1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020

41 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, số liệu về thực trạng tình hình kinh doanh tại các công ty xăng dầu trong tỉnh qua việc lấy ý kiến từ

Trang 1

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế toàn cầu với các diễn biến phức tạp của thị trường,

các Doanh nghiệp Việt Nam có những cơ hội lớn từ quá trình hội nhập quốc tế, mặt khác

cũng đương đầu với không ít những khó khăn thách thức

Là một công ty nhà nước vừa mới được cổ phần hóa từ năm 2009, công ty CP Xăng

dầu Tín Nghĩa cũng không đứng ngoài xu thế hội nhập và buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh

gay gắt với các Doanh nghiệp khác trong khi kinh doanh xăng dầu là một ngành kinh doanh

có điều kiện và chịu sự kiểm soát của các Bộ ngành liên quan được qui định bởi Nghị định

84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và Nghị định 104/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011

Trong những năm vừa qua, công ty đã đạt được những kết quả khả quan trong hoạt

động kinh doanh, thiết lập và mở rộng hệ thống phân phối ở một số địa phương trong tỉnh

với hai hệ thống phân phối chính là các trạm kinh doanh bán lẻ xăng dầu trực thuộc công ty

và các đại lý kinh doanh xăng dầu bên ngoài Tuy nhiên, so với tiềm năng thực tế trên thị

trường thì mức độ tăng trưởng thị phần của công ty vẫn còn thấp và chưa thật sự đạt hiệu quả

như mong muốn Mặt khác hiện nay công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa ngày càng phải cạnh

tranh với nhiều doanh nghiệp khác kinh doanh cùng ngành nghề với các chiêu thức mở rộng

thị trường vô cùng phong phú, đa dạng Đứng trước tình hình đó, việc tăng cường mở rộng

thị trường tiêu thụ sản phẩm là một đòi hỏi cấp bách và được đặt ở vị trí quan trọng trong

chiến lược kinh doanh của công ty

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cho dù có gia nhập WTO hay không, các Doanh nghiệp

vẫn phải tham gia thị trường và theo luật chơi chung Đối với các doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực phân phối hàng hóa cung cấp dịch vụ làm thế nào để giành được thị trường,

làm thế nào để chiến thắng các đối thủ, tìm diệt đối thủ hay cùng hợp tác, thực hiện các chiến

lược cạnh tranh theo kiểu “dẫn đầu thị trường”, “đa dạng hóa”, “hạ thấp chi phí” hay chiến

lược “đại dương xanh”

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp

nhằm mở rộng thị trường cho công ty CP Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm

2020” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ

2 Mục tiêu đề tài:

Căn cứ vào tình hình hoạt động và chiến lược phát triển của công ty, đề tài được thực

hiện với những mục tiêu sau:

- Đánh giá thực trạng kinh doanh xăng dầu của công ty Xăng dầu Tín Nghĩa hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng thị trường từ nay đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thị trường xăng dầu hiện nay, mạng lưới phân phối xăng dầu

của công ty Xăng dầu Tín Nghĩa thời gian qua

2

- Đối tượng khảo sát: Một số trạm xăng dầu trưc thuộc công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa, công ty Xăng dầu Đồng Nai, công ty Chất Đốt Đồng Nai, các cty tư nhân kinh doanh mặt hàng xăng dầu với nhiều trạm xăng đang hoạt động trên địa bàn

- Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp, khách hàng của công ty

-Thời gian nghiên cứu: Đánh giá thực trạng ở giai đoạn 2009 - 2011 Đề xuất giải pháp tập trung giai đoạn 2012- 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài này gồm: phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp nghiên cứu tại hiện trường (quan sát, sử dụng bảng câu hỏi, phỏng vấn), phương pháp nghiên cứu chuyên gia Chi tiết như sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu tại bàn

Phương pháp nghiên cứu tại bàn được áp dụng để:

- Hệ thống hóa lý luận, kinh nghiệm trong nước, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn

- Phân tích đánh giá các giải pháp phát triển nói chung và phát triển mở rộng thị trường kinh doanh xăng dầu nói riêng tại cty Xăng dầu Tín Nghĩa

- Xử lý, phân tích các thông tin, số liệu thu được qua bảng câu hỏi và phỏng vấn

- Xây dựng các kết luận về một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường của cty xăng dầu Tín Nghĩa đến năm 2020

- Xây dựng các định hướng, mục tiêu, các giải pháp và các kiến nghị nhằm mở rộng thị trường của công ty xăng dầu Tín Nghĩa đến năm 2020

Các phương pháp cụ thể gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp nghiên cứu tình huống…

4.2 Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi:

Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, số liệu về thực trạng tình hình kinh doanh tại các công ty xăng dầu trong tỉnh qua việc lấy ý kiến từ người tiêu dùng, các doanh nghiệp, công ty có nhu cầu sử dụng xăng dầu chất đốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cấp quản lý, các doanh nghiệp đầu mối cung cấp hàng cho các cty xăng dầu hiện nay Mẫu điều tra: Đối tượng được gửi mẫu điều tra là các trạm bán lẻ xăng dầu, các công

ty Xăng dầu tại tỉnh ĐN, khách hàng vãng lai và khách hàng Đại lý, khách hàng công nghiệp Số lượng này được xác định trên cơ sở tổng hợp danh sách thu thập từ Hiệp hội Xăng Dầu Đồng Nai, Cục thuế, Cục Thống kê và Sở Công Thương

Xử lý kết quả điều tra: bằng bảng câu hỏi được tác giả thực hiện bằng chương trình EXCEL

4.3 Phương pháp phỏng vấn:

Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin về môi trường đầu tư, các chính sách và biện pháp để đưa ra giải pháp mở rộng thị trường bán lẻ xăng dầu trong tỉnh Đồng Nai

Trang 2

3

- Đại diện các công ty Kinh doanh xăng dầu Cách thức thu thập thông tin là đến tận

doanh nghiệp để phỏng vấn

- Đại diện Hiệp hội xăng dầu Đồng Nai

- Đại diện Sở Công Thương Đồng Nai

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu là cơ sở phục vụ cho việc triển khai các sản phẩm dịch vụ mới đáp

ứng nhu cầu khách hàng

Đánh giá được toàn diện điểm mạnh, điểm yếu để từ đó đưa ra các giải pháp pháp triển

mạng lưới thị trường của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa đến năm 2020

Đánh giá nguy cơ và cơ hội của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa trong những năm qua

từ đó đưa ra các kiến nghị giúp phát triển công ty

6 Nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bố cục đề tài bao

gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường

Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty CP xăng dầu Tín Nghĩa trong

thời gian qua

Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty CP Xăng dầu Tín

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, là môi trường tiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanh nghiệp

Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ là địa điểm cụ thể gặp gỡ giữa người bán và người mua, khách hàng và doanh nghiệp mà còn có thể thõa thuận trao đổi với nhau thông qua các phương tiện thông tin viễn thông hiện đại Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khái niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng

Thị trường có thể được giải thích bằng nhiều khái niệm khác nhau, được xem xét từ nhiều góc độ và được đưa ra ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

Thị trường là một sự sắp xếp của xã hội, cho phép người mua và người bán tìm hiểu, khai thác thông tin và tiến hành những hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ một cách tự nguyện Thị trường là một trong hai tổ chức cốt lõi tiến hành tổ chức hoạt động thương mại, cùng với quyền sở hữu tài sản Với nghĩa thông thường, Thị trường là nơi gặp nhau giữa người bán và người mua, nơi hàng hoá được giao dịch, trao đổi Thị trường còn được gọi là cái chợ hoặc phố chợ…

Theo nghĩa hẹp thì thị trường là địa điểm hay không gian trao đổi hàng hóa, là nơi gặp

gỡ giữa người bán và người mua, hàng và tiền được trao đổi với nhau Như vậy ở đâu có sự trao đổi mua bán thì ở đó hình thành nên thị trường (Phí Mạnh Hồng, 2010)

Theo nghĩa rộng thì thị trường là các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hóa cùng với các quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình trao đổi và lưu thông hàng hóa cùng với các quan hệ kinh tế trong quá trình trao đổi hàng hóa dịch vụ

Như vậy thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể mà có thể thông qua nhiều phương tiện để thiết lập lên thị trường

Xét theo mức độ khái quát thì thị trường còn được quan niệm là sự kết hợp giữa cung

và cầu trong đó người mua người bán bình đẳng cạnh tranh, số lượng người bán nhiều hay ít phụ thuộc vào qui mô của thị trường lớn hay nhỏ Sự cạnh tranh trên thị trường có thể xảy ra giữa người bán, người mua hay giữa người bán hoặc người mua với nhau Việc xác định giá

cả trên thị trường là do cung và cầu quyết định

Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công lao động xã hội, Các Mac đã nhận định “hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội và có sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận”

Trang 3

5 Theo quan điểm Marketing, được hiểu là bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn

cùng có nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵng sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa

mãn nhu cầu và mong muốn đó

1.1.2 Chức năng và vai trò của thị trường

1.1.2.1 Thị trường bao gồm các chức năng cơ bản sau:

- Chức năng môi giới: thị trường là trung gian liên kết giữa người mua và người bán,

giữa người sản xuất và người tiêu dùng, liên kết người mua với nhau hoặc người bán với

nhau

Các chủ thể của thị trường lấy cơ sở là lợi ích của bàn thân, thông qua sự tồn tại của thị

trường để tìm đến liên kết với nhau tạo nên chỉnh thể kinh tế- xã hội hữu cơ

- Chức năng thừa nhận và thực hiện: một sản phẩm được đưa ra thị trường, được thị

trường thừa nhận tức là sản phẩm đó có thị trường, sản phẩm đó bắt buộc phải bán được trên

thị trường thì mới được xã hội thừa nhận

Thị trường chỉ thừa nhận những hàng hóa, dịch vụ được người mua chấp nhận Sau khi

được thị trường thừa nhận thì thị trường sẽ tiến hành chức năng thực hiện Thị trường là nơi

thực hiện giá trị của hàng hóa thông qua các hoạt động mua bán giữa người bán và người

mua, giá trị hàng hóa dịch vụ được thực hiện thông qua giá cả thị trường trên cơ sở giá trị sử

dụng của chúng được thị trường thừa nhận, giá trị của hàng hóa được thực hiện, hàng hóa

được chuyển từ người bán sang người mua, hàng hóa đi sang lĩnh vực tiêu dùng cá nhân ở đó

có giá trị sử dụng nói sẽ được thực hiện, đó là mục đích cuối cùng của sản xuất (Phí Mạnh

Hồng, 2010)

- Chức năng thông tin: thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh

tế Trong nền kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là về quyết định và để

quyết định được thì phải có thông tin

Thông tin không chỉ cần thiết cho người sản xuất, người tiêu dùng mà còn cho cả Nhà

nước và các tổ chức kinh tế Thị trường chỉ cho người tiêu dùng biết nên tìm kiếm mặt hàng

mình cần ở đâu, nên chọn mặt hàng nào cho phù hợp với khả năng của mình Chính phủ

thông qua các thông tin thị trường để hoạch định các chính sách điều chỉnh kinh tế

- Chức năng điều tiết và cân đối: thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất tự động

di chuyển tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành này sang ngành khác, từ sản xuất sản

phẩm này sang sản xuất sản phẩm khác để thu lợi nhuận cao hơn

Thông qua các hoạt động của các qui luật kinh tế thị trường, người sản xuất có lợi thế

trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sản xuất

Thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế trên thị trường người tiêu dùng buộc

phải cân nhắc, tính toán giá thành tiêu dùng của mình Do đó thị trường có vai trò lớn đối với

việc hướng dẫn người tiêu dùng

6 Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất tự thực hiện lưu thông, tự đặt

ra mức chi phí thấp hơn hoặc bằng mức trung bình của xã hội Do đó thị trường có vai trò quan trọng đối với cân đối tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động

- Chức năng loại bỏ: chỉ có các sản phẩm được thừa nhận mới tồn tại trên thị trường, thị trường thực hiện chức năng này nhằm chọn lọc ra các sản phẩm tốt, có chất lượng cao, giá thành phù hợp và được người tiêu dùng chấp nhận, ngược lại những sản phẩm không đáp ứng được các yêu cầu đó sẽ bị loại bỏ

1.1.2.2 Vai trò của thị trường:

Thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước, vai trò của thị trường thể hiện ở chỗ nó đã gắn chặt sản xuất với tiêu dung, thúc đẩy và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Thị trường buộc các chủ thể kinh tế phải hoạt động một cách thống nhất và tuân theo các qui luật của thị trường Thị trường ngày càng phát triển, cùng với nó là nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống con người, điều đó thúc đẩy con người luôn phát triển và đi lên để đáp ứng những nhu cầu đó của họ Có thể nói rằng thị trường là cơ sở cho cuộc sống ngày càng được đáp ứng cao hơn về nhu cầu của con người

Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hóa, kinh doanh và quản lí kinh

tế

Bất kỳ quá trình sản xuất hàng hóa nào cũng đều qua khâu lưu thông và phải qua thị trường Như vậy thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa Thị trường chỉ mất đi khi sản xuất hàng hóa không còn

Thị trường là chiếc cầu nối của sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa Thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa, để sản xuất hàng hóa, xã hội phải chi phí sản xuất, cho phí lưu thông Thị trường là nơi kiểm nghiệm các chi phí đó và thực hiện yêu cầu qui luật tiết kiệm lao động xã hội

Trong quản lý kinh tế, thị trường có vai trò vô cùng quan trọng, thị trường là đối tượng,

là căn cứ của kế hoạch hóa Thị trường là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế đất nước Thị trường là môi trường kinh doanh, là nơi Nhà nước tác động vào quá trình kinh doanh cơ sở

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thõa mãn các nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu…Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện, vừa là thước đo kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

- Là động lực: Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại phải luôn nắm bắt được nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất phát từ những nhu cầu đó Ngày nay, mức sống của người dân tăng lên do đó khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn Bên cạnh đó các cơ sở sản xuất kinh doanh thay nhau

Trang 4

7

ra đời cạnh tranh lôi kéo khách hàng bằng mọi cách có thể Vì vậy thị trường là động lực sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Là điều kiện: Thị trường bảo đảm cung ứng có hiệu quả các yếu tố cần thiết để doanh

nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp có yêu cầu về một

loại yếu tố sản xuất nào đó thì tình hình cung ứng trên thị trường sẽ có ảnh hưởng trực tiếp

tiêu cực hoặc tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy thị trường

là điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Là thước đo: Thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả khi và hiệu quả của các phương

án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,

các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các trường hợp khó khăn đòi hỏi phải có sự tính toán

cân nhắc trước khi ra quyết định Thị trường có chấp nhận sản phẩm hàng hóa của doanh

nghiệp thì mới chứng minh được phương án kinh doanh đó là có hiệu quả và ngược lại, vậy

thị trường là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.3 Mở rộng thị trường

Là chiến lược tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách mở rộng sự tham gia của các sản

phẩm hiện có vào những khu vực thị trường, khách hàng mới

* Mục đích:

- Tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường

- Tiếp tục gia tăng quy mô sản xuất

- Thu hút những khách hàng sử dụng mới

* Điều kiện vận dụng:

- Doanh nghiệp có hệ thống kênh phân phối năng động hiệu quả

- Có nhiều khả năng thâm nhập thị trường mới (vốn, nhân lực)

- Khách hàng đang có sự chuyển hướng sở thích và đánh giá

- Doanh nghiệp vẫn còn thừa năng lực sản xuất

Trong kinh doanh, việc mở rộng thị trường là điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại

và phát triển, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp thay đổi rất nhanh cho nên việc mở rộng thị

trường khiến cho doanh nghiệp tránh được tình trạng tụt hậu Mở rộng thị trường giúp doanh

nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khai thác triệt để tiềm năng của thị trường, nâng

cao hiệu quả sản suất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vị trí vai trò của doanh

nghiệp trên thị trường Vì vậy, việc mở rộng thị trường là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục

của mỗi doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường

Một sản phẩm dịch vụ xuất hiện trên thị trường và đã có khách hàng tiêu dùng sản

phẩm đó thì trên lý thuyết, sản phẩm đó chiếm lĩnh một phần thị trường tiêu thụ nhất định,

thị phần đó chính là thị trường hiện tại của doanh nghiệp, tuy nhiên cũng với sản phẩm dịch

vụ đó, cũng có thị phần của đối thủ cạnh tranh

Nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp chính là duy trì ổn định thị trường hiện có của

mình, không để cho đối thủ cạnh tranh có cơ hội xâm nhập, không để cho những người tiêu

8 dùng hiện có của mình chuyển sang phần thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh Còn vấn

đề mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp là quá trình mở rộng hay tăng khối lượng khách hàng và lượng hàng hóa bán ra của doanh nghiệp bằng cách xâm nhập vào thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh, lôi kéo những người tiêu dùng hiện tại của đối thủ cạnh tranh sang thị trường tiêu thụ của mình Việc ổn định và mở rộng thị trường là một trong những yêu cầu hàng đầu của quản lý doanh nghiệp, là mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nào trong cơ chế thị trường cũng phải cố gắng thực hiện Nếu không thực hiện tốt vấn

đề này, doanh nghiệp sẽ dần mất đi thị phần của chính mình và có thể sẽ không thể đứng được trên thị trường Để thực hiện được chiến lược này, doanh nghiệp cần có những phương

án kinh doanh hữu hiệu.Việc mở rộng thị trường được thực hiện theo hai cách, đó là mở rộng thị trường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu

- Mở rộng thị trường theo chiều rộng:

Đây là quan niệm mở rộng thị trường tiêu thụ với qui mô lớn hơn bằng chính những sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp Theo quan niệm này, doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ theo mô hình thị trường mới, sản phẩm cũ, cụ thể:

Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới của đối thủ cạnh tranh, thu hút khách hàng của đối thủ khác trở thành khách hàng của mình

Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới ở các khu vực địa lý khác nhau

- Mở rộng thị trường theo chiều sâu:

Theo quan điểm này, doanh nghiệp sẽ khai thác tốt hơn thị trường mới và thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng cách tạo ra những sản phẩm mới Đây là việc phát hiện tìm tòi những đoạn thị trường còn bỏ ngõ mà các doanh nghiệp khác chưa tiếp cận tới và tạo ra sản phẩm mới, cụ thể là:

Doanh nghiệp sẽ thực hiện chính sách về sản phẩm, cải tiến phát triển sản phẩm mới,

đa dạng hóa các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại và nhu cầu thị trường mới Doanh nghiệp tiến hành phân đoạn cắt lát thị trường, cải thiện hệ thống phân phối sao cho hiệu quả nhất

1.2 Đặc điểm thị trường kinh doanh xăng dầu Việt Nam

Do tính chất đặc biệt mà kinh doanh xăng dầu không giống những mặt hàng khác, tính chất đặc biệt đó được thể hiện:

- Xăng dầu là sản phẩm ở thể lỏng và phải có thiết bị bồn chứa đặc biệt

- Xăng dầu là chất dễ bay hơi, do đó cần có các biện pháp phòng chống hao hụt mất mát

- Xăng dầu là chất dễ cháy nổ, vì vậy việc bảo quản, vận chuyển phải tuân thủ theo những qui trình đặc biệt, thiết vị phải đảm bảo không tạo ra tia lửa điện, hệ thống điện và các vật va đập phải được đóng kín

- Xăng dầu là mặt hàng đa dạng, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu chất lượng cao trong khi tính ổn định thấp

Trang 5

9

- Xăng dầu là mặt hàng chiến lược của Nhà nước, là sản phẩm từ dầu mỏ có nguy cơ

gây ô nhiễm môi trường cao, là nguồn nhiên liệu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh

doanh cũng như phụ vụ nhu cầu đời sống, cung cấp năng lượng chính cho các ngành vận tải,

là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp hóa dầu, nhất là nguyên liệu sản xuất sợi

tổng hợp cho ngành công nghiệp dệt may, sản xuất phân đạm, chất nổ, chất dẻo, nguyên liệu

cho các ngành công nghiệp khác như: dầu nhờn, nhựa đường, chất tổng hợp…

- Là mặt hàng có độ nhạy cảm cao, mọi sự thay đổi về giá cả, nguồn cung cấp sẽ ảnh

hưởng trực tiếp tới hoạt động của đất nước trên tất cả các mặt: chính trị, xã hội, kinh tế…chỉ

cần giá xăng dầu thay đổi, tất cả giá cả của các mặt hàng đều thay đổi, ảnh hưởng rất lớn đến

hoạt động của xã hội Chính vì vậy nhà nước luôn phải sử dụng công cụ thuế, tài chính để

bình ổn giá, tránh những tác động xấu đến nền kinh tế

- Là mặt hàng hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn nên giá cả phụ thuộc rất lớn vào giá

xăng dầu trên thế giới, trong những năm gần đây, giá xăng dầu trên thị trường thế giới luôn

biến động tăng và tăng ở mức độ cao Giá cả thường xuyên biến động nguyên nhân là do

nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến chính sách giá dầu của OPEC, các quyết định cũng như

chính sách của OPEC nhằm đem lại lợi ích cho các quốc gia thành viên, song điều đó ảnh

hưởng rất lớn và biến động kinh tế toàn cầu thông qua sự điều chỉnh về giá cũng như lượng

cung dầu

1.2.1 Đặc điểm thị trường tiêu thụ xăng dầu:

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị

trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai

đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất

do Nhà nước quy định đến mua bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế

Để tiệm cận với những thay đổi đó, đặc biệt là giai đoạn bắt đầu tiếp cận thị trường,

Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh cơ chế quản lý vĩ mô về kinh doanh xăng dầu với những

chính sách phù hợp với đặc thù của mỗi giai đoạn (Bùi Ngọc Bảo, 2009)

Khái quát thị trường xăng dầu trong 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam đặt viên gạch đầu

tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu năm 1989, quá trình chuyển đổi có thể phân

chia thành 3 giai đoạn: trước năm 2000, từ năm 2000 đến cuối năm 2008 và từ cuối năm

2008 trở lại đây

Trên cơ sở phân tích, đánh giá và nhìn nhận trên mọi góc cạnh của thị trường, chúng ta

cần khẳng định những bước tiến của quá trình đổi mới cơ chế kinh doanh xăng dầu, đối diện

với những mặt hạn chế và đặt ra các vấn đề cần tiếp tục đổi mới để phát triển thị trường xăng

dầu trong giai đoạn tiếp theo, thích ứng với những biến động ngày càng phức tạp của nguồn

năng lượng dầu mỏ

Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, có vị trí khá quan trọng cho việc phát

triển nền kinh tế quốc dân và tiêu dùng xã hội Là một ngành kinh doanh có điều kiện và

chịu sự kiểm soát của các Bộ ngành liên quan được qui định bởi Nghị định 84/2009/NĐ-CP

10 ngày 15/10/2009 và Nghị định 104/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011 để quản lý kinh doanh xăng dầu Bằng các nghị định, quyết định trên chính phủ chủ trương xây dựng các hệ thống cung ứng xăng dầu phát triển ổn định, từng bước phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia, bảo đảm cân đối xăng dầu cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và tiêu dùng xã hội Để giải quyết tốt vấn đề đó, Thủ tướng Chính phủ áp dụng các biện phát kinh tế- hành chính để can thiệp vào thị trường xăng dầu đặc biệt

là áp dụng các chính sách giá định hướng theo sự chỉ đạo của Nhà nước và cơ chế giá giao cùng với chính sách trợ giá dầu hỏa, trợ cước vận tải đối với từng địa bàn xa trung tâm đầu mối giao hàng nhằm bình ổn thị trường và phục vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng dầu đủ bù đắp chi phí hợp

lý và có lãi để tích lũy cho đầu tư phát triển

Xăng dầu là mặt hàng chiến lược của nền kinh tế, do đó, kinh doanh xăng dầu không chỉ là kinh doanh đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chính trị và có tính phục vụ Với mục tiêu trên, Nhà nước có chủ trương xây dựng hệ thống cung ứng xăng dầu phát triển từng bước phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý, kiểm soát, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia, đáp ứng được việc cân đối xăng dầu cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và tiêu dùng

xã hội Theo qui chế, việc kinh doanh xăng dầu phải được thực hiện dưới hình thức hệ thống đại lý phân phối Hệ thống này bao gồm:

Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu → Tổng Đại lý → Đại lý

Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu còn gọi là doanh nghiệp đầu mối: là đơn vị đáp

ứng đầy đủ điều kiện về kinh doanh nhập khẩu theo quy định, được chính phủ chấp thuận và phải thiết lập hệ thống Tổng Đại lý, Đại lý bán lẻ xăng dầu Hiện cả nước có 09 Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng dầu

Tổng Đại lý là đơn vị thiết lập được một hệ thống đại lý bán lẻ trực thuộc và các đại lý bán lẻ bên ngoài khác Được phép ký hợp đồng làm Tổng Đại lý bán xăng dầu cho nhiều Doanh nghiệp đầu mối, được hưởng thù lao Tổng Đại lý

1.2.2 Điều kiện để làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu bao gồm:

Doanh nghiệp thành lập theo qui định của pháp luật, trong giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu (Nghị định 104/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011)

Có kho, bể dung tích tối thiểu 5.000 (năm ngàn) mét khối, thuộc sở hữu doanh nghiệp, hoặc đồng sỡ hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết, góp vốn hoặc thuê sử dụng dài hạn từ 5 (năm) năm trở lên để đảm bảo cung ứng ổn định xăng dầu cho hệ thống phân phối của mình

Có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu 5 (năm) cửa hàng, trạm bán lẻ thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết, góp vốn và tối thiểu 20 (hai mươi) đại lý bán lẻ xăng dầu Hệ thống phân phối này phải nằm trong hệ thống phân phối của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc doanh nghiệp sản xuất, chế biến xăng dầu và chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp đó

Trang 6

11

Có phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở

hữu theo qui định hợp đồng liên doanh, liên kết, góp vốn hoặc thuê sử dụng dài hạn từ 5

(năm) năm trở lên

Cán bộ nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được học về nghiệp vụ bảo quản, đo lường,

chất lượng xăng dầu, kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường, thời gian

học tối thiểu 3 (ba) tháng

Đại lý bán lẻ là đơn vị bán xăng dầu cho người tiêu dùng trực tiếp Chỉ được làm đại lý

bán lẻ xăng dầu cho một doanh nghiệp, được hưởng thù lao đại lý theo quy định Biển hiệu

phải ghi dây đủ các nội dung theo qui định của pháp luật và tên, biểu tượng (logo) của doanh

nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc doanh nghiệp sản xuất, chế biến

xăng dầu theo hướng dẫn của doanh nghiệp đó

Chỉ được mua bán xăng dầu với các thương nhân trong hệ thống (trừ việc bán cho

người tiêu dùng) và chịu trách nhiệm về số lượng và chất lượng xăng dầu bán ra

1.2.3 Về nguyên tắc quản lý giá cả xăng dầu:

Giá bán được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước

Doanh nghiệp đầu mối có quyền quyết định giá bán buôn và đề xuất giá bán lẻ với Nhà

nước, việc điều chỉnh giá bán lẻ được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự qui định của nghị

định qui định về kinh doanh xăng dầu của Chính phủ

Thời gian điều chỉnh giá bán lẻ liên tiếp tối thiểu là 10 (mười) ngày dương lịch đối với

trường hợp tăng giá và tối đa là 10 (mười) ngày đối với trường hợp giảm giá Doanh nghiệp

đầu mối phải gửi quyết định giá và phương án giá của mình đến các cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền

Căn cứ tình hình kinh tế xã hội, giá xăng dầu thế giới trong từng thời kỳ và những

phương án giá do doanh nghiệp đầu mối trình lên Chính phủ, Chính phủ sẽ quyết định điều

chỉnh giá phù hợp

1.2.4 Xu hướng tương lai

Theo lộ trình gia nhập WTO, Việt Nam phải cắt giảm các hàng rào thuế quan và thực

hiện chính sách bình đẳng đối với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường Việt Nam

Do vậy, việc đứng vững được trên thị trường nội địa là một thách thức lớn đối với các doanh

nghiệp trong nước Đối với lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, dự kiến thời gian tới sẽ có một số

thay đổi cơ bản như:

Chính phủ sẽ mở cửa cho các doanh nghiệp xăng dầu nước ngoài được kinh doanh bán

lẻ xăng dầu tại thị trường Việt Nam Lúc đó các doanh nghiệp trong nước sẽ gặp nhiều khó

khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài để duy trì và ổn định hệ thống

đại lý bán lẻ

Về giá bán lẻ xăng dầu, Chính phủ sẽ bỏ cơ chế qui định giá trần và không bù lỗ cho

các doanh nghiệp nhập khẩu như hiện nay mà để thị trường tự điều chỉnh theo giá xăng dầu

Dự báo mới nhất này của IEA bắt nguồn từ dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 1/2012, trong đó giảm tốc độ tăng trưởng toàn cầu năm 2012 từ 4% xuống 3,3%, đặc biệt trong bối cảnh ảm đạm của các nền kinh tế khu vực đồng ơrô (euro) và sản lượng dầu thô xuất khẩu của các nước thuộc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đạt 30,9 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2012, mức cao nhất kể từ tháng 10/2008 IEA nhấn mạnh dự báo mới nhất này nhằm giúp thị trường dầu mỏ toàn cầu điều chỉnh linh hoạt phù hợp với lệnh trừng phạt của Liên minh châu Âu cấm nhập dầu mỏ của Iran từ tháng 7/2012

Dự báo mới nhất của IEA cho thấy các số liệu về nguồn cung và nhu cầu dầu mỏ không

hỗ trợ giá dầu mỏ thế giới lên tới mức 118 USD/thùng đối với dầu thô Brent Sau khi IAE công bố dự báo mới nhất về nhu cầu dầu mỏ toàn cầu năm 2012, giá dầu thô Brent trên thị trường đã giảm 1,1% xuống mức 117,31 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 3/2012 giảm 1,2% xuống mức 98,67 USD/thùng trên thị trường New York, Mỹ Châu Á vẫn là khu vực dẫn đầu thế giới về tăng nhu cầu dầu mỏ năm 2012 Dự báo mới nhất của IEA giảm nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc nhưng đã tăng nhu cầu dầu mỏ của Nhật Bản trong năm 2012 do Nhật Bản phải sử dụng dầu lửa để thay thế nguồn năng lượng hạt nhân bị thiếu hụt sau thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 Tháng 12/2011, nhu cầu dầu lửa của Nhật Bản đã tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2010 (TTXVN, 2012)

1.2.5.2 Môi trường kinh doanh xăng dầu của nước ta hiện nay

Tổng quan về thị trường xăng dầu của Việt Nam có thể được chia làm 3 giai đoạn (Bùi Ngọc Bảo, 2009)

Giai đoạn 1: trước năm 2000

Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, từ 1 đầu mối nhập khẩu duy nhất tăng 10 đầu mối tính đến năm 1999

Từ năm 1993 để thống nhất giá bán, Nhà nước ban hành quy định một mức giá, doanh nghiệp tự quyết định giá bán lẻ và giá bán buôn trong phạm vi giá do Nhà nước đưa ra Thuế nhập khẩu dùng để giữ mặt bằng giá, phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nước quản lý Từ năm 1994 phát sinh phí xăng dầu, là khoản thu cố định nộp vào ngân sách Nhà nước

Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá chuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc nguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho họ thông qua tỷ giá phù

Trang 7

13 hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế

sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp định

Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng xăng dầu

thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định để Việt Nam có thể tự

cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà

nước từ dầu thô mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% so với tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu

xăng dầu lúc đó

Thời gian này giá dầu thô trên thế giới ở mức trên 10 USD/ thùng, tương đối ổn định

nên với cơ chế giá đưa ra, Nhà nước đạt mục tiêu đề ra là cân đối Cung-cầu được đảm bảo;

người tiêu dùng được hưởng mức giá tương đối ổn định, nếu có tăng giá bán lẻ cũng không

gây khó khăn cho sản xuất tiêu dùng khi chủ động hoạch định được ngân sách cho tiêu thụ

xăng dầu; ngân sách Nhà nước tăng thông qua việc tận thu thuế nhập khẩu, phụ thu, phí xăng

dầu; Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư phát triển, định hình hệ thống cơ sở vật chất, từ cầu

cảng, kho đầu mối, kho trung chuyển, phương tiện vận tải đến mạng lưới bán lẻ

Mặc dù vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã bộc lộ khá rõ

những nhược điểm mà nổi bật là tương quan giá bán giữa các mặt hàng không hợp lý dẫn

đến tiêu dùng lãng phí, nhà đầu tư không có đủ thông tin để tính toán đúng hiệu quả đầu tư

nên chỉ cần thay đổi cơ chế điều hành giá sẽ làm ảnh hưởng rất lớn sử dụng nhiên liệu, nhiều

nhà sản xuất thậm chí đã phải thay đổi công nghệ do thay đổi nhiên liệu đốt (thay thế madut,

dầu hoả bằng than, trấu, gas); gian lận thương mại xuất hiện do định giá thấp đối với mặt

hàng chính sách (dầu hoả); Nhà nước giữ giá ổn định trong một thời gian quá dài thoát ly giá

thế giới tạo sức ỳ và tâm lý phản ứng của người sử dụng về thay đổi giá mà không cần xét

đến nguyên nhân và sự cần thiết phải điều chỉnh tăng giá

Ở cuối của giai đoạn này giá thế giới đã có dấu hiệu biến động mạnh, ở mức cao hơn;

các cân đối cung cầu và ngân sách, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát…đều có nguy cơ

bị phá vỡ khi tình trạng đó kéo dài; trong khi chưa tìm được cơ chế điều hành thích hợp, vì

mục tiêu ổn định để phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước đã sử dụng biện pháp bình ổn giá,

khởi đầu cho giai đoạn bù giá cho người tiêu dùng qua doanh nghiệp nhập khẩu trong gần 10

năm tiếp theo

Giai đoạn 2: từ năm 2000 đến tháng 9/2008, là thời điểm Nhà nước chấm dứt bù giá,

vận hành giá xăng dầu theo thị trường

Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2; giá xăng

dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước nguy cơ không thể cân đối

ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng dầu

Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo Quyết

định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm:

- Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhà nước không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng - Nhà nước và doanh nghiệp

Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong QĐ 187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điều hành và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm

Trong giai đoạn này, mặc dù chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra đời của QĐ

187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn định, lành mạnh hóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ giữa người nhập khẩu và các đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp đầu mối với các đại lý, tổng đại lý cũng như giúp

cơ quan quản lý chức năng, người tiêu dùng cùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các đại lý, tổng đại lý trong việc chấp hành quy định kinh doanh xăng dầu

Đánh giá chung cho giai đoạn này, có thể thấy quyết tâm rất cao để đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu thể hiện qua 2 văn bản pháp quy là QĐ 187 và NĐ 55 song cho đến hiện nay, văn bản đã không đi vào thực tế kinh doanh (trừ hệ thống phân phối được thiết lập nhưng việc kiểm soát tính tuân thủ hầu như chưa thực hiện được) Yếu tố ổn định giá vẫn được đặt lên hàng đầu và chính nó đã làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước lúng lúng khi phải điều hành đạt các mục tiêu dường như mâu thuẫn nhau ở cùng một thời điểm

Việc áp dụng một biện pháp duy nhất (biện pháp bù giá), làm cho giá nội địa thoát ly giá thế giới trong một chu kỳ quá dài với bối cảnh giá xăng dầu thế giới đã nhiều lần hình thành mặt bằng giá mới cao hơn; ngoài yếu tố cung cầu thì yếu tố địa chính trị cũng ảnh hưởng lớn đến biến động giá; biên độ dao động giá quá mạnh sau mỗi ngày… đã làm cân đối ngân sách bị phá vỡ, doanh nghiệp bị kiệt quệ nguồn lực cho phát triển; việc kìm giá và điều chỉnh sốc tác động tiêu cực đến nền kinh tế, chưa kể hiện tượng đầu cơ chờ tăng giá làm méo

mó nhu cầu, chuyển khá nhiều nguồn lực cho đại lý; phần lớn người tiêu dùng không được thông tin đầy đủ về cơ chế điều hành và lợi ích mà Nhà nước đem lại cho nhân dân nên thường xuyên có phản ứng tiêu cực sau mỗi lần điều chỉnh giá (kể cả tăng và giảm), từ đó chưa tạo được sự đồng thuận trong xã hội; thẩm lậu xăng dầu qua biên giới ngày càng phức tạp, khó kiểm soát; Nhà nước thất thu ngân sách kể cả lúc giá thấp hơn và cao hơn nước lân cận do thẩm lậu xăng dầu qua biên giới

Hệ quả rất xấu của cơ chế bù giá xăng dầu kéo dài (mà người tiêu dùng vẫn hiểu là bù

lỗ cho doanh nghiệp đầu mối) là việc khó chấp nhận điều chỉnh tăng giá, kể cả mức rất thấp

Trang 8

15

và phản ứng mạnh trước thông tin doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu không có hiệu quả mà

luôn được Nhà nước bù lỗ

Cũng cần khẳng định rằng, chỉ khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ cho nhập

khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá Đây chính là điểm khác biệt so với

giai đoạn trước, khi mà nguồn ngoại tệ từ dầu thô và các nguồn dự trữ tập trung khác của

Nhà nước đã đủ lớn

Giai đoạn 3: từ năm 2008 đến nay

Giai đoạn từ năm 2008 đến nay, là giai đoạn bộc lộ nhiều nhất những bất cập của cơ

chế điều hành giá và thuế xăng dầu Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng một cơ chế điều

hành trong điều kiện giá xăng dầu thế giới biến động rất nhanh chóng theo hai xu hướng

ngược nhau đã dẫn đến một nghịch lý là: trong thời kỳ giá thế giới đã giảm sâu, Nhà nước

vẫn phải bỏ một số tiền bù giá tương đương, thậm chí cao hơn so với giai đoạn giá thế giới

tăng đỉnh điểm; phân khúc số tiền bù giá cho từng giai đoạn trong năm 2008 có thể thấy rõ

nhận định này (khoảng 12 ngàn tỷ /11 ngàn tỷ)

Có thể thấy rõ, từ khi công bố chấm dứt bù giá đến nay, doanh nghiệp vẫn không có

thực quyền về xác định giá bán như các văn bản quy định, tất cả vẫn phải dưới sự quản lý

của nhà nước; Nhà nước không có biện pháp kiểm soát các doanh nghiệp kết cấu giá bán

xăng để hình thành nguồn trả nợ ngân sách, tạo ra sự mấp mô về giá bán, doanh nghiệp

không bình đẳng trong cạnh tranh; các văn bản mới tiếp tục ra đời song cũng không đi vào

thực tế (barem thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn giá); cơ chế đăng ký giá kéo dài mang nặng tính

xin cho (phê duyệt), các cơ quan truyền thông khai thác và đưa ra thông tin về tăng giảm giá

rất sớm, không những không có tính định hướng dư luận mà tạo ra áp lực nặng nề cho cả

doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nguồn lực từ doanh nghiệp đầu mối chuyển qua đại lý rất

khó kiểm soát sự minh bạch và đúng đắn của các nhu cầu ở trước thời điểm tăng giá

1.2.5.3 Triển vọng phát triển Việt Nam

Theo thống kê từ Bộ Công Thương, sản lượng tiêu thụ xăng dầu trong nước năm 2009

đạt khoảng 15 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2008, mức tiêu thụ xăng dầu năm 2010 là 16.3

triệu tấn, trong đó có khoảng 11.6 triệu tấn xăng dầu là từ nhập khẩu Mức tăng trưởng trung

bình của sản lượng xăng dầu tiêu thụ ở Việt Nam từ 2000 tới nay vào khoảng 6 – 8% và

được dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 8% cho tới năm 2020 Đối với lĩnh vực dầu, Bộ Công

Thương đưa ra chính sách năng lượng quốc gia đến năm 2010, tầm nhìn đến 2050 đã tính

toán theo như cầu dầu 2010 vào khoảng 16.7 – 17.2 triệu tấn/năm, năm 2020 vào khoảng 29

– 31.2 triệu tấn/năm, đến năm 2050 con số này sẽ lên tới 90 – 98 triệu tấn/năm

Trước năm 2009, toàn bộ xăng dầu tiêu thụ của Việt Nam đều phải nhập khẩu Tuy

nhiên, hiện nay nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đáp ứng được khoảng 30% - 35% nhu cầu

tiêu thụ xăng dầu nội địa với công suất thiết kế của nhà máy đạt 6.5 triệu tấn/năm, kế hoạch

sẽ nâng lên 10 triệu tấn/năm

Như vậy, tiềm năng phát triển ngành xăng dầu rất lớn, đây là cơ hội cho các doanh

16 nghiệp kinh doanh xăng dầu, trong đó có Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa gia tăng thị phần, mở rộng địa bàn hoạt động đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xăng dầu

Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xăng dầu được phân tích cụ thể ở chương 2 sẽ dựa trên căn cứ cơ sở lý luận chung về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh được trình bày như sau:

1.3.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài

⃰ Các yếu tố môi trường vĩ mô gồm các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội,

dân số và công nghệ ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng tác động trở lại của doanh nghiệp đến nhóm nhân tố này rất thấp Vì vậy, doanh nghiệp nên chọn môi trường kinh doanh với các yếu tố vĩ mô ổn định đặc biệt là về vấn đề chính trị, luật pháp để hạn chế rủi ro Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần thay đổi linh hoạt chính sách kinh doanh khi các yếu tố vĩ mô này thay đổi Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp đang trực diện với những gì?(Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008)

Các yếu tố về chính trị, luật pháp và chính phủ: tình hình chính trị, sự ổn định của nhà

nước rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, vì đây

là ngành kinh doanh chịu sự quản lý chặt chẽ của chính phủ, do đó các doanh nghiệp luôn cần xem xét kỹ các vấn đề sau:

- Sự ổn định của chính trị, Nhà nước, Đảng

- Hệ thống pháp luật nói chung, các luật có liên quan đến kinh doanh, nhất là kinh doanh xăng dầu như luật bảo vệ môi trường, chính sách thuế, bảo hộ mậu dịch, bảo hộ quyền kinh doanh hợp pháp, bảo hộ bản quyền, chống độc quyền…

- Các chính sách đối ngoại, khuyến khích xuất nhập khẩu, đầu tư, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước

- Quan hệ với đoàn thể, tổ chức chính trị, chính quyền địa phương, trung ương…

Theo Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2008, tr.39) “yếu tố về kinh tế có ảnh

hưởng vô cùng lớn đến các đơn vị kinh doanh Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến các doanh nghiệp là: lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ.”

-Tăng trưởng kinh tế dẫn đến tăng chi tiêu, giảm áp lực cạnh tranh, phát triển thị phần, tăng doanh thu, lợi nhuận Ngược lại, suy giảm kinh tế, giảm chi tiêu, thu hẹp sản xuất, tăng

áp lực cạnh tranh, thu hẹp thị phần, giảm doanh thu, lợi nhuận

Mức lãi suất tác động khá lớn đến nhu cầu vay vốn kinh doanh, chi tiêu của các doanh nghiệp

-Tỷ giá hối đoái xác định giá trị đồng tiền của các quốc gia với nhau, sự thay đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Trang 9

17 -Lạm phát làm giảm tính ổn định của nền kinh tế, nếu lạm phát tăng ảnh hưởng đến lập

kế hoạch đầu tư vì trong môi trường lạm phát khó có thể dự đoán chính xác giá trị thực của

một dự án, từ đó các doanh nghiệp không dám mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh, người

tiêu dùng cũng hạn chế chi tiêu, từ đó nền kinh tế sẽ bị trì trệ

Các yếu tố về văn hóa xã hội, tự nhiên, dân số:

- Các biến đổi về văn hóa xã hội có thể gây ra khó khăn hay tạo ra thuận lợi cho doanh

nghiệp, các yếu tố này diễn ra chậm chạp và khó nhận biết chẳng hạn như chất lượng cuộc

sống của người dân, chuẩn mực đạo đức, phong cách sống, tính đa dạng của lực lượng lao

động, trình độ văn hóa, nghề nghiệp của người lao động, truyền thống văn hóa xã hội

- Tài liệu của Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2007, tr 51) nêu rõ “các yếu

tố tự nhiên ảnh hưởng rất nhiều đến quản trị chiến lược, các hoạt động sản xuất, khai thác tài

nguyên của con người đã làm thay đổi nhiều hoàn cảnh tự nhiên, nó làm cho điều kiện tự

nhiên ngày càng tốt hơn nhưng làm môi trường ngày càng xấu đi rất nhiều, đặc biệt ngành

kinh doanh xăng dầu thì lại phải chú trọng đến vấn đề môi trường tự nhiên Do đó đòi hỏi

doanh nghiệp không thể làm ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường, không làm mất cân bằng sinh

thái, không lãng phí tài nguyên thiên nhiên”

- Các yếu tố về dân số mà các nhà quản trị quan tâm khi nghiên cứu vấn đề xã hội như:

quy mô dân số và tỉ lệ tăng dân số hàng năm, cơ cấu dân số theo giới tính, độ tuổi, quy mô

gia đình, thu nhập bình quân người hay hộ gia đình, vấn đề trình độ dân trí Điều này làm

ảnh hưởng đến lực lượng lao động, tăng thị trường và nhiều kênh tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ,

tác động đến chiến lược của doanh nghiệp

Yếu tố công nghệ: Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào lại không phụ thuộc

vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại Sẽ còn nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo

ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp và doanh nghiệp nhất

định Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ hàng đầu nói chung đang lao

vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và xác

định các công nghệ hiện đại có thể khai thác trên thị trường (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm

Văn Nam , 2008)

⃰ Các yếu tố môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố

ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản

xuất kinh doanh đó Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2008) cho rằng có 5 yếu tố cơ

bản là: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay

thế Để đạt được thành công trong kinh doanh cần phân tích từng yếu tố chủ yếu đó, sự hiểu

biết các yếu tố này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh mặt yếu của mình liên quan đến

các cơ hội và nguy cơ mà ngành gặp phải

18

Nguồn: Wheelen, T L., và Hunger, J D (2008, tr.11)

Hình 1.1: Mô hình áp lực cạnh tranh của các yếu tố vi mô

Đối thủ cạnh tranh: là những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng cùng loại với

công ty, đối thủ cạnh tranh sẽ sẻ thị phần với công ty, đồng thời sẽ vượt qua chúng ta nếu doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh cao hơn, tính chất cạnh tranh trong ngành tăng hay giảm phụ thuộc vào thị trường, tốc độ tăng trưởng và mức độ đầu tư của đối thủ cạnh tranh

Khách hàng là một phần của công ty, sự trung thành của khách hàng là một lợi thế lớn

của công ty, sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thõa mãn nhu cầu của khách hàng và mong muốn sự phục vụ ngày càng tốt hơn Áp lực từ khách hàng chủ yếu có hai dạng là đòi hỏi giảm giá hoặc mặc cả để có chất lượng phục vụ tốt hơn Chính điều này làm cho các đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, tất cả những điều đó làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành (Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, 2007) Áp lực từ phía khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau: Khi số lượng khách hàng là nhỏ, khi khách hàng có một sản lượng lớn và tập trung, khi khách hàng chiếm một tỷ trọng lớn trong sản lượng của nhà cung cấp, các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản,

CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN

CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH

Sự cạnh tranh giữa các dnghiệp hiện hữu

Rivalry among existing firms

KHÁCH HÀNG

CÁC SẢN PHẨM THAY THẾ

CÁC NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN

NHÀ CUNG CẤP

Mối quan hệ với các tổ chức nghề nghiệp, các ban ngành chức năng…

Lựa chọn của người tiêu dùng, tập quán tiêu dùng

Sự cạnh tranh của các đối thủ mới gia nhập ngành

Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp

Trang 10

19 khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau, sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất

lượng sản phẩm của khách hàng., khách hàng có đầy đủ thông tin

Nhà cung cấp: “doanh nghiệp phải luôn luôn liên kết với nhà cung cấp để được cung

cấp những nguồn lực khác nhau như nguyên vật liệu, thiết bị, nhân công, vốn…Các nhà cung

cấp có thể gây áp lực trong hoạt động của doanh nghiệp, nên việc nghiên cứu để biết về nhà

cung cấp các nguồn lực cho doanh nghiệp là không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu

môi trường Nhà cung cấp có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá

hoặc giảm chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng Do đó, họ có thể chèn ép lợi nhuận của

một ngành khi ngành đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng lên trong giá thành sản

xuất” có nêu rõ bởi Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan (2007, tr.70-72)

Đối thủ tiềm ẩn: là những đối thủ cạnh tranh có thể tham gia thị trường trong tương lai

và hình thành những đối thủ cạnh tranh mới, từ đó thị phần sẽ càng bị chia nhỏ hơn, lợi

nhuận của doanh nghiệp giảm xuống, sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới sẽ ảnh hưởng

đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy phải luôn đề phòng và nghiên cứu phân

tích các đối thủ tiềm ẩn để đánh giá những nguy cơ mà họ tạo ra cho doanh nghiệp

Sản phẩm thay thế: là những sản phẩm khác về tên gọi, thành phần nhưng cùng mục

đích sử dụng như sản phẩm hiện có của doanh nghiệp Sự xuất hiện của những sản phẩm

thay thế này có thể dẫn đến nguy cơ làm giảm giá bán và sụt giảm lợi nhuận của doanh

nghiệp Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách

đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các công ty trong ngành có thể kinh doanh có lãi Do

các loại hàng có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường Khi giá

sản phẩm chính tăng thì sẽ khuyến khích xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế và ngược lại

Xác định sản phẩm thay thế chính là việc tìm kiếm các sản phẩm có cùng công năng như sản

phẩm của ngành nêu rõ bởi Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan (2007)

Do đó doanh nghiệp phải dự báo và phân tích khuynh hướng phát triển các sản phẩm thay

thế, nhận diện hết nguy cơ mà sản phẩm thay thế tạo ra cho doanh nghiệp

1.3.2 Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong của tổ chức

Tất cả các tổ chức đều có điểm mạnh và yếu trong các lĩnh vực kinh doanh Những

điểm mạnh và yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ bên ngoài là những điểm cơ

bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược Các mục tiêu và chiến lược được

xây dựng nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong- những

yếu tố mà nhà quản trị có thể kiểm soát được

Trong một doanh nghiệp bao gồm các yếu tố và hệ thống bên trong của nó, phải cố

gắng phân tích một cách kỹ lưỡng các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ các ưu điểm và

nhược điểm của mình Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giảm bớt nhược điểm và phát huy

ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008)

Việc phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp, các mặt mạnh của doanh nghiệp

có thể là các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế mà doanh nghiệp có được hơn hẳn các đối

20 thủ cạnh tranh như có công nghệ hiện đại, thương hiệu uy tín, nguồn vốn mạnh, có hình ảnh tốt đối với khách hàng hay nắm thị phần lớn trong các thị trường truyền thống Những mặt yếu của doanh nghiệp thể hiện ở những thiếu sót hoặc nhược điểm về nguồn nhân lực hay các yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, mạng lưới phân phối kém hiệu quả, quan hệ lao động không tốt, sản phẩm dịch vụ lạc hậu, thiếu chuyên nghiệp so với đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả để tạo ra năng lực đặc biệt, với năng lực đặc biệt này doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm dịch vụ của mình hay tính khác biệt của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

Môi trường bên trong bao gồm các nguồn lực về con người, tài chính, công nghệ, sản phẩm, giá, kênh phân phối, xúc tiến quảng cáo…của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực: Hoạt động nhân sự tập trung vào việc quản lý con người hay nguồn

nhân lực, bao gồm: quản lý tiền lương, thưởng, phúc lợi, tuyển dụng, đào tạo và tái đào tạo,

bố trí, sa thải nhân công, quản lý các quan hệ lao động, khuyến khích tạo điều kiện làm việc công bằng, phát triển chuyên môn, nghiên cứu con người, công tác quần chúng, chính sách quy chế về kỷ luật lao động, đình công, bãi công,…

Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan (2007) cho rằng hoạt động nhân

sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược và trong điều kiện hiện nay, khi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vấn đề con người càng trở nên quan trọng, có thể nói

là vai trò quyết định trong quá trình quản trị chiến lược Con người là tài sản giá trị nhất của công ty và là dạng rất linh hoạt của vốn Hơn nữa trong một môi trường thay đổi rất nhanh

và không thể dự đoán cần phải phát triển lực lượng lao động để họ có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những thay đổi của môi trường

Tài chính kế toán: Để hoạch định các chiến lược hiệu quả cần xác định những điểm

mạnh, yếu trong lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp Khả năng thanh toán, cán cân nợ, vốn luân chuyển, lợi nhuận, sử dụng vốn, lượng tiền mặt…của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược Theo James Van Home, các chức năng của tài chính/kế toán bao gồm 3 quyết định: quyết định đầu tư, quyết định tài chính và quyết định về cổ tức

Điểm khởi dầu của đánh giá vị trí tài chính của công ty là tính toán và phân tích năm tiêu thức cơ bản của hệ thống tài chính: luân chuyển, đòn bẩy, hoạt động, năng lực lợi nhuận

và tăng trưởng (Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, 2007)

- Các chỉ số luân chuyển đưa ra những đo lường về năng lực của công ty trong việc đáp ứng với những nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của nó

- Các chỉ số đòn bẩy đưa ra biểu thị về rủi ro tài chính của công ty cho thấy phạm vi được tài trợ bằng các khoản nợ của công ty

- Chỉ số hoạt động phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của công ty

Trang 11

21

- Chỉ số năng lực lợi nhuận đưa ra những thông tin biểu thị hiệu quả chung về quản lý,

cho thấy lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ và do đầu tư

- Các chỉ số tăng trưởng cho thấy khả năng duy trì vị trí kinh tế của công ty trong mức

tăng trưởng của nền kinh tế và của ngành

Nghiên cứu và phát triển:

Để nghiên cứu môi trường bên trong của một doanh nghiệp thì yếu tố chính thứ 5 cần

phải xem xét là hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu

của hoạt động này người ta thường dựa vào chi phí dành cho chúng Có 4 phương pháp

thường được sử dụng để xác định chi phí nghiên cứu và phát triển:

- Đầu tư cho càng nhiều dự án càng tốt

- Sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh số bán hàng

- So sánh với chi phí nghiên cứu và phát triển của đối thủ cạnh tranh

- Xác định xem sản phẩm mới thành công như thế nào và sau đó tính ngược trở lại để

xác định nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển

Trong các doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu và phát triển có thể thực hiện dưới các

hình thức:

Nghiên cứu và phát triển bên trong – Doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động nghiên cứu

và phát triển

Nghiên cứu và phát triển theo hợp đồng – Doanh nghiệp thuê các nhà nghiên cứu hoặc

các tổ chức độc lập đề nghiên cứu phát triển những sản phẩm riêng biệt

Marketing

Marketing có thể được mô tả như một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn

các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ Đánh giá nhu

cầu, mong muốn của người tiêu thụ - liên quan đến hoạt động điều tra về người tiêu thụ,

phân tích các thông tin về khách hàng, đánh giá các chiến lược định vị thị trường, phát triển

các bảng mô tả về người tiêu dùng đưa ra các giải pháp phân khúc thị trường

Những hoạt động quảng cáo, kích thích bán hàng, quảng cáo đại chúng, bán hàng cho

cá nhân người tiêu thụ, quản lý lực lượng bán hàng, quan hệ với khách hàng và các nhà phân

phối có tầm quan trọng đặc biệt khi doanh nghiệp đang theo đuổi chiến lược thâm nhập thị

trường

Hoạt động phân phối bao gồm: dự trữ, các kênh phân phối, mức độ phân phối, định vị

các nơi bán lẻ, phạm vi bán hàng, xác định vị trí và mức tồn kho, phương tiện vận chuyển,

bán sỉ, bán lẻ

Hoạt động phân phối trở nên đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp đang nổ lực thực

hiện việc phát triển thị trường hay chiến lược kết hợp về phía trước

Chức năng cuối cùng của hoạt động marketing, theo Evans và Berman, đó là việc quyết

định cách tốt nhất để đáp ứng các nghĩa vụ đối với xã hội của doanh nghiệp Trách nhiệm xã

hội có thể bao gồm: Việc đưa ra các sản phẩm và dịch vụ an toàn với giá cả phải chăng

22 Trong xã hội hiện đại, vấn đề trách nhiệm xã hội đang được quan tâm ngày một nhiều hơn,

vì thế, một chính sách xã hội rõ ràng được coi là một điểm mạnh quan trọng đối với các doanh nghiệp, ngược lại, một chính sách xã hội yếu kém bị coi là một điểm yếu

1.4 Các công cụ xây dựng giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Xăng dầu Tín Nghĩa

Các công cụ xây dựng chiến lược bằng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, ma trận đánh giá đối thủ cạnh tranh, ma trận đánh giá các yếu tố bên trong nhằm đưa ra những giải pháp cho lĩnh vực kinh doanh xăng dầu dựa trên căn cứ cơ sở lý luận chung về các công cụ xây dựng chiến lược được trình bày như sau:

1.4.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE- External Factor Evaluation)

Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài giúp ta tóm tắt và lượng hóa những ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới doanh nghiệp Việc phát triển một ma trận gồm 5 bước (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam , 2008)

+ Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã nhận diện trong quá trình đánh giá môi trường vĩ mô Danh mục bao gồm những cơ hội, đe dọa ảnh hưởng tới lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

+ Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0.0 (không quan trọng) đến 1.0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Sự phân loại cho thấy tầm quan trọng tương ứng của yếu tố đó đối với sự thành công trong ngành kinh doanh của doanh nghiêp Mức phân loại thích hợp có thể được xác định bằng cách so sánh những doanh nghiệp thành công với những doanh nghiệp không thành công trong ngành hoặc thảo luận và đạt được sự nhất trí của nhóm xây dựng chiến lược Tổng số các mức phân loại phải bằng 1.0

+ Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của doanh nghiệp phản ứng với yếu tố này Trong đó 4

là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là trung bình và 1 là yếu Các mức này dựa trên hiệu quả chiến lược của doanh nghiệp

+ Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với phân loại của nó (bằng bước 2 nhân với bước 3) để xác định số điểm về tầm quan trọng

+ Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức

Bất kể số lượng cơ hội và đe dọa trong ma trận, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một doanh nghiệp có thể có là 4,0, thấp nhất là 1,0 và trung bình là 2,5

Tổng số điểm quan trọng là 4,0 cho thấy chiến lược của doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội bên ngoài và tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực của môi trường bên ngoài đến doanh nghiệp

Trang 12

23 Bảng 1.1: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố quan trọng bên ngoài Mức độ quan trọng Phân loại Số điểm quan trọng

Liệt kê các cơ hội nguy cơ chủ yếu

bên ngoài có ảnh hưởng đến DN

1.4.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Thiết lập ma trận này nhẳm đưa ra những đánh giá so sánh công ty với các đối thủ cạnh

tranh chủ yếu trong cùng ngành, sự so sánh dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng

cạnh tranh của công ty trong ngành, từ đó nhận được những điểm mạnh và những điểm yếu

của công ty với đối thủ cạnh tranh, xác định lợi thế cạnh tranh cho công ty và những điểm

yếu cần được khắc phục Để xây dựng một ma trận hình ảnh cạnh tranh cần thực hiện 5 bước

sau (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008):

Bước 1: Lập một danh sách gồm một số yếu tố chính có ảnh hưởng quan trọng đến khả

năng cạnh tranh của công ty trong ngành

Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng)

cho từng yếu tố Tầm quan trọng của mỗi yếu tố tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu tố

đến khả năng cạnh tranh của công ty trong ngành Tổng điểm số tầm quan trọng của tất cả

các yếu tố phải bằng 1,0

Bước 3: Xác định trọng số từ 1 đến 4 cho từng yếu tố, trọng số của mỗi yếu tố phụ

thuộc vào khả năng của công ty với yếu tố, trong đó 4 là tốt, 3 là trên trung bình, 2 là trung

bình, 1 là yếu

Bước 4: Nhân tầm quan trọng của từng yếu tố với trọng số của nó để xác định điểm số

của các yếu tố

Bước 5: Cộng số điểm của tất cả các yếu tố để xác định tổng số điểm của ma trận

Đánh giá: So sánh tổng số điểm của công ty với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong

ngành để đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty

1.4.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE- Interal Factor Evaluation

Matrix)

Đây là ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ nhằm tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh

và mặt yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, ma trận IFE được phát triển

theo 5 bước (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008):

+ Bước 1: Lập danh mục các yếu tố thành công then chốt như đã xác định trong quá

trình đánh giá nội bộ

+ Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng)

cho mỗi yếu tố Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng tương đối của mỗi yếu tố đó đối

với sự thành công của doanh nghiệp trong ngành Tổng số mức độ quan trọng này phải bằng

1,0

24 + Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố, trong đó: 1 đại diện cho điểm yếu lớn nhất, 2 là điểm yếu nhỏ nhất, 3 là điểm mạnh nhỏ nhất, 4 là số điểm mạnh lớn nhất Như vậy,

sự phân loại dựa trên cơ sở doanh nghiệp

+ Bước 4: Nhân mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với phân loại của nó (bằng bước 2 nhân với bước 3) đề xác định số điểm về tầm quan trọng

+ Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi yếu tố để xác định tổng số điểm về tầm quan trọng (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008)

Bất kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một doanh nghiệp có thể có là 4,0 và thấp nhất là 1,0 và trung bình là 2,5 cho thấy Công ty hoạt động yếu

Bảng 1.2: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong

Các yếu tố quan trọng bên trong Mức độ quan trọng Phân loại Số điểm quan trọng Liệt kê các điểm mạnh, điểm yếu

trong nội bộ của doanh nghiệp kinh

1.4.4 Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ ( SWOT)

Ma trận SWOT là một công cụ kết hợp quan trọng giúp các nhà quản trị hình thành bốn nhóm chiến lược sau: chiến lược điểm mạnh – cơ hội (SO), chiến lược điểm yếu - cơ hội (WO), chiến lược điểm mạnh – nguy cơ (ST), chiến lược điểm yếu - nguy cơ (WT), (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008):

- Các chiến lược SO: phát huy những điểm mạnh bên trong để đón nhận những cơ hội bên ngoài

- Các chiến lược WO: nhằm khắc phục những điểm yếu bên trong để nắm bắt những

cơ hội bên ngoài

- Các chiến lược ST: sử dụng các điểm mạnh của doanh nghiệp để né tránh hay giảm thiểu những thiệt hại do ảnh hưởng của các mối đe dọa từ bên ngoài

- Các chiến lược WT: là những chiến lược phòng thủ, khắc phục những điểm yếu bên trong để né tránh những mối đe dọa của môi trường bên ngoài

Theo Fred R David (2006), để lập một ma trận SWOT phải trải qua 8 bước:

- Liệt kê các cơ hội chủ yếu từ môi trường bên ngoài của doanh nghiệp (O1, O2,…)

- Liệt kê các mối đe dọa chủ yếu từ môi trường bên ngoài của doanh nghiệp (T1, T2,…)

- Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu của doanh nghiệp (S1, S2,…)

- Liệt kê những điểm yếu chủ yếu của doanh nghiệp (W1, W2,…)

- Kết hợp những điểm mạnh bên trong với các cơ hội bên ngoài, hình thành các chiến lược SO

- Kết hợp những điểm yếu bên trong với các cơ hội bên ngoài, hình thành các chiến lược WO

Trang 13

Các chiến lược ST

Sử dụng những điểm mạnh để né tránh nguy cơ

Các điểm yếu chủ yếu

Các chiến lược WT

Khắc phục điểm yếu để vượt qua/ né tránh nguy cơ

Tóm tắt chương 1

Trong chương 1 học viên nêu ra một số những khái niệm liên quan đến vấn đề cần

nghiên cứu về mở rộng thị trường Đồng thời, để đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh

của công ty xăng dầu, cần nghiên cứu phân tích các vấn đề phải đối mặt gồm các yếu tố bên

trong và các yếu tố bên ngoài, trên cơ sở đó xây dựng các ma trận liên quan, ma trận hình

ảnh cạnh tranh, ma trận SWOT…để hỗ trợ trong việc xây dựng và lựa chọn các giải pháp mở

rộng thị trường cho công ty xăng dầu Tín Nghĩa

Căn cứ vào cơ sở lý luận ở trên, tác giả phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của

công ty ở chương 2

26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CP

XĂNG DẦU TÍN NGHĨA TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu khái quát về công ty

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty Cổ phần Xăng dầu Tín Nghĩa chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần từ ngày 01/01/2009, trên cơ sở chuyển đổi từ Công ty TNHH một thành viên Xăng dầu Tín Nghĩa Tiền thân của Công ty là Trung Tâm Thương mại Dịch vụ Du lịch và Khách sạn (thành lập năm 1999) - đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Tín Nghĩa

Với 2 trạm xăng dầu từ ngày đầu thành lập (năm 1999) có sản lượng bán ra chỉ gần 20 triệu lít xăng dầu/năm, đến nay, Công ty đã có mạng lưới phân phối gồm 34 trạm xăng dầu trực thuộc trên khắp địa bàn tỉnh Đồng Nai, sản lượng bán ra trên 146 triệu lít/năm, doanh thu trên 2.700 tỷ đồng/năm Ngoài hệ thống bán lẻ, Công ty còn bán cho các khách hàng đại

lý và các khách hàng công nghiệp trong và ngoài tỉnh Đồng Nai

Qua hơn 10 năm hoạt động, Công ty đã từng bước xây dựng uy tín thương hiệu Xăng dầu Tín Nghĩa với phương châm bán hàng “Đúng chất lượng, đủ số lượng, văn minh, lịch sự” Đến nay uy tín thương hiệu Xăng dầu Tín Nghĩa đã được khẳng định, thu hút lượng khách hàng ngày càng tăng Hoạt động kinh doanh xăng dầu của Công ty ngày càng phát triển, hiện nay Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Bên cạnh lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng và dịch vụ du lịch Về kinh doanh vật liệu xây dựng, đây là lĩnh vực mới của Công ty, thị phần Công ty trong lĩnh vực kinh doanh này chưa đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh khác Về lĩnh vực dịch vụ và du lịch của Công ty có quy mô rất nhỏ Hai hoạt động này, về doanh thu, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (1%-2%) trên tổng doanh thu của Công ty

 Công ty đã triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và được đơn vị chứng nhận có uy tín là Quacert cấp giấy chứng nhận cho Công ty

từ năm 2003 liên tục cho đến nay

 Áp dụng hệ thống phần mềm eOffice - Văn phòng điện tử - trong công tác trao đổi thông tin quản lý hành chính trên mạng máy tính trong toàn Công ty

 Danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc nhiều năm liền do UBND Tỉnh Đồng Nai tặng

thưởng

 Cúp vàng ISO 2006 do Bộ khoa học và công nghệ bình chọn

 Cúp vàng văn hóa doanh nhân Việt Nam năm 2007

 Đạt giải thưởng Quả cầu vàng 2007 của Hội chợ Triển Lãm Thương mại Việt Nam – WTO 2008

 Được tôn vinh là doanh nghiệp và doanh nhân tiêu biểu trong chương trình trao giải “ Trí tuệ Thăng Long Hà Nội”

Trang 14

27

 Trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2010 và 2011 – VNR 500 do

Báo điện tử VietNamNet và VietNam Report xếp hạng

 Giải vàng chất lượng Đồng Nai và Giải bạc chất lượng quốc gia năm 2011

2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty

Bộ máy quản lý của Công ty bao gồm các cơ quan chính sau:

Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty theo Luật

Doanh nghiệp và Điều lệ của Công ty Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) có những trách

nhiệm chính: thảo luận và phê chuẩn những chính sách dài hạn và ngắn hạn về hướng phát

triển của Công ty, quyết định về cơ cấu vốn, bộ máy quản lý và điều hành các hoạt động kinh

doanh của Công ty

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty

quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề

thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ mà không được ủy quyền HĐQT có nhiệm vụ quyết định

chiến lược phát triển Công ty, xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ cấu

tổ chức, quy chế quản lý Công ty đồng thời đưa ra các biện pháp, các quyết định nhằm đạt

được các mục tiêu do ĐHĐCĐ đề ra

Nguồn: phòng Hành chính tổ chức-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

PGĐ H.CHÍNH

N.SỰ

PGĐ ĐẦU TƯ PHAT TRIỂN PGĐ TÀI

CHÍNH

PHÒNG KẾ TOÁN TÀI VỤ PHÒNG

H.CHÍNH

N.SỰ

PHÒNG KD XĂNG DẦU, GÁS-NHỚT

PHÒNG ĐẦU

TƯ PHÁT TRIỂN

PGĐ KINH DOANH

PHÒNG KỸ THUẬT

TRẠM XĂNG DẦU

TRẠM XĂNG DẦU

TRẠM XĂNG DẦU

CỬA HÀNG VLXD …

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

BAN KIỂM SOÁT

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

GIÁM ĐỐC

28

Các phòng ban chức năng

Phòng Hành chính Nhân sự: có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về công tác:

 Tổ chức bộ máy, nhân sự phù hợp với từng thời kỳ;

 Thanh toán lương, thưởng và các chế độ, chính sách cho người lao động;

 Công tác phát triển nguồn nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;

 Công tác văn thư, lưu trữ, lễ tân; bảo vệ tài sản, an ninh trật tự;

 Kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện nội quy lao động, các quy định của Công ty, vệ sinh an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của Công ty;

Phòng Kế toán Tài vụ: Tham mưu cho Giám đốc Công ty về công tác tài chính kế

toán, quản lý sử dụng vốn; báo cáo hiệu quả của hoạt động tài chính và chế độ kế toán, bao

gồm:

 Hoạch định chiến lược quản trị tài chính và hoạt động kế toán Công ty;

 Thực hiện các nghiệp vụ tài chính, các nghiệp vụ kế toán theo quy định của Nhà nước

và điều lệ hoạt động của Công ty cổ phần;

 Đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của Công ty;

 Phân tích, đánh giá hiệu quả của hoạt động tài chính;

 Hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát công tác kế toán cho đơn vị cơ sở trực thuộc thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê và các chuẩn mực kế toán do Nhà nước ban hành;

 Theo dõi và kiểm soát toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công

ty

Phòng Kinh doanh xăng dầu – Vật liệu xây dựng: Tham mưu cho Ban Giám đốc

Công ty công tác tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh xăng dầu, vật liệu xây dựng và

các mặt hàng khác trong toàn Công ty

 Chỉ đạo và hỗ trợ các đơn vị trực thuộc về công tác kinh doanh;

 Cung ứng xăng dầu cho các đại lý và các trạm xăng dầu trực thuộc;

 Tìm kiếm mở rộng thị trường, tiếp thị mở rộng mạng lưới bán buôn

Phòng Kinh doanh gas: Tham mưu cho Ban giám đốc trong việc tổ chức hoạt động

kinh doanh gas đốt, nhớt các loại trong toàn Công ty

 Chỉ đạo và hỗ trợ các đơn vị trực thuộc về công tác kinh doanh;

 Nghiên cứu, đề xuất các hình thức quảng cáo, khuyến mãi nhằm đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh;

 Cung ứng gas cho các đơn vị trực thuộc và khách hàng bên ngoài của Công ty;

 Tìm kiếm mở rộng thị trường, tiếp thị tìm thêm khách hàng;

Phòng Kỹ thuật: Tham mưu cho Ban giám đốc về mặt chuyên môn kỹ thuật để đầu tư

mới và sửa chữa, nâng cấp thiết bị trụ bơm tại các trạm xăng dầu

Trang 15

29

 Thực hiện bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế thiết bị trụ bơm nhằm đảm bảo hoạt

động kinh doanh của các Trạm xăng dầu liên tục và ổn định;

 Đề xuất phương án kinh doanh các vật tư thiết bị xăng dầu và dịch vụ sửa chữa;

 Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào quản lý bồn bể, trụ bơm

Phòng Đầu tư Phát triển: Tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc hoạch định và xây

dựng chiến lược phát triển Công ty

 Nghiên cứu, xây dựng và lập các dự án mở rộng quy mô, phát triển chiều sâu và đầu

tư mới theo chiến lược chung, phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn và tình hình thực tế;

 Phát triển mạng lưới cửa hàng bán lẻ xăng dầu, Cửa hàng VLXD, Kho VLXD và cơ

sở hạ tầng phục vụ cho việc kinh doanh khác;

 Quản lý các công trình xây dựng của Công ty;

 Tham mưu cho Giám đốc Công ty về thiết kế công trình, tổ chức đấu thầu, chọn thầu

hoặc chỉ định thi công các công trình của Công ty;

 Đề xuất cho Ban giám đốc hướng giải quyết về các vấn đề liên quan đến việc triển

khai dự án

2.1.3 Cơ cấu lao động :

Tổng số lao động có đến ngày 30/06/2012 là 319 người Cụ thể như sau:

Trong đó :

- Hợp đồng lao động không thời hạn: 55 người

- Hợp đồng lao động có thời hạn: 261 người

- Hợp đồng lao động thời vụ: 03 người

2.1.4 Các sản phẩm kinh doanh hiện tại của công ty

Xăng dầu

Tên gọi của sản phẩm, dịch vụ: Xăng RON 95, RON 92, RON 83, dầu Diessel

0,25%S và 0,05%S, dầu lửa, dầu mazut với thông số các mặt hàng chủ yếu như sau :

- Xăng không chì RON 95, RON 92 (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6776:2005);

- Dầu Diesel (DO) (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5689:2005);

- Dầu hỏa (KO) (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6420 : 2002);

- Dầu FO (nhiên liệu đốt lò) (theo TCVN 6239:2002 - Loại: FO N02B 3,0% S)

Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Các sản phẩm xăng dầu Công ty đang kinh

doanh hiện nay đều do các Doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu từ nước ngoài Chất lượng từng

loại mặt hàng đều đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn quy định của Việt Nam Vì vậy, nguồn

hàng luôn ổn định về cả chất lượng và số lượng;

Công ty hiện có 12 xe tải bồn hiệu Hino sản xuất năm 2008 và 2009, bồn được đo

lường theo đúng tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu vận chuyển xăng dầu cho các trạm xăng dầu

nội bộ cũng như phục vụ khách hàng công nghiệp, Đại lý bên ngoài Đội ngũ tài xế, phụ xế

có tay nghề và được đào tạo huấn luyện đủ các nghiệp vụ chuyên môn theo quy định trong

30 công tác kinh doanh xăng dầu Trong thời gian tới, Công ty sẽ tiếp tục đầu tư phát triển thêm

số lượng xe bồn để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển

Dầu mỡ nhờn

Dầu mỡ nhờn là sản phẩm không thể thiếu để khởi nguồn cho mọi động cơ Nhằm phục

vụ tốt cho nhu cầu đa dạng của khách hàng, hiện nay, tại các Trạm Xăng dầu của Công ty Cổ phần Xăng dầu Tín Nghĩa đang kinh doanh các sản phẩm dầu nhờn bao gồm 03 nhóm chính

- Dầu nhờn động cơ: Dùng cho xe gắn máy, xe vận tải công cộng Các loại động cơ

trên một số thiết bị, máy móc Cụ thể là Castrol Activ, Castrol CRB, Mobil Delvac Super…

- Dầu nhờn công nghiệp: Dùng trong công nghiệp, theo mục đích sử dụng gồm có:

Dầu nhờn truyền động, dầu thủy lực, dầu biến thế Niko ISO 32, Niko ISO 46, Total Azolla

Vật liệu Xây dựng

Công ty hiện có 02 Của hàng VLXD tại TP.Biên Hòa và thị xã Long Khánh với các mặt hàng chủ yếu như: Xi măng, cát, đá, đất, sắt thép xây dựng, thép tấm, thép hình, thép hộp, tole mạ màu, ống nước, gạch men các loại… sẵn sàng cung cấp cho các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp

Du thuyền

Công ty đang khai thác 01 thuyền rồng (sức chở 70 người) và 01 ca nô phục vụ tham

quan theo các tour du lịch trên sông

2.1.5 Vị thế cạnh tranh 2.1.5.1 Vị thế của Công ty trong ngành

Mạng lưới bán lẻ của Công ty đặt tại đa số các huyện, thị trên điạ bàn tỉnh Đồng Nai, là một tỉnh trong khu kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu), được Chính phủ phê duyệt trở thành vùng kinh tế phát triển nhanh, có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các vùng khác trong cả nước Tính đến năm 2010, có khoảng 30 khu công nghiệp đóng tại Đồng Nai

Đồng Nai tiếp giáp với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều kho cảng tiếp nhận và đầu mối cung ứng xăng dầu của các doanh nghiệp lớn như Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petro VietNam), Công ty Thương mại kỹ thuật và đầu tư (Petec), Công ty Dầu khí Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Petro) Do vậy thị trường xăng dầu ở Đồng Nai có sự cạnh tranh rất quyết liệt của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt thị trường bán lẻ xăng dầu luôn sôi động với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân do đòi hỏi vốn

Trang 16

31 đầu tư không quá lớn, qui mô xây dựng nhỏ và yêu cầu kỹ thuật không phức tạp

Tuy nhiên, Công ty Cổ phần Xăng dầu Tín Nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

lớn và có uy tín ở tỉnh Đồng Nai Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, Công ty từng

bước xây dựng uy tín với phương châm bán hàng “Đúng chất lượng, đủ số lượng, văn minh,

lịch sự”, vì vậy đến nay uy tín thương hiệu Xăng dầu Tín Nghĩa đã được khẳng định trên thị

trường Đồng Nai và khu vực Đông Nam bộ, thu hút lượng khách hàng ngày càng tăng Công

ty hiện là một trong số 03 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu lớn, dẫn đầu toàn Tỉnh về sản

lượng xăng dầu bán lẻ ra thị trường Công ty có những lợi thế so với các doanh nghiệp cùng

ngành như:

- Hệ thống thiết bị bơm tại trạm xăng: có hệ thống máy móc trụ bơm điện tử hiện đại,

chính xác, đảm bảo đúng số lượng xăng dầu được bơm rót

- Năng lực vận chuyển: có đội xe bồn vận chuyển nhiên liệu đủ năng lực đáp ứng kịp

thời việc giao hàng cho khách hàng và được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng và

số lượng hàng hóa cung cấp

- Mạng lưới phân phối:

Hiện Công ty có 34 trạm bán lẻ xăng dầu trực thuộc, trên 20 đại lý và khách hàng công

nghiệp phát triển rộng khắp địa bàn tỉnh Đồng Nai và nằm trên các trục đường giao thông

chính Công ty có các trạm xăng dầu nằm ở vị trí chiến lược như: TXD Nhơn Trạch, TXD

Long Khánh, TXD Ngã Ba Vũng Tàu, TXD Long Bình Tân, TXD Cầu Mới, TXD Tân Tiến,

TXD Tân Phong, TXD ICD…

Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, theo quy định về quy hoạch điểm kinh doanh

xăng dầu, việc đầu tư xây dựng trạm xăng dầu là một vấn đề khá khó khăn cho các doanh

nghiệp muốn mở rộng thêm hệ thống phân phối do đã có nhiều trạm xăng dầu Trong thời

gian tới, mục tiêu mỗi năm Công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa sẽ tích cực tìm kiếm vị trí thuận

lợi, đầu tư mới hoặc mua lại từ 2-4 trạm xăng dầu để mở rộng thị phần ra các tỉnh lân cận

Xét trong tỉnh Đồng Nai, Công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa là một doanh nghiệp có

mạng lưới phân phối lớn với 34 trạm xăng hiện hữu và là một trong số 03 doanh nghiệp kinh

doanh xăng dầu lớn, dẫn đầu toàn Tỉnh về sản lượng xăng dầu bán lẻ ra thị trường Theo số

liệu thu thập được của Công ty, thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần của Công ty trên địa

bàn Tỉnh Đồng Nai tăng trưởng khá ổn định trong thời gian qua Cụ thể năm 2009 thị phần

của Tín Nghĩa chiếm khoảng 12% tại tỉnh Đồng Nai và tăng 3% so với năm ngoái Năm

2010 và 2011, thị phần tăng lên khoảng 13% Mặc dù, việc mở rộng các trạm xăng dầu tại

các khu vực trung tâm Tỉnh gần như khó thực hiện do số lượng trạm xăng hiện hữu nhiều và

khoảng cách giữa các trạm xăng này khá gần nhau Tuy nhiên, đa số các trạm xăng của Công

ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa nằm trên các vị trí đắc địa tại các huyện, thị trong Tỉnh Đây được

xem là lợi thế nổi trội của Công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa so với các đơn vị trong ngành

Để khẳng định uy tín thương hiệu, trong hoạt động kinh doanh Công ty xây dựng quy

trình chặt chẽ về nhận hàng, kiểm tra, bảo quản hàng hóa tại từng trạm xăng dầu kể từ khi

32 nhận hàng của doanh nghiệp đầu mối đến khi bơm rót vào phương tiện của khách hàng Từ năm 2003 Công ty đã áp dụng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000, và hiện nay là tiêu chuẩn ISO 9001: 2008

2.1.5.2 Đánh giá về sự phù hợp định hướng phát triển của Công ty với định hướng của ngành, chính sách của Nhà nước và xu thế chung trên thế giới

Ngành năng lượng Việt Nam hai mươi năm qua đã phát triển mạnh trong tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và xuất nhập khẩu năng lượng Điều

đó đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển và đổi mới đất nước Hệ thống năng lượng Việt Nam luôn dựa trên ba trụ cột chính là dầu khí, than đá và điện lực Do đó, ngành dầu khí được Chính phủ đặc biệt chú trọng đầu tư xây dựng và khai thác đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của cả nước

Điều này cho thấy, mục tiêu phát triển của Công ty phù hợp với mục tiêu chung của Nhà nước cũng như xu thế chung của thế giới

2.1.6 Quy trình kiểm soát chất lượng, an toàn phòng chống cháy nổ

Các mặt hàng do Công ty cung ứng ra trên thị trường đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất (đảm bảo về các thông số kỹ thuật, màu sắc…)

Phương tiện vận chuyển

Công ty hiện có đội xe bồn vận chuyển xăng dầu, 12 chiếc, tải trọng xe 16.000 lít và 01

xe tải chuyên chở gas 3,7 tấn Ngoài cán bộ giám sát trực tiếp quá trình giao nhận hàng tại kho nhà cung ứng, các xe còn được trang bị hệ thống định vị GPS, nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình vận chuyển hàng hóa trên đường, đảm bảo chất lượng hàng hóa xăng dầu, gas từ kho nhà cung ứng đến trạm xăng dầu nội bộ

Máy móc thiết bị

Hiện nay, Công ty có 160 trụ bơm (253 vòi) trang bị tại 34 trạm xăng dầu, bao gồm 3 nhãn hiệu chính: Epco, Tatsuno và Việt Nam, như: PNCo, ATC, SCB, Seen, Toka, …

Các trụ bơm lắp đặt tại các trạm xăng dầu hầu hết là thiết bị bơm hiện đại, đảm bảo đo

lường chính xác, độ sai lệch dưới +/-0,5%, góp phần bảo vệ lợi ích khách hàng, quản lý hao

hụt có hiệu quả, theo phương châm phục vụ: “Đúng chất lượng, đủ số lượng, văn minh lịch sự”

Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng trụ xăng dầu hiện có của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa

Trang 17

33 Phòng Kỹ thuật Công ty thực hiện nhiệm vụ bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp

máy móc thiết bị tại các trạm xăng dầu, đảm bảo công tác bán hàng liên tục, đo lường nằm

trong giới hạn cho phép

An toàn phòng chống cháy nổ

Tất cả các đơn vị trực thuộc Công ty đều thành lập Đội phòng cháy chữa cháy và xây

dựng phương án PCCC theo quy định, CBNV được huấn luyện và thực tập phương án chữa

cháy hàng năm theo quy định

2.1.7 Cơ cấu doanh thu và chi phí giá vốn từng loại hình hàng hóa, dịch vụ

Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Qua bảng tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính của Công ty trong hai năm qua thấy rõ những khó khăn trong hoạt động kinh doanh năm 2011, cụ thể như sau:

- Chỉ tiêu về thanh toán: tương đương cùng kỳ, Công ty vẫn đảm bảo được khả năng thanh toán ngắn hạn

- Chỉ tiêu về cơ cấu vốn: các chỉ tiêu này trong năm giảm hơn so với năm trước, chứng

tỏ Công ty đã cơ cấu lại các khoản nợ vay nhằm giảm chi phí tài chính trong điều kiện kinh

tế khó khăn

- Chỉ tiêu về hoạt động: các chỉ tiêu này trong năm nay tăng so với năm trước, điều này cho thấy Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc đã phát huy được chức năng và nhiệm vụ trong việc chỉ đạo công tác quản lý vốn, tài sản, hàng tồn kho một cách hiệu quả

- Chỉ tiêu về khả năng sinh lời: trong năm 2011, các chỉ tiêu này có phần giảm so với năm trước, nguyên nhân do hoạt động kinh doanh xăng dầu trong năm gặp nhiều khó khăn, lãi suất tăng cao, Chính phủ kiềm chế lạm phát, thù lao đại lý chỉ ở mức trung bình, có những thời điểm thù lao đại lý giảm thấp (chỉ 50 – 100đ/lít) không đủ bù đắp chi phí kinh doanh

2.2 Phân tích thực trạng thị trường tiêu thụ xăng dầu của công ty trong thời gian qua

2.2.1 Thị trường mục tiêu và khách hàng mục tiêu 2.2.1.1 Mô tả khách hàng

Hiện nay, khách hàng mua xăng dầu có thể chia thành 6 nhóm:

Khách hàng là các đại lý bán lẻ: Hầu hết là những chủ doanh nghiệp tư nhân có một hoặc nhiều trạm xăng Khi bán cho những khách hàng này, thường công ty sẽ giao hàng tận

Trang 18

35 nơi, một vài khách hàng có xe bồn tự vận chuyển Điều kiện thanh toán linh hoạt, giá cả tùy

thuộc thời hạn thanh toán Bán hàng cho đối tượng này công ty chỉ hưởng mức thù lao tổng

đại lý theo qui định

Khách hàng sản xuất công nghiệp: Bao gồm 2 đối tượng chính:

 Các nhà máy, xí nghiệp sản xuất trong các khu công nghiệp: Những khách hàng này

phần lớn tiêu thụ dầu diezel (DO) chạy máy và dầu mazut (FO) để đốt lò Lượng hàng tiêu

thụ khá ổn định, tuy nhiên giá phải rất cạnh tranh và thường thanh toán chậm từ 30 → 40

ngày sau khi giao hàng

 Các doanh nghiệp kinh doanh ngành xây dựng: Khách hàng này phần lớn mua dầu

diezel tại Trạm – gần công trình đang thi công, lượng hàng tiêu thụ thường không ổn định,

tùy thuộc vào qui mô công trình.Việc thanh toán thường không đúng hạn và rủi ro cao

Khách hàng là các nhà xe vận tải hàng hóa: mua hàng tại trạm, số lượng tương đối

nhưng đều, tiêu thụ mặt hàng xăng và dầu Đa phần áp dụng hình thức thanh toán chậm

Khách hàng là các hộ nông dân: Có nhu cầu về dầu diezel để tiêu dùng cho máy nông

nghiệp, bơm nước tưới tiêu, nuôi cá Trạm phải chở hàng giao tận nơi, thường là trả chậm và

rủi ro cao trong thanh toán vì phần lớn phụ thuộc vào kết quả sau khi thu hoạch Nhu cầu cho

nhóm khách hàng này có tính chất thời vụ

Khách hàng là các cơ quan, đơn vị nhà nước: Các đơn vị thường cấp phiếu nhận hàng

tại Trạm cho tài xế hoặc CBNV có nhu cầu công tác Sử dụng cả xăng và dầu, số lượng

không nhiều nhưng ổn định Phương thức thanh toán chậm nhưng hầu như không rủi ro, nợ

bình quân từ 15→ 30 ngày

Khách hàng vãng lai: Chủ yếu là các phương tiện ô tô, xe máy phục vụ nhu cầu đi lại,

sử dụng chủ yếu là mặt hàng xăng Trong điều kiện kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu thụ của

đối tượng này ngày càng nhiều Việc bán hàng cho đối tượng này thu được tiền ngay nên

hiệu quả cao nhất so với các đối tượng khác

Bảng 2.2 : Thống kê số lượng KH qua 2 năm 2010 & 2011

NĂM 2010

SỐ KH NĂM 2011

SỐ KH TĂNG

SỐ KH GIẢM

Nguồn: Công ty CP xăng dầu Tín Nghĩa

Từ bảng phân tích trên, dễ dàng nhận thấy rằng: lượng khách hàng tăng chủ yếu là do

Công ty quan tâm đến đầu tư mở rộng mạng lưới bán lẻ, thương hiệu Tín Nghĩa được nhiều

người tiêu dùng biết đến nên ngày càng có nhiều khách hàng Trong khi đó, một số ít khách

hàng không mua hàng của đơn vị (số khách hàng giảm) là do Công ty chủ động ngưng cung

cấp hàng khi khách hàng vi phạm điều khỏan thanh toán, chậm trả nợ nhằm hạn chế rủi ro

thanh toán

36 Trên thực tế, do đặc thù về ngành hàng kinh doanh, Công ty cũng có được một lượng khách hàng nhất định Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế làm cho người tiêu dùng ngày càng trở nên thông minh hơn, họ chọn lựa những doanh nghiệp có thể cung cấp cho họ dịch

vụ tốt nhất, đảm bảo chất lượng hàng hoá trong điều kiện giá cả ngang nhau Thật vậy, với phương châm bán hàng “Đúng chất lượng – Đủ số lượng – Văn Minh Lịch sự”, Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa đã nhiều năm liền chiếm được sự tin tưởng của khách hàng và trở thành nhà bán lẻ uy tín trên điạ bàn Tỉnh

Sau khi đổ hàng tại các đơn vị tư nhân, rất nhiều khách hàng là những đơn vị vận tải đã chọn mua hàng của Tín Nghĩa vì có hệ thống phân phối rộng khắp tại các huyện, thị trong Tỉnh và hàng hóa cung cấp đảm bảo chất lượng (kéo dài tuổi thọ của phương tiện) mặc dù Tín Nghĩa không áp dụng nhiều chương trình khuyến mãi như các Trạm tư nhân Trong khi

đó, các khách hàng công nghiệp cũng chọn mua hàng của Tín Nghĩa với lý do cung cấp hàng kịp thời (ngay cả trong những thời điểm hàng hóa khan hiếm chờ lên giá) với chất lượng ổn định, đúng tiêu chuẩn theo qui định

 Sự dịch chuyển từng phần những bộ phận khách hàng đang mua hàng tại các đơn vị

tư nhân sang mua hàng của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa đã từng bước khẳng định uy tín thương hiệu Tín Nghĩa và quan điểm thông minh trong lựa chọn nhà cung cấp đủ năng lực và

uy tín

2.2.1.2 Phân khúc thị trường và qui mô phân khúc thị trường:

Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực có nền công nghiệp phát triển mạnh so với các khu vực khác trong cả nước Tỉnh có 11 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa và 10 huyện thị Tiếp giáp các vùng như sau:

- Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận

- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng

- Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước

- Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh

Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy bộ, đường sắt nối liền với các địa phương trong

cả nước, hệ thống giao thông đường bộ được đầu tư nâng cấp mở rộng, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gắn kết vùng Đông Nam Bộ với các vùng khác, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của Tỉnh

Đồng Nai là tỉnh có hệ thống khu công nghiệp phát triển rất mạnh, hiện tại có 16 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động nằm rãi khắp địa bàn tỉnh, nhiều khu công nghiệp có qui

mô đầu tư rất lớn Theo quy hoạch của tỉnh trong tương lai sẽ phát triển thêm nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp nữa

Với đặc điểm như trên, có thể nhận thấy hiện tại và trong tương lai, tỉnh Đồng Nai là thị trường có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xăng dầu rất lớn

Trang 19

37 Bảng 2.3: Thị phần XD Tín Nghĩa tiêu thụ qua các năm

Doanh số tiêu thụ trong tỉnh Đồng Nai (trđ) 12.825.884 15.076.887 19.000.024

Doanh số của Công ty XD TN(trđ) 1.457.702 1.950.114 2.664.637

Doanh số của TN/ Doanh số toàn Tỉnh (%) 11,36 12,93 14,02

Nguồn: Phòng Kinh doanh-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Doanh số của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa trong tổng doanh xăng dầu tiêu thụ trong

toàn Tỉnh ngày càng gia tăng chứng tỏ thị phần của Tín Nghĩa ngày càng mở rộng Tốc độ

tăng doanh số hàng năm của Tín Nghĩa luôn được giữ vững trong 02 năm liền ở mức trên

30% Theo các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, Công ty xăng dầu Tín Nghĩa là đơn vị

dẫn đầu Tỉnh về sản lượng xăng dầu bán lẻ

Bảng 2.4: Sản lượng tiêu thụ XD của công ty XD Tín Nghĩa qua các năm

Nguồn: phòng Kinh doanh-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

2.2.2 Đánh giá chung về thị trường và công tác nghiên cứu thị trường của

công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Nhìn chung Đồng Nai là một thị trường tiềm năng với dân số đông, nhiều cụm khu

công nghiệp lớn, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu cao và đây là một mặt hàng được xếp vào dạng

Ngoài những khách hàng mua xăng lẻ trên điạ bàn, với chức năng là tổng đại lý cho các

doanh nghiệp đầu mối, khách hàng mà Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa hướng đến là tất cả các

đối tượng khách hàng kinh doanh xăng dầu hoặc có sử dụng xăng dầu như khách hàng là đại

lý bán lẻ nhằm phát triển mạng lưới phân phối, các khách hàng tiêu thụ trực tiếp (các nhà

máy xí nghiệp công nghiệp, các hộ kinh doanh, các nhà xe vận tải hàng hoá) Riêng đối với

38 các khách hàng là các cơ quan, đơn vị nhà nước sử dụng vốn ngân sách, các hộ nông dân…chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng sản lượng tiêu thụ của toàn Công ty

Thị trường Đồng Nai hiện nay có thể phân thành 3 khu vực:

Khu vực 1- Khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ:

Thành phố Biên Hòa là một trong các đô thị trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Đông Nam Bộ, là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Tỉnh Đồng Nai Công ty có nhiều đại lý bán lẻ và 7 trạm xăng dầu trên địa bàn này Sản lượng bán lẻ trên địa bàn này chiếm 58% trong tổng sản lượng bán lẻ toàn công ty Nhơn Trạch, một đô thị đối trọng của tỉnh Đồng Nai, trung tâm chuyên ngành của Tỉnh

về phát triển công nghiệp và dịch vụ Tại đây công ty cũng đã có 2 trạm xăng dầu (Nhơn Trạch, Phước Bình), sản lượng bình quân chiếm 15% trong tổng sản lượng bán lẻ toàn công

ty

Khu vực 2 – Khu vực kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ:

Huyện Long Khánh, huyện Cẩm Mỹ, huyện Trảng Bom, huyện Thống Nhất, huyện Vĩnh Cửu là các huyện kinh tế nông lâm nghiệp và dịch vụ Công ty đã đầu tư 18 trạm xăng trong khu vực này Tuy nhiên sản lượng bán lẻ trên địa bàn này chỉ chiếm 21% trong tổng sản lượng bán lẻ toàn công ty

Khu vực 3 – Khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp:

Bao gồm các huyện Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc Sản lượng bán ra ở khu vực này chỉ chiếm 6% trong tổng sản lượng bán lẻ toàn công ty

Hiện tại hệ thống phân phối của công ty là 23 đại lý bên ngoài và 34 đại lý nội bộ, hầu hết các đại lý nằm trong địa bàn Tỉnh Đồng Nai và các Tỉnh lân cận như Lâm Đồng, Bình Dương Mục tiêu trước mắt của công ty là củng cố, ổn định các đại lý sẵn có, đầu tư mới một

số trạm xăng dầu trực thuộc Về lâu dài, khi đã có kho cảng dự trữ, Công ty dự kiến sẽ mở rộng phân phối đại lý ở các vùng phụ cận khác Với mạng lưới phân phối như trên, thị trường mục tiêu của công ty hiện nay vẫn là các khu đô thị và khu kinh tế phát triển Công tác nghiên cứu thị trường của công ty hiện nay vẫn còn yếu vì chưa thật sự xâm nhập sâu vào vấn đề này, chủ quan về thương hiệu cũng như uy tín hiện có của công ty nên chỉ chú trọng vào công tác tiếp thị tìm kiếm khách hàng mở rộng thị trường, vì vậy đây cũng chính là điểm cần quan tâm và có giải pháp khắc phục trong thời gian tới

2.2.3 Mạng lưới phân phối hiện nay

Hệ thống bán lẻ hiện nay của công ty bao gồm 34 trạm xăng dầu trong địa bàn tỉnh

Trang 20

39 Bảng 2.5: Hệ thống trạm bán lẻ XD tại Đồng Nai

Tín Nghĩa Trạm xăng Tổng số Tỷ lệ (%) Tổng số Tỷ lệ (%)

Nguồn: phòng Kinh doanh-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Biểu đồ 2.1: Hệ thống trạm bán lẻ xăng dầu của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa so với

trạm khác trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Bảng 2.6: Số lượng trạm xăng dầu phân loại theo thành phần kinh tế

Tổng số DNNN Công ty CP DNTN Công ty TNHH Quân đội Hợp tác xã

Nguồn: phòng Kinh doanh-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

40 Hiện nay công ty có 34 trạm bán lẻ chiếm 43% số lượng trạm bán lẻ xăng dầu thuộc khối Công ty Cổ phần và chiếm 9.19% tổng số trạm bán lẻ toàn tỉnh

Bảng 2.7: Số lượng trạm xăng dầu phân theo trục lộ giao thông

Tổng số Quốc lộ Đường tỉnh Đường huyện Thuộc KCN Khác

Nguồn: phòng Kinh doanh-cty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

Theo bảng trên, số cửa hàng xăng dầu thuộc sở hữu Doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng khá lớn, điều đó cho thấy khả năng phát triển cửa hàng xăng dầu của các công ty cổ phần vẫn còn chưa phát huy được hết khả năng của mình

Có thể thấy mạng lưới cửa hàng xăng dầu trên toàn Tỉnh được phân bố tương đối đồng đều theo từng địa phương Trong khi đó mạng lưới trạm xăng dầu của công ty Xăng dầu Tín Nghĩa vẫn còn nhiều nơi chưa hợp lý Có địa phương tập trung khá nhiều trạm: Thành phố Biên Hòa, huyện Thống Nhất, thị xã Long Khánh và huyện Vĩnh Cửu, nhưng có nơi chưa xây dựng hoặc có quá ít trạm: Tân Phú, Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Nhơn Trạch Điều này cũng cho thấy khả năng tham gia thị trường xăng dầu của công ty còn hạn chế trong khi nhiều địa phương có triển vọng phát triển thành khu kinh tế lớn, hứa hẹn nhiều tiềm năng tiêu thụ lại chưa được quan tâm đầu tư các trạm tương thích

2.3 Phân tích những yếu tố thuộc môi trường bên trong ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hiện nay của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa

2.3.1 Hoạt động kinh doanh:

Hiện tại, hai loại mặt hàng chính mà Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa đang cung cấp là xăng và dầu Diesel, chiếm hơn 90% Sản lượng bán ra về mặt hàng dầu Mazut (FO) trong năm 2011 chỉ chiếm 1% trong khi nhu cầu thị trường rất lớn (sản lượng bán ra của toàn tỉnh

về dầu Mazut chiếm đến 42% của tổng số xăng dầu tiêu thụ trên toàn Đồng Nai) Như vậy, kinh doanh mặt hàng dầu Mazut của Tín Nghĩa còn có quy mô nhỏ, doanh thu thấp

Bảng 2.8: Sản lượng tiêu thụ XD qua các năm

MẶT HÀNG

Sản lượng (lít)

Tỷ trọng %

Sản lượng (lít)

Tỷ trọng %

Sản lượng (lít)

Tỷ trọng %

Ngày đăng: 08/08/2016, 12:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình áp lực cạnh tranh của các yếu tố vi mô. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Hình 1.1 Mô hình áp lực cạnh tranh của các yếu tố vi mô (Trang 9)
Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng trụ xăng dầu hiện có của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng trụ xăng dầu hiện có của Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa (Trang 16)
Bảng 2.5: Hệ thống trạm bán lẻ XD tại Đồng Nai. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.5 Hệ thống trạm bán lẻ XD tại Đồng Nai (Trang 20)
Bảng 2.7: Số lượng trạm xăng dầu phân theo trục lộ giao thông. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.7 Số lượng trạm xăng dầu phân theo trục lộ giao thông (Trang 20)
Bảng 2.10: Đánh giá của khách hàng ở chỉ tiêu giải quyết khiếu nại. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.10 Đánh giá của khách hàng ở chỉ tiêu giải quyết khiếu nại (Trang 21)
Bảng 2.9: Thị phần Xăng dầu của công ty XD Tín Nghĩa tại Đồng Nai năm 2011. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.9 Thị phần Xăng dầu của công ty XD Tín Nghĩa tại Đồng Nai năm 2011 (Trang 21)
Bảng 2.11: Đánh giá của khách hàng về chương trình khuyến mãi của công ty.  Stt  Đối tượng khảo sát  Chương trình khuyến mãi - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.11 Đánh giá của khách hàng về chương trình khuyến mãi của công ty. Stt Đối tượng khảo sát Chương trình khuyến mãi (Trang 22)
Bảng 2.12: Cơ cấu lao động công ty phân theo trình độ. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.12 Cơ cấu lao động công ty phân theo trình độ (Trang 23)
Bảng 2.16: Mật độ dân số Đồng Nai qua các năm. - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 2.16 Mật độ dân số Đồng Nai qua các năm (Trang 25)
Bảng 3.2: Kế hoạch Lợi nhuận của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa (đơn vị tính: tỷ  đồng) - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.2 Kế hoạch Lợi nhuận của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa (đơn vị tính: tỷ đồng) (Trang 32)
Bảng 3.1: Kế hoạch Doanh thu của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.1 Kế hoạch Doanh thu của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa (Trang 32)
Bảng 3.3: Ma trận SWOT - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.3 Ma trận SWOT (Trang 34)
Bảng 3.5: Đánh giá của khách hàng với tiêu chí Đủ số lượng - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.5 Đánh giá của khách hàng với tiêu chí Đủ số lượng (Trang 35)
Bảng 3.4: Đánh giá của khách hàng với tiêu chí Đúng chất lượng - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.4 Đánh giá của khách hàng với tiêu chí Đúng chất lượng (Trang 35)
Bảng 3.6: Đánh giá của khách hàng về thương hiệu Xăng dầu Tín Nghĩa so với các - Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty Cổ phần Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm 2020
Bảng 3.6 Đánh giá của khách hàng về thương hiệu Xăng dầu Tín Nghĩa so với các (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w