1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh

45 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

v Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án Từ những đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư; đánh giá về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra

Trang 1

-  DAĐT  là  cơ  sở  để  xây  dựng  kế  hoạch  thực  hiện  đầu  tư,  theo  dõi  đôn  đốc  và kiểm tra quá trình thực hiện. Từ  đó đánh giá chính xác và điều chỉnh kịp thời 

Ø  Tính hợp lý:

+  Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế cũng như của các địa phương

Trang 2

v  Độ rủi ro cao 

Do thời gian đầu tư tương đối dài trong khi thời gian thu hồi vốn lại chậm nên mức độ  rủi  ro trong hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng tương đối  cao. Một DAĐT từ  lúc bắt đầu triển khai  thực hiện cho đến lúc đi  vào  sản xuất, hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau. Các sự thay đổi về môi trường kinh tế, cơ chế chính sách, thiên tai…đều có thể ảnh hưởng rất lớn  đến hiệu quả,  nguồn  trả nợ  của dự  án do  đó đòi  hỏi  các ngân hàng  khi quyết định tài trợ vốn cho dự án phải thẩm định thật kỹ lưỡng, nhận biết được các rủi ro 

có thể xảy ra để có biện pháp phòng ngừa kịp thời. 

v  Lợi nhuận nhiều 

Khi độ  rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà các chủ đầu tư mong  đợi  các  nhiều.  Không  nằm  ngoài  quy  luật  này,  các  khoản  cho  vay  DAĐT thường mang lại cho các ngân hàng nguồn thu nhập lớn, biểu hiện cụ thể là lãi suất cho  vay  đầu  tư  dự  án  thường  khá  cao.  Có  đặc  điểm  này  là  do  để  bù  đắp  chi  phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ  cho hoạt động cho vay dự  án, chi 

phí bù đắp rủi ro. 

1.1.2.3.  Thẩm định DAĐT  Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, toàn diện các 

nội  dung cơ bản liên quan đến  DAĐT  có  ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả  thi  và khả  năng hoàn  trả  vốn đầu  tư  của dự  án để phục  vụ  cho  việc  xem  xét quyết  định cho  khách  hàng  vay  vốn  đầu  tư  dự  án.  Thẩm  định  DAĐT  là  một  mắt  xích  quan trọng trong quy trình cho vay DAĐT của ngân hàng. 

Với tư cách là đơn vị cho vay vốn, việc thẩm định DAĐT của ngân hàng sẽ tập trung chủ yếu vào phân tích, đánh giá về khía cạnh hiệu quả tài chính và khả năng

Trang 3

phẩm  có  phù  hợp  với  thị  hiếu  của  người  tiêu  thụ,  xu  hướng  tiêu  thụ  hay 

không;  giá  cả  so  với  các  sản  phẩm  cùng  loại trên  thị  trường  thế nào,  có  rẻ 

hơn không, có phù hợp với xu hướng thu nhập, khả năng tiêu thụ không;…

+  Thị trường nước ngoài: sản phẩm có khả năng đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn 

để  xuất khẩu hay  không  (tiêu  chuẩn  chất  lượng,  vệ  sinh );  quy  cách,  chất lượng,  mẫu  mã,  giá  cả  có  những  ưu  thế  như  thế  nào  so  với  các  sản phẩm cùng loại trên thị trường dự kiến xuất khẩu; thị trường dự kiến xuất khẩu có 

bị hạn chế bởi hạn ngạch không;… 

Ø  Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối: xem xét, đánh giá xem sản 

phẩm của dự án dự kiến được tiêu thụ theo phương thức nào, có cần hệ thống phân phối không; mạng lưới phân phối của sản phẩm dự án đã được xác lập chưa, mạng lưới  phân phối  có  phù  hợp  với  đặc  điểm  của  thị  trường  không;  phương  thức  bán hàng trả chậm hay trả ngay;… 

Ø  Khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án: đánh giá, dự kiến sản lượng sản 

xuất, tiêu thụ hàng năm; diễn biến giá bán sản phẩm, dịch vụ đầu ra hàng năm;… 

v  Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của dự án

+  Nhu cầu về nguyên nhiên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất hàng năm +  Các nhà cung ứng nguyên liệu đầu vào

+  Chính sách nhập khẩu đối với các nguyên nhiên liệu đầu vào (nếu có) +  Biến  động về  giá  mua, nhập  khẩu nguyên  nhiên liệu đầu  vào,  tỷ giá  trong trường hợp phải nhập khẩu

+  Đối  với  các  dự  án  phải  gắn  với  vùng  nguyên  liệu  thì  khả  năng  xây  dựng vùng nguyên liệu như thế nào? 

v  Đánh giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật 

Ø  Địa điểm xây  dựng:  xem xét,  đánh  giá địa điểm  có  thuận  lợi  về  mặt  giao 

thông,  có  gần  các nguồn  cung  cấp: nguyên  vật  liệu, điện, nước  và thị  trường  tiêu thụ,  có  nằm  trong  quy  hoạch  hay  không;  cơ  sở  vật  chất,  hạ  tầng  hiện  có  của  địa điểm đầu tư như thế nào; đánh giá so sánh về chi phí đầu tư so với các dự án tương 

tự ở địa điểm khác;… 

Ø  Quy  mô  sản  xuất  và  sản  phẩm  của  dự  án:  xem  xét,  đánh  giá  công  suất 

thiết kế dự kiến của dự án là bao nhiêu, có phù hợp với khả năng tài chính, trình độ

Trang 4

mới hay đã có sẵn trên thị trường; quy cách, phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm như 

thế nào;… 

Ø  Công  nghệ,  thiết  bị:  xem  xét,  đánh  giá  quy  trình  công  nghệ  có  tiên  tiến, 

hiện đại  không;  công nghệ  có phù hợp với trình độ hiện tại  của Việt  Nam không; 

để đảm bảo tiến độ thi công. 

Ø  Nguồn vốn đầu tư: cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả năng tham gia 

tài trợ của các nguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực hiện dự án. 

v  Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án 

Từ những đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư; đánh giá 

về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án, phương án tiêu thụ sản phẩm; đánh giá về khả năng cung cấp vật tư, nguyên liệu đầu vào cùng với đặc tính của dây chuyền công nghệ; tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của các doanh nghiệp cùng ngành nghề và mức vốn lưu động tự có của chủ dự án; các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với dự án để xác định  phần  trách  nhiệm  của  chủ  dự  án  đối  với  ngân  sách;…sẽ  thiết  lập  được  các bảng tính toán hiệu quả tài chính dự án làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả và khả 

năng trả nợ vốn vay của khách hàng. 

1.1.2.4.  Phân tích rủi ro của DAĐT 

Một DAĐT từ khâu chuẩn bị đến khâu thực hiện và đi vào sản xuất đều tiềm ẩn rất nhiều loại rủi ro khác nhau, vì vậy để tăng tính khả thi, hiệu quả của dự án cũng như có biện pháp phòng ngừa, khắc phục rủi ro kịp thời thì việc đánh giá, phân tích 

và dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là một việc làm rất quan trọng, đồng thời có ý nghĩa  rất  lớn  trong  việc  xem  xét, quyết  định cho  vay  của ngân hàng.  Một  DAĐT thường tiềm ẩn những rủi ro chủ yếu sau: 

Trang 5

muốn đứng vững và phát  triển đều phải quan tâm đến  yếu tố  chất lượng bao gồm 

chất  lượng hoạt động, chất  lượng sản phẩm, chất  lượng dịch vụ,… Việc nâng cao 

chất lượng không chỉ giúp doanh nghiệp tạo được uy tín, niềm tin với khách hàng, 

tăng khả năng cạnh tranh mà còn giúp doanh nghiệp từng bước chiếm lĩnh và mở 

rộng thị trường

Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ  yếu và thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, nên để có thể bảo đảm 

sự tồn tại và phát triển thì chất lượng của các khoản vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM. 

Chất  lượng của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản vay  đó mang  lại cho  cả  người  đi  vay  (khách hàng)  và người  cho  vay.  Một  khoản vay được coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra một  số  tiền  lớn hơn  vừa  để hoàn  trả  nợ  gốc và  lãi  vay,  vừa  trang  trải  các  chi  phí khác mà vẫn bảo đảm có lợi nhuận qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Xét một cách tổng thể khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa tạo 

ra hiệu quả xã hội. 

Chất lượng cho vay là một khái niệm tương đối, nó vừa mang tính cụ  thể, vừa mang  tính  trừu tượng.  Chất  lượng  cho  vay  phản  ánh mức độ  thích nghi  của ngân hàng  với  sự  thay  đổi  của  môi  trường bên  ngoài đồng  thời  thể hiện  sức mạnh  của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. 

Phân tích và đánh giá đúng chất lượng cho vay, xác định được nguyên nhân của những tồn tại trong lĩnh vực này sẽ giúp ngân hàng tìm được những biện pháp quản 

lý thích hợp. 

1.2.2.  Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay DAĐT 

Hoạt động  cho  vay DAĐT  là  hoạt  động  quan  trọng  và  mang  lại  thu  nhập  lớn nhất cho ngân hàng. Mặt khác hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng cũng mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, giúp cho nguồn vốn của nền kinh tế được sử dụng hiệu quả  hơn.  Do đó việc nâng cao  chất  lượng cho  vay DAĐT  không  chỉ  là  mục tiêu  của  ngân  hàng  mà  nó  còn  là  mong  muốn  của  các  cá  nhân,  doanh  nghiệp  là khách hàng của ngân hàng. Có nhiều cách đánh giá chất lượng cho vay DAĐT, tuy nhiên dưới góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay DAĐT có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

Trang 6

doanh nghiệp mới  thực sự phát  huy được vai  trò  đòn bẩy kinh tế cả đối  với ngân 

hàng  và  khách hàng. Như  vậy  rõ  ràng  chỉ  riêng  việc đáp  ứng  nhu  cầu  của  khách 

v  Đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, của ngành, địa phương 

và của cả nước 

Đây là hệ  quả tất  yếu đạt được khi  cả nhà đầu tư và ngân hàng cùng đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Nó được biểu hiện ở sự ổn định của nền tài chính tiền tệ quốc gia, giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ của khách hàng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân 

cư.  Tuy  nhiên khi  đánh  giá  tiêu  thức này  cần  căn  cứ  vào từng  trường hợp  cụ  thể trong từng thời  kỳ chứ  không có một  tiêu chuẩn đánh giá cụ  thể  cho từng trường hợp. Chẳng hạn các dự  án cải tạo nâng cấp trang thiết bị, đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời lại thu hẹp công  ăn  việc  làm  của  người  lao  động;  hoặc những  dự  án  hiệu  quả  hiện  tại  và  cả trước mắt không cao nhưng lại có ý nghĩa về mặt xã hội thì để đánh giá chính xác hiệu quả cho vay của dự án cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều mặt liên quan. Tóm lại chất  lượng cho vay DAĐT là một  chỉ  tiêu rất tổng hợp và được đánh giá trên quan điểm  của cả ba chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Tuy nhiên,  các  chỉ  tiêu  định  tính  chỉ  là những  căn  cứ  để  đánh  giá  chất lượng  cho  vay DAĐT một cách khái quát. Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào 

một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể. 

1.2.2.2.  Các chỉ tiêu định lượng 

v  Chỉ tiêu dư nợ 

Dư nợ cho vay DAĐT Chỉ tiêu dư nợ  = 

Tổng dư nợ cho vay 

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT so với tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, phản ánh quy mô của việc cho vay dự án đối với các loại hình cho vay khác. Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng thể hiện sự chú trọng của ngân hàng đến hoạt  động  cho  vay  DAĐT.  Việc  đẩy  mạnh  cho  vay  DAĐT  không  chỉ  giúp  các

Trang 7

Chỉ  tiêu  này phản  ánh  quy  mô,  khả  năng  tận  dụng  nguồn  vốn  trong  cho  vay 

DAĐT của các NHTM. Hầu hết các NHTM đều sử dụng nguồn vốn trung dài hạn 

để tài trợ cho ba loại tài sản: tài sản cố định, cho vay và đầu  tư. Tuy nhiên do đặc 

điểm  các  nguồn  vốn  ngắn  hạn  của  ngân  hàng  có  sự  gối  đầu  nhất  định  nên  ngân 

hàng  có  thể  tận dụng nguồn này  một  cách hợp lý để  cho  vay  dự  án. Do  đó  trong 

nợ. Trong trường hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi suất quá hạn cao hơn nhiều 

so với lãi suất đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, mặc dù vậy có thể thấy 

rõ là không ngân hàng nào mong muốn nhận được khoản lãi cao này. Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng tín dụng, chất lượng cho vay của ngân hàng, đồng thời phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt. 

Chỉ  tiêu  đầu  tiên  phản  ánh  khái  quát  về  tình  hình  nợ  quá  hạn  của  ngân  hàng trong cho vay DAĐT. Tỷ lệ này tỷ lệ nghịch với chất lượng cho vay của ngân hàng. 

Tỷ lệ này cao cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng càng thấp và ngược lại, 

do dó tất cả các ngân hàng đều mong muốn hạ thấp tỷ lệ này xuống đến mức thấp nhất có thể. Tuy nhiên trên thực tế do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh  khỏi  nên  các  ngân  hàng  thường  chấp  nhận  một  tỷ lệ  nợ  quá  hạn  nhất  định

Trang 8

Các khoản vay dành cho đầu tư dự án của ngân hàng cần phải được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn trung và dài hạn (bao gồm nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên và các nguồn vốn có thời hạn dưới một năm nhưng có tính ổn định cao trong thời gian dài). Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng lại chủ yếu là vốn ngắn hạn, thì không thể và cũng không nên tìm cách mở rộng cho vay DAĐT. Các nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay DAĐT bao gồm: vốn tự có của ngân hàng; vốn vay trung, dài hạn trong và ngoài nước; vốn uỷ thác và một bộ phận nhất định vốn vay ngắn hạn. Quy mô các nguồn vốn này là khác nhau nhưng chúng 

là  một  trong  những  nhân  tố  quyết  định  tới  chất  lượng  cho  vay  DAĐT  của  ngân hàng. 

ü  Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định DAĐT, thẩm định khách hàng 

Một  trong  những  tiêu  chí  đánh  giá  chất  lượng  hoạt động  cho  vay DAĐT  của một ngân hàng là vốn và lãi vay được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Điều này sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệu quả mong muốn, hoặc doanh nghiệp không có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng. Để hạn chế nguy

Trang 9

Cho  dù  công  tác  thẩm  định  dự  án,  thẩm  định  khách hàng  được  thực  hiện  tốt, 

giúp cho ngân hàng  lựa  chọn  được những  khách hàng đáng  tin  cậy,  những  dự  án 

là một hệ  thống các biện pháp  liên quan đến việc mở  rộng hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể. Với ý nghĩa như vậy, rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất  lớn đến chất  lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay DAĐT nói riêng. Trước hết là về mặt quy mô tín dụng, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó hạn  chế  tín  dụng  trung  và  dài  hạn  cũng  có  nghĩa  là  quy  mô  cho  vay DAĐT  của ngân hàng đó sẽ có nguy cơ bị thu hẹp. Qua đó có thể cho thấy chất lượng cho vay 

dự án của ngân hàng đang gặp vấn đề hay ít ra xét về quy mô cũng không thể nói chất lượng cho vay dự  án của ngân hàng trong giai đoạn đó là tốt. Ngoài ra, chính sách  tín  dụng  của ngân  hàng  còn  bao  gồm  hàng  loạt  các  vấn  đề  như: những  quy định  về  điều  kiện,  tiêu  chuẩn  tín  dụng đối  với  khách  hàng;  lĩnh  vực  tài  trợ;  biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất… có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng tín dụng cũng như chất lượng cho vay dự án của ngân hàng. Nếu các vấn đề đó được xây dựng một cách khoa học và chặt chẽ, kết hợp hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và của toàn xã hội thì chắc chắn chất lượng cho vay dự án sẽ được nâng lên và ngược lại. 

ü  Thông tin tín dụng 

Thông tin luôn là yếu tố  cơ bản cần thiết cho công tác quản lý dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, hoạt động ngân hàng cũng  không  loại  trừ  điều  đó.  Để  thẩm định  dự  án, thẩm định khách hàng trước hết phải có thông tin về dự  án, về khách hàng đó; để làm  tốt  công tác giám sát khách hàng cũng  cần phải có thông tin. Thông tin càng chính xác, kịp thời thì  càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết  định cho vay, theo dõi việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ. Thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính  sách  tín  dụng một  cách  linh hoạt  cho phù hợp  với  tình hình  thực  tế. Tất  cả những điều trên góp phần nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của mỗi ngân hàng

Trang 10

ü  Công nghệ ngân hàng 

Công nghệ ngân hàng và trang thiết bị kỹ thuật  cũng là một  trong những nhân 

tố tác động đến chất lượng cho vay dự án của các ngân hàng nhất là trong thời đại 

khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng 

công nghệ hiện đại, được trang bị các phương tiện kỹ thuật cao sẽ tạo điều kiện đơn 

giản  hoá  các  thủ  tục,  rút  ngắn  thời  gian  giao  dịch,  đem  lại  sự  tiện  lợi  tối  đa  cho 

được  thực hiện bởi  con người, do  vậy  nhân  tố  con người mà  cụ  thể  là  cán bộ  tín 

dụng  có  ý  nghĩa  rất  quan  trọng  đối  với  việc  nâng  cao  chất  lượng  tín  dụng,  chất 

lượng  cho  vay  của  ngân hàng. Dù ngân hàng có  một  chính sách  tín  dụng  và  quy 

Bất  kỳ  một  loại  hàng  hoá,  dịch  vụ  nào  muốn  tiêu  thụ  được  cũng  cần 

phải  có người  mua  và  có  nhu  cầu  sử  dụng  chúng,  tín  dụng  ngân  hàng  cũng  vậy, 

Khả  năng  đáp  ứng  các  điều  kiện,  tiêu  chuẩn  tín  dụng  của  khách hàng  sẽ  ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng đặc biệt là hoạt động cho vay DAĐT của ngân  hàng.  Tuy  nhiên,  vấn  đề  đặt  ra  ở  đây  là  các  điều  kiện,  tiêu  chuẩn  được  sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và DAĐT có hợp lý hay không. Nếu các điều  kiện,  tiêu  chuẩn đặt  ra  quá khắt  khe,  không  phù hợp  với  thức  tế  sẽ  làm  nản lòng khách hàng hoặc có rất ít khách hàng thoả mãn được yêu cầu của ngân hàng. Điều đó gây cản trở cho ngân hàng trong việc thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Ngược lại, nếu điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra không chặt chẽ có thể khiến ngân hàng mắc những sai lầm đáng tiếc trong việc ra quyết định cho vay, dẫn đến rủi ro 

và ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng. 

ü  Khả năng quản lý, sử dụng vốn vay 

DAĐT có được thực hiện đúng như kế hoạch hay không, có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản lý và sử dụng vốn vay của khách hàng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và đầy biến động như hiện nay thì vai trò của công tác quản lý, giám sát ngày càng trở nên quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của dự án. Việc quản lý, sử dụng vốn vay tốt không chỉ giúp cho DAĐT nhanh chóng mang lại hiệu quả mà còn giúp giảm được những  chi  phí  không  cần  thiết  trong  quá  trình  đầu  tư.  Ngược  lại  nếu  khách hàng không  có  khả năng  quản  lý,  sử  dụng nguồn  vốn vay  ngân hàng  thì  sẽ  làm nguồn vốn này  không  thể  phát huy được  hiệu quả như  dự  kiến  ban đầu,  ảnh hưởng đến

Trang 11

dụng  của  ngân  hàng  có  liên  quan  đến nhiều  đối  tượng  trong  nhiều  lĩnh  vực  khác 

nhau.  Do  đó,  chất  lượng  tín  dụng  ngân  hàng  nói  chung  và  chất  lượng  cho  vay 

DAĐT  nói  riêng sẽ phụ  thuộc vào rất  nhiều nhân  tố. Có những nhân tố  chủ  quan 

thuộc  bản  thân  ngân  hàng,  có  những  nhân  tố  thuộc  khách  hàng,  cũng  có  những 

ngân  hàng mà  vai  trò  của  nó  thể  hiện  qua  sự  tác  động  đến  hoạt  động đầu  tư  của 

khách hàng, đặc biệt  các là các hoạt động phụ  thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên 

Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển kinh tế được đề ra quá cao đã tạo sức ép đầu tư 

ồ ạt trong khi nền kinh tế lại thiếu vốn trầm trọng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Điều này dẫn đến một số tổ chức hoặc doanh nghiệp với số vốn khá khiêm tốn phải 

đi  vay ngắn hạn để sử dụng vào những công trình  đầu tư mang tính chất trung và dài hạn như: đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài sản cố định… 

ü  Quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế 

Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống  quản  lý  yếu  kém  gặp  phải  nguy  cơ  rủi  ro nợ  xấu  tăng  lên  bởi  hầu  hết  các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút. 

ü  Sự quy hoạch, phân bổ đầu tư của Nhà nước, Chính phủ 

Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhuận nhiều nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem  lại  lợi  nhuận  cho  họ,  từ  đó  sẽ  tạo  ra  sự  chuyển  dịch  vốn  từ  ngành  này  qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên  ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với 

sự  quy hoạch hợp lý, hợp tác,  phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia

Trang 12

chất  lượng  tín  dụng  của mình.  Tuy nhiên, hiện nay các  chính  sách quản  lý  vĩ  mô 

của Nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện  nên vẫn  còn nhiều vấn đề  bất cập. 

thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. 

1.2.4.  Ý nghĩa và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của  NHTM 

Cùng với  sự  phát  triển của sản xuất  và lưu thông hàng hoá  thì  hoạt động cho vay cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiện giao dịch để đáp ứng mọi  nhu  cầu  sản  suất  kinh doanh  của  xã hội.  Trong điều  kiện đó,  chất  lượng  cho vay của ngân hàng là vấn đề ngày càng được quan tâm. 

Cho vay DAĐT là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội  theo từng ngành, từng lĩnh vực. Thông qua sự đánh giá, phân tích hiệu quả của các DAĐT đã góp phần khai  thác mọi  tiềm năng về  tài nguyên, lao động và tiền vốn để tăng năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động … Do đó chất  lượng cho vay DAĐT được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định 

và phát triển kinh tế. 

Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT còn là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán. Khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịch  lớn  hơn,  tạo  điều  kiện  tiết  kiệm  tiền  trong  lưu  thông,  củng  cố  sức  mua  của đồng tiền. Đồng thời việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT còn là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của các NHTM

Trang 13

giá  thực  trạng  chất  lượng  cho  vay  DAĐT  tại  NHCT  –  CN  TP.HCM  ở  chương  2 

cũng  như  cơ  sở  để  đề  ra  các  giải  pháp  nâng  cao  chất  lượng  cho  vay  DAĐT  ở 

của NHCT – CN TP.HCM  2.1.1 Giới thiệu sơ lược về hệ thống NHCT 

NHCT  được  thành  lập  vào ngày  26/03/1988 với  tên  gọi  là  Ngân hàng  chuyên doanh  Công  thương  Việt  Nam  theo  Nghị  định  số  53/HĐBT  của  Hội  đồng  Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 

Sau khi Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực thi hành (tháng 10/1990), theo Quyết định 402/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam được chuyển thành Ngân hàng Công thương Việt Nam và đến thời điểm này Ngân hàng Công thương Việt Nam mới thực sự trở thành một  NHTM có chức năng kinh doanh tiền tệ. Mô hình tổ  chức kinh doanh được định rõ:  Ngân hàng Công thương Việt  Nam là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có các Chi nhánh là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc. 

Đến  ngày  08/07/2009,  Ngân  hàng  Công  thương  Việt  Nam  chính  thức  đổi  tên thành  Ngân  hàng  Thương  mại  Cổ  phần  Công  thương  Việt  Nam  (theo  giấy  phép thành lập và hoạt động số 142/GP­NHNN ngày 03/07/2009 của Thống đốc NHNN Việt Nam) với tên giao dịch là NHCT. 

NHCT hiện là một NHTM hàng đầu tại Việt Nam xét cả về quy mô tài chính và phạm vi hoạt động. Trải qua 22 năm xây dựng và phát triển, NHCT đã từng bước vươn lên mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng đều đặn và mạng lưới không ngừng mở rộng. Hiện nay, NHCT có 151 chi nhánh, hơn 800 Phòng Giao dịch – Quỹ tiết kiệm 

ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước và đã thiết lập quan hệ ngân hàng đại 

lý với hơn 900 ngân hàng trên toàn cầu. 

Ngoài ra, NHCT còn có 4 công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính,  Công  ty TNHH  Chứng  khoán  Công  thương,  Công  ty  Quản  lý  Nợ  và  Khai

Trang 14

thác  Tài  sản,  Công  ty  TNHH  Bảo  hiểm  Ngân hàng  Công  thương  Việt  Nam  (Bảo 

Ngân) và 3 đơn vị  sự  nghiệp là Trung tâm Công nghệ  Thông tin, Trung tâm Thẻ, 

Đến  ngày  20/09/2009,  theo  Quyết  định  số  117/BB­HĐQT­2009  của  Chủ  tịch 

Hội  đồng  quản  trị Ngân  hàng  TMCP  Công  Thương  Việt  Nam,  Sở  Giao  Dịch  II­ 

và ngành hàng có triển vọng phát triển

-  Phát triển thị phần phi tín dụng: trở thành một trong các NHTM đi đầu trong phát  triển các dịch vụ  thẻ,  chuyển tiền du học, chuyển tiền kiều hối, cho thuê két sắt… với sản phẩm đa dạng, giá trị gia tăng vượt bậc, chất lượng dịch vụ hoàn hảo, tạo cạnh tranh, thương hiệu và bản sắc riêng

-  Trở  thành  Ngân  hàng  có  trình  độ  khoa  học  công  nghệ  hiện  đại,  khai  thác hiệu quả nhiều công nghệ mới trong hoạt động quản lý và kinh doanh; ứng dụng và cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại cho khách hàng

-  Hình  thành  mạng  lưới  Ngân  hàng  và  mạng  lưới  khách  hàng  để  phục  vụ 

tư tín dụng, thu phí dịch vụ. Chất lượng tín dụng và chất lượng khách hàng của chi nhánh ngày  càng  được nâng cao,  các  sản phẩm dịch  vụ  của  chi  nhánh ngày càng được mở rộng và cạnh tranh được với các NHTM khác trên địa bàn TP.HCM

Trang 15

điểm 31/12/2008.  Tuy  nhiên, đến  thời điểm  cuối  năm 2010, nguồn  vốn huy  động 

của  Chi  nhánh  đã  có  sự  tăng  trưởng  vượt  bậc,  tăng  36,2%  so  với  thời điểm  cuối 

năm 2009, tương ứng với mức tăng 3.686 tỷ đồng về mặt số  tuyệt đối và đến thời 

điểm  30/06/2011  thì  nguồn  vốn  huy  động  của  chi  nhánh  tiếp  tục  tăng  mạnh  đạt 

14.877  tỷ  đồng,  tăng  38,1%  so  với  cùng  kỳ  năm  2010,  trong  đó  tiền  gửi  doanh 

nghiệp đạt  7.140  tỷ đồng,  chiếm  47,9%  trong  tổng  nguồn  vốn  huy  động  của  Chi 

nhánh. 

Mặc dù nguồn vốn huy động có sự tăng trưởng mạnh nhưng nếu xét về tỷ trọng 

nguồn vốn của NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn TP.HCM và tỷ trọng nguồn vốn

của NHCT – CN TP.HCM trên toàn hệ thống NHCT thì các tỷ trọng này lại có xu hướng giảm dần qua các năm. Nếu như tại  thời  điểm 31/12/2005, nguồn vốn huy động  của  NHCT  –  CN  TP.HCM  chiếm  tỷ trọng 3,9%  trong  tổng nguồn  vốn  huy động  trên  địa  bàn  TP.HCM  và  chiếm  6,8%  trong  tổng  nguồn  vốn  huy  động  của NHCT  thì  đến  thời  điểm  30/06/2011  nguồn  vốn  huy  động  của  NHCT  –  CN TP.HCM chỉ còn chiếm 1,73% trên địa bàn TP.HCM và chiếm 3,95% trên toàn hệ thống NHCT nguyên nhân chủ  yếu do trong giai đoạn 2006 – 2007, hệ thống ngân hàng TMCP phát triển rất mạnh, nhiều ngân hàng TMCP mới được thành lập cùng với  việc các ngân hàng TMCP cũ không ngừng tăng quy mô, mở  rộng mạng lưới hoạt động đồng thời áp dụng nhiều chính sách ưu đãi, chương trình khuyến mãi,… 

từ  đó đã  tạo  ra  rất  nhiều  khó  khăn,  áp  lực cạnh  tranh  cho  NHCT –  CN  TP.HCM trong công tác huy động vốn. Bên  cạnh đó, với  áp lực hoàn thành các chỉ  tiêu kế hoạch mà NHCT giao cho từng chi nhánh đã làm cho việc cạnh tranh giữa các chi 

nhánh trong nội bộ hệ thống NHCT cũng diễn ra rất gay gắt và khốc liệt. 

Biểu 2.2: 

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo NHNN­Chi nhánh TP.HCM, báo cáo thường niên của  toàn hệ  thống  NHCT  và  Báo  cáo  HĐKD của  NHCT  ­  CN TP.HCM  qua  các năm 

2005 ­ 2011).

Trang 16

đến  thời  điểm  cuối  năm  2007  thì  dư  nợ  của  chi  nhánh đã  có  sự  tăng  trưởng  khá 

mạnh,  đạt  7.360  tỷ  đồng,  tăng  32,7%  so  với  thời  điểm  cuối  năm  2006.  Tại  thời 

Tuy  nhiên,  với  sự  cạnh  tranh  gay  gắt  của  các  ngân  hàng  TMCP  trên  địa  bàn 

TP.HCM  và  các  chi nhánh  trong hệ  thống  NHCT  thì  tỷ trọng dư nợ  cho  vay  của 

NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn TP.HCM và tỷ trọng dư nợ cho vay của NHCT 

–  CN TP.HCM trên toàn hệ thống NHCT lại  có xu hướng giảm dần qua các năm

Tại thời điểm 30/06/2011, tỷ trọng dư nợ cho vay của NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn  TP.HCM  là  4,41% và  tỷ trọng dư nợ  cho  vay của  NHCT  –  CN  TP.HCM 

trên toàn hệ thống NHCT là 1,47% 

Biểu 2.4: 

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo NHNN­Chi nhánh TP.HCM, báo cáo thường niên của  toàn hệ  thống  NHCT  và  Báo  cáo  HĐKD của  NHCT  ­  CN TP.HCM  qua  các năm 

2005 ­ 2011) 

2.1.3.3.  Về hoạt động dịch vụ 

Bên  cạnh  các  hoạt  động  chủ  yếu  là  huy  động  vốn  và  cho  vay  thì  các  dịch  vụ khác như dịch vụ thẻ, tài trợ thương mại, các dịch vụ thanh toán,…tại NHCT – CN TP.HCM ngày  càng được quan tâm,  chú  trọng  từ  việc đa đạng hóa  các  sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng được tất cả các nhu cầu của khách hàng đến chất lượng dịch 

vụ, thái độ phục vụ khách hàng, điều này không chỉ đem lại sự hài lòng cho khách hàng  mà  còn  góp  phần  nâng  cao  uy  tín,  khả  năng  cạnh  tranh  của  NHCT  –  CN TP.HCM trên địa bàn. 

Nếu như năm 2005, tổng phí  thu được từ  hoạt động dịch vụ  của NHCT –  CN TP.HCM chỉ là 31,6 tỷ đồng trong đó thu từ hoạt động tài trợ thương mại là 16,1 tỷ đồng, thu từ dịch vụ thanh toán là 10,1 tỷ đồng, thu từ dịch vụ thẻ là 3,9 tỷ đồng và các dịch vụ khác là 1,5 tỷ đồng thì đến năm 2010, các khoản thu này đều tăng hơn gấp đôi với tổng phí thu được là 71 tỷ đồng (tăng 124%) và trong 6 tháng đầu năm

Trang 17

Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng lợi nhuận của NHCT – CN TP.HCM so với toàn hệ thống NHCT thì tỷ trọng này lại có xu hướng giảm qua các năm nguyên nhân chủ yếu do những năm qua, với sự nỗ  lực không ngừng nghỉ của toàn thể cán bộ nhân viên  trong  hệ  thống  cùng  với  sự  hỗ  trợ,  chỉ  đạo  nhanh  chóng,  kịp  thời  từ  trụ  sở chính, các chi nhánh trong hệ thống đều có những bước tiến vượt bậc, hoàn thành các  chỉ  tiêu  kế  hoạch do  NHCT  giao,  trong đó  có  rất  nhiều  chi  nhánh nhiều năm 

liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 

Biểu 2.7: 

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của toàn hệ thống NHCT và Báo cáo 

HĐKD của NHCT ­ CN TP.HCM qua các năm 2005 ­ 2011)  2.2. Thực trạng hoạt động cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM  2.2.1.  Sơ lược quy trình cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM 

2.2.1.1. Quy trình cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM  Bước 1:  Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn từ khách hàng:

-  Hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ, bao gồm:

Trang 18

trình  phỏng  vấn,  kiểm  tra  thực  tế  tại  nơi  sản xuất  kinh doanh  của  khách hàng 

vay  vốn  và  các  thông  tin  từ  các  nguồn  khác  (CIC,  cơ  quan  quản  lý  doanh 

nghiệp, thông tin từ Phòng quản lý chi nhánh,…), cán bộ thẩm định sẽ tiến hành 

thẩm định khách hàng, thẩm định DAĐT, thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay 

và xác định mức lãi suất cho vay

-  Sau  đó  cán  bộ  thẩm  định  sẽ  lập  tờ  trình  trong  đó  ghi  rõ  ý  kiến  đề  xuất  cho 

vay/không  cho  vay,  các  điều  kiện  kèm  theo  (nếu  có),  ký  và  trình  lãnh  đạo 

-  Thực hiện công chứng, chứng thực đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo đảm, thực hiện các thủ tục giao nhận TSBĐ, giấy tờ của TSBĐ và gửi các giấy 

tờ liên quan đến cơ quan bảo hiểm (nếu có). 

Bước 7:  Giải ngân: căn  cứ  vào hợp đồng tín dụng đã ký kết, các hồ  sơ, hoá đơn, 

chứng từ do khách hàng cung cấp để tiến hành giải ngân cho khách hàng. 

Bước 8:  Kiểm tra, giám sát vốn vay  Bước 9:  Thu nợ gốc, lãi, phí và xử lý các phát sinh

-  Xử lý các phát sinh: 

+  Đối với các vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm định ban đầu 

của dự án (như điều chỉnh tăng số tiền cho vay, thay đổi cơ cấu nguồn vốn,  danh mục đầu tư của dự án,…): xem xét khả năng ảnh hưởng của các vấn đề 

2.2.1.2. Trách nhiệm của các cán bộ liên quan đến nghiệp vụ cho vay DAĐT 

v  Cán bộ thẩm định:

-  Thẩm định DAĐT theo sự phân công của Trưởng phòng và Ban Giám đốc đúng theo quy định

-  Chịu  trách  nhiệm  về  nội  dung  thẩm định  khoản  vay,  nội dung  báo  cáo,  các  ý kiến đánh giá và đề xuất cho vay/không cho vay

-  Phối  hợp  với  cán bộ  tín  dụng  kiểm  tra  thực  tế  cơ  sở  sản xuất  kinh doanh  của khách hàng, địa điểm triển khai dự án, TSBĐ cho khoản vay

Trang 19

-  Phối  hợp  với  cán  bộ  tín  dụng  để  kiểm  tra,  đánh  giá  các  dự  án  đã  đi  vào  hoạt 

-  Chịu  trách  nhiệm  trước  Người  có  thẩm  quyền  quyết  định  về  chất  lượng  thẩm định  rủi  ro  tín  dụng  và  các  đề  xuất  trên  báo  cáo  kết  quả  thẩm định  rủi  ro  tín dụng; 

v  Người có thẩm quyền quyết định cho vay:

-  Chỉ  đạo  Phòng  Thẩm  định,  Phòng  khách  hàng,  Phòng  quản  lý  rủi  ro  tổ  chức thực hiện việc thẩm định và đề xuất cho vay tương ứng với chức năng nhiệm vụ của từng phòng;

-  Quyết định các vấn đề liên quan đến việc cho vay trong phạm vi thẩm quyền và 

chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình. 

2.2.2.  Tình hình thẩm định DAĐT  Biểu 2.8: 

(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT ­ CN TP.HCM qua các năm 2005 ­ 2011) 

Mặc dù những điều kiện vay vốn của NHCT –  CN TP.HCM có phần chặt  chẽ hơn  các  NHTM  khác  trên  địa  bàn  nhưng  hàng  năm,  NHCT  –  CN  TP.HCM  vẫn nhận được rất nhiều hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi đến, trong đó lượng hồ sơ vay  trung dài hạn  (chủ  yếu  là  vay  đầu  tư  dự  án)  luôn  chiếm  tỷ lệ  khá  cao  (trung bình từ 60% ­ 70% trong tổng số hồ sơ đề nghị vay)

Trang 20

hoặc chưa triển khai bắt đầu được thực hiện trở  lại, từ  đó làm cho dư nợ  cho vay

DAĐT  tại  NHCT  –  CN  TP.HCM  có  sự  tăng  trưởng  trở  lại  và  đến  thời  điểm 30/06/2011, dư nợ cho vay DAĐT của Chi nhánh đạt 3.908 tỷ đồng (tăng 15% so 

với thời điểm cuối năm 2010). 

Biểu 2.9: 

(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT ­ CN TP.HCM qua các năm 2005 ­ 2011) 

Bên cạnh đó, thông qua việc tài trợ vốn cho các dự án ngay từ đầu đã giúp cho NHCT – CN TP.HCM tiếp tục tài trợ vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện cho Chi nhánh tăng trưởng dư 

nợ  một  cách  vững  chắc,  an  toàn  và  tiến  tới  thiết lập quan hệ  toàn diện  với  khách hàng. Điều này đã giúp cho cơ cấu dư nợ cho vay của NHCT – CN TP.HCM có sự 

ổn định, tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT trên tổng dư nợ cho vay qua các năm ở mức bình quân là 32%

Trang 21

Riêng đối  với các doanh nghiệp nhà nước, nếu như  trước đây  tỷ lệ  dư nợ  cho vay DAĐT trên tổng dư nợ cho vay DAĐT luôn ở mức khá cao (nhất là trong giai đoạn 2000 – 2004 tỷ lệ này ở mức trên 60%) thì đến thời điểm 30/06/2011, dư nợ cho vay DAĐT chỉ còn chiếm tỷ lệ rất thấp (2,5% trên tổng dư nợ cho vay DAĐT của Chi  nhánh) với 8 dự  án trong đó chủ  yếu là lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ  tầng và giao thông. 

Qua đó cho thấy, NHCT–CN TP.HCM đã thực hiện đúng định hướng đầu tư tín dụng mà trụ sở chính đã đề ra là giảm dần dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp 

nhà nước, đẩy mạnh tài trợ vốn đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 

2.2.3.3.  Phân loại dư nợ cho vay DAĐT theo ngành nghề, lĩnh vực 

Biểu 2.12: 

(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT ­ CN TP.HCM 6 tháng đầu năm 2011)

Ngày đăng: 08/08/2016, 15:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Tỷ  trọng  dư  nợ  cho  vay  DAĐT/tổng  dư  nợ  của  NHCT  –  CN - Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank  chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
ng 2.1:  Tỷ  trọng  dư  nợ  cho  vay  DAĐT/tổng  dư  nợ  của  NHCT  –  CN (Trang 24)
Bảng 2.3: Tỷ trọng  doanh số cho vay DAĐT/ dư nợ cho vay DAĐT bình quân  của NHCT – CN TP.HCM giai đoạn 2005 ­ 2011 - Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank  chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2.3  Tỷ trọng  doanh số cho vay DAĐT/ dư nợ cho vay DAĐT bình quân  của NHCT – CN TP.HCM giai đoạn 2005 ­ 2011 (Trang 24)
Bảng 2.2: Tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT/tổng nguồn vốn huy động của NHCT  – CN TP.HCM giai đoạn 2005 ­ 2011 - Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank  chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2.2  Tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT/tổng nguồn vốn huy động của NHCT  – CN TP.HCM giai đoạn 2005 ­ 2011 (Trang 24)
Bảng 2.4: Tỷ trọng  nợ quá hạn trong cho vay DAĐT/dư nợ cho vay DAĐT và - Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank  chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2.4  Tỷ trọng  nợ quá hạn trong cho vay DAĐT/dư nợ cho vay DAĐT và (Trang 25)
Bảng 2.5: Tỷ trọng lợi nhuận trong cho vay DAĐT/dư nợ cho vay DAĐT và tỷ - Nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Vietinbank  chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2.5  Tỷ trọng lợi nhuận trong cho vay DAĐT/dư nợ cho vay DAĐT và tỷ (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w