v Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án Từ những đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư; đánh giá về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra
Trang 1- DAĐT là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện. Từ đó đánh giá chính xác và điều chỉnh kịp thời
Ø Tính hợp lý:
+ Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của các ngành kinh tế, vùng kinh tế cũng như của các địa phương
Trang 2v Độ rủi ro cao
Do thời gian đầu tư tương đối dài trong khi thời gian thu hồi vốn lại chậm nên mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng tương đối cao. Một DAĐT từ lúc bắt đầu triển khai thực hiện cho đến lúc đi vào sản xuất, hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau. Các sự thay đổi về môi trường kinh tế, cơ chế chính sách, thiên tai…đều có thể ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, nguồn trả nợ của dự án do đó đòi hỏi các ngân hàng khi quyết định tài trợ vốn cho dự án phải thẩm định thật kỹ lưỡng, nhận biết được các rủi ro
có thể xảy ra để có biện pháp phòng ngừa kịp thời.
v Lợi nhuận nhiều
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà các chủ đầu tư mong đợi các nhiều. Không nằm ngoài quy luật này, các khoản cho vay DAĐT thường mang lại cho các ngân hàng nguồn thu nhập lớn, biểu hiện cụ thể là lãi suất cho vay đầu tư dự án thường khá cao. Có đặc điểm này là do để bù đắp chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vay dự án, chi
phí bù đắp rủi ro.
1.1.2.3. Thẩm định DAĐT Thẩm định DAĐT là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, toàn diện các
nội dung cơ bản liên quan đến DAĐT có ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi và khả năng hoàn trả vốn đầu tư của dự án để phục vụ cho việc xem xét quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án. Thẩm định DAĐT là một mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay DAĐT của ngân hàng.
Với tư cách là đơn vị cho vay vốn, việc thẩm định DAĐT của ngân hàng sẽ tập trung chủ yếu vào phân tích, đánh giá về khía cạnh hiệu quả tài chính và khả năng
Trang 3phẩm có phù hợp với thị hiếu của người tiêu thụ, xu hướng tiêu thụ hay
không; giá cả so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế nào, có rẻ
hơn không, có phù hợp với xu hướng thu nhập, khả năng tiêu thụ không;…
+ Thị trường nước ngoài: sản phẩm có khả năng đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn
để xuất khẩu hay không (tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh ); quy cách, chất lượng, mẫu mã, giá cả có những ưu thế như thế nào so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường dự kiến xuất khẩu; thị trường dự kiến xuất khẩu có
bị hạn chế bởi hạn ngạch không;…
Ø Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối: xem xét, đánh giá xem sản
phẩm của dự án dự kiến được tiêu thụ theo phương thức nào, có cần hệ thống phân phối không; mạng lưới phân phối của sản phẩm dự án đã được xác lập chưa, mạng lưới phân phối có phù hợp với đặc điểm của thị trường không; phương thức bán hàng trả chậm hay trả ngay;…
Ø Khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án: đánh giá, dự kiến sản lượng sản
xuất, tiêu thụ hàng năm; diễn biến giá bán sản phẩm, dịch vụ đầu ra hàng năm;…
v Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của dự án
+ Nhu cầu về nguyên nhiên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất hàng năm + Các nhà cung ứng nguyên liệu đầu vào
+ Chính sách nhập khẩu đối với các nguyên nhiên liệu đầu vào (nếu có) + Biến động về giá mua, nhập khẩu nguyên nhiên liệu đầu vào, tỷ giá trong trường hợp phải nhập khẩu
+ Đối với các dự án phải gắn với vùng nguyên liệu thì khả năng xây dựng vùng nguyên liệu như thế nào?
v Đánh giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật
Ø Địa điểm xây dựng: xem xét, đánh giá địa điểm có thuận lợi về mặt giao
thông, có gần các nguồn cung cấp: nguyên vật liệu, điện, nước và thị trường tiêu thụ, có nằm trong quy hoạch hay không; cơ sở vật chất, hạ tầng hiện có của địa điểm đầu tư như thế nào; đánh giá so sánh về chi phí đầu tư so với các dự án tương
tự ở địa điểm khác;…
Ø Quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án: xem xét, đánh giá công suất
thiết kế dự kiến của dự án là bao nhiêu, có phù hợp với khả năng tài chính, trình độ
Trang 4mới hay đã có sẵn trên thị trường; quy cách, phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm như
thế nào;…
Ø Công nghệ, thiết bị: xem xét, đánh giá quy trình công nghệ có tiên tiến,
hiện đại không; công nghệ có phù hợp với trình độ hiện tại của Việt Nam không;
để đảm bảo tiến độ thi công.
Ø Nguồn vốn đầu tư: cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả năng tham gia
tài trợ của các nguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực hiện dự án.
v Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án
Từ những đánh giá về tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư; đánh giá
về mặt thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án, phương án tiêu thụ sản phẩm; đánh giá về khả năng cung cấp vật tư, nguyên liệu đầu vào cùng với đặc tính của dây chuyền công nghệ; tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của các doanh nghiệp cùng ngành nghề và mức vốn lưu động tự có của chủ dự án; các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với dự án để xác định phần trách nhiệm của chủ dự án đối với ngân sách;…sẽ thiết lập được các bảng tính toán hiệu quả tài chính dự án làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả và khả
năng trả nợ vốn vay của khách hàng.
1.1.2.4. Phân tích rủi ro của DAĐT
Một DAĐT từ khâu chuẩn bị đến khâu thực hiện và đi vào sản xuất đều tiềm ẩn rất nhiều loại rủi ro khác nhau, vì vậy để tăng tính khả thi, hiệu quả của dự án cũng như có biện pháp phòng ngừa, khắc phục rủi ro kịp thời thì việc đánh giá, phân tích
và dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là một việc làm rất quan trọng, đồng thời có ý nghĩa rất lớn trong việc xem xét, quyết định cho vay của ngân hàng. Một DAĐT thường tiềm ẩn những rủi ro chủ yếu sau:
Trang 5muốn đứng vững và phát triển đều phải quan tâm đến yếu tố chất lượng bao gồm
chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ,… Việc nâng cao
chất lượng không chỉ giúp doanh nghiệp tạo được uy tín, niềm tin với khách hàng,
tăng khả năng cạnh tranh mà còn giúp doanh nghiệp từng bước chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường
Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, nên để có thể bảo đảm
sự tồn tại và phát triển thì chất lượng của các khoản vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM.
Chất lượng của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản vay đó mang lại cho cả người đi vay (khách hàng) và người cho vay. Một khoản vay được coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả nợ gốc và lãi vay, vừa trang trải các chi phí khác mà vẫn bảo đảm có lợi nhuận qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Xét một cách tổng thể khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa tạo
ra hiệu quả xã hội.
Chất lượng cho vay là một khái niệm tương đối, nó vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng. Chất lượng cho vay phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài đồng thời thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Phân tích và đánh giá đúng chất lượng cho vay, xác định được nguyên nhân của những tồn tại trong lĩnh vực này sẽ giúp ngân hàng tìm được những biện pháp quản
lý thích hợp.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay DAĐT
Hoạt động cho vay DAĐT là hoạt động quan trọng và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Mặt khác hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng cũng mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, giúp cho nguồn vốn của nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn. Do đó việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT không chỉ là mục tiêu của ngân hàng mà nó còn là mong muốn của các cá nhân, doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng. Có nhiều cách đánh giá chất lượng cho vay DAĐT, tuy nhiên dưới góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay DAĐT có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Trang 6doanh nghiệp mới thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy kinh tế cả đối với ngân
hàng và khách hàng. Như vậy rõ ràng chỉ riêng việc đáp ứng nhu cầu của khách
v Đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, của ngành, địa phương
và của cả nước
Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cả nhà đầu tư và ngân hàng cùng đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Nó được biểu hiện ở sự ổn định của nền tài chính tiền tệ quốc gia, giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ của khách hàng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân
cư. Tuy nhiên khi đánh giá tiêu thức này cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trong từng thời kỳ chứ không có một tiêu chuẩn đánh giá cụ thể cho từng trường hợp. Chẳng hạn các dự án cải tạo nâng cấp trang thiết bị, đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời lại thu hẹp công ăn việc làm của người lao động; hoặc những dự án hiệu quả hiện tại và cả trước mắt không cao nhưng lại có ý nghĩa về mặt xã hội thì để đánh giá chính xác hiệu quả cho vay của dự án cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều mặt liên quan. Tóm lại chất lượng cho vay DAĐT là một chỉ tiêu rất tổng hợp và được đánh giá trên quan điểm của cả ba chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Tuy nhiên, các chỉ tiêu định tính chỉ là những căn cứ để đánh giá chất lượng cho vay DAĐT một cách khái quát. Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào
một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
v Chỉ tiêu dư nợ
Dư nợ cho vay DAĐT Chỉ tiêu dư nợ =
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT so với tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, phản ánh quy mô của việc cho vay dự án đối với các loại hình cho vay khác. Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng thể hiện sự chú trọng của ngân hàng đến hoạt động cho vay DAĐT. Việc đẩy mạnh cho vay DAĐT không chỉ giúp các
Trang 7Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay
DAĐT của các NHTM. Hầu hết các NHTM đều sử dụng nguồn vốn trung dài hạn
để tài trợ cho ba loại tài sản: tài sản cố định, cho vay và đầu tư. Tuy nhiên do đặc
điểm các nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng có sự gối đầu nhất định nên ngân
hàng có thể tận dụng nguồn này một cách hợp lý để cho vay dự án. Do đó trong
nợ. Trong trường hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi suất quá hạn cao hơn nhiều
so với lãi suất đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, mặc dù vậy có thể thấy
rõ là không ngân hàng nào mong muốn nhận được khoản lãi cao này. Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng tín dụng, chất lượng cho vay của ngân hàng, đồng thời phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt.
Chỉ tiêu đầu tiên phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng trong cho vay DAĐT. Tỷ lệ này tỷ lệ nghịch với chất lượng cho vay của ngân hàng.
Tỷ lệ này cao cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng càng thấp và ngược lại,
do dó tất cả các ngân hàng đều mong muốn hạ thấp tỷ lệ này xuống đến mức thấp nhất có thể. Tuy nhiên trên thực tế do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi nên các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định
Trang 8Các khoản vay dành cho đầu tư dự án của ngân hàng cần phải được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn trung và dài hạn (bao gồm nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên và các nguồn vốn có thời hạn dưới một năm nhưng có tính ổn định cao trong thời gian dài). Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng lại chủ yếu là vốn ngắn hạn, thì không thể và cũng không nên tìm cách mở rộng cho vay DAĐT. Các nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay DAĐT bao gồm: vốn tự có của ngân hàng; vốn vay trung, dài hạn trong và ngoài nước; vốn uỷ thác và một bộ phận nhất định vốn vay ngắn hạn. Quy mô các nguồn vốn này là khác nhau nhưng chúng
là một trong những nhân tố quyết định tới chất lượng cho vay DAĐT của ngân hàng.
ü Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định DAĐT, thẩm định khách hàng
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động cho vay DAĐT của một ngân hàng là vốn và lãi vay được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Điều này sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệu quả mong muốn, hoặc doanh nghiệp không có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng. Để hạn chế nguy
Trang 9Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được thực hiện tốt,
giúp cho ngân hàng lựa chọn được những khách hàng đáng tin cậy, những dự án
là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể. Với ý nghĩa như vậy, rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay DAĐT nói riêng. Trước hết là về mặt quy mô tín dụng, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó hạn chế tín dụng trung và dài hạn cũng có nghĩa là quy mô cho vay DAĐT của ngân hàng đó sẽ có nguy cơ bị thu hẹp. Qua đó có thể cho thấy chất lượng cho vay
dự án của ngân hàng đang gặp vấn đề hay ít ra xét về quy mô cũng không thể nói chất lượng cho vay dự án của ngân hàng trong giai đoạn đó là tốt. Ngoài ra, chính sách tín dụng của ngân hàng còn bao gồm hàng loạt các vấn đề như: những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnh vực tài trợ; biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất… có tác dụng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng tín dụng cũng như chất lượng cho vay dự án của ngân hàng. Nếu các vấn đề đó được xây dựng một cách khoa học và chặt chẽ, kết hợp hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và của toàn xã hội thì chắc chắn chất lượng cho vay dự án sẽ được nâng lên và ngược lại.
ü Thông tin tín dụng
Thông tin luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản lý dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, hoạt động ngân hàng cũng không loại trừ điều đó. Để thẩm định dự án, thẩm định khách hàng trước hết phải có thông tin về dự án, về khách hàng đó; để làm tốt công tác giám sát khách hàng cũng cần phải có thông tin. Thông tin càng chính xác, kịp thời thì càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay, theo dõi việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ. Thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế. Tất cả những điều trên góp phần nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của mỗi ngân hàng
Trang 10ü Công nghệ ngân hàng
Công nghệ ngân hàng và trang thiết bị kỹ thuật cũng là một trong những nhân
tố tác động đến chất lượng cho vay dự án của các ngân hàng nhất là trong thời đại
khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng
công nghệ hiện đại, được trang bị các phương tiện kỹ thuật cao sẽ tạo điều kiện đơn
giản hoá các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho
được thực hiện bởi con người, do vậy nhân tố con người mà cụ thể là cán bộ tín
dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tín dụng, chất
lượng cho vay của ngân hàng. Dù ngân hàng có một chính sách tín dụng và quy
Bất kỳ một loại hàng hoá, dịch vụ nào muốn tiêu thụ được cũng cần
phải có người mua và có nhu cầu sử dụng chúng, tín dụng ngân hàng cũng vậy,
Khả năng đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng đặc biệt là hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là các điều kiện, tiêu chuẩn được sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và DAĐT có hợp lý hay không. Nếu các điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra quá khắt khe, không phù hợp với thức tế sẽ làm nản lòng khách hàng hoặc có rất ít khách hàng thoả mãn được yêu cầu của ngân hàng. Điều đó gây cản trở cho ngân hàng trong việc thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Ngược lại, nếu điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra không chặt chẽ có thể khiến ngân hàng mắc những sai lầm đáng tiếc trong việc ra quyết định cho vay, dẫn đến rủi ro
và ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng.
ü Khả năng quản lý, sử dụng vốn vay
DAĐT có được thực hiện đúng như kế hoạch hay không, có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản lý và sử dụng vốn vay của khách hàng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và đầy biến động như hiện nay thì vai trò của công tác quản lý, giám sát ngày càng trở nên quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của dự án. Việc quản lý, sử dụng vốn vay tốt không chỉ giúp cho DAĐT nhanh chóng mang lại hiệu quả mà còn giúp giảm được những chi phí không cần thiết trong quá trình đầu tư. Ngược lại nếu khách hàng không có khả năng quản lý, sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng thì sẽ làm nguồn vốn này không thể phát huy được hiệu quả như dự kiến ban đầu, ảnh hưởng đến
Trang 11dụng của ngân hàng có liên quan đến nhiều đối tượng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Do đó, chất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay
DAĐT nói riêng sẽ phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Có những nhân tố chủ quan
thuộc bản thân ngân hàng, có những nhân tố thuộc khách hàng, cũng có những
ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động đầu tư của
khách hàng, đặc biệt các là các hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển kinh tế được đề ra quá cao đã tạo sức ép đầu tư
ồ ạt trong khi nền kinh tế lại thiếu vốn trầm trọng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Điều này dẫn đến một số tổ chức hoặc doanh nghiệp với số vốn khá khiêm tốn phải
đi vay ngắn hạn để sử dụng vào những công trình đầu tư mang tính chất trung và dài hạn như: đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài sản cố định…
ü Quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
ü Sự quy hoạch, phân bổ đầu tư của Nhà nước, Chính phủ
Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhuận nhiều nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ, từ đó sẽ tạo ra sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với
sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
Trang 12chất lượng tín dụng của mình. Tuy nhiên, hiện nay các chính sách quản lý vĩ mô
của Nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập.
thiếu một hệ thống thông tin tương xứng.
1.2.4. Ý nghĩa và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của NHTM
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá thì hoạt động cho vay cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiện giao dịch để đáp ứng mọi nhu cầu sản suất kinh doanh của xã hội. Trong điều kiện đó, chất lượng cho vay của ngân hàng là vấn đề ngày càng được quan tâm.
Cho vay DAĐT là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Thông qua sự đánh giá, phân tích hiệu quả của các DAĐT đã góp phần khai thác mọi tiềm năng về tài nguyên, lao động và tiền vốn để tăng năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động … Do đó chất lượng cho vay DAĐT được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định
và phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT còn là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán. Khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền. Đồng thời việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT còn là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của các NHTM
Trang 13giá thực trạng chất lượng cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM ở chương 2
cũng như cơ sở để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay DAĐT ở
của NHCT – CN TP.HCM 2.1.1 Giới thiệu sơ lược về hệ thống NHCT
NHCT được thành lập vào ngày 26/03/1988 với tên gọi là Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sau khi Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực thi hành (tháng 10/1990), theo Quyết định 402/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam được chuyển thành Ngân hàng Công thương Việt Nam và đến thời điểm này Ngân hàng Công thương Việt Nam mới thực sự trở thành một NHTM có chức năng kinh doanh tiền tệ. Mô hình tổ chức kinh doanh được định rõ: Ngân hàng Công thương Việt Nam là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có các Chi nhánh là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc.
Đến ngày 08/07/2009, Ngân hàng Công thương Việt Nam chính thức đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (theo giấy phép thành lập và hoạt động số 142/GPNHNN ngày 03/07/2009 của Thống đốc NHNN Việt Nam) với tên giao dịch là NHCT.
NHCT hiện là một NHTM hàng đầu tại Việt Nam xét cả về quy mô tài chính và phạm vi hoạt động. Trải qua 22 năm xây dựng và phát triển, NHCT đã từng bước vươn lên mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng đều đặn và mạng lưới không ngừng mở rộng. Hiện nay, NHCT có 151 chi nhánh, hơn 800 Phòng Giao dịch – Quỹ tiết kiệm
ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước và đã thiết lập quan hệ ngân hàng đại
lý với hơn 900 ngân hàng trên toàn cầu.
Ngoài ra, NHCT còn có 4 công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán Công thương, Công ty Quản lý Nợ và Khai
Trang 14thác Tài sản, Công ty TNHH Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam (Bảo
Ngân) và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ,
Đến ngày 20/09/2009, theo Quyết định số 117/BBHĐQT2009 của Chủ tịch
Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Sở Giao Dịch II
và ngành hàng có triển vọng phát triển
- Phát triển thị phần phi tín dụng: trở thành một trong các NHTM đi đầu trong phát triển các dịch vụ thẻ, chuyển tiền du học, chuyển tiền kiều hối, cho thuê két sắt… với sản phẩm đa dạng, giá trị gia tăng vượt bậc, chất lượng dịch vụ hoàn hảo, tạo cạnh tranh, thương hiệu và bản sắc riêng
- Trở thành Ngân hàng có trình độ khoa học công nghệ hiện đại, khai thác hiệu quả nhiều công nghệ mới trong hoạt động quản lý và kinh doanh; ứng dụng và cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại cho khách hàng
- Hình thành mạng lưới Ngân hàng và mạng lưới khách hàng để phục vụ
tư tín dụng, thu phí dịch vụ. Chất lượng tín dụng và chất lượng khách hàng của chi nhánh ngày càng được nâng cao, các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh ngày càng được mở rộng và cạnh tranh được với các NHTM khác trên địa bàn TP.HCM
Trang 15điểm 31/12/2008. Tuy nhiên, đến thời điểm cuối năm 2010, nguồn vốn huy động
của Chi nhánh đã có sự tăng trưởng vượt bậc, tăng 36,2% so với thời điểm cuối
năm 2009, tương ứng với mức tăng 3.686 tỷ đồng về mặt số tuyệt đối và đến thời
điểm 30/06/2011 thì nguồn vốn huy động của chi nhánh tiếp tục tăng mạnh đạt
14.877 tỷ đồng, tăng 38,1% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó tiền gửi doanh
nghiệp đạt 7.140 tỷ đồng, chiếm 47,9% trong tổng nguồn vốn huy động của Chi
nhánh.
Mặc dù nguồn vốn huy động có sự tăng trưởng mạnh nhưng nếu xét về tỷ trọng
nguồn vốn của NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn TP.HCM và tỷ trọng nguồn vốn
của NHCT – CN TP.HCM trên toàn hệ thống NHCT thì các tỷ trọng này lại có xu hướng giảm dần qua các năm. Nếu như tại thời điểm 31/12/2005, nguồn vốn huy động của NHCT – CN TP.HCM chiếm tỷ trọng 3,9% trong tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn TP.HCM và chiếm 6,8% trong tổng nguồn vốn huy động của NHCT thì đến thời điểm 30/06/2011 nguồn vốn huy động của NHCT – CN TP.HCM chỉ còn chiếm 1,73% trên địa bàn TP.HCM và chiếm 3,95% trên toàn hệ thống NHCT nguyên nhân chủ yếu do trong giai đoạn 2006 – 2007, hệ thống ngân hàng TMCP phát triển rất mạnh, nhiều ngân hàng TMCP mới được thành lập cùng với việc các ngân hàng TMCP cũ không ngừng tăng quy mô, mở rộng mạng lưới hoạt động đồng thời áp dụng nhiều chính sách ưu đãi, chương trình khuyến mãi,…
từ đó đã tạo ra rất nhiều khó khăn, áp lực cạnh tranh cho NHCT – CN TP.HCM trong công tác huy động vốn. Bên cạnh đó, với áp lực hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch mà NHCT giao cho từng chi nhánh đã làm cho việc cạnh tranh giữa các chi
nhánh trong nội bộ hệ thống NHCT cũng diễn ra rất gay gắt và khốc liệt.
Biểu 2.2:
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo NHNNChi nhánh TP.HCM, báo cáo thường niên của toàn hệ thống NHCT và Báo cáo HĐKD của NHCT CN TP.HCM qua các năm
2005 2011).
Trang 16đến thời điểm cuối năm 2007 thì dư nợ của chi nhánh đã có sự tăng trưởng khá
mạnh, đạt 7.360 tỷ đồng, tăng 32,7% so với thời điểm cuối năm 2006. Tại thời
Tuy nhiên, với sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng TMCP trên địa bàn
TP.HCM và các chi nhánh trong hệ thống NHCT thì tỷ trọng dư nợ cho vay của
NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn TP.HCM và tỷ trọng dư nợ cho vay của NHCT
– CN TP.HCM trên toàn hệ thống NHCT lại có xu hướng giảm dần qua các năm
Tại thời điểm 30/06/2011, tỷ trọng dư nợ cho vay của NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn TP.HCM là 4,41% và tỷ trọng dư nợ cho vay của NHCT – CN TP.HCM
trên toàn hệ thống NHCT là 1,47%
Biểu 2.4:
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo NHNNChi nhánh TP.HCM, báo cáo thường niên của toàn hệ thống NHCT và Báo cáo HĐKD của NHCT CN TP.HCM qua các năm
2005 2011)
2.1.3.3. Về hoạt động dịch vụ
Bên cạnh các hoạt động chủ yếu là huy động vốn và cho vay thì các dịch vụ khác như dịch vụ thẻ, tài trợ thương mại, các dịch vụ thanh toán,…tại NHCT – CN TP.HCM ngày càng được quan tâm, chú trọng từ việc đa đạng hóa các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng được tất cả các nhu cầu của khách hàng đến chất lượng dịch
vụ, thái độ phục vụ khách hàng, điều này không chỉ đem lại sự hài lòng cho khách hàng mà còn góp phần nâng cao uy tín, khả năng cạnh tranh của NHCT – CN TP.HCM trên địa bàn.
Nếu như năm 2005, tổng phí thu được từ hoạt động dịch vụ của NHCT – CN TP.HCM chỉ là 31,6 tỷ đồng trong đó thu từ hoạt động tài trợ thương mại là 16,1 tỷ đồng, thu từ dịch vụ thanh toán là 10,1 tỷ đồng, thu từ dịch vụ thẻ là 3,9 tỷ đồng và các dịch vụ khác là 1,5 tỷ đồng thì đến năm 2010, các khoản thu này đều tăng hơn gấp đôi với tổng phí thu được là 71 tỷ đồng (tăng 124%) và trong 6 tháng đầu năm
Trang 17Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng lợi nhuận của NHCT – CN TP.HCM so với toàn hệ thống NHCT thì tỷ trọng này lại có xu hướng giảm qua các năm nguyên nhân chủ yếu do những năm qua, với sự nỗ lực không ngừng nghỉ của toàn thể cán bộ nhân viên trong hệ thống cùng với sự hỗ trợ, chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời từ trụ sở chính, các chi nhánh trong hệ thống đều có những bước tiến vượt bậc, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do NHCT giao, trong đó có rất nhiều chi nhánh nhiều năm
liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Biểu 2.7:
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của toàn hệ thống NHCT và Báo cáo
HĐKD của NHCT CN TP.HCM qua các năm 2005 2011) 2.2. Thực trạng hoạt động cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM 2.2.1. Sơ lược quy trình cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM
2.2.1.1. Quy trình cho vay DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn từ khách hàng:
- Hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ, bao gồm:
Trang 18trình phỏng vấn, kiểm tra thực tế tại nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng
vay vốn và các thông tin từ các nguồn khác (CIC, cơ quan quản lý doanh
nghiệp, thông tin từ Phòng quản lý chi nhánh,…), cán bộ thẩm định sẽ tiến hành
thẩm định khách hàng, thẩm định DAĐT, thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay
và xác định mức lãi suất cho vay
- Sau đó cán bộ thẩm định sẽ lập tờ trình trong đó ghi rõ ý kiến đề xuất cho
vay/không cho vay, các điều kiện kèm theo (nếu có), ký và trình lãnh đạo
- Thực hiện công chứng, chứng thực đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo đảm, thực hiện các thủ tục giao nhận TSBĐ, giấy tờ của TSBĐ và gửi các giấy
tờ liên quan đến cơ quan bảo hiểm (nếu có).
Bước 7: Giải ngân: căn cứ vào hợp đồng tín dụng đã ký kết, các hồ sơ, hoá đơn,
chứng từ do khách hàng cung cấp để tiến hành giải ngân cho khách hàng.
Bước 8: Kiểm tra, giám sát vốn vay Bước 9: Thu nợ gốc, lãi, phí và xử lý các phát sinh
- Xử lý các phát sinh:
+ Đối với các vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm định ban đầu
của dự án (như điều chỉnh tăng số tiền cho vay, thay đổi cơ cấu nguồn vốn, danh mục đầu tư của dự án,…): xem xét khả năng ảnh hưởng của các vấn đề
2.2.1.2. Trách nhiệm của các cán bộ liên quan đến nghiệp vụ cho vay DAĐT
v Cán bộ thẩm định:
- Thẩm định DAĐT theo sự phân công của Trưởng phòng và Ban Giám đốc đúng theo quy định
- Chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định khoản vay, nội dung báo cáo, các ý kiến đánh giá và đề xuất cho vay/không cho vay
- Phối hợp với cán bộ tín dụng kiểm tra thực tế cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, địa điểm triển khai dự án, TSBĐ cho khoản vay
Trang 19- Phối hợp với cán bộ tín dụng để kiểm tra, đánh giá các dự án đã đi vào hoạt
- Chịu trách nhiệm trước Người có thẩm quyền quyết định về chất lượng thẩm định rủi ro tín dụng và các đề xuất trên báo cáo kết quả thẩm định rủi ro tín dụng;
v Người có thẩm quyền quyết định cho vay:
- Chỉ đạo Phòng Thẩm định, Phòng khách hàng, Phòng quản lý rủi ro tổ chức thực hiện việc thẩm định và đề xuất cho vay tương ứng với chức năng nhiệm vụ của từng phòng;
- Quyết định các vấn đề liên quan đến việc cho vay trong phạm vi thẩm quyền và
chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.
2.2.2. Tình hình thẩm định DAĐT Biểu 2.8:
(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT CN TP.HCM qua các năm 2005 2011)
Mặc dù những điều kiện vay vốn của NHCT – CN TP.HCM có phần chặt chẽ hơn các NHTM khác trên địa bàn nhưng hàng năm, NHCT – CN TP.HCM vẫn nhận được rất nhiều hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi đến, trong đó lượng hồ sơ vay trung dài hạn (chủ yếu là vay đầu tư dự án) luôn chiếm tỷ lệ khá cao (trung bình từ 60% 70% trong tổng số hồ sơ đề nghị vay)
Trang 20hoặc chưa triển khai bắt đầu được thực hiện trở lại, từ đó làm cho dư nợ cho vay
DAĐT tại NHCT – CN TP.HCM có sự tăng trưởng trở lại và đến thời điểm 30/06/2011, dư nợ cho vay DAĐT của Chi nhánh đạt 3.908 tỷ đồng (tăng 15% so
với thời điểm cuối năm 2010).
Biểu 2.9:
(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT CN TP.HCM qua các năm 2005 2011)
Bên cạnh đó, thông qua việc tài trợ vốn cho các dự án ngay từ đầu đã giúp cho NHCT – CN TP.HCM tiếp tục tài trợ vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện cho Chi nhánh tăng trưởng dư
nợ một cách vững chắc, an toàn và tiến tới thiết lập quan hệ toàn diện với khách hàng. Điều này đã giúp cho cơ cấu dư nợ cho vay của NHCT – CN TP.HCM có sự
ổn định, tỷ trọng dư nợ cho vay DAĐT trên tổng dư nợ cho vay qua các năm ở mức bình quân là 32%
Trang 21Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước, nếu như trước đây tỷ lệ dư nợ cho vay DAĐT trên tổng dư nợ cho vay DAĐT luôn ở mức khá cao (nhất là trong giai đoạn 2000 – 2004 tỷ lệ này ở mức trên 60%) thì đến thời điểm 30/06/2011, dư nợ cho vay DAĐT chỉ còn chiếm tỷ lệ rất thấp (2,5% trên tổng dư nợ cho vay DAĐT của Chi nhánh) với 8 dự án trong đó chủ yếu là lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng và giao thông.
Qua đó cho thấy, NHCT–CN TP.HCM đã thực hiện đúng định hướng đầu tư tín dụng mà trụ sở chính đã đề ra là giảm dần dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp
nhà nước, đẩy mạnh tài trợ vốn đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
2.2.3.3. Phân loại dư nợ cho vay DAĐT theo ngành nghề, lĩnh vực
Biểu 2.12:
(Nguồn: Báo cáo HĐKD của NHCT CN TP.HCM 6 tháng đầu năm 2011)