Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong cả nước về sự thành công trong sản xuất công nghệ tập trung, Đồng thời Tp.Hồ Chí Minh cũng là nơi dẫn đầu về thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung của luận văn này hình thành từ những quan điểm
chính bản thân tôi dười sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phước Minh Hiệp số
liệu thu thập tại phòng lao động trực thuộc HEPZA
Tác giả luận văn
Lưu Công Tuân
ii
LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn quí thầy cô khoa quản trị kinh doanh, khoa quản lý khoa học sau đại học đã gúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn PGS TS Phước Minh Hiệp đã hướng dẫn tận tình và gúp đỡ em về mọi mặt để hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quí thầy cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã có những góp ý về những thiếu sót của luận văn, gúp luận văn sẽ hoàn thiện hơn Xin cảm ơn ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất
TP HCM và phòng lao động đã cung cấp thông tin , tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 2TÓM TẮT
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực đã khẳng định vai trò quan trọng và sự
cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp; đáp
ứng nhu cầu doanh nghiệp và xã hội; phải kết hợp thỏa mãn lợi ích của người lao
động và người sử dụng lao động
Sau 20 năm xây dựng và phát triển, các KCX, KCN TP.HCM đã đóng góp
to lớn vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh Các
KCX, KCN thành phố thực hiện 5 mục tiêu kinh tế của Chính phủ đề ra thể hiện
trên các nhiệm vụ:
1 Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,
2 Giải quyết việc làm,
3 Thu nhập kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến,
4 Tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ;
5 Góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của Thành phố phát triển theo xu hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa các vùng ngoại thành
Việc phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các
KCX, KCN giữ vai trò quyết định đến việc thu hút các nhà đầu tư để Phát triển
kinh tế thành phố nói riêng cả nước nói chung và giải quyết việc làm cho người
lao động trong thành phố và các tỉnh bạn
Phát triển KCX, KCN Tp Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong cả nước
về sự thành công trong sản xuất công nghệ tập trung, Đồng thời Tp.Hồ Chí Minh
cũng là nơi dẫn đầu về thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với 1.222 dự án giá trị
hơn 7,7 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu đạt 23,21 tỷ USD chiếm 12,53% xuất
khẩu chung của thành phố, khoảng 40% xuất khẩu công nghiệp của thành phố
nhìn chung kim gạch xuất khẩu các doanh nghiệp không ngừng tăng Trong quá
trình phát triển, các KCX, KCN Tp.Hồ Chí Minh đã là một đầu mối thu hút một
lực lượng lao động đông đảo từ quỹ lao động tự có tại Tp.Hồ Chí Minh cũng như
từ các đại phương bạn thu hút được 269.192người lao động đã góp phần tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.và góp phần phát triển kinh tế thành phố nói riêng cà nước nói chung
Tuy nhiên, việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực phù hợp cho các KCN gặp nhiều khó khăn Vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản : còn thụ động “chữa cháy”
KCX-Từ việc phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở các KCX – KCN TP.HCM, đánh giá những mặt phát triển cũng như những mặt yếu còn tồn tại và những nguyên nhân đồng thời kết hợp với những lý luận vế phát triển nguồn nhân lực và sự qui hoạch phát triển các KCX –KCN TP.HCM đến năm 2020 làm căn cứ để chương 3 tác giả đưa ra những giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các KCX – KCN như giải pháp qui hoạch, phát triển nguồn nhân lực, giải pháp nguồn cung ứng lao động, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực, giải pháp sử dụng nguồn nhân lực, giải pháp chế độ chính sách duy trì nguồn nhân lực, giải pháp đối các doanh nghiệp sử dụng lao động trong các KCX –KCN cuối cùng các kiến nghị đối với nhà nước, đối với ủy ban nhân dân thành phố, đối các chế xuất, khu công nghiệp, đối đơn vị đào tạo, đối doanh nghiệp
Những giải pháp trên nêu ra với mục đích nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các KCX –KCN đểø đáp ứng nguồn nhân lực với tình hình thực tiễn để tăng sự thu hút của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 3v
ABS TRACT
Human resources concept has affirmed its important role and it is necessary to
improve the quality of human resources for enterprises; to meet the need of
enterprise and society; it must been satisfied benefit between the laborer and the
labor user
After 20 years of building and developing, EXPORT PROCESSING ZONES,
INDUSTRIAL ZONES of Ho chi Minh City have contributed greatly in
developing socio- economic process of Ho Chi Minh City EXPORT
PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES carry out 5 economic goals set by
the Government featuring in:
1 To attract foreign and domestic investments,
2 To create jobs,
3 To gain advanced technology and management experience,
4 To increase exporting capability, creating foreign currency earnings,
5 To contribute in fostering Ho Chi Minh City’s socio-economy development in
the trend of industrialization, modernization and urbanization in suburb areas
Developing human resources to meet the need of labor for EXPORT
PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES holds a decisive role in attraction
of investors to develop Ho Chi Minh alone and the country in general and create
jobs for laborers in the city and outside the city
After 20 years of establishing and developing EXPORT PROCESSING
ZONES, INDUSTRIAL ZONES, Ho Chi Minh City is the leading city in the
country in success in focus technology and Ho Chi Minh City is the leading city in
attracting foreign investors with 1.222 projects worth 7,7 billions USD and export
turnover gained 23,21 billions USD, accounting for 12,53% Ho Chi Minh City’s
export, about 40% of industrial export of Ho Chi Minh City In general, the export
turnover of enterprises has increased continuously in the developing process,
EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES of Ho Chi Minh City is
the threshold to a great sources of laborers from Ho Chi Minh’s labor fund and
other provinces attract 269,192 laborers, creating jobs and income for the laborers
and contributing to develop the economy of Ho Chi Minh alone and the country in
general
vi
However, attracting and developing suitable human resources meet many challenges This issue has not been solved basically: still passive “extinguish fire” From the analyzing the actual situation of developing human resources in EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES of Ho Chi Minh City, valuating the strong points and weak points and the causes and combining with reasoning in developing human resources in EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES of Ho Chi Minh City until year 2020 as a base, in chapter 3 the author gives solutions for developing human resources in EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES such as planning, developing human resources, solution in providing laborers, solution in human resources training, solution in using human resources, solution and policy to maintain human resources, solutions for enterprises in using laborers in EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES and finally propose to the nation, to The City’s People Committee, to Export Processing Zones, Industrial Zones, Training Organizations, and enterprises
The solutions given above aim at developing human resources for EXPORT PROCESSING ZONES, INDUSTRIAL ZONES to meet the demand in the situation of increasing the attraction of domestic and foreign investors
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC BẢNG, BIỂU xi
DANH MỤC HÌNH xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và sự phát triển nguồn nhân lực 3
1.1.1 Nguồn nhân lực 3
1.1.2 Quản trị nguồn nhân lực 4
1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực 5
1.1.4 Phát triển nguồn nhân lực tại KCX-KCN 7
1.1.5 Kinh nghiệm Phát triển nguồn nhân lực tại Bình Dương 7
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực 10
1.2.1 Môi trường làm việc người lao động 10
1.2.2 Phong cách lãnh đạo 10
* Tóm tắt chương 1 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC KCX- KCN TP.HCM 2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của các KCX KCN Thành phố Hồ Chí Minh 12
2.1.1 Cơ chế quản lý của các KCX – KCN Thành Phố Hồ Chí Minh 13
2.1.1.1 Cơ chế Một cửa, tại chỗ 13
2.1.1.2 Cơ chế Phối hợp quản lý 15
2.1.1.3 Cơ chế tự đảm bảo tài chính 15
2.2 Hiệu quả hoạt động của các KCX –KCN Thành Phố Hồ Chí Minh sau 20 năm hình thành và phát triển 16
2.2.1.Về thu hút vốn đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh 16
2.2.2 Về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 16
2.2.3 Về kim ngạch xuất nhập khẩu 17
2.2.4 Về trình độ kỹ thuật, công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý 18
2.2.5 Giải quyết việc làm 18
2.2.6 Về thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố phát triển 20
2.3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của các KCX, KCN TP.HCM 21
2.3.1 Tình hình cung ứng nguồn nhân lực trong KCX, KCN 21
2.3.1.1 Sự phát triển về số lượng lao động 21
2.3.1.2 Sự phát triển về trình độ học vấn 24
2.3.1.3 Về tạo nguồn và tổ chức cung ứng lao động 26
2.3.2 Tình hình đào tạo nghề cho các KCX – KCN TP.HCM 27
2.3.2.1.Mạng lưới cơ sở dạy nghề cho các KCX, KCN 27
2.3.2.2 Ngành nghề và hình thức đào tạo cho các KCX- KCN 27
2.3.3.Tình hình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động trong KCX, KCN 28
2.3.3.1 Vấn đề nhà ở của người lao động trong các KCX, KCN 28
2.3.3.2 Vấn đề nhà trẻ cho người lao động trong các KCX, KCN 31
2.3.3.3.Chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động trong các KCX- KCN 34
2.3.3.4 Vấn đề y tế của người lao động trong các KCX – KCN 35
2.3.3.5 Vấn đề vui chơi giải trí của người lao động trong các KCX 37
2.3.3.6 Tiếp sức công nhân đến trường của người lao động trong các KCX, KCN 39
Trang 5ix
2.3.3.7.Tăng cường phủ biến pháp luật cho người lao động trong các KCX
– KCN 40
2.3.4 Chính sách sử dụng và đãi ngộ lao động trong các KCX, KCN 42
2.3.4.1 Về lương người lao động 42
2.3.4.2 Về việc chấp hành quy định về lao động của doanh nghiệp 43
2.3.5 một số thanh côngphát triển nguồn nhân lực KCX, KCN Tp.HCM 43
2.3.6 Những hạn chế trong việc phát triển nguồn nhân lực ở các KCX, KCN TP.HCM và 2.3.7 nguyên nhân 45
* Tóm tắt chương 2 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KCX - KCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 3.1 Định hướng, nhiệm vụ phát triển các KCX, KCN Tp.HCM từ nay đến năm 2020 49
3.2 Dự báo và mục tiêu nhu cầu nhân lực cho các KCX - KCN Tp Hồ Chí Minh 50
3.2.1 Dự báo nhu cầu nhân lực cho các KCN 50
3.2.2.Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho các KCX –KCN TP.HCM 52
3.2.3 Về số lượng 52
3.2.4 Về cơ cấu và chất lượng lao động 52
3.2.5 Nguồn cung ứng nhân lực phục vụ các KCX, KCN Tp.HCM 52
3.3 Giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực cho các KCX - KCN TP.HCM 53
3.3.1.Gỉai pháp 1:Quy hoạch, phát triển và quản lý nguồn nhân lực cho các KCX –KCN 53
3.3.2 Giải pháp 2: Nguồn cung ứng lao động 55
3.3.3 Giải pháp 3 :Đào tạo nguồn nhân lực 57
x 3.3.4 Giải pháp 4 Sử dụng nguồn nhân lực ở các KCN 58
3.3.5 Giải pháp 5 Chế độ chính sách duy trì cho nguồn nhân lực 59
3.3.6 giải pháp 6 Đối với doanh nghiệp sử dụng lao động trong các KCN 61
3.4 Một số kiến nghị 61
3.4.1 Đối với Nhà nước 61
3.4.2 Đối với Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh 63
3.4.3 Đối với các KCX –KCN TP.HCM 63
3.4.4 Đối với các đơn vị đào tạo 64
3.4.5 Đối với các doanh nghiệp 65
* Tóm tắt chương 3 Phần kết luận ……… 67
Tài liệu tham khảo………69 Phụ lục
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp
KCX : Khu chế xuất
HEPZA : Ban quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp
TP.HCM : THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Khu chế xuất, khu công nghiệp Tp.HCM 19
Bảng 2.2 Tình hình thu hút lao động của KCX, KCN Tp.HCM tính đến ngày 31/12/2011 22
Bảng 2.3 Tỷ lệ tăng số lao động làm việc tại các KCX, KCN theo năm 23
Bảng 2.3 Tỷ lệ tăng lao động nữ tăng theo năm trong các KCX, KCN 23
Bảng 2.4 Tỷ lệ lao động có trình độ học vấn ở các KCX, KCN 25
Bảng 2.5 Tình hình xây dựng nhà ở cho công nhân 29
Bảng 2.7 Dự báo nhu cầu lao động cho các ngành trọng yếu tại KCX-KCN đến năm 2020………58
Bảng 2.8 Nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn tại KCX –KCN đến năm 2020……….52
Trang 7xiii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Khu lưu trú nhà ở cho công nhân 31
Hinh 2.2 Nhà trẻ của người lao động trong KCN Hiệp Phước Nhà Bè 32
Hình 2.4 Công nhân đang điều trị tại phòng khám KCN Lê Minh Xuân 36
Hình 2.5 Bữa ăn giữa ca cho công nhân KCX Tân Thuận 36
Hình 2.6 Tiếp sức công nhân đến trường tiếp sức công nhân đến trường 39
1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang tiến hành “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong bối cảnh nền kính tế thế giới đang ở trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa Thế giới có nhiều sự thay đổi như: Thị trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự phát triển của công nghệ thông tin, lao động trí thức và văn hóa công ty Vì vậy, phát triền nguồn nhân lực trở thành một trong những vẫn đề cần thiết hiện nay
Đại hội X Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định “nguồn lực con người yếu tố
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Mặt khác, nhằm thu hút các nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa thông qua việc hình thành các KCX-KCN là một vấn đề có tính quy luật chung của nhiều quốc gia đang
đi lên hiện nay
Năm 1991 ở Tp.Hồ Chí Minh, khu chế xuất Tân Thuận đầu tiên của cả nước ra đời, sau 20 năm phát triển, đến cuối năm 2011 trên địa bàn thành phố đã hình thành hệ thống 14 KCX-KCN
Tình hình đáp ứng nguồn nhân lực cho các KCX-KCN TP.HCM, nhất là lao động chất lượng cao nhằm đáp ứng sự phát triển của KCX-KCN gặp nhiều khó khăn Từ đó đã đặt ra cho Thành phố Hồ Chí Minh cần phải xem xét tìm hiểu nguyên nhân để có những giải pháp chiến lược phù hợp Đó cũng chính là lý do mà chúng tôi mạnh dạn
chọn đề tài: “ Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các Khu Công
Nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” để làm luận văn tốt
nghiệp cao học của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực ở Khu công nghiệp, Khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Giới hạn phạm vi nghiên cứu các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh lấy mốc thời gian từ 1993 đến năm 2011
Trang 83 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
1 Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quản trị nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân
lực tại các KCX-KCN TP.HCM
2 Đánh giá hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong các KCX- KCN thành
phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra những thành công vấn đề tồn tại và nguyên
nhân trong phát triển nguồn nhân lực
3 Đưa ra một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho KCX- KCN thành
phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thống kê: Tập hợp số liệu theo từng lĩnh vực, địa bàn và trình
tự thời gian Việc thu thập số liệu kết hợp giữa tài liệu và thực tế để dự báo
nguồn nhân lực
• Phương pháp tổng hợp : Từ các dự báo, phân tích đánh giá về thực trạng
phát triển nguồn nhân lực của KCX- KCN thời gian qua và đề ra các giải
pháp
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực cho các KCX-KCN có ý nghĩa quan trọng trong điều
kiện của một đất nước đang phát triển, Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển nguồn
nhân lực sẽ giúp KCX-KCN, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo hiểu rõ hơn việc
đào tạo và sử dụng lao động Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở đào tạo có thể tìm ra
giải pháp nào cần tập trung nhất nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các KCX-
KCN
6 Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của các KCX -KCN
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị phát triển nguồn nhân lực cho các KCX
- KCN TP.HCM đến năm 2020
Phần kết luận
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và sự phát triển nguồn nhân lực 1.1.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tài sản vô hình của một tổ chức Cơ bản nó là toàn bộ năng lực và sự tâm huyết của mọi người trong một tổ chức, nghĩa là toàn bộ những kỹ năng, kinh nghiệm, tiềm năng và năng lực của họ Tài sản nguồn nhân lực buộc tất cả nhân viên định hướng năng lực cao là cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp
Theo quản lý nhân lực trong doang nghiệp, nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất Nó cũng được xem là sức lao động của con người một nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những lao động làm việc trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con người Theo Begg, Fircher và Dornbusch, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lại Giống như nguồn nhân lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai Tuy nhiên, khác với các nguồn nhân lực vật chất khác, nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, ký năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có các phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống
Quan niệm trước đây cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của một công ty hat một quốc gia là do khả năng tài chính mạnh, kỹ thuật công nghệ phát triển cao đã trở nên lỗi thời Ngày nay, xã hội và các nhà quản lý đã nhận thức được là nhân
Trang 94
tố quyết định tất cả, tính năng động và sáng tạo của con người và bản thân con
người mới là nguồn nhân lực không gì thay thế được
Xét về tổng thể, nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các
mặt số lượng, cơ cấu (ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu theo vùng miền, cơ
cấu theo ngành kinh tế) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực,
tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội
trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, đại phương hay ngành, và năng lực cạnh
trạnh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế
1.1.2 Quản trị nguồn nhân lực (HRM)
Đối với Việt Nam, là một nước có nền kinh tế đang chuyển đổi có trình độ công nghệ,
kỹ thuận còn ở mức thấp, kinh tế chưa ổn định và Nhà nước chủ trương “Quá trình phát
triển phải thực hiện bằng con người và vì con người”, chức năng về thu hút, đào tạo –
phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đặt được kết quả tối ưu cho cả tổ
chức lẫn nhân viên
Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực
Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực
Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các
phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp Để có thể tuyển được đúng người
cho đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch nhằm sản xuất, kinh
doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những
công việc nào cần tuyển thêm người
Thực hiện phân tích công việc sẽ cho biết doanh nghiệp cần tuyển thêm bao nhiêu
nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đối với các ứng viên là như thế nào Việc áp dụng
những kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp chọn
được ứng cử viên tốt nhất cho công việc Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường có
các hoạt động: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn,
trắc nghiệm, thu nhập, lưu giữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh
nghiệp
5
Nhóm chức năng đào tạo – phát triển
Nhóm chức này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đá các năng lực các nhân Nhóm chức năng đào tạo, phát triển thường thực hiện các hoạt động như: Hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nhân, bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ
Nhóm chức năng duy trì nguồn lực
Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nhóm chức năng này gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp
Chức năng kích thích, động viên liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong các doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao Do đó, xây dựng và quản lý hệ thống thang bảng lương, thiết lập và áp dụng các chính sách lương bổng, thăng tiến, kỷ luật, tiền thưởng, phúc lợi, phụ cấp, đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên là những hoạt động quan trọng nhất của chức năng kích thích, động viên
Chức năng quan hệ lao động liên quan đến các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc như: Ký kết hợp đồng lao động, giải quyết khiếu tố, tranh chấp lao động, giao tế nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, y tế, bảo hiểm và an toàn lao động Giải quyết tốt chức năng quan hệ lao động sẽ vừa giúp các doanh nghiệp tạo ra bầu không khí tập thể và các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa làm cho nhân viên được thỏa mãn với công việc và doanh nghiệp (Trần Kim Dung 2006)
1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước
Trang 10Theo ILO (International Labour Organization – Tổ chức Lao động quốc tế)
cho rằng, phải hiểu phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là
sự ngành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là
phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng
như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống các nhân Quan điểm này dựa trên cơ sở
nhận thức rằng con người con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để
tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn về nghề nghiệp và cuộc
sống từng các nhân
Theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa liên hợp quốc, phát triển con
người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của một quốc
gia, nó bao gồm mọi khía cạnh về kinh tế, xã hội như nâng cao khả năng cá nhân,
tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông
qua giáo dục – đào tạo nghiên cứu và từ hoạt động thực tiễn
Một số khái niệm khác về “Phát triển nguồn nhân lực” dưới các góc nhìn khác
nhau như
Là một chuỗi những hoạt động được tổ chức thực hiện trong một thời gian xác
định nhằm thay đổi hành vi Phát triển nguồn nhân lực là liên quan đến vấn đề
thực hiện chức năng của con người trong hệ thống sản xuất và kinh doanh
Theo Swanson 1997, Swanson and Holton III 2001 “ Phát triển nguồn nhân
lực là một quá trình phát triển và thúc đẩy sự tinh thông của con người qua việc
phát triển, đào tạo và phát triển nhân sự nhằm cải thiện năng suất”
Theo McLean&McLean, 2000 “Phát triển nguồn nhân lực là bất cứ quá trình
hay hoạt động nào nhằm phát triển những kiến thức làm việc cơ bản, sự tinh
thông, năng suất và sự hài lòng mà cần cho một đội, nhóm, cá nhân hoặc cho
toàn nhân loại”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 là “Phát triển giáo dục phải gắn
với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố
quốc phòng, an ninh, đảm bảo hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ
cấu vùng miền, mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”
Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng trong đó các hoạt động lao động thông qua việc tuyển, sử dụng tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người, để họ mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Như vậy phát triển nguồn nhân lực bao gồm các thành tố: Đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của xã hội; hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, kỹ năng sống của người lao động: Tuyển và sử dụng nhân lực vào làm việc tại vị trí lao động phù hợp với trình độ và ngành, nghề được đào tạo của người lao động, theo nhu cầu người lao động phát triển năng lực, thể lực và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong quá trình hành nghề Đồng thời, tạo điều kiện cho người lao động có đủ năng lực và điều kiện để di chuyển nghề nghiệp, chuyển đổi nghề và vị trí làm việc, tìm việc làm mới và tự tạo việc làm trong đều kiện môi trường kinh tế xã hội luôn biến động do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
1.1.4 Phát triển nguồn nhân lực của các KCX-KCN TP.HCM
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có hàm lượng chất xám cao và một vấn đề phải quan tâm đặc biệt để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đang hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế Trong chuyến lược xây dựng và phát triển kinh tế của TP.HCM đến năm 2020, việc quy hoạch phát triển nhân lực cung cấp cho nền kinh tế nói chung và các dự án phát triển KCX, KCN nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng Đây là một chủ trương lớn nhằm xây dựng nền kinh tế công nghiệp tự chủ, phát triển bền vững và an toàn
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực trong các KCX- KCN bao gồm:
Trang 118
Cơ cấu nhân lực bao gồm tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong tổng nguồn lao
động ngũ nhân lực, cơ cấu nghề và cơ cấu trình độ đào tạo của đạo ngũ nhân lực,
cơ cấu nhân lực đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ nhân lực sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và nhu cầu nhân
lực của KCX, KCN nói riêng
Tuyển dụng lao động nhân lực và làm việc tại vị trí lao động phù hợp với trình
độ và ngành, nghề được đào tạo của người lao động, theo nhu cầu tổ chức công
việc của các doanh nghiệp, thường có các hoạt động dự báo và kế hoạch nguồn
nhân lực, thu nhập, lưu trữ và xử lý thông tin về nguồn nhân lực của các KCX-
KCN
Đào tạo nguồn nhân lực theo phương châm “học nữa học mãiõ” để phát triển
quy mô, điều chỉnh cơ cấu nhân lực cho phù hợp với thực tế nhu cầu của các KCX
- KCN, hình thành và phát triển những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp, kỹ năng và môi trường sống của người lao động
Chế độ chính sách duy trì cho nguồn nhân lực để người lao động phát triển
năng lực, thể lực, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp trong quá trình hành nghề thông qua các chính sách an ninh xã hội, phúc
lợi xã hội, dịch vụ nhà ở và các dịch vụ phúc lợi công cộng (nước, điện, văn hóa,
thông tin, giải trí…)
1.1.5 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực khu công nghiệp Bình Dương
Bình Dương là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu hút
đầu tư nhanh trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam ví thế việc đảm bảo cung
ứng nguồn lao động có chất lượng đã qua đào tạo là vấn đề then chốt không chỉ
phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh mà còn là lợi thế canh
tranh quan trọng để thu hút đầu tư
Theo số liệu ban quản lý KCN năm 2011 Bình Dương trung bình hằng năm
Bình Dương thu hút tứ 400-500 dự án trong và ngoài nước hằng năm thiếu
khoảng 50.000 lao động trong khi tỉnh chỉ đáp ứng 50% còn lại là thu hút lao
9
động các tỉnh khác, toàn tỉnh có 28 KCN đang hoạt động sức ép thiếu hụt lao động buộc các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm lao động theo báo cáo của trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bình Dương thời gian qua nhiều doanh nghiệp thường xuyên tổ chức về các địa phương tuyển chọn lao động bằng hình thức này
4 năm qua khoản 150.000 lao động ngoài tỉnh đến bình dương làm việc và sinh sống
Nhiều công ty có chính sách đãi ngộ với người lao động như công ty Liwaway hiện có 700 lao động thu nhập ổn định được trợ cấp tiền xăng đi lại, tiền nhà trọ Và công ty RK Resources sau tháng đầu tiên thử việc 3.000.000đ/tháng người lao động được ký hợp đồng có đầy đủ quyền lợi và thu nhập bình quân từ 4- 5 triệu đồng / tháng được bố trí chỗ ở miễn phí trong ký túc xá có nhà trẻ dành cho công nhân
Hệ thống cơ sở dạy nghề của tỉnh tăng khá nhanh từ 18 cơ sở năm 2011 đã tăng 42 cơ sở năm 2010 ngành nghề đào tạo khá đa dạng trong đó một số ngành then chốt như tin học viễn thông 21.34%, chế tạo máy móc thiết bị chiếm 18.54%, y dược 11.68%, kinh tế 10.24%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm
2005 đạt 38%, năm 2009 đạt 55% năm 2010 tăng 60% kết quả này cũng chứng minh cho sự quan tâm của địa phương với các ngành chứ năng trong công tác đào tạo nghề và hướng nghiệp cho người lao động
Dự kiến trong gia đoạn 2011-2015 các KCN cần khoản từ 150.000- 200.000 lao động bao gồn các ngành may mặc, da giầy, chế biến gồ, lương thực, thực phẩm, điện , điện tử, cơ khí, gốm sứ, gạch, giải khát, tổng vốn đầu tư cho phát triển nhân lực trong giai đoạn này là 5.896 tỷ đồng gồm vốn đầu tư cho giáo dục 3.913 tỷ đồng, cho đào tạo nghề 763 tỷ đồng và vốn đào tạo nguồn nhân lực 1.220 tỷ đồng
Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực kết nối thông tin cơ sở đào tạo với người lao động, cơ hội tìm kiếm việc làm từ các doanh nghiệp đến người lao động phối hợp các doanh
Trang 12nghiệp thực hiện hoạt động tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo, dạy nghề,
hướng nghiệp cho sinh viên, người lao động lựa chọn nghề phù hợp trước khi
nhập trường
Bên cạnh đo ùmỗi doanh nghiệp cần từng bước đổi mới phương pháp quản lý
nhân lực, theo hướng hiện đại, hiệu quả, có chương trình phát triện nhân lực trong
từng giai đoạn, xác định rõ nhu cầu, tiêu chuẩn nhân sự phù hợp, thực hiện tuyển
dụng công khai, minh bạch, có kế hoạch thu hút đào tạo, bồi dưỡng nhân lực,
tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý giáo dục đào tạo, dạy nghề,
xây dựng chặt chẽ các đơn vị sử dụng lao động với cơ cở đào tạo, giữa doanh
nghiệp với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, hạn chế mức thấp nhất sự
lãng phí trong phát triển nhân lực
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực
1.2.1 Môi trường làm việc người lao động
Người lao động trong doanh nghiệp khi gắn bó hết đời cho một tổ chức khi có
môi trường tốt như
- Sức lao động bỏ ra được đền bù tương xứng
- môi trương làm việc năng động có cơ hội thăng tiến và công bằng
- Các chế độ lương thưởng bảo hiểm xã hội, y tế, công đoàn được thực hiện theo
qui định
- Chính sách giữ chân người lao động được thương xuyên quan tâm
1.2.2 Phong các lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo nhà quản trị sẽ tạo ra môi trường làm việc tốt và thu hút
nguồn nhân lực
- Chiến lược đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao
động
- Động viên chia sẻ khi người lao động gặp khó khăn
- Chính sách khen thưởng kịp thời khi người lao động phát minh sáng chế làm lợi
cho doanh nghiệp
- Luôn tạo mồi trường làm việc thảo mái cho người lao động để họ phát huy hết khả năng của minh
- Khai thác tối đa những tiểm năng sẵn có của người lao động để phục vụ hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp
- Luôn tạo ra bước đột phá về chính sách giữ chân người lao động và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao
* Tóm tắt chương 1
Phát triển nguồn nhân lực đã khẳng định vai trò quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp và xã hội phải kết hợp thỏa mãn lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động
Sau 20 năm xây dựng và phát triển, các KCX-KCN TP.HCM đã đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh Các KCX-KCN thành phố thực hiện 5 mục tiêu kinh tế của Chính phủ đề ra thể hiện trên các nhiệm vụ sau đây
1 Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, 2 Giải quyết việc làm, 3 Thu nhập kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, 4 Tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, 5 Góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của Thành phố phát triển theo
xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa các vùng ngoại thành Việc phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các KCX- KCN giữ vai trò quyết định đến việc thu hút các nhà đầu tư để Phát triển kinh tế thành phố nói riêng cả nước nói chung và giải quyết việc làm cho người lao động trong thành phố và các tỉnh bạn
Trang 1312
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA CÁC KCX- KCN TP.HCM
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của các KCX – KCN TP.HCM
Khi luật đầu tư nước ngoài tại việt nam được ban hành 1987, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng, phần lớn tập trung vào lĩnh vực dịch
vụ như khách sạn, văn phòng làm việc ở thành phố lớn Tuy nhiên, đầu tư vào
công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp hai khó khăn
chính, đó là: cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai
đầu tư dự án phức tạp, mất nhiều thời gian Trước yêu cầu phát triển kinh tế, qua
kinh nghiệm của nước ngoài và thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thức
VI năm 1986, chính phủ (lúc đó là Hội đồng Bộ Trưởng) chủ trương thành lập
khu chế xuất (KCX) để làm thí điểm một mô hình kinh tế nhằm thực hiện chủ
trương đổi mới, mở cửa theo hướng hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quy chế KCX đã được ban hành kèm theo Nghị định số 322/HĐBT ngày
18/10/1991 và 25/11/1991, KCX Tân Thuận KCX đầu tiên của cả nước theo
quyết định số 394/CT hội đồng bộ trưởng và KCX Tân Thuận được thành lập, ban
quản lý KCX Tân Thuận đã được bổ nhiệm nhân sự theo quyết định của Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng số 62/CT ngày 26/02/1992
Năm 1992, KCX Linh Trung ra đời Ban quản lý đổi tên thành Ban quản lý các
khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh, đã được sử dụng con dấu có hình, áp dụng
mô hình mới theo cơ chế “Một cửa, tại chỗ” và được các Bộ quyển ủy theo thông
báo số 433/KTĐN ngày 27/10/1992 thông báo số 22/TB ngày 04/02/1993 của
Văn phòng Chính Phủ
Ngày 28 tháng 12 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 192/CP về Quy
chế KCN Sau đó Chính phủ ban hành Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về Quy
chế KCN-KCX và khu công nghệ cao Năm 1996 và 1997 liên tiếp 10 KCN trên
6 quận, huyện của Thành phố có quyết định thành lập trong đó có KCN Tân Bình
Từ tháng 10 năm 2000, Ban quản lý được chuyển giao trực thuộc UBND Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định của Thủ tướng Chính Phú số 100/QĐ – TTg ngày 17/08/2000 theo đó Ban quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình công tác và kinh phí hoạt động của UBND TPHCM, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực
Đến cuối năm 2011, ở Thành phố Hồ Chí Minh có 14 KCX-KCN trên các quận huyện được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ù với diện tích đất 2.761.07ha hoạt động, đạt tỷ lệ lắp đầy 93% trong đó
03 KCX là Tân Thuận (Quận 7), Linh Trung I và II (Thủ Đức)
11 KCN tập trung là KCN Bình Chiểu (Q Thủ Đức), KCN Tân Tạo (Quận Bình Tân), KCN Vĩnh Lộc (Quận Bình Tân, mở rộng huyện Bình Chánh), KCN Lê Minh Xuân (Huyện Bình Chánh), KCN Tây Bắc Củ Chi, KCN Tân Phú Trung, KCN đông nam (Huyện Củ Chi), KCN Hiệp Phước (Huyện Nhà Bè), KCN Tân Bình (Quận Tân Phú), KCN Tân Thới Hiệp (Quận 12), KCN Cát Lái và các năm tiếp theo, 14khu công nghiệp (KCN) trên 7 quận – huyện của Thành phố có quyết định thành lập của chính phủ
2.1.1 Cơ chế quản lý của các KCX – KCN Thành Phố Hồ Chí Minh 2.1.1.1 Cơ chế Một cửa, tại chỗ
Quyết định của Thủ tướng chính phủ tại các công văn số 433/KTDN ngày 27/10/1992 và số 22/TB ngày 04/02/1993 đã mở đầu cho việc hình thành cơ chế quản lý mới, đó là cơ chế ủy quyền để Ban quản lý giải quyết nhanh chóng các
Trang 14thủ tục về đầu tư và các lĩnh vực quản lý khác Đây là lần đầu tiên trong phạm vi
cả nước, Thủ tướng đã giao cho cơ quan quản lý đặc thù ở địa phương con dấu
quốc huy và chỉ đạo các Bộ ủy quyền cho Ban quản lý để xử lý tại chỗ những vấn
đề phát sinh tại KCX Trong 20 năm qua, Ban quản lý đã thực hiện có hiệu quả
tốt cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ”, chứng minh trong thực tiễn một chủ trương
phù hợp của mô hình quản lý mới này
Cơ chế “Một cửa, tại chỗ” góp phần đổi mới cơ chế quản lý trên tất cả các lĩnh
vực đầu tư, thương mại, xây dựng, môi trường, lao động, giải quyết các thủ tục
một cách nhanh chóng, tiện lợi, làm thay đổi phong cách quản lý ngày càng tiên
tiến hơn, hiện đại hơn, đảm bảo tập trung thống nhất đầu mới trong quản lý, hoàn
thiện cung cách phục vụ đã tạo được lòng tin cho nhà đầu tư Để thực hiện cơ chế
“Một cửa, tại chỗ” Ban quản lý đã được sự ủy quyền phân cấp của các Bộ ngành
như sau:
Về ủy quyền: Ban quản lý là một cấp giải quyết trực tiếp phần lớn các vấn đề
cơ bản nảy sinh trong các KCX-KCN Để đảm bảo Ban quản lý có đủ quyền hạn
cần thiết, các bộ ngành và UBND Thành phố đã ủy quyền cho Ban quản lý trong
từng lĩnh vực cụ thể như quản lý đầu tư, xây dựng, xuất nhập khẩu, tài chính, môi
trường, lao động
Về phân cấp Theo Luật đầu tư năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày
22/09/2006, Ban quản lý được phân cấp mạnh trong việc cấp Giấy chứng nhận
đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư, Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên
tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặc chưa quy
hoạch
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mô hình quản lý các doanh nghiệp dưới
nhiều đầu mối Vì vậy, dẫn đến tình trạng thiếu tập trung thống nhất nên hiệu
quả quản lý ở một số lĩnh vực chưa cao Cơ chế “Một cửa, tại chỗ” ở đấy chưa rõ
ràng, chưa được ủy quyền các chức năng như thanh tra, xử phạt, thống kê nên
cũng gặp hạn chế trong quản lý
2.1.2.2 Cơ chế Phối hợp quản lý
Trên nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành như: quản lý môi trường, quản lý lao động, quản lý công nghệ, quản lý ngoại hối cầân có sự hỗ trợ của các Sở chuyên ngành trên địa bàn Trong thời gian qua, Ban quản lý đã ký quy chế phối hợp với các đơn vị sở ngành và các tổ chức liên quan như: Ngân hàng nhà nước chi nhánh Tp.HCM, Cục thuế thành phố, Sở khoa học công nghệ, Sở kế hoạch và đầu tư, Hải quan Tuy nhiên, những quy chế này nội dung cũng chưa thật hoàn thiện và hiệu quả
Một số chương trình phối hợp với các Sở ngành trong thời gian qua bao gồm Phối hợp Sở kế hoạch và đầu tư, đã trao đổi thông tin, tổ chức xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, tổ chức đối thoại doanh nghiệp tại các KCX-KCN có sự tham gia của các cơ quan hữu quan tại thành phố như Cục Thuế, Hải Quan để lắng nghe và giải quyết những khó khăn vướng mắc cảu doanh nghiệp, phối hợp với Sở lao động Thương Binh và xã hội, Sở Y tế và Bảo Hiểm xã hội thành phố giám sát, chấn chỉnh các vi phạm liên quan đến chính sách lao động, an toàn vệ sinh lao động, thực phẩm; phối hợp Sở tài nguyên môi trường cho các doanh nghiệp, phối hợp với Công an thành phố về công tác an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lực lưỡng bảo vệ , phòng cháy chữa cháy của KCX-KCN và doanh nghiệp
2.1.1.3 Cơ chế tự đảm bảo tài chính
Kinh phí hoạt động của Ban quản lý từ 1992 đến tháng 05/1999 là do ngân sách cấp Từ tháng 5/1999, được sự cho phép của Chính phủ, Ban quản lý được thực hiện thí điểm chế độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động với nguồn duy nhất thì Một phần thu phí quản lý của KCX Tân Thuận Đây là chế độ tài chính đầu tiên chủ trương xã hội hóa kinh phí hoạt động ở một cơ quan quản lý nhà nước có nguồn thu Sau 2 năm thí điểm, chế độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động đã tiết kiệm chi ngân sách 7.9 tỷ đồng, cho phép Ban quản lý chủ động theo kế hoạch chi tiêu theo Luật ngân sách, đảm bảo kịp thời nhu cầu chi cho hoạt động của
Trang 1516
Ban quản lý Từ kết quả đó, ngày 19/12/2001, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính đã ký
quyết định số 138/2001/QĐ – BTC Ban hành quy chế tạm thời về chế độ tự đảm
bảo kinh phí tự hoạt động của Ban quản lý và quyết định số 03/2003/QĐ – BTC
của Bộ tài chính ngày 10/01/2003 về việc thực hiện chế độ thí điểm mở rộng diện
thu phí quản lý ở các KCX-KCN Với nguồn thu được mở rộng Ban quản lý có
điều kiện cung cấp các dịch vụ hộ trợ hoạt động cho các chủ đầu tư, nhằm quản
lý và phát triển các KCX-KCN ngày càng tốt hơn
2.2 Hiệu quả hoạt động của các KCX –KCN Thành Phố Hồ Chí Minh sau 20
năm hình thành và phát triển
2.2.1 Về thu hút vốn đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh
Sau 20 năm hình thành và phát triển trên địa bàn thành phố có 3 KCX và 11
KCN đã đi vào hoạt động với diện tích 2.761.07ha, diện tích đất thương phẩm
cho thuê là 1.185.34ha đã thu hút được 1.222 dự án đầu tư vào 14 KCX-KCN
tổng số vốn là 7,7 tỷ USD trong đó có 483 dự án FDI tổng vốn đầu tư 4.024 tỷ
USD các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật, chất xám như điện, điện điện tử
chiếm 25.47% tổng vốn đầu tư, hóa nhựa chiếm 14.9%, cơ khí chiếm 13.1%
Năm 2011 theo ban quản lý KCX-KCN (HEPZA) trên địa bàn thành phố có
118 dự án được cấp mới và điều chỉnh thu hút 1.5 tỷ USD vốn đầu tư, vượt 7.15%
năm 2011 trong vốn đâu tư nước ngoài 1.3 tỷ USD tăng gần 409% so năm 2010
trong khi vốn đầu tư trong nước chỉ đặt gần 264 triệu USD giảm 51% so năm
2010 (riêng KCN đông nam số vốn thu hút 1 tỷUSD)
5 tháng đầu năm 2012khoảng 90 dự án tổng vốn thu hút kể cả cấp mới và
điều chỉnh chỉ đặt 134.07 triệu USD giảm 88.85% so với cùng kỳ, tổng vốn đầu tư
FDI đạt 70.93 triệu USD, giảm 0.85% so với cùng kỳ, vốn đầu tư trong nước đạt
63.14 triệu USD giảm 88%, diện tích nhà xưởng cho thuê cũng giảm 48% so với
cùng kỳ chỉ đạt 10.232m2
2.2.2 Về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
17
Theo thống kê của HEPZA hiện nay Có 1.039 dự án đang hoạt động, 26 dự án xây dựng, 69 dự án đang triển khai, 88 dự án ngưng hoạt động và giải thể Về đầu tư hạ tầng KCX-KCN có 14 công ty với tổng vốn đầu tư 749.47 triệu USD
Các nhà đầu tư nước ngoài có số vốn đầu tư các nhất như Singapore chiếm 26,87%, nhật bản 21,94%, đài loan 11,64%, hàn quốc 4,46%
Các ngành nghề chiếm tỷ trọng vốn lớn trong tổng vốn đầu tư đăng ký như hóa nhựa 22,52%, cơ khí 15,75%, thực phẩm 15,11%, dịch vụ 12,82%
Năm 2010 HEPZA đóng góp cho ngân sách 3.000 tỷ đồng và kế hoạch trong gia đoạn 2011 -2015 thu ngân sách bình quân tăng 30% đạt hơn 12.000 tỷ đồng Năm 2012 HEPZA đóng góp cho ngân sách 2.700 tỷ đồng tăng 13% so với năm 2011
2.2.3 Về kim ngạch xuất nhập khẩu
Từ năm 1991 2010 kim gach xuất nhập khẩu các doanh nghiệp trong KCX KCN là 42,83 tỷUSD trong đó riêng xuất khẩu đạt 23,21 tỷ USD chiếm 12,53% xuất khẩu chung của thành phố, khoảng 40% xuất khẩu công nghiệp của thành phố nhìn chung kim gạch xuất khẩu các doanh nghiệp không ngừng tăng nếu trong gia đoạn năm 1996-2000 xuất khẩu mới đạt 2,18 tỷ USD thì trong gia đoạn 2001-2005 đã lên 6,9 tỷ USD tăng 218% giai đoạn tiếp theo năm 2006 -2010 đạt
-14 tỷ USD tăng 103% so với 2001 – 2005 Hàng hóa xuất khẩu đến 45 nước trên thế giới trong đó thị trường nhật 42.11%, EU 16,27%, mỹ 15,44%, trung quốc 5,24%
Theo kế hoạch của HEPZA cho biết từ năm 2011 – 2015 mục tiêu xuất khẩu tăng bình quân là 15% đến năm 2015 đạt 6 tỷ USD thu ngân sách tăng bình quân
30%/năm đến năm 2015 đạt 12.000 tỷ đồng góp phần cân đối ngoại tệ cho thành
phố và ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 162.2.4 Về trình độ kỹ thuật, công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý
Công nghệ của các doanh nghiệp trong KCX-KCN thời gian ban đầu thường là
các loại công nghệ thâm dụng lao động, sử dụng nguồn nguyên liệu dễ tìm trên
thị trường như các ngành dệt may, lắp ráp điện tử; chủ yếu là gia công
Càng về sau, khi độ an toàn đầu tư môi trường cho phép, các nhà đầu tư nâng
trình độ công nghệ lên, đi vào những lĩnh vực công nghệ cao như cơ khí chính
xác, tự động hóa Một số lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao tại KCX-KCN đã được
các doanh nghiệp đầu tư thể hiện qua các dây truyền sản xuất các sản phẩm như
Hợp số tự động ô tô, cáp điện, linh kiện điện – điện tử của các công ty Furakawa,
Nikkiso, Saigon, Precision, Chupu – Rika, Nidec Tosok Ngoài ra, một số nhà
đầu tư đi vào nền kinh tế tri thức như thiết kế, sản xuất con chíp, phần mềm điện
toán, như công ty Renesas
Mặt khác, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp KCX-KCN đã chuyển
giao dần việc quản lý và điều hành sản xuất cho người lao động Việt Nam Hầu
hết các doanh nghiệp đã bố trí, sử dụng người lao động Việt Nam vào các vị trí,
chức danh công việc quan trọng như: Tổ trưởng các bộ phận, quản đốc, Trưởng
phòng, Giám đốc, Phó giám đốc, hoạt thành viên Hội đồng quản trị Qua đó, giúp
lao động Việt Nam tiếp cận và học hỏi trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài
2.2.5 Giải quyết việc làm
Các KCX-KCN và sự gia tăng của các khu vực đầu tư nước ngoài đã thu hút,
giải quyết việc làm ngày càng nhiều cho lao động kể cả lao động của Thành phố
và các tỉnh Tính đến ngày 31/12/2011 các KCX-KCN đã thu hút được 269.192
lao động, trong đó làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
179.383 người, chiếm tỷ lệ 66,63% Lực lượng lao động trong KCX-KCN chủ yếu
là lao động trẻ có độ tuổi trung bình từ 18 – 25, lao động nhập cư chiếm trên
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN
Lao động trong KCX, KCN liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là trong giai đoạn đầu hình thành KCX, KCN Trong 5 năm đầu, tốc độ tăng hàng năm trên 100% Những năm kế tiếp, tốc độ tăng lao động giảm hơn so với trước Nguyên nhân là do giai đoạn này hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã dần ổn định và KCX, KCN đã khai thác gần như lấp đầy
Vấn đề tồn tại hiện nay là nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và số lượng Đa số lao động phải tuyển dụng từ các tỉnh khác, do đó thị trường lao động luôn biến động và không ổn đinh Sự chuyển dịch cơ cầu đầu tư, khuyến khích các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, giảm dần tỷ lệ các ngành nghề thâm dụng lao động dẫn đến tình trạng thiếu lao động kỹ thuật Đồng thời, chương trình giảng dạy tại các trường còn mang nặng tính lý thuyết, chậm đổi mới, nội dung đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tiễn, nhiều lao động đã được qua trường lớp nhưng khi được tuyển dụng, doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại
Do đó, việc cung ứng nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động chất xám, kỹ thuật cao, luôn gặp khó khăn
Trang 1720
2.2.6 Về thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố phát triển
Quá trình mở rộng và phát triển các KCX-KCN là quá trình góp phần đáng kểù
vào chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, chuyển từ một vùng nông
nghiệp lạc hậu với năng suất thấp thành vùng công nghiệp, phát triển toàn diện
về kinh tế, văn hóa, xã hôi
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố, trước đây Tân Bình, Thủ Đức, Bình
Chánh, Củ Chi, Nhà Bè là những huyện nông thôn ngoại thành, ven thành phố,
giá trị sản xuất công nghiệp thấp; tuy nhiên, từ khi có KCX-KCN trên các địa bàn
này, đã chuyển hóa những vùng nông thôn, đầm lầy hoang hóa, vùng đất bạc
màu tại nơi đây thành những nơi trù phú về sản xuất công nghiệp, khang trang về
hạ tầng xã hội, có không gian xanh tươi Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc
doanh của các quận, huyện trên trong vòng vài năm đã tăng đáng kể
Năm 1991 sự hình thành KCX Tân Thuận (một trong năm chương trình phát
triển để hướng phát triển thành phố về hướng Nam và ra biển Đông) đã mở ra
đường Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh (nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh) với khu
đô thị mới Phú Mỹ Hưng hiện đại, mở ra KCN Hiệp Phước, Nhà máy điện Hiệp
Phước cùng với hệ thống cảng tổng hợp sẽ được xây dựng Như vậy, KCX Tân
Thuận đã góp phần tạo sự chuyển hướng từ một vùng nông nghiệp lạc hậu trở
thành vùng đô thị công nghiệp phát triển trong tương lai
Về cơ sở hạ tầng, trong thời gian qua thành phố đã nổ lực dần xây dựng cơ sở
hạ tầng bên ngoài kết nối đến KCX-KCN nhằm phục vụ cho sự hình thành và
phát triển KCX-KCN TP.HCM, như đã xây dựng và mở rộng các hệ thống trục
giao thông chính (Quốc lộ 1, đường Trường Chinh, xa lộ Bắc Nam, xa lộ Đông
Tây, xây dựng thêm cầu Kinh Tẻ, cầu Tân Thuận 2, hầm chui trên Quốc lộ 1 tại
các điểm tiếp giáp KCN) cũng như các hệ thống điện, nước, viễn thông phát
triển
21
Một số công ty phát triển hạ tầng KCX-KCN và doanh nghiệp trong khu đã đầu
tư phát triển các hạ tầng xã hội như Khu nhà ở chuyên gia, nhà lưu trú công nhân,
khu ăn uống, vui chơi giải trí thể thao, phòng khám y tế 2.3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của các KCX- KCN TP.HCM 2.3.1 Tình hình cung ứng nguồn nhân lực trong KCX- KCN
2.3.1.1 Sự phát triển về số lượng lao động
Khu chế xuất TP.HCM ra đời vào cuối năm 1991 Đến đầu năm 1993 doanh nghiệp đầu tiên ở KCX Tân Thuận bắt đầu hoạt động, với chuyên ngành sản xuất là kéo sợi Đây là mốc khởi đầu của hoạt động, huy động, bồi dưỡng và cung ứng lao động cho sản xuất công nghiệp của toàn bộ qui trình hình thành và phát triển của hệ thống của KCX -KCN
Trong quá trình phát triển của KCX-KCN TP.HCM một đầu mối thu hút một lực lượng lao động đông đảo từ quỹ lao động tự có tại TP.HCM cũng như từ các địa phương bạn, kể cả những địa phương cách rất xa Thành phố
Với phương châm vừa chạy vừa xếp hàng lần lượt các khu chế xuất rồi đến các khu công nghiệp thu ngay lực lượng lao động đông đảo đang thiếu việc làm với trình độ tay nghề hầu như chưa có gì đáng kể, với sự năng động của các nhà đầu
tư trong nổå lực đào tạo tại chỗ rất hiệu quả, đáp ứng cơ bản nhu cầu của sản xuất Theo cách thức như vậy, sức thu hút lao động của các khu KCX-KCN tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là trong thời kỳ định hình của hệ thống trong các năm 1995 –
Trang 18STT Năm Số lao động (người) Tỷ lệ tăng (%)
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN
Từ năm 1993 đến 1995 là thời kỳ các nhà máy trong các khu ào ạt mở cửa từ
kết quả của các giấy phép đầu tư khi các KCX-KCN mới vào cuộc Do đó, tốc độ
tăng trưởng của lực lượng lao động vào thời gian này là có sự đột biến, năm 1995
tăng 320,19% năm 1996 tăng 114,43%, năm 1997 tăng 106.05% còn các năm
sau kế tiếp giảm dần
Sự phát triển lao động nữ được phản ảnh qua bảng thông kê sau
Bảng: 2.3 Tỷ lệ tăng giảm lao động nữ theo năm trong các KCX, KCN
STT Năm Lao động nữ (người) Tỷ lệ (%)
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN
Từ năm 1993 đến 1998 là thời kỳ các nhà máy trong các khu ào ạt mở cửa từ kết quả của các giấy phép đầu tư khi các KCX- KCN mới vào cuộc Do đó tốc độ tăng trưởng của lực lượng lao động nữ vào thời gian này là có sự đột biến,
Trang 1924
Năm 1998 tăng 76,30% năm 1999 giảm 70.03%, năm 2000 tăng 74.38% còn
các năm sau kế tiếp giảm dần
Nguyên nhân giảm lao động có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có
nguyên nhân mấy năm gần đây do các tỉnh có phong trào ào ạt mở các KCN ở
địa phươngđã thu hút một lượng lao động lớn trở về địa phương làm việc để giảm
chí phí và gần gia đình cũng như các lao động nữ lập gia đình sinh con phải nghỉ
và mức lương doanh nghiệp trả thấp không đủ chi phí thuê nhà , chi phí sinh hoạt
ở thành phố tăng cao so với ở quê, đặc biệt năm 2008 tỷ lệ giảm (- 1,98%) là do
lạm phát toàn cầu một số doanh nghiệp giải thể hoặc ngưng hoạt động cũng như
số lao động các tỉnh chiếm trên 60% và tỷ lệ lao động nữ chiếm 61,44% ,
Nguyên nhân kế tiếp do doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt về sản
phẩm buộc doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược sản phẩm cũng như phải thay
đổi thiết bị công nghệ, sự tuyển dụng ngày càng đòi hỏi cao hơn,`
2.3.1.2 Sự phát triển về trình độ học vấn
Về trình độ học vấn Các KCX-KCN đã góp phần nâng cao dân trí, người lao
động trở nên năng động hơn, có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề,
trình độ văn hóa, có ý thức kỹ thuật và tác phong công nghiệp Tỷ lệ lao động
trình độ Cấp 1, Cấp 2, Cấp 3 có xu hướng giảm, thay vào đó là trình độ lao động
trung cấp, cao đẳng và đại học ngày càng tăng Tỷ lệ về trình độ học vấn được
thể hiện bảng sau
Bảng 2.4 Tỷ lệ tăng lao động có trình độ học vấn ở các KCX-KCN
T ỷ l ệ (%) Ng ườ i
T ỷ l ệ (%) Ng ườ i
T ỷ l ệ (%) Ng ườ i
T ỷ l ệ (%)
2006 7.408 3.5 72.199 34.14 72.199 34.14 29.003 13.71 23.422 11.08 211.473
2007 7.105 2.85 34.38 72.199 90.055 36.09 39.894 15.99 39.894 15.99 249.525
2008 7.581 3.99 83.124 33.986 92.440 37.80 36.014 14.72 25.420 10.39 244.579
2009 9,738 3.90 98,850 39.57 83,906 33.59 33,636 13.46 23,682 9.48 249,812
2010 9,453 3.69 103,493 40.45 85,408 33.38 32,556 12.72 24,945 9.75 255,855
2011 9,709 3.61 105,045 39.02 91,628 34.04 35,026 13.00 27,784 10.32 269,192
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN Nếu như năm 2006, tỷ lệ lao động có trình độ lao động phổ thông là 71,78%
và trình độ TH, CĐ là 13,71%, trình độ đại học, trên đại học là 11,07%
Năm 2011, tỷ lệ lao động có trình độ phổ tăng là 76,66% trình độ độ TH, CĐ giảm là 13,01% trình độ đại học, trên đại học giảm là 10,32%
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các KCX-KCN thời gian ban đầu thường là các loại công nghiệp thâm dụng lao động, sử dụng nguồn nguyên liệu dễ dàng tìm trên thị trường như các ngành dệt may, lắp ráp điện tử, chủ yếu là gia công Càng về sau, khi độ an toàn môi trường đầu tư cho phép, các nhà đầu tư nâng trình độ công nghệ đi lên, đi vào những lĩnh vực công nghệ cao tại KCX-KCN đã được các doanh nghiệp đầu tư thể hiện qua các dây chuyền sản xuất các sản phẩm như: Hộp số tự động ô tô, cáp điện, linh kiện điện – điện tử của các công ty Furukawa, Nikkiso, Saigon Precision, Chubu Rika Ngoài ra, một số nhà đầu tư bắt đầy đi vào công nghệ của nền kinh tế trí thức như thiết kế, sản xuất con chíp, phần mềm điện toán như công ty Tenesas
Tình trạng này bắt nguồn từ thực tế là khả năng đào tạo tay nghề của chúng ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chất lượng tay nghề được đào tạo vẫn còn khá Xa với yêu cầu từ thực tế này, các nhà đầu tư bắt buộc phải nâng cao tính năng động
Trang 20của mình bằng việc đào tạo tại chỗ mà đầu vào là học sinh chưa có tay nghề
nhưng có khả năng được đào tạo nhanh
Nhu cầu thực sự của các doanh nghiệp trong các khu đương nhiên không phải
đơn giản là học sinh phổ thông với trình độ học vấn nhất định, mà nhu cầu thật sự
là các công nhân có tay nghề được đào tạo từ các học sinh mới ra trường với trình
độ học vấn như đã nêu
2.3.1.3 Về tạo nguồn và tổ chức cung ứng lao động
Với sự hình thành và phát triển nhanh chóng của các KCX-KCN là sự hình
thành trung tâm dạy nghề, mởi đầu bằng sự ra đời của Trung tâm dạy nghề Quận
7 với sự yểm trợ của nhà đầu tư phát triển KCX Tân Thuận về dây chuyền thiết
bị dạy nghề nhập khẩu
Về mặt số lượng, lực lượng trung tâm dạy nghề có thể nói đông đảo và đều
khắp Tuy nhiên, vấn đề chất lượng dạy nghề, cũng như ở hệ thống giáo dục
chính quy, là chủ đề cần được cải thiện mạnh mẽ
Với sự xuất hiện của các trung tâm dạy nghề, trên TP.HCM đã có 7 trung tâm
giới thiệu việc làm đầu mối, và một số trung tâm dạy nghề có hoạt động giới
thiệu việc làm Ngoài ra còn một số trung tâm trực thuộc ngành, và đông đảo các
doanh nghiệp làm nhiệm vụ giới thiệu việc làm
Các trung tâm này đã hợp thành một hệ thống cùng nhau đảm đương một phần
quan trọng việc cung ứng lao động cho các doanh nghiệp KCX-KCN TP.HCM,
bên cạnh một phẩn nhỏ hơn là lực lượng lao động do các doanh nghiệp trực tiếp
huy động
Theo tổng kết của trung tâm cung ứng lao động (7 trung tâm giới thiệu việc
làm) của HEPZA, lượng lao động được tuyển mộ qua các trung tâm này đã đóng
góp to lớn và tích cực cho việc cung ứng lao động cho các xí nghiệp trong các
KCX-KCN Song tác động rõ nét của hệ thống này chủ yếu là xử lý các công
việc thuộc phạm vi thủ tục hành chính Khó khăn đã phát sinh là chính sách có
chỗ chưa thống nhất
2.3.2 Tình hình đào tạo nghề cho các KCX -KCN TP.HCM 2.3.2.1 Mạng lưới cơ sở dạy nghề cho các KCX-KCN
Hiện nay toàn Thành phố có 30 trường trung cấp nghề, 148 trường đào tạo ngắn hạn, 47 trường khác thuộc cấp thành phố quản lý, 25 trường đào tạo dài hạn, trong đó có trường cao đẳng quản trị bán công trực thuộc HEPZA
Mạng lưới này phân bổ khắp các quận huyện, có quy mô đào tạo hàng năm khoảng 36.000 học sinh công nhân kỹ thuật và 420.000 học viên ngắn hạn Trong phát triển mạng lưới, chủ trương xã hội hóa đã khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư mở mới cơ sở dạy nghề Tỷ lệ cơ sở dạy nghề ngoài công lập mở rộng trong 5 năm qua chiếm hơn 80% tổng số cơ sở dạy nghề mở mới trong cùng thời kỳ
Ngoài ra thành phố đã khai thác có hiệu quả hệ thống trường Trung ương trú đóng tại thành phố để góp phần đào tạo công nhân kỹ thuật Hàng năm số học sinh Thành phố do các trường trung ương đào tạo xấp xỉ số do các trường Thành phố đào tạo
2.3.2.2 Ngành nghề và hình thức đào tạo cho các KCX- KCN
Nhiều ngành nghề và hình thức đào tạo được bổ sung, đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của người lao động cũng như thực tế sản xuất kinh doanh Ngoài các ngành nghề truyền thống, các nghề trong lĩnh vực công nghệ mới, trình độ cao, các nghề trong lĩnh vực dịch vụ cũng phát triển mạnh như: kỹ thuật máy tính, lập trình hệ thống, thiết kế đồ họa trên máy tính cơ điện tử – điều khiển tự động – cơ khí, nghiệp vụ tài xế taxi (ngoài kỹ năng lái xe), thiết kế thời trang, bán hàng, kỹ thuật đàm phán hợp đồng, thẩm mỹ, các dịch vụ du lịch, làm vườn, cây cảnh, kỹ thuật chất dẻo, kiểm tra chất lượng thực phẩm, sửa chữa thiết bị viễn thông, quản lý nhà cao tầng, v.v
Ngoài hình thức đào tạo tập trung theo kế hoạch (đào tạo tại trường theo chương trình chính quy, chủ yếu đối với hệ dài hạn chính quy và lao động chưa có
Trang 2128
việc làm, cần học nghề để tìm việc hoặc tổ chức việc làm), nhiều lĩnh vực đào
tạo mới được tổ chức:
Đào tạo tại chức đối với công nhân, viên chức đang làm việc, muốn nâng cao
tay nghề, người lao động khác muốn học thêm nghề hoặc nâng cao khả năng
nghề nghiệp, chuyên giao công nghệ
Đào tạo tại doanh nghiệp đối với công nhân do doanh nghiệp tuyển vào, tổ
chức đào tạo và sử dụng
Đào tạo có địa chỉ: Cơ sở dạy nghề tuyển sinh đào tạo và cung cấp lao động
theo “đơn đặt hàng” của các doanh nghiệp
Bồi dưỡng nâng bậc thợ: Các cơ sở dạy nghề phối hợp với các doanh nghiệp
xây dựng chương trình, tổ chức các lớp bồi dưỡng và tổ chức thi nâng bậc thợ cho
công nhân
Đào tạo bổ sung tay nghề thực hàng cho học sinh tổ nghiệp trung cấp để lấy
bằng công nhân kỹ thuật
Đào tạo theo phương thức hợp đồng sử dụng bản quyền về chương trình kiểm
tra đánh giá và cấp bằng nước ngoài
Đào tạo theo liên kết các doanh nghiệp với các trường như công ty TOYOTA
đã liên kết với trường các đẳng kinh tế phú lâm ở quận 6
2.3.3 Tình hình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
trong KCX, KCN
2.3.3.1 Vấn đề nhà ở của người lao động trong các KCX, KCN
Ngày 23/2004 UBND Thành phố đã ban hành chỉ thị số 07/2003/CT-UB ngày
23/04/2003 về chủ trương xây dựng nhà cho người có thu nhập thấp và Quyết
định số 322/2003/QĐ-UB ngày 30/12/2003 về phê duyệt kế hoạch đầu tư xây
dựng nhà lưu trú cho công nhân tại các KCX-KCN trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh
Hiện nay xây dựng nhà lưu trú công nhân được tham gia bởi nhiều thành
phần kinh tế gồm các công ty phát triển hạ tầng KCX-KCN, doanh nghiệp trong
29
KCX-KCN như Cty Nissei Electric (2 khối nhà 5 tầng: 1.520 chỗå), Cty Palace (2 khối nhà 6 tầng: 1.012 chỗ), Cty Đức Bổn (1 khối nhà 6 tầng: 416 chổ) Đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã có 6 KCX-KCN xây dựng hoàn thành khu lưu trú công nhân: KCX Tân Thuận, Linh Trung 1, Tân Bình, Tân Tạo, Hiệp Phước, Vĩnh Lộc Theo Quyết định số 4372/QĐ-UBND ngày 21/9/2009 của UBND Thành phố về ban hành kế hoạch xây dựng nhà lưu trú công nhân phấn đấu đến năm 2015 đáp ứng 50% nhu cầu chỗ ở cho công nhân lao động
Bên cạnh việc xây dựng nhà lưu trú công nhân, Ban quản lý đã phối hợp với chính quyền địa phương có KCX -KCN để khuyến khích, vận động chủ nhà trọ thực hiện giá cho thuê hợp lý, cam kết không tăng giá nhà trọ (đã có trên 95% chủ nhà trọ cam kết không tăng giá); khuyến khích chủ nhà trọ tự sửa chữa, cải tạo nhà ở đảm bảo các tiêu chuẩn quy định về diện tích phòng, vệ sinh
Bảng 2.5 Tình hình xây dựng nhà ở cho công nhân
2 Nissei Electric – Linh Trung I 2 lô nhà 5 tầng 1.520
4 Tổng công ty xây dưng Sài Gòn – Linh Trung 1
2 lô nhà 5 tầng 1.478
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN
Năm 2011 TP.HCM có số lượng đông đảo 269.192 công nhân đang lao động và sản xuất trong các KCX-KCN đời sống gặp khó khăn trong vệc ăn ở sinh Hoạt việc xây dựng nhà lưu trú công nhân thời gian qua đả thực hiện còn quá ít
so với nhu cầu thực tế
Trang 22Riêng tại KCX Tân Thuận với diện tích 300 ha đã có hơn 62.971 công nhân
đang làm việc tại đây, hiện đang ở trong các nhà trọ chật hẹp Chia sẽ những khó
khăn đó, mặc dù biết rằng gặp nhiều khó khăn khi làm dự án xã hội này nhưng
Công ty Đức Bổn với định hướng phát triển lâu dài, bền vững tại Việt Nam, đã
quyết định đầu tư xây dựng 01 tòa nhà 06 tầng với quy mô 86 phòng đầy đủ tiện
nghi và miễn phí dành cho công nhân của chính Công ty Trong đó, 6 phòng dành
cho thân nhân của công nhân đến thăm, 16 phòng dành cho cặp vợ chồng công
nhân, 64 phòng dành cho công nhân độc thân, cung cấp 448 chỗ lưu trú Ngoài ra,
công trình còn có những tiện ích phục vụ đời sống tinh thần cho công nhân sau
những giờ làm việc căn thẳng như: phòng karaoke, internet, căn tin, khu vực giặt
giũ có hệ thống máy giặt riêng, khu vực nấu nướng riêng, không gian sinh hoạt
chung, với tổng vốn đầu tư là khoảng 30 tỷ Công trình đã có thiết kế hiện đại, sử
dụng vật liệu cao cấp, trang thiết bị tân tiến, quản lý bằng thẻ từ, có hệ thống
phòng cháy chữa cháy hiện đại Ngoài ra, sự quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt đối
với công nhân của Ban giám đốc Công ty Đức Bổn còn được thể hiện qua việc
cung cấp đồng hồ điện, nước đến từng phòng nhằm giúp công nhân được hưởng
ưu đãi về giá điện và giá nước theo chính sách của Ủy ban nhân dân thành phố
Đây là công trình thuộc dự án khu nhà lưu trú công nhân gồm 6 khối nhà chung
cư với tổng số phòng là 588, phục vụ cho khoảng gần 3000 chỗ lưu trú trong 1
khuôn viên có diện tích hơn 15 ngàn m2 nằm trong tổng thể quy hoạch của KCX
Tân Thuận.Và Công trình của Đức Bổn hoàn thành đã hoàn thiện những viên
gạch cuối cùng của một khu lưu trú công nhân kiểu mẫu đầu tiên tại thành phố
Hồ Minh
Hình: 2.1 Khu lưu trú nhà ở cho công nhân
Nguồn:Báo cáo ban quản lý KCX-KCN
Việc xây dựng nhà lưu trú, giải quyết chỗ ở cho người lao động được các cấp, các ngành quan tâm nên nhiều dự án nhà lưu trú công nhân đã sớm hoàn thành và đi vào hoạt động
Tuy nhiên, việc xây dựng các khu nhà lưu trú công nhân vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở và chưa thu hút được người lao động vào ở Do đó, phần lớn người lao động ở trọ các khu dân cư xung quanh, chật hẹp và thiếu tiện nghi
2.3.3.2 Vấn đề nhà trẻ cho người lao động trong các KCX-KCN
TPHCM có 14 KCX-KCN đang hoạt động thu hút hơn 269.192 lao động, trong đó đa phần là lao động nhập cư “Trong số lao động nhập cư, nữ chiếm 61,44% Họ vào TP làm công nhân ở độ tuổi đôi mươi, sau vài năm thì lập gia đình, sinh con Lúc này, họ đối mặt với vấn đề chi phí gởi con nhà trẻ vì quá đắt so với đồng lương công nhân , trong khi nhà trẻ dành cho con công nhân thì thiếu trầm trọng”- ông Nguyễn Tấn Định, Phó Trưởng Ban Quản lý các KCX-KCN TPHCM nêu một thực trạng đã tồn tại khá lâu mà vẫn chưa có biện pháp tháo gỡ hữu hiệu
Thực tế công nhân nữ sinh con phải lựa chọn hoặc nghỉ làm ở nhà trông con, hoặc gởi con về quê, hoặc rước ông bà ở quê lên chăm sóc con Người mẹ nghỉ làm thì đồng lương công nhân của người chồng làm sao đủ nuôi cả nhà? Gởi con về quê thì nhớ con, lòng dạ chẳng yên, mà ở quê ông bà cũng phải làm lụng! Chỉ còn cách bấm bụng đưa người nhà vào TP để giúp chăm sóc cháu ông Nguyễn Tấn Định lý giải Đó cũng là hoàn cảnh của chị Nguyễn Thị Lan, quê Vũng Tàu, vào TPHCM làm công nhân may Sau khi sinh con, chị quyết định đưa mẹ vào TP để giúp chị trông con “Ở quê, mẹ tôi buôn bán kiếm sống Vào