1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam

111 431 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 12,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN DẠY HỌC NỘI DUNG GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ (Tài liệu lưu hành nội bộ) Hà Nội 102011   LỜI NÓI ĐẦU Mỗi HS Việt Nam đều cần có hiểu biết về đất nước, tổ quốc mình, bao gồm cả phần lãnh thổ và lãnh hải. Trong chương trình các môn học của cấp THCS, nhất là chương trình Địa lí Việt Nam, phần lãnh thổ được đề cập tương đối chi tiết cả về khía cạnh đặc điểm tự nhiên, đặc điểm dân cư và những tác động của con người trên khắp đất nước cũng như các vùng miền. Riêng phần lãnh hải, chương trình còn đề cập một cách khiêm tốn và HS chỉ được tiếp cận qua một số ít bài giảng. Vì vậy HS cấp THCS chỉ có lượng thông tin hạn chế về biển đảo của tổ quốc, về tiềm năng tài nguyên thiên nhiên cũng như những vấn đề đặt ra trong bối cảnh tác động của con người hiển diện ở mọi chỗ, mọi nơi, kể cả vùng biển, đảo rộng lớn của chúng ta. Thực tế đó đòi hỏi cần bổ sung thông tin và giáo dục cho các em những hiểu biết về tiềm năng, về mức độ khai thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc. Đồng thời thông qua thực tiễn sử dụng nguồn tài nguyên từ biển, thực tiễn khai thác nguồn tài nguyên đó giáo dục cho các em kỹ năng sử dụng và khai thác tài nguyên biển một cách hợp lý, bảo vệ môi trường và cách sống thân thiện với môi trường biển, đảo. Tài liệu “Giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cấp THCS” được biên soạn sẽ giúp GV và HS THCS có thêm nhưng hiểu biết về môi trường biển, đảo của Việt Nam, về sự cần thiết phải khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo, bảo vệ môi trường biển đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta, đồng thời giới thiệu những biện pháp và hình thành, rèn luyện cho HS những kỹ năng thích hợp, góp phần khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo và bảo vệ môi trường biển đảo của đất nước. Tài liệu hướng dẫn gồm hai phần, phần chung giới thiệu mục tiêu, cấu trúc của tài liệu Giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo của cấp học; phần hướng dẫn giới thiệu việc lựa chọn nội dung thuộc các chuyên đề về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo của cấp học; Hướng dẫn thời gian thực hiện ngoại khóa trong trường THCS; Giới thiệu một số hình thức hoạt động, hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa gíao dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; Hướng dẫn kiểm tra, đánh giá sau khi thực hiện ngoại khóa. Tài liệu hướng dẫn được trình bày theo cách mô tả các hình thức thực hiện hoạt động ngoại khóa với những gợi ý về các bước thực hiện và những điểm cần lưu ý đảm bảo hoạt động mang tính khả thi cũng như một vài ví dụ minh họa. GV, các cán bộ làm công tác Đoàn Đội cần lưu ý sử dụng đồng thời với tài liệu về chuyên đề; chú ý các gợi ý về cách thức tổ chức, tạo điều kiện cho HS được tham gia một cách tối đa vào các họat động. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Mục tiêu: Tài liệu hướng dẫn Giáo dục về tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển đảo cho HS THCS nhằm: Nâng cao nhận thức cho GV và HS cấp THCS về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của biển, đảo Việt Nam, sự cần thiết của việc sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển đảo; Dần hình thành các kĩ năng sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo cho GV và HS. Hướng dẫn GV giảng dạy và kiểm tra, đánh gía các chủ đề về giáo dục tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cấp THCS. Cấu trúc tài liệu Để giúp cho việc triển khai công tác giáo dục tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho GV, HS cấp THCS được thuận lợi, bộ tài liệu về nội dung này được biên soạn hai loại và nội dung cụ thể như sau: Tài liệu thứ nhất: Giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cấp THCS   Tài liệu dành cho HS và GV cấp THCS, trình bày những thông tin cơ bản theo 3 chủ đề khác nhau nhằm cung cấp những thông tin về tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển, hải đảo của Việt Nam. Tài liệu có cấu trúc nội dung như sau: Lời nói đầu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tài liệu

BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

(Lưu hành nội bộ)

Hà Nội, năm 2011

Trang 2

VŨ ĐÌNH CHUẨN - ĐẶNG DUY LỢI - NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG - PHÍ CÔNG VIỆT

NGUYỄN TRỌNG ĐỨC - ĐỖ ANH DŨNG

Tài liệu

BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

(Lưu hành nội bộ)

Trang 3

MỤC LỤC Trang

Chủ đề 1 BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

3 Ý nghĩa của vùng biển đối với tự nhiên, kinh tế- xã hội và

Chủ đề 2 TÀI NGUYÊN VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

5 Các tiềm năng khác: thủy triều, gió biển - nguồn năng lượng vô tận 74

Chủ đề 3 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Trang 4

CHỦ ĐỀ 1 BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

1 Khái quát về Biển Đông

1.1 Vị trí, giới hạn của Biển Đông

Với diện tích hơn 3447 nghìn km2, Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ

ba trong các biển của thế giới Chiều dài của Biển Đông là khoảng 1900 hải lí(từ vĩ độ 3oN đến vĩ độ 26oB), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí (từkinh độ 100oĐ đến kinh độ 121oĐ)

Từ ranh giới phía Bắc nằm giữa bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) và điểmcực Bắc đảo Đài Loan, bờ Biển Đông chạy men theo lục địa châu Á xuống bờbiển Việt Nam, tiếp xúc với bờ biển Campuchia, Thái Lan, sang bờ Đông bánđảo Mã lai, qua Xingapo, sang bờ phía Bắc đảo Xumatra, tới đường ranh giớiphía Nam ở khoảng vĩ tuyến 3oN, giữa các đảo Banca và Bêlitung (Inđônêxia),kéo sang đảo Calimantan, rồi vòng lên bờ biển phía Tây của quần đảo Philippin

và trở về đường ranh giới phía Bắc Như vậy, có 9 quốc gia nằm ven bờ BiểnĐông: Việt Nam, Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Brunây, Xingapo, Inđônêxia,Thái Lan, Campuchia

Biển Đông là một biển nửa kín vì các đường thông ra đại dương đều cócác đảo và quần đảo bao bọc Từ Biển Đông muốn ra đại dương hay sang cácbiển xung quanh, người ta phải đi qua các eo biển: Phía Bắc, qua eo biển ĐàiLoan để sang biển Hoa Đông và qua eo biển Basi để ra Thái Bình Dương PhíaĐông, qua eo biển Balabac để sang các biển Xulu và Xêlêbet Phía Nam, quacác eo biển Carimanta và Gaxpa sang biển Giava Phía Tây, qua eo biểnMalắcca để sang biển Anđaman rồi thông ra Ấn Độ Dương

1.2 Vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan

- Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía Tây Bắc của Biển Đông, trong khoảng kinh độ

105o36’- 109o55’Đ và vĩ độ 17o06’- 21o55’B Đây là một trong những vịnh biểnlớn của thế giới Diện tích của vịnh là 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất là

310 km, còn nơi hẹp nhất (ở cửa vịnh) là 207,4 km Bờ vịnh phía Việt Namkhúc khuỷu, chạy từ cửa sông Bắc Luân tới bờ biển tỉnh Quảng Trị, dài 763 km

Bờ vịnh phía Trung Quốc thuộc 2 tỉnh Quảng Đông và Hải Nam, dài 695 km.Vịnh có 2 cửa: một cửa qua eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu vàđảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng 35,2 km, cửa chính kéo từ đảo Cồn Cỏ (ViệtNam) tới bán đảo Hải Nam rộng 207,4 km

Phần vịnh phía Việt Nam có hơn 2300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt là đảoBạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam 110 km và cách đảo Hải Nam 130

km Phần vịnh phía Trung Quốc có một số đảo nhỏ ở phía Đông Bắc như cácđảo Vị Châu, Tà Dương…

Trang 5

Hình 1 Bản đồ hành chính Việt Nam

Trang 6

Đáy vịnh Bắc Bộ nông và có nhiều sét mịn, thuận lợi cho việc buông lướiquét Thềm lục địa phát triển rộng Phần lớn vịnh có độ sâu dưới 30 m, sâu nhấtcũng chỉ khoảng 100 m Độ muối trong nước biển cao, thuận lợi cho nghề làmmuối nhưng cũng lại làm cho vùng đất ven biển và ven các cửa sông lớn dễ bịnhiễm mặn Vịnh tương đối kín nên sóng không cao lắm, trừ những ngày gióbão Khi có bão lớn, sóng trong vịnh có nơi cao tới 30m, bọt sóng có thể tungcao tới mặt kính hải đăng cao 50 m ở đảo Long Châu Gió mùa Đông Bắc hoạtđộng từ tháng 10 tới tháng 4 Vào những ngày gió mùa Đông Bắc hoạt độngmạnh, biển động sóng to, ảnh hưởng tới việc ra khơi của ngư dân Vào mùađông, trong vịnh hình thành hệ thống hải lưu chảy vòng tròn ngược chiều kimđồng hồ; vào mùa hạ hình thành hệ thống hải lưu chảy vòng tròn thuận chiềukim đồng hồ.

Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và TrungQuốc cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh Theo kết quả điều tra về tài nguyên

và môi trường, khu vực vịnh Bắc Bộ có gần 4500 loài sinh vật, trong đó các loài

cá biển và động vật đáy chiếm khoảng 2/3 Tổng trữ lượng sinh vật trong vịnh

có thể sử dụng được vào mục đích thương mại là hơn 913000 tấn, trong đó trữlượng tôm khoảng 1560 tấn, cá biển khoảng 438000 tấn Các dự báo cũng chothấy lòng đất dưới đáy vịnh có tiềm năng về dầu mỏ, khí đốt

Ngày 25-12-2000, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã kí hiệp định phân địnhvịnh Bắc Bộ nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyềnkinh tế trong vịnh Bắc Bộ

- Vịnh Thái Lan

Vịnh Thái Lan nằm ở phía Tây Nam của Biển Đông Vịnh có diện tích

293000 km2 Ba mặt của vịnh giáp các nước: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan,Malaixia

Vịnh Thái Lan nông, độ sâu lớn nhất ở trung tâm vịnh cũng chỉ 80m.Thềm lục địa trong vịnh mở rộng Độ muối của nước trong vịnh tương đối đồngnhất (khác với ở vịnh Bắc Bộ) Vịnh khuất gió nên sóng cũng nhỏ

Trong vịnh Thái Lan, vào 2 mùa gió cũng có 2 hệ thống hải lưu chảyvòng tròn, ngược chiều nhau Vào mùa gió Đông Bắc, có hải lưu chảy vòng trònngược chiều kim đồng hồ; ven bờ biển Việt Nam, dòng biển chảy theo hướngĐông Nam- Tây Bắc Vào mùa gió Tây Nam, có hải lưu chảy vòng tròn thuậnchiều kim đồng hồ; ven bờ biển Việt Nam, dòng biển chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Do ở giữa vịnh nước chuyển động với tốc độ rất nhỏ nên ở đây tụtập một lớp rong nổi, giống như ở giữa Đại Tây Dương

1.3 Vị trí địa chiến lược và tiềm năng kinh tế của Biển Đông

- Tầm quan trọng về địa chiến lược của Biển Đông

Trang 7

Biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch, nối các nền kinh tếtrên bờ Thái Bình Dương với các nền kinh tế trên bờ Ấn Độ Dương và Đại TâyDương Đây là tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới nếu tính theotổng lượng hàng hóa thương mại chuyển qua hàng năm.

Mỗi ngày có khoảng 150- 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đókhoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ

30000 tấn trở lên Ven Biển Đông có trên 530 cảng biển, trong đó có 2 cảng vàoloại lớn và hiện đại bậc nhất thế giới là cảng Xingapo và cảng Hồng Công

Nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc…) cónền kinh tế phụ thuộc sống còn vào giao thông trên Biển Đông Có tới 70% khốilượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu củaNhật Bản được vận chuyển qua tuyến đường này Khoảng 60% lượng hàng hóaxuất nhập khẩu của Trung Quốc, 55% lượng hàng hóa xuất khẩu của các nướcASEAN là qua Biển Đông Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giớiđược thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó đi qua Biển Đông Lượngdầu mỏ và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lầnlượng chuyên chở qua kênh đào Panama

Quanh Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước (eobiển Malắcca, eo biển Xunđa, eo biển Lômbôc…) Eo biển Malắcca nằm giữađảo Xumatra (Inđônêxia) và bán đảo Mã Lai, nối Biển Đông với Ấn Độ Dương,dài hơn 800 km, rộng gần 38 km (nơi hẹp nhất chỉ 1,2 km) Dưới góc độ giá trịkinh tế và chiến lược, tầm quan trọng của eo biển Malắcca sánh ngang với kênhđào Xuyê hoặc kênh đào Panama Eo Malắcca tạo nên hành lang hàng hải chínhgiữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối 3 nước đông dân nhất thế giới là

Ấn Độ, Inđônêxia và Trung Quốc Vì vậy, đây được coi là điểm điều tiết giaothông đường biển quan trọng nhất châu Á Nơi đây, mỗi năm có hàng chụcnghìn tàu thuyền qua lại, bao gồm tàu chở dầu, tàu chở công ten nơ, tàu đánh cá.Khoảng 400 tuyến đường biển và 700 cảng biển trên thế giới phải nhờ eoMalắcca để quan hệ với cảng Xingapo Theo số liệu năm 2006- 2007 của BộNăng lượng Hoa Kì, gần 1/3 số dầu mỏ của thế giới được vận chuyển bằng tàuthuyền qua eo biển này, biến nó trở thành 1 trong 2 tuyến đường biển quan trọngnhất thế giới (sau tuyến đường biển qua eo Hooc mut)

- Tiềm năng kinh tế của Biển Đông

Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọngcho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là cáctài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch…

Xung quanh Biển Đông có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản quantrọng của thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Philippin Cảkhu vực, đánh bắt khoảng 7- 8% tổng sản lượng đánh bắt cá của toàn thế giới

Trang 8

Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhấtthế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũngBrunây- Xaba, Xaraoăc, Malay, Patani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, SôngHồng, cửa khẩu Châu Giang Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều lànhững nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển, trong đó Inđônêxia là thànhviên của Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Theo đánh giá của Bộ Năng lượngHoa Kì, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỉ thùng, vớikhả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày Còn theo đánh giá của Trung Quốc thìtrữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tạiquần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng Ngoài ra, theo các chuyên giaNga thì khu vực các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa còn chứa đựng tài nguyênkhí đốt đóng băng.

2 Vùng biển Việt Nam

Giới hạn và độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâucủa lòng đất bên dưới tuy không được xác định chính xác là bao nhiêu kilômét,nhưng với khả năng kĩ thuật của nhân loại hiện nay thì mỗi quốc gia hoàn toàn

có thể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạntối đa là lớp khí quyển nằm dưới quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh và tới độ sâu cho phépthuộc bề dày của vỏ Trái Đất nằm bên dưới lãnh thổ của mình

Vùng biển của quốc gia ven biển được quy định bởi Công ước của LiênHợp Quốc về luật biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là Công ước1982), phê chuẩn vào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luậtquốc tế Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước vềLuật Biển năm 1982 thì một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy,lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Nội thủy

- Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển.Đường cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo tuyên bố ngày 12-5-1977của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở củaViệt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảoThổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị)

Trang 9

Điểm Vị trí địa lí Vĩ độ

(Bắc)

Kinh độ (Đông)

nước lịch sử của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa

Việt Nam và Campuchia

- Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độpháp lí của đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệtđối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủyphải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển

có quyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình

Trong vùng nội thuỷ, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biểnban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào

Trang 10

Hình 2 Các vùng biển quốc gia của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

- Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải,song không tuyệt đối như nội thủy Tàu thuyền của các quốc gia khác đượchưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển

Tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải tức là khôngđược tiến hành bất kì hoạt động nào dưới đây:

+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặcđộc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với cácnguyên tắc luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc

+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kì kiểu loại vũ khí nào

+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốcgia ven biển

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự

+ Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với cácluật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển

+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước

+ Đánh bắt hải sản

Trang 11

+ Nghiên cứu hay đo đạc.

+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọitrang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển

+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua

Nước ven biển không được ngăn cản hay phân biệt đối xử trong việc điqua không gây hại của tàu thuyền bất cứ nước nào, nhưng xuất phát từ nguyêntắc chủ quyền quốc gia đối với lãnh hải và để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qualại, nước ven biển có thể quy định cho các tàu thuyền nước ngoài đi theo nhữngtuyến phân luồng giao thông riêng Nước ven biển có quyền ban hành các luật lệ

để kiểm soát và giám sát việc đi lại đó, cũng như truy tố, xét xử những người cóhành động phạm pháp để bảo vệ quyền lợi của nước mình, phù hợp với luậtpháp quốc tế

Vùng tiếp giáp lãnh hải

- Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Công ướcquốc tế về Luật Biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộngcủa vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ đường ranh giớingoài của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyênbố: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam làvùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí,hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”

- Vì vùng tiếp giáp lãnh hải nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền củaquốc gia ven biển, nên quốc gia ven biển chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chếtrong một số lĩnh vực nhất định đối với các tàu thuyền nước ngoài Trong vùngtiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểmsoát, nhằm:

+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan,thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình

+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ratrên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình

Vùng đặc quyền kinh tế

- Là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành mộtvùng biển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tình từ đường cơ sở dùng đểtính chiều rộng của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam tuyên bố: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành mộtvùng biển rộng 200 hải lí kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải ViệtNam” Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù, trong đó quốc gia ven biển

Trang 12

thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Côngước về Luật Biển 1982 quy định.

- Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lí riêng do Công ước về LuậtBiển 1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia venbiển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác Cụ thể là:

+ Đối với các quốc gia ven biển:

• Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò và khaithác, bảo tồn và quản lí các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vậtcủa vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như vềnhững hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế

Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai tháchoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình nhưng đặt dưới quyền kiểmsoát của mình Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổngkhối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trongviệc khai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư, từ đó cho phép cácquốc gia khác khai thác số dư này trên cơ sở của các điều ước hoặc các thỏathuận liên quan

• Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng cácđảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ vàgiữ gìn môi trường biển Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cầnthiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việctôn trọng các quy định luật pháp của mình

• Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảotồn và quản lí nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặcquyền kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức

+ Đối với các quốc gia khác:

• Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không

• Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, khi đặt phải thông báo vàthỏa thuận với quốc gia ven biển

• Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế.Khi thực hiện những quyền tự do này, các nước ngoài phải tôn trọngnhững luật lệ của nước ven biển và luật pháp quốc tế nói chung

Thềm lục địa

- Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải củaquốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnhhải là 200 hải lí, khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn Trongtrường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200

Trang 13

hải lí tính từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoàicủa thềm lục địa với một khoảng cách không vượt quá 350 hải lí tính từ đường

cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100hải lí Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Thềmlục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển vàlòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mởrộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ViệtNam không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từđường cơ sở”

- Chế độ pháp lí của thềm lục địa:

+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa

về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyênkhông sinh vật như dầu khí, tài nguyên sinh vật như cá, tôm ) của mình Nhữngquyền chủ quyền trên là đặc quyền của quốc gia ven biển, nghĩa là nếu quốc giaven biển không thăm dò thềm lục địa của mình hay không khai thác tài nguyênthiên nhiên của thềm lục địa thì không ai khác được quyền tiến hành các hoạtđộng như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển

+ Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm

ở thềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốcgia ven biển về đường đi của ống dẫn hoặc cáp

+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lí

kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đónggóp theo quy định của Công ước

+ Quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không đượcđụng chạm đến chế độ pháp lí của vùng nước phía trên hay của vùng trời trênvùng nước này, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do củacác quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận

+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ởthềm lục địa vào bất kì mục đích gì

2.2 Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam

Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 thì đảo là một vùng đất tự nhiên

có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo

là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền

và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạothành một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị hay được coi như thế vềmặt lịch sử

Trang 14

Có những đảo và quần đảo nằm gần bờ của nước ven biển, nhưng cũng cónhững đảo và quần đảo nằm ngoài biển khơi, cách xa bờ (ví dụ: các quần đảoHoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Hình 3 Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930

Về mặt pháp lí, các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc giagiống như đất liền Trong trường hợp đảo hay quần đảo nằm gần bờ, luật quốc tếcho phép kéo đường cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng để vạch đường cơ sở thẳngcho nước ven biển, từ đó định ra bề rộng của lãnh hải Vì vậy, nhờ các đảo gần

bờ mà vùng nước nội thủy ở phía trong đường cơ sở được nới rộng và lãnh hãicũng được mở rộng ra ngoài biển Trường hợp đảo và quần đảo ở ngoài khơi xađất liền thì người ta áp dụng chế độ pháp lí đảo theo Công ước Luật Biển quyđịnh Theo đó, mỗi đảo đều có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế, thềm lục địa riêng của mình như đối với quốc gia lục địa venbiển Nếu các đảo của quần đảo ngoài khơi ở gần nhau (không xa hơn mộtkhoảng cách gấp đôi lãnh hải, tức là 24 hải lí) thì các đảo ấy, coi như hợp thànhmột thể thống nhất trên thực tế vì lãnh hải của các đảo ấy gắn liền với nhau vàmột quần đảo như vậy cũng có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địariêng của nó Tuy nhiên, những đảo tồn tại dưới dạng tảng đất, đá hoang, không

có người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải mà không cóvùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Trang 15

Trên vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ Các đảo này hoặcnằm rải rác một mình như đảo Bạch Long Vĩ, đảo Lý Sơn hoặc họp thànhnhóm như quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Thổ Chu Nhiềuđảo trên vùng biển nước ta có diện tích và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho dân

cư sinh sống và phát triển kinh tế - xã hội, thường xuyên giao lưu kinh tế, vănhóa với đất liền và với các đảo khác Về mặt hành chính, nhiều vùng đảo được

tổ chức thành các huyện đảo Đến năm 2006, nước ta có các huyện đảo: huyệnđảo Vân Đồn (Quảng Ninh), huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh), huyện đảo Cát Hải(Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Cồn Cỏ (QuảngTrị), huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyệnđảo Trường Sa (Khánh Hòa), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo CônĐảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Kiên Hải (Kiên Giang), huyện đảo PhúQuốc (Kiên Giang)

Sau đây là một số quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta:

- Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo nằm trong khoảng vĩ độ 15o45’ - 17o15’B, kinh độ 111o-113oĐ,

án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) hơn 120 hải lí,cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lí Quần đảo Hoàng Sa gồmtrên 30 hòn đảo, bãi đá ngầm, cồn san hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biểnrộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lí, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lí,chiếm một diện tích khoảng 15.000km2

Các đảo của quần đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm phía Đông có tên là nhóm An Vĩnh gồm 8 hòn đảo nhỏ và một sốmỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước Trong đó, lớn nhất là đảo Phú Lâm

và đảo Linh Côn, diện tích mỗi đảo khoảng 1,5km2; trên đảo có nhiều cây cối,xung quanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm Các đảo nhỏ khác có diện tích

từ 0,4km2 trở xuống, một số đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh

+ Nhóm đảo phía Tây gồm 15 đảo nhỏ nằm sát liền nhau, cong như hìnhlưỡi liềm nên có tên là nhóm đảo Lưỡi Liềm Đảo lớn nhất là đảo Hoàng Sa,diện tích gần 1km2; các đảo khác có diện tích từ 0,5km2 trở xuống Trên đảoHoàng Sa cây cối xanh tươi, có chỗ cây lớn mọc thành rừng, phần nhiều là dừa

và phi lao Ở phía Đông đảo Hoàng Sa có một cầu tàu bằng đá và bê tông dàikhoảng 180m, do một công ti Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đâycho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích Cũng trênđảo này có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938 đếnnăm 1947, được đăng kí vào mạng lưới của Tổ chức Khí tượng thế giới, mang

số hiệu khu vực của Việt Nam

Tổng diện tích phần nổi của các đảo trong quần đảo Hoàng Sa là khoảng10km2 Ngoài các đảo còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một

Trang 16

vùng nước tạo thành đầm nước giữa biển khơi Có cồn dài tới 30km, rộng 10km,như cồn Cát Vàng.

Quần đảo Hoàng Sa có khí hậu nóng quanh năm, nhiệt độ trung bìnhtháng 1 là 23oC, tháng 7 là 28oC Một năm chia làm 2 mùa: mùa khô từ tháng 1đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hằng nămkhoảng 1170mm Từ tháng 6 đến tháng 8 thường có bão đi qua

Hình 4 Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối umtùm, nhưng có đảo chỉ có cây nhỏ, cây bụi và cỏ dại Thực vật phần lớn thuộccác loài có nguồn gốc ở duyên hải miền Trung do nhiều triều Vua trước đây củanước ta đã ra lệnh đem các loài cây ra trồng để thuyền bè qua lại dễ nhận biết,tránh bỏ tai nạn

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ lâu ngày bịphân hóa, đây là nguồn phân bón có giá trị lớn Hải sản ở Hoàng Sa có tôm hùm,hải sâm, đồi mồi, rau câu Cát ở đây chứa tới 40% can xi, do những vụn san hô

vỡ ra mà thành Vùng biển Hoàng Sa cũng có triển vọng lớn về dầu khí

- Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa ở về phía Đông Nam nước ta, trong khoảng vĩ độ

6o50 - 12o00B, kinh độ 111o30 - 117o20’Đ, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)khoảng 250 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) trên 600 hải lí và cách đảoĐài Loan khoảng 960 hải lí

Quần đảo gồm hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rảitrên một vùng biển rộng, từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lí, từ bắc xuống

Trang 17

nam khoảng hơn 360 hải lí, chiếm một diện tích biển khoảng 160.000 180.000km2.

-Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng

Sa, độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5m Đảo lớn nhất là đảo Ba Bình(rộng khoảng 0,6km2), tiếp đến là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết,Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn Ngoài ra còn có các bãi đá ngầm.Các đảo ở đây cũng có vành san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảokhỏi bị sóng đánh tràn lên Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn,bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10km2, tương đương quần đảo Hoàng Sa,nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quầnđảo Hoàng Sa

Hình 5 Trẻ em đảo Trường Sa Lớn ngày nay đang trên đường đến lớp học

Đảo Song Tử Tây nằm cách bờ biển nước ta khoảng 450km, tấm bia chủquyền của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ở gần trung tâmcủa đảo Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng theo dõi vàthông báo các số liệu về thời tiết của vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khítượng thế giới Trên các đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây có đèn biển củaTổng Công ti bảo đảm Hàng hải Việt Nam

Khí hậu, thời tiết của vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn so vớicác vùng ven bờ: mùa hạ mát hơn và mùa đông ấm hơn Một năm có thể chialàm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.Lượng mưa trung bình lớn, hơn 2500mm/năm Hằng năm ở quần đảo Trường Sa

có tới 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên Hiện tượng dông rất phổ biến, cóthể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông Bão lớn cũng thường đi qua, tậptrung vào các tháng mùa mưa

Trang 18

Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như ở các đảo Song Tử Tây,Trường Sa, Song Tử Đông.

Chất đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùncây, có bề dày từ 5 đến 10cm Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như câyphong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại

Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loại

cá tập trung với mật độ cao; đặc biệt có vích là loài động vật quý hiếm và cá ngừđại dương có giá trị kinh tế cao

Ngoài phốt phát vôi, đá san hô thì theo các chuyên gia, khu vực quầnđảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn

Hình 6 Cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa giữa Biển Đông Việt Nam

- Quần đảo Vân Hải

Thuộc tỉnh Quảng Ninh, là nhóm đảo ở phía đông vịnh Hạ Long, cáchthành phố Hạ Long gần 50km Lớn nhất là đảo Trà Bản, dài 30km Phía namđảo là vịnh Vân Đồn rộng gần 100km2, nơi có thương cảng Vân Đồn xưa kia nổi

tiếng là phồn thịnh và sầm uất

- Đảo Cát Bà

Nằm ở phía đông thành phố Hải Phòng, diện tích khoảng 277km2 Gồm 1đảo lớn và 366 đảo đá lớn nhỏ rải rác vây quanh Trên đảo Cát Bà có vườn quốcgia cùng tên

- Quần đảo Cô Tô

Nằm ở khoảng vĩ độ 21o00B và kinh độ 107o45Đ, thuộc tỉnh Quảng Ninh.Gồm 29 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 2 đảo lớn nhất là Cô Tô và Thanh Lam Đảo

Cô Tô nổi tiếng về nghề nuôi trai lấy ngọc

- Đảo Bạch Long Vĩ

Trang 19

Thuộc thành phố Hải Phòng, nằm khoảng vĩ độ 20o07’B và kinh độ

107o45’Đ, cách thành phố Hải Phòng 70 hải lí được coi là tiền đồn ngoài cùngphía đông bắc của Tổ quốc Đảo rộng khoảng 2,5km2, giàu sản vật biển: cá, tôm

và đặc biệt là bào ngư

- Đảo Cồn Cỏ

Thuộc tỉnh Quảng Trị, ở vĩ độ 17o10’ và kinh độ 107o21’Đ, cách đất liềnhơn 20 hải lí Diện tích gần 4km2 Là một trong những đảo có đa dạng sinh họcbậc nhất ở nước ta

- Đảo Lý Sơn

Còn có tên là Cù Lao Ré, thuộc tỉnh Quảng Ngãi Đảo dài trên 8km, rộngkhoảng 2,5km Dân cư đông đúc, làm nghề đánh bắt hải sản, trồng tỏi

- Quần đảo Phú Quý

Ở ngoài khơi bờ biển Bình Thuận Gồm gần 10 hòn đảo lớn nhỏ và một

số bãi cạn nằm rải rác trong vùng biển kéo dài khoảng kinh độ 108o

20’-109o20’Đ và vĩ độ 9o50’ - 10o45’B Lớn nhất là đảo Phú Quý (còn gọi là Cù LaoThu), dài 6,5km, rộng khoảng 3,5km Đảo Hòn Hải trong quần đảo được chọn làmột điểm để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

- Quần đảo Côn Sơn

Thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nằm cách Vũng Tàu 98 hải lí và cửa sôngHậu 45 hải lí Gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích tổng cộng khoảng 70km2.Đảo lớn nhất là Côn Đảo, tiếp đến là Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà Đây là quần đảokhá trù phú, đất đai màu mỡ, nhiều hải sản

- Hòn Khoai

Nằm cách mũi Cà Mau khoảng 7 hải lí Diện tích gần 5km2 Là một thắngcảnh của tỉnh Cà Mau

- Quần đảo Thổ Chu

Thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, nằm cách mũi Cà Mau hơn

80 hải lí về phía tây bắc Gồm 9 đảo lớn nhỏ, rải rác trên một vùng biển rộngkhoảng 50km2 Đảo lớn nhất là Thổ Chu Hòn Nhạn là đảo nằm xa bờ nhất củaquần đảo, được chọn làm điểm chuẩn A1 để vạch đường cơ sở tính chiều rộnglãnh hải Việt Nam

- Quần đảo Nam Du

Thuộc tỉnh Kiên Giang, nằm khoảng vĩ độ 9o40’B, kinh độ 104o2’Đ, cách

bờ biển hơn 27 hải lí Gồm 21 đảo đá lớn nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng11km2, quây quần trong một vùng biển rộng 60km2 Đảo lớn nhất là Nam Du,dài gần 6km, nơi rộng nhất khoảng 1,5km

- Đảo Phú Quốc

Trang 20

Là hòn đảo lớn nhất nước ta, nằm ở vùng biển Tây Nam đất nước, thuộctỉnh Kiên Giang Diện tích gần 568km2, chiều dài nhất khoảng 50km, chiều rộngnhất gần 30km Quanh đảo Phú Quốc còn có hàng chục đảo nhỏ, tổng diện tíchcác đảo này chỉ bằng 2/3 diện tích đảo chính Đảo Phú Quốc có ý nghĩa về nhiềumặt: vị trí chiến lược, kinh tế (đánh cá, trồng hồ tiêu, du lịch, ).

3 Ý nghĩa của vùng biển đối với tự nhiên, kinh tế- xã hội và an ninh quốc phòng Mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo

3.1 Ý nghĩa của vùng biển Việt Nam

- Ý nghĩa đối với tự nhiên:

+ Về khí hậu:

Biển Đông rộng, nhiệt độ nước biển cao và thay đổi theo mùa đã làm tăng

độ ẩm của các khối khí qua biển, mang lại cho nước ta lượng mưa và độ ẩm lớn,đồng thời làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết nóng bức trong mùa hạ.Nhờ Biển Đông, khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu hải dương, trởnên điều hòa hơn

+ Về địa hình:

Các dạng địa hình ven biển nước ta rất đa dạng, gồm các vịnh cửa sông,các bờ biển mài mòn, các đồng bằng cửa sông có bãi triều rộng, các bãi cátphẳng, các đầm phá, cồn cát…

+ Về các hệ sinh thái ven biển:

Các rừng ngập mặn ven biển nước ta có diện tích rất lớn với các loài sinhvật phong phú, đa dạng

- Ý nghĩa đối với kinh tế- xã hội:

Vùng biển rộng lớn của nước ta là điều kiện thuận lợi để phát triển kinhtế- xã hội

+ Biển nước ta có độ sâu trung bình Vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan là cácvùng biển nông Biển ấm quanh năm, nhiều ánh sáng, giàu ôxi, độ muối trungbình khoảng 30- 33%o, sinh vật biển phong phú, giàu thành phần loài, trong đónhiều loài có giá trị kinh tế cao Ngoài nguồn lợi cá, tôm, cua, mực… biển nước

ta còn nhiều đặc sản khác như đồi mồi, vích, hải sâm, bào ngư, sò huyết… Đặcbiệt trên các đảo đá ven bờ Nam Trung Bộ có nhiều tổ yến (yến sào) là mặt hàngxuất khẩu có giá trị cao

Biển nước ta là nguồn lợi vô cùng phong phú Dọc bờ biển có nhiều vùng

có điều kiện thuận lợi để sản xuất muối Ven biển có các mỏ ôxit titan có giá trịxuất khẩu Cát trắng ở các đảo thuộc Quảng Ninh, Khánh Hòa là nguyên liệuquý để làm thủy tinh, pha lê Vùng thềm lục địa có các mỏ dầu khí đã và đangđược phát hiện, thăm dò, khai thác

Trang 21

Vùng biển nước ta có điều kiện phát triển giao thông vận tải biển do nằmgần các tuyến hàng hải quốc tế trên Biển Đông Dọc bờ biển có nhiều vụng biểnkín thuận lợi xây dựng các cảng nước sâu.

Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển- đảo Suốt

từ Bắc vào Nam có nhiều bãi tắm rộng, phong cảnh đẹp, khí hậu tốt Các hoạtđộng du lịch thể thao dưới nước (lướt ván, lặn biển…) cũng có nhiều điều kiệnphát triển Nhiều đảo trên vùng biển nước ta là nơi dân cư tập trung sinh sống vàphát triển các ngành kinh tế biển Các đảo đông dân nhất là Cái Bầu, Cát Bà, LýSơn Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc

- Ý nghĩa đối với an ninh, quốc phòng:

Hệ thống các đảo tiền tiêu có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ để kiểm soátvùng biển và vùng trời, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định về kinh tế- xã hộinhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Thuộc hệ thống này là các quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), Trường Sa(Khánh Hòa), đảo Trần (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Mát,Hòn Mê (Thanh Hóa), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý(Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa- Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu (Kiên Giang)

3.2 Thực trạng kinh tế biển, đảo Việt nam

Trong những năm qua, đất nước chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việcphát triển kinh tế biển Kinh tế biển Việt Nam đã và đang đóng góp phần khôngnhỏ vào nền kinh tế chung của đất nước Một số ngành kinh tế biển đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn: Khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản nước lợ là lĩnhvực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng 4,5 tỉ USD trong tổng giá trịthủy sản xuất khẩu năm 2008, tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trựctiếp và nuôi trồng thủy sản, cùng 50 vạn lao động dịch vụ liên quan Mức khaithác dầu khí năm 2008 là 14,9 triệu tấn dầu và 7,5 tỉ mét khối khí, kim ngạchxuất khẩu dầu đạt 10,4 tỉ USD, là ngành đóng góp lớn nhất vào GDP kinh tếbiển hiện nay

Kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân vàđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo

Tuy nhiên, quy mô phát triển kinh tế biển nước ta như hiện nay là chưatương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có Cơ sở hạ tầng các vùng biển, venbiển và hải đảo nhìn chung còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé,manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp.Các chỉ tiêu hàng hóa thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nướctrong khu vực

Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển,nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ

Trang 22

thống kinh tế biển liên hoàn Các thành phố, thị trấn, khu công nghiệp, khu kinh

tế ven biển mới đang trong thời kì xây dựng Hệ thống các cơ sở nghiên cứukhoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quantrắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạncòn nhỏ bé, trang thiết bị thô sơ Việc sử dụng biển và hải đảo chưa thật hiệuquả, thiếu bền vững Trình độ khai thác biển của nước ta đang ở tình trạng lạchậu bậc nhất trong khu vực

3.3 Mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế biển, đảo

Kinh tế biển đảo nước ta từ nay đến năm 2020 hướng tới những mục tiêuchủ yếu sau:

- Mở rộng phạm vi khai thác biển xa hơn, sâu hơn nhằm góp phần đẩynhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và vùng ven biển Mở rộng quy mô

và nâng cao hơn tỉ trọng GDP của kinh tế biển và ven biển, xây dựng cơ cấungành nghề hiện đại để tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện kinh tế biển vàvùng ven biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Nâng cao mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân vùng biển, giảmnhanh tỉ lệ đói nghèo

- Nâng tỉ trọng xuất khẩu của kinh tế biển và vùng ven biển trong tổngkim ngạch xuất khẩu của cả nước Hình thành một số ngành và sản phẩm mũinhọn có giá trị xuất khẩu cao và ổn định, tạo nguồn tích lũy lớn cho nền kinh tếquốc dân

- Tập trung ưu tiên nguồn lực để đầu tư phát triển các lĩnh vực kinh tế cơbản có tác động sâu rộng đối với kinh tế, xã hội của vùng biển và ven biển

- Phát triển nhanh kinh tế, xã hội ở một số trung tâm đô thị ven biển vàhải đảo, làm căn cứ hậu cần đủ mạnh để khai thác các vùng biển khơi

Trang 23

CHỦ ĐỀ 2 TÀI NGUYÊN VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN BIỂN – ĐẢO VIỆT NAM

Hình 2.1 Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển

Trang 24

1 Tài nguyên sinh vật biển, đảo phong phú và đa dạng

1.1 Thực vật

a) Rừng ngập mặn

Việt Nam có diện tích rừng ngập mặn đứng thứ hai thế giới, sau rừng ngậpmặn ở cửa sông Amazôn (Nam Mỹ) Rừng ngập mặn không chỉ hấp dẫn các nhànghiên cứu thực vật, mà còn cả những nhà nghiên cứu động vật, thổ nhưỡng,sinh thái, môi trường, du lịch

Rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn trong việc mở rộng diện tích đất venbiển, bảo vệ đê, hạn chế xói lở, chống gió bão, chống nạn cát bay Trong trậnsóng thần ở Nam Á (tháng 12 năm 2004) cho thấy, những nơi nào có rừng ngậpmặn hay rừng ven biển tươi tốt thì những nơi đó tổn thất giảm bớt khá nhiều

Về mặt kinh tế, rừng ngập mặn là nguồn cung cấp gỗ, chất đốt, các sảnphẩm cho ngành công nghiệp, dược liệu Ngoài ra, đây còn là địa bàn cư trú củanhiều loài côn trùng, chim, bò sát, thú có vú, tôm, cua, cá

Ở nước ta, rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, nhất là ở tỉnh CàMau Miền Bắc do có mùa đông lạnh, đồng thời các vùng cửa sông cũng hẹphơn, nên diện tích rừng ngập mặn và cây cũng nhỏ hơn Còn dọc miền Trung rất

ít bãi lầy ven biển, các cồn cát chiếm diện tích đáng kể, suốt chiều dài trên1000km chỉ có những đốm nhỏ rừng ngập mặn

- Rừng ngập mặn miền Bắc phát triển từ Móng Cái đến Cửa Đáy

+ Vùng Quảng Ninh ít sông hơn, ngoài khơi có các đảo che chắn gió bão,

độ mặn nước biển tương đối cao và ít biến động, do đó có nhiều loài cây chịumặn, nhưng chỉ cao khoảng 3 – 4m Ở đây phổ biến là các cây mắm đen, cỏ gà,muối biển, sú, đâng, trang, vẹt, tra, cóc, giá…

Động vật phong phú, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như hầu, sò,ngao, phi, ngán, don Quảng Ninh còn có bãi sá sùng (một loài giun) diện tíchhàng nghìn hec ta, trữ lượng hàng nghìn tấn, là một thực phẩm xuất khẩu được

ưa chuộng Bào ngư, trai ngọc sống bám trên các bãi đá ngầm Ở vùng cửa sông

có nhiều tôm rảo Cua bể, ghẹ cũng khá nhiều ở rừng ngập mặn Quảng Ninh.+ Rừng ngập mặn từ cửa Bạch Đằng (Hải Phòng) đến cửa Thái Bình, nằmtrong vùng cửa sông Thái Bình, thủy triều vào sâu, nhưng do sông đã nhiềunước nên cây bần chua trở thành loài chiếm ưu thế, sau đó đến sú, trang, còn cácloài ưa nước mặn như mắm đen, đâng, vẹt giảm sút mạnh và khẳng khiu hơn ởQuảng Ninh Động vật cũng nghèo hơn, đáng kể là don ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng,vẹm xanh ở Đồ Sơn, giá biển ở Đình Vũ, An Thụy, ngoài ra còn có tôm rảo vàcua bể

Trang 25

Hình 2.2 Rừng ngập mặn

+ Ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình thuộc phạm vi tam giác châu thổsông Hồng, rừng ngập mặn rất hiếm do: lượng nước sông Hồng rất lớn, nênphạm vi diện tích nước hơi lợ (0,5-5‰) rất rộng, không thích hợp với nhiều loàisinh vật cần độ mặn cao hơn; mặt khác, vùng này còn bị tác động của sóng, gió,bão rất mạnh, cây cũng khó phát triển, nhưng nguyên nhân chính là quai đê lấnbiển và phá rừng Cây tiên phong ở đây là cỏ ngạn che kín cả bãi hoặc xen với

cỏ gấu, cỏ gà, sau đến sú, vẹt, ô rô, vào sâu bên trong có bần chua Hiện naynhân dân đang trồng thêm trang làm dải rừng chắn sóng bảo vệ đê biển Tuynhiên, trên các bãi triều vẫn có một số loài thân mềm, có trữ lượng cao, như vọpvới diện tích phân bố đến 2600ha, trữ lượng 12000 tấn và ngao với diện tích1800ha, trữ lượng 2500 tấn ở Xuân Thủy (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình).Các loài khác như don, sò lông không đáng kể Nhưng điều lí thú nhất là có cỏngạn, nguồn thức ăn cho nhiều loài chim nước mà vùng cửa sông Hồng là nơitập trung rất đông chim di cư đến trú đông hoặc tạm dừng chân trên đường bay

đi và bay về giữa vùng ôn đới bán cầu Bắc và châu Đại Dương ở bán cầu Nam,

vì mùa khí hậu ở hai bán cầu trái ngược nhau Theo kết quả nghiên cứu, cókhoảng 150 loài chim di cư Thời gian chúng xuất hiện là vào hai thời kì, cuốithu (tháng 9 – 11) và đầu xuân (tháng 3 – 4) Trong số loài chim di cư có cả loàiquý hiếm, như bồ nông chân hồng, mòng biển đầu đen, cò thìa, cò trắng TrungQuốc, choắt chân màng, choi choi mỏ thìa được ghi vào Sách đỏ của Tổ chứcbảo vệ chim quốc tế Ngày 20 – 9 – 1988, vùng đất ngập mặn Xuân Thủy làvùng đất ngập mặn đầu tiên của Việt Nam được ghi vào Công ước quốc tế bảo

vệ đất ngập nước (Ramsar)

Trang 26

BẢNG 2.1: VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦYVườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) là rừng ngập mặn ở Việt Nam đượcquốc tế công nhận là rừng ngập mặn thứ 50 của Công ước Ramsar về các vùngđất ngập nước trên thế giới.

Vườn quốc gia Xuân Thủy cách Hà Nội khoảng 150 km (thuộc địa phận TháiBình, Nam Định), có diện tích tự nhiên 7.100 ha, là điểm dừng chân của các loài

chim di trú quốc tế Ước tính có tới

215 loài chim nước hiện đang sinhsống tại đây, trong đó có những loàigần như tuyệt chủng nằm trong sách

đỏ quốc tế như: cò thìa, bồ nông,mòng biển, choi choi, mỏ thìa, diệcđầu đỏ… Với những ưu đãi mà thiênnhiên đã ban tặng, vườn quốc giaXuân Thuỷ là rừng ngập mặn độcđáo, là tài nguyên thiên nhiên quýbáu của quốc gia, nơi đây đang chứađựng những tiềm năng biển vô cùngquý giá về sinh thái biển, du lịchbiển Tuy nhiên vườn đang gặp rấtnhiều thách thức do mất cân bằngsinh thái, mà nguyên nhân chủ yếu là sự tác động của con người

Sự xuất hiện của loại cò thìa ở vườn quốc gia Xuân Thủy là điểm khác biệt

so với các khu vực rừng ngập nước trên thế giới Theo các nhân viên của vườnquốc gia Xuân Thủy, có tới 65 con cò thìa và hơn 20 con choi choi mỏ thìathường xuyên di trú tại vườn Thế nhưng đó là con số thống kê cách đây hơn 10năm, còn hiện nay con số này chỉ đếm trên đầu ngón tay Có rất nhiều nguyênnhân dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái của khu vực vườn quốc gia Việc thayđổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường đã hạn chế sự sinh trưởng và thay đổimôi sinh, nguồn thức ăn cho các loài chim, thú Nhưng nguyên nhân chủ yếu lànhững hoạt động của con người đã ảnh hưởng trực tiếp tới các môi trường sốngcủa các loài chim có nguy cơ tuyệt chủng như hoạt động đánh bắt, nuôi trồngthuỷ hải sản, hoạt động sản xuất - kinh doanh của các hộ nuôi tôm, việc đào đắpcác đầm nuôi tôm, sản xuất thức ăn cho tôm, nước thải, đánh bắt hải sản tự do,săn bẫy chim…

- Rừng ngập mặn miền Trung, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, không pháttriển thuận lợi do ít bãi lầy ven biển, nhiều cát và đụn cát, đồng thời sóng, gió, bãocũng mạnh, cho nên rừng chỉ tập trung thành dải hẹp phía trong các cửa sông

Hình 2.3 Cò mỏ thìa mặt đen, một

trong những loài chim quý hiếm có mặt

tại Vườn quốc gia Xuân Thuỷ

Trang 27

+ Phía Bắc đèo Hải Vân, cây tiên phong là mắm, sau đến đâng, trang, rồi

sú, vẹt, trong cùng làn bần, ô rô, cói, những loài nước lợ nên có thể vào sâutrong sông đến 30km

+ Từ đèo Hải Vân trở vào, cây rừng ngập mặn phong phú hơn và cao hơn,khoảng 4 – 5m, do không còn mùa đông lạnh Đước trở thành cây ưu thế với cácloài đước xanh, đước đôi, rồi đến vẹt dù, vẹt tách, trên đất là côi, cóc đỏ, dà vôi,giá, su, chà là Nơi nước lợ có bần chua và ô rô

Động vật chiếm ưu thế là các loài thân mềm tại các bãi triều và tôm, cua,ghẹ tại các lạch triều Ở Bắc Trung Bộ chủ yếu là phi, hầu, ngao, vẹm; NamTrung Bộ là sò, điệp, móng tay, sút, vẹm xanh, ngao

- Rừng rậm ngập mặn ở miền Nam có sinh khối (1) thực vật và động vậtphong phú và đa dạng Năng suất trung bình của vùng cửa sông tới 20 tấn/ha/nămvới mức dao động từ 5 đến 40 tấn, gấp 3 lần đất nông nghiệp, gấp 5,7 lần thềmlục địa và 16 lần biển sâu Tại vùng của sông Cửu Long, năng suất của rừng ngậpmặn khoảng 10 – 12 tấn/ha/năm, ngao sò có thể tới 30 tấn/ha/năm, tôm 500kg/ha/năm Nếu tính cả chim, thú thì tổng sinh khối thật là lớn

Động vật bao gồm nhiều loài như ngao, sò, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, cá…Trong rừng, ta còn gặp đủ các loài sống trên cây, trên đất, ăn lá, mật hoa, quả vàhạt như khỉ, sóc, chuột, lợn rừng, ong, ngoài ra các loài ăn sâu bọ, ăn thịt và ăntạp khác như rái cá, mèo cá, rắn, kì đà, cá sấu, dơi, nhiều nhất là chim, sống tậptrung thành những sân chim hàng chục vạn con như cò, ngỗng, bồ nông, sếu,mòng biển…

Rừng ngập mặn ở miền Nam phát triển từ cửa sông Đồng Nai tới Hà Tiên,nhưng tốt nhất là ở vùng 9 cửa sông (2) và bán đảo Cà Mau Ở Cà Mau cây tiênphong là mắm trắng, rồi đến đước, cao tới 30m, đường kính 30-40 cm, rễ tochẵng chịt cắm sâu trong lớp bùn dày hàng chục mét, mọc lẫn với vẹt, dà vôi.Trên đất cao là dà quánh, cóc trắng, cóc đỏ, cui biển, giá, tra, mướp xát, cuốicùng là chà la, rang Cây nước lợ ngoài cửa sông là bần, khi đi sâu vào trong cáckênh rạch là dừa nước rất đặc trưng, mọc xen có mái dầm, ô rô

Động vật rừng đước Cà Mau vô cùng phong phú Dưới nước có cá đối, cábống, cá nhụ, tôm thẻ, tôm sú, tôm càng xanh Về chim, có sân chim Cái Nước,Đầm Rơi với hàng chục loài và hàng chục vạn con, trong đó có diều cá, cò bợ,

cò lửa, cò quăm đầu đen, diệc xumatra, gà đẫy java, hạc cổ trắng… Về bò sát có

kì đà hoa, trăm mốc, trăm gấm, rắn sọc dưa, cá sấu nước lợ, rùa hộp lưng đen,rùa ba gờ Về thú có cầy lỏn, rái cá họng trắng, dơi đen, khỉ nước…

1() Sinh khối là khối lượng chất hữu cơ của tất cả các sinh vật có trong hệ sinh thái ở thời điểm quan sát và được tính bằng số lượng cá thể, bằng trọng lượng hoặc bằng đơn vị năng lượng.

2() Cửa Soi Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiêu, cửa Cung Hầu, cửa Định An và cửa Tranh Đề.

Trang 28

Bảng 2.1 VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAUVườn quốc gia Mũi Cà Mau cách thành phố Cà Mau 120km về phía TâyNam Vùng đất Mũi Cà Mau ngoài giá trị văn hóa, lịch sử, vẻ đẹp nên thơ, bêntrong nó còn chứa đựng sự đa dạng về cảnh quan, môi trường, tài nguyên thiênnhiên và đa dạng sinh học hiếm có Sự độc đáo của Mũi Cà Mau là vùng sinhthái bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, vùng sinh sản và trú ngụ của các loài thủysinh vịnh Thái Lan, điểm dừng chân và trú ngụ của nhiều loài chim di trú quíhiếm trên thế giới

Ngày 26/5/2009 tại Hàn Quốc, UNESCO đã công nhận Vườn quốc gia Mũi

Cà Mau là khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ tám ở Việt Nam

Đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị cao về đa dạng sinhhọc, cảnh quan thiên nhiên, môi trường và rất quan trọng trong phòng hộ bờbiển, chắn gió, chắn sóng chống xói lở, cố định đất trong quá trình hình thànhđất liền tiến ra Biển Đông Đây là một trong những địa điểm quan trọng thuộcchương trình quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học của nước ta, nơi nghiên cứu

về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và khu vực Châu Á - Thái BìnhDương Tạo nên một vùng sinh thái cửa sông, ven biển duy nhất ở Việt Nam vớinhững nét đặc trưng của hệ động thực vật rừng ngập mặn

Hình 2.4 Trồng rừng ngập mặn

Hệ thực vật ở đây có 22 loài ngập mặn đã được phát hiện, trong đó chiếm ưuthế thuộc về loài đước, mắm trắng, mắm, mắm ổi, trang với quần thể thực vậtgồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, cây vẹt và rừng mấm Câymấm là loài tiên phong lấn biển có hệ thống rễ đặc biệt giữ đất bãi bồi, chốngxói lở và hình thành các dãy rừng phòng hộ ven biển Ngoài cây đước, thảmthực vật ở rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau còn có vẹt, sú, bần, cóc,

Trang 29

chà là, dương xỉ, nhiều loại dây leo…Theo các nhà khoa học, hệ thống rừngngập mặn ở đây được cho là đa dạng thứ hai thế giới, chỉ kém rừng ngập mặnAmazôn ở Nam Mĩ.

Hệ động vật, với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ Trong đó có một số loài nằmtrong Sách Đỏ thế giới như: khỉ đuôi dài, voọc bạc (cà khu), nhọ nồi và nhiềuloài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam; lớp chim có 74 loài thuộc 23 họ, trong đó cómột số loài quí hiếm như cò trắng Trung Quốc, choắt mỏ cong hông nâu, rẽ mỏrộng, bồ nông chân xám - còn gọi là chàng bè, cò lạo Ấn Độ (giang sen), diệcmốc và quắm đầu đen; quần xã chim trong sinh cảnh rừng ngập mặn đặc trưngvới các loài phổ biến như chích bông nâu, vành khuyên họng vàng và rẻ quạtjava; bò sát có 17 loài thuộc 9 họ, nhiều loài bò sát ở Vườn quốc gia Mũi CàMau có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới Có 5 loài lưỡng cư thuộc 3 họ;

14 loài tôm; 175 loài cá thuộc 116 giống và 77 họ; 133 loài động, thực vật phiêusinh Động vật ở đây không những phong phú về thành phần loài mà còn có sốlượng cá thể từng loài lớn Đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, quí khách có thể dễdàng bắt gặp nhiều loại đặc sản của Cà Mau như: rắn, rùa, trăn, cua biển, bakhía, ốc len, dọp, sò huyết, nghêu, cá ngát, cá đuối, cá nâu, cá mú, cá thòi lòi Đặc biệt, diện tích đất liền của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không ngừng được

mở rộng một cách tự nhiên, hàng năm Mũi Cà Mau lấn ra biển hàng vài chụcmét bằng nguồn phù sa do hệ thống sông, kênh, rạch bồi đắp dưới sự giúp sứccủa bộ rễ phù sinh của rừng mắm, đước ven biển Với những đặc tính quí giá về

sự đa dạng sinh học và điều kiện lập địa hiếm có nên Vườn quốc gia Mũi CàMau xứng đáng được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới

- Mối đe dọa đối với rừng ngập mặn

Trước năm 1945, rừng ngập mặn chiếm khoảng 400.000ha, chủ yếu phân

bố ở Nam Bộ (Cà Mau trên 150.000ha) Trải qua hai cuộc chiến tranh, khai thácquá mức, chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động du lịch làm diện tíchrừng ngập mặn giảm sút nhanh Năm 1982 còn 252.000ha, năm 1999 xuống cònkhoảng 200.000ha, 2002 chỉ còn lại trên 155.000 ha Rừng ngập mặn bị tàn phá,chúng ta không những mất đi nguồn lợi hải sản và các nguồn lợi khác do rừngmang lại mà còn phải hứng chịu nạn xói lở, sạt bờ biển… do không còn tấm láchắn rừng ngập mặn bảo vệ Dự án Biển Đông do UNEP (Chương trình Môitrường của Liên Hợp Quốc) xây dựng trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Môitrường toàn cầu, với sự tham gia của 7 nước: Campuchia, Inđônêxia, Malaixia,Philippin, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Theo kế hoạch hành động chohợp phần Rừng ngập mặn trong dự án Biển Đông, mục tiêu đặt ra là năm 2010diện tích rừng ngập mặn được khôi phục bằng 85% diện tích của năm 1982(http://vnexpress.net)

- Biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn

Trang 30

+ Ngăn chặn việc khai thác tài nguyên rừng trái phép Phòng chống cháyrừng Tăng cường trồng rừng Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệrừng ngập mặn.

+ Cần phải tính toán kĩ lưỡng khi nuôi tôm trong rừng ngập mặn làm saokhông ảnh hưởng đến rừng ngập mặn, đồng thời giúp cải thiện kinh tế cho nhândân Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp với các tổ chức quốc

tế khác đã đưa ra các nguyên tắc nuôi tôm bền vững mà không ảnh hưởng sâusắc, lâu dài đến rừng ngập mặn

•Lựa chọn vị trí nuôi tôm phù hợp

•Thiết kế và xây dựng khu vực nuôi tôm nhằm giảm thiệt hại môi trường

•Sử dụng nước sao cho giảm tác động của nước thải nuôi tôm đến nguồn nước

•Lựa chọn nguồn giống tôm nuôi địa phương không bị dịch bệnh

•Lựa chọn và quản lí thức ăn của tôm sao cho hiệu quả và ít xả thải ra môi trường

•Chăm sóc tôm nuôi bằng các phương pháp không gây hại cho các sinh vậthoang dã

•Đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng tôm nuôi Không sử dụng cáchóa chất gây hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người

+ Tránh phát triển du lịch ồ ạt ở vùng rừng ngập mặn, nếu không sẽ ảnhhưởng đến môi trường sống của nhiều loài sinh vật, gây ô nhiễm môi trường

b) Rong biển

- Đã phát hiện được 653 loài rong biển trong vùng biển Đông Việt Nam.Trong các ngành rong, rong đỏ có 310 loài (chiếm 47,5%), rong lục 151 loài(21,1%), rong nâu 124 loài (19%), rong lam 68 loài (chiếm 12,4% còn lại).Rong biển tại các đáy có nền cứng như đá, cuội sỏi, san hô chết (ven các đảo,trong các bãi san hô) phong phú và đa dạng hơn so với các đáy mềm nhiều bùn.Rong biển sinh sản và phát triển từ tháng 11 đến tháng 5 và tàn lụi vào mùa hè(tháng 6 - 7)

- Số loài rong biển có giá trị kinh tế khoảng 90 loài, chiếm 13,7% trongtổng số 653 loài, trong đó rong mơ và rong câu là quan trọng nhất

+ Rong mơ có trữ lượng khoảng 35.000 tấn, tập trung nhiều ở phía Nam(chiếm 61,42%), nhất là từ Phú Yên đến Bình Thuận, còn ở miền Bắc (chiếm38,58%), tập trung hầu hết ở Quảng Ninh

+ Rong câu có trữ lượng khoảng 9300 tấn, vịnh Bắc Bộ có khoảng 5500 tấnchiếm 59,1%, còn miền Nam có 3800 tấn, chiếm 48,9% Các tỉnh có nhiều rongcâu là Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên

Trang 31

- Về sản lượng khai thác: rong câu có sản lượng khai thác khoảng 7000 tấn,trong đó rong câu chỉ vàng chiếm tuyệt đại đa số (trên 90%) Sản lượng rong mơkhai thác chỉ được khoảng 2000 tấn.

- Rong biển có rất nhiều công dụng

+ Nhóm dùng làm thực phẩm chiếm đa số (33%) do rong biển giàu protein,chủ yếu gồm các loài như rong cải biển, rong mứt, rong đông, rong giấy, rongcạo, rong thun thút dùng để làm nộm hoặc nấu thạch, chế biến nước giải khát,

có thể phơi khô để dùng dần

+ Nhóm dùng trong công nghiệp chiếm 27%, chủ yếu để chế biến agar,alginate Agar được chế biến từ rong câu có trên 50 công dụng, như làm tăng độtrong của rượu, làm xốp bánh mì, lấy giấy bọc kẹo, vỏ bọc thuốc, hồ tơ lụa, làmthuốc đánh răng Alginate chế biến từ rong mơ cũng được dùng để sản xuất cao

su, xà phòng, keo dính, giấy không thấm nước, kem bôi da, thuốc nhuộm tóc,dầu bôi trơn

+ Nhóm dùng trong y dược chiếm 20% để chế thuốc giun, thuốc điều tiếtsinh sản, điều trị huyết áp, điều chế thuốc gây mê, chữa bệnh bướu cổ, làm chỉkhâu vết thương

+ Ngoài ra, rong biển còn được khai thác làm thức ăn cho gia súc, làm phânbón hữu cơ …

- Rong biển có dạng thân bụi sống bám vào các riềm đá, rạn san hô Rongbiển đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng hệ sinh thái ven biển.Rong biển hấp thụ chất dinh dưỡng, làm sạch nước, là nơi cư ngụ, ươm nuôi ấutrùng, sinh trưởng và sinh sản của rất nhiều loài thủy hải sản như cá chuồn, cá dìa,mực…

Hình 2.5 Rong được phơi dọc bờ biển

Quảng Ngãi (http://dantri.com.vn)

Hình 2.6 Phơi rong biển ở đảo Cô

Tô, Quảng Ninh (http://baoquangninh.com.vn)

Trang 32

- Do rong biển có nhiều giá trị, cho nên trong những năm gần đây, ngườidân vùng ven biển đã ồ ạt khai thác cây rong biển Nhiều nơi rong biển khai tháclên được phơi trên cát hoặc chất thành từng đống Trước kia, mỗi năm người tachỉ vớt rong vào tháng 5 và 6, còn bây giờ, nhiều nơi rong được khai thác từtháng 3 tháng 4; thay vì chỉ vớt ven bờ ở độ sâu khoảng 3 mét nước thì nhiềungười khai thác lặn xuống lấy rong cả ở những nơi rất sâu, kể cả ở các rạn san

hô quý hiếm Với việc khai thác rong một cách vô tội vạ như vậy sẽ khiến môitrường sinh thái biển bị tổn hại, các rạn san hô bị phá hủy và tôm, cá không cònnơi trú ngụ, sinh sản

Bảng 2.2 KHAI THÁC RONG MƠ ĐƯỢC GÌ, MẤT GÌ?

Do chưa nhận thấy được những giá trị to lớn về mặt sinh thái của rong mơ cũngnhư mong muốn tìm được một nguồn thu cho gia đình vào những lúc biển giả khókhăn, đã có những thời điểm, người dân đảo Cù Lao Chàm khai thác rong mơ mộtcách rầm rộ để bán cho các thương lái Nguy hiểm hơn, ngư dân lại khai thác vàothời điểm rong đang độ phát triển mạnh, đây là thời điểm mà trên các nhánh rongchứa vô số trứng của các loài cá chuồn, cá dìa, mực và rất nhiều loài hải sản kháctrong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Hình 2.7 Rong mơ mang nhiều trứng các loài thủy sản bị giật cả gốc,

mang theo cả san hô (Ảnh: Chu Mạnh Trinh, 7/2011)

Để khai thác rong mơ, người dân lặn xuống và giật mạnh từng bụi rong làm

vỡ nát, hư hại nhiều diện tích san hô, các riềm đá, kéo theo sự hủy hoại các hợpphần đáy và các quần xã sinh vật sống cùng Với cách khai thác như vậy, ngư dân

đã vô tình làm hủy hoại nghiêm trọng môi trường sống, cắt đứt nhiều mắt xíchquan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên Việc khai thác rong mơ đồng nghĩa vớiviệc mất đi một số lượng lớn trứng các loài thủy sản do chúng dính vào rong Một

Trang 33

số trứng bị tách khỏi giá thể (cành rong), trôi lơ lửng làm mồi cho địch hại Cá thểnhỏ không có nơi cư trú, cá trưởng thành không có nơi sinh sản… và toàn bộ ngôinhà sinh thái của chúng bị đảo lộn hoàn toàn.

Rong mơ phơi khô được các thương lái mua với giá 5000 đ/kg Theo các nhàkhoa học ước tính trong 1 kg rong mơ đó có hàng ngàn trứng các loài thủy sản màtheo tự nhiên chúng sẽ phát triển cung cấp cho ngư trường hàng tạ sản lượng thủysản vào năm sau Qua đó chúng ta có thể thấy được kết quả của một bài toán nhỏ:Khai thác 1 kg rong mơ người dân thu được vài ngàn đồng nhưng đã làm mất đihàng triệu đồng! Nhìn rong được khai thác chất thành từng đống lớn trên bãi biển,phơi trên các triền đá, một lão ngư với hơn 50 năm gắn bó với nghề biển tại CùLao Chàm thở dài: “Khai thác rong mơ kiểu ni thì còn chỗ mô cho con cá, contôm, con mực nó “rạy” (trú ẩn, sinh sản)? Sang năm chắc chắn sẽ mất mùa cá

chuồn, cá dìa, mực!”

Lê Ngọc Thảo - Ban quản lí khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

- Rong biển mang lại nhiều lợi ích cho con người, nhưng là loài có chutrình đời sống 1 năm, nếu không được khai thác thì chúng cũng bị tàn lụi, thốirữa trong tự nhiên Vì thế cần phải bảo vệ, có biện pháp khai thác hợp lí, tránh

sử dụng lãng phí bằng cách:

+ Qui hoạch vùng khai thác, ấn định thời gian khai thác rong biển để tránhtác động xấu đến môi trường biển, làm giảm nguồn lợi thuỷ sản

+ Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khai thác rong biển

+ Khuyến cáo người dân tuân thủ những nguyên tắc chung khi tiến hànhkhai thác rong biển

+ Tổ chức tuyên truyền đến cộng đồng dân cư về nguồn lợi, giá trị củarong biển đối với môi trường, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển

c) Cỏ biển

Cỏ biển là môi

trường sống của nhiều

loài sinh vật biển Cỏ

biển là nguồn thức ăn

của một số loài cá, loài

giáp xác, chim biển,

rùa biển, bò biển Cỏ

biển chết được phân

hủy và trở thành thức

ăn cho các loài giun

biển, hải sâm, cua, hải

quỳ, sinh vật phù

33

Trang 34

du Nơi nào có nhiều cỏ biển thường mật độ các loài thủy sản cao Ngoài ra,

cỏ biển còn có ích đối với con người do chúng giúp chống xói mòn bờ biểntrong các cơn bão Cỏ biển cũng bảo vệ các dải đá ngầm san hô, làm sạch nước

Hiện nay cỏ biển đang bị huỷ hoại dần dần bởi các chất ô nhiễm do conngười đổ ra biển, làm cho nước biển đục khiến cỏ biển không có đủ ánh sángmặt trời để quang hợp và chết Tại nhiều nơi ở miền Trung, cỏ biển bị khai thácquá mức làm phân bón và thức ăn cho gia súc Các hoạt động đánh bắt cá bằnglưới kéo và thuyền máy cũng làm đục nước biển hoặc nhổ bật cỏ biển khỏi môitrường sống của chúng Các hoạt động du lịch trên biển như đi thuyền trên khuvực có cỏ biển hoặc xả rác trên bãi biển cũng là nguyên nhân khiến cỏ biển chết.Việc hủy hoại cỏ biển đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản biển

Cần có biện pháp bảo vệ cỏ biển bằng cách hạn chế thải các chất ô nhiễmvào biển, thành lập khu bảo tồn biển là phương thức hiệu quả và ít tốn kém đểduy trì và quản lý nguồn lợi cỏ biển, và đáp ứng những mục tiêu bảo tồn kháccũng như nhu cầu sinh kế của con người Việc thiết lập khu bảo tồn biển sẽ làmmật độ sinh vật biển tăng gấp đôi, sinh khối tăng ba lần, kích thước của sinh vật

và đa dạng sinh học tăng lên 20-30% so với vùng không nằm trong khu bảo tồn.Trong các khu bảo tồn, trữ lượng hải sản tăng lên sau một thời gian thiết lập(thường sau 5 năm) sẽ cung cấp các ấu trùng hải sản cho các bãi cá bên ngoàinhờ các dòng chảy biển và đại dương

Như vậy thành lập các khu bảo tồn biển không chỉ góp phần đảm bảo cânbằng sinh thái vùng biển, đa dạng sinh học, điều hòa môi trường và nguồn giốnghải sản mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế lâu dài, với nghiêncứu khoa học, du lịch sinh thái Đồng thời, nó còn là cơ sở, là công cụ hànhchính và pháp luật trong việc đấu tranh và bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc giatrong phạm vi đặc quyền kinh tế của nước ra

d) Các loại tảo

Tảo lục, tảo lam, tảo nâu, tảo giáp, tảo silic, tảo bánh xe sống trôi nổitrong tầng nước mặt Tảo có vai trò rất lớn trong biển và đại dương Chúng là

nguồn thức ăn cho nhiều giống loài động vật ở biển Cho đến nay người ta biết

khoảng 103 giống loài của tảo giáp, tảo silic trong vùng vịnh Bắc Bộ Ở vùngbiển các tỉnh phía Nam phát hiện được khoảng 300 loài, trong đó 2/3 là tảo silic.Trên bản đồ phân bố sản lượng thực vật nổi của các biển và đại dương thế giớithì hầu hết diện tích vùng nước thềm lục địa Biển Đông có sản lượng thực vậtnổi vào loại cao

1.2 Động vật

Động vật ở vùng biển Việt Nam rất phong phú và đa dạng, từ động vật bậcthấp đến động vật bậc cao, từ động vật nổi đến động vật đáy Nhiều loài quýhiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao

a) Cá biển và các loài giáp xác, nhuyễn thể

Trang 35

* Cá biển

Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trị kinh

tế Các loài có sản lượng cao nhất thuộc nhóm cá nổi là cá nục, cá trích, cá cơm,

cá nhám, cá căng, cá hồng, cá hố, cá đỏ môi, cá ngừ, cá thu, cá chuồn, cá chim,

cá liệt Thuộc nhóm cá tầng đáy có cá lượng, cá mối, cá hồng, cá khế, cá trác,

cá miễn sành, cá sạo, cá song, cá đối, cá phèn, cá đù, cá úc

Trữ lượng cá nổi khoảng trên 1,7 triệu tấn và khả năng khai thác hàng nămđạt khoảng 700.000 tấn Nơi khai thác nhiều nhất là vùng biển phía đông Nam

Bộ chiếm 30,3%, sau đó đến miền Trung khoảng 28,9%, vịnh Bắc Bộ 22,5% vàsau cùng là vùng biển phía tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) 18,3%

Trữ lượng cá tầng đáy khoảng hơn 1 triệu tấn với khả năng khai tháckhoảng trên 400000 tấn/năm Vùng biển phía đông Nam Bộ cũng là nơi nhiều cátầng đáy nhất, chiếm tới 67,91% trữ lượng và khả năng khai thác, sau đến vịnhThái Lan chiếm 18,5%, vịnh Bắc Bộ chiếm 7,6% và cuối cùng là miền Trungchiếm 6%

Như vậy tổng trữ lượng cá biển trên biển Đông Việt Nam là khoảng hơn 2,7triệu tấn, với khả năng khai thác khoảng 1,1 triệu tấn, trong đó cá nổi chiếm62,8%, cá tầng đáy 37,2% Nơi giàu nhất là khu vực đi từ Ninh Thuận đến KiênGiang, sau đó đến vịnh Bắc Bộ, nghèo nhất từ Đà Nẵng đến Nha Trang

Nước ta có nhiều bãi cá, trong đó cá tập trung nhiều ở bốn ngư trường trọngđiểm, đó là ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngưtrường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng– Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa,quần đảo Trường Sa

Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá ởcác tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vai trò lớn hơn Các tỉnh dẫnđầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận và

Cà Mau Riêng 4 tỉnh này chiếm 38% sản lượng thủy sản khai thác của cả nước Trong những năm gần đây, số lượng tàu đánh bắt tăng, phương tiện ngàycàng hiện đại (xem bảng dưới đây), đường lối chính sách khuyến ngư, thị trường

mở rộng nên sản lượng đánh bắt (chủ yếu là cá biển) tăng

Trang 36

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010, Tổng cục Thống kê.

Mặc dù phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại nhưng vẫn còn nhiềuphương tiện đánh bắt lạc hậu, nên việc đánh bắt ven bờ vẫn diễn ra phổ biến làmcho nguồn lợi hải sản ven bờ bị suy giảm nhanh chóng Trong khi ngoài khơi,tiềm năng còn nhiều nhưng sản lượng đánh bắt vẫn còn hạn chế

Việc sử dụng chất độc hoặc nổ mìn không những tận diệt loại hải sản đangkhai thác mà còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác.Đánh bắt xa bờ là cần thiết, góp phần bảo vệ môi trường biển và chủ quyềnđất nước

Trang 37

biển Nếu chúng ta cứ khai thác ven bờ, sử dụng phương tiện đánh bắt lạc hậu,hình thức đánh bắt hủy diệt sẽ dẫn đến nguồn tôm bị cạn kiệt.

Tôm tập trung nhiều nhất ở vùng biển Nam Bộ Sản lượng đánh bắt hàngnăm ở đây đạt trên 80% tổng sản lượng cả nước (khoảng 50.000 tấn)

Tôm he tập trung nhiều nhất từ Vũng Tàu đến Phú Quốc, thứ hai là vùng venbiển Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, thứ ba là ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận.Các loài tôm he có giá trị kinh tế cao là tôm he bạc, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt,tôm thẻ rằn, tôm sú, tôm vàng, tôm đuôi xanh Tôm sú có kích thước lớn nhất, dàitrung bình 20cm, năng 150g, tối đa có thể đạt đến 30cm, nặng 250g

Tôm hùm và tôm rồng tập trung ở vùng duyên hải Trung Bộ từ Quảng Bìnhđến Ninh Thuận Các loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao là tôm hùm sao (loàilớn nhất, tối đa dài đến 36cm, năng 3,4kg, còn trung bình dài khoảng 23cm,năng 2kg), tôm hùm ma, tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi, tôm hùm xanh, tôm hùmlông Tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi chiếm khoảng 70% tổng sản lượng tôm hùm.Tôm vỗ tập trung ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ngoài khơi Quảng Ngãi – BìnhĐịnh – Phú Yên, ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận và vùng Côn Đảo

Khả năng khai thác tôm ở vùng biển nước ta khoảng 55 – 70 ngàn tấn/năm,trong đó (3):

Bảng 2.5 Khả năng khai thác tôm ở các vùng ven bờ và xa bờ

Có giá trị nhất là nhóm cua bể, ghẹ Nhìn chung chúng có mặt ở hầu hết cácvùng bờ biển, nhưng ít tập trung thành các bãi lớn Vì vậy việc khai thác thường

là thủ công, cho năng suất thấp

Theo những kết quả nghiên cứu, ở vịnh Bắc Bộ có khoảng 400 loài cua,phân bố tới độ sâu 40 – 50m

3() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 38

Ngoài ra, nhân dân vùng ven biển còn khai thác cáy rạn, cùm cụp, cáyxanh làm thực phẩm

Những nơi mực tập trung thành các ngư trường lớn phân bố ở vùng đảoCái Chiên – Vĩnh Thực, quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (HảiPhòng) Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Mắt (Nghệ An), vùng biển Phan Thiết –Hàm Tân (Bình Thuận) Ngoài ra, mực còn có ở vùng biển Nha Trang (KhánhHòa), Phan Rang (Ninh Thuận), Côn Đảo, Cà Mau nhưng số lượng không lớn.Mùa khai thác mực: ở vịnh Bắc Bộ, mực ống khai thác từ tháng 5 đến tháng

10 (đỉnh cao là tháng 8 -10), còn đối với mực nang là tháng 11 - 2 Tại phíanam, mùa mực ống từ tháng 5 đến tháng 12 (đỉnh cao vào tháng 7 - 9), còn mựcnang là tháng 1 - 3

Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60 nghìn tấn, trong đó khảnăng đánh bắt khoảng gần 24 ngàn tấn, chiếm 40% trữ lượng

Bảng 2.6 Trữ lượng mực ở các vùng biển (đơn vị: tấn) (4)

- Ốc, trai, sò, hàu, vẹm

+ Ốc: có mặt ở hầu hết các vùng ven biển nước nông Ở vịnh Bắc Bộ, trong

nhóm các loài ốc thì có giá trị kinh tế cao là bào ngư Bào ngư phân bố ở nhiềuquần đảo Cô Tô, Ba Mùn, Thượng Mai (Quảng Ninh) Bạch Long Vĩ (HảiPhòng), ven biển Hà Tĩnh, Quảng Trị, quần đảo Côn Sơn

4() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 39

Hình 2.10 Con vích này có chiều dài 1,8m, chiều ngang lưng 1m, nặng khoảng 200kg Toàn bộ cơ thể vích chỉ một màu đen, đã được ngư dân huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) thả về biển tháng

Trai ngọc: chủ yếu khai thác để lấy ngọc sản xuất các mặt hàng mĩ nghệ

xuất khẩu Chúng thường phân bố ở các rạn đá, rạn san hô của vùng đảo Cô Tô(Quảng Ninh), Nam Trung Bộ, Côn Đảo Hiện nay, ngoài khai thác trai ngọctrong tự nhiên, nghề nuôi thả trai ngọc đang được phát triển ở Cái Bầu, Cô Tô(Quảng Ninh), Côn Đảo, Phú Quốc

Sò huyết: là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Những vùng sò huyết có

hàm lượng và chất lượng cao phân bố ở Quảng Ninh, Lăng Cô (Thừa Thiên –Huế), Ô Loan (Khánh Hòa), ven biển Đông Nam Bộ

Hàu: thường phân bố trong vùng biển có rạn đá quanh các đảo, các vùng cửa

sông Tại những vùng nước lợ có mực triều cao, giàu thức ăn, hàu phát triểnnhanh Nhiều địa phương không chỉ khai thác hàu trong tự nhiên mà còn nuôi, thả

để khai thác làm mặt hàng xuất khẩu như ở Hải Phòng, Hà Tiên (Kiên Giang) Ngoài ra còn các loài như vẹm xanh, trai tai tượng, hến biển chỉ thấy phân

bố ở vùng biển Nam Trung Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Những loài cókích thước lớn, cho sản lượng thịt cao

Những giống loài khác như: tu hài, don, dắt, móng tay, quéo bùn cũngđược nhân dân ta khai thác làm thực phẩm

b) Bò sát

- Rùa biển: là tên gọi chung

của một số loài rùa sống trong môi

trường biển Ở Việt Nam hiện có

ba loài rùa biển không chỉ có giá trị

kinh tế cao về thực phẩm mà còn

để sản xuất các hàng mĩ nghệ là bà

tam, vích, đồi mồi

+ Bà tam: có kích thước lớn

Chiều dài của mai đạt tới 2m, trọng

lượng đạt tới 600kg Bà tam phân

bố ở vùng biển phía nam, gần các

đảo và quần đảo: Phú Quốc, Thổ

Chu, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường

Trang 40

Ngoài khai thác trong tự nhiên,

hiện nay nhiều nơi có quy hoạch nuôi

thả vích như ở Cát Bà (Hải Phòng),

Cái Bầu (Quảng Ninh), Phú Quốc,

Côn Đảo

+ Đồi mồi: có kích thước nhỏ,

chiều dài thân trung bình khoảng

90cm, trọng lượng từ 70kg đến 80kg

Không chỉ có giá trị về mặt thực

phẩm, đồi mồi còn là nguyên liệu để

sản xuất các mặt hàng mĩ nghệ cao cấp Đồi mồi phân bố chủ yếu ở Côn Đảo,Thổ Chu, Phú Quốc

Cũng như vích, ngoài việc khai thác trong tự nhiên, nhiều địa phương đãtiến hành nuôi thả đồi mồi ở các đầm nước mặn để tăng sản lượng và bảo vệchúng, như Bãi Đầm (Côn Đảo), đầm Ba Hòn (Hà Tiên – Kiên Giang)

- Rắn biển:

Đây là nhóm rắn sống trong môi trường biển Số lượng rắn biển ở nước ta rấtphong phú Chúng sống ở những nơi mà bờ biển có nhiều hốc đá hoặc trong cácvùng rừng ngập mặn Kích thước của rắn biển từ 1m đến 1,5m, có khi đạt tới 2,5m Tất cả rắn biển đều có nọc độc Người ta dùng thịt rắn biển để làm thựcphẩm, nọc dùng để sản xuất thuốc giảm đau, viêm thần kinh, giảm áp huyết ,

da dùng để sản xuất các mặt hàng như ví, túi xách, thắt lưng

c) Thú có vú

- Cá voi thường gặp với các loài cá voi xanh, cá voi không răng, cá voi

khoang Chúng là những loài có nguồn gốc Thái Bình Dương, xâm nhập vàoBiển Đông trong quá trình di cư tránh mùa đông ở phương Bắc hoặc theo dòngbiển đi kiếm ăn

- Cá heo, cá ông sư là nhóm có nguồn gốc bản địa, ở vùng khơi của Biển

Đông Cá heo sống theo đàn từ 5 đến 7 con, xâm nhập vào vùng biển gần cáccửa sông để kiếm ăn Người ta thường gặp chúng ở vùng của Ba Lạt (sôngHồng), vùng biển miền Trung, vùng cửa sông Cửu Long và vùng biển đảo Côn

Ngày đăng: 08/08/2016, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Ngoài ra tài liệu còn sử dụng tư liệu của một số trang web:http://vietnamnet.vn; http://vnexpress; báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Link
1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Khoa học và công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước. Hà Nội, 2011 Khác
2. Nguyễn Văn Cư, Phạm Huy Tiến. Sạt lở bờ biển miền Trung Việt Nam.NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2003 Khác
3. Thái Thị Xuân Đào (chủ biên). Tài liệu giáo dục bảo vệ môi trường trong các Trung tâm giáo dục thường xuyên. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội, 2009 Khác
4. Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông. Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002 Khác
5. Vũ Phi Hoàng, Kể về hải đảo của chúng ta, NXB Giáo dục, 1984 Khác
6. Nguyễn Chu Hồi. Cơ sở tài nguyên và môi trường biển. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Khác
7. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí. Rừng ngập mặn, nguồn tài nguyên quý giá của chúng ta. NXB Thanh niên, Hà Nội, 2009 Khác
8. Phan Nguyên Hồng và nnk. Rừng ngập mặn của chúng ta. NXB Giáo dục.Hà Nội, 1995 Khác
11. Biển và đảo Việt Nam (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên PTTH), Hà Nội 1994 Khác
12. Phạm Trung Lương (Chủ biên). Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002 Khác
13. Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch. Tổng Cục Du lịch Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội 2000 Khác
14. Lê Đức Tố, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh. Quản lý biển. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Khác
15. Viện Địa lý. Nghiên cứu đề xuất các mô hình phát triển kinh tế - xã hội vững cho một số khu vực ven biển và đảo ven bờ biển Việt Nam. Báo cáo tổng hợp đề tài độc lập cấp Nhà nước, Mã số ĐTĐL. 08/G04. Hà Nội, 2010 Khác
16. Viện Địa lý. Đánh giá tổng hợp một số dạng thiên tai lũ lụt, sạt lở bờ biển cửa sông các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và đề xuất giải pháp phòng tránh. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội 2011 Khác
17. Vụ Giáo dục Trung học, Chương trình phát triển giáo dục Trung học. Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môn giáo viên trường Trung học phổ thông chuyên môn Địa lý, Hải Phòng, 2011 Khác
18. Nguyễn Văn Phòng, Hải dương học và biển Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998.Lê Bá Thảo, Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lí, NXB Thế giới, 1998 Khác
20. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên) và nnk, Địa lí du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ hành chính Việt Nam - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 1. Bản đồ hành chính Việt Nam (Trang 5)
Hình 2. Các vùng biển quốc gia của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 Lãnh hải - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2. Các vùng biển quốc gia của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 Lãnh hải (Trang 10)
Hình 3. Bia chủ quyền của  Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930 - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 3. Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa năm 1930 (Trang 14)
Hình 4. Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945 - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 4. Trụ sở hành chính của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945 (Trang 16)
Hình 5. Trẻ em đảo Trường Sa Lớn ngày nay đang trên đường đến lớp học - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 5. Trẻ em đảo Trường Sa Lớn ngày nay đang trên đường đến lớp học (Trang 17)
Hình 6. Cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa giữa Biển Đông Việt Nam - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 6. Cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa giữa Biển Đông Việt Nam (Trang 18)
Hình 2.2. Rừng ngập mặn - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.2. Rừng ngập mặn (Trang 25)
Hình 2.20: Bản đồ Du lịch Việt Nam - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.20 Bản đồ Du lịch Việt Nam (Trang 56)
Hình 2.23. Bán đảo Sơn Trà - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.23. Bán đảo Sơn Trà (Trang 62)
Hình 2.24. Bãi biển Nha Trang - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.24. Bãi biển Nha Trang (Trang 65)
Hình 2.25. Bình minh trên bãi biển mũi Né - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.25. Bình minh trên bãi biển mũi Né (Trang 68)
Hình 2.25.  Vũng Tàu - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.25. Vũng Tàu (Trang 69)
Hình 2.26. Quần đảo Cát Bà - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 2.26. Quần đảo Cát Bà (Trang 71)
Hình 3.1. Bão, hình ảnh nhìn từ vệ tinh - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 3.1. Bão, hình ảnh nhìn từ vệ tinh (Trang 78)
Hình 3.2. Xe hơi bị sóng thần đẩy lên mái nhà ở thành phố Sendai, tỉnh - giáo dục tài nguyên biển đảo việt nam
Hình 3.2. Xe hơi bị sóng thần đẩy lên mái nhà ở thành phố Sendai, tỉnh (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w