bài, cảng
biển Hải Phòng, Quảng Ninh, cảng sông Đa Phúc và đường sông đến Hải Phòng;
đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên và Thái Nguyên - Bắc Giang; đường cao tốc Hà
Nội - Thái Nguyên là tuyến đường hướng tâm nằm trong quy hoạch vành đai vùng
Hà Nội, Thái Nguyên có nhiều điều kiện để phát triển đào tạo
Bảng 3.1 Đơn vị hành chính phân theo huyện, thành phố, thị xã
Phân theo huyện,
cao
Miền núi
Tổng số
181 143 13 25 16 109 Toàn tỉnh thuộc
tỉnh miền núi Thành phố Thái Nguyên 28 9 - 19 - 7
(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2013)
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình tỉnh Thái Nguyên được chia thành 04 nhóm:
- Nhóm địa hình đồng bằng: Có diện tích không lớn, phân bố chủ yếu thuộc
02 huyện Phú Bình và Phổ Yên; Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao khoảng 20-30m, phân bố dọc Sông Cầu và Sông Công thuộc huyện Phổ Yên và Phú Bình
- Nhóm địa hình gò đồi chia thành 03 kiểu: Kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình (phân bố ở Phú Bình, Phổ Yên); kiểu cảnh quan đồi cao đồng bằng hẹp (ở phía Tây Bắc của tỉnh, kéo dài từ Đại Từ tới Định Hóa); kiểu địa hình đồi cao sườn lồi, thẳng, đỉnh nhọn, hẹp, kéo dài dạng dãy, độ cao từ 100-150m (ở lưu vực Sông Cầu, từ Đồng Hỷ, Phú Lương đến Định Hoá)
- Nhóm địa hình núi thấp hầu như chiếm trọn vùng Đông Bắc của tỉnh, phân
bố dọc ranh giới Thái Nguyên với các tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc
- Nhóm địa hình nhân tác là các hồ chứa nhân tạo bao gồm các hồ lớn như:
Hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây Si, Ghềnh Chè…với tổng diện tích mặt nước gần 6.000ha
3.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên: Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 353.171,6ha Trong
đó, diện tích đất nông nghiệp 293.378,12ha (chiếm 83,07%); đất phi nông nghiệp là 44.429,42ha (chiếm 12,3%) và đất chưa sử dụng là 16.364,06ha (chiếm 4,63%) + Tài nguyên nước: Thái Nguyên có 02 sông chính là: Sông Công (có lưu vực
951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo Dòng sông được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nước rộng 25km2, chứa 175 triệu m3 nước) và Sông Cầu có lưu vực 3.480 km2 bắt nguồn từ Chợ Đồn - Bắc Kạn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam) Ngoài ra, Thái Nguyên có trữ lượng nước ngầm khá lớn mặc dù việc khai thác và sử dụng còn hạn chế
+ Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên phong phú về chủng loại, trong đó, nhiều loại có vai trò rất quan trọng phục vụ phát triển
Trang 25kinh tế đất nước như: Sắt, than, titan, vonfram… và một số kim loại quý tuy trữ
lượng không lớn như: đồng, vàng, thuỷ ngân…
+ Tài nguyên rừng: Toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 179.813,3ha đất lâm
nghiệp (chiếm 50,91% diện tích tự nhiên) Trong đó, diện tích rừng hiện có
176.731ha; gồm rừng tự nhiên 96.303 ha, chiếm 53,3% đất lâm nghiệp, rừng trồng
80.428 ha, chiếm 44,5% đất lâm nghiệp Tài nguyên rừng ở Thái Nguyên bị suy
giảm so với trước đây, một số loại gỗ quý đã bị khai thác, số lượng hệ động, thực
vật bị giảm sút
3.1.2 Điều kiện xã hội
3.1.2.1 Dân số
Dân số Thái Nguyên xấp xỉ 1,14 triệu người (mật độ 323 người/km2), với 9
dân tộc sinh sống Tỷ lệ dân thành thị chiếm 25,95%; dân số trong độ tuổi lao động
khoảng 750 nghìn người (trong đó, lao động đang làm việc trong các phân ngành
kinh tế là 679.623 người, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở
lên chiếm 27,63%) Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch lớn về trình độ nguồn nhân lực
giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị Điều này đã làm ảnh hưởng ít nhiều
đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, hiệu quả hoạt động thương mại
- dịch vụ nói riêng
3.1.2.2 Giáo dục, đào tạo và nhân lực
Hiện nay, Thái Nguyên đang là trung tâm nghiên cứu khoa học và giáo dục
đào tạo lớn thứ 3 cả nước, sau Hà Nội và T.P Hồ Chí Minh với 8 trường đại học,
gần 20 trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, 3 trường cao đẳng nghề, 6 trường
trung cấp nghề (02 trường tư thục), 13 trung tâm dạy nghề công lập, 05 trung tâm
dạy nghề tư thục, 09 cơ sở khác có dạy nghề Bình quân một năm đào tạo được trên
40 nghìn học sinh sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong đó trình độ đại học, cao đẳng
chiếm trên 32,2% Tuy nhiên, nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động hiện vẫn
chưa được đáp ứng đầy đủ, số lượng công nhân kỹ thuật được đào tạo hàng năm
chưa đủ cung cấp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn và các tỉnh, các
vùng khác
3.1.2.3 Y tế, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có trên 539 cơ sở y tế, gồm: 21 bệnh viện, 25 phòng khám đa khoa, 180 trạm y tế xã, phường và 313 cơ sở y tế khác; với 3.956 giường bệnh, bình quân 10,7 bác sỹ/ 1 vạn dân, cơ bản đáp ứng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
3.1.2.4 Văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền và các lĩnh vực xã hội khác
Cùng với đời sống kinh tế, đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân trong tỉnh ngày càng được cải thiện 100% số xã trong tỉnh được phủ sóng truyền hình và truyền thanh, hoạt động văn hóa - thể thao, thông tin - tuyên truyền phát triển rộng khắp với hình thức phong phú, chất lượng và nội dung ngày càng được nâng cao Thái Nguyên hiện có 01 nhà văn hoá thông tin cấp tỉnh, 09 nhà văn hóa thông tin cấp huyện và 1.135 nhà văn hóa thôn, xóm
3.1.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Đường bộ của tỉnh có tổng chiều dài là 2.753km; 100% số xã trong tỉnh có đường ô tô đến tận trung tâm cụm xã Thái Nguyên có hệ thống giao thông khá thuận lợi, đường cao tốc, quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên (dài 80,4km) - Bắc Kạn -Cao Bằng tới biên giới Việt Trung Quốc lộ 1B nối Thái Nguyên - Lạng Sơn (phía Thái Nguyên 45,5km); Quốc lộ 37 nối Tuyên Quang - Thái Nguyên - Bắc Giang (phía Thái Nguyên dài 57km)
+ Đường sắt: Có tuyến Hà Nội - Thái Nguyên dài 80km; các tuyến Đa Phúc - Quan Triều; Quan Triều - Núi Hồng; Lưu Xá - Khúc Rồng, tổng chiều dài 74,5km + Đường sông: Có hai tuyến chính là Đa Phúc - Hải Phòng dài 161km, Đa Phúc
- Hòn Gai dài 211km và hai tuyến vận tải nội tỉnh Chứng tỏ rằng với điều kiện giao thông như vậy thì rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và các hoạt động đào tạo
3.2 Hệ thống các Trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên
Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Phát triển giáo dục gắn với
Trang 26nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa”; thực hiện công bằng trong giáo dục Trong những năm
gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và được sự quan tâm của các
cấp, các ngành và toàn xã hội, công tác dạy nghề từng bước phục hồi và phát triển,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn lao động trực tiếp, góp phần chuyển dịch
cơ cấu lao động, phù hợp với cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo đưa đất nước phát
triển nhanh và bền vững Đóng góp vào thành công chung đó, phải kể đến mạng
lưới các trung tâm dạy nghề - loại hình cơ sở dạy nghề phổ biến, chủ yếu dạy nghề
ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề), có vai trò quan trọng trong dạy, bổ túc, bồi dưỡng
nghề, đáp ứng yêu cầu đa dạng, linh hoạt và luôn biến động của thị trường lao động
3.2.1 Công tác quản lý nhà nước các Trung tâm dạy nghề
Hình 3.1: Sơ đồ quản lý nước về các trung tâm dạy nghề công lập
BQL CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH TN
TỈNH ĐOÀN THÁI NGUYÊN
Bảng 3.2: Hệ thống các Trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh Thái Nguyên
1 Trung tâm Dạy nghề Thanh niên - Tỉnh Đoàn Thái Nguyên
Phường Trưng Vương - TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2
Trung tâm Dạy nghề Thái Nguyên
- Sở Lao động - Thương binh và
Số 195-Đường cách mạng tháng 8 - P Phan Đình Phùng - TPTN
4 Trung tâm Dạy nghề và HTVL - Hội Nông Dân tỉnh Thái Nguyên
Đường Quyết Thắng - Phường Trưng Vương - TP Thái Nguyên
5 Trung tâm Dạy nghề 20/10 - Hội Phụ Nữ tỉnh Thái Nguyên
Phường Trưng Vương-TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
6 Trung tâm Dạy nghề TX Sông Công - UBND TX Sông Công
Đường Thống nhất, phường Cải Đan,
9 Trung tâm Dạy nghề huyện Đại
Từ - UBND huyện Đại Từ
Xóm Đồng Mạc - xã Tiên Hội - huyện Đại Từ - tỉnh TN
10 Trung tâm Dạy nghề huyện Định Hoá - UBND huyện Định Hoá
Thị trấn Chợ Chu - huyện Định Hoá - tỉnh Thái Nguyên
11 Trung tâm Dạy nghề huyện Đồng
Trang 273.2.2.2 Chức năng
Trung tâm Dạy nghề công lập là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, chịu
sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Ủy ban nhân dân huyện hoặc tổ chức Chính
trị - Xã hội, đồng thời chịu sự hướng dẫn kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên Trung tâm dạy nghề công lập
là đơn vị sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, và được
mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước huyện để hoạt động theo quy định của pháp luật
Trung tâm Dạy nghề công lập có chức năng tổ chức dạy nghề và bồi dưỡng
nghề, nhằm nâng cao tay nghề cho nhân dân lao động, góp phần vào việc giải quyết
việc làm phục vụ cho sự nghiệp phát triển Kinh tế - Xã hội ở địa phương
3.2.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm dạy nghề công lập
- Tổ chức thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề theo kế hoạch hàng năm, 5 năm được
giao phù hợp với yêu cầu phát triển Kinh tế - Xã hội của huyện, của tỉnh
- Tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện các lớp dạy nghề ngắn hạn, chương
trình, giáo trình giảng dạy đối với ngành nghề được phép đào tạo
- Tổ chức dạy nghề ngắn hạn, bổ túc, bồi dưỡng, tập huấn nghề, phổ biến kiến
thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất cho mọi đối tượng có nhu cầu
- Tổ chức các hoạt động dạy và học, kiểm tra, cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo
quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- Quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên đủ về số lượng, phù hợp với
ngành nghề, quy mô đào tạo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật
- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề
- Thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định
của pháp luật
- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề
trong hoạt động dạy nghề, tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại
doanh nghiệp
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt
động xã hội
- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề,
ứng dụng khoa học công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Quyền hạn của Trung tâm dạy nghề: Được chủ động xây dựng và tổ chức thực
hiện kế hoạch phát triển Trung tâm phù hợp với chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch mạng lưới các trung tâm dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Được tổ chức đào tạo các chương trình dạy nghề thường xuyên theo quy định của pháp luật Được liên doanh, liên kết hoạt động dạy nghề với doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức cá nhân nước ngoài để tổ chức đào tạo, bổ túc
và bồi dưỡng nghề theo quy định của pháp luật Được huy động, nhận tài trợ, quản lý,
sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động dạy nghề Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của Trung tâm, chi cho các hoạt động dạy nghề và bổ sung nguồn tài chính của Trung tâm Thực hiện các quyền tự chủ khác theo quy định của pháp luật
3.3 Thực trạng chất lƣợng đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ là một trong những mục tiêu quan trọng đến năm 2020 Vì vậy ngay từ đầu năm lãnh đạo các đơn vị đã phân công cán bộ phụ trách các xã, thị trấn đi cơ sở khảo sát nhu cầu học nghề của lao động địa phương từ đó xây dựng kế hoạch dạy nghề hàng năm trình nên các cấp có thẩm quyền phê duyệt để tuyển sinh và đào tạo Bên cạnh
đó sự định hướng chỉ đạo của Thường trực huyện ủy, HĐND, UBND huyện, các tổ chức Chính trị - Xã hội… các Trung tâm đã tuyển sinh khai giảng, quản lý và đào tạo nhiều lớp cho các học viên thuộc đối tượng lao động nông thôn thuộc 02 nhóm nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp Cụ thể: các lớp sơ cấp nghề May công nghiệp, lớp
sơ cấp nghề Kỹ thuật xây dựng, lớp sơ cấp nghề chế biến chè xanh đen, lớp trồng chè, chăn nuôi, trồng trọt… cho các học viên là con em địa phương theo chương trình
1956 của Thủ tướng Chính phủ